Wednesday, 11. April 2007, 02:48:12
Mang
WiMAX là viết tắt của gì?
“WiMAX” là từ viết tắt của Worldwide Interoperability for Microwave Access – Khả năng tương tác toàn cầu với truy nhập vi ba.
Công nghệ WiMAX là gì?
WiMAX là một công nghệ dựa trên các chuẩn, cho phép truy cập băng rộng vô tuyến đến đầu cuối (last mile) như một phương thức thay thế cho cáp và DSL. WiMAX cho phép kết nối băng rộng vô tuyến cố định, nomadic (người sử dụng có thể di chuyển nhưng cố định trong lúc kết nối), mang xách được (người sử dụng có thể di chuyển với tốc độ đi bộ) và cuối cùng là di động mà không cần thiết ở trong Tầm nhìn thẳng (Line-of-Sight) trực tiếp tới một trạm gốc. Trong một bán kính của một cell điển hình là từ 3 đến 10km, các hệ thống đã được Diễn đàn WiMAX (WiMAX Forum) chứng nhận sẽ có công suất lên tới 40Mbit/s mỗi kênh cho các ứng dụng truy cập cố định và mang xách được. Điều này có nghĩa là đủ băng thông để đồng thời hỗ trợ hàng trăm doanh nghiệp với kết nối tốc độ T-1 và hàng ngàn hộ dân với kết nối tốc độ DSL. Công suất cho mạng di động khi triển khai sẽ là 15Mbit/s trong phạm vi bán kính của một cell điển hình lên tới 3km. Hy vọng vào năm 2007 công nghệ WiMAX sẽ được kết hợp vào trong các máy tính xách tay và các PDA, cho phép các khu vực nông thôn và thành phổ trở thành “các khu vực đô thị" để truy cập vô tuyến băng rộng ngoài trời cho các thiết bị di động.
Diễn đàn WiMAX là gì?
Diễn đàn WiMAX là một tổ chức của các nhà khai thác và các công ty thiết bị và cấu kiện truyền thông hàng đầu. Mục tiêu của Diễn đàn WiMAX là thúc đẩy và chứng nhận khả năng tương thích của các thiết bị truy cập vô tuyến băng rộng tuân thủ chuẩn 802.16 của IEEE và các chuẩn HiperMAN của ETSI. Diễn đàn WiMAX được thành lập để dỡ bỏ các rào cản tiến tới việc chấp nhận rộng rãi công nghệ truy cập vô tuyến băng rộng BWA (Broadband Wireless Access), vì riêng một chuẩn thì không đủ để khuyến khích việc chấp nhận rộng rãi một công nghệ. Theo mục tiêu này, Diễn đàn đã hợp tác chặt chẽ với các nhà cung cấp và các cơ quan quản lý để đảm bảo các hệ thống đượcDiễn đàn phê chuẩn đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và của các chính phủ.
Thiết bị tại nhà của khách hàng (CPE) sẽ như thế nào và giá sẽ bao nhiêu?
Thế hệ CPE do Diễn đàn WiMAX chứng nhận đầu tiên sẽ là các trạm thuê bao được lắp đặt ngoài trời giống với các chảo vệ tinh nhỏ đã có cuối năm ngoái và đầu năm nay và giá khoảng 350USD mỗi bộ. Thế hệ CPE thứ 2 có thể là những modem có thể tự lắp trong nhà tương tự như modem cáp và DSL và có giá khoảng 250USD mỗi bộ và sẽ có mặt trên thị trường trong năm nay. Thế hệ CPE thứ 3 sẽ được tích hợp vào các laptop và các thiết bị xách tay khác, ước tính có giá 100USD và sẽ xuất hiện trong năm 2006 – 2007.
IEEE 802.16 khác công nghệ WiMAX ở điểm nào?
