Posts tagged with "Bi An"
Saturday, 2. June 2007, 12:57:18
Bi An
Đã từ lâu, các nhà khoa học trên thế giới tin rằng thời gian và địa điểm chúng ta đang sống chỉ là một trong nhiều chiều không gian và thời gian mà chúng ta không nhìn thấy được.
Theo họ, thời gian có thể đếm được, là một dạng vật chất không thể biến mất. Do đó hình hài của chiều thời gian cũng có mặt ở mọi nơi. Khi 2 chiều thời gian trùng nhau thì đó cũng là hiện tượng tự nhiên, giống như lúc mưa rơi, nắng rọi và sấm sét dậy trời. Người ở một chiều thời gian có thể nhìn thấy một chiều thời gian khác, có thể là chiều thời gian tương lai hoặc quá khứ.
"Tam giác quỉ" Bermuda ở Đại Tây Dương được mệnh danh là "tử địa", vì đã có hàng trǎm tàu thuyền và máy bay bị mất tích một cách bí ẩn tại đây trong vòng 100 nǎm qua. Những người đi biển tin rằng giữa Đại Tây Dương có một "rốn biển" với những xoáy nước khổng lồ có đường kính hơn 100 dặm... Và đó có thể là cánh cửa xuyên vào một chiều thời gian khác có tốc độ gấp 2 lần tốc độ ánh sáng. Các nhà khoa học ở một số cơ quan nghiên cứu quốc tế nổi tiếng cho biết, có thể làm cho con người chúng ta xuyên qua một chiều thời gian khác, nhưng đáng tiếc tốc độ của các phương tiện mà con người tạo ra hiện thời mới chỉ đạt chưa đầy 1/3 tốc độ ánh sáng. Vì vậy, những tàu thuyền và máy bay bị mất tích một cách bí ẩn có thể là do bị hút vào một chiều không gian khác.
Cũng tương tự như vậy đối với sự kiện bí ẩn xảy ra trên bầu trời Niu Yoóc (Mỹ) vào cuối nǎm 1999. "Lạy Chúa, chúng tôi đang ở đâu vậy. Làm sao chúng tôi đến được nơi đây? Đây là Hãng hàng không Alp Air, chuyến bay 703. Tất cả đều lạ lùng. Tôi không biết mình ở đâu. Người nào nhận được những lời này xin hãy giúp chúng tôi". Đó là nội dung lời kêu cứu của một viên phi công "ma" truyền qua làn sóng điện với giọng vô cùng sợ hãi. Rồi chiếc máy bay hành khách kiểu cũ ĐC.7 mà hãng Boing chế tạo từ hơn 30 nǎm trước bỗng xuất hiện phía trên đảo Maháttan ở thành phố Niu Yoóc.
Những người chứng kiến hình ảnh của "chiếc máy bay ma" nói trên là viên phi công lái một chiếc máy bay trực thǎng đưa một số du khách bay thưởng ngoạn toàn cảnh thành phố lớn nhất thế giới này. Viên phi công lái máy bay trực thǎng tên là Ben Giắcman đã nhận được lời cấp báo đó một cách rõ ràng. Và 12 khách du lịch trên chiếc máy bay cũng tận mắt nhìn thấy "chiếc máy bay ma" ĐC.7, một số người đã chụp ảnh nó. Ben Giắcman sau đó thuật lại trên truyền hình về sự kiện bí ẩn này: "Khi tôi nhận được lời nói của anh ta, tôi vội bấm nút trả lời ngay, vì nhận thấy giọng nói của anh ta giống người đang bị hoảng loạn. Anh ta cuống lên nói rằng lẽ ra máy bay đã tới dãy núi Alp (ở châu Âu), nhưng sao không nhìn thấy nó và phía dưới cũng không phải Thuỵ Sĩ, vì anh ta biết rõ địa hình. Tôi bèn nói với anh ta rằng anh ta đang ở trên bầu trời nước Mỹ, vì không có lịch trình bay qua đây. Anh ta cất cánh từ sân bay thành phố Vêrôna (Italia) và bay đến thành phố Inxbrúc (áo). Khi đó tôi nghĩ rằng gã phi công này không điên thì cũng say rượu. Nhưng tôi bỗng rợn tóc gáy vì chợt nghĩ ra điều gì đó. Tôi hỏi ngày cất cánh của anh ta là ngày nào. Điều viên phi công trả lời khiến tôi gần như không tin nổi vào tai mình. Anh ta nói rành mạch rằng máy bay cất cánh tại sân bay quốc tế Vêrôna hồi 6h45 ngày 26/11/1972 để bay tới thành phố Inxbrúc, rồi sẽ bay tiếp đến Líchtenxten. Máy bay của anh ta có phi hành đoàn 7 người và 132 hành khách. Tôi sững sờ, không biết nói sao, rồi tôi nghe tiếng viên phi công "ma" đó bắt liên lạc với trạm hoa tiêu bay của thành phố Inxbrúc. Đến đây tôi biết rằng mình đang đối mặt với điều tựa như chuyện truyền kỳ bí ẩn. Tôi đã gặp ma hay linh hồn đang xuyên qua chiều thời gian quá khứ để đến với chiều thời gian hiện tại. Tôi nói với anh ta rằng giờ đây không phải là nǎm 1972 mà là nǎm 1999, nhưng anh ta vẫn khǎng khǎng cãi nǎm nay là nǎm 1972".
Về sau Ben được biết rằng Hãng hàng không Alp Air và chuyến bay 703 là có thật 100%. Nǎm 1972, chuyến bay này đã chở các SV người Pháp và Italia đi dự cuộc thi trượt tuyết mùa đông. Nhưng máy bay đó đã gặp bão tuyết đột ngột và bị rơi sau khi cất cánh được 40 phút. Chuyến bay nói trên được ghi nhận là "mất tích" cùng với thông báo tất cả các hành khách và phi hành đoàn trên máy bay đều chết, vì từ đó đến nay người ta chưa hề tìm ra vết tích của chiếc máy bay này.
Ben cho biết thêm: "Khi đang cố khẳng định đang là nǎm 1999, tôi nghe thấy tiếng nấc và giọng nói như của người hấp hối của "viên phi công ma". Tôi nhìn về phía cửa sổ buồng lái và cửa sổ khoang hành khách của chiếc máy bay đó và thấy rằng hình như bên trong máy bay không phải là người mà chỉ là hình bóng của họ. Tôi tìm cách lái trực thǎng tiến lại gần chiếc máy bay DC.7, nhưng ngay lập tức có một luồng ánh sáng trắng loá lên rồi "chiếc máy bay ma" nọ bỗng nhiên mất hút, cứ như chẳng có gì xảy ra trước đó"...
Saturday, 2. June 2007, 12:42:58
Bi An

Năm 1927, hai cha con nhà khảo cổ học người Anh là Mixin Haiđơ Jidơ và Anna, tại khu phế tích thành cổ Lôba Antômô nơi gần thành phố Hatơri nước Anh đã tiến hành khảo sát và tìm thấy một đầu người thủy tinh nặng khoảng 5kg. Đó là một khố thủy tinh phỏng theo xương đầu người chế tác ra. Xương mũi được lắp ghép bởi ba mành thủy tinh, hố mắt là một viên thủy tinh tròn, răng được gắn ngay ngắn vào xương hàm.
Cuốn sách "Nguy hiểm lắm, con đường của tôi" xuất bản năm 1954 đã nhận định rằng, xương đầu người bằng thủy tinh này do người cổ chế tạo ra cách đây hơn 3.600 năm: Theo giám định của các nhà khảo cổ học, chiếc sọ người thủy tinh này phải tốn thời gian 150 năm mới được chế tác xong. Sau khi đục khắc xong còn được dùng cát để đánh bóng. Trước khi được khai quật, nó đã được chôn dưới đất chí ít cũng đã 3.600 năm.
Một số nhà khảo cổ khác không đồng ý với cách suy luận đó. Họ cho rằng, những người cổ đại sống cách đây 3.600 năm bị hạn chế bởi điều kiện khoa học kỹ thuật lúc bấy giờ ở trình độ rất thấp, không thể chế tạo được sọ người thủy tinh tinh xảo đến thế.
Viện bảo tàng nhân loại học của Pháp cũng lưu giữ một sọ người thủy tinh. Theo khảo chứng của một số nhà khoa học Pháp: Chiếc sọ người thủy tinh đó qua giám định khoa học, được xác định là do người Aztech, tức người Anhđiêng - Mexico chế tạo ra vào thế kỷ 14 hoặc thế kỷ 15. Phân tích từ góc độ lịch sử và tôn giáo, nó có thể là vật trang sức của mục sư Aztech, của người Anhđiêng cúng tế. Gần quanh nơi tìm thấy sọ người thủy tinh, người ta cũng tìm thấy rất nhiều công cụ đồ đồng cỡ nhhỏ nhưng rất tinh xảo. Xem ra, sọ người thủy tinh rất có khả năng do người Aztech dùng công cụ bằng đồng để chế tạo nên.
Một số học giả tán thành quan điểm trên, họ cho rằng thế kỷ 14 và 15, người Aztech đã có trình độ phát triển khá cao, họ đã chế tạo được đồ gốm với đặc trưng màu nâu vân đen, tạo hình mỹ quan, đường vân đa dạng, phức tạp, từ những bản vẽ hình học phát triển tới việc tả thực hoa lá, chim cá, côn trùng, họ còn biết sử dụng đồng thiên nhiên để rèn thành công cụ, dùng lông chim cắm vào để tạo ra vật trang sức. Năm 1978, trong khai quật khảo cổ, Mexico lại phát hiện một tảng đá điêu khắc nặng khoảng 10 tấn, đường kính 11 thước Anh được gọi là "Đá Mặt Trăng". Đó là tảng đá được người Aztech chế tác vào năm 1470. Từ những bằng chứng trên, có thể chứng minh rằng, trình độ khoa học kỹ thuật của người Aztech tinh chắc rằng linh hồn sống mãi, và họ theo tín ngưỡng đa thần (Thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, Thần Mưa,...). Khi tế thần họ dùng người sống để làm vật hiến tế. Sọ người thủy tinh này có thể là một trong những vật phẩm được họ dùng để tiến hành những hoạt động tế thần.
Nhưng một số học giả tỏ ra hoài nghi, thậm chí phủ định quan điểm trên. Họ cho rằng, vào thế kỷ 14 và 15, công cụ sản xuất và vũ khí của người Aztech thường vẫn là đồ đá và đồ gỗ. Lúc bấy giờ họ đang ở giai đoạn liên minh bộ lạc, đang trong thời kỳ từ xã hội nguyên thủy quá độ tiến lên buổi đầu của chế độ nô lệ, còn thiếu hẳn kỹ nghệ điêu khắc ở trình dộ cao, rất khó có thể chạm khắc được sọ người thủy tinh sinh động như vậy.
Viện bảo tàng Anh quốc cũng lưu giữ một sọ người thủy tinh. Trong đêm tối không có ánh đèn, chiếc sọ vẫn phát ra ánh sáng trắng lóa mắt, hiển hiện một vẻ khủng khiếp giống hình một ác quỷ nhe răng trợn mắt. Chiếc sọ thủy tinh này được mua lại tại hiệu châu báu Tiphanni ở NewYork năm 1898. Theo lời người chủ hiệu thì nó được một người lính bán cho chủ hiệu vào cuối thế kỷ 18. Một số nhà khảo cổ cho rằng, đó là tác phẩm của người Adôđê (châu Mỹ La-tinh), chế tác từ thời thực dân. Nhưng đó cũng chỉ là một giả thuyết, chứ chưa phải là kết luận nhất trí của giới khảo cổ học.
