Friday, 9. June 2006, 11:26:08
Cài password C MOS được xem là một trong những biện pháp khá hữu hiệu để bảo mật máy tính. Phá password CMOS là một điều hết sức khó khăn nhưng không phải là không thể làm được. Tuy nhiên để thực hiện thành công cũng đòi hỏi bạn phải có một “tay nghề” nhất định. Có một vài cách để phá password CMOS như: thay chip BIOS, ngắt mạch chip BIOS, sử dụng jumper, tháo pin trên mainboard, phá password CMOS bằng một số lệnh, nhập vào các password mặc định của nhà sản xuất… nhưng đối với giới tin học “bình dân học vụ” như chúng ta thì may ra có 2 phương pháp sau là tạm có thể áp dụng được. 1. Nhập vào các password chuẩn của BIOS do nhà sản xuất đã mặc định sẵn. FPRIVATE "TYPE=PICT;ALT="- Đối với loại Award BIOS thì ta có thể nhập vào các password mặc định sau để thử bẻ khóa password đã đặt trước đó: AWARD SW, AWARD_SW, Award SW, AWARD PW, _award, awkward, J64, j256, j262, j332, j322, 01322222, 589589, 589721, 595595, 598598, HLT, SER, SKY_FOX, aLLy, aLLY, Condo, CONCAT, TTPTHA, aPAf, HLT, KDD, ZBAAACA, ZAAADA, ZJAAADC, djonet.
- Đối với loại Ami BIOS thì dùng: AMI, A.M.I., AMI SW, AMI_SW, BIOS, PASSWORD, HEWITT RAND, Oder. - Một số password dùng chung cho Ami, Award và một số BIOS khác có thể thử như: LKWPETER, lkwpeter, BIOSTAR, biostar, BIOSSTAR, biosstar, ALFAROME, Syxz, Wodj. Nhưng thực ra phương pháp này cũng không hiệu quả lắm vì ngoài những nhãn hiệu Award, Ami… thì còn hàng chục nhãn hiệu BIOS khác mà hầu như ta không thể biết được các password mặc định là gì. 2. Phá password CMOS bằng phần mềm chuyên dùng hoặc câu lệnh ở môi trường OS: Nếu bạn được phép sử dụng một máy tính đang được cài password CMOS thì bạn có thể dùng một số lệnh DEBUG chạy trong môi trường DOS để phá password. Đây là những lệnh có thể làm mất hiệu lực bộ nhớ BIOS, giúp cho nó trở về trạng thái nguyên thuỷ, tức trước khi bị cài password. Nhưng thực chất việc này cũng hết sức khó khăn vì không phải lúc nào cũng có thể vào được môi trường DEBUG.
Một cách hiệu quả hơn là bạn vào địa chỉ
http://www.cgsecurity.org/cmospwd-4.8.zip để tải về công cụ mang tên “Cmos Password Recovery Tools 4.8” -> Giải nén file này -> Tìm đến thư mục Windows -> Kích hoạt file cmospwd_win.exe để file này tự động xóa đi bộ nhớ BIOS hiện tại. Nếu may mắn thì lần khởi động sau sẽ không password BIOS nữa. Để “chắc ăn”, bạn nên vào thư mục “DOS” và kích hoạt file cmospwd.exe để thử lại một lần nữa.
3. Tháo hẳn cục pin mainboard để xóa hoàn toàn bộ nhớ BIOS. Đây là thao tác tác động vào phần cứng để xóa hoàn toàn bộ nhớ BIOS được xem là hiệu quả nhất, nếu “gan” một chút thì ai cũng có thể làm được. Ban đầu bạn phải tháo thùng máy ra -> Quan sát thật kỹ trên bản mạch máy tính để tìm ra một viên pin có đường kính cỡ như một đồng xu 200 đồng được gắn trong một ô hình tròn vừa khít với viên pin. Tìm được viên pin này thực ra cũng không khó lắm -> Quan sát kỹ và tháo viên pin ra bằng cách bấm vào cái “jumper” như hình minh họa -> Lấy pin ra và chờ khoảng 30 phút cho “chắc ăn”, tức đảm bảo cho mọi dữ liệu lưu trong BIOS sẽ “bay hơi” hết -> sau đó gắn vào đúng như hình minh họa. Khi khởi động lại máy tính thì BIOS sẽ tự động trả về mọi thứ đúng như mặc định ban đầu và dĩ nhiên password cũng sẽ biến mất.
Đảm bảo rằng đa số trường hợp tháo pin ra đều thành công còn nếu khi gắn pin vào mà password vẫn còn nguyên thì bạn lại phải tháo ra và chờ đợi thời gian “bay hơi” lâu hơn nữa, có thể là cả ngày.
Tìm hiểu về phát sóng qua vệ tinh (Satellite Radio) Hầu hết các tín hiệu vô tuyến chỉ có thể truyền khoảng 30 đến 40 dặm từ trạm vô tuyến. Việc phải thay đổi trạm nhiều lần khi truyền trên khoảng cách dài qua nhiều khu vực sẽ làm cho tín hiệu bị “fade out” hoặc “fade in”. Ngày nay một trạm vô tuyến có thể phát tín hiệu đi hơn 22.000 dặm mà tín hiệu phía đầu thu vẫn rõ nhờ việc phát sóng qua vệ tinh.Trạm vệ tinh là một ý tưởng đã tồn tại gần 10 năm nay. Năm 1992, Uỷ ban thông tin liên bang Mỹ US.FCC (Federal Communication Commision) tìm ra một phổ trong dải tần S (2,3 GHz) cho việc khai thác trên toàn cầu của vệ tinh dựa trên dịch vụ vô tuyến âm thanh số DARS (Digital Audio Radio Service). Chỉ có bốn công ty được cung cấp bản quyền để khai thác trên băng tần này và FCC đã cấp bản quyền cho hai trong số các công ty đó vào năm 1997. CD Radio (ngày nay là Sirius Satellite Radio) và American Mobile Radio (bây giờ là XM Satellite Radio) đã trả hơn 80 triệu đôla cho mỗi dải trên băng tần S cho việc truyền dẫn vệ tinh số.Hiện nay có ba nhà khai thác đang trong giai đoạn phát triển khác nhau: Sirius Satellite Radio hiện đang hoạt động tại Mỹ từ ngày 1.6.2002 XM Satellite Radio khởi đầu với dịch vụ thương mại được giới hạn trong nước Mỹ vào ngày 25.12.2001 WorldSpace đang khai thác tại châu Phi và châu Á và sắp tới sẽ bắt đầu tại Nam Mỹ. Mỗi một công ty có kế hoạch khác nhau cho việc quảng bá nhưng hệ thống có những phần giống nhau. Các thành phần chính của hệ thống vô tuyến vệ tinh gồm:Satellite (Vệ tinh) Ground Repeater (Trạm lặp mặt đất) Radio Receiver (Trạm nhận)XM Radio sử dụng hai vệ tinh Boeing HS702 được đặt song song với vệ tinh địa tĩnh học, một cái chếch 85 độ kinh tây và cái kia chếch 115 độ. Trạm địa tĩnh mặt đất (GEO) cách trái đất khoảng 22.223 dặm (35.764km). Hầu hết các trạm vệ tinh được sử dụng làm vệ tinh thông tin. Vệ tinh XM đầu tiên có tên “Rock” được đưa vào hoạt động vào ngày 18.3.2001 trong khi vệ tinh tiếp theo “Roll” hoạt động ngày 8.5.2001. XM Radio có vệ tinh HS-702 thứ 3 trên mặt đất được sử dụng trong trường hợp một trong hai vệ tinh trên bị lỗi. Trạm mặt đất XM phát một tín hiệu tới hai vệ tinh GEO, vệ tinh này sẽ phát tín hiệu trở lại