Skip navigation.

13 friday

Posts tagged with "Du_lieu"

Bi an thai duong he

Tìm giải những bí mật sâu kín của Thái dương hệ là mục tiêu theo đuổi không mệt mỏi bởi các nhà hành tinh học, các nhà vật lý học. Họ muốn đi ngược thời gian tìm lại dấu vết xưa của quá trình hình thành Thái dương hệ. Nhưng hiện nay những dấu vết xưa đó vẫn còn là những bí ẩn.


Sau đây là những thiên thể trong Thái dương hệ.
Mặt trời, chung quanh mặt trời là những hành tinh cùng với các vệ tinh của chúng:
1/ Mercure/Sao Thủy/
2/ Venus/Sao Kim/
3/ Quả đất với vệ tinh là mặt trăng
4/ Mars/Sao Hỏa/với các vệ tinh là. Phobos & Deimos
5/ Ceres, một tiểu hành tinh (asteroid) tìm thấy năm 1801
Các tiểu hành tinh quay quanh mặt trời có quỹ đạo nằm giữa các quỹ đạo của Mars và Jupiter
6/ Jupiter/ Sao Mộc/với các vệ tinh là Io, Europe
7 / Saturne / Sao Thổ/với các vệ tinh là Titan, Encelade
8 / Uranus/Sao Uranus/
9 / Neptune/ Sao Hải vương/
# Vành Kuiper là một vùng trong Thái dương hệ trải rộng sau quỹ đạo của Neptune, các thành viên trong vành này được gọi là siêu-Neptune
10 / Pluton / Sao Diêm vương/với vệ tinh là Charon.
Theo quyết định gây tranh cãi của IAU(International Astronomical Union-Hội đồng Thiên văn quốc tế), Pluton không còn là hành tinh.
11 / 2003 UB313 (tức Xena hay còn gọi là Eris) phát hiện ngày 29 tháng 7 năm 2005.
12/ Các sao chổi
# Mây Oort ( theo tên của nhà thiên văn Đức Jan Oort) là một đám mây hình cầu, cái nôi của nhiều sao chổi.
-------------------------------
Xét từ quan điểm vũ trụ, Thái dương hệ chứa những điều bí mật như trong những vụ án ly kỳ, hiện trường còn đó song tình tiết vụ án chưa được làm rõ. Đã xảy ra những va chạm, những hủy diệt của các hành tinh không khác gì những cuộc chạm trán, hành xử trong các kỳ án.
Từ hiện trạng của Thái dương hệ các nhà khoa học hy vọng khôi phục lại quá trình hình thành của nó. Nguời ta nghiên cứu từ mặt trời, đến các hành tinh, các tiểu hành tinh, các vệ tinh, các sao chổi hòng mong lượm nhặt mọi thông tin cần thiết cho sự khôi phục đó. Một trong những công cụ cơ bản là các trạm thăm dò, đây là một ưu thế của các nhà hành tinh học (planetologue) so với các đồng nghiệp, các nhà vũ trụ học chuyên nghiên cứu các sao và vũ trụ vì những trạm thăm dò này có thể “sờ mó” được các đối tượng nghiên cứu khi chúng bay quanh hoặc đổ bộ xuống đối tượng. Một kỷ nguyên mới đã mở ra khi trạm Mariner của Mỹ ngày 14 tháng 7 năm 1965 gửi về mặt đất những hình ảnh đầu tiên của sao Hỏa. Trạm thăm dò Huygens đổ bộ lên vệ tinh Titan năm ngoái đã cho những thông tin bất ngờ: người ta tưởng tượng trên bề mặt Titan sẽ là những núi lửa cao ngất, những con sông dài song người ta chỉ tìm thấy một cảnh tượng gần giống trên sao Kim, dường như thiên nhiên có nhiều sức tưởng tượng hơn các nhà khoa học.
Sau đây là 10 điều bí ẩn của Thái dương hệ. . ..

1. Bí ẩn số một: Liệu có sự sống trên sao Hỏa?
Trước đây sao Hỏa đã có những thời kỳ ấm và ẩm ướt, rất thuận tiện cho sự sống nảy sinh. Song năm 1976 trạm thăm dò Viking không tìm thấy dấu vết của các vi khuẩn sống. Các robot Opportunity & Spirit cũng không tìm thấy tín hiệu nào của sự sống trong hiện tại và quá khứ trên sao Hỏa.
Song liệu có phải đào sâu dưới bề mặt mới hy vọng tìm được dư tích và các hóa thạch chứng minh sự sống? Rất có thể dưới độ sâu nhiều km tồn tại những mạch nước nuôi dưỡng nhờ những hoạt động địa nhiệt lại có sự sống trong đó? Nếu chưa có một đoàn thám hiểm lên đấy thì làm sao thực hiện được việc đi sâu vào lòng sao Hỏa để tìm sự sống?

2. Bí ẩn số hai: Còn những hành tinh nào nữa chưa được phát hiện trong Thái dương hệ?
Các nhà hành tinh học và vật lý học đang có hy vọng phát hiện những hành tinh (có thể có kích thước cỡ sao Diêm vương) nhờ những kính viễn vọng. Một vùng đặc biệt được quan tâm là vành Kuiper, đây là một vùng có khả năng chứa nhiều hành tinh giá lạnh (có cả sao Diêm vương) nằm sau sao Hải vương và xa mặt trời khoảng mười lần so với quả đất. Trong năm 2005 người ta đã phát hiện trong vành Kuiper thiên thể Xena (mã số là 2003UB313) với đường kính bằng 2400 km, 5% lớn hơn sao Diêm vương.
Có thể đây là hành tinh số 11 (song điều này chưa được sự đồng thuận của các nhà hành tinh học).
Người ta còn nói đến khả năng tồn tại nhiều hành tinh khác nữa với chu kỳ quay quanh mặt trời bằng nhiều ngàn năm và nếu hiện nay chúng còn ở xa mặt trời thì không thể quan sát chúng được!


Quỹ đạo của 2003UB313

3. Bí ẩn số ba: Liệu có dự báo được các cơn thịnh nộ của mặt trời?
Mặt trời là sao ở gần quả đất, nhưng nhiều bí mật của nó vẫn còn nằm trong bóng tối. Mặt trời lớn hơn quả đất khoảng 110 lần đang phát ra năng lượng nhờ tổng hợp nhiệt hạch.
Trên mặt trời có những điểm đen (người ta cho rằng tạo nên bởi từ trường của mặt trời), ở đó nhiệt độ thấp hơn chung quanh. Tại vùng những điểm đen đó xảy ra những vụ nổ, càng nhiều điểm đen thì càng nhiều vụ nổ. Vụ nổ được ghi nhận đầu tiên bởi Richard Carrington vào năm 1859. Mỗi điểm đen có kích thước khoảng 20.000 km. Số các điểm đen đó đạt cực đại trong chu kỳ 11 năm.

Các điểm này được hình thành trong chiều sâu của mặt trời, vì hiện tượng đối lưu mà chúng xuất hiện trên bề mặt dưới dạng những cung lửa mà mỗi điểm mút ứng với một điểm đen (tương tự như hai cực của một thanh nam
châm). Khi các cung từ trường này bị xoắn chằng chịt với nhau thì các cung bị đứt và vụ nổ xảy ra, mặt trời phát ra trong vũ trụ những dòng hạt, tia X và tia cực tím. Các vụ nổ đạt cực đại theo một chu kỳ cực đại của các điểm đen nghĩa là bằng 11 năm.Tại sao 11 năm? Chưa ai giải thích được.


Một vụ nổ, một cơn thịnh nộ của mặt trời

4. Bí ẩn số bốn: Tại sao Quả đất có một từ trường?
Nguời ta biết sử dụng la bàn đã từ 1000 năm nhờ sự tồn tại của từ trường. Từ trường đã đảo cực (chuyển Bắc thành Nam và ngược lại) 100 lần trong vòng 50 triệu năm nay. Người ta cho rằng nguyên nhân của từ trường là sự tồn tại những chuyển động cuộn xoáy mạnh trong lòng đại dương của một chất lỏng kim loại nằm sâu trong lòng đất. Song hiện nay vẫn chưa ai hiểu được động học của máy phát đó, lại càng không hiểu vì sao lại có hiện tượng đảo cực.

5. Bí ẩn số năm: Có tồn tại nhiều hệ tương tự như Thái dương hệ?


Từ trường quả đất bảo vệ bề mặt quả đất đối với những hạt có điện tích từ gió mặt trời, phía hướng về mặt trời từ trường bị nén lại còn phía đêm từ trường kéo dài ra xa.

Trong vòng 10 năm người ta đã phát hiện ít nhất 190 hành tinh chuyển động xung quanh những sao như mặt trời. Nhiều số trong các hành tinh đó quả thực cấu thành những hệ, song có hệ nào tương tự như Thái dương hệ? Nghiên cứu những hệ này sẽ góp phần tìm hiểu sự hình thành của hệ Thái dương và đem lại hy vọng phát hiện sự sống trên một hành tinh tương tự quả đất.

6. Bí ẩn số sáu: Tại sao sao Kim đã trở thành một địa ngục?


Các đĩa gồm những mảnh vỡ xung quanh sao HD53143 và HD 139664 dường như tương tự với vành Kuiper của Thái dương hệ. Liệu trong các vành này có tồn tại một hành tinh như quả đất?

Sao Kim và quả đất có kích thước và khối lượng gần giống nhau. Song sự giống nhau dừng tại đó. Nhiệt độ trên sao Kim bằng 460 oC, thứ nhất vì sao Kim ở gần mặt trời hơn quả đất (108 triệu km so với 150 triệu km) song đó chưa phải là tất cả mà vì một yếu tố thứ hai quan trọng hơn là hiệu ứng lồng kính. Lượng CO2 trên sao Kim đã đun nóng các đại dương và cuối cùng làm cho các đại dương biến mất và sao Kim không ngừng nóng lên. Có phải chăng đây là câu trả lời vì đâu sao Kim biến thành một địa ngục?

7. Bí ẩn số bảy: Những vành đai của các hành tinh đã hình thành như thế nào?
Đến năm 1977 thì người ta chỉ biết có sao Thổ là có các vành đai quay chung quanh. Song mười năm sau thì người ta phát hiện các sao như Uranus, sao Mộc, sao Hải vương cũng có các vành đai bao quanh. Các vành đai này gồm hàng tỷ khối băng lẫn với đá có kích thước từ vài micromét đến nhiều km.Hiện nay người ta không thể hiểu được các vành đai này đã hình thành như thế nào và một điều kỳ lạ là chúng không tan biến vì sự bắn phá của các dòng các thiên thạch , lẽ ra chúng đã mất đi từ mười triệu năm trước! Còn nếu chúng được hình thành muộn hơn cho nên tồn tại đến ngày nay thì một câu hỏi khác lại được đặt ra là cơ chế nào đã kìm hãm sự hình thành đó?
Người ta cho rằng các vành đai đó có thể là dư tích của nhiều hành tinh khác.


Sao Thổ cùng các vành đai.

8. Bí ẩn số tám: Các hành tinh đã xuất hiện như thế nào?
Hãy tưởng tượng một đám tinh vân gồm bụi và khí, như đã tồn tại nhiều tỷ năm về trước trong vũ trụ. Dưới tác động của trọng trường bản thân đám tinh vân co lại theo hình xoắn ốc làm thành một đĩa quanh mặt trời...
Các hạt bụi tích tụ lại dần tạo nên những vi hành tinh, mầm mống của những hành tinh hiện nay. Đây là một kịch bản đơn giản và rất đẹp ... tiếc rằng kịch bản này không làm việc. Những thiên thể có kích thước cỡ 100 m sẽ mau chóng rơi vào mặt trời trong một thời gian ngắn hơn là thời gian để chúng tích tụ lại đề làm thành một hành tinh. Đành vĩnh biệt giả thuyết các vi hành tinh. Và nếu các hành tinh xuất hiện thì chúng phải rơi dần vào mặt trời. Sao Hỏa đáng lý đã di chuyển dần theo hình xoắn ốc vào mặt trời trong vòng 100.000 năm.
Điều bí ẩn ở đây là vì sao cuộc di chuyển đó không xảy ra trong Thái dương hệ, điều gì đã làm chậm thậm chí ngăn cản hiện tượng di chuyển đó. Người ta hy vọng nghiên cứu sâu vào các khoảng cách giữa hành tinh và sao, tỷ số khí/bụi , kích thước các hạch tâm của hành tinh để thu được một kịch bản chính xác cho lịch sử hình thành hệ Thái dương.

9. Bí ẩn số chín: Các đại dương ngầm của Europe tiềm chứa những bí mật gì?
Europe là vệ tinh của sao Mộc. Từ năm 1997 nhờ trạm thăm dò Galileo người ta đã biết rằng trên Europe có nước nằm dưới bề một mặt băng giá, và nếu có nước thì hy vọng có sự sống, cho nên tiếp theo sau sao Hỏa thì Europe có hy vọng là cái nôi của sự sống. Trạm thăm dò Galileo đã phát hiện những dị thường từ trường trên Europe, điều này chứng tỏ tồn tại thật sự một lớp nước dẫn điện dưới độ sâu vài chục km dưới bề mặt. Người ta cho rằng ứng viên cho lớp nước này là một lớp nước mặn với thành phần hóa học gần bằng thành phần của nước trong các đại dương trên quả đất. Trạm thăm dò Galileo cũng thu được hình ảnh rõ nét của những khối băng với kích thước nhiều km nổi trên mặt Europe. Cấu trúc này ứng với sự chuyển động của một vỏ băng cứng dày khoảng 1 đến 15 km trên mặt một lớp nước có bề dày 100 đến 200 km. Nhưng nếu có sự sống thì đây là một dạng sống đặc biệt nảy sinh trong một môi trường chịu áp suất lớn của một vỏ băng dày.
Trên quả đất người ta cũng đã quan sát được những sinh vật sống trong những điều kiện cực khuynh như vậy. Ngoài ra người ta cho rằng trên Europe nguồn năng lượng cho sự sống có thể cung cấp bởi những hoạt động thủy nhiệt giống như trên quả đất.