Cho đến nay cả 3 chiếc sọ người thủy tinh trên đều chưa rõ lai lịch, không biết người nào chế tác ra chúng vào thời gian nào, có mục đích và ý nghĩa gì? Đến nay thế giới đang chờ các nhà khảo cổ học nghiên cứu tìm ra câu trả lời thỏa đáng.
Saturday, 2. June 2007, 12:38:57
Bi An
Năm1908, tại vùng Tunguese Xibiri, xảy ra một vụ nổ lớn kỳ quái. Sức mạnh của nó tương đương với sức nổ của 500 quả bom nguyên tử, hoặc mấy quả bom khinh khí, cùng nổ một lúc.
Đối với vụ nổ khủng khiếp và kỳ lạ đó, các nhà khoa học dã tiến hành thăm dò nghiên cứu không mệt mỏi suốt gần 100 năm nay. Nhưng về nguyên nhân vụ nổ thì cho đến nay, ý kiến vẫn bất đồng: có người cho rằng, đó là một vụ nổ hạt nhân, có người cho rằng đó chỉ là một thiên thạch hay sao chổi rơi xuống Trái Đất mà gây ra vụ nổ, cũng có người cho rằng do phi thuyền vũ trụ của người ngoài hành tinh rơi xuống Trái Đất. Ngày nay nhiều người còn gắn nó liên quan tới một loạt những học thuyết khoa học hiện đại, tân kỳ như lý luận về hố đen vũ trụ, về phản vật chất hoặc đồng chất.
Ngày 20 tháng 6 năm 1908, lúc 7 giờ 17 phút, bên bờ sông Tunguese yên tĩnh miền Tây Xibiri nước Nga, khi ánh bình minh mới nhuốm hồng những tán cây, không khí buổi sáng trong lành. Bỗng nhiên vang lên một tiếng nổ cực mạnh, trời long đất lở, rồi mặt đất rung chuyển như run lên bần bật. Tiếp theo đó là một đụn khói hình nấm tròn từ từ lên cao, một làn sóng nhiệt nóng bỏng ào ào cuộn tới. Chỉ trong chốc lát, chim thú trong rừng lập tức biến thành tro bụi. Những cây đại thụ chọc trời, hoặc bị nhổ bật cả rễ, hoặc bị thiêu cháy thành than. Mấy ngàn cấy số vuông rừng rậm bị thiêu hủy trong chốc lát.
Tọa độ chính xác của vị trí xảy ra vụ nổ là 60 độ 55' độ vĩ Bắc 101 độ 57' độ kinh Đông. Cách hồ Baican 800 km. Sau vụ nổ, dân du mục quanh vùng run lên cầm cập trong những trận cuồng phong. Lều vải của họ bị bay biến đi đâu mất. Cách phía Nam trung tâm vụ nổ 60 km có một thị trấn gọi là Vanavara, vào sáng sớm hôm xảy ra vụ nổ, cùng với tiếng nổ vang trời, những cửa kính của các nhà cửa, công trình kiến trúc đều bị vỡ tan, khung cửa, cách cửa sổ... bị chấn động lắc lư đổ vỡ hết. Tiếp theo là sóng khí từ mặt đất cuộn lên, cuồng phong ập tới, làm bốc mái nhiều ngôi nhà. Cây cối trên đường phố và trong vườn hoa bị bật cả gốc rễ lên.
Nagasaki - 1945
Sau khi sự việc xảy ra, một nông dân nhớ lại: "Lúc bấy giờ tôi đang ngồi trong nhà, bầu trời bỗng xuất hiện ánh sáng trắng mãnh liệt, sau đó, không khí nóng lên rõ rệt, thiêu bỏng cả da thịt, tôi ngã nhào ra đất, áo may-ô trên người bốc cháy. Ngẩng nhìn lên, một quả cầu lửa khổng lồ đỏ ối cả vùng trời, thật kinh khủng. Chỉ trong chốc lát, quả cầu lửa tắt đi, trời tối trở lại. Lúc đó tôi mới nghe thấy một tiếng nổ đinh tai, thân thể bị một làn sóng hơi bốc lên, văng đi đến mấy thước Anh, tôi ngất xỉu. Mấy phút sau tôi tỉnh lại, nghe thấy những tiếng gào thét đinh tai. Ngôi nhà lắc lư bần bật, dường như sắp bị nhổ bật lên khỏi mặt đất".
Cả vùng Tunguese, nhiều nơi mặt đất và nhà cửa còn rung lên mấy ngày sau đó. Rất nhiều dân cư ở thị trấn Vnavara bị những đợt hơi nóng xô ngã, hoa màu cây cối bị hủy hoại trong chốc lát. Ngay phía dưới chỗ phát nổ, vừa có một đàn tuần lộc đi tới, sau nổ không còn con nào sống sót.
Vụ nổ đó đã gây ra sóng địa chấn rất mạnh. Cách trung tâm vụ nổ đến 893 km, tại thành phố Iacuxcơ, 45 phút sau khi vụ nổ xảy ra, vẫn còn ghi được sóng địa chấn. Tốc độ truyền sóng đạt tới 330 met/gy. Sóng xung kích của vụ nổ truyền tận sang đến Trung Âu. Các trạm quan trắc địa chấn Pôtxđam của Đức và Cambridge của Anh, các thiết bị tự động ở đó đều ghi được tình trạng Trái Đất chịu những chấn động rất mạnh, thậm chí cả đến đảo Java ở Inđônêxia và bên kia Trái Đất, tại thủ đô Oasinhtơn của Mỹ cũng ghi nhận được những chấn động tương tự.
Sau khi vụ nổ lớn xảy ra, các nơi trên thế giới đều có những phản ứng tự nhiên. Tại London, toàn bộ đèn điện bỗng nhiên tắt hết, dân chúng bị chìm trong bóng tối dày đặc. Tại Stốckhôm, rất nhiều người lấy máy ảnh ra chụp lấy cảnh đêm kỳ lạ. Tại Hà Lan thì ban đêm, mà lại rực lên ánh sáng trắng như ban ngày. Còn dân Mỹ ở trong buổi đêm cảm thấy mặt đất rung chuyển.
Điều cần phải nói tới từ đêm 30 tháng 6 đến ngày 1 tháng 7, bầu trời từ vùng Tây Xibiri cho đến cả châu Âu cực kỳ trong sáng. Một dải từ Cápcadơ đến miền Nam nước Nga, trời sáng đến mức không phải thắp đèn, mà vẫn có thể đọc sách được. Còn vùng Tunguese thì suốt ba ngày đêm kể từ khi vụ nổ xảy ra, không xuất hiện bóng đêm. Trong mấy ngày đó người ta trông thấy ánh sáng mặt trời lọt qua tầng mây bỗng chiếu ra những tia sáng kỳ lạ màu lục và màu hoa hồng. Còn có lúc những đám mây cũng phát ra các tia sáng màu bạc, và những đám mây rất gọn rõ. Trong mấy đêm sau đó, bầu trời cũng sáng hơn rất nhiều so với lúc bình thường. Dần dần cho đến cuối tháng 8, bầu trời mới trở lại trạng thái bình thường. Cũng thời gian ấy, các nhà thiên văn quan sát thấy độ trong sáng của loại khí quyển giảm hẳn, ảnh hưởng rất nhiều đến sự quan trắc các vì sao của các nhà thiên văn.
Nhà khoa học Liên Xô Culích, khi tiến hành khảo sát thực địa vùng Tunguese, kết hợp phỏng vấn những cư dân địa phương, vẫn không tìm ra nguyên nhân của vụ nổ. Đáp án ấy vẫn là điều bí mật.
Khi tiếp tục nghiên cứu về sau Culích nhận thấy, vùng bị hủy hoại là điểm rơi của một vẩn thạch khổng lồ. Trái đất vẫn thường bị những vẩn thạch nhỏ tập kích. Khi Trái Đất chuyển động quay quanh Mặt Trời thì phải chui qua những đá vũ trụ ấy. Khi đó những đá vũ trụ đi vào bầu khí quyển của Trái đất có tốc độ rất nhanh, thông thường mỗi giờ đạt tới hơn 10 vạn dặm Anh, nhưng vì hầu hết chúng đều rất nhỏ nên khi mới vào đến tầng cao của bầu khí quyển do ma sát với không khí phát ra nhiệt, ban đêm chúng ta nhìn lên bầu trời thấy những vệt sáng chói di chuyển rất nhanh nên gọi là sao băng.
Tuy nhiên, thỉnh thoảng Trái Đất vẫn gặp phải những khối đá lớn, khi đi vào bầu trời Trái Đất cháy nóng hừng hực. Ngày 29 tháng 9 năm 1938, tại một khu vườn ở bang Ilinoi nước Mỹ, bỗng phát ra tiếng nổ gầm vang, một khối vẩn thạch khi xuyên qua nóc nhà lại rơi đúng vào một chiếc xe ôtô. Năm 1954, tại bang Alabama nước Mỹ, một phụ nữ cũng bị vẩn thạch rơi trúng. Đó là những ghi chép duy nhất về vẩn thạch gây thương vong trên thế giới.
Vụ nổ Tunguese năm 1908, người ta nghe được tiếng nổ từ khoảng cách xa 600 dặm Anh. Dường như tất cả cây cối trong vòng 50 dặm Anh đều bị hủy hoại. Trung tâm vụ nổ này cũng rất dễ được xác định, bởi tất cả các cây cối bị đổ ngã đều hướng về trung tâm. Nhưng tại nơi đó lại không tìm thấy vẫn thạch, cũng không có hố vẫn thạch mà chỉ có một cái đầm. Quanh đầm là những cây khô nhẵn thín, những cây đó tuy không còn sống nhưng vẫn còn tồn tại ở đó và đều không có một cành nào. Đó là một đầu mối quan trọng, rõ ràng nơi ấy đã xảy ra vụ nổ mạnh, dẫn đến một vụ cháy lớn, nhưng lửa không tiếp xúc tới mặt đất, có khả năng là do một luồng hơi tốc độ nhanh, nhiệt độ cực nóng, ập thẳng từ trên xuống, đốt cháy tất cả cành cây nên làm đổ hết cây và đốt cháy suốt trên dọc đường đi.
Vậy nguyên nhân của những vụ nổ này là gì? Giải thích cách gì cũng thấy mâu thuẫn. Bởi vậy vụ hỏa hoạn đó cũng trở thành một điều bí mật không giải thích được trong lịch sử ngành thiên văn thế giới.
Năm 1965, có ba nhà khoa học nêu ra ý kiến: Vụ nổ lớn Tunguese có khả năng là do một loại phản vật chất đến từ ngoài Vũ Trụ, một loại phản vẩn thạch gây ra. Nhưng giả thiết đó không thể tiến hành nghiệm chứng được.