với trạm nhận trên mặt đất. Trạm nhận được lập chương trình để nhận và khôi phục tín hiệu dữ liệu số. Trạm này gồm 100 kênh Audio số, ngoài tín hiệu âm thanh được mã hoá, các tín hiệu này còn bao gồm cả thông tin về quảng bá. Ở trong khu vực thành phố các toà nhà có thể gây trở ngại cho các tín hiệu vệ tinh, hệ thống quảng bá của XM được hỗ trợ bởi các trạm phát mặt đất. Mỗi một trạm nhận gồm một Chipset của riêng nó. Chipset bao gồm hai mạch tích hợp được thiết kế bởi STMicroelectronic. Chỉ 9,99 đôla trong một tháng, thuê bao có thể nhận tín hiệu XM. Với giá đó người nghe có thể nhận tới 100 kênh ca nhạc, hội thoại, tin tức... Rất nhiều kênh trong kênh đó không mang tính thương mại. Không giống như XM, Sirius không sử dụng vệ tinh GEO. Thay thế vào đó là ba vệ tinh SS/L-1300 định dạng chòm sao vệ tinh hình elip. Sirius nói rằng theo đường dẫn elip của chòm sao vệ tinh này, mỗi vệ tinh dành khoảng 16 giờ một ngày qua toàn bộ lãnh thổ hợp chủng quốc Hoa Kỳ và có ít nhất một vệ tinh qua thành phố trong mọi thời điểm. Sirius hoàn thành chòm sao ba vệ tinh vào ngày 30.11.2000. Vệ tinh thứ tư trên mặt đất sẵn sàng hoạt động nếu bất kỳ cái nào trong ba vệ tinh trên gặp vấn đề. Hệ thống Sirius giống như XM. Chương trình được đặt sẵn để xác định vệ tinh nào trong trong 3 vệ tinh phát tín hiệu đến trái đất nơi mà trạm nhận bắt được một trong các kênh tín hiệu. Tín hiệu được khôi phục tại các trạm lặp mặt đất cho người nghe trong khu vực thành phố vì ở đây tín hiệu vệ tinh có thể bị ngắt. Trạm nhận của Sirius bao gồm hai phần: khối ăngten và khối nhận. Bên trong của khối nhận là một Chipset bao gồm tám Chip đơn. Chipset ngay lập tức chuyển tín hiệu từ 2.3 GHz thành tần số thấp. WorldSpace đứng đầu trong nghành công nghiệp vệ tinh. WorldSpace đã đưa hai trong ba vệ tinh là AfriStar và AsiaStar lên quỹ đạo địa tĩnh trước khi hai công ty kia đưa vệ tinh đầu tiên của họ lên. AfriStar và AsiaStar được bắt đầu khai thác vào năm 1998 và 2000. AmeriStar cung cấp dịch vụ cho khu vực Nam Mỹ và một phần của Mexico. Mỗi một vệ tinh phát ba tín hiệu mang hơn 40 kênh chương trình phủ lên 3 khu vực thông tin, mỗi khu vực rộng khoảng 14 triệu km vuôngMỗi một vệ tinh phân hơn 50 kênh cho các chương trình Multimedia và Audio qua dải tần số 1.467 tới 1.492 MHz trong phổ của băng tần L là vị trí được xác định cho Audio số. WorldSpace truyền tín hiệu của họ tới một trong ba vệ tinh qua một Hub trung tâm hoặc bộ Feeder riêng để kết nối tới một trạm. Sau đó tín hiệu sẽ được phát từ một, hai hay cả ba vệ tinh. Trạm nhận trên mặt đất sẽ nhận tín hiệu và cung cấp tín hiệu âm thanh qua một ăngten. Vệ ting WorldSpace nhận dữ liệu với tốc độ 128 Kbps. Trạm nhận sử dụng Chipset StarMan được sản xuất bởi STMicroelectronic để nhận tín hiệu từ vệ tinh.
Ngày nay hầu hết các máy tính đều được trang bị một hoặc nhiều cổng USB (Universal Serial Bus). Các cổng USB (USB connector) giúp người sử dụng gắn mọi thiết bị như chuột, máy in với máy tính nhanh và dễ dàng hơn. Do các hệ điều hành đều hỗ trợ USB nên việc cài đặt các thiết bị thật sự nhanh về dễ dàng.So với cách kết nối các thiết bị với máy tính dùng cổng song song (Parallel Port), dùng cổng nối tiếp (Serial Port) hay dùng các Card đặc biệt được thiết kế cài đặt sẵn bên trong máy tính thì USB nhanh hơn nhiều. Với các máy tính được sản xuất vài năm trước đây, các kết nối từ thiết bị ngoại vi tới máy tính luôn làm người sử dụng đau đầu và vấn đề này đã được USB cố gắng giải quyết:Máy in được nối với máy tính qua cổng song song trong khi hầu hết các máy tính chỉ được trang bị một cổng này. Sẽ rất khó khăn nếu sử dụng thêm ổ Zip, luôn đòi hỏi tốc độ kết nối cao với máy tính và cần thiết phải dùng cổng song song.Modem được nối với máy tính qua cổng nối tiếp giống như một vài dạng thiết bị khác như Digital Camera, Palm Pilots trong khi mỗi máy tính thường chỉ có hai cổng nối tiếp và chúng rất chậm. Các thiết bị đòi hỏi các kết nối nhanh hơn như các Card đặc biệt được cắm trực tiếp vào khe cắm (Slot) trên bo mạch. Thực tế số lượng các khe cắm (Slot) là có hạn và cần phải cài đặt các phần mềm cho thiết bị này. Mục đích của USB là giải quyết các vấn đề của người sử dụng khi các cổng kết nối trên không hiệu quả. USB cung cấp cho người sử dụng khả năng kết nối chuẩn, dễ dàng với 127 thiết bị trên cùng một máy tính. Mọi thiết bị ngoại vi hiện nay đều có thể kết nối trên cùng một phiên bản USB chẳng hạn như: máy in, máy quét ảnh, chuột, Joystick, Digital Camera, Webcam, Modem, loa, điện thoại, Network Connection, thiết bị lưu trữ thông tin (ổ Zip)...Việc nối một thiết bị với máy tính qua USB hết sức đơn giản, chỉ việc cắm các đầu nối của thiết bị với các cổng USB trên máy tính. Nếu thiết bị được kết nối với máy tính lần đầu, hệ điều hành sẽ tự động dò tìm và yêu cầu nạp đĩa Driver. Với thiết bị đã được cài đặt, máy tính tự động kích hoạt và kết nối với thiết bị. Các thiết bị kết nối qua USB có thể thiết lập hay ngắt kết nối bất kỳ lúc nào. Nhiều loại thiết bị USB được chế tạo liền với cáp nối với hai kiểu đầu nối “A Connection” và “B Connection”. Chuẩn USB sử dụng “A Connection” và “B Connection” trong hai trường hợp cụ thể sau:Đầu nối “B Connection” dùng trong “Downstream” và nối các thiết bị đơn lẻ với máy tính. Đầu nối “B Connection” dùng trong “Downstream” và nối các thiết bị đơn lẻ với máy tính.Thông thường các máy tính hiện nay chỉ có một hoặc hai khe cắm USB (USB Socket). Ngày nay với đa số các thiết bị đều sử dụng USB, máy tính rất dễ bị thiếu khe cắm. Ví dụ, trên máy tính có các thiết bị như: máy in, máy quét, Webcam, Network Connection sử dụng USB trong khi máy tính chỉ có một cổng USB (USB Connector).