Một trong những mục tiêu chính của Diễn đàn WiMAX là tạo ra một chuẩn tương thích từ chuẩn 802.16 của IEEE và các chuẩn HiperMAN của ETSI. Điều này sẽ thực hiện được nhờ việc hình thành các mô tả hệ thống. Dựa trên những gì mà Diễn đàn WiMAX xem xét về các điều khoản của nhà cung cấp dịch vụ và các kế hoạch thiết bị của các nhà cung cấp, Diễn đàn WiMAX đã quyết định tập trung trước tiên vào các mô tả cho phương thức PHY OFDM 256 của chuẩn 802.16 năm 2004, được IEEE thông qua vào tháng 6/2004. Lớp vật lý (PHY) sẽ được kết hợp với một bộ điều khiển truy nhập phương tiện (MAC) độc lập đảm bảo một nền tảng thống nhất cho tất cả những triển khai WiMAX.
Tuân thủ theo chuẩn 802.16 không có nghĩa là thiết bị được Diễn đàn WiMAX chứng nhận hoặc có thể tương thích với các thiết bị của các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên nếu một thiết bị tuân thủ thiết kế được Diễn đàn WiMAX chứng nhận thì vừa tuân thủ chuẩn 802.16 và tương thích với cả thiết bị của các nhà khai cấp khác.
Các phiên bản 802.16 như 802.16a, 802.16-2004 và 802.16e khác nhau như thế nào?
Chuẩn 802.16a của IEEE tập trung vào truy cập băng rộng cố định. Chuẩn mở rộng 802.16-2004 của IEEE cải tiến hơn nhờ hỗ trợ cho CPE trong nhà. Chuẩn 802.16e là một mở rộng của chuẩn 802.16-2004. Mục đích của chuẩn 802.16e là để bổ sung khả năng di động dữ liệu cho chuẩn hiện thời, mà ban đầu thiết kế chủ yếu dành cho cố định.
Chuẩn 802.16 của IEEE được thông qua khi nào?
IEEE thông qua chuẩn 802.16 ban đầu cho mạng MAN vô tuyến trong dải tần từ 10 – 66GHz vào tháng 12/2001. 802.16a mở rộng cho dải tần số 11 GHz được thông qua tháng 1/2003. Chuẩn 802.16-2004 được IEEE thông qua tháng 6/2004. Chuẩn 802.16e được thông qua tháng 12/2005. Diễn đàn WiMAX sẽ bắt đầu quá trình chứng nhận thiết bị ban đầu trong các băng tần 3.3 đến 3.8 GHz và 5.7 đến 5.8 GHz. Những mô tả này bao gồm cả các hệ thống song công phân chia theo thời gian (TDD) và song công phân chia theo tần số (FDD). Diễn đàn WiMAX đã xây dựng các mô tả hệ thống tập trung vào băng tần được miễn cấp phép 5.8GHz, và các băng tần được cấp phép là 2.5 và 3.5 GHz để khởi động thị trường. Diễn đàn WiMAX đã kết hợp với các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà sản xuất thiết bị để mở rộng sự phân bổ tần số để bao phủ tất cả các dải phổ chủ chốt mà tất cả các công ty thành viên xác định là hấp dẫn đối với các nhà cung cấp dịch vụ WiMAX tiềm năng. Các thiết bị ban đầu được Diễn đàn WiMAX phê chuẩn sẽ ở trong băng tần 3.5GHz, sau đó là 5.8GHz.
WiMAX có cạnh tranh với Wi-Fi?
WiMAX và Wi-Fi sẽ cùng tồn tại và trở thành những công nghệ bổ sung ngày càng lớn cho cácứng dụng riêng. Đặc trưng của WiMAX là không thay thế Wi-Fi. Hơn thế WiMAX bổ sung cho Wi-Fi bằng cách mở rộng phạm vi của Wi-Fi và mang lại những thực tế của người sử dụng "kiểu Wi-Fi" trên một quy mô địa lý rộng hơn. Công nghệ Wi-Fi được thiết kế và tối ưu cho các mạng nội bộ (LAN), trong khi WiMAX được thiết kế và tối ưu cho các mạng thành phố (MAN). Trong khoảng thời gian từ 2006 - 2008, hy vọng cả 802.16 và 802.11 sẽ xuất hiện trong các thiết bị người sử dụng từ laptop tới các PDA, cả 2 chuẩn này cho phép kết nối vô tuyến trực tiếp tới người sử dụng - tại gia đình, trong văn phòng và khi đang di chuyển.