Hình dáng người bị chết ở Nagasaki trong vụ đánh bom nguyên tử 1945
Năm 1945, Mỹ ném bom nguyên tử ở Hirôsima và Nagasaki Nhật Bản, lúc đó các nhà khoa học Mỹ đầu tiên phát hiện ra quang cảnh vụ nổ Tunguese rất giống với quang cảnh sau vụ nổ nguyên tử. Cùng lúc đó nhà vật lý học Liên Xô Alêchxanđrơ Casatraép cũng phát hiện như vậy. Họ còn nhận thấy rằng, sự phá hủy ở vùng trung tâm nhỏ hơn rất nhiều so với vùng xung quanh. Cây cối vẫn đứng thẳng không bị đổ là một thí dụ rõ rệt. Ngoài ra thực vật ở vùng Tunguese cũng mọc và phát triển trở lại rất nhanh. Điều đó cũng rất giống với tình hình xảy ra sau vụ nổ bom nguyên tử. Hình dáng súc vật bị bức xạ nguyên tử ở Hirôsima và Nagasaki bị thiêu bỏng cũng có hình giống với súc vật ở vùng Tunguese sau vụ nổ. Cả đến đám khói hình nấm bốc lên sau khi nổ cũng rất giống nhau. Các nhà khoa học Liên Xô nói rằng đám khói hình nấm sinh ra ở vụ nổ Tunguese lớn hơn nhiều so với đám khói hình nấm ở Hirôsima và Nagasaki bởi nó được nhìn ở khoảng cách từ rất xa.
Một loạt những khảo sát được tiến hành từ năm 1958 trở về sau đều thu được những chứng cứ chứng tỏ vụ nổ Tunguese là một vụ nổ hạt nhân.
Nhà vật lý địa cầu Liên Xô trước đây - Xôrôtốp và nhà thiên văn Mikhaiin từng nhiều lần tiến hành khảo sát tại hiện trường. Tại nơi đó họ cũng phát hiện được dấu vết của những vật phóng xạ. Xôrôtốp còn dùng thực nghiệm chứng minh được tàn dư bức xạ của "nguồn năng lượng vật lý sinh vật" vẫn còn tồn tại tại hiện trường xảy ra vụ nổ; cũng có nghĩa là trong bom nguyên tử và bom khinh khí mới có chất plu-tô-ni 235 và uran. Trong khi đó trên Trái Đất lúc bấy giờ, loài người vẫn chưa tìm ra hai loại nguyên tố có tính phóng xạ đó.
Cho đến nay, vụ nổ Tunguese xảy ra ở miền Tây Xibiri năm 1908 vẫn là một bí mật thế giới. Tuy rằng liên tục có những suy luận mới được đưa ra, nhưng ý kiến nào có thể trở thành kết luận cuối cùng thì còn phải dành cho các nhà khoa học thế giới đi sâukhảo sát thăm dò và nghiên cứu. Sẽ có một ngày, bí mật này sẽ được nghiên cứ rõ và có đáp án hợp lý nhất
Saturday, 2. June 2007, 12:33:44
Bi An
Có rất nhiều kiểu hình tròn khác nhau. Đơn giản nhất là một hình tròn với các bông lúa nằm rạp xuống ở bên trong, nhưng chúng không hề bị gãy mà chỉ quấn quanh rễ. Cũng có khi vòng tròn xuất hiện ở dạng kép, các bông lúa ở vòng ngoài cũng quấn quanh rễ, nhưng lại ngược chiều với lúa ở vòng trong. Đôi khi, bao quanh vòng tròn trung tâm là một loạt các vòng nhỏ (vệ tinh), thường được nối với vòng chính bằng những "con kênh". Trong trường hợp khác có thể thấy những vòng tròn nhỏ với những bông lúa không quấn quanh rễ, mà nằm ngả giữa vòng trung tâm với vòng lớn ngoài cùng.
Lúc đầu, người ta tưởng rằng vòng tròn kỳ lạ chỉ xuất hiện ở miền nam nước Anh. Nhưng khi báo chí bắt đầu viết về nó thì rất nhiều tin tức tương tự từ khắp nước Anh và các nước khác cũng được đăng tải. Các giả thuyết liên tục được đề cử, từ nguyên nhân do đàn nhím hay chồn phá hoại, đến dấu vết để lại của đĩa bay; từ hậu quả của cuộc chiến giữa các đàn chim cho đến việc lúa bị lây bệnh do nấm; từ việc bón quá nhiều phân cho đến việc thử nghiệm những loại vũ khí mới.
Pat Delgaldo và Colin Endrius đưa ra giả thuyết vòng tròn chính là một dạng ghi chép bí mật của vũ trụ tối cao. Trong khi đó, những bộ tộc da đỏ vùng Arizona thì cho rằng đó là những ký hiệu báo trước về một hiểm họa chết người đang đe dọa thế giới.
Một giả thuyết khác thuyết phục hơn là của giáo sư tiến sĩ Miden, người Anh. Theo ông, trên đường đi của những cơn gió giật, nếu có những ngọn núi nằm chắn ngang, sẽ tạo nên các xoáy khí. Kết quả là không khí thẳng đứng ở phía khuất gió của ngọn núi bị xoáy thành hình trôn ốc, xiết chặt không khí bên trong và tạo nên một luồng điện khí quyển. Khi hiện tượng này xảy ra trên cánh đồng, thì luồng khí xoắn trôn ốc sẽ làm cho các bông lúa rạp xuống đất và tạo nên các vòng tròn. Cùng với việc tạo thành các luồng điện, còn xuất hiện một âm thanh gió rít chói tai ngay trước khi các vòng tròn được tạo thành.
Lý thuyết của Miden không chỉ làm sáng tỏ các quá trình vật lý của sự tạo thành các vòng tròn mà còn giải thích được những trường hợp các hình ảnh kỳ lạ này xuất hiện ngay trước mắt của người chứng kiến.
Điều này đã xảy ra vào tháng 8/1991 khi Harri và Vivien Tomlison sống ở Hambldon đang dạo chơi ngoài cánh đồng. Bất chợt họ được chứng kiến một cảnh tượng rất lạ ở cánh đồng lúa mỳ phía bên phải. Một đám sương mù che phủ và họ nghe thấy một âm thanh kỳ lạ rít lên. Tiếp đó, sau lưng họ một cơn lốc nổi lên với sức gió mạnh đến nỗi khó khăn lắm họ mới đứng vững được. Mái tóc Harri tập trung nhiều điện tích nên dựng ngược hết trên đầu. Và cũng đột nhiên gió xoáy giảm hẳn rồi biến mất. Sương mù tan đi, để lại hai người nằm ở trung tâm một vòng tròn giữa những bông lúa ngả rạp xuống.
Saturday, 2. June 2007, 12:27:56
Bi An
Năm 1772, khi nhà thám hiểm Rogewe người Hà Lan bước chân lên đảo Easter (Easter có nghĩa là Lễ phục sinh) đã vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra trên đảo ngoài những bức tượng được người ta thán phục, còn có số cư dân được kết hợp bởi 2 quần thể có đặc trưng rất khác nhau: Một trong số đó chắc chắn là người da đỏ ở Châu Đại Dương, dân số đông nhất; hai là người da trắng, râu tóc có màu hung hoặc vàng. Ở dái tai có đeo những con súc sắc dài tới 10-15cm, nên tai trông rất dài, người dân địa phương bèn gọi là "Người tai dài".
Những người tai dài đó hợp thành tầng lớp võ sỹ của Vương quốc. Theo truyền thuyết của cư dân trên đảo Easter, tổ tiên của họ có từ rất sớm, so với sự thám hiểm của người Hà Lan là 55 đời, vào khoảng 400 sau Công nguyên, họ đến từ phương Đông. Còn người Polynesia (Người tai ngắn), họ đến từ Polynesia phía Tây, sớm hơn so với sự phát hiện của người Hà Lan là 22 đời. Được sự đối đãi hữu hảo của người tai dài, hai chủng tộc cùng sống hòa bình với nhau trong một thời gian dài. Nhưng về sau do những bất đồng về văn hóa, sinh hoạt và khác nhau về nhu cầu đòi hỏi mà không thể dung hòa nên đã xảy ra xung đột chiến tranh. Cuối cùng, người Polynesia giành chiến thắng, và đã tiêu diệt được Người tai dài. Câu chuyện này xảy ra vào giữa những năm 1660-1700 sau Công nguyên.
"Người tai dài" với 1000 nhân khẩu đã để lại dấu ấn rất lớn trên đảo Easter: Những bức tượng bằng đá khổng lồ, những con đường, hang động được đục vào vách đá cứng, đài quan sát thiên văn được đặt trên úi Lanocan một công trình nặng nền rất khó xây dựng, nếu xem xét với con mắt của người hiện đại bây giờ thật không dám nghĩ tới, thậm chí là không thể.
Theo truyền thuyết cổ xưa trên đảo, từ xa xưa có một số người Vilacohas (người bay) đã hạ cánh xuống chính nơi này. Đây cũng là lý do khiến họ có sự sùng bái "người chim" đặc biệt. Trên núi Lanocan, người ta còn tìm thấy rất nhiều hòn đá được đục đẽo khắc họa, mô tả những người có đầu và đôi cánh dài như chim, hay một loài người kỳ lạ với cái đầu tròn dài và con mắt tròn to tướng.
Tượng người tai dài trên đảo Easter
Trong truyền thuyết nhắc tới Vilacohas cũng có thể giúp các nhà khảo cổ tìm được manh mối của chủng người này. Truyền thuyết của người Inca nói rằng, Thần tuổi già Vilacohas đã sáng tạo ra Thế giới ở một nơi mịt mù không ánh sáng Mặt trời. Ông ta đã dùng đá để tạc nên một đám người khổng lồ, do đám người khổng lồ này trọc tức ông, ông bèn đem tất cả chúng dìm xuống nước rất sâu, làm cho chúng không bao giời thoát ra được. Sau đó, ông cho Mặt Trăng và Mặt Trời mọc lên từ Hồ Titicaca, từ đó Trái đất của chúng ta mới có ánh sáng. Mặt khác, ông ta còn đem nghệ thuật vào ngôn ngữ dạy cho những vật mà mình tự sáng tạo ra, lại đưa từng hóm tới các nơi trên đất liền. Sau khi xong việc, vị Thần tuổi già này bèn đem theo hai tùy tùng đi đến nơi để kiểm tra xem những lời răn dạy của mình có được tuân thủ hay không, kết quả thi hành đến đâu.
Thần Vilacohas đóng giả thành một ông già men núi Andès và dọc bờ biển đi ngao du khắp nơi. Vì liên tục nhận được sự đối đãi thô bạo nên vị thần nóng giận bừng bừng, muốn đem tất cả thiêu hủy hết. Mọi người thấy tình cảnh này, vội vã cầu cứu, mong ông rộng lòng tha thứ, ông bèn dập tắt ngọn lửa.
Để tỏ lòng biết ơn, người dân đã cho xây dựng rất nhiều miếu thờ ở khắp mọi nơi. Sau này ông đã biến vào biển cả, và dặn sẽ còn quay lại. Khi thực dân Tây ban Nha đến vùng đất này, họ còn được nghe rất nhiều truyền thuyết về việc còn quay trở lại của con Thần Mặt trời.
Saturday, 2. June 2007, 12:15:47
Bi An
Tam giác quỷ Bermuda từng được đề cập đến như một vùng chết chóc, gây ra biết bao thảm họa cho tàu thuyền và máy bay qua lại. Gần đây, các nhà khoa học lại đưa ra thêm một giả thuyết mới để giải thích tính chất kỳ bí của khu vực này.