Để giải quyết vấn đề này, chỉ cần lắp thêm một USB Hub. Chuẩn USB hỗ trợ tới 127 thiết bị và USB Hub là một trong số này. Các Hub này thường có bốn cổng nhưng cũng có thể có nhiều hơn tuỳ thuộc từng loại. Chỉ cần cắm USB Hub vào máy tính sau đó cắm các thiết bị hoặc Hub khác vào các cổng trên USB Hub. Hub có hai loại: loại có cung cấp nguồn và không cung cấp nguồn điện cho thiết bị cắm vào Hub. Chuẩn USB cho phép các thiết bị sử dụng nguồn điện từ cổng USB. Các thiết bị như máy in, máy quét sử dụng nguồn điện riêng cung cấp từ bộ nguồn (Power Supply) của chúng trong khi các thiết bị sử dụng rất ít điện năng như chuột, Digital Camera lại dùng điện năng (khoảng 500mA - 5V) từ Bus. Thông thường các máy tính hiện nay chỉ có một hoặc hai khe cắm USB (USB Socket). Ngày nay với đa số các thiết bị đều sử dụng USB, máy tính rất dễ bị thiếu khe cắm. Ví dụ, trên máy tính có các thiết bị như: máy in, máy quét, Webcam, Network Connection sử dụng USB trong khi máy tính chỉ có một cổng USB (USB Connector). Để giải quyết vấn đề này, chỉ cần lắp thêm một USB Hub. Chuẩn USB hỗ trợ tới 127 thiết bị và USB Hub là một trong số này. Các Hub này thường có bốn cổng nhưng cũng có thể có nhiều hơn tuỳ thuộc từng loại. Chỉ cần cắm USB Hub vào máy tính sau đó cắm các thiết bị hoặc Hub khác vào các cổng trên USB Hub. Hub có hai loại: loại có cung cấp nguồn và không cung cấp nguồn điện cho thiết bị cắm vào Hub. Chuẩn USB cho phép các thiết bị sử dụng nguồn điện từ cổng USB. Các thiết bị như máy in, máy quét sử dụng nguồn điện riêng cung cấp từ bộ nguồn (Power Supply) của chúng trong khi các thiết bị sử dụng rất ít điện năng như chuột, Digital Camera lại dùng điện năng (khoảng 500mA - 5V) từ Bus. Nếu máy tính kết nối với nhiều thiết bị sử dụng nguồn điện riêng (Máy in, máy quét...) thì USB Hub không cần thiết phải là loại cung cấp được nguồn điện. Nếu máy tính kết nối với nhiều thiết bị không có nguồn điện riêng (Chuột, Digital Camera) thì Hub nhất thiết phải có khả năng cung cấp nguồn cho các thiết bị này. Trên Hub có một bộ phận như biến thế để cung cấp dòng điện tới Bus và làm máy tính không bị quá tải. Các đặc điểm của USB bao gồm:Máy tính hoạt động như một Host. Có tới 127 thiết bị có thể kết nối vào máy tính bao gồm cả nối trực tiếp hay qua USB Hub. Các cáp USB (USB Cable) của từng thiết bị có thể dài tới 5m hay 30m với Hub. Chuẩn USB2.x cho phép truyền dữ liệu trên Bus tới tốc độ 480 Mbps. Một cáp USB có hai dây cung cấp điện và một đôi dây xoắn truyền dữ liệu. Trên dây cung cấp điện năng, điện áp có thể lên tới 500mA - 5V. Các thiết bị sử dụng ít điện năng được cung cấp điện năng trực tiếp từ Bus. Các Hub có thể cung cấp điện năng cho các thiết bị nối với nó từ nguồn điện riêng của chúng. Các thiết bị USB có khả năng hoán đổi nhanh, có thể cắm vào hay rút ra khỏi Bus bất kỳ lúc nào. Các thiết bị USB có thể đặt ở chế độ “ngủ” (Sleep Mode) khi máy tính chuyển sang chế độ Power-Saving. Các thiết bị nối với cổng USB dùng cáp USB để truyền tải dòng điện hay dữ liệu. Khi máy tính hoạt động, nó truy vấn tới tất cả các thiết bị nối vào Bus và gán cho mỗi thiết bị một địa chỉ. Quá trình này được gọi là liệt kê các thiết bị. Máy tính cũng sẽ tìm ra cách truyền dữ liệu của từng thiết bị:Interrupt: Các thiết bị như bàn phím gửi lượng dữ liệu rất nhỏ và ngắt đoạn sẽ được chọn kiểu Interrupt Mode. Bulk: Các thiết bị như máy in thường nhận những gói dữ liệu lớn, dùng kiểu Bulk Transfer Mode. Từng đoạn dữ liệu (64 Byte) được gửi tới máy in và được kiểm tra tính chính xác. Isochronous: Các thiết bị truyền dữ liệu theo dạng Stream như loa sẽ dùng Isochronous Mode. Dữ liệu tức thời được truyền giữa thiết bị và máy tính và không có cơ chế sửa lỗi. Máy tính cũng có thể gửi đi các lệnh hay truy vấn các thông số với các gói Control Packet. Khi một thiết bị được máy tính liệt kê, máy tính sẽ giành tới 90% băng thông (Bandwidth) phục vụ các yêu cầu của các thiết bị kiểu Interrupt và Isochronous. Sau khi dùng 90% của 480 Mbps băng thông, máy tính sẽ từ chối các truy nhập của bất kỳ thiết bị kiểu Interrupt hay Isochronous nào khác. Các Control Packet và thiết bị kiểu Bulk Transfer sẽ sử dụng khoảng 10% băng thông còn lại. USB phân chia băng thông thành các Frame và máy tính sẽ điều khiển các Frame này. Mỗi Frame chứa 1.500 Byte và Frame mới được sinh ra sau mỗi mili giây. Trong một Frame, các thiết bị kiểu Isochronous và Interrupt phân chia thành các khe nên chúng đảm bảo được băng thông cần thiết trong khi các thiết bị Bulk Transfer và Control Packet sử dụng phần băng thông còn lại. Chuẩn USB2.0 xuất hiện vào tháng Tư năm 2000 và được nâng cấp từ USB1.1. USB2.0 cung cấp thêm băng thông cho các ứng dụng Multimedia và lưu trữ có tốc độ truyền dữ liệu lớn gấp 40 lần so với USB1.1. Để việc chuyển từ chuẩn USB1.1 sang USB2.0 thuận tiện cho cả người sử dụng và nhà sản xuất, USB2.0 được thiết kế hoàn toàn tương thích và làm việc được với cáp cũng như cổng nối của thiết bị USB nguyên thuỷ. USB2.0 hỗ trợ ba chế độ truyền dữ liệu: 1,5Mbps, 12Mbps và 480Mbps. Ngoài ra USB2.0 hỗ trợ các thiết bị băng thông thấp như bàn phím và chuột cũng như các thiết bị băng thông lớn như Webcam, máy in, máy quét ảnh và hệ thống lưu trữ.
Tìm hiểu về BIOS Một trong số các thiết bị sử dụng dạng bộ nhớ kiểu Flash Memory là hệ thống vào/ra cơ sở trong máy tính, nó được biết dưới tên gọi BIOS (Basic Input Output System). Trong máy tính BIOS đảm bảo cho các thành phần khác như bộ xử lý, các thiết bị phần cứng, cổng và các chức năng CPU hoạt động nhịp nhàng.Mọi máy tính cá nhân đều có một bộ vi xử lý (Microprocessor) bên trong CPU (Central Processing Unit). Bộ vi xử lý là một thiết bị phần cứng, nó thực hiện các tập hợp lệnh mà ta thường gọi là phần mềm. Chúng ta đã quen thuộc với hai dạng phần mềm khác nhau:Hệ điều hành: Cung cấp các dịch vụ cho các ứng dụng chạy trên máy tính và cung cấp giao diện cơ sở cho máy tính. Windows và Linux là những ví dụ về hệ điều hành. Chương trình ứng dụng: là tập hợp các phần mềm được lập trình để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Trên máy tính, người sử dụng có thể chạy các chương trình ứng dụng như trình duyệt (Browser), xử lý văn bản, E-mail...sau khi đã cài đặt trên máy. Như vậy BIOS là dạng phần mềm thứ ba mà mọi máy tính đều cần để vận hành. Các phần mềm BIOS có một số vai trò khác nhau nhưng vai trò quan trọng nhất của nó là nạp hệ điều hành. Khi máy tính được bật lên, bộ vi xử lý sẽ thực thi những lệnh đầu tiên và các lệnh này phải được đọc ra từ đâu đó. Nó không thể đọc ra từ hệ điều hành vì hệ điều hành được lưu trên đĩa cứng và bộ xử lý không thể thực thi được nếu không được hướng dẫn. BIOS sẽ cung cấp những lệnh này. Các nhiệm vụ khác mà BIOS thực hiện gồm:Tự kiểm tra POST (Power-on Self Test) tất cả các thiết bị phần cứng khác nhau trên hệ thống để đảm bảo mọi thứ đều làm việc ổn định. Kích hoạt BIOS Chip trên các loại Card cài trên máy tính như SCSI hay Graphic Card. Các Card này thường được cài sẵn các BIOS Chip trên nó. Cung cấp các tập tin thực thi mà hệ điều hành dùng để giao tiếp với các thiết bị phần cứng. Chúng quản lý các thiết bị như bàn phím, màn hình, cổng khi máy tính khởi động. BIOS là chương trình phần mềm đặc biệt dùng để giao tiếp giữa các thành phần phần cứng cao cấp trong máy tính với hệ điều hành. BIOS thường được lưu trên Chip nhớ kiểu Flash Memory trên bảng mạch chính (Motherboard) nhưng đôi khi nó cũng có thể là một dạng khác của ROM. Khi máy tính được bật lên, BIOS sẽ thực thi các công việc theo thứ tự liên tục sau đây:Kiểm tra các thông số cài đặt của người sử dụng lưu trong CMOS. Nạp bộ điều khiển ngắt và các Driver của thiết bị. Khởi tạo các Register và bộ quản lý nguồn Power Management. Kiểm tra các thiết bị phần cứng với POST.Nạp các cấu hình hệ thống. Quyết định xem thiết bị nào có thể khởi động. Khởi tạo quá trình tự khởi động.