WiMAX có cạnh tranh với HiperMAN của ETSI?
Các chuẩn 802.16-2004 (256 OFDM PHY) của IEEE và HiperMAN của ETSI sẽ chia sẻ chung các đặc tính kỹ thuật PHY và MAC. Diễn đàn WiMAX hoạt động ở cả hai tổ chức tiêu chuẩn này để đảm bảo một chuẩn toàn cầu chung cho MAN vô tuyến, sẽ được chấp nhận.
802.16 khác với 802.20 ở điểm nào?
802.16 và 802.20 của IEEE là hai mục tiêu công nghệ khác nhau tập trung vào các thị trường riêng biệt. Tuy nhiên, 802.20 vẫn đang ở trong những giai đoạn đầu tiên của việc xây dựng chuẩn và chưa thể hoàn tất trong hai năm tới. Và bởi vì 802.20 hiện nay chưa được sự hỗ trợ rộng rãi của ngành Viễn thông như là Diễn đàn WiMAX với hơn 350 thành viên, tương thích cũng còn là vấn đề và như vậy nó vẫn còn khá xa vời.
Những ứng dụng nào dành cho công nghệ WiMAX?
Công nghệ WiMAX là giải pháp cho nhiều loại ứng dụng băng rộng tốc độ cao cùng thời điểm với khoảng cách xa và cho phép các nhà khai thác dịch vụ hội tụ tất cả trên mạng IP để cung cấp các dịch vụ "3 cung": dữ liệu, thoại và video.
WiMAX với sự hỗ trợ QoS, khả năng vươn dài và công suất dữ liệu cao được dành cho các ứng dụng truy cập băng rộng cố định ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, nhất là khikhoảng cách là quá lớn đối với DS: và cáp cũng như cho các khu vực thành thị ở các nước đang phát triển. Những ứng dụng cho hộ dân gồm có Internet tốc độ cao, thoại qua IP, video luồng/chơi game trực tuyến cùng với các ứng dụng cộng thêm cho doanh nghiệp như hội nghị video và giám sát video, mạng riêng ảo bảo mật (yêu cầu an ninh cao). Công nghệ WiMAX cho phép bao trùm các ứng dụng với yêu cầu băng thông rộng hơn.
WiMAX cũng cho phép các ứng dụng truy cập xách tay, với sự hợp nhất trong các máy tínhxách tay và PDA, cho phép các khu vực nội thị và thành phổ trở thành những "khu vực diện rộng" nghĩa là có thể truy cập vô tuyến băng rộng ngoài trời. Do vậy, WiMAX là một công nghệ bổ sung bình thường cho các mạng di động vì cung cấp băng thông lớn hơn và cho các mạng Wi-Fi nhờ cung cấp kết nối băng rộng ở các khu vực lớn hơn.
Tại sao WiMAX lại cần thiết? Tại sao WiMAX lại quan trọng cho vô tuyến băng rộng cố định và vô tuyến băng rộng di động?
WiMAX cần thiết vì là một công nghệ độc lập cho phép truy cập băng rộng cố định và di động.