10. Bí ẩn số mười: Các sao chổi đã hình thành như thế nào?
Một vùng nằm xa nhiều nghìn lần so với vành Kuiper là vùng đám mây Oort có thể là cái nôi của các sao chổi, trong vùng này người ta hy vọng sẽ phát hiện được hàng nghìn sao tựa sao Diêm vương. Tiếc rằng mây Oort quá xa để có thể quan sát được dễ dàng.

Sao Thổ cùng các vành đai.
Người ta xem các sao chổi như là những tư liệu cho lịch sử của Thái dương hệ. Các sao chổi được hình thành xa hơn sao Diêm vương và chứa đựng những chất liệu nguyên thủy của hệ Thái dương chúng ta, những chất liệu của 4,5 tỷ năm về trước. Song vài tháng trước đây, trạm thăm dò Stardust đã đem về quả đất những hạt bụi lấy từ đuôi sao chổi Wild2 và gây một bất ngờ lớn: những hạt bụi này sau phân tích là những tinh thể pyroxène và olivine, vốn là hai chất liệu chỉ hình thành ở nhiệt độ rất cao. Như vậy một phần vật chất của sao chổi phải được tạo ra rất gần mặt trời trước khi bị bắn xa đến sao chổi. Sự hiểu biết về sao chổi do đó càng ngày càng trở nên phức tạp. Sao chổi là những thiên thể có độ bất đồng nhất rất lớn. Trạm thăm dò Rosetta sẽ đổ bộ năm 2014 lên sao chổi Churyumov-Gerasimenko nhằm tìm hiểu thêm cấu trúc bên trong của sao chổi.
Sao chổi có quỹ đạo hình ellip rất dẹt , sao chổi trên hình vẽ này có hai đuôi: một đuôi khí và một đuôi bụi vũ trụ.

glass_look_in_night

Kính nhìn ban đêm "Madein Vietnam"

09:53:51 18/10/2006

4d27bf3deb.bmp


83f52924a4.bmp


Ống nhòm, ống ngắm bắn ban đêm - có lẽ nhiều người đã thấy... trên phim nước ngoài. Nhưng chắc ít người được biết, vừa qua nhóm nghiên cứu của Viện Vật lý và điện tử (Viện KH&CN Việt Nam) đã chế tạo thành công liền ba loại sản phẩm nhìn ban đêm: kính quan sát một mắt, kính quan sát hai mắt và kính ngắm bắn, giá thành rẻ hơn 35 - 50% so với sản phẩm tương đương nhập ngoại. Đây là những sản phẩm thành công của đề tài cấp nhà nước KC.05.04 "Nghiên cứu công nghệ chế tạo và lắp ráp các linh kiện quang học của thiết bị nhìn đêm dựa trên nguyên lý khuếch đại ánh sáng mờ".


Do là sản phẩm công nghệ cao, chủ yếu dùng cho quân sự nên các loại kính ngắm và kính quan sát tầm xa ban đêm thường bị cấm xuất khẩu sang những nước ngoài khối NATO. Nếu có mua được thì giá thành cũng rất cao. Như loại thấp nhất là kính quan sát mini đã có giá 6.000USD, còn giá thành chuyển giao cho một loại kính ngắm thông thường cũng đã lên tới hàng triệu USD. Nếu chủ động nghiên cứu chế tạo kính nhìn ban đêm trong nước, không những giảm giá thành so với nhập nguyên chiếc mà còn có thể đa dạng hóa sản phẩm. Tuy nhiên việc nghiên cứu chế tạo kính nhìn đêm đòi hỏi sự phối hợp của nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ cao mà hiện chỉ có một số nước công nghiệp phát triển là có khả năng thực hiện được.

Kính quan sát
Việc nghiên cứu ban đầu gặp rất nhiều khó khăn do đây là công việc hoàn toàn mới mẻ, trong khi ta lại thiếu cả cơ sở vật chất lẫn tri thức công nghệ, thiếu hẳn những ngành bổ trợ như cơ khí chính xác, vật liệu quang học và hóa chất, thiếu đội ngũ thiết kế, kỹ sư công nghệ và công nhân lành nghề. Đến nay Việt Nam vẫn chưa có định hướng phát triển, chưa có mã ngành khoa học. Chính vì vậy mà nhóm nghiên cứu phải xây dựng một quy trình công nghệ, từ những việc rất nhỏ như tiện ren, gia công chế tạo các cụm chức năng cơ khí... cho đến những công việc đòi hỏi kỹ thuật cao như nghiên cứu lý thuyết và quy trình tạo ảnh các chùm tia theo phân bố Gauss, thiết kế tối ưu các cụm chức năng, nghiên cứu và thực nghiệm các quy trình tạo vạch khắc trên bề mặt thủy tinh quang học... Tổng cộng có tới bảy lĩnh vực cần nghiên cứu, thử nghiệm: quang điện tử - laser; công nghệ màng mỏng, quang học kỹ thuật, cơ khí chính xác, điện tử, điều khiển tự động và xử lý ảnh. "Chúng tôi phải chủ động giải quyết triệt để tất cả mọi khâu từ nghiên cứu, thiết kế cho đến công nghệ chế tạo và lắp ráp cho hầu hết các chủng loại ống kính thiết bị nhìn đêm sử dụng các đầu thu khuếch đại ảnh thế hệ hiện đại" - TS Minh, chủ nhiệm nhóm nghiên cứu cho biết.

Kính đeo trán

Ban đầu là tìm nhập những loại đầu thu khuếch đại ảnh cho ống kính nhìn đêm, đây là một việc không dễ dàng bởi mặt hàng này nhiều nước cấm mua bán. Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã chọn mua loại đầu thu thế hệ XD-4. Loại đầu thu này không những có tính năng tốt mà còn rất bền. "Chính nhờ có quyết định đúng trong việc nhập loại đầu thu trên mà chúng tôi mới tạo được những ống kính thiết bị nhìn đêm đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đây còn là một định hướng chiến lược rất quan trọng cho các dự án đầu tư, nghiên cứu phát triển và sản xuất các ống kính thiết bị nhìn đêm ở trong nước, tránh mua phải dây chuyền lạc hậu" - TS Minh nói.
Những ai "chơi" máy ảnh đều biết, muốn nâng cao độ phân giải, độ nét sâu và độ sáng của các ống kính quang học thì phải tăng khẩu độ hay đường kính các thấu kính. Trong các thiết bị quang học cao cấp như ống kính cho camera chuyên dụng, ống kính chụp ảnh hàng không, telescope loại lớn... đường kính các chi tiết thấu kính và gương thường lớn hơn Ø100. Cho đến nay, các máy đánh bóng bề mặt quang học ở Việt Nam chỉ có khả năng gia công thấu kính có đường kính từ Ø 20 đến Ø 80. Muốn tạo được các chi tiết quang học có đường kính lớn hơn Ø 100, nhóm nghiên cứu phải đầu tư một thiết bị đo bán kính mặt cầu có độ chính xác nhất hiện nay, đồng thời thiết kế và chế tạo một máy mài và đánh bóng mặt cầu quang học lớn, một bộ gá tâm thấu kính và các dụng cụ đồ gá cho công đoạn mài rìa và khoan thấu kính với độ đồng trục cực chính xác.
Để tăng độ nét và độ trung thực của màu sắc, một công đoạn khác rất công phu mà nhóm nghiên cứu phải tiến hành là chế tạo các hệ màng mỏng giao thoa nhiều lớp bằng phương pháp bốc hơi trong chân không. Lớp màng mỏng trông như lớp váng dầu trên thấu kính này có tác dụng giảm độ phản xạ, tăng độ truyền qua của mỗi mặt khúc xạ, ngoài ra nó còn có tác dụng bảo vệ bề mặt kính khỏi tác động của hơi ẩm, hơi nước biển hay nấm mốc phá hủy.

Kính quay camera đêm

Cùng một loạt quy trình khác như thiết kế tối ưu các hệ thống ống kính đặc thù cho nhìn đêm, xây dựng bộ chương trình cải thiện chất lượng và xử lý hình ảnh, gia công chính xác cho các chi tiết cơ khí khó và phức tạp, đo đạc lắp ráp căn chỉnh ống kính và toàn bộ thiết bị, nhóm nghiên cứu đã chế tạo tương đối đầy đủ các chủng loại ống kính thiết bị nhìn đêm. Qua thử nghiệm trong một số cơ quan của Bộ Công an, sản phẩm kính quan sát một mắt của nhóm nghiên cứu có chất lượng ảnh tương đương với những mẫu tốt nhất cùng loại của nước ngoài. Loại kính nhìn đêm quan sát tầm xa mà nhóm nghiên cứu thiết kế chế tạo "vượt so với đăng ký" có độ phóng đại tới 45 lần. Ở chủng loại kính quan sát hai mắt, nhóm cũng chế tạo "vượt yêu cầu" mẫu kính gắn với mũ lái xe hoặc mũ phi công. Khi tháo kính ra khỏi mũ, nó được sử dụng như loại ống nhòm hai mắt, rất thuận tiện khi quan sát.
Riêng với chủng loại kính ngắm bắn, các chi tiết thấu kính và cơ khí phải có độ chính xác cao hơn hẳn so với loại dùng cho quan sát, chưa kể tất cả các cụm chức năng quang cơ điện tử laser của ống kính phải có kết cấu đặc biệt vững chắc để tránh xô lệch do lực rung rất mạnh khi bắn. Loại kính ngắm bắn mà nhóm nghiên cứu thiết kế chế tạo thành công có thể sử dụng cả ban ngày lẫn trong đêm, quan sát rõ mục tiêu ở tầm 350m.
Tất nhiên từ sản phẩm chế thử đến sản xuất hàng loạt lại là cả chặng đường dài. "Một việc tưởng như đơn giản nhưng lại phải đầu tư rất lớn là phòng sạch vô trùng lắp kính, hoặc buồng khử tĩnh điện khi lắp ráp các mạch điện tử, vật liệu phải tẩm sấy theo quy trình công nghệ để không bị chập mạch, kín khít nước và bảo ôn... chúng tôi vẫn chưa có. Nhưng quan trọng nhất, tất cả những gì thuộc chuyên môn, quy trình công nghệ thì chúng tôi đã nắm được" - Chủ nhiệm nhóm nghiên cứu nói.

ảnh trên cùng: Kính ngắm đêm cho súng bắn tỉa



Du_hanh_khong_gian

Con người muốn bay tới tương lai và quay về quá khứ? Câu trả lời là các nguyên lý vật lý không cấm, nhưng những rào cản kỹ thuật thì không thể vượt qua trong vũ trụ mà chúng ta đang sống.

Cách duy nhất du hành tới tương lai là dùng hiệu ứng thời gian trôi chậm trên con tàu vũ trụ bay rất nhanh của thuyết tương đối hẹp. Nếu rời trái đất trên con tàu tăng tốc liên tục với gia tốc trọng trường (để cơ thể chịu một lực gia tốc thuận lợi đúng bằng sức hút Trái đất), thì sau một năm có thể đạt gần tới tốc độ ánh sáng. Tiếp tục gia tốc, ta có thể bay nhanh xấp xỉ ánh sáng. Khi đó chuyến bay tới trung tâm Ngân hà rồi quay về (khoảng cách cỡ 60 ngàn năm ánh sáng) chỉ mất 40 năm, trong khi trên Trái đất, 600 thế kỉ đã trôi qua. Bạn sẽ gặp tương lai nhân loại, với biết bao vật đổi sao dời, nếu loài người vẫn còn tồn tại.

Mặc dù không một quy luật vật lý nào ngăn cản chuyến du hành thú vị đó, nhưng những khó khăn kỹ thuật thì khó lòng vượt qua. Chẳng hạn, năng lượng cần thiết, ngay cả khi biến đổi khối lượng hoàn toàn thành năng lượng theo hệ thức E = mc2, còn lớn hơn cả khối lượng hành tinh.

Khả năng du hành ngược thời gian còn khó khăn hơn nhiều, tuy các quy luật khoa học cũng không hề cấm đoán. Vấn đề là tạo được bộ máy thời gian thích hợp.

Khả năng đầu tiên do Frank Tipler, Đại học Maryland, Mỹ, đưa ra năm 1973, liên quan với một vật kỳ dị trần trụi quay rất nhanh (kỳ dị là điểm có mật độ vô hạn, ví như lỗ đen). Khi đó cấu trúc không thời gian bị trường hấp dẫn quá mạnh làm xoắn, khiến một chiều không gian được thay bằng thời gian. Con tàu vũ trụ bay thận trọng gần đó có thể may mắn gặp một quỹ đạo mà phi hành đoàn tưởng vẫn đang xuyên qua không gian, nhưng lại là xuyên thời gian. Khi rời xa điểm kỳ dị, con tàu sẽ xuất hiện ở một thời gian khác, như thời người tiền sử đang sống trong hang chẳng hạn.

Khả năng này không khó như ta tưởng: một hình trụ dài 100 km, rộng 10 km, chứa vật chất có mật độ của sao neutron (100 triệu tấn/cm3), quay hai ngàn vòng một giây là đạt yêu cầu. Trong vũ trụ, một số sao xung gần đạt tiêu chuẩn này.

Loại máy thời gian thứ hai liên quan với lỗ sâu (wormhole), tức hệ đường hầm xuyên không - thời gian, giống lỗ sâu đục trên quả táo của bạn. Theo thuyết tương đối rộng, lỗ sâu có thể nối một lỗ đen ở vùng không - thời gian này với một lỗ đen hay lỗ trắng ở vùng không - thời gian khác (ngược với lỗ đen luôn hút vật chất và năng lượng, lỗ trắng là nơi phun năng lượng. Big Bang chính là một lỗ trắng như vậy).

Quan niệm về lỗ sâu xuất hiện trong vật lý một cách khá hài hước. Số là nhà thiên văn Carl Sagan, tác giả của viễn cảnh mùa đông hạt nhân nổi tiếng, viết một cuốn sách viễn tưởng về du hành qua lỗ đen để đi từ trái đất tới sao Vega giả định. Vì muốn các lập luận khoa học chính xác tối đa, Sagan nhờ Kip Thorne, một chuyên gia về trường hấp dẫn của Viện Công nghệ California, tính toán.