Đầu tiên BIOS kiểm tra các thông tin được lưu trên phần bộ nhớ rất nhỏ (64 bytes) trên CMOS Chip (Complementary Metal Oxide Semiconductor). Các cài đặt trong CMOS sẽ cung cấp những thông tin chi tiết cho hệ thống. BIOS sử dụng những thông tin này để thay đổi hay bổ xung các chương trình chuẩn mà nó phải thực hiện. Bộ điều khiển ngắt (Interrupt Handlers) là tập hợp các chương trình nhỏ hoạt động như bộ phận thông dịch truyền tin giữa các thành phần phần cứng và hệ điều hành. Chẳng hạn như khi người sử dụng nhấn một phím trên bàn phím, tín hiệu sẽ được gửi đến bộ điều khiển ngắt bàn phím để rồi nó dược thông báo tới CPU và chuyển tới hệ điều hành. Các Driver của thiết bị cũng là các phần mềm để nhận dạng các thành phần phần cứng như bàn phím, chuột, ổ đĩa. Từ đó BIOS liên tục chặn các tín hiệu đến và đi từ các thiết bị phần cứng, nó được sao chép (Copy) vào RAM để tăng tốc độ xử lý. Bất kỳ lúc nào khi người sử dụng bật máy tính lên, điều đầu tiên họ sẽ nhận thấy sự hoạt động của chương trình BIOS. Trên màn hình máy tính, BIOS sẽ đưa ra các thông báo dưới dạng text về độ lớn của bộ nhớ, kiểu của ổ đĩa cứng... Nhìn chung BIOS đã thực thi một khối lượng đáng kể công việc trong quá trình khởi động. Sau khi kiểm tra CMOS Setup và nạp các bộ điều khiển ngắt, BIOS quyết định Video Card có được kích hoạt hay không. Hầu hết các loại Video Card đều có một BIOS nhỏ trên nó để gán các giá trị cho bộ nhớ và bộ xử lý ảnh trên Card. Nếu không được kích hoạt thì BIOS chỉ nạp các thông tin về Driver của màn hình lưu trên các bộ nhớ ROM khác trên Motherboard. Tiếp theo BIOS kiểm tra xem máy tính khởi động ở hình thức Cold-boot hay Reboot. Để làm được điều này, nó chỉ cần kiểm tra ở vùng bộ nhớ có địa chỉ 0000:0472. Nếu máy tính được Reboot thì vùng nhớ này sẽ có giá trị 1234h, khi đó BIOS sẽ bỏ qua giai đoạn POST. Các giá trị khác của vùng nhớ trên chỉ ra rằng máy tính khởi động với Cold-boot. Khi máy tính thực hiện Cold-boot, BIOS kiểm tra RAM bằng cách thử đọc/ghi trên từng vùng nhớ. Nó kiểm tra các cổng PS/2 hoặc USB để tìm xem có các thiết bị bàn phím hay chuột không. Sau đó nó tiếp tục kiểm tra xem có PCI Bus nào không, nếu có nó sẽ kiểm tra tất cả các PCI Card. Nếu phát hiện ra bất kỳ lỗi nào trong quá trình POST, BIOS sẽ thông báo bằng các tiếng “Bip” liên tục hoặc thể hiện trên màn hình. Lỗi xảy ra trong giai đoạn này có nguyên nhân chắc chắn là do các thiết bị phần cứng. BIOS tiếp tục thông báo các thông tin chi tiết về hệ thống như: bộ vi xử lý, các ổ đĩa, bộ nhớ, màn hình. Mọi thiết bị đặc biệt như SCSI Adaptor (Small Computer System Interface) trong khi khởi động đều được BIOS thông báo trạng thái trên màn hình. Đôi khi máy tính cũng cần phải nâng cấp (Update) lại BIOS của nó nhất là đối với các máy tính cũ. Với các thiết bị mới và các chuẩn mới, BIOS cần thay đổi theo để phù hợp. Do BIOS được lưu trong ROM nên việc thay đổi nó khó hơn việc nâng cấp các phần mềm thông thường. Để làm được việc này cần có một chương trình đặc biệt từ các nhà sản xuất máy tính hoặc nhà sản xuất BIOS. Giống như việc thay đổi các thông số trong CMOS, phải hết sức cẩn thận khi nâng cấp BIOS. Phải chắc chắn rằng bản nâng cấp BIOS tương thích với máy tính nếu không BIOS sẽ không thể hoạt động và khi đó sẽ không thể khởi động được máy tính.
Được đánh giá là một trong những biểu tượng của hải quân Mỹ, tầu sân bay được ví như một hòn đảo di động và có khả năng tham chiến với mức độ cơ động cao. Chiều dài mỗi tàu sân bay vào khoảng 333m và có thể đáp ứng được yêu cầu hạ cánh và cất cánh của các máy bay chỉ trong vòng 25 giây. Chúng ta sẽ tìm hiểu về Nimizt, một trong số các lớp tầu sân bay hiện đại nhất hiện nay của hải quân Mỹ.Về cơ bản, một tầu sân bay có chức năng chính là làm nơi đậu các máy bay và có một hệ thống đường băng cho phép máy bay hạ cánh và cất cánh thuận lợi. Trong cuộc chiến 10 năm diễn ra từ năm 1903, Mỹ cùng với Anh và Đức đã thử nghiệm các tầu chiến hiện đại nhất của mình lúc bấy giờ và hiểu ra rằng cần phải phát triển một dạng tầu cỡ lớn có khả năng hoạt động rộng và chuyên trở được máy bay chiến đấu đến bất cứ nơi nào trên thế giới. Trong thế chiến thứ nhất, tàu sân bay không có vai trò quan trọng lắm nhưng trong thế chiến thứ hai nó trở thành trung tâm chỉ huy về không quân. Trong trận Trân Châu cảng năm 1941, Nhật bản đã sử dụng các máy bay tấn công từ các tàu sân bay. Ngày nay các siêu tàu sân bay là thành phần chủ yếu trong các chiến dịch quân sự do quân đội Mỹ thực hiện. Mặc dù không được trang bị các loại vũ khí đặc biệt nhưng sức mạnh của tàu sân bay với ưu thế về không lực có thể tạo ra sự khác biệt giữa chiến thắng và thất bại. Một trong số những trở ngại chính của việc sử dụng không lực trong chiến tranh là tạo được các điểm đỗ cho máy bay. Để xây dựng và duy trì một căn cứ không quân ở nước ngoài, nước Mỹ hay bất cứ quốc gia nào phải đạt được những thoả thuận với quốc gia đó. Điều này thường cực kỳ khó khăn do nhiều điều kiện, đặc biệt ở một số khu vực trên thế giới. Theo luật lãnh hải của Liên hiệp quốc, tầu sân bay và các tầu chiến được thừa nhận như những sức mạnh tối thượng trên vùng biển có quyền tới mọi vùng lãnh hải quốc tế. Chúng không được tới quá gần các vùng lãnh hải của bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên khi quân đội Mỹ có những thoả thuận đặc biệt về việc xây dựng căn cứ quân sự trên bộ với quốc gia nào đó, tầu sân bay cùng với các tầu chiến khác trong hạm đội làm nhiệm vụ bảo vệ (thường có từ 6 đến 8 chiếc) có thể đến lãnh hải nước đó. Các máy bay ném bom, máy bay chiến đấu và máy bay khác sau khi thực hiện nhiệm vụ sẽ quay trở về tầu sân bay. Trong mọi trường hợp, hải quân đều có khả năng cung cấp nhiên liệu, đạn dược, bảo dưỡng sửa chữa các hỏng hóc cho các loại máy bay. Tầu sân bay có thể di chuyển với tốc độ tối đa 35 knot (40 dặm/h, 64 km/h) và có khả năng đi tới bất cứ đâu trên biển trong vài tuần. Hiện tại hải quân mỹ có sáu hạm đội thường trực sẫn sàng di chuyển mọi lúc mọi nơi cần thiết. Với hàng tỉ bộ phận, siêu tầu sân bay lớp Nimizt là một trong những cỗ máy phức tạp nhất trên thế giới. Nhưng nếu xét ở mức độ khái niệm nó lại hết sức đơn giản. Nó được thiết kế để thực hiện bốn công việc cơ bản sau:Vận chuyển các loại máy bay trên biển. Cho phép máy bay cất cánh và hạ cánh. Hoạt động như một trung tâm chỉ huy từ xa cho các hoạt động quân sự. Là nơi ở và sinh hoạt cho thuỷ thủ đoàn. Để hoàn thành những nhiệm vụ này, tầu sân bay cần phải kết hợp nhiều yếu tố của một tầu thuỷ, một căn cứ quân sự, một thành phố thu nhỏ. Trong đó nó cần phải có:Flight-deck (đường băng): bề mặt phẳng và rộng phía trên cùng của tầu làm nơi máy bay cất cánh và hạ cánh. Hangar-deck (khoang chứa máy bay): boong phía dưới Flight-deck để xếp và chứa các máy bay khi chưa sử dụng.Island (tháp chỉ huy điều hành): tháp được xây dựng phía trên cùng của Flight-deck