Bermuda là vùng ven biển Bắc Mỹ ở khu vực nằm giữa mũi Gatterac, bán đảo Florida và quần đảo Cuba. Xét về cấu trúc địa lý và khí hậu, đây là một vùng gần giống như tấm gương phản chiếu rộng lớn. Các cơn bão xuất phát từ Đại Tây Dương tạo nên luồng sóng hạ âm cực mạnh, bị phản hồi từ khu vực phản xạ này và hội tụ vào khu vực Tam giác quỷ. Kích thước rộng lớn của các cấu trúc hội tụ cho phép đưa ra giả thuyết tại đó có những khu vực phản xạ mà sóng hạ âm có thể đạt tới cường độ rất lớn và là nguyên nhân gây nên các hiện tượng quái dị.
Như chúng ta đã biết, sóng hạ âm cường độ lớn gây nên cảm giác sợ hãi và ý muốn bứt phá ra khỏi không gian khép kín. Dĩ nhiên, hành vi đó là hậu quả của phản ứng trực cảm đã hình thành từ rất lâu trong quá khứ tiến hoá của con người, mỗi khi bị tác động của sóng hạ âm hình thành trước lúc nổ ra các vụ động đất. Chính phản xạ này đã khiến cho các kíp máy bay và hành khách bị hốt hoảng và vội vã nhảy ra khỏi con tàu.
Dòng xoáy hạ âm của cơn bão hội tụ vào khu vực Tam giác quỷ. Khi cộng hưởng với nhịp sinh học của con người, sóng hạ âm có cường độ cao có thể gây chết người ngay tức khắc. Sóng hạ âm có thể là nguyên nhân dao động cộng hưởng của cột buồm trên thuyền và làm cho chúng gãy vụn. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra khi sóng hạ âm cộng hưởng với độ rung của các yếu tố cấu trúc của máy bay. Sóng hạ âm cũng có thể là nguyên nhân hình thành một lớp sương mù dày đặc có màu đục như sữa trên đại dương và nhanh chóng biến mất. Độ ẩm của khí quyển tích tụ lại trong giai đoạn giãn nở có thể không kịp tan ra trong không khí ở giai đoạn nén tiếp theo, nhưng đồng thời có thể biến mất ngay tức khắc khi không có sóng hạ âm. Cuối cùng, sóng hạ âm có tần số 5-7 Hz có thể cộng hưởng với dao động cơ học, với con lắc đồng hồ có cùng tần số dao động và gây nên tác động phá huỷ. Điểm xuất phát của huyền thoại về trận gió hú rùng rợn, gây cảm giác sợ hãi do sóng hạ âm mạnh gây ra có thể là các hiện tượng tương tự xảy ra ở Tam giác quỷ. Các cấu trúc có tính chất hội tụ tương tự cũng có thể có ở các khu vực khác nhau trên hành tinh.
Sóng hạ âm có thể truyền dưới nước, còn cấu trúc hội tụ có thể hình thành ở thềm lục địa. Nguồn gốc của các sóng hạ âm cũng có thể là các núi lửa hoạt động ngầm dưới biển và động đất. Dĩ nhiên, hình dạng của các tấm gương phản chiếu sóng hạ âm ở thềm lục địa không hoàn chỉnh. Với kích thước tương đương bước sóng, cấu trúc thềm lục địa cũng có thể có tính chất cộng hưởng. Cần phải nghiên cứu mối liên hệ giữa tham số của các nguồn phát ra sóng hạ âm và sự phân bố cường độ sóng hạ âm trong mỗi một khu vực bị nghi là có hiện tượng dị thường. Quy luật hình thành các khu vực nguy hiểm quyết định tính chất của các biện pháp phòng ngừa.
Ảnh hưởng của sóng hạ âm đối với con người không chỉ hạn chế ở tác động trực tiếp đối với cơ thể, như đối với hệ thần kinh. Trong quá trình tiến hoá của con người, chắc chắn đã hình thành một trung tâm xúc cảm với sóng hạ âm nhằm báo động trước động đất và núi lửa. Tập hợp các phản ứng cần phải có khi xảy ra tác động bên ngoài vào trung tâm này có thể xác định được, khi biết chức năng của các phản ứng đó là để bảo đảm con người sống sót an toàn mỗi khi bị các tai nạn tương tự. Vậy đó là phản ứng gì? Có thể nêu tên các phản ứng sau: né tránh không gian khép kín để không bị rơi vào tình trạng chết chất đống, xu hướng chạy ra xa các đối tượng có thể bị đổ vỡ. Nói tóm lại, con người có xu hướng chạy đi bất cứ đâu để tránh khu vực có thảm họa. Dĩ nhiên, tất cả những hành động đó đều kéo theo cảm xúc sợ hãi.
Có thể quan sát được các phản ứng tương tự ở nhiều động vật, như chó biết cứu các em nhỏ trước khi xảy ra động đất. Đồng thời, khi bị tác động trực tiếp vào cơ thể, sẽ xuất hiện các phản ứng không cụ thể như suy kiệt, mệt mỏi và rối loạn giống như khi bị tác động của tia X quang và sóng vô tuyến tần số cao. Ngày nay, con người đã không còn nhạy cảm với sóng hạ âm, nhưng khi bị tác động của sóng hạ âm cường độ lớn, hệ thống bảo vệ từ xa có thể bị kích động và lấn át khả năng hành động tỉnh táo. Nếu sự sợ hãi không phải do các biểu tượng bên ngoài gây ra thì có thể xuất phát từ bên trong. Con người sẽ cảm thấy một xúc cảm sợ hãi vô thức. Điều này được chứng minh qua những lời nói cuối cùng của các phi công và thuỷ thủ khi bị chết trong vùng Tam giác quỷ, như: "Bầu trời thật khác lạ", "Mặt biển thật khác lạ, một điều khủng khiếp đang xảy"... Nếu sự sợ hãi do các biểu tượng bên ngoài gây nên thì những người dũng cảm đã quen với nỗi sợ hãi có thể kịp phát đi các thông báo cụ thể. Phụ thuộc vào cường độ của sóng hạ âm, những người ở trên tàu có thể cảm thấy sợ hãi ở các mức độ khác nhau. Họ có thể ngồi vào xuồng bơi khỏi tàu hoặc chạy lên bong. Với cường độ sóng hạ âm cực lớn, họ có thể bị chết như đã từng được mô tả.
Saturday, 2. June 2007, 12:07:50
Bi An

Bí ẩn của Kim Tự Tháp châu Mỹ - 21/4/2006 8h:4
Nói đến Kim Tự Tháp chắc hẳn mọi người sẽ nghĩ tới Ai Cập. Ở miền Bắc châu Mỹ La Tinh từ Mexico đến Nicaragua, có số Kim Tự Tháp vượt xa tổng số Kim Tự Tháp của Ai Cập. Nhưng tại sao Kim Tự Tháp Ai Cập lại nổi tiếng khắp năm châu bốn biển, còn Kim Tự Tháp châu Mỹ lại ít người biết đến?
Nguyên nhân là do bộ lạc dân tộc xây dựng Kim Tự Tháp, trước sau đều đột nhiên biến mất. Tất cả các Kim Tự Tháp và hàng trăm thành phố, thị trấn lớn nhỏ vây quanh chúng cũng bị rừng rậm nhiệt đới nuốt, trong đó đại bộ phận bị chìm sâu trong lòng bùn đất, biến mất khỏi tầm mắt con người.
Kim Tự Tháp Teotihuacán, Mexico (Ảnh: redhaus)
Đầu thế kỷ XX, một cuộc khai quật khảo cổ với quy mô lớn, bước đầu con người đã vén được bức mạng che mặt của Kim Tự Tháp châu Mỹ. Châu Mỹ có khoảng 20 Kim Tự Tháp to nhỏ, được xây dựng vào thế kỷ XIV trước Công nguyên đến thế kỷ VIII trước Công nguyên. Từ quy mô hùng vĩ và nghệ thuật kiến trúc điêu luyện của Kim Tự Tháp châu Mỹ, người ta nhận thấy vẻ đẹp của chúng không kém vẻ đẹp của Kim Tự Tháp Ai Cập, thậm chí có Kim Tự Tháp còn vượt cả Kim Tự Tháp Ai Cập.
Kim Tự Tháp Ai Cập là phần mộ của các Pharaon, nhưng Kim Tự Tháp của châu Mỹ lại không phải như thế. Kim Tự Tháp châu Mỹ đại bộ phận là tế đàn để hiến tế các vị thần thánh và cúng lễ. Kim Tự Tháp do các khối hình vuông tạo thành, từng tầng một xếp chồng lên nhau, thu nhỏ dần lên phía trên; có 4-5 tầng, có cái tới 20 tầng; cao nhất tới 80m. Xung quanh tháp hoặc 2 mặt tháp là các bậc đá dốc đứng. Theo từng bậc, người ta có thể lên tới đỉnh tháp, trên đỉnh tháp rộng rãi đều lập tế đàn hoặc xây dựng miếu thần. Ngoài việc tiến hành nghi lễ tế lễ thần vào các ngày tế lễ đặc biệt để cầu xin giải trừ thiên tai ra, một ngày người ta còn lên đỉnh tháp thờ cúng thiên thần 4 lần. Bên trong Kim Tự Tháp được đắp bằng đất, cát, sỏi, đá - đây là điều khác biệt với Kim Tự Tháp Ai Cập.
Saturday, 2. June 2007, 11:45:16
Bi An

Tháng 7/2001, một trận mưa màu đỏ như máu bí ẩn trút xuống một khu vực rộng lớn ở miền Nam Ấn Độ. Song ngạc nhiên hơn nữa trong hạt mưa các nhà khoa học đã phát hiện những tế bào sống không có AND (thành phần cơ bản của sự sống trên trái đất). Phải chăng đây là nhưng bằng chứng xác thực đầu tiên về sự hiện diện của sự sống ngoài trái đất.
Tiến sĩ Godfrey Louis
(Ảnh: education.vsnl.com)
Người dân địa phương tin đó là điềm báo trước sự tận thế của thế giới, mặc dù đã có sự giải thích chính thức hiện tượng là ảnh hưởng của bụi sa mạc thổi đến từ Arập.
Nhưng một nhà khoa học trong khu vực, Tiến sĩ Godfrey Louis, nhà vật lý học tại Đại học Mahatma Gandhi, cho rằng có điều gì đó bất thường đã xảy ra. Tiến sĩ Louis không chỉ khám phá sự hiện diện của các tế bào sinh học bé nhỏ trong nước mưa, song vì nó không chứa ADN - thành phần chủ yếu của mọi dạng sống trên trái đất - nên Louis lập luận rằng có thể nó là các dạng sống ngoài hành tinh. Trước Louis vài thập niên đã có hai nhà khoa học Anh đưa ra lý thuyết này.
Một cách rõ ràng, Louis có được các cấu trúc kỳ lạ, thành dày, màu đỏ giống như tế bào, kích thước khoảng 10 micron. Điều lạ lùng hơn, hàng chục thí nghiệm của Louis cho thấy rằng các phần tử có thể thiếu ADN, tuy nhiên vẫn còn khả năng sinh sản dồi dào, thậm chí chúng có thể tồn tại trong nước ở 300oC (Được biết giới hạn cao nhất cho sự sống trong nước là khoảng 120oC).
Làm thế nào để giải thích hiện tượng này? Tiến sĩ Louis suy luận rằng các phần tử có thể là vi khuẩn ngoài trái đất thích ứng với những điều kiện khắc nghiệt trong không gian và các vi khuẩn bị bám vào sao chổi hay thiên thạch rồi sau đó vỡ ra trong khí quyển trên cao và hòa vào các đám mây gây mưa bên trên vùng trời Ấn Độ.