Chuẩn WiMAX là cần thiết để đạt mục tiêu chi phí thấp hơn. Đây là điều mà các giải pháp vô tuyến độc quyền không thể đạt được do những hạn chế về số lượng. Các giải pháp WiMAX có khả năng tương thích cho phép giảm bớt chi phí sản xuất nhờ việc tích hợp các chip chuẩn, làm cho các sản phẩm được Diễn đàn WiMAX chứng nhận có chi phí hợp lý để cung cấp các dịch vụ băng rộng công suất cao ở những khoảng cách bao phủ lớn trong các môi trường Tầm nhìn thẳng (LOS) và không theo tầm nhìn thẳng (NLOS). Đây là điều khả thi đối với WiMAX nhờ có sự hỗ trợ mạnh mẽ của ngành công nghiệp thông qua Diễn đàn WiMAX với hơn 350 thành viên bao gồm các nhà cung cấp thiết bị, các nhà sản xuất chip và các nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu.
WiMAX quan trọng vô tuyến băng rộng cố định để cung cấp truy cập băng rộng cần thiết tới các doanh nghiệp và người sử dụng là hộ gia đình như là một sự thay thế cho các dịch vụ cáp và DSL đặc biệt là khi truy cập tới cáp đồng là rất khó khăn.
WiMAX quan trọng trong vô tuyến băng rộng di động, vì nó bổ sung trọn vẹn cho 3G vì hiệu suất truyền dữ liệu luồng xuống cao hơn 1Mbit/s, cho phép kết nối các máy laptop và PDA và bổ sung cho Wi-Fi nhờ độ bao phủ rộng hơn.
Những cơ sở quan trọng của công nghệ WiMAX?
Cơ sở quan trọng của công nghệ WiMAX là sự tương thích của thiết bị WiMAX, được Diễn đàn WiMAX chứng nhận, tạo sự tin cậy và làm tăng số lượng lớn cho nhà cung cấp dịch vụ khi mua thiết bị không chỉ từ 1 công ty và tất cả đều tương thích với nhau. Diễn đàn WiMAX lần đầu tiên tụ họp những công ty hàng đầu trong ngành truyền thông và máy tính để tạo nên một nền tảng chung cho việc triển khai các dịch vụ vô tuyến băng rộng IP trên toàn cầu.
Các cơ sở quan trọng khác là chi phí, độ bao phủ, công suất và chuẩn cho cả truy cập vô tuyến cố định và di động.
Chi phí thấp hơn
CPE vô tuyến cố định có thể sử dụng cùng loại chipset modem được sử dụng trong máy tính cá nhân (PC) và PDA, vì ở khoảng cách gần các modem có thể tự lắp đặt trong nhà CPE sẽ tương tự như cáp, DSL và các trạm gốc có thể sử dụng cùng loại chipset chung được thiết kế cho các điểm truy cập WiMAX chi phí thấp và cuối cùng là số lượng tăng cũng thỏa mãn cho việc đầu tư vào việc tích hợp mức độ cao hơn các chipset tần số vô tuyến (RF), làm chi phí giảm hơn nữa.
Độ bao phủ rộng hơn
Công nghệ sau WiMAX đã được tối ưu để mang đến độ bao phủ NLOS tốt nhất. Các ưu điểm của NLOS là độ bao phủ trên diện rộng, khả năng dự báo độ bao phủ tốt hơn và chi phí thấp hơn có nghĩa là số trạm gốc và backhaul ít hơn, định cỡ RF đơn giản, các thời điểm lắp đặt tháp ngắn hơn và lắp đặt CPE nhanh hơn.
Nhờ có các kỹ thuật cải tiến độ bao phủ NLOS như phân tập, mã hóa thời gian không gian và yêu cầu truyền lại tự động (Automatic Retransmission Request - ARQ), các khoảng cách bao phủ sẽ được tăng lên.
Công suất cao hơn
Ưu điểm quan trọng của WiMAX là sử dụng kỹ thuật OFDM (Orthogonal Frequency Division Multiplexing) qua các cơ chế điều chế đơn sóng mang với khả năng cung cấp hiệu suất băng thông cao hơn và do đó thông lượng dữ liệu cao hơn với luồng xuống hơn 1Mbit/s và thậm chí các tốc độ dữ liệu cao hơn nhiều dù trong NLOS với các điều kiện đa đường. Điều chế thích ứng (Adaptive Modulation) cũng làm tăng độ tin cậy đường kết nối đối với hoạt động phân loại sóng mang và khả năng giữ điều chế 64QAM ở khoảng cách rộng hơn, tăng công suất qua các khoảng cách dài hơn.