để chỉ huy việc hoạt động của tầu và máy bay lúc cất hạ cánh. Phòng làm việc và sinh hoạt của thuỷ thủ đoàn. Nhà máy điện và hệ thống đẩy để tầu di chuyển và cung cấp điện cho toàn bộ tầu. Các hệ thống khác để cung cấp thức ăn, nước và giải quyết mọi thứ hệt như một thành phố thực thụ như: nước thải, rác, thư từ, radio, TV, báo chí... Thân tầu, phần chính của tầu nổi trên mặt nước. Thân tầu được làm bằng những lá thép siêu cứng có độ dày tới vài inch. Vỏ tầu có khả năng bảo vệ hiệu quả trước các cuộc tấn công và phá hoại. Cấu trúc của tầu chia làm ba tầng rõ rệt theo chiều ngang bên trong vỏ tầu là: sống tầu (trục kim loại ở đáy tầu), Flight-deck và Hangar. Phần vỏ tầu nằm dưới mặt nước thu nhỏ hơn so với phần nổi trên mặt nước. Phần thấp hơn này lại chia thành hai phần với hai lớp lá thép phân cánh nhau bởi một khoảng trống. Cấu trúc này giúp tăng khả năng bảo vệ trước các tấn công bằng ngư lôi hay tai nạn trên biển. Nếu bị tấn công vào phần đáy tầu, lớp bên ngoài bị thủng nhưng lớp thứ hai sẽ bảo vệ không cho nước chảy vào trongTừ năm 1950, hầu hết các tầu sân bay của hải quân Mỹ đều được chế tạo và đóng tại hãng Northrop Grumman, Virginia. Để làm cho các công đoạn đóng tầu trở nên hiệu quả, mỗi tầu sân bay được lắp ráp từ những modul riêng gọi là các Superlift. Mỗi modul này có thể chứa nhiều ngăn, mở rộng nhiều khoang và nặng từ 8-900 tấn. Một tầu sân bay thường được chế tạo với khoảng 200 modul như vậy.
Trước khi lắp ráp các modul, các modul được cẩu lên và định vị theo phương thẳng đứng. Sau đó hệ thống cẩu sẽ nâng modul này và đặt vào vị trí theo thiết kế, sau đó các modul sẽ được hàn với nhau. Tháp chỉ huy điều hành là modul cuối cùng được lắp ráp, nó nặng tới 575 tấn và được đặt trên mặt Flight-deck. Giống như các loại tầu thuỷ khác, tầu sân bay chuyển động bằng lực đẩy với các động cơ đẩy quay tròn. Bốn cánh quạt của động cơ làm bằng đồng được nối với tua-bin hoạt động bằng năng lượng hạt nhân.Mỗi tầu sân bay mang hai lò phản ứng hạt nhân đặt tại khu vực giữa tầu và được bảo vệ nghiêm ngặt. Năng lượng được giải phóng sẽ tạo ra áp suất cao làm quay các cánh quạt trong tua-bin. Nó tạo ra lực đẩy làm cho tầu chuyển động. Thông thường công suất của động cơ trên tầu sân bay đạt tới 280.000 sức ngựa. Bốn tua-bin trên tầu cũng đồng thời sản sinh ra điện năng cung cấp cho hệ thống điện trên tầu. Ngoài ra một nhà máy lọc nước có khả năng khử độ mặn của nước biển có thể cung cấp khoảng 1,5 triệu lít nước ngọt mỗi ngày, một con số đủ đáp ứng cho khoảng 2.000 hộ gia đình sử dụng. Không như các kiểu tầu thuỷ chạy bằng hơi nước, tàu sân bay sử dụng năng lượng hạt nhân không nên cần phải nạp nhiên liệu thường xuyên. Trên thực tế nó có thể sử dụng liên tục 15-20 năm mà không cần nạp nhiên liệu. Bù lại nó phải có nguồn cung cấp năng lượng đắt tiền hơn, quá trình nạp nhiên liệu phức tạp hơn và phải chịu các nguy cơ dò rỉ hạt nhân. Để giảm thiểu các thảm hoạ, các lò phản ứng hạt nhân trên tầu sân bay phải được thiết kế với phần bảo vệ hết sức đặc biệt và phải được theo dõi chặt chẽ sát xao. Khu vực Flight-deck trên tầu sân bay là một môi trường làm việc nguy hiểm và cũng nhộn nhịp nhất. Flight-deck có vẻ giống như một đường băng thông thường trên mặt đất nhưng thực tế nó rất khác do bị bó buộc trong một không gian nhỏ hơn. Khi tầu sân bay đã sẵn sàng, các máy bay cất và hạ cánh rất nhanh trong một không gian bị giới hạn. Lúc này chỉ một thoáng bất cẩn, động cơ phản lực của máy bay có thể hút hay đẩy bất kỳ ai văng xuống biển. Người chịu nguy hiểm nhất trên Flight-deck tầu sân bay là những người trong đội trợ giúp cho máy bay cất hạ cánh. Do đường băng không đủ dài để các máy bay quân sự cất và hạ cánh một cách bình thường nên họ phải túc trực với các máy móc trợ giúp. Để cất cánh, máy bay phải tạo ra được một luồng không khí chuyển động trên cánh để tạo ra lực nâng. Để máy bay cất cánh dễ dàng, tầu sân bay có thể hỗ trợ tạo ra lực đẩy không khí trên mặt đường băng theo hướng máy bay cất cánh. Luồng không khí chuyển động trên cánh máy bay này sẽ làm giảm tốc độ cất cánh tối thiểu của máy bay. Việc tạo ra luồng không khí trên mặt Flight-deck rất quan trọng, thiết bị trợ giúp chính cho việc cất cánh là bốn máy phóng (Catapult) giống như kiểu súng bắn thun hình chữ Y trên tầu sân bay. Chúng sẽ giúp máy bay tăng tốc độ cực nhanh chỉ với một khoảng cách ngắn. Mỗi Catapult gồm có hai Piston gắn với hai xi-lanh song song nằm dưới Flight-deck, mỗi chiếc có chiều dài bằng cả một sân vận động. Mỗi Piston có một quai bằng kim loại ở phía trên đỉnh của nó và thò ra ngoài qua một khe hẹp dọc theo đỉnh của mỗi xi-lanh. Hai quai này kéo dài tới một vành bằng cao su phía trên Flight-deck. Để chuẩn bị cất cánh, thuỷ thủ đoàn sẽ đưa máy bay vị trí sát Catapult và làm các thao tác để nối ghép các thiết bị Catapult với các vị trí tương ứng trên thân máy bay. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, bộ phận làm lệch phản lực trên máy bay (Jet Blast Deflector - JBD) sẽ được nâng lên. Sau mọi kiểm tra cần thiết cuối cùng, người điều khiển Catapult kiểm tra các thông số và mở van để xi-lanh của nó được nén với áp suất cực cao từ lò phản ứng hạt nhân trên tầu. Áp suất này đảm bảo lực cần thiết để đẩy Piston với tốc độ rất cao làm máy bay bắn mạnh về phía trước và tạo ra lực nâng cần thiết để cất cánh. Người điều khiển Catapult phải luôn theo dõi mọi chỉ số về áp suất cần thiết để cất cánh và nó thay đổi tuỳ thuộc vào từng loại máy bay và các điều kiện khác trên Flight-deck. Nếu áp suất quá thấp, máy bay sẽ không có đủ tốc độ cần thiết để cất cánh và có thể bị rơi xuống biển. Trường hợp ngược lại, áp suất quá lớn có thể làm gẫy càng máy bay. Hệ thống Catapult có thể đẩy một máy bay có trọng lượng 45.000 pound (20 tấn) lên tới tốc độ 165 dặm một giờ (266 km/h) chỉ trong vòng hai giây. Nếu mọi chuyện đều ổn, tốc độ của máy bay sẽ đủ để tạo ra lực nâng và máy bay cất cánh. Nếu không phi công sẽ phải kích hoạt hệ thống đẩy ghế lái (Ejector Seat) bật ra khỏi máy bay và nhảy dù trước khi máy bay rơi xuống biển. Cất cánh trên tầu sân bay là việc cực khó khănCác tầu sân bay được thiết kế có thể mang tới 70-80 máy bay các loại. Có thể kể ra một số loại máy bay quân sự thường có trên các tầu sân bay như: F/A-18 Hornet, F-14 Tomcat, E-2C Hawkeye, S-3B Viking, EA-6B Prowler, SH-60 Seahawk. Khả năng tác chiến hạm đội với tầu sân bay là trung tâm chỉ huy được đánh giá rất cao với sức mạnh trên không và trên biển.Hạ cánh xuống tầu sân bay là một trong những việc khó nhất mà các phi công phải thực hiện với đường băng trên tàu sân bay chỉ dài khoảng 150m, quá ngắn cho việc hạ cánh thông thường. Để hạ cánh trên Flight-deck, mỗi máy bay cần có một chiếc móc (Tailhook) ở phía đuôi máy bay. Phi công phải làm sao cho móc này vướng vào một trong bốn đoạn cáp hãm (Arresting Wire) cực chắc chế tạo từ loại dây thép siêu bền.