Nếu lý thuyết của Louis là đúng, thì các tế bào này sẽ là bằng chứng đầu tiên được chứng minh về sự sống ngoài hành tinh và từ đó có thể là bằng chứng mới về nguồn gốc sự sống trên trái đất (?).
Năm 2005, Louis đã gửi vài mẫu thí nghiệm đến nhà thiên văn học Anh gốc Sri Lanka Chandra Wickramasinghe và đồng nghiệp ở Đại học Cardiff ở xứ Wales và họ hiện đang thử nghiệm tái tạo các mẫu vật.
Qua nghiên cứu Wickramasinghe cho biết: “Chúng tôi có những bức ảnh tuyệt hay về những tế bào cắt lát ở giữa này. Chúng tôi nhìn thấy chúng sinh sôi, với tế bào nhỏ trong tế bào lớn”.
Lý thuyết của Louis đặc biệt hấp dẫn đối với Wickramasinghe. Cách đây 1/4 thế kỷ, Giáo sư Wickramasinghe là đồng tác giả với Sir Fred Hoyle về Thuyết tha sinh hiện đại, ý tưởng cho rằng sự sống trên trái đất có nguồn gốc từ hành tinh khác.
Giáo sư Wickramasinghe nói: “Nếu đúng là sự sống được sao chổi đưa vào trái đất cách đây 4 tỉ năm, thì có thể cho rằng thỉnh thoảng các vi sinh vật vẫn tiếp tục thâm nhập môi trường chúng ta. Đây có lẽ là một trong những sự kiện này”. Nhà vi sinh vật học Milton Wainwright của Đại học Sheffield, thành viên trong đội khoa học nghiên cứu các mẫu của Louis, giải thích rằng bước tiếp theo sẽ là xác định xem liệu có phải các tế bào thiếu ADN hay không.
Tế bào "ngoài hành tinh" phóng đại 500 lần dưới kính hiển vi
(Ảnh: sinia-planeta.com)
Wainwright giải thích: “Bởi vì sự sống như chúng ta biết nó phải chứa ADN, hoặc đó không là sự sống. Nhưng cho dù sinh vật này được chứng minh là bất thường, thì sự vắng mặt ADN cũng không có nghĩa là nó đến từ hành tinh khác”.
Louis và Wickramasinghe đang lên kế hoạch nghiên cứu xa hơn để test các tế bào bằng chất đồng vị carbon. Nếu kết quả cho thấy chúng nằm ngoài chuẩn mực sự sống trên trái đất thì đó sẽ là bằng chứng thuyết phục cho thuyết của Louis.
Giáo sư Wickramasinghe đã lên đường đến Ấn Độ để trực tiếp điều tra hiện tượng mưa màu đỏ. Ông gặp Tiến sĩ Louis và cả hai cùng đến thăm những người chứng kiến trận mưa đỏ.
Nghiên cứu của Louis cho thấy mưa đỏ có thể tái tạo ở 300oC, một thuộc tính chủ yếu của vi sinh vật ngoài không gian chịu được nhiệt độ cực cao. Tất cả những điều đó càng làm cho Giáo sư Wickramasinghe tin rằng mưa đỏ là một dạng sự sống ngoài hành tinh.
G
Nhà thiên văn học Chandra Wickramasinghe (Ảnh: BBC)
iáo sư nói: “Trước khi đến Ấn Độ, tôi đã nghi ngờ không biết trận mưa màu đỏ thật sự có là dấu hiệu của một dạng sống đến từ không gian hay không. Nhưng sau khi tiếp xúc với Godfrey, tôi tin rằng trận mưa đỏ thể hiện sự xâm nhập của vi khuẩn từ không gian”.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học vẫn còn hoài nghi lý thuyết của Thuyết tha sinh. Mặc dù thế nào, Giáo sư Wickramasinghe vẫn tin tưởng vào lý thuyết của mình. Ông nói: “Tôi hoàn toàn tin rằng chúng tôi đúng. Nếu một lý thuyết là sai, thì sớm muộn gì nó cũng gây xung đột với các quan sát. Nhưng mọi chuyện đã xảy ra từ năm 1977 - khi lần đầu chúng tôi đưa ra các ý tưởng này - và đang dần được xác định, chứ không có sự phản bác hay chứng minh ngược lại”.
Nhưng, có không ít nhà khoa học còn phê phán mạnh mẽ Giáo sư Wickramasinghe vì ông tuyên bố virus gây nên hội chứng hô hấp Sars trầm trọng năm 2003 và cúm gà năm 2000 là đến từ không gian!
Đã trải qua 3 thập niên, Giáo sư Wickramasinghe nhận được nhiều thư từ và các cuộc điện thoại mang tính đe dọa đối với các ý tưởng của ông, nhưng Thuyết tha sinh của giáo sư hiện đang ngày càng được chấp nhận hơn.
Bằng chứng là ngày càng có nhiều đầu tư vào việc tìm kiếm sự sống ngoài không gian. Theo Giáo sư Wickramasinghe, sự hoài nghi và chỉ trích của giới khoa học chủ yếu là thái độ của thời kỳ tiền Copernic.
Trước giữa thế kỷ XV, người ta nghĩ rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ. Galileo và Copernic cùng với những người khác lúc đó đã bác bỏ quan điểm này, song phải trải qua một cuộc đấu tranh dài con người mới từ bỏ được quan điểm trái đất là trung tâm. Giáo sư Wickramasinghe nói: “Tôi nghĩ vũ trụ có đầy rẫy sự sống có tri giác... và sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ tiếp xúc được với trí thông minh ngoài hành tinh”
Saturday, 2. June 2007, 11:34:17
Bi An
Cách trung tâm thành phố Kiép thủ đô nước Cộng hòa Ukraina khoảng 50 km về phía bắc có một nhà mồ nổi tiếng bởi có hàng trăm xác ướp nhưng kỳ lạ vì những xác ướp lại được bảo quản trong một điều kiện hết sức đơn giản của tự nhiên chứ không phải trong những Kim tự tháp.
Bên cạnh dòng sông hung dữ là một dãy núi cao sừng sững. Người xưa đào vào lòng đất những đường hầm rộng và rích rắc chạy dài theo triền núi. Cách một đoạn, phần thành hầm ở trên cao được khoét vuông vắn sâu thêm vào lòng đất vừa vặn đặt được một cỗ quan tài và đó chính là nơi yên nghỉ của người quá cố. Gọi là quan tài nhưng không có tấm ván thiên mà chỉ có một khung và lưới hình chóp chữ nhật cụt hay hình vòm mà qua tấm lưới có thể chiêm ngưỡng rất rõ ràng dung mạo người quá cố. Có khi, quan tài một khúc gỗ khoét lõm và khung lưới đặt trực tiếp lên trên, nom như chiếc “giường”.
Xác ướp tại Viện bảo tàng Ai Cập.
(Ảnh: 2travel2egypt)
Tất cả những chiếc “giường ngủ” ở đây đều được trang trí rất đẹp. Đi trong nhà mồ có cảm giác mát lạnh. Tất cả những xác chết ở đây đều cùng một màu nâu đen khô quắt lại. Lạ là không có dù chỉ là tí chút mùi của chết chóc, ngay đến cả mùi ẩm mốc cũng không hề có. Lũ trẻ tan học về trên đường ngang qua nhà mồ thường vứt cặp sách trên mặt đất rồi chạy xuống nhà mồ chơi trò đuổi bắt như thể đây là một chỗ vui chơi của chúng. Thỉnh thoảng lại có những người đến thăm người quá cố là tổ tiên của họ...
Người ta thấy rằng trong Kim tự tháp Ai Cập có những hiện tượng kỳ lạ. Chẳng hạn để trong tháp một đồng tiền kim loại đã rỉ, chừng hơn một tháng sau nó sáng lại như còn mới. Sữa tươi vừa vắt ra từ một con bò nếu để bên ngoài tháp thì hỏng, còn để trong tháp mùi vị vẫn bình thường với khoảng thời gian như nhau. Trái cây và rau xanh để trong tháp khoảng 15 ngày vẫn tươi, không khô héo. Hai cây cà chua cùng trồng một lúc, cây trong tháp ra hoa kết quả trước cây ngoài trời...
Nhưng đó là không khí bên trong Kim tự tháp, những công trình kiến trúc vĩ đại cả về văn hóa, tiền của, sức người, trí tuệ, thời gian xây dựng cũng như tồn tại và đặc biệt được cho là hấp thụ “sóng vũ trụ” nào đó qua các cửa và lỗ thông hơi hướng về phương Bắc, nên mới tạo ra một môi trường có thể gìn giữ thi thể các Pharaoh hàng nghìn năm. Còn ở đây rõ ràng không phải Kim tự tháp, mà chỉ là một nhà mồ được đào trong lòng đất hết sức mộc mạc, nhưng những xác người ở đây đã tồn tại hàng nghìn năm...
Điều gì làm các xác chết trường tồn với thời gian? Do thuật ướp xác? Do môi trường lưu giữ xác? Hay vì cả hai? Đó là những câu hỏi lớn mà sau nhiều thập kỷ tìm tòi vẫn chưa có lời giải đáp hoàn toàn chính xác. Hiện thời, đã biết nhiều cách ướp xác khác nhau và mặc nhiên thừa nhận đi tiên phong trong lĩnh vực này nói riêng và y học nói chung là người Ai Cập cổ đại.
Nhiều thành tựu y học ghi trên giấy papyrus chứng tỏ người Ai Cập cổ hiểu biết khá rõ về cơ thể người. Họ rất coi trọng việc thờ người chết vì cho rằng, người tuy chết nhưng linh hồn là bất tử. Trong mỗi con người đều có một hình bóng giống như mình khi soi gương gọi là linh hồn (ka), khi ra đời linh hồn chui vào thân xác, khi chết linh hồn rời khỏi xác nhưng vẫn tồn tại. Linh hồn chỉ bị chết hẳn khi thể xác hủy nát. Nếu thân xác nguyên vẹn thì đến một lúc nào đó linh hồn lại nhập vào xác và con người sẽ sống lại. Tín ngưỡng này thể hiện trong chuyện thần thoại về Thần Orisis (Thần sông Nin) và Thần Seth (Thần Sa mạc).
Thuật ướp xác đã ra đời như thế và được cho là xuất hiện từ thời kỳ Cổ vương quốc (khoảng 3000 – 2200 TCN) và duy trì đến TK V. Người chuyên nghề ướp xác dùng một cái móc đưa qua đường mũi lên đầu để lấy hết não, rồi rửa sạch khoang sọ bằng một loại nước sắc nhiều cây cỏ thơm và rượu... Ngực và bụng được mổ bằng dao đá rất sắc để lấy hết phủ tạng, chỉ còn tim được giữ nguyên trong lồng ngực vì tim được coi là nơi sinh ra thông minh và tình cảm nên phải được giữ lại để chờ ngày phán xử cuối cùng.