Chuẩn cho truy cập vô tuyến cố định và di động
WiMAX sẽ trở thành một giải pháp chi phí hợp lý nhất cho các nhà khai thác triển khai các ứng dụng vô tuyến cố định và di động cho các máy xách tay và PDA.
Diễn đàn WiMAX sẽ chứng nhận các sản phẩm tuân thủ và tương thích dựa trên các chuẩn 802.16 của IEEE và HiperMAN của ETSI.
Cuối cùng một hệ thống quản lý mạng đủ khả năng quản lý các mô tả QoS để cấu trúc các gọi dịch vụ bổ sung các thành phần quan trọng này.
OFDM là gì?
OFDM là một công nghệ điều chế và mã hóa số, đã được sử dụng thành công trong các ứng dụng hữu tuyến như modem DSL và modem cáp. Các sản phẩm của các công ty thành viên Diễn đàn WiMAX đang sử dụng các hệ thống 802.16 dựa trên OFDM để vượt qua những thách thức của việc truyền sóng NLOS.
OFDM đạt đến tốc độ và hiệu quả dữ liệu cao nhờ sử dụng nhân chồng các tín hiệu sóng mang thay cho chỉ một tín hiệu. Ưu điểm quan trọng của OFDM của các cơ chế điều chế đơn sóng mang đơn là khả năng mang lại hiệu suất băng thông cao hơn và do đó thông lượng dữ liệu sẽ cao hơn thậm chí phải đối mặt thách thức với kịch bản triển khai chẳng hạn như các đường kết nối NLOS phải chịu suy hao đáng kể do các điều kiện đa đường.
Lớp vật lý WiMAX (802.16/HiperMAN OFDM PHY) là gì?
Lớp vật lý (PHY) được 802.16 định nghĩa có ba biến thể: Sóng mang đơn, OFDM 256 và OFDMA 2048. Lớp vật lý OFDM 256 được Diễn đàn WiMAX lựa chọn cho các mô tả đầu tiên dựa trên 802.16-2004 (trước đây là 802.16REVd).
Lớp kiểm soát truy cập (MAC) WiMAX là gì?
Chuẩn 802.16 của IEEE đưa ra cùng một lớp MAC cho tất cả lớp PHY (đơn sóng mang, 256 OFDM, 2048 OFDMA). Lớp MAC này là kết nối được định hướng và chuẩn bị cho kết nối TDM đường kết hợp với truy cập TDMA ở đường lên.
Chuẩn này định nghĩa là hỗ trợ cho cả TDD và FDD và cho phép phương thức bán song công FDD (HD-FDD). TDD là một kỹ thuật mà ở đó hệ thống phát và nhận ở cùng kênh gán các khe thời gian cho phương thức phát và nhận. FDD yêu cầu hai phổ tần riêng rẽ.
Các sản phẩm được Diễn đàn WiMAX có lợi như thế nào đối với doanh nghiệp? và người sử dụng hộ gia đình?
Đối với các doanh nghiệp, WiMAX cho phép truy cập băng rộng với chi phí hợp lý. Vì phần lớn các doanh nghiệp sẽ không được chia thành khu vực để có đường cáp, lựa chọn duy nhất của họ đối với dịch vụ băng rộng là từ các nhà cung cấp viễn thông địa phương. Điều này dẫn tới sự độc quyền. Các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ việc triển khai các hệ thống WiMAX chứng nhận nhờ tạo ra sự cạnh tranh mới trên thị trường, giảm giá và cho phép các doanh nghiệp thiết lập mạng riêng của mình. Điều này đặc biệt phù hợp đối với các ngành như khí đốt, mỏ, nông nghiệp, vận tải, xây dựng và các ngành khác nằm ở những vị trí xa xôi, hẻo lánh.