Các Arresting Wire được căng ngang Flight-deck và được gắn vào hai đầu của một xi-lanh sử dụng áp lực nước nằm phía dưới Flight-deck. Nếu Taihook ở phía đuôi máy bay vướng vào một trong số các Arresting Wire, nó sẽ làm căng sợi cáp ra và hệ thống xi-lanh sẽ sinh ra năng lượng để làm máy bay dừng lại. Hệ thống Arresting Wire có khả năng hãm một máy bay nặng 54.000 pound (24,5 tấn) có tốc độ 150 dặm một giờ (241 km/h) chỉ trong hai giây với đoạn đường băng 96m.Có tất cả bốn Arresting Wire được thiết kế song song với nhau cách nhau khoảng 15m để mở rộng khu vực hạ cánh cho phi công. Phi công thường nhắm vào Arresting Wire thứ ba để hạ cánh bởi nó an toàn về hiệu quả nhất. Phi công không bao giờ nhắm vào Arresting Wire đầu tiên vì rất nguy hiểm do nó sát với mạn boong tầu và rất dễ bị đâm vào phía đuôi tầu. Phi công có thể nhắm tới Arresting Wire thứ hai và thứ tư nhưng hạ cánh với Arresting Wire thứ ba là phù hợp nhất. Khi chuẩn bị hạ cánh, phi công cần tiếp cận mặt boong chính xác từ góc phải. Các thao tác hạ cánh bắt đầu khi máy bay lượn theo hình ô van quanh tầu. Trung tâm điều khiển (Air Traffic Control Center) nằm phía dưới boong quyết định cho phép hạ cánh ưu tiên ngay hay không dựa vào chỉ số về mức nhiên liệu của máy bay. Khi hạ cánh, phi công bật hệ thống phanh và hướng mũi máy bay về phía đuôi tầu. Người hướng dẫn hạ cánh (Landing Signal Officer - LSO) sẽ hướng dẫn máy bay qua radio và các đèn báo trên boong. Nếu máy bay hạ cánh thành công, LSO sẽ chiếu đèn xanh để thông báo cho phi công biết mọi thứ đều ổn. Phi công phải nhìn vào hệ thống quang học trợ giúp hạ cánh (Fresnel Lens Optical Landing System) để có được các hướng dẫn, trợ giúp lúc hạ cánh từ LSO. Phi công sẽ nhìn thấy ánh sáng khác nhau từ hệ thống này tuỳ thuộc vào góc độ của máy bay khi tiếp cận với tầu. Nếu máy bay ở phía bên phải, phi công sẽ nhìn thấy ánh sáng mầu hổ phách với một hàng đèn xanh. Nếu ánh sáng hổ phách xuất hiện phía trên dãy đèn xanh tức là máy bay đang bay quá cao. Nếu ánh sáng hổ phách ở phía dưới tức là máy bay đang bay quá thấp, lúc này phi công sẽ thấy đèn đỏ báo. Ngay khi máy bay tiếp cận mặt boong, phi công sẽ đẩy động cơ tới mức tối đa, thay vì đưa về mức thấp để hãm máy bay lại. Điều này có vẻ vô lý, nhưng nếu Tailhook ở phía đuôi máy bay không vướng vào bất cứ Arresting Wire nào thì máy bay vẫn đủ tốc độ để cất cánh lại, tiếp tục bay và tìm cách hạ cánh sau. Sau khi hạ cánh, máy bay được tháo khỏi Arresting Wire và được xích vào phía rìa của đường băng. Các máy bay khi đỗ trên Flight-deck đều được cố định chặt để bảo vệ khỏi các xô lệch khi tầu gặp sóng lớn. Những người phục vụ trên đường băng phải chuẩn bị đối phó với mọi tình huống, đặc biệt khi máy bay bị cháy. Họ được trang bị rất nhiều thiết bị như xe cứu hoả, vòi cứu hoả, bọt cứu hoả. Họ cũng thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ từ phản lực động cơ máy bay. Hệ thống lưới bao xung quanh Flight-deck giúp giảm bớt nguy cơ này. Tuy nhiên họ cũng được trang bị áo phao tự bơm với đèn cứu hộ được kích hoạt ngay khi tiếp xúc với nước. Ngoài ra những người phục vụ trên Flight-deck còn được trang bị mũ bảo hộ có tính năng giảm tối đa tác động của âm thanh. Tháp chỉ huy điều hành - Island của tầu sân bay là trung tâm chỉ huy các hoạt động trên Flight-deck và trên boong tầu. Tháp chỉ huy điều hành cao 46m, rộng khoảng 6m và không chiếm quá nhiều diện tích trên mặt Flight-deck. Nó là nơi cao nhất trên Flight-deck được chia thành nhiều phòng với các mục đích khác nhau. Đỉnh tháp chỉ huy điều hành được trang bị một hệ thống rada và ăng-ten để thu các tín hiệu Rada, tìm các mục tiêu máy bay hay tên lửa của đối phương, thu phát sóng điện thoại, TV qua vệ tinh... Phía dưới là Trung tâm điều khiển bay (Primary Flight Control - Pri-Fly). Tại đây các sĩ quan phụ trách bay (Air Boss) và trợ lý (Mini Boss) trực tiếp điều hành mọi hoạt động của máy bay trên Flight-deck và trong bán kính 5 dặm (8km). Sĩ quan phụ trách bay và trợ lý là những người có rất nhiều kinh nghiệm về hàng không, họ phải điều khiển và theo dõi nhiều mảng thiết bị và máy tính cho mọi hoạt động liên quanPhía dưới nữa là Trung tâm chỉ huy của tầu (Bridge). Thuyền trưởng sẽ điều hành mọi việc tại đây với rất nhiều màn hình xung quanh để quan sát mọi hoạt động của các bộ phận. Thuyền trưởng trực tiếp chỉ huy bộ phận lái điều khiển hướng đi của tầu (Helmsman), bộ phận điều khiển tốc độ của tầu (Lee Helmsman), bộ phận hoa tiêu (Quartermaster of the Watch). Trường hợp thuyền trưởng không có mặt tại Bridge, một sĩ quan khác sẽ làm nhiệm vụ này. Rất nhiều vị thuyền trưởng trên các tầu sân bay nguyên là phi công hải quân bởi vậy họ rất am hiểu về các hoạt động trên Flight-deck. Giống như Pri-Fly, Bridge cũng gồm rất nhiều thiết bị máy tính, màn hình Rada. Phía dưới Bridge là Trung tâm chỉ huy Hạm đội (Flag Bridge) dành riêng cho đô đốc chỉ huy hạm đội. Phía dưới nữa là Trung tâm điều hành đường băng (Flight-deck Control), Trung tâm điều hành không lưu (Carrier Air Traffic Control Center - CATCC), Trung tâm chỉ huy tác chiến (Combat Direction Center). Flight-deck chỉ có khả năng đáp ứng chỗ đỗ cho một số lượng nhỏ máy bay trong khi mỗi tầu sân bay thông thường có 80-100 máy bay. Khi không được sử dụng, hầu hết các máy bay được cất giữ an toàn trong khoang chứa máy bay (Hangar Bay) được coi như một gara của tầu sân bay. Hangar nằm ở lớp boong thứ hai phía dưới Flight-deck. Hangar có kích thước rộng khoảng 34m, dài khoảng 209m và cao khoảng 8m, bằng 2/3 kích thước lòng tầu. Hangar được chia làm bốn khu có thể cất khoảng 60 máy bay, thùng xăng và các thiết bị khác. Xung quanh Hangar có bốn hệ thống thang máy khổng lồ có khả năng nâng mỗi lần hai máy bay nặng tới 74.000 pound (34 tấn) với tốc độ nhanh Ở phía cuối Hangar phía đuôi tầu là nơi bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế các hỏng hóc cho máy bay (Aircraft Intermediate Maintenance Division - AIMD). Các tầu sân bay hiện đại đủ rộng để có thể ví như một “thành phố trên biển”. Tầu có khả năng đáp ứng từ 5.000 đến 6.000 người làm việc, nghỉ ngơi, sinh hoạt trên tầu trong vòng bốn tháng. Tuy nhiên có những điểm khác biệt giữa “thành phố trên biển” này với những thành phố thực thụ trên đất liền.