Khoang ngực, bụng cũng được đổ đầy nước hương liệu và rượu rồi khâu lại. Xác được ngâm trong nước muối khoảng 70 ngày nên teo nhỏ lại chỉ còn da bọc xương. Sau đó được xoa bằng dầu thơm và một dung dịch đặc biệt rồi được bó chặt bằng vải, có khi ngực, bụng còn được nhồi mạt cưa tẩm hương liệu (lại có nhà nghiên cứu cho rằng, sau khi xử lý não và phủ tạng, xác được chôn hoặc đặt trong hang không có gió khoảng 70 ngày, rồi bó bằng vải tẩm nhựa cây). Các ngón tay được lồng vào túi bằng vàng để khỏi rơi rụng. Đầu quan tài (bằng đá) người ta tạc khuôn mặt người quá cố, thân quan tài chạm hình quần áo để dễ nhận ra phần xác của mình, vì thế nhìn quan tài có hình người không có tay chân, bên cạnh mồ còn dựng tượng người chết bằng đá hoặc gỗ.
Xác ướp của một Pharaoh (Ảnh: crystalinks)
Thuở sơ khai, ướp xác là một nghi táng bất khả xâm phạm của Vua và Hoàng hậu. Từ khoảng 1500 năm TCN, giới quý tộc mới được phép dùng nghi táng này. Sau đó tục này lan đến những người giàu có và đến cả tầng lớp bình dân. Tuy nhiên, trong tục này cũng có phân biệt đẳng cấp: Vua chúa dùng kỹ thuật ướp phức tạp nhất, sau đến giới quý tộc và nhà giàu, tất nhiên phải trả một khoản tiền lớn, còn tầng lớp bình dân thì không phải trả tiền nhưng kỹ thuật ướp đơn giản nhất bằng dung dịch kiềm tính, và trát một lớp vôi bên ngoài.
Năm 1996, ở gần vùng El Bawiti phát hiện khoảng 10.000 xác ướp có niên đại 300 năm TCN đến 300 sau CN. Viện Bảo tàng Ai Cập ở Cairo hiện đang trưng bày xác ướp 26 Pharaoh cách chúng ta khoảng 4.000 – 5.000 năm nhưng tình trạng các xác vẫn rất tốt. Gần đây, các nhà khảo cổ Nhật Bản khai quật một xác ướp nguyên vẹn trong một ngôi mộ chưa bị xâm hại ở Nam Đasơ, Ai Cập. Ông Sakugi Yosimura, nhà nghiên cứu hàng đầu Đại học Oaxeđa, Tokyo cho biết, xác người đàn ông này được ướp trước triều đại Pharaoh Tulankhamen (khoảng 1336 – 1327 TCN).
Người Ukraina và châu Âu có cách ướp xác riêng của mình hay học của người Ai Cập? Câu hỏi này hiện vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Nhưng người ta thiên về giả thiết thứ hai bởi thời Cổ đại, phương Đông và phương Tây với hai nền văn minh rực rỡ đã có sự giao lưu. Người Phenixi (Liban ngày nay) đã đi lại buôn bán khắp Địa Trung Hải từ TK XI TCN; đến TK VI TCN.
Các nhà khoa học Hy Lạp cổ đại Pitago, Talet đã đi du lịch Ai Cập, Lưỡng Hà; TK V TCN nhà sử học Hy Lạp Herodot đi du lịch nhiều nơi ở phương Đông. Cuối TK IV TCN, Alexandre Makedonia chinh phục phương Đông (đến tận tây bắc Ấn Độ) gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa (334 – 30 TCN) và hình thành những quốc gia Hy Lạp hóa trong đó có Ai Cập. Có lúc Ai Cập chỉ là một tỉnh của La Mã.
Thời kỳ Trung đại, châu Âu suy thoái nên lạc hậu hơn phương Đông về mọi mặt. Nhà nước Arập thành lập từ TK VII, đến TK VIII trở thành một đế quốc rộng lớn trải dài trên ba châu Á, Âu, Phi từ lưu vực sông Indus đến Tây Ban Nha và là cầu nối giữa các nền văn minh Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Âu nên việc học tập, trao đổi lẫn nhau những thành tựu khoa học, trong đó có cách ướp xác là một tất yếu. Do phát động của Giáo hoàng La Mã, từ TK XI – XIII các nước Tây Âu đã có 8 cuộc viễn chinh phương Đông bởi những kị sĩ trên áo có hình cây thánh giá. Các cuộc thập tự chinh cũng là một cầu nối khác cho văn minh Đông – Tây.
Tuy nhiên, ở nước Nga xưa kia có một cách ướp xác hoàn toàn khác với phương pháp truyền thống do nhà khoa học, bác sĩ Vyvodxev phát minh sử dụng chất hóa học, đó là các chất Glycerin, acid Phenic, cồn và long não.
Cho đến nay, phương pháp này mới chỉ phát hiện được duy nhất một xác ướp là nhà phẫu thuật Nga nổi tiếng thế giới N.I.Pirogov. Xác ướp nhà phẫu thuật đã qua 124 năm và chỉ được bảo quản sơ sài trong hầm mộ một nhà thờ nhỏ ở ngoại ô Vinxina, dù khuôn mặt và hai bàn tay của ông để hở trong không khí nhưng màu sắc hầu như không biến đổi.
Điều đặc biệt là các phủ tạng của Pirogov vẫn được giữ nguyên trong cơ thể? Thế nhưng, hiện thời vẫn chưa biết được tỉ lệ các chất mà Tiến sĩ Vyvodxev đã pha chế thành dung dịch ướp và cách xử lý cũng như những cách bảo vệ xác mà ông đã sử dụng
Ở Việt Nam, nhiều người đã biết đến hai pho tượng giáp cốt ở chùa Đậu, Thường Tín, Hà Tây, là xác ướp để trong môi trường không khí bình thường chịu nhiều tác động thường xuyên và lâu dài của nhiệt độ, độ ẩm không khí, nghĩa là điều kiện bảo quản xác khó nhất. Những pho tượng xác ướp như thế này có thể thấy ở Tây Tạng, Nhật Bản, Việt Nam thường là di cốt những nhà sư chân tu.
Năm 2005, khi khai quật ở cánh đồng đào Nhật Tân, Hà Nội đã mục sở thị một xác ướp khô nhưng vẫn nguyên vẹn sau 10 ngày lộ thiên chịu tác động của nắng mưa. Dù tấm thiên đã bị phá, nước đã vào quan tài nhưng xác ướp cách chúng ta khoảng 200 năm vẫn khô quắt, nguyên vẹn cả nội tạng, râu tóc; quần áo, chăn gối, vải chèn vẫn còn giữ được màu trắng. Đặc biệt là từ những đồ liệm này bay ra một mùi thơm và còn lưu lại rất lâu. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã lập hồ sơ 75 ngôi mộ xác ướp nhưng chưa có điều kiện khai quật. Họ cho rằng, cách ướp xác thường được sử dụng ở Trung Quốc và Việt Nam là phương pháp ngâm xác vào dung dịch ướp và cũng là trong môi trường yếm khí (không có không khí).
Xác ướp khai quật ở Nhật Tân (Hà Nội) sau 10 ngày lộ thiên ngấm nước
vẫn còn nguyên vẹn. (Ảnh: CAND)
Cốt lõi của phương pháp ướp này là làm cơ thể trở thành môi trường vô khuẩn. Khi người được ướp xác hấp hối thì cho uống thuốc hồi dương (chủ yếu là quế chi) để nhiệt độ cơ thể giảm chậm trong một thời gian sau khi chết và hạn chế vi khuẩn đường ruột. Lúc ngừng thở sẽ đổ khoảng một lít rượu nếp mạnh vào miệng để sát khuẩn đường tiêu hóa. Người ta cho rằng rượu có tác dụng giữ cho mô cơ thể không bị phân hủy. Người quá cố được tắm bằng nước ngũ vị hương nhằm diệt khuẩn trên da, rồi mặc quần áo tẩm hương liệu, liệm bằng nhiều lớp vải lụa để tránh không khí tác động và nhập quan rất nhanh. Áo quan phải ghép rất kín và sơn trong ngoài để lượng không khí trong áo quan thấp nhất. Trong quan tài ngôi mộ Nhật Tân có dịch màu xanh đen xỉn được cho là dung dịch ướp. Cách ướp này thường sử dụng tinh dầu mà ngày nay phân tích biết là tinh dầu thông, bạch đàn, khuynh diệp, những chất lưu giữ mùi thơm rất lâu. Những phát hiện trên đã khẳng định người Việt Nam xưa đã nắm được kỹ thuật ướp xác hoàn hảo và tinh tế. Chỉ tiếc là hiện các nhà khoa học chưa tìm được bằng chứng về nguồn gốc và bí mật thuật ướp xác của người Việt.
Những xác ướp tự nhiên dưới góc nhìn pháp y
Ở thành phố Guanajuato, Mexico có một nghĩa địa lưu giữ 117 xác chết khô đét như được ướp, xác chết cách chúng ta nhất khoảng 140 năm. Những xác chết này không hề được ướp mà chôn cất bình thường. Nhưng do khí hậu ở đây rất khô và trong đất có rất nhiều chất khoáng, nên xác chôn không hề phân hủy mà teo quắt lại và rất rắn. Dân chúng lấy nơi đây để mai táng những ai không muốn trở về “cát bụi”. Hiện tượng này có thể giải thích đầy đủ là do khí hậu khô nóng, đất có nhiều khoáng chất là môi trường mà vi khuẩn không thể hoạt động được. Vì thế xác không bị phân hủy mà dần khô đét lại.
Một xác ướp tại thành phố Guanajuato, Mexico (Ảnh: rayjeanne)
Các nhà pháp y gọi những trường hợp này là xác tượng hóa (momification). Tuy nhiên, ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhiệt độ và độ ẩm cao như Việt Nam vẫn có không ít những xác chết sau 3 năm chôn cất thông thường hoặc lâu hơn vẫn còn nguyên vẹn phần mềm mà nhân dân thường gọi là mả kết, và hiện tượng này được gán cho những ý nghĩa không đúng theo quan niệm mê tín của mình.
Khi người chết được chôn cất theo phương pháp truyền thống xưa nay, nếu nhiệt độ, môi trường thuận lợi, các loại vi khuẩn có sẵn trong cơ thể, trong đất sẽ sinh sôi rất nhanh và phần mềm của xác là nguồn dinh dưỡng lý tưởng để chúng phát triển. Nơi chôn cất nhiều nước thì phần mềm càng tiêu biến nhanh. Tuy nhiên, nếu vùng đất mai táng có nhiều ion natri, kali, canxi, manhê, mangan, sunfat... ngoài việc có tác dụng sát khuẩn trong đất, các ion này ngấm vào cơ thể và liên kết với chất glycerin, axít béo phân hủy từ mỡ để thành xà phòng gọi là hiện tượng xà phòng hóa.
Hầu hết các xác đều có hiện tượng này nhưng vì chất xà phòng ít, không đủ để ngăn cản tác động phân hủy của vi khuẩn, cuối cùng chỉ còn lại phần cứng. Một số ít xác xà phòng hóa mạnh toàn bộ nên cơ thể trở thành môi trường sát khuẩn hữu hiệu. Da xác có màu vàng, cứng, khó cắt, mùi khó chịu. Vai trò phân hủy phần mềm rất cần thiết và duy nhất chỉ có vi khuẩn làm được không còn ý nghĩa. Vì thế sau ba năm thay áo cho người chết thấy vẫn còn nguyên vẹn.