Cuối 1985, Thorne nhận thấy rằng, lỗ sâu có thể mở khi chứa loại vật chất kỳ lạ có sức căng rất lớn để chống lại lực hấp dẫn ở lỗ đen. Thích hợp nhất là các dây vũ trụ, loại vật chất giả thuyết dưới dạng các ống năng lượng nhỏ hơn kích thích nguyên tử trải dài trên toàn vũ trụ. Nếu có thật, và luồn được vào lỗ sâu, nó có khả năng giữ cho lỗ sâu luôn luôn mở để đóng vai một đường hầm xuyên qua không - thời gian.

Đó là kết luận rất thú vị về mặt khoa học, nhưng Thorne rất sợ người khác cười nhạo và cho rằng ông bị điên khi nghiên cứu khả năng du hành xuyên thời gian. Có lẽ không biết Tipler chẳng hề hấn gì khi nghiên cứu bộ máy thời gian nên ông rất lo khi học trò công bố công trình, nghề nghiệp của họ sẽ tiêu tan trước khi bắt đầu. Nghiên cứu cẩn trọng và bí mật với Mike Morris và Ulvi Yurtsever, ông dần tự thuyết phục bản thân rằng, quả thật phương trình Einstein cho phép lỗ sâu nối các điểm thời gian với nhau và do đó có thể đóng vai bộ máy thời gian.

Đến năm 1988, ba người công bố kết quả trên tạp chí nổi danh Physical Review Letters. Vẫn lo sợ phản ứng không thuận lợi, ông yêu cầu lãnh đạo Viện không những giữ im lặng mà còn kiên quyết cấm mọi người bàn luận về công trình.

Kết quả ngược với lo lắng của Thorne. Cả giới chuyên môn và công chúng đều rất hào hứng với khả năng du hành xuyên thời gian, dù chỉ trên lý thuyết. Nghề nghiệp của ông thăng tiến rõ rệt, hai học trò được nhiều nơi mời làm việc. Theo gương ông, nhiều nhà vật lý công bố các kết quả nghiên cứu chuyên sâu với bạn đọc đại chúng, một việc được nhiều phía hoan nghênh. Viện Công nghệ California trở thành thánh địa của khả năng du hành xuyên thời gian.

Ngay lập tức xuất hiện hàng loạt tác phẩm về du hành xuyên không thời gian. Trong khi giới chuyên môn thiên về các khía cạnh khoa học và triết lý, thì giới nghiệp dư hân hoan tuyên bố, đó chính là cách nhân loại du hành hướng tới tương lai hay quay về quá khứ. Nhưng "nghịch lý ông nội" có thể làm nguội niềm phấn khích đó. Giả sử bạn du hành ngược về quá khứ và lỡ tay làm chết ông nội khi ông còn bé tí, lúc ông chưa sinh cha bạn. Không có cha thì tại sao lại có bạn để mà du hành ngược thời gian? Cũng có ý kiến cho rằng, có thể bạn không gặp ông nội, nhưng đó chỉ là ngụy biện (tại sao lại không?).

Đó là lý do Hawking đưa ra "Ước đoán bảo vệ trình tự thời gian", theo đó các quy luật vật lý cấm một thực thể vĩ mô du hành xuyên thời gian. Muốn du hành như thế, cần nhảy vào lỗ đen, và ngay lập tức bạn bị nghiền nát thành các hạt cơ bản, qua lỗ sâu để phun trào ra ở một lỗ trắng tại vùng không - thời gian khác. Chỉ các hạt cơ bản từng tạo nên cặp chân dài gợi cảm, chứ không phải chính cô người mẫu, mới trải nghiệm chuyến du hành kỳ thú đó.

Pyramid

Trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại, thì Kim Tự Tháp Ai Cập được xếp hàng đầụ Trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập thì đứng đầu lại là lăng mộ của quốc vương Đệ Tứ - Kim Tự Tháp Khê Ốp (Khéóp) là tráng lệ nhất.

Kim Tự Tháp Khê Ốp được xây vào năm 2600 trước Công Nguyên, gồm 2,300,000 phiến đá cực lớn, nặng trung bình 2.5 tấn xếp chồn lên nhau. Tổng trọng lượng của Kim Tự Tháp là 60,000,000 tấn, tương đương với độ cao của tòa nhà cao chọc trời 40 tầng. Với con mắt người hiện đại thì bản thân nó đã trở thành một câu hỏi cực lớn và một dấu than lớn làm day dứt biết bao thế hê..

Kim Thự Tháp Khê Ốp chứa hàng loạt các câu hỏi khiến ta không thể không bàn tới.

*Thứ Nhất: Kim Tự Tháp được kết cấu và thiết kế với các số liệu vô cùng chính xác. Tháp cao 146.5 x 1000 triệu thì tương đương với khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trời, lấy 2 lần chiều cao tháp chia cho diện tích tháp 52,900 mét vuông thì sẽ là số p (3.14159). Đường kinh tuyến đi qua tháp vừa đúng là đường phân chia hai nửa bằng nhau giữa lục địa và hải dương của quả đất. Còn bình phương chiều cao tháp thì bằng diện tích hình tam giác của một mặt tháp. Nếu kéo dài đường góc đối hình vuông góc đáy tháp thì vừa đúng bao gồm vùng Tam Giác Châu cửa sông Nilẹ Còn kéo dài đường chia đôi hướng dọc từ điểm đỉnh tam giác sẽ đi qua đường chia đôi của chau thổ này .

*Thứ hai: Đo lường kiến trúc vô cùng chính xác. Tất cả đầu đá mặt tháp đều được xếp chồng lên nhau và dựa vào trọng lượng của bản thân để liên kết mà không dùng bất cứ một chất kết dính nàọ Các khe hở ở bề mặt thân tháp và đầu đá xếp khít với nhau tới mức một lưỡi dao cực sắc, cực mỏng cũng không thể luồn vào được. Chênh lệch độ cao ở góc Ddông Nam và góc Tây Bắc chỉ tới 1.27 cm. Sai lệch chiều dài các cạnh đáy cũng không quá 20 cm, dung sai không quá 9/1000.

*Thứ ba: Có nhiều lực thần bí siêu tự nhiên. Bên trong Kim Tự Tháp như một chiếc tủ lạnh cực lớn. Nếu đem sữa tươi, nước quả, hoa quả, thịt tươi đặt vào trong đó vài ngày vẫn giữ được như mớị Nếu gieo mần các loại sản phẩm ở trong Kim Tự Tháp thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn vài lần so với gieo trồng ở ngoài tháp mà sản lương lại cao, chắc hạt. Các vật bằng kim loại đang có các vết đốm gỉ nếu đặt trong Kim Tự Tháp một thời gian sẽ trở lên sáng bóng lấp lánh. Ngoài ra trong tháp còn có hiệu ứng gây tê và chống thối rữạ Người nao suy nhược thần kinh, nếu nằm ngủ trong tháp sẽ nhanh chóng đi vào giấc mô.ng. Người khó chịu toàn thân, bao gồm đau đầu, đau răng, phong thấp, viêm khớp ... khi vào tháp sẽ cảm thấy dễ chịu, tinh thần sảng khoái, đau đớn tiêu tán. Những cây gỗ còn ở trong tháp đều được thoát (bay) nước tự nhiên và diệt khuẩn, có thể tồn trữ đã vài ngàn năm mà vẫn không bị mục.

Các nhà khoa học phát hiện trong Kim Tự Tháp thực tế có một loại khoảng không dao động viba tương đối tốt. Trong khoang này, hiệu ứng viba (kể cả hiệu ứng nhiệt) được phát huy một cách đầy đủ. Ddiều này làm cho gỗ trong tháp được bảo quản lâu dàị

Các nhà khoa học còn phát hiện trong tháp còn tồn tại sóng vũ trụ rất lớn, có ảnh hưởng với mức độ khác nhau ở đầu và cơ thể ngườị Vậy sóng vũ trụ trong tháp từ đâu tớỉ Các nhà nghiên cứu cho rằng: trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập (gần trên 70 tháp nằm rải rác vùng Chi-Tát, hai bên vờ hạ lưu sông Nil và một khu rộng lớn ở phía Nam) thì tháp nào cũng đều có hướng chính Nam đi Bắc và không hề có sai lê.ch. Theo hướng này thì hoàn toàn đúng với đường sức từ của trái đất, như vậy sẽ làm cho đường sức từ đi qua tháp được nhiều nhất. Bên trong tháp còn có đá hoa cương thu nhận sóng vũ trụ và có khả năng tích điện. Bên ngoài tháp lại là đá vôi không thể thu nhận, tồn trữ các loại điện năng và sóng vũ tru.. Như vậy đá hoa cương trong tháp sau khi đã tiếp nhận, tồn trữ từ năng quả đất và sóng vũ trụ thì dùng đá vôi ở bên ngoài tháp đề phòng khuếch tán. Chính vì vậy, trải qua trên 4000 năm, bên trong Kim Tự Tháp đã thu nhận và tồn trữ một lượng rất lớn sóng vũ trụ và năng lượng địa cầụ Từ những gợi ý về kết cấu của Kim Tự Tháp Ai Cập, hiện nay đã có nhiều nước xây dựng các vật kiến trúc theo kiểu Kim Tự Tháp với nhiều hình dáng khác nhau để tiến hành thử nghiệm. Có nói thì xây kho theo đúng kiểu Kim Tự Tháp dùng để bảo quản lâu dài lương tực hoặc là các kho chứa vật dự trữ chiến tranh.

Vậy thi ai là người xây Kim Tự Tháp lớn nhất (Kim tự Tháp Khê Ốp) và hoàn thành công trình vĩ đại này như thế nàỏ Ngày nay, mọi người không ai nghi ngờ gì về vị vua thứ 4 của Ai Cập cỗ là người đã đề xướng và xây nên Kim Tự Tháp lớn nhất. Vì hầu như toàn bộ các băn bia và sách cổ của ai Cập lưu giữ đều nói khá rõ việc nàỵ Nhưng có nhà nghiên cứu lại cho rằng: NẾu theo sức lao động của người đương thời thì Kim Tự Tháp lớn cơ hồ không thể xây dựng được xong trong thời gian cuộc đời Khê Ốp. Giáp định ở đây có khả năng Khê ốp ngụy tạo ra các văn bia và thư tịch về người xây dựng Kim Tự Tháp lớn nhằm đề cao cái uy cái đức và công lao của ông tạ Thủ pháp này vào thời cổ không phải là hiếm thấỵ Trong thư viện Bô Ddéc Li An đại học oxford phía bắt nước Anh có lưu giữ một bản thảo cho thấy: Kim Tự Tháp lớn là do quốc vương Sô Lít cách thời Khê ốp khá xa đề xướng xây dư.ng.

Bản thảo này là di cảp của Ma Si Út - nhà văn người Kô phút Ai Cập. Ttác giả đã qua một thời gian dài nghiên cứu điều tra cho biết: Trước đại hồng thủy, nhà vua hiền Su - bít trị vì Ai Cập đã từng ra lệnh cho tín đồ của mình là ghi chép tất cả những học vấn của mình lại và lưu cất trong Kim Tự Tháp. Tác giả còn vạch rõ rằng theo truyền thuyết của người Kô phút thì Kim Tự Tháp thực ra là được xây dựng vào trước thời đại Hồng Thủỵ Như vậy, nó có trước vài trăm năm thời Khê ốp. Trong cuốc lịch sử (quyển 2) của nhà sử học Hy Lạp cổ Hêrodotos xác thực là có sự suy diễn nàỵ Bây giờ chúng ta hãy tìm hiê/u số lượng người tham gia xây dựng tháp và thời gian xây dựng nó thực tế phải mất bao lâủ

Theo Herodotos (ông đã đến Ai Cập thế kỷ 5 trước Công Nguyên và đã khảo sát thực địa Kim Tự Tháp) thì việc xây dựng đại Kim Tự Tháp này phải mất tổng cộng 30 năm. Thợ xây được chia thành từng kíp 100,000 ngườị Mỗi kíp thợ phục dịch 3 tháng, luôn phiên thay đổị Nhưng theo một nhà nghiên cứu khác lại cho rằng: theo điều kiện đương thời, chưa có cần cẩu và các máy móc vận chuyển hiện đại, chỉ có thể dựa vào con lăn, đòn bẩy và các dụng cụ thủ công khác. Vậy thì làm thế nào đê/ đưa khối đá lớn nặng 2.5 tấn tới độ cao trên 100 mét? Quá trình thao tác sẽ phải như sau: Trươc' hết phải xây xong lớp mặt nền, sau đó đắp dốc bằng đất có độ cao bằng tầng thứ nhâ"t rồi trượt theo dốc đâ"t mà kéo đưa đá lên tầng 2 ... Khi xây xong tháp mới chuyê/n đất đi để lộ Kim Tự Tháp rạ Tính toán theo cách làm này thì mỗi ngày thực tế chỉ có thể xâyđược 10 khối đá, mà toàn bộ Kim tự tháp dùng tới 2,300,000 khối đá lớn thì phải dùng tới 230,000 ngày tức là 630 năm. Do đó, tháp xây xong mà Su lít vẫn chưa nhìn thấp còn Khê ốp thì ngôn ăn sẵn mà được hưởng. Về việc này, lại có học giả cho rằng: Thời bấy giờ gỗ ở Ai Cập rất hiếm, mà phần nhiều là cây co.. NGười Ai Cập lại không biết chặt đẽo làm thành côn lăn. Hơn nữa, quả cọ lại là thực phẩm không thể thiếu được của ho.. Thân cọ khô và lá cọ là vật liệu duy nhất dùng để che nắng, chống nóng của dân vùng nàỵ Nói về công cụ vận chuyển để xây tháp là con lăn thì người Ai Cập cổ chỉ có thể nhập khẩu gỗ về, mà khả năng của nước Ai Cập thời đó liệu có làm nổi không? Ngoài ra muốn nhập khẩu được gỗ thì phải có một đội thuyền khả quan, phải chặt gỗ từ núi Ali, chuyển ngược dòng sông Nil, tới Cai-rô, Chi-tạ Vào thời xây tháp, người Ai Cập lại chưa có ngựa và xe ngựạ Mãi tới vương triều thứ 17 - Khoảng năm 1600 trước CN thì ngựa và xe ngựa mới thấy có ở Ai Cập. Vậy thì với số lượng gỗ lớn như vậy, sẽ không có cách nào đưa được tới Cai-rô, Chi-ta ...