Trên tầu sân bay, mọi điều kiện sinh hoạt bị bó buộc hơn nhiều. Để di chuyển đến một chỗ nào đó, người ta phải vừa đi vừa giữ thăng bằng trên những hành lang hẹp. Gường ngủ rất chật, sắp xếp theo kiểu tầng. Công việc trên tầu cũng đa dạng giống như trên đất liền. Khoảng 2.500 người chuyên phục vụ cho các máy bay, khoảng 3.000 người khác phục vụ cho tầu bao gồm việc điều khiển tầu, chuẩn bị bữa ăn, dọn dẹp, vận hành lò phản ứng hạt nhân...
Trên tầu có mọi thứ phục vụ nhu cầu sống của con người tuy không thực sự tiện lợi cho lắm. Trên tầu có hệ thống bếp và nhà ăn công cộng có thể phục vụ 18 ngàn xuất ăn một ngày. Ngoài ra nó còn có các dịch vụ giặt là, y tế, cửa hàng, ngân hàng, viễn thông...
Tìm hiểu về điện thoại Internet (IP Phone) Nếu thường xuyên phải gọi điện thoại đường dài, đây là cơ hội để bạn sử dụng điện thoại IP. Điện thoại IP sử dụng công nghệ Voice-over IP (VoIP) là cách truyền dẫn các cuộc gọi điện thoại qua mạng dữ liệu như một trong nhiều mạng khác cấu trúc nên mạng Internet. Chúng ta sẽ tìm hiểu về VoIP. Chúng ta sẽ nói về giao thức chính của VoIP, về các dịch vụ khác nhau được cung cấp với chi phí thấp.Chuyển mạch là khái niệm rất cơ bản được sử dụng bởi mạng viễn thông trong hơn 100 năm. Điều gì xảy ra khi một cuộc gọi giữa hai phía được thiết lập, kết nối được duy trì suốt cuộc gọi. Do bạn kết nối hai điểm trên theo cả hai hướng, kết nối này được gọi là một mạch (Circuit). Nó tạo thành mạng điện thoại PSTN (Public Switched Telephone Network).Bạn nhấc máy điện thoại và nghe thấy ngay âm mời quay số. Điều này cho bạn thấy rằng bạn đã có kết nối tới tổng đài nội hạt. Bạn quay số mà bạn muốn nói chuyện. Cuộc gọi được định hướng qua một chuyển mạch tại tổng đài nội hạt tới nơi bạn đang gọi. Một kết nối thực hiện giữa điện thoại của bạn và đường line khác, lúc này mạch đang ở. Bạn nói chuyện trong một khoảng thời gian sau đó gác máy. Khi bạn gác máy, mạch sẽ ngắt và đường line của bạn giải phóng. Trong khoảng thời gian bạn nói truyện, mạch sẽ liên tục mở giữa hai máy. Cuộc gọi qua tổng đài PSTN truyền thống truyền với tốc độ cố định là 64 Kbps hoặc 1024 bit/giây theo mỗi hướng và tốc độ phát tổng cộng là 128 Kbps do 1 Kbyte có 8 Kbit. Vì vậy trong 10 phút nói truyện, lượng thông tin được truyền lên đến 9600 KB gần bằng 9.4MB. Nếu bạn nhìn vào cuộc đàm thoại thông thường thì rất nhiều dữ liệu được truyền rất lãng phí. Trong khi bạn đang nói thì phía kia nghe, như vậy chỉ một nửa đường truyền được sử dụng trong thời gian đó. Dựa trên điều đó chúng ta giả định chia file thành hai nửa, mỗi nửa xuống khoảng 4.7MB. Như vậy có một lượng thời gian trong hầu hết các cuộc đàm thoại là thời gian chết, chiếm một nửa tổng thời gian. Nếu bạn có thể loại bỏ được những khoảng thời gian như vậy thì file của bạn sẽ nhỏ hơn. Mạng dữ liệu không sử dụng chuyển mạch. Kết nối Internet sẽ chậm hơn rất nhiều nếu nó bao gồm một kết nối cố định tới một trang Web. Thay thế cho việc nhận và gửi dữ liệu, bạn cần hai máy tính đóng vai trò một kết nối qua lại trong toàn bộ thời gian không cần biết dữ liệu có hữu ích hoặc không. Đây không phải là cách để thiết lập mạng dữ liệu hiệu quả. Thay thế vào đó mạng dữ liệu sử dụng phương pháp được gọi là chuyển mạch gói (Packet Switching). Chuyển mạch thông thường giữ cho kết nối mở và không đổi thì chuyển mạch gói mở kết nối trong khoảng thời gian đủ lớn để có thể gửi những khối dữ liệu nhỏ được gọi là gói (Packet) từ một hệ thống này tới một hệ thống khác. Máy tính gửi khối dữ liệu trong các gói nhỏ tới một địa chỉ ghi trên mỗi gói. Khi máy tính nhận được các gói nó sẽ tập hợp lại thành dữ liệu gốc. Chuyển mạch gói rất hiệu quả nó giảm nhỏ thời gian kết nối giữa hai hệ thống, giảm tải trên mạng. Công nghệ VoIP sử dụng phương pháp chuyển mạch gói. Ví dụ khi sử dụng một cuộc gọi 10 phút trên PSTN thì nó cũng sử dụng đầy đủ 10 phút để truyền dẫn 128 Kbps. Với VoIP cuộc gọi đó chỉ mất 3,5 phút để truyền 64 Kbps và mất 6,5 phút để truyền 128 Kbps. Đây là trong trường hợp chưa sử dụng phương pháp nén dữ liệu (Data Compression), kích thước dữ liệu sẽ giảm nhiều khi sử dụng phương pháp nén.