Tương tự, ở vùng núi đá vôi có hiện tượng xác hóa đá mà vai trò chính là ion canxi và sunfat. Nếu chôn cất ở nơi cao, khô nóng xác cũng phân hủy rất chậm... Người giám định pháp y thấy được giá trị bảo tồn những thương tích, bệnh lý ở các xác dạng này để tính toán có nên khai quật giúp cho điều tra vụ án? Còn người dân giải thích hiện tượng bằng quan niệm mê tín của mình!
Kiên Cường
Saturday, 2. June 2007, 11:28:35
Bi An
Sự việc kỳ lạ liên tiếp xuất hiện kể từ cuối những năm 1980: giữa rừng già heo hút, người ta tìm thấy những cái hang sâu hoắm, thành hang nhắn thín và trơn tuột như thể hang lươn.
Điều khó hiểu ở chỗ: những hố tròn khổng lồ luôn tọa lạc tại vị trí hẻo lánh nhất của khu rừng, cũng là nơi cây cối rậm rạp và um tùm nhất. Việc đem ra tải, xe xúc hay bất kỳ công cụ đào bới nào vào đây mà không để lại dấu vết khó ngang chuyện... lên trời. Hơn nữa, cũng không hề có bất cứ dấu tích nào của đất đá đào xới xung quanh. Như thể có bàn tay vô hình khổng lồ đã thọc tay vào lòng đất.
Rất nhiều đội thám hiểm đã tìm tới đây và dùng dây chằng đưa người xuống hố, những mong làm sáng tỏ điều bí ẩn hơn 2 chục năm qua. Rốt cục họ đều trở về tay trắng: lòng hố tối đen như hũ nút và sâu tưởng chừng như không bao giờ chạm đáy.
Những lỗ tròn này được tạo ra như thế nào, do ai, vì mục đích gì... tất cả câu trả lời còn nằm trong vòng bí hiểm.
Saturday, 2. June 2007, 11:24:29
Bi An
Ba tổ chức nghiên cứu vật thể bay không xác định MUFON, KUFOS và FUFOR đã công bố lời kêu gọi tham gia vào sáng kiến quốc tế, nhằm kêu gọi chính phủ các nước hàng đầu thế giới, trước hết là Mỹ, mở những tài liệu mật về người ngoài hành tinh, để nhân loại, cuối cùng cũng được biết rằng chúng ta không đơn độc trong vũ trụ.
Đĩa bay bị vỡ
Tài liệu được phổ biến trên báo chí mang tên gọi Tuyên bố Rosvell, bởi ở chính địa điểm nhỏ bé Rosvell gần nửa thế kỷ trước đây đã xảy ra thảm hoạ vũ trụ. Lúc đó trong sa mạc ở Tây Nam nước Mỹ đã xảy ra cuộc đụng độ, có thể ảnh hưởng đáng kể đến số phận của nhân loại. Điều này được giới quân sự thông báo, nhưng sau đó họ lại phủ nhận chính mình.
Vào đầu tháng 7/1947 người nông dân tên là Mac Brazel, sống ở New-Mexico, ra sân vào lúc sáng sớm để kiểm tra đàn cừu sau cơn dông ban đêm. Ông đã phát hiện ra những mảnh vỡ khác thường.
Chiều dài của chúng phải đến hàng trăm mét, chúng đã làm thành những vệt rãnh đều đặn trên mặt đất và nằm xung quanh với số lượng lớn. Brazel nhặt vài mảnh, định cho hàng xóm xem và đưa cho cảnh sát trưởng Jorjơ Vipcocs.
Cảnh sát trưởng đã liên lạc với căn cứ không quân ở Rosvell. Khi tới hiện trường, giới quân sự đã gạt hết cảnh sát ra ngoài, bao vây một vòng dày đặc quanh khu vực và đưa đi tất cả những gì được tìm thấy ở đó.
(Ảnh: BBC)
Họ chở những mảnh này về Rosvell, sau đó dùng máy bay B-29 và S-54 chuyển chúng tới một địa điểm ở bang Ohio.
Tại căn cứ ở Rosvell lúc bấy giờ có trung đoàn máy bay ném bom số 509, lần đầu tiên được trang bị bom nguyên tử. Sáng ngày 8/7/1947 chỉ huy trung đoàn- đại tá Wiliam Blankhard đã ra lệnh chuyển cho báo chí thông báo về việc đã phát hiện được các bộ phận của chiếc “đĩa bay bị vỡ”.
Ngay ngày hôm đó hơn 30 tờ báo buổi chiều của Mỹ đã đăng thông báo này trong mục tin tức gây chấn động. Vài giờ sau, từ văn phòng của tướng Rojer Romey - chỉ huy trưởng lữ đoàn không quân số 8 đóng tại Vort ở Tezas, cách xa địa điểm tai nạn đĩa bay hơn 700 km, đã có thông báo thứ hai.
Trong thông báo nói rằng sự việc đã bị thổi phồng, rằng trên thực tế đại tá Blankhard đã phạm phải “điều dại dột khó tin”, khi nhận bừa khinh khí cầu bình thường trên ra đa của mình là các bộ phận của thân đĩa bay bị rơi.
Hoàn toàn thấy rõ rằng, một trong hai thông báo trên báo chí này không phải là sự thật.
Nhân chứng là ai?
Những người cùng làm việc với Wiliam Blankhard và biết rõ ông đều khẳng định, rằng ông là người nghiêm túc và là người của công việc, chứ không phải là kẻ ngu xuẩn nào đó, như người ta nói về ông trong thời gian thông báo thứ hai.
Nếu như ông không tin tưởng hoàn toàn chắc chắn vào việc: Sự kiện bi kịch và khó tin đã xảy ra với chiếc đĩa bay bị vỡ, thì ông đã không bao giờ lại cho ra một thông báo như vậy cho báo chí.
Toàn bộ đường công danh sau này của Wiliam Blankhard xác nhận tính chính xác của những kết luận về ông: sau này ông đã lên đến cấp tướng bốn sao và là phó tham mưu trưởng không quân Mỹ.
Nhân chứng đầu tiên, người đã tham gia vào việc nghiên cứu là trung tá phản gián của trung đoàn máy bay ném bom 509 ở Rosvell- Joze Marsel.
Ông là chuyên gia thuần thục, có uy tín cao và là một trong hai sĩ quan có mặt đầu tiên tại hiện trường tai nạn. Trong một lần trả lời phỏng vấn trong năm 1979, Marsel đã tuyên bố chắc chắn: “Đó không phải là khinh khí cầu”.
Khi kể về vật liệu được tìm thấy, ông nhận xét: “Nó không bắt lửa…Chất này gần như không nặng mấy và nó cũng chẳng dày hơn tờ giấy kim loại bọc thuốc lá chút nào. Khi tôi thử bẻ cong nó, nó chẳng bị cong. Lúc ấy chúng tôi đã dùng chiếc búa 8 kg để đục thủng một lỗ trên nó mà không ăn thua gì, vật liệu này không hề bị tác động”.
Hình mặt sinh vật lạ. (Ảnh UFO log, VTC)
Thật khó mà tưởng tượng một con người được đào tạo và có trình độ nghiệp vụ như Joze Marsel, thêm vào đó còn là sĩ quan phản gián của trung đoàn không quân duy nhất trên thế giới vào lúc bấy giờ có bom nguyên tử trong trang bị lại có thể nhầm lẫn khinh khí cầu khí tượng với đĩa bay. Mà không chỉ trên màn hình ra đa, mà cả sau đó trên mặt đất.
Kết luận của ông chỉ dẫn đến một điều: “Những phần vỏ còn lại này có xuất xứ không phải từ Trái đất”.
Không thể nghi ngờ trình độ chuyên môn của nhân chứng này, bởi sau này, cùng việc thực hiện hàng loạt nhiệm vụ nhà nước quan trọng, ông đã tham gia vào việc chuẩn bị báo cáo mật về vụ nổ nguyên tử đầu tiên ở Liên Xô.
Báo cáo này đã trực tiếp nằm trên bàn làm việc của tổng thống Mỹ Truman.
Chỉ đến năm 1992, nguyên nhân thực sự của việc xuất hiện thông báo thứ hai trên báo chí của giới quân sự, bãi bỏ thông báo đầu tiên, mới được sáng tỏ.
Trước khi chết, tướng Tomas de Bose đã thú nhận rằng năm 1947 tại căn cứ không quân của lữ đoàn số 8 ở Texas đích thân ông đã nhận qua điện thoại mệnh lệnh của tướng Klemens Macmillan từ Washington về việc cần phải che giấu sự kiện “đĩa bay bị rơi”.
Trong chỉ thị cho tướng Romey người ta đề nghị phải nghĩ ra “những lý do để che đậy vấn đề này, để báo chí rời bỏ chúng ta”.
Năm 1990 cả tướng Artur E. Ecxon- năm 1947 ông mới chỉ là trung uý và đã tham gia vào việc thử nghiệm vật liệu mảnh đĩa bay vỡ ở phòng thí nghiệm bang Ohio cũng bắt đầu lên tiếng. Theo khẳng định của ông, mọi thử nghiệm có thể đều đã được tiến hành: các phân tích hoá học, cắt đứt, uốn cong, nén, ép… Tất cả những ai tham gia vào các cuộc thử nghiệm này đều thống nhất đi đến kết luận rằng vật liệu này đến với Trái đất từ vũ trụ.
Xác chết kỳ lạ
Glenn Dennis là một người xử lý xác chết hiện nay ông vẫn sống ở ngoại ô Rosvell. Là một doanh nhân khả kính và tham gia công việc của xã hội, ông có chính kiến của mình và không nghiêng về những điều bịa đặt. Trước đây, khi còn trai trẻ Glenn đã làm việc tại nhà xác và xử lý các xác chết. Cơ sở này đã có hợp đồng với không quân Mỹ về việc trợ giúp xử lý xác chết.
Ngay từ trước khi ông được biết về những bí mật của đĩa bay bị vỡ, từ đơn vị không quân viên sĩ quan chuyên về vấn đề mai táng đã gọi điện cho ông và hỏi: phải bảo quản các xác chết đã ở trong những điều kiện khí quyển ngoài trời mấy ngày rồi như thế nào là tốt nhất?
Chiều hôm đó Glenn đến quân y viện của đơn vị có việc gì đó. Cạnh cửa phụ từ phía ngược lại của toà nhà ông nhìn thấy hai nhân viên quân sự của phòng thí nghiệm. Họ đang mang những vật lạ nào đó, trên bề mặt của chúng có những biểu tượng lạ lùng.
Vừa bước vào quân y viện ông gặp ngay cô y tá quen biết. Định nói chuyện với cô một lát, thì ngay lúc đó ông bị cảnh sát quân sự phát hiện và bị họ đuổi ra khỏi toà nhà.
Ngày hôm sau Glenn gặp cô y tá trong thành phố. Cô đã kể cho Glenn, chuyện gì dã xảy ra trong quân y viện. Vốn là người theo tôn giáo điềm đạm và bình tĩnh, vậy mà vào thời điểm đó cô gần như bị chấn động thần kinh.
Cô kể người ta ra lệnh cho cô trợ giúp hai bác sĩ, những người đang xử lý vài vật thể nhỏ bé, không phải con người. Cô nhìn thấy: một vật thể ở trong tình trạng không tồi, còn những vật khác bị phân nhỏ ra, bởi vậy có thể nhận thấy rõ những khác biệt về giải phẫu với con người.
Thậm chí cô còn phác hoạ lên chiếc khăn giấy, những phần thi thể riêng biệt của các sinh vật này trông như thế nào. Glenn sau này không còn gặp được cô nữa, hai ngày sau đó cô bị điều động khẩn cấp sang làm việc ở Anh.