Nhà học giả PunĐdan-Ni ken đề xuất: Kim tự tháp Ai Cập, đặc biệt là Kim Tự Tháp Khê ốp là do người ngoài hành tinh thực hiện. O6ng cho rằng Ai Cập cổ xưa chưa có kỷ thật đo lường, vùng này lại thiếu đá và gỗ, không thể làm được một công trình kiến trúc cao to như vậỵ Ông còn nhất mạnh: Muốn xây ngọn Kim Tự Tháp như vậy thì ngoài số thợ có mặt tại công trường xây tháp, còn phải có một đội ngũ hậu cần phục vụ rất lớn. Nếu kể cả thành viên trong gia đình đi theo thì cần phải có tới 500,000,000 người mới ứng phó được. Nhưng theo suy đoán số nhân khẩu vào năm 2600 trước CN thì thế giới lúc bấy giờ chưa vượt quá 20,000,000 người (về số liệu này tuyệt đại đa số các chuyên gia đều công nhận như vậy). Vì thế, Đan-Ni-Ken đoán rằng: Nhất định là có người ngoài hành tinh mang theo dụng cụ đo khoảng cách bằng tia laser, máy tính điện tử và cần cẩu ... hạ xuống vùng hạ lưu sông Nil để xây dựng Kim Tự Tháp.

Theo các báo cáo gần đây, nhóm khảo cổ học của tiến sĩ Pon-Gia-Lu phát hiện một đố.ng vật đóng băng trong một buồng kín ở Kim Tự Tháp. Họ đã dùng các máy móc thám trắc hiện đại để đo kiểm phát hiện thấy con vậy này có nhịp tim và báo hiệu có huyết áp. Tiến sĩ Ga-ba cho rằng: Con vật này vẫn là sinh vật có sức sống, tin rằng nó đã tồn tại 5000 năm trước. Ngoài ra được biết trong phòng kín (mật thất) này còn có một cuốn sách ghi chép bằng chữ tượng hình. Cuốn sách có ghi cách đây 500 năm về trước có một cỗ xe "thiên mã" đi vào gần thành Cai-rô để lại một người "Sinh hoàn giả". Ddây là một nhà thiết kế, khả năng người này đã thiết kế ra Kim Tự Tháp. Kim tự Tháp này dùng làm tháp tín hiệu thông báo cho đồng loại ở bầu trời tới cứu viện.

Nhà hóa học đương đại người Pháp là Da-viđu-uyt, lại có một cách giải thích khác. Ông cho rằng: Những khối đá lớn xây dựng Kim Tự Tháp là những khối đá nhân tạo đổ ép lại, không phải là đá thiên nhiên, ông đã lấy mẫu các viên đá nhỏ thu được ở Kim Tự Tháp đem về hoá nghiệm. Kết quả cho thấy những viên đá này được làm từ những mỏ đá vỏ sò. Vì thế, thời bấy giờ rất có khả năng sử dụng phương pháp "Hóa chỉnh vi linh" tức là trước hết cho bê tông đã trộn vào các khoang sọt rồi mới đưa lên Kim Tự Tháp đang xây, từ đấy mới đúc từng khối một, từng tần từng tầng cao dần. Với giả thuyết này cũng có thể là lời giải đáp vì sao các mối ghép giữa các viên đá với nhau lại khít như vậỵ Mặt khác, Đa vi du uýt còn dự đoán rằng: số no lệ lao động trên công trường vào thời ấy không quá 1500 người mà không phải là 100,000 người như Heroestos nêu rạ Lời giải thích này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của đại đa số người trước đây, cho rằng người Ai Cập cổ hoàn toàn có đủ khả năng tự thiết kế và hoàn thành việc xây dựng Kim Tự Tháp.

Tau_san_bay_Dien_thoai...