Muốn sử dụng VoIP, bạn cần phải có tổng đài PBX (Private Branch Exchange). Về bản chất PBX là một chuyển mạch được sử dụng để kết nối các điện thoại với nhau hay với một hoặc nhiều đường line khác. Trong trường hợp này PBX là một Gateway. Gateway được sử dụng để kết nối các thiết bị trên hai loại mạng khác nhau. PBX là một Gateway bởi nó Convert các tín hiệu chuyển mạch chuẩn từ mỗi điện thoại thành dữ liệu số để có thể chuyển qua các gói. IP là nền tảng cho giao thức Internet là ngôn ngữ được sử dụng trong hầu hết các mạng dữ liệu. Sau đây là các bước một cuộc gọi điện thoại thông thường sử dụng VoIP qua mạng chuyển mạch gói.Khi bạn nhấc tổ hợp, tín hiệu sẽ gửi tới PBX. PBX nhận tín hiệu và gửi âm mời quay số để bạn biết rằng bạn đã có kết nối tới PBX. Bạn sẽ quay số mà bạn muốn nói chuyện, các con số này sau đó sẽ lưu trữ tạm thời bởi PBX. Khi bạn nhập xong số, PBX sẽ kiểm tra để chắc chắn rằng số đó có hợp lệ hay không. PBX xác định lược đồ (Map) của số đó. Theo sơ đồ, số được gán tới địa chỉ IP của thiết bị khác được gọi IP Host. IP Host thông thường cũng là một tổng đài PBX số khác, kết nối trực tiếp tới hệ thống điện thoại của số bạn. Một phiên được thiết lập giữa PBX khu vực của bạn và IP Host khu vực khác. Bạn nói trong một khoảng thời gian. Trong suốt quá trình hội thoại, PBX khu vực bạn và IP Host truyền các gói dữ liệu qua lại. Mỗi một hệ thống phải sử dụng cùng giao thức để liên lạc. Mỗi hệ thống sẽ thực thi thành hai kênh, mỗi kênh cho một hướng. Khi bạn kết thúc cuộc nói chuyện và đặt máy xuống, ngắt kết nối giữa điện thoại của bạn và tổng đài PBX, đường line của bạn được giải phóng. Tổng đài PBX gửi tín hiệu tới IP Host kết thúc một phiên (Session) làm việc, IP Host cũng kết thúc tại phía nó. Ngay sau đó phiên làm việc chấm dứt , PBX sẽ xoá các số từ bộ nhớ. Để điện thoại giao tiếp được với các thiết bị khác như máy tính qua mạng dữ liệu, chúng cần phải có một ngôn ngữ chung được gọi là giao thức (Protocol). Có 2 giao thức được sử dụng rộng rãi cho VoIP. Cả hai giao đều xác định cách thức cho các thiết bị kết nối với các thiết bị khác sử dụng VoIP. Giao thức đầu tiên là giao thức H.323 được tạo chuẩn bởi ITU (International Telecommunications Union). Đây là giao thức toàn diện và phức tạp. Nó cung cấp các đặc tính Real-time, truyền hình hội nghị, chia sẻ dữ liệu và các ứng dụng Audio như điện thoại IP. H.232 kết hợp rất nhiều giao thức riêng để có thể phát triển được các ứng dụng đặc trưng.Một giao thức khác H.323 là SIP (Session Initiation Protocol) được phát triển từ IETF (Internet Engineering Task Force). SIP là một giao thức tối ưu hơn, được phát triển cho mục đích điện thoại IP. SIP được đánh giá là giao thức hiệu quả hơn H.323. Chẳng hạn MGCP (Media Gateway Control Protocol) sử dụng SIP để tạo các Gateway tới hệ thống PSTN. Có bốn cách để bạn nói có thể nói chuyện với một ai đó sử dụng VoIP. Nếu bạn có máy tính hoặc điện thoại, bạn có thể ít nhất sử dụng một trong các phương pháp đó mà không phải mua một thiết bị mới nào. Máy tính tới máy tính (Computer-to-computer): Đây là cách dễ nhất để sử dụng VoIP. Bạn thậm chí không phải trả tiền cho các cuộc gọi đường dài. Tất cả những thứ bạn cần là phần mềm, Microphone, Speaker, Sound Card và một kết nối Internet. Máy tính tới điện thoại (Computer-to-telephone): Đây là phương pháp cho phép bạn gọi tới bất kỳ ai (người có điện thoại) từ máy tính của bạn. Giống như cuộc gọi từ máy tính tới máy tính nó cũng yêu cầu một phần mềm. Phần mềm này miễn phí nhưng cuộc gọi có cước phí tương đối ít. Điện thoại tới máy tính (Telephone-to-computer): Có một vài công ty cung các số điện thoại đặc biệt hoặc Card cho phép người sử dụng máy điện thoại thông thường thực hiện cuộc gọi tới người sử dụng máy tính. Người sử dụng máy tính phải có phần mềm của nhà cung cấp được cài đặt và đang chạy trên máy. Chi phí cuộc gọi này thường rẻ hơn rất nhiều so với cuộc gọi đường dài truyền thống. Điện thoại tới điện thoại (Telephone-to-telephone): Qua việc sử dụng các Gateway, bạn có thể kết nối trực tiếp với bất cứ người nào khác trên thế giới sử dụng điện thoại thông thường. Bạn phải gọi vào trong Gateway của họ sau đó bấm số cần gọi họ kết nối qua mạng IP.
Tìm hiểu về hoạt động của điện thoại Hầu hết ai trong chúng ta cũng phải công nhận rằng Điện thoại thật là tuyệt vời. Nếu muốn nói chuyện với ai đó, bạn chỉ cần nhấc máy và ấn một vài số, ngay lập tức bạn sẽ được kết nối tới người đó. Mạng điện thoại không phụ thuộc vào khoảng cách vì vậy có thể gọi cho bất cứ ai trên hành tinh này. So sánh với thời kỳ cách đây 100 năm, phải mất vài tuần để gửi được tin nhắn tới ai đó.Thật ngạc nhiên khi điện thoại là một thiết bị đơn giản nhất trong nhà. Nó thật sự đơn giản vì trong gần một thế kỷ qua việc kết nối điện thoại trong nhà không hề thay đổi. Nếu ai đó có điện thoại từ năm 1920, họ vẫn có thể kết nối tới một máy điện thoại khác mà vẫn hoạt động tốt. Điện thoại làm việc rất đơn giản, nó bao gồm 3 phần:Switch (chuyển mạch): để kết nối hoặc xoá kết nối điện thoại từ mạng. Chuyển mạch này gọi là Hookswitch. Mạng được kết nối khi người dùng nhấc tổ hợp. Speaker: loa. Microphone (Ống nói): trong quá khứ ống nói làm rất đơn giản từ các hạt Carbon và được nén giữa hai tấm kim loại mỏng. Giọng nói được nén lại thành các sóng âm thanh thay đổi theo điện trở của các hạt than và điều chế thông qua Microphone. Tuy nhiên thiết bị này vẫn có một vấn đề, khi nói người ta sẽ nghe được giọng nói của mình qua tai nghe. Hầu hết mọi người đều cảm thấy khó chịu vì điều đó, vì vậy để tránh được hiện tượng trên máy điện thoại còn bao gồm một thiết bị như cuộn dây kép (Duplex coil) hoặc một thứ có chức năng tương đương để ngăn chặn giọng nói của mình vào tai nghe. Các máy điện thoại hiện đại bao gồm một bộ chuông, một bộ tạo xung từ bàn phím (Touch-tone Keypad) và bộ phát tần số (Frequency Generator). Máy điện thoại hiện đại rất đơn giản với Microphone điện tử, một bộ phận khuếch đại và mạch thay thế các hạt Carbon. Chuông cơ học được thay thế bởi một loa và mạch điện tử để sinh ra các âm báo chuôngMạng điện thoại được bắt đầu từ ngay trong nhà. Một đôi dây đồng chạy từ hộp phía ngoài đường tới một hộp (Entrance Brigde) ở trong nhà. Từ đó đôi dây được kết nối tới Jack điện thoại và thường sử dụng dây đỏ và xanh. Nếu có hai đường line điện thoại hai máy đó sẽ chia sẻ các đôi dây đồng từ ngoài tới. Đôi dây thứ hai thường đánh màu vàng và đen phía trong nhà. Dọc theo đường tới hộp cáp sẽ có hơn 100 đôi dây đồng. Phụ thuộc vào vị trí của thuê bao mà cáp sẽ chạy trực tiếp tới tổng đài của khu vực đó hoặc sẽ chạy tới bộ tập trung số (Digital Concentrator). Bộ tập trung số số hoá giọng nói với tốc độ 8.000 mẫu/ giây với độ phân giải 8 bit. Sau đó nó kết hợp với hàng tá thứ khác và gửi chúng qua dây đơn (thường cáp đồng trục hoặc sợi quang) tới tổng đài. Đường line được kết nối tới LineCard tại tổng đài. Vì vậy ta có thể nghe được âm mời quay số khi nhấc tổ hợp điện thoại. Nếu ta gọi cho ai đó trong cùng một khu vực, Switch sẽ tạo ra vòng lặp giữa điện thoại của người gọi và của người nhận. Nếu là cuộc gọi đường dài, giọng nói sẽ được số hoá và kết hợp với hàng trăm giọng khác trên mạng. Giọng nói được truyền trên cáp sợi quang và cũng có thể được truyền bởi vệ tinh hoặc Viba số.Nếu chúng ta trở lại với giai đoạn điện thoại sử dụng chuyển mạch cơ thì sẽ dễ dàng hiểu tại sao mạng điện thoại lại khổng lồ như thế. Với chuyển mạch cơ, t\