Bí mật bằng mọi giá
Phần chủ yếu của đĩa bay bị vỡ rơi ở gần trang trại của Brazel. Nhưng, như sau này được xác định, những nhà nghiên cứu quân sự còn tìm được một phần nữa cách xa nơi ở. Theo xác nhận của những người chứng kiến, tại địa điểm đó còn phát hiện được các vật thể lạ. Phần lớn nhân chứng cho đến giờ vẫn cảm thấy sợ hãi trước hình phạt từ phía chính quyền.
Không chỉ Glenn Dennis, mà những người khác cũng bị đe doạ trừng phạt về thể xác. Theo lời các thành viên gia đình của cảnh sát trưởng Vipcocs, nhân những sự kiện này Vipcocs đã cảnh báo vợ, rằng ông và cả gia đình sẽ bị chết, nếu như ông có ý định nói ra điều mình đã nhìn thấy vào bất cứ khi nào.
Giới quân sự đã bắt giữ Mac Brazel cả một tuần và chỉ thả ông ra, sau khi ông thề giữ bí mật. Ông không nói với gia đình về đĩa bay bị vỡ thêm một lần nào nữa trong đời.
Các nhà quân sự đã thu của ông tất cả những gì ông đã nhặt tại địa điểm tai nạn và muốn cho hàng xóm xem. Sau đấy mấy tháng họ cũng tịch thu nốt những mẩu vỡ nhỏ của đĩa bay mà con trai ông đã tìm thấy và tập trung lại ở ngoài đồng.
Thêm những tia sáng
Soi sáng thêm cho toàn bộ câu chuyện này là những tài liệu được Bộ quốc phòng Bỉ công bố năm 1991. Đó là những bằng chứng ra đa của hai chiếc máy bay tiêm kích F- 16 của không quân Bỉ, được lệnh theo dõi vật thể bay không xác định.
Thêm vào đó là những số liệu của 4 ra đa quân sự trên mặt đất, theo dõi tàu vũ trụ của người ngoài hành tinh. Cũng như nhiều tuyên bố của các công dân và cảnh sát.
Vào lúc bấy giờ các ra đa của căn cứ không quân của Bỉ đã ghi nhận được vật thể bay không xác định. Các máy bay tiêm kích- đánh chặn F- 16 đã cất cánh. Khi máy bay tới gần vật thể bay, nó đột ngột tăng tốc và nhanh chóng thoát khỏi những chiếc máy bay truy kích. Vật thể lạ chuyển động với tốc độ chưa từng thấy.
Theo lời tướng Vilfred de Brover của NATO, không một phi công nào trên thế giới có thể chịu được sự quá tải xuất hiện khi chuyển động với tốc độ như vậy. Các chuyên gia của Bỉ từ NATO cho rằng vật thể rõ ràng có xuất xứ ngoài trái đất
Saturday, 2. June 2007, 11:20:42
Bi An
Gần đây, các phi công vũ trụ Nga tiết lộ họ đã từng chứng kiến và tin chắc có đĩa bay của nền văn minh ngoài hành tinh. Nhưng lâu nay họ phải giữ kín chuyện đó.
Tiết lộ của các phi công vũ trụ Nga...
Chỉ có phi công vũ trụ Nga Kovalenok - 2 lần Anh hùng Liên Xô - là người duy nhất cả gan tiết lộ bí mật này. Trong những năm 1977 đến năm 1982, tính tổng cộng, Kovalenok đã có mặt trên Trạm quỹ đạo 216 ngày 9 giờ 9 phút 40 giây sau 3 lần bay lên vũ trụ.
Theo Kovalenok, anh đã từng nhiều lần nhìn thấy đĩa bay lướt qua trước mắt và đã không ít lần phải sửng sốt đến kinh ngạc. Trong chuyến bay thứ ba lên vũ trụ từ ngày 12/3/1981 trên tàu Liên Hợp T-4, Kovalenok nhìn thấy một chiếc đĩa bay bám theo và nổ tung đằng sau con tàu do anh điều khiển.
Kovalenok kể: “Tôi không bao giờ quên trường hợp bất ngờ xuất hiện một vật thể bay kỳ lạ. Hết thảy chúng tôi đang bay trên trạm quỹ đạo lúc đó đều nhìn thấy và chăm chú quan sát. Vật lạ đó có kích thước không lớn lắm.
Tôi là người đầu tiên phát hiện ra đĩa bay và điện báo ngay cho Savinykh - Kỹ sư máy tàu. Savinykh bấm video camera thì vật bay lạ đó nổ tung, chỉ để lại một đám mây gồm hai phần có hình dạng giống như hai nửa quả tạ mà chúng tôi vẫn dùng để tập thể dục cơ bắp vào buổi sáng hàng ngày trên trạm quỹ đạo.
Ngay lúc đó, chúng tôi liên lạc với Trung tâm điều khiển bay trên mặt đất và thông báo về những gì chúng tôi quan sát được. Chúng tôi không biết điều gì đã xảy ra trong ngày hôm đó nhưng có thể khẳng định chắc chắn một điều rằng vật bay lạ đó là có thật.
Chúng tôi không nhận được trả lời từ Trung tâm. Nhưng trong ngày hôm đó, Trung tâm khẳng định đã xảy ra một chuyện rất kỳ lạ: Các chuyên gia điều khiển bay đã ghi nhận được một luồng bức xạ rất mạnh phát ra vào thời điểm trùng với lúc vật bay lạ nổ tung bên cạnh trạm quỹ đạo mà chúng tôi đã chứng kiến”.
Chứng cứ của Trung tâm Vũ trụ quốc gia Anh
Trung tâm Vũ trụ Quốc gia Anh cũng tiết lộ các cứ liệu do camera quan sát Soho (Solar And Heliospheric Observatory) lắp trên tàu quan sát lúc đang bay cách bề mặt Trái đất nhiều triệu kilômét.
Trên các bức ảnh do Soho ghi lại, có thể nhìn thấy rất rõ hình ảnh các vật bay lạ mà các nhà khoa học thiên văn khẳng định rằng đó không phải là ảnh chụp các ngôi sao mà là dấu vết của các đĩa bay.
Phi công vũ trụ Nga Kovalenok - Người tiết lộ bí mật đĩa bay (Ảnh: astronaut.ru)
Michael Muyrrey - Người thành lập nhóm chuyên gia nghiên cứu các vật bay lạ mang tên Euroset - nhận xét, vì các bức ảnh đó chụp trong khoảng không bên ngoài khí quyển Trái đất nên có thể khẳng định có một nền văn minh khác phát triển rất cao tồn tại bên ngoài hành tinh chúng ta.
Căn cứ vào quỹ đạo di chuyển các vật bay đó, có thể thấy chúng được các thực thể có trí tuệ điều khiển. Một doanh nhân người Tây Ban Nha xin được giấu tên đã bí mật kết nối ăngten thu tín hiệu vệ tinh vào hệ thống mạng quan sát vũ trụ Soho và đã thu được các hình ảnh do trạm này chụp được về các vật thể lạ trong vũ trụ. Ông đã giấu kỹ các bức ảnh đó và không công bố.
Báo cáo của Bộ chỉ huy Bắc Mỹ gửi Tổng thống G.Bush
Bộ chỉ huy phòng thủ vũ trụ liên hợp Bắc Mỹ NORAD phát hiện ra những vệt sáng bí ẩn trên bầu trời khi đang khảo sát khí quyển. Những vệt sáng đó xuất hiện trên các đảo Terks và Kaykos thuộc vùng biển Caribe, chuyển động theo hướng Tây - Bắc hướng về phía lãnh thổ Hoa Kỳ.
Ban đầu, các sỹ quan quân đội làm việc trong NORAD cho rằng đó là vết tích của động cơ máy bay phản lực bay qua vùng đó. Nhưng chính các phi công một hãng hàng không dân dụng thông báo họ cũng nhìn thấy dấu vết tương tự trên bầu trời các bang Indian và Florida.
Ngay lập tức, NORAD phát lệnh báo động cho các máy bay chiến đấu cất cánh từ các sân bay quân sự của Mỹ. Thật kỳ lạ, các trạm radar trên máy bay không thể phát hiện được các vật thể đã từng để lại dấu vết bí ẩn trên bầu trời.
Các chuyên gia quân sự Mỹ cũng không thể nào giải thích được vật thể nào đã bay qua bầu trời và để lại dấu ấn bí ẩn đó. NORAD báo cáo sự việc lên cấp chỉ huy cao nhất của Mỹ, kể cả Tổng thống G.Bush.
Tới kết quả khảo sát hiện tượng đĩa bay rơi ở Tugunsk
Gần đây, một nhóm gồm 12 nhà khoa học và các nhà địa chất học Nga đã tiến hành một cuộc thám hiểm khu vực Tugunsk (Nga), nơi cách đây gần 100 năm một thiên thạch đã nổ tung ở làng Vanavara, để lại dấu vết là một khu vực rộng lớn bị tàn phá giống hệt như sau một vụ ném bom nguyên tử công suất siêu mạnh.
Cuộc khảo sát đầu tiên về vụ nổ kỳ lạ này được tiến hành vào năm 1927 và sau đó đã có nhiều cuộc khảo sát khác nhưng từ đó đến nay chưa ai phát hiện ra nhân chứng vật chứng về hiện tượng kỳ bí đó.
Đã có tới 30 giả thuyết khoa học được đưa ra để giải thích “hiện tượng Tugunsk” nhưng chưa một giả thuyết nào đủ sức thuyết phục. Lần này, các nhà khoa học Nga đã tìm thấy một số mảnh vỡ của một con tàu vũ trụ được coi là của nền văn minh ngoài Trái đất va chạm vào thiên thạch và buộc nó nổ tung khi còn cách bề mặt Trái đất hàng chục kilômét.
Theo kết quả phân tích ban đầu, thành phần vật liệu kết cấu của con tàu vũ trụ ngoài hành tinh này là hợp kim gồm silic, sắt và một chất liệu khác mà khoa học chưa từng biết tới dựa vào bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học của Mendeleev.
Các nhà khoa học Nga đang nghiên cứu bí quyết công nghệ gia công loại vật liệu này. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nga đã được ông Labvin - Chủ tịch Quỹ Xã hội Quốc gia Siberi mang tên “Hiện tượng vũ trụ Tungusk” tiết lộ với giới báo chí.
Điều đáng lưu ý là gần đây các nhà khoa học Nga đã tổng hợp được một loại vật chất hoàn toàn mới, gọi là siêu nguyên tử, cấu tạo từ những nguyên tử có trong bảng tuần hoàn Mendeleev nhưng lại có tính các tính chất vật lý và hoá học rất kỳ lạ, khác hẳn các vật liệu mà loài người được biết đến. Thí dụ, số nguyên tử tạo nên các siêu nguyên tử không phải là ngẫu nhiên mà là các số 8, 20, 40, 58 hoặc 92.
Các nhà khoa học gọi những con số đó là số ma bởi tính chất rất bí ẩn của nó. Có thể dùng siêu nguyên tử để tạo ra những vật liệu hoàn toàn mới và các loại nhiên liệu có hiệu suất sử dụng cao đến mức kỷ lục từ xưa tới nay. Phải chăng, đó là vật liệu đã từng được nền văn minh ngoài Trái đất sử dụng để chế tạo nên đĩa bay?