Cài password C MOS được xem là một trong những biện pháp khá hữu hiệu để bảo mật máy tính. Phá password CMOS là một điều hết sức khó khăn nhưng không phải là không thể làm được. Tuy nhiên để thực hiện thành công cũng đòi hỏi bạn phải có một “tay nghề” nhất định. Có một vài cách để phá password CMOS như: thay chip BIOS, ngắt mạch chip BIOS, sử dụng jumper, tháo pin trên mainboard, phá password CMOS bằng một số lệnh, nhập vào các password mặc định của nhà sản xuất… nhưng đối với giới tin học “bình dân học vụ” như chúng ta thì may ra có 2 phương pháp sau là tạm có thể áp dụng được. 1. Nhập vào các password chuẩn của BIOS do nhà sản xuất đã mặc định sẵn. FPRIVATE "TYPE=PICT;ALT="- Đối với loại Award BIOS thì ta có thể nhập vào các password mặc định sau để thử bẻ khóa password đã đặt trước đó: AWARD SW, AWARD_SW, Award SW, AWARD PW, _award, awkward, J64, j256, j262, j332, j322, 01322222, 589589, 589721, 595595, 598598, HLT, SER, SKY_FOX, aLLy, aLLY, Condo, CONCAT, TTPTHA, aPAf, HLT, KDD, ZBAAACA, ZAAADA, ZJAAADC, djonet.
- Đối với loại Ami BIOS thì dùng: AMI, A.M.I., AMI SW, AMI_SW, BIOS, PASSWORD, HEWITT RAND, Oder. - Một số password dùng chung cho Ami, Award và một số BIOS khác có thể thử như: LKWPETER, lkwpeter, BIOSTAR, biostar, BIOSSTAR, biosstar, ALFAROME, Syxz, Wodj. Nhưng thực ra phương pháp này cũng không hiệu quả lắm vì ngoài những nhãn hiệu Award, Ami… thì còn hàng chục nhãn hiệu BIOS khác mà hầu như ta không thể biết được các password mặc định là gì. 2. Phá password CMOS bằng phần mềm chuyên dùng hoặc câu lệnh ở môi trường OS: Nếu bạn được phép sử dụng một máy tính đang được cài password CMOS thì bạn có thể dùng một số lệnh DEBUG chạy trong môi trường DOS để phá password. Đây là những lệnh có thể làm mất hiệu lực bộ nhớ BIOS, giúp cho nó trở về trạng thái nguyên thuỷ, tức trước khi bị cài password. Nhưng thực chất việc này cũng hết sức khó khăn vì không phải lúc nào cũng có thể vào được môi trường DEBUG.
Một cách hiệu quả hơn là bạn vào địa chỉ http://www.cgsecurity.org/cmospwd-4.8.zip để tải về công cụ mang tên “Cmos Password Recovery Tools 4.8” -> Giải nén file này -> Tìm đến thư mục Windows -> Kích hoạt file cmospwd_win.exe để file này tự động xóa đi bộ nhớ BIOS hiện tại. Nếu may mắn thì lần khởi động sau sẽ không password BIOS nữa. Để “chắc ăn”, bạn nên vào thư mục “DOS” và kích hoạt file cmospwd.exe để thử lại một lần nữa.
3. Tháo hẳn cục pin mainboard để xóa hoàn toàn bộ nhớ BIOS. Đây là thao tác tác động vào phần cứng để xóa hoàn toàn bộ nhớ BIOS được xem là hiệu quả nhất, nếu “gan” một chút thì ai cũng có thể làm được. Ban đầu bạn phải tháo thùng máy ra -> Quan sát thật kỹ trên bản mạch máy tính để tìm ra một viên pin có đường kính cỡ như một đồng xu 200 đồng được gắn trong một ô hình tròn vừa khít với viên pin. Tìm được viên pin này thực ra cũng không khó lắm -> Quan sát kỹ và tháo viên pin ra bằng cách bấm vào cái “jumper” như hình minh họa -> Lấy pin ra và chờ khoảng 30 phút cho “chắc ăn”, tức đảm bảo cho mọi dữ liệu lưu trong BIOS sẽ “bay hơi” hết -> sau đó gắn vào đúng như hình minh họa. Khi khởi động lại máy tính thì BIOS sẽ tự động trả về mọi thứ đúng như mặc định ban đầu và dĩ nhiên password cũng sẽ biến mất.
Đảm bảo rằng đa số trường hợp tháo pin ra đều thành công còn nếu khi gắn pin vào mà password vẫn còn nguyên thì bạn lại phải tháo ra và chờ đợi thời gian “bay hơi” lâu hơn nữa, có thể là cả ngày.
Tìm hiểu về phát sóng qua vệ tinh (Satellite Radio) Hầu hết các tín hiệu vô tuyến chỉ có thể truyền khoảng 30 đến 40 dặm từ trạm vô tuyến. Việc phải thay đổi trạm nhiều lần khi truyền trên khoảng cách dài qua nhiều khu vực sẽ làm cho tín hiệu bị “fade out” hoặc “fade in”. Ngày nay một trạm vô tuyến có thể phát tín hiệu đi hơn 22.000 dặm mà tín hiệu phía đầu thu vẫn rõ nhờ việc phát sóng qua vệ tinh.Trạm vệ tinh là một ý tưởng đã tồn tại gần 10 năm nay. Năm 1992, Uỷ ban thông tin liên bang Mỹ US.FCC (Federal Communication Commision) tìm ra một phổ trong dải tần S (2,3 GHz) cho việc khai thác trên toàn cầu của vệ tinh dựa trên dịch vụ vô tuyến âm thanh số DARS (Digital Audio Radio Service). Chỉ có bốn công ty được cung cấp bản quyền để khai thác trên băng tần này và FCC đã cấp bản quyền cho hai trong số các công ty đó vào năm 1997. CD Radio (ngày nay là Sirius Satellite Radio) và American Mobile Radio (bây giờ là XM Satellite Radio) đã trả hơn 80 triệu đôla cho mỗi dải trên băng tần S cho việc truyền dẫn vệ tinh số.Hiện nay có ba nhà khai thác đang trong giai đoạn phát triển khác nhau: Sirius Satellite Radio hiện đang hoạt động tại Mỹ từ ngày 1.6.2002 XM Satellite Radio khởi đầu với dịch vụ thương mại được giới hạn trong nước Mỹ vào ngày 25.12.2001 WorldSpace đang khai thác tại châu Phi và châu Á và sắp tới sẽ bắt đầu tại Nam Mỹ. Mỗi một công ty có kế hoạch khác nhau cho việc quảng bá nhưng hệ thống có những phần giống nhau. Các thành phần chính của hệ thống vô tuyến vệ tinh gồm:Satellite (Vệ tinh) Ground Repeater (Trạm lặp mặt đất) Radio Receiver (Trạm nhận)XM Radio sử dụng hai vệ tinh Boeing HS702 được đặt song song với vệ tinh địa tĩnh học, một cái chếch 85 độ kinh tây và cái kia chếch 115 độ. Trạm địa tĩnh mặt đất (GEO) cách trái đất khoảng 22.223 dặm (35.764km). Hầu hết các trạm vệ tinh được sử dụng làm vệ tinh thông tin. Vệ tinh XM đầu tiên có tên “Rock” được đưa vào hoạt động vào ngày 18.3.2001 trong khi vệ tinh tiếp theo “Roll” hoạt động ngày 8.5.2001. XM Radio có vệ tinh HS-702 thứ 3 trên mặt đất được sử dụng trong trường hợp một trong hai vệ tinh trên bị lỗi. Trạm mặt đất XM phát một tín hiệu tới hai vệ tinh GEO, vệ tinh này sẽ phát tín hiệu trở lại với trạm nhận trên mặt đất. Trạm nhận được lập chương trình để nhận và khôi phục tín hiệu dữ liệu số. Trạm này gồm 100 kênh Audio số, ngoài tín hiệu âm thanh được mã hoá, các tín hiệu này còn bao gồm cả thông tin về quảng bá. Ở trong khu vực thành phố các toà nhà có thể gây trở ngại cho các tín hiệu vệ tinh, hệ thống quảng bá của XM được hỗ trợ bởi các trạm phát mặt đất. Mỗi một trạm nhận gồm một Chipset của riêng nó. Chipset bao gồm hai mạch tích hợp được thiết kế bởi STMicroelectronic. Chỉ 9,99 đôla trong một tháng, thuê bao có thể nhận tín hiệu XM. Với giá đó người nghe có thể nhận tới 100 kênh ca nhạc, hội thoại, tin tức... Rất nhiều kênh trong kênh đó không mang tính thương mại. Không giống như XM, Sirius không sử dụng vệ tinh GEO. Thay thế vào đó là ba vệ tinh SS/L-1300 định dạng chòm sao vệ tinh hình elip. Sirius nói rằng theo đường dẫn elip của chòm sao vệ tinh này, mỗi vệ tinh dành khoảng 16 giờ một ngày qua toàn bộ lãnh thổ hợp chủng quốc Hoa Kỳ và có ít nhất một vệ tinh qua thành phố trong mọi thời điểm. Sirius hoàn thành chòm sao ba vệ tinh vào ngày 30.11.2000. Vệ tinh thứ tư trên mặt đất sẵn sàng hoạt động nếu bất kỳ cái nào trong ba vệ tinh trên gặp vấn đề. Hệ thống Sirius giống như XM. Chương trình được đặt sẵn để xác định vệ tinh nào trong trong 3 vệ tinh phát tín hiệu đến trái đất nơi mà trạm nhận bắt được một trong các kênh tín hiệu. Tín hiệu được khôi phục tại các trạm lặp mặt đất cho người nghe trong khu vực thành phố vì ở đây tín hiệu vệ tinh có thể bị ngắt. Trạm nhận của Sirius bao gồm hai phần: khối ăngten và khối nhận. Bên trong của khối nhận là một Chipset bao gồm tám Chip đơn. Chipset ngay lập tức chuyển tín hiệu từ 2.3 GHz thành tần số thấp. WorldSpace đứng đầu trong nghành công nghiệp vệ tinh. WorldSpace đã đưa hai trong ba vệ tinh là AfriStar và AsiaStar lên quỹ đạo địa tĩnh trước khi hai công ty kia đưa vệ tinh đầu tiên của họ lên. AfriStar và AsiaStar được bắt đầu khai thác vào năm 1998 và 2000. AmeriStar cung cấp dịch vụ cho khu vực Nam Mỹ và một phần của Mexico. Mỗi một vệ tinh phát ba tín hiệu mang hơn 40 kênh chương trình phủ lên 3 khu vực thông tin, mỗi khu vực rộng khoảng 14 triệu km vuôngMỗi một vệ tinh phân hơn 50 kênh cho các chương trình Multimedia và Audio qua dải tần số 1.467 tới 1.492 MHz trong phổ của băng tần L là vị trí được xác định cho Audio số. WorldSpace truyền tín hiệu của họ tới một trong ba vệ tinh qua một Hub trung tâm hoặc bộ Feeder riêng để kết nối tới một trạm. Sau đó tín hiệu sẽ được phát từ một, hai hay cả ba vệ tinh. Trạm nhận trên mặt đất sẽ nhận tín hiệu và cung cấp tín hiệu âm thanh qua một ăngten. Vệ ting WorldSpace nhận dữ liệu với tốc độ 128 Kbps. Trạm nhận sử dụng Chipset StarMan được sản xuất bởi STMicroelectronic để nhận tín hiệu từ vệ tinh.
Ngày nay hầu hết các máy tính đều được trang bị một hoặc nhiều cổng USB (Universal Serial Bus). Các cổng USB (USB connector) giúp người sử dụng gắn mọi thiết bị như chuột, máy in với máy tính nhanh và dễ dàng hơn. Do các hệ điều hành đều hỗ trợ USB nên việc cài đặt các thiết bị thật sự nhanh về dễ dàng.So với cách kết nối các thiết bị với máy tính dùng cổng song song (Parallel Port), dùng cổng nối tiếp (Serial Port) hay dùng các Card đặc biệt được thiết kế cài đặt sẵn bên trong máy tính thì USB nhanh hơn nhiều. Với các máy tính được sản xuất vài năm trước đây, các kết nối từ thiết bị ngoại vi tới máy tính luôn làm người sử dụng đau đầu và vấn đề này đã được USB cố gắng giải quyết:Máy in được nối với máy tính qua cổng song song trong khi hầu hết các máy tính chỉ được trang bị một cổng này. Sẽ rất khó khăn nếu sử dụng thêm ổ Zip, luôn đòi hỏi tốc độ kết nối cao với máy tính và cần thiết phải dùng cổng song song.Modem được nối với máy tính qua cổng nối tiếp giống như một vài dạng thiết bị khác như Digital Camera, Palm Pilots trong khi mỗi máy tính thường chỉ có hai cổng nối tiếp và chúng rất chậm. Các thiết bị đòi hỏi các kết nối nhanh hơn như các Card đặc biệt được cắm trực tiếp vào khe cắm (Slot) trên bo mạch. Thực tế số lượng các khe cắm (Slot) là có hạn và cần phải cài đặt các phần mềm cho thiết bị này. Mục đích của USB là giải quyết các vấn đề của người sử dụng khi các cổng kết nối trên không hiệu quả. USB cung cấp cho người sử dụng khả năng kết nối chuẩn, dễ dàng với 127 thiết bị trên cùng một máy tính. Mọi thiết bị ngoại vi hiện nay đều có thể kết nối trên cùng một phiên bản USB chẳng hạn như: máy in, máy quét ảnh, chuột, Joystick, Digital Camera, Webcam, Modem, loa, điện thoại, Network Connection, thiết bị lưu trữ thông tin (ổ Zip)...Việc nối một thiết bị với máy tính qua USB hết sức đơn giản, chỉ việc cắm các đầu nối của thiết bị với các cổng USB trên máy tính. Nếu thiết bị được kết nối với máy tính lần đầu, hệ điều hành sẽ tự động dò tìm và yêu cầu nạp đĩa Driver. Với thiết bị đã được cài đặt, máy tính tự động kích hoạt và kết nối với thiết bị. Các thiết bị kết nối qua USB có thể thiết lập hay ngắt kết nối bất kỳ lúc nào. Nhiều loại thiết bị USB được chế tạo liền với cáp nối với hai kiểu đầu nối “A Connection” và “B Connection”. Chuẩn USB sử dụng “A Connection” và “B Connection” trong hai trường hợp cụ thể sau:Đầu nối “B Connection” dùng trong “Downstream” và nối các thiết bị đơn lẻ với máy tính. Đầu nối “B Connection” dùng trong “Downstream” và nối các thiết bị đơn lẻ với máy tính.Thông thường các máy tính hiện nay chỉ có một hoặc hai khe cắm USB (USB Socket). Ngày nay với đa số các thiết bị đều sử dụng USB, máy tính rất dễ bị thiếu khe cắm. Ví dụ, trên máy tính có các thiết bị như: máy in, máy quét, Webcam, Network Connection sử dụng USB trong khi máy tính chỉ có một cổng USB (USB Connector).