Đối với người sử dụng là hộ gia đình ở những vùng nông thôn (nơi dịch vụ DSL và cáp chưa thể vươn tới), WiMAX mang lại khả năng truy cập băng rộng. Điều này đặc biệt phù hợp ở các nước đang phát triển nơi mà hạ tầng viễn thông truyền thống vẫn chưa thể tiếp cận.
Tuesday, 17. October 2006, 12:25:48
Mang
Những định nghĩa về Intranet. Mạng Intranet là gì, nó khác với các loại mạng khác ở chỗ nào (ví dụ Internet)?
Intranet và Internet
Trả lời: Một Intranet là một mạng LAN riêng được thiết kế cho việc sử dụng bởi tất cả mọi người bên trong một tổ chức. Một Intranet đơn giản bao gồm một một hệ thống mail nội bộ hay một bảng thư tín. Có nhiều mạng Itranet phức tạp bao gồm nhiều cổng Web site có chưa các tin tức, các hình dạng, và thông tin cá nhân của công ty. Về mặt bản chất của một Intranet là sử dụng các công nghệ LAN (và WAN) để thuận lợi cho việc truyền thông giữa mọi người và cải thiện cơ sở nhận thức về các nhân công của một công ty.
Năm 1995 trở về trước được xem là những năm của Internet và năm 1996 đã trở thành năm của Intranet, vậy Intranet là gì?
Intranet còn là một khái niệm mới. Có một số định nghĩa khác nhau về Intranet:
- Intranet là Web (kho thông tin dữ liệu điện tử) sử dụng nội bộ (Internal Web).
- Intranet là một mạng sử dụng nội bộ như LAN hay WAN thực hiện được các ứng dụng, nói cách khác các dịch vụ của Internet, chủ yếu là dịch vụ Web với giao thức truyền siêu văn bản - http (HyperText Transfer Protocol) và dịch vụ truyền File (FTP), E - Mail v.v...
- Intranet là công nghệ của Internet triển khai sau bức tường lửa tạo nên năng suất làm việc cho các công ty.
- Các tổ chức trên thế giới đã tìm ra được một phương pháp để tăng cường thông tin trong nội bộ cũng như với bên ngoài sử dụng công nghệ Web trong một hệ thống dữ liệu thông tin kiểu mới gọi là Intranet.
- Intranet là một mạng nội bộ theo kiểu Internet được sử dụng như một "mạng ảo cá nhân" hiệu quả nhất (VPN -Virtual Private Network).
- Intranet là sự mở rộng mới của công nghệ Internet cung cấp khả năng chia sẻ thông tin trong nội bộ của một tổ chức.
Có nhiều cách định nghĩa nhưng thực chất Intranet là một mạng nội bộ để các nhân viên trong một công ty hay một tổ chức xây dựng và chia sẻ thông tin chứa trên các cơ sở dữ liệu riêng theo phương pháp của World Wide Web của Internet, có nghĩa là sử dụng ngôn ngữ phát triển siêu văn bản - HTML (HyperText Markup Language), giao thức truyền siêu văn bản HTTP và giao thức TCP/IP.
Tính chất rất quan trọng của Intranet là phải có kế hoạch để bảo vệ thông tin nội bộ, không cho phép những người không được phép truy nhập cơ sở dữ liệu của mình. Có nhiều cách ngăn chặn như dùng mật khẩu, các biện pháp mã hoá hay bức tường lửa (nhưng bức tường lửa rất khó ngăn chặn "người nhà"). Một biện pháp bảo vệ hữu hiệu truyền thống là chính sách và hệ thống quyết định cho ai được vào lĩnh vực dữ liệu nào.
Cấu trúc mạng Intranet.