Để giải quyết vấn đề này, chỉ cần lắp thêm một USB Hub. Chuẩn USB hỗ trợ tới 127 thiết bị và USB Hub là một trong số này. Các Hub này thường có bốn cổng nhưng cũng có thể có nhiều hơn tuỳ thuộc từng loại. Chỉ cần cắm USB Hub vào máy tính sau đó cắm các thiết bị hoặc Hub khác vào các cổng trên USB Hub. Hub có hai loại: loại có cung cấp nguồn và không cung cấp nguồn điện cho thiết bị cắm vào Hub. Chuẩn USB cho phép các thiết bị sử dụng nguồn điện từ cổng USB. Các thiết bị như máy in, máy quét sử dụng nguồn điện riêng cung cấp từ bộ nguồn (Power Supply) của chúng trong khi các thiết bị sử dụng rất ít điện năng như chuột, Digital Camera lại dùng điện năng (khoảng 500mA - 5V) từ Bus. Thông thường các máy tính hiện nay chỉ có một hoặc hai khe cắm USB (USB Socket). Ngày nay với đa số các thiết bị đều sử dụng USB, máy tính rất dễ bị thiếu khe cắm. Ví dụ, trên máy tính có các thiết bị như: máy in, máy quét, Webcam, Network Connection sử dụng USB trong khi máy tính chỉ có một cổng USB (USB Connector). Để giải quyết vấn đề này, chỉ cần lắp thêm một USB Hub. Chuẩn USB hỗ trợ tới 127 thiết bị và USB Hub là một trong số này. Các Hub này thường có bốn cổng nhưng cũng có thể có nhiều hơn tuỳ thuộc từng loại. Chỉ cần cắm USB Hub vào máy tính sau đó cắm các thiết bị hoặc Hub khác vào các cổng trên USB Hub. Hub có hai loại: loại có cung cấp nguồn và không cung cấp nguồn điện cho thiết bị cắm vào Hub. Chuẩn USB cho phép các thiết bị sử dụng nguồn điện từ cổng USB. Các thiết bị như máy in, máy quét sử dụng nguồn điện riêng cung cấp từ bộ nguồn (Power Supply) của chúng trong khi các thiết bị sử dụng rất ít điện năng như chuột, Digital Camera lại dùng điện năng (khoảng 500mA - 5V) từ Bus. Nếu máy tính kết nối với nhiều thiết bị sử dụng nguồn điện riêng (Máy in, máy quét...) thì USB Hub không cần thiết phải là loại cung cấp được nguồn điện. Nếu máy tính kết nối với nhiều thiết bị không có nguồn điện riêng (Chuột, Digital Camera) thì Hub nhất thiết phải có khả năng cung cấp nguồn cho các thiết bị này. Trên Hub có một bộ phận như biến thế để cung cấp dòng điện tới Bus và làm máy tính không bị quá tải. Các đặc điểm của USB bao gồm:Máy tính hoạt động như một Host. Có tới 127 thiết bị có thể kết nối vào máy tính bao gồm cả nối trực tiếp hay qua USB Hub. Các cáp USB (USB Cable) của từng thiết bị có thể dài tới 5m hay 30m với Hub. Chuẩn USB2.x cho phép truyền dữ liệu trên Bus tới tốc độ 480 Mbps. Một cáp USB có hai dây cung cấp điện và một đôi dây xoắn truyền dữ liệu. Trên dây cung cấp điện năng, điện áp có thể lên tới 500mA - 5V. Các thiết bị sử dụng ít điện năng được cung cấp điện năng trực tiếp từ Bus. Các Hub có thể cung cấp điện năng cho các thiết bị nối với nó từ nguồn điện riêng của chúng. Các thiết bị USB có khả năng hoán đổi nhanh, có thể cắm vào hay rút ra khỏi Bus bất kỳ lúc nào. Các thiết bị USB có thể đặt ở chế độ “ngủ” (Sleep Mode) khi máy tính chuyển sang chế độ Power-Saving. Các thiết bị nối với cổng USB dùng cáp USB để truyền tải dòng điện hay dữ liệu. Khi máy tính hoạt động, nó truy vấn tới tất cả các thiết bị nối vào Bus và gán cho mỗi thiết bị một địa chỉ. Quá trình này được gọi là liệt kê các thiết bị. Máy tính cũng sẽ tìm ra cách truyền dữ liệu của từng thiết bị:Interrupt: Các thiết bị như bàn phím gửi lượng dữ liệu rất nhỏ và ngắt đoạn sẽ được chọn kiểu Interrupt Mode. Bulk: Các thiết bị như máy in thường nhận những gói dữ liệu lớn, dùng kiểu Bulk Transfer Mode. Từng đoạn dữ liệu (64 Byte) được gửi tới máy in và được kiểm tra tính chính xác. Isochronous: Các thiết bị truyền dữ liệu theo dạng Stream như loa sẽ dùng Isochronous Mode. Dữ liệu tức thời được truyền giữa thiết bị và máy tính và không có cơ chế sửa lỗi. Máy tính cũng có thể gửi đi các lệnh hay truy vấn các thông số với các gói Control Packet. Khi một thiết bị được máy tính liệt kê, máy tính sẽ giành tới 90% băng thông (Bandwidth) phục vụ các yêu cầu của các thiết bị kiểu Interrupt và Isochronous. Sau khi dùng 90% của 480 Mbps băng thông, máy tính sẽ từ chối các truy nhập của bất kỳ thiết bị kiểu Interrupt hay Isochronous nào khác. Các Control Packet và thiết bị kiểu Bulk Transfer sẽ sử dụng khoảng 10% băng thông còn lại. USB phân chia băng thông thành các Frame và máy tính sẽ điều khiển các Frame này. Mỗi Frame chứa 1.500 Byte và Frame mới được sinh ra sau mỗi mili giây. Trong một Frame, các thiết bị kiểu Isochronous và Interrupt phân chia thành các khe nên chúng đảm bảo được băng thông cần thiết trong khi các thiết bị Bulk Transfer và Control Packet sử dụng phần băng thông còn lại. Chuẩn USB2.0 xuất hiện vào tháng Tư năm 2000 và được nâng cấp từ USB1.1. USB2.0 cung cấp thêm băng thông cho các ứng dụng Multimedia và lưu trữ có tốc độ truyền dữ liệu lớn gấp 40 lần so với USB1.1. Để việc chuyển từ chuẩn USB1.1 sang USB2.0 thuận tiện cho cả người sử dụng và nhà sản xuất, USB2.0 được thiết kế hoàn toàn tương thích và làm việc được với cáp cũng như cổng nối của thiết bị USB nguyên thuỷ. USB2.0 hỗ trợ ba chế độ truyền dữ liệu: 1,5Mbps, 12Mbps và 480Mbps. Ngoài ra USB2.0 hỗ trợ các thiết bị băng thông thấp như bàn phím và chuột cũng như các thiết bị băng thông lớn như Webcam, máy in, máy quét ảnh và hệ thống lưu trữ.
Tìm hiểu về BIOS Một trong số các thiết bị sử dụng dạng bộ nhớ kiểu Flash Memory là hệ thống vào/ra cơ sở trong máy tính, nó được biết dưới tên gọi BIOS (Basic Input Output System). Trong máy tính BIOS đảm bảo cho các thành phần khác như bộ xử lý, các thiết bị phần cứng, cổng và các chức năng CPU hoạt động nhịp nhàng.Mọi máy tính cá nhân đều có một bộ vi xử lý (Microprocessor) bên trong CPU (Central Processing Unit). Bộ vi xử lý là một thiết bị phần cứng, nó thực hiện các tập hợp lệnh mà ta thường gọi là phần mềm. Chúng ta đã quen thuộc với hai dạng phần mềm khác nhau:Hệ điều hành: Cung cấp các dịch vụ cho các ứng dụng chạy trên máy tính và cung cấp giao diện cơ sở cho máy tính. Windows và Linux là những ví dụ về hệ điều hành. Chương trình ứng dụng: là tập hợp các phần mềm được lập trình để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Trên máy tính, người sử dụng có thể chạy các chương trình ứng dụng như trình duyệt (Browser), xử lý văn bản, E-mail...sau khi đã cài đặt trên máy. Như vậy BIOS là dạng phần mềm thứ ba mà mọi máy tính đều cần để vận hành. Các phần mềm BIOS có một số vai trò khác nhau nhưng vai trò quan trọng nhất của nó là nạp hệ điều hành. Khi máy tính được bật lên, bộ vi xử lý sẽ thực thi những lệnh đầu tiên và các lệnh này phải được đọc ra từ đâu đó. Nó không thể đọc ra từ hệ điều hành vì hệ điều hành được lưu trên đĩa cứng và bộ xử lý không thể thực thi được nếu không được hướng dẫn. BIOS sẽ cung cấp những lệnh này. Các nhiệm vụ khác mà BIOS thực hiện gồm:Tự kiểm tra POST (Power-on Self Test) tất cả các thiết bị phần cứng khác nhau trên hệ thống để đảm bảo mọi thứ đều làm việc ổn định. Kích hoạt BIOS Chip trên các loại Card cài trên máy tính như SCSI hay Graphic Card. Các Card này thường được cài sẵn các BIOS Chip trên nó. Cung cấp các tập tin thực thi mà hệ điều hành dùng để giao tiếp với các thiết bị phần cứng. Chúng quản lý các thiết bị như bàn phím, màn hình, cổng khi máy tính khởi động. BIOS là chương trình phần mềm đặc biệt dùng để giao tiếp giữa các thành phần phần cứng cao cấp trong máy tính với hệ điều hành. BIOS thường được lưu trên Chip nhớ kiểu Flash Memory trên bảng mạch chính (Motherboard) nhưng đôi khi nó cũng có thể là một dạng khác của ROM. Khi máy tính được bật lên, BIOS sẽ thực thi các công việc theo thứ tự liên tục sau đây:Kiểm tra các thông số cài đặt của người sử dụng lưu trong CMOS. Nạp bộ điều khiển ngắt và các Driver của thiết bị. Khởi tạo các Register và bộ quản lý nguồn Power Management. Kiểm tra các thiết bị phần cứng với POST.Nạp các cấu hình hệ thống. Quyết định xem thiết bị nào có thể khởi động. Khởi tạo quá trình tự khởi động.
Đầu tiên BIOS kiểm tra các thông tin được lưu trên phần bộ nhớ rất nhỏ (64 bytes) trên CMOS Chip (Complementary Metal Oxide Semiconductor). Các cài đặt trong CMOS sẽ cung cấp những thông tin chi tiết cho hệ thống. BIOS sử dụng những thông tin này để thay đổi hay bổ xung các chương trình chuẩn mà nó phải thực hiện. Bộ điều khiển ngắt (Interrupt Handlers) là tập hợp các chương trình nhỏ hoạt động như bộ phận thông dịch truyền tin giữa các thành phần phần cứng và hệ điều hành. Chẳng hạn như khi người sử dụng nhấn một phím trên bàn phím, tín hiệu sẽ được gửi đến bộ điều khiển ngắt bàn phím để rồi nó dược thông báo tới CPU và chuyển tới hệ điều hành. Các Driver của thiết bị cũng là các phần mềm để nhận dạng các thành phần phần cứng như bàn phím, chuột, ổ đĩa. Từ đó BIOS liên tục chặn các tín hiệu đến và đi từ các thiết bị phần cứng, nó được sao chép (Copy) vào RAM để tăng tốc độ xử lý. Bất kỳ lúc nào khi người sử dụng bật máy tính lên, điều đầu tiên họ sẽ nhận thấy sự hoạt động của chương trình BIOS. Trên màn hình máy tính, BIOS sẽ đưa ra các thông báo dưới dạng text về độ lớn của bộ nhớ, kiểu của ổ đĩa cứng... Nhìn chung BIOS đã thực thi một khối lượng đáng kể công việc trong quá trình khởi động. Sau khi kiểm tra CMOS Setup và nạp các bộ điều khiển ngắt, BIOS quyết định Video Card có được kích hoạt hay không. Hầu hết các loại Video Card đều có một BIOS nhỏ trên nó để gán các giá trị cho bộ nhớ và bộ xử lý ảnh trên Card. Nếu không được kích hoạt thì BIOS chỉ nạp các thông tin về Driver của màn hình lưu trên các bộ nhớ ROM khác trên Motherboard. Tiếp theo BIOS kiểm tra xem máy tính khởi động ở hình thức Cold-boot hay Reboot. Để làm được điều này, nó chỉ cần kiểm tra ở vùng bộ nhớ có địa chỉ 0000:0472. Nếu máy tính được Reboot thì vùng nhớ này sẽ có giá trị 1234h, khi đó BIOS sẽ bỏ qua giai đoạn POST. Các giá trị khác của vùng nhớ trên chỉ ra rằng máy tính khởi động với Cold-boot. Khi máy tính thực hiện Cold-boot, BIOS kiểm tra RAM bằng cách thử đọc/ghi trên từng vùng nhớ. Nó kiểm tra các cổng PS/2 hoặc USB để tìm xem có các thiết bị bàn phím hay chuột không. Sau đó nó tiếp tục kiểm tra xem có PCI Bus nào không, nếu có nó sẽ kiểm tra tất cả các PCI Card. Nếu phát hiện ra bất kỳ lỗi nào trong quá trình POST, BIOS sẽ thông báo bằng các tiếng “Bip” liên tục hoặc thể hiện trên màn hình. Lỗi xảy ra trong giai đoạn này có nguyên nhân chắc chắn là do các thiết bị phần cứng. BIOS tiếp tục thông báo các thông tin chi tiết về hệ thống như: bộ vi xử lý, các ổ đĩa, bộ nhớ, màn hình. Mọi thiết bị đặc biệt như SCSI Adaptor (Small Computer System Interface) trong khi khởi động đều được BIOS thông báo trạng thái trên màn hình. Đôi khi máy tính cũng cần phải nâng cấp (Update) lại BIOS của nó nhất là đối với các máy tính cũ. Với các thiết bị mới và các chuẩn mới, BIOS cần thay đổi theo để phù hợp. Do BIOS được lưu trong ROM nên việc thay đổi nó khó hơn việc nâng cấp các phần mềm thông thường. Để làm được việc này cần có một chương trình đặc biệt từ các nhà sản xuất máy tính hoặc nhà sản xuất BIOS. Giống như việc thay đổi các thông số trong CMOS, phải hết sức cẩn thận khi nâng cấp BIOS. Phải chắc chắn rằng bản nâng cấp BIOS tương thích với máy tính nếu không BIOS sẽ không thể hoạt động và khi đó sẽ không thể khởi động được máy tính.
Được đánh giá là một trong những biểu tượng của hải quân Mỹ, tầu sân bay được ví như một hòn đảo di động và có khả năng tham chiến với mức độ cơ động cao. Chiều dài mỗi tàu sân bay vào khoảng 333m và có thể đáp ứng được yêu cầu hạ cánh và cất cánh của các máy bay chỉ trong vòng 25 giây. Chúng ta sẽ tìm hiểu về Nimizt, một trong số các lớp tầu sân bay hiện đại nhất hiện nay của hải quân Mỹ.Về cơ bản, một tầu sân bay có chức năng chính là làm nơi đậu các máy bay và có một hệ thống đường băng cho phép máy bay hạ cánh và cất cánh thuận lợi. Trong cuộc chiến 10 năm diễn ra từ năm 1903, Mỹ cùng với Anh và Đức đã thử nghiệm các tầu chiến hiện đại nhất của mình lúc bấy giờ và hiểu ra rằng cần phải phát triển một dạng tầu cỡ lớn có khả năng hoạt động rộng và chuyên trở được máy bay chiến đấu đến bất cứ nơi nào trên thế giới. Trong thế chiến thứ nhất, tàu sân bay không có vai trò quan trọng lắm nhưng trong thế chiến thứ hai nó trở thành trung tâm chỉ huy về không quân. Trong trận Trân Châu cảng năm 1941, Nhật bản đã sử dụng các máy bay tấn công từ các tàu sân bay. Ngày nay các siêu tàu sân bay là thành phần chủ yếu trong các chiến dịch quân sự do quân đội Mỹ thực hiện. Mặc dù không được trang bị các loại vũ khí đặc biệt nhưng sức mạnh của tàu sân bay với ưu thế về không lực có thể tạo ra sự khác biệt giữa chiến thắng và thất bại. Một trong số những trở ngại chính của việc sử dụng không lực trong chiến tranh là tạo được các điểm đỗ cho máy bay. Để xây dựng và duy trì một căn cứ không quân ở nước ngoài, nước Mỹ hay bất cứ quốc gia nào phải đạt được những thoả thuận với quốc gia đó. Điều này thường cực kỳ khó khăn do nhiều điều kiện, đặc biệt ở một số khu vực trên thế giới. Theo luật lãnh hải của Liên hiệp quốc, tầu sân bay và các tầu chiến được thừa nhận như những sức mạnh tối thượng trên vùng biển có quyền tới mọi vùng lãnh hải quốc tế. Chúng không được tới quá gần các vùng lãnh hải của bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên khi quân đội Mỹ có những thoả thuận đặc biệt về việc xây dựng căn cứ quân sự trên bộ với quốc gia nào đó, tầu sân bay cùng với các tầu chiến khác trong hạm đội làm nhiệm vụ bảo vệ (thường có từ 6 đến 8 chiếc) có thể đến lãnh hải nước đó. Các máy bay ném bom, máy bay chiến đấu và máy bay khác sau khi thực hiện nhiệm vụ sẽ quay trở về tầu sân bay. Trong mọi trường hợp, hải quân đều có khả năng cung cấp nhiên liệu, đạn dược, bảo dưỡng sửa chữa các hỏng hóc cho các loại máy bay. Tầu sân bay có thể di chuyển với tốc độ tối đa 35 knot (40 dặm/h, 64 km/h) và có khả năng đi tới bất cứ đâu trên biển trong vài tuần. Hiện tại hải quân mỹ có sáu hạm đội thường trực sẫn sàng di chuyển mọi lúc mọi nơi cần thiết. Với hàng tỉ bộ phận, siêu tầu sân bay lớp Nimizt là một trong những cỗ máy phức tạp nhất trên thế giới. Nhưng nếu xét ở mức độ khái niệm nó lại hết sức đơn giản. Nó được thiết kế để thực hiện bốn công việc cơ bản sau:Vận chuyển các loại máy bay trên biển. Cho phép máy bay cất cánh và hạ cánh. Hoạt động như một trung tâm chỉ huy từ xa cho các hoạt động quân sự. Là nơi ở và sinh hoạt cho thuỷ thủ đoàn. Để hoàn thành những nhiệm vụ này, tầu sân bay cần phải kết hợp nhiều yếu tố của một tầu thuỷ, một căn cứ quân sự, một thành phố thu nhỏ. Trong đó nó cần phải có:Flight-deck (đường băng): bề mặt phẳng và rộng phía trên cùng của tầu làm nơi máy bay cất cánh và hạ cánh. Hangar-deck (khoang chứa máy bay): boong phía dưới Flight-deck để xếp và chứa các máy bay khi chưa sử dụng.Island (tháp chỉ huy điều hành): tháp được xây dựng phía trên cùng của Flight-deck để chỉ huy việc hoạt động của tầu và máy bay lúc cất hạ cánh. Phòng làm việc và sinh hoạt của thuỷ thủ đoàn. Nhà máy điện và hệ thống đẩy để tầu di chuyển và cung cấp điện cho toàn bộ tầu. Các hệ thống khác để cung cấp thức ăn, nước và giải quyết mọi thứ hệt như một thành phố thực thụ như: nước thải, rác, thư từ, radio, TV, báo chí... Thân tầu, phần chính của tầu nổi trên mặt nước. Thân tầu được làm bằng những lá thép siêu cứng có độ dày tới vài inch. Vỏ tầu có khả năng bảo vệ hiệu quả trước các cuộc tấn công và phá hoại. Cấu trúc của tầu chia làm ba tầng rõ rệt theo chiều ngang bên trong vỏ tầu là: sống tầu (trục kim loại ở đáy tầu), Flight-deck và Hangar. Phần vỏ tầu nằm dưới mặt nước thu nhỏ hơn so với phần nổi trên mặt nước. Phần thấp hơn này lại chia thành hai phần với hai lớp lá thép phân cánh nhau bởi một khoảng trống. Cấu trúc này giúp tăng khả năng bảo vệ trước các tấn công bằng ngư lôi hay tai nạn trên biển. Nếu bị tấn công vào phần đáy tầu, lớp bên ngoài bị thủng nhưng lớp thứ hai sẽ bảo vệ không cho nước chảy vào trongTừ năm 1950, hầu hết các tầu sân bay của hải quân Mỹ đều được chế tạo và đóng tại hãng Northrop Grumman, Virginia. Để làm cho các công đoạn đóng tầu trở nên hiệu quả, mỗi tầu sân bay được lắp ráp từ những modul riêng gọi là các Superlift. Mỗi modul này có thể chứa nhiều ngăn, mở rộng nhiều khoang và nặng từ 8-900 tấn. Một tầu sân bay thường được chế tạo với khoảng 200 modul như vậy.
Trước khi lắp ráp các modul, các modul được cẩu lên và định vị theo phương thẳng đứng. Sau đó hệ thống cẩu sẽ nâng modul này và đặt vào vị trí theo thiết kế, sau đó các modul sẽ được hàn với nhau. Tháp chỉ huy điều hành là modul cuối cùng được lắp ráp, nó nặng tới 575 tấn và được đặt trên mặt Flight-deck. Giống như các loại tầu thuỷ khác, tầu sân bay chuyển động bằng lực đẩy với các động cơ đẩy quay tròn. Bốn cánh quạt của động cơ làm bằng đồng được nối với tua-bin hoạt động bằng năng lượng hạt nhân.Mỗi tầu sân bay mang hai lò phản ứng hạt nhân đặt tại khu vực giữa tầu và được bảo vệ nghiêm ngặt. Năng lượng được giải phóng sẽ tạo ra áp suất cao làm quay các cánh quạt trong tua-bin. Nó tạo ra lực đẩy làm cho tầu chuyển động. Thông thường công suất của động cơ trên tầu sân bay đạt tới 280.000 sức ngựa. Bốn tua-bin trên tầu cũng đồng thời sản sinh ra điện năng cung cấp cho hệ thống điện trên tầu. Ngoài ra một nhà máy lọc nước có khả năng khử độ mặn của nước biển có thể cung cấp khoảng 1,5 triệu lít nước ngọt mỗi ngày, một con số đủ đáp ứng cho khoảng 2.000 hộ gia đình sử dụng. Không như các kiểu tầu thuỷ chạy bằng hơi nước, tàu sân bay sử dụng năng lượng hạt nhân không nên cần phải nạp nhiên liệu thường xuyên. Trên thực tế nó có thể sử dụng liên tục 15-20 năm mà không cần nạp nhiên liệu. Bù lại nó phải có nguồn cung cấp năng lượng đắt tiền hơn, quá trình nạp nhiên liệu phức tạp hơn và phải chịu các nguy cơ dò rỉ hạt nhân. Để giảm thiểu các thảm hoạ, các lò phản ứng hạt nhân trên tầu sân bay phải được thiết kế với phần bảo vệ hết sức đặc biệt và phải được theo dõi chặt chẽ sát xao. Khu vực Flight-deck trên tầu sân bay là một môi trường làm việc nguy hiểm và cũng nhộn nhịp nhất. Flight-deck có vẻ giống như một đường băng thông thường trên mặt đất nhưng thực tế nó rất khác do bị bó buộc trong một không gian nhỏ hơn. Khi tầu sân bay đã sẵn sàng, các máy bay cất và hạ cánh rất nhanh trong một không gian bị giới hạn. Lúc này chỉ một thoáng bất cẩn, động cơ phản lực của máy bay có thể hút hay đẩy bất kỳ ai văng xuống biển. Người chịu nguy hiểm nhất trên Flight-deck tầu sân bay là những người trong đội trợ giúp cho máy bay cất hạ cánh. Do đường băng không đủ dài để các máy bay quân sự cất và hạ cánh một cách bình thường nên họ phải túc trực với các máy móc trợ giúp. Để cất cánh, máy bay phải tạo ra được một luồng không khí chuyển động trên cánh để tạo ra lực nâng. Để máy bay cất cánh dễ dàng, tầu sân bay có thể hỗ trợ tạo ra lực đẩy không khí trên mặt đường băng theo hướng máy bay cất cánh. Luồng không khí chuyển động trên cánh máy bay này sẽ làm giảm tốc độ cất cánh tối thiểu của máy bay. Việc tạo ra luồng không khí trên mặt Flight-deck rất quan trọng, thiết bị trợ giúp chính cho việc cất cánh là bốn máy phóng (Catapult) giống như kiểu súng bắn thun hình chữ Y trên tầu sân bay. Chúng sẽ giúp máy bay tăng tốc độ cực nhanh chỉ với một khoảng cách ngắn. Mỗi Catapult gồm có hai Piston gắn với hai xi-lanh song song nằm dưới Flight-deck, mỗi chiếc có chiều dài bằng cả một sân vận động. Mỗi Piston có một quai bằng kim loại ở phía trên đỉnh của nó và thò ra ngoài qua một khe hẹp dọc theo đỉnh của mỗi xi-lanh. Hai quai này kéo dài tới một vành bằng cao su phía trên Flight-deck. Để chuẩn bị cất cánh, thuỷ thủ đoàn sẽ đưa máy bay vị trí sát Catapult và làm các thao tác để nối ghép các thiết bị Catapult với các vị trí tương ứng trên thân máy bay. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, bộ phận làm lệch phản lực trên máy bay (Jet Blast Deflector - JBD) sẽ được nâng lên. Sau mọi kiểm tra cần thiết cuối cùng, người điều khiển Catapult kiểm tra các thông số và mở van để xi-lanh của nó được nén với áp suất cực cao từ lò phản ứng hạt nhân trên tầu. Áp suất này đảm bảo lực cần thiết để đẩy Piston với tốc độ rất cao làm máy bay bắn mạnh về phía trước và tạo ra lực nâng cần thiết để cất cánh. Người điều khiển Catapult phải luôn theo dõi mọi chỉ số về áp suất cần thiết để cất cánh và nó thay đổi tuỳ thuộc vào từng loại máy bay và các điều kiện khác trên Flight-deck. Nếu áp suất quá thấp, máy bay sẽ không có đủ tốc độ cần thiết để cất cánh và có thể bị rơi xuống biển. Trường hợp ngược lại, áp suất quá lớn có thể làm gẫy càng máy bay. Hệ thống Catapult có thể đẩy một máy bay có trọng lượng 45.000 pound (20 tấn) lên tới tốc độ 165 dặm một giờ (266 km/h) chỉ trong vòng hai giây. Nếu mọi chuyện đều ổn, tốc độ của máy bay sẽ đủ để tạo ra lực nâng và máy bay cất cánh. Nếu không phi công sẽ phải kích hoạt hệ thống đẩy ghế lái (Ejector Seat) bật ra khỏi máy bay và nhảy dù trước khi máy bay rơi xuống biển. Cất cánh trên tầu sân bay là việc cực khó khănCác tầu sân bay được thiết kế có thể mang tới 70-80 máy bay các loại. Có thể kể ra một số loại máy bay quân sự thường có trên các tầu sân bay như: F/A-18 Hornet, F-14 Tomcat, E-2C Hawkeye, S-3B Viking, EA-6B Prowler, SH-60 Seahawk. Khả năng tác chiến hạm đội với tầu sân bay là trung tâm chỉ huy được đánh giá rất cao với sức mạnh trên không và trên biển.Hạ cánh xuống tầu sân bay là một trong những việc khó nhất mà các phi công phải thực hiện với đường băng trên tàu sân bay chỉ dài khoảng 150m, quá ngắn cho việc hạ cánh thông thường. Để hạ cánh trên Flight-deck, mỗi máy bay cần có một chiếc móc (Tailhook) ở phía đuôi máy bay. Phi công phải làm sao cho móc này vướng vào một trong bốn đoạn cáp hãm (Arresting Wire) cực chắc chế tạo từ loại dây thép siêu bền.
Các Arresting Wire được căng ngang Flight-deck và được gắn vào hai đầu của một xi-lanh sử dụng áp lực nước nằm phía dưới Flight-deck. Nếu Taihook ở phía đuôi máy bay vướng vào một trong số các Arresting Wire, nó sẽ làm căng sợi cáp ra và hệ thống xi-lanh sẽ sinh ra năng lượng để làm máy bay dừng lại. Hệ thống Arresting Wire có khả năng hãm một máy bay nặng 54.000 pound (24,5 tấn) có tốc độ 150 dặm một giờ (241 km/h) chỉ trong hai giây với đoạn đường băng 96m.Có tất cả bốn Arresting Wire được thiết kế song song với nhau cách nhau khoảng 15m để mở rộng khu vực hạ cánh cho phi công. Phi công thường nhắm vào Arresting Wire thứ ba để hạ cánh bởi nó an toàn về hiệu quả nhất. Phi công không bao giờ nhắm vào Arresting Wire đầu tiên vì rất nguy hiểm do nó sát với mạn boong tầu và rất dễ bị đâm vào phía đuôi tầu. Phi công có thể nhắm tới Arresting Wire thứ hai và thứ tư nhưng hạ cánh với Arresting Wire thứ ba là phù hợp nhất. Khi chuẩn bị hạ cánh, phi công cần tiếp cận mặt boong chính xác từ góc phải. Các thao tác hạ cánh bắt đầu khi máy bay lượn theo hình ô van quanh tầu. Trung tâm điều khiển (Air Traffic Control Center) nằm phía dưới boong quyết định cho phép hạ cánh ưu tiên ngay hay không dựa vào chỉ số về mức nhiên liệu của máy bay. Khi hạ cánh, phi công bật hệ thống phanh và hướng mũi máy bay về phía đuôi tầu. Người hướng dẫn hạ cánh (Landing Signal Officer - LSO) sẽ hướng dẫn máy bay qua radio và các đèn báo trên boong. Nếu máy bay hạ cánh thành công, LSO sẽ chiếu đèn xanh để thông báo cho phi công biết mọi thứ đều ổn. Phi công phải nhìn vào hệ thống quang học trợ giúp hạ cánh (Fresnel Lens Optical Landing System) để có được các hướng dẫn, trợ giúp lúc hạ cánh từ LSO. Phi công sẽ nhìn thấy ánh sáng khác nhau từ hệ thống này tuỳ thuộc vào góc độ của máy bay khi tiếp cận với tầu. Nếu máy bay ở phía bên phải, phi công sẽ nhìn thấy ánh sáng mầu hổ phách với một hàng đèn xanh. Nếu ánh sáng hổ phách xuất hiện phía trên dãy đèn xanh tức là máy bay đang bay quá cao. Nếu ánh sáng hổ phách ở phía dưới tức là máy bay đang bay quá thấp, lúc này phi công sẽ thấy đèn đỏ báo. Ngay khi máy bay tiếp cận mặt boong, phi công sẽ đẩy động cơ tới mức tối đa, thay vì đưa về mức thấp để hãm máy bay lại. Điều này có vẻ vô lý, nhưng nếu Tailhook ở phía đuôi máy bay không vướng vào bất cứ Arresting Wire nào thì máy bay vẫn đủ tốc độ để cất cánh lại, tiếp tục bay và tìm cách hạ cánh sau. Sau khi hạ cánh, máy bay được tháo khỏi Arresting Wire và được xích vào phía rìa của đường băng. Các máy bay khi đỗ trên Flight-deck đều được cố định chặt để bảo vệ khỏi các xô lệch khi tầu gặp sóng lớn. Những người phục vụ trên đường băng phải chuẩn bị đối phó với mọi tình huống, đặc biệt khi máy bay bị cháy. Họ được trang bị rất nhiều thiết bị như xe cứu hoả, vòi cứu hoả, bọt cứu hoả. Họ cũng thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ từ phản lực động cơ máy bay. Hệ thống lưới bao xung quanh Flight-deck giúp giảm bớt nguy cơ này. Tuy nhiên họ cũng được trang bị áo phao tự bơm với đèn cứu hộ được kích hoạt ngay khi tiếp xúc với nước. Ngoài ra những người phục vụ trên Flight-deck còn được trang bị mũ bảo hộ có tính năng giảm tối đa tác động của âm thanh. Tháp chỉ huy điều hành - Island của tầu sân bay là trung tâm chỉ huy các hoạt động trên Flight-deck và trên boong tầu. Tháp chỉ huy điều hành cao 46m, rộng khoảng 6m và không chiếm quá nhiều diện tích trên mặt Flight-deck. Nó là nơi cao nhất trên Flight-deck được chia thành nhiều phòng với các mục đích khác nhau. Đỉnh tháp chỉ huy điều hành được trang bị một hệ thống rada và ăng-ten để thu các tín hiệu Rada, tìm các mục tiêu máy bay hay tên lửa của đối phương, thu phát sóng điện thoại, TV qua vệ tinh... Phía dưới là Trung tâm điều khiển bay (Primary Flight Control - Pri-Fly). Tại đây các sĩ quan phụ trách bay (Air Boss) và trợ lý (Mini Boss) trực tiếp điều hành mọi hoạt động của máy bay trên Flight-deck và trong bán kính 5 dặm (8km). Sĩ quan phụ trách bay và trợ lý là những người có rất nhiều kinh nghiệm về hàng không, họ phải điều khiển và theo dõi nhiều mảng thiết bị và máy tính cho mọi hoạt động liên quanPhía dưới nữa là Trung tâm chỉ huy của tầu (Bridge). Thuyền trưởng sẽ điều hành mọi việc tại đây với rất nhiều màn hình xung quanh để quan sát mọi hoạt động của các bộ phận. Thuyền trưởng trực tiếp chỉ huy bộ phận lái điều khiển hướng đi của tầu (Helmsman), bộ phận điều khiển tốc độ của tầu (Lee Helmsman), bộ phận hoa tiêu (Quartermaster of the Watch). Trường hợp thuyền trưởng không có mặt tại Bridge, một sĩ quan khác sẽ làm nhiệm vụ này. Rất nhiều vị thuyền trưởng trên các tầu sân bay nguyên là phi công hải quân bởi vậy họ rất am hiểu về các hoạt động trên Flight-deck. Giống như Pri-Fly, Bridge cũng gồm rất nhiều thiết bị máy tính, màn hình Rada. Phía dưới Bridge là Trung tâm chỉ huy Hạm đội (Flag Bridge) dành riêng cho đô đốc chỉ huy hạm đội. Phía dưới nữa là Trung tâm điều hành đường băng (Flight-deck Control), Trung tâm điều hành không lưu (Carrier Air Traffic Control Center - CATCC), Trung tâm chỉ huy tác chiến (Combat Direction Center). Flight-deck chỉ có khả năng đáp ứng chỗ đỗ cho một số lượng nhỏ máy bay trong khi mỗi tầu sân bay thông thường có 80-100 máy bay. Khi không được sử dụng, hầu hết các máy bay được cất giữ an toàn trong khoang chứa máy bay (Hangar Bay) được coi như một gara của tầu sân bay. Hangar nằm ở lớp boong thứ hai phía dưới Flight-deck. Hangar có kích thước rộng khoảng 34m, dài khoảng 209m và cao khoảng 8m, bằng 2/3 kích thước lòng tầu. Hangar được chia làm bốn khu có thể cất khoảng 60 máy bay, thùng xăng và các thiết bị khác. Xung quanh Hangar có bốn hệ thống thang máy khổng lồ có khả năng nâng mỗi lần hai máy bay nặng tới 74.000 pound (34 tấn) với tốc độ nhanh Ở phía cuối Hangar phía đuôi tầu là nơi bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế các hỏng hóc cho máy bay (Aircraft Intermediate Maintenance Division - AIMD). Các tầu sân bay hiện đại đủ rộng để có thể ví như một “thành phố trên biển”. Tầu có khả năng đáp ứng từ 5.000 đến 6.000 người làm việc, nghỉ ngơi, sinh hoạt trên tầu trong vòng bốn tháng. Tuy nhiên có những điểm khác biệt giữa “thành phố trên biển” này với những thành phố thực thụ trên đất liền.