Từ các định nghĩa chúng ta thấy rằng:
- Intranet là một mạng lưới sử dụng nội bộ, nó có thể là một mạng cục bộ LAN hay có thể là một mạng diện rộng WAN.
- Intranet có thể chỉ dùng để chia sẻ thông tin nội bộ trong một tổ chức bằng các Web nội bộ nhưng cũng có thể nối với các Web ngoài trên Internet để sử dụng những thông tin chung.
Do yêu cầu thực tế như vậy nên cấu trúc của Intranet có các kiểu sau:
1/ Intranet là một mạng sử dụng nội bộ kết nối trên cơ sở của mạng viễn thông.
- Nếu một tổ chức nhỏ trong một toà nhà có thể chỉ dùng LAN.
- Nếu tổ chức lớn có các chi nhánh, vǎn phòng trên cả nước hay quốc tế dùng mạng diện rộng WAN kết nối trên cơ sở của mạng viễn thông,thuê kênh riêng v.v..
Intranet diện rộng WAN dùng thuê kênh riêng
2/ Intranet sử dụng phương tiện truyền dẫn chung Internet.
Thực tế một số tổ chức lớn như Digital, Microsoft có các vǎn phòng chi nhánh trên khắp thế giới họ có thể dùng mạng viễn thông, thuê kênh riêng để kết nối mạng Intranet, nhưng như vậy giá rất cao mà hiệu quả thấp.Do vậy người ta đã tận dụng mạng Internet như một phương tiện truyền dẫn chung cho hai cách sử dụng.
- Kiểu sử dụng tập thể: Một mạng cho nhiều người sử dụng (hình vẽ 2).
- Kiểu sử dụng cá nhân: Chỉ một máy tính cho một cá nhân, hay một tập thể nhỏ dùng chung ở cách xa cơ quan, trung tâm. (hình vẽ 3)
Để Intranet là một mạng nội bộ kết nối trên phạm vi toàn cầu sử dụng môi trường truyền dẫn chung trên Internet người ta phải sử dụng một kỹ thuật mới, một phần mềm mới gọi là " tạo đường hầm " (Tunnelling) mà ý nghĩa vật lý tương tự như đường tàu điện ngầm riêng chạy dưới mạng lưới giao thông công cộng của một thành phố.
Intranet dùng chung với môi trường truyền dẫn Internet (Đường hầm tập thể)
Intranet dùng cá nhân với môi trường truyền dẫn Internet (Đường hầm cá nhân)
Tuy nhiên để bảo vệ được các thông tin nội bộ trong mọi trường hợp cần phải có bức tường lửa, phương thức làm việc theo kiểu khách/chủ (Client/Server) và các biện pháp mã hoá để kiểm soát các đối tượng truy nhập với cách làm việc như sau:
Khi một trạm đầu cuối (Workstation) tại một chi nhánh sử dụng phần mềm tạo đường hầm khách (Client tunnelling software) gửi yêu cầu truy nhập tới máy chủ (Server) có phần mềm tạo đường hầm chủ (tunnelling server software) ở trung tâm hay ở phía đầu xa qua mạng Internet. Trong máy chủ này đã có danh sách các trạm đầu cuối được phép truy nhập, nếu kiểm tra đúng danh sách, máy chủ cho phép kiến tạo một đường hầm và sử dụng các biện pháp mã hoá để kiểm soát, máy chủ gửi lại cho trạm đầu cuối kia một địa chỉ Internet nội bộ (IP address) để làm cơ sở kết nối, địa chỉ này chỉ sử dụng trong mạng máy chủ. Khi cuộc nối (hay đường hầm qua Internet) thiết lập đã được xác nhận là đúng, khách hàng ở trạm đầu cuối có thể truy nhập vào mạng máy chủ để trao đổi thông tin. Như vậy thực chất là tạo ra một sự kết nối tương đương với mạng ảo cá nhân (VPN - Virtual Private