Trên tầu sân bay, mọi điều kiện sinh hoạt bị bó buộc hơn nhiều. Để di chuyển đến một chỗ nào đó, người ta phải vừa đi vừa giữ thăng bằng trên những hành lang hẹp. Gường ngủ rất chật, sắp xếp theo kiểu tầng. Công việc trên tầu cũng đa dạng giống như trên đất liền. Khoảng 2.500 người chuyên phục vụ cho các máy bay, khoảng 3.000 người khác phục vụ cho tầu bao gồm việc điều khiển tầu, chuẩn bị bữa ăn, dọn dẹp, vận hành lò phản ứng hạt nhân...
Trên tầu có mọi thứ phục vụ nhu cầu sống của con người tuy không thực sự tiện lợi cho lắm. Trên tầu có hệ thống bếp và nhà ăn công cộng có thể phục vụ 18 ngàn xuất ăn một ngày. Ngoài ra nó còn có các dịch vụ giặt là, y tế, cửa hàng, ngân hàng, viễn thông...
Tìm hiểu về điện thoại Internet (IP Phone) Nếu thường xuyên phải gọi điện thoại đường dài, đây là cơ hội để bạn sử dụng điện thoại IP. Điện thoại IP sử dụng công nghệ Voice-over IP (VoIP) là cách truyền dẫn các cuộc gọi điện thoại qua mạng dữ liệu như một trong nhiều mạng khác cấu trúc nên mạng Internet. Chúng ta sẽ tìm hiểu về VoIP. Chúng ta sẽ nói về giao thức chính của VoIP, về các dịch vụ khác nhau được cung cấp với chi phí thấp.Chuyển mạch là khái niệm rất cơ bản được sử dụng bởi mạng viễn thông trong hơn 100 năm. Điều gì xảy ra khi một cuộc gọi giữa hai phía được thiết lập, kết nối được duy trì suốt cuộc gọi. Do bạn kết nối hai điểm trên theo cả hai hướng, kết nối này được gọi là một mạch (Circuit). Nó tạo thành mạng điện thoại PSTN (Public Switched Telephone Network).Bạn nhấc máy điện thoại và nghe thấy ngay âm mời quay số. Điều này cho bạn thấy rằng bạn đã có kết nối tới tổng đài nội hạt. Bạn quay số mà bạn muốn nói chuyện. Cuộc gọi được định hướng qua một chuyển mạch tại tổng đài nội hạt tới nơi bạn đang gọi. Một kết nối thực hiện giữa điện thoại của bạn và đường line khác, lúc này mạch đang ở. Bạn nói chuyện trong một khoảng thời gian sau đó gác máy. Khi bạn gác máy, mạch sẽ ngắt và đường line của bạn giải phóng. Trong khoảng thời gian bạn nói truyện, mạch sẽ liên tục mở giữa hai máy. Cuộc gọi qua tổng đài PSTN truyền thống truyền với tốc độ cố định là 64 Kbps hoặc 1024 bit/giây theo mỗi hướng và tốc độ phát tổng cộng là 128 Kbps do 1 Kbyte có 8 Kbit. Vì vậy trong 10 phút nói truyện, lượng thông tin được truyền lên đến 9600 KB gần bằng 9.4MB. Nếu bạn nhìn vào cuộc đàm thoại thông thường thì rất nhiều dữ liệu được truyền rất lãng phí. Trong khi bạn đang nói thì phía kia nghe, như vậy chỉ một nửa đường truyền được sử dụng trong thời gian đó. Dựa trên điều đó chúng ta giả định chia file thành hai nửa, mỗi nửa xuống khoảng 4.7MB. Như vậy có một lượng thời gian trong hầu hết các cuộc đàm thoại là thời gian chết, chiếm một nửa tổng thời gian. Nếu bạn có thể loại bỏ được những khoảng thời gian như vậy thì file của bạn sẽ nhỏ hơn. Mạng dữ liệu không sử dụng chuyển mạch. Kết nối Internet sẽ chậm hơn rất nhiều nếu nó bao gồm một kết nối cố định tới một trang Web. Thay thế cho việc nhận và gửi dữ liệu, bạn cần hai máy tính đóng vai trò một kết nối qua lại trong toàn bộ thời gian không cần biết dữ liệu có hữu ích hoặc không. Đây không phải là cách để thiết lập mạng dữ liệu hiệu quả. Thay thế vào đó mạng dữ liệu sử dụng phương pháp được gọi là chuyển mạch gói (Packet Switching). Chuyển mạch thông thường giữ cho kết nối mở và không đổi thì chuyển mạch gói mở kết nối trong khoảng thời gian đủ lớn để có thể gửi những khối dữ liệu nhỏ được gọi là gói (Packet) từ một hệ thống này tới một hệ thống khác. Máy tính gửi khối dữ liệu trong các gói nhỏ tới một địa chỉ ghi trên mỗi gói. Khi máy tính nhận được các gói nó sẽ tập hợp lại thành dữ liệu gốc. Chuyển mạch gói rất hiệu quả nó giảm nhỏ thời gian kết nối giữa hai hệ thống, giảm tải trên mạng. Công nghệ VoIP sử dụng phương pháp chuyển mạch gói. Ví dụ khi sử dụng một cuộc gọi 10 phút trên PSTN thì nó cũng sử dụng đầy đủ 10 phút để truyền dẫn 128 Kbps. Với VoIP cuộc gọi đó chỉ mất 3,5 phút để truyền 64 Kbps và mất 6,5 phút để truyền 128 Kbps. Đây là trong trường hợp chưa sử dụng phương pháp nén dữ liệu (Data Compression), kích thước dữ liệu sẽ giảm nhiều khi sử dụng phương pháp nén.
Muốn sử dụng VoIP, bạn cần phải có tổng đài PBX (Private Branch Exchange). Về bản chất PBX là một chuyển mạch được sử dụng để kết nối các điện thoại với nhau hay với một hoặc nhiều đường line khác. Trong trường hợp này PBX là một Gateway. Gateway được sử dụng để kết nối các thiết bị trên hai loại mạng khác nhau. PBX là một Gateway bởi nó Convert các tín hiệu chuyển mạch chuẩn từ mỗi điện thoại thành dữ liệu số để có thể chuyển qua các gói. IP là nền tảng cho giao thức Internet là ngôn ngữ được sử dụng trong hầu hết các mạng dữ liệu. Sau đây là các bước một cuộc gọi điện thoại thông thường sử dụng VoIP qua mạng chuyển mạch gói.Khi bạn nhấc tổ hợp, tín hiệu sẽ gửi tới PBX. PBX nhận tín hiệu và gửi âm mời quay số để bạn biết rằng bạn đã có kết nối tới PBX. Bạn sẽ quay số mà bạn muốn nói chuyện, các con số này sau đó sẽ lưu trữ tạm thời bởi PBX. Khi bạn nhập xong số, PBX sẽ kiểm tra để chắc chắn rằng số đó có hợp lệ hay không. PBX xác định lược đồ (Map) của số đó. Theo sơ đồ, số được gán tới địa chỉ IP của thiết bị khác được gọi IP Host. IP Host thông thường cũng là một tổng đài PBX số khác, kết nối trực tiếp tới hệ thống điện thoại của số bạn. Một phiên được thiết lập giữa PBX khu vực của bạn và IP Host khu vực khác. Bạn nói trong một khoảng thời gian. Trong suốt quá trình hội thoại, PBX khu vực bạn và IP Host truyền các gói dữ liệu qua lại. Mỗi một hệ thống phải sử dụng cùng giao thức để liên lạc. Mỗi hệ thống sẽ thực thi thành hai kênh, mỗi kênh cho một hướng. Khi bạn kết thúc cuộc nói chuyện và đặt máy xuống, ngắt kết nối giữa điện thoại của bạn và tổng đài PBX, đường line của bạn được giải phóng. Tổng đài PBX gửi tín hiệu tới IP Host kết thúc một phiên (Session) làm việc, IP Host cũng kết thúc tại phía nó. Ngay sau đó phiên làm việc chấm dứt , PBX sẽ xoá các số từ bộ nhớ. Để điện thoại giao tiếp được với các thiết bị khác như máy tính qua mạng dữ liệu, chúng cần phải có một ngôn ngữ chung được gọi là giao thức (Protocol). Có 2 giao thức được sử dụng rộng rãi cho VoIP. Cả hai giao đều xác định cách thức cho các thiết bị kết nối với các thiết bị khác sử dụng VoIP. Giao thức đầu tiên là giao thức H.323 được tạo chuẩn bởi ITU (International Telecommunications Union). Đây là giao thức toàn diện và phức tạp. Nó cung cấp các đặc tính Real-time, truyền hình hội nghị, chia sẻ dữ liệu và các ứng dụng Audio như điện thoại IP. H.232 kết hợp rất nhiều giao thức riêng để có thể phát triển được các ứng dụng đặc trưng.Một giao thức khác H.323 là SIP (Session Initiation Protocol) được phát triển từ IETF (Internet Engineering Task Force). SIP là một giao thức tối ưu hơn, được phát triển cho mục đích điện thoại IP. SIP được đánh giá là giao thức hiệu quả hơn H.323. Chẳng hạn MGCP (Media Gateway Control Protocol) sử dụng SIP để tạo các Gateway tới hệ thống PSTN. Có bốn cách để bạn nói có thể nói chuyện với một ai đó sử dụng VoIP. Nếu bạn có máy tính hoặc điện thoại, bạn có thể ít nhất sử dụng một trong các phương pháp đó mà không phải mua một thiết bị mới nào. Máy tính tới máy tính (Computer-to-computer): Đây là cách dễ nhất để sử dụng VoIP. Bạn thậm chí không phải trả tiền cho các cuộc gọi đường dài. Tất cả những thứ bạn cần là phần mềm, Microphone, Speaker, Sound Card và một kết nối Internet. Máy tính tới điện thoại (Computer-to-telephone): Đây là phương pháp cho phép bạn gọi tới bất kỳ ai (người có điện thoại) từ máy tính của bạn. Giống như cuộc gọi từ máy tính tới máy tính nó cũng yêu cầu một phần mềm. Phần mềm này miễn phí nhưng cuộc gọi có cước phí tương đối ít. Điện thoại tới máy tính (Telephone-to-computer): Có một vài công ty cung các số điện thoại đặc biệt hoặc Card cho phép người sử dụng máy điện thoại thông thường thực hiện cuộc gọi tới người sử dụng máy tính. Người sử dụng máy tính phải có phần mềm của nhà cung cấp được cài đặt và đang chạy trên máy. Chi phí cuộc gọi này thường rẻ hơn rất nhiều so với cuộc gọi đường dài truyền thống. Điện thoại tới điện thoại (Telephone-to-telephone): Qua việc sử dụng các Gateway, bạn có thể kết nối trực tiếp với bất cứ người nào khác trên thế giới sử dụng điện thoại thông thường. Bạn phải gọi vào trong Gateway của họ sau đó bấm số cần gọi họ kết nối qua mạng IP.
Tìm hiểu về hoạt động của điện thoại Hầu hết ai trong chúng ta cũng phải công nhận rằng Điện thoại thật là tuyệt vời. Nếu muốn nói chuyện với ai đó, bạn chỉ cần nhấc máy và ấn một vài số, ngay lập tức bạn sẽ được kết nối tới người đó. Mạng điện thoại không phụ thuộc vào khoảng cách vì vậy có thể gọi cho bất cứ ai trên hành tinh này. So sánh với thời kỳ cách đây 100 năm, phải mất vài tuần để gửi được tin nhắn tới ai đó.Thật ngạc nhiên khi điện thoại là một thiết bị đơn giản nhất trong nhà. Nó thật sự đơn giản vì trong gần một thế kỷ qua việc kết nối điện thoại trong nhà không hề thay đổi. Nếu ai đó có điện thoại từ năm 1920, họ vẫn có thể kết nối tới một máy điện thoại khác mà vẫn hoạt động tốt. Điện thoại làm việc rất đơn giản, nó bao gồm 3 phần:Switch (chuyển mạch): để kết nối hoặc xoá kết nối điện thoại từ mạng. Chuyển mạch này gọi là Hookswitch. Mạng được kết nối khi người dùng nhấc tổ hợp. Speaker: loa. Microphone (Ống nói): trong quá khứ ống nói làm rất đơn giản từ các hạt Carbon và được nén giữa hai tấm kim loại mỏng. Giọng nói được nén lại thành các sóng âm thanh thay đổi theo điện trở của các hạt than và điều chế thông qua Microphone. Tuy nhiên thiết bị này vẫn có một vấn đề, khi nói người ta sẽ nghe được giọng nói của mình qua tai nghe. Hầu hết mọi người đều cảm thấy khó chịu vì điều đó, vì vậy để tránh được hiện tượng trên máy điện thoại còn bao gồm một thiết bị như cuộn dây kép (Duplex coil) hoặc một thứ có chức năng tương đương để ngăn chặn giọng nói của mình vào tai nghe. Các máy điện thoại hiện đại bao gồm một bộ chuông, một bộ tạo xung từ bàn phím (Touch-tone Keypad) và bộ phát tần số (Frequency Generator). Máy điện thoại hiện đại rất đơn giản với Microphone điện tử, một bộ phận khuếch đại và mạch thay thế các hạt Carbon. Chuông cơ học được thay thế bởi một loa và mạch điện tử để sinh ra các âm báo chuôngMạng điện thoại được bắt đầu từ ngay trong nhà. Một đôi dây đồng chạy từ hộp phía ngoài đường tới một hộp (Entrance Brigde) ở trong nhà. Từ đó đôi dây được kết nối tới Jack điện thoại và thường sử dụng dây đỏ và xanh. Nếu có hai đường line điện thoại hai máy đó sẽ chia sẻ các đôi dây đồng từ ngoài tới. Đôi dây thứ hai thường đánh màu vàng và đen phía trong nhà. Dọc theo đường tới hộp cáp sẽ có hơn 100 đôi dây đồng. Phụ thuộc vào vị trí của thuê bao mà cáp sẽ chạy trực tiếp tới tổng đài của khu vực đó hoặc sẽ chạy tới bộ tập trung số (Digital Concentrator). Bộ tập trung số số hoá giọng nói với tốc độ 8.000 mẫu/ giây với độ phân giải 8 bit. Sau đó nó kết hợp với hàng tá thứ khác và gửi chúng qua dây đơn (thường cáp đồng trục hoặc sợi quang) tới tổng đài. Đường line được kết nối tới LineCard tại tổng đài. Vì vậy ta có thể nghe được âm mời quay số khi nhấc tổ hợp điện thoại. Nếu ta gọi cho ai đó trong cùng một khu vực, Switch sẽ tạo ra vòng lặp giữa điện thoại của người gọi và của người nhận. Nếu là cuộc gọi đường dài, giọng nói sẽ được số hoá và kết hợp với hàng trăm giọng khác trên mạng. Giọng nói được truyền trên cáp sợi quang và cũng có thể được truyền bởi vệ tinh hoặc Viba số.Nếu chúng ta trở lại với giai đoạn điện thoại sử dụng chuyển mạch cơ thì sẽ dễ dàng hiểu tại sao mạng điện thoại lại khổng lồ như thế. Với chuyển mạch cơ, t\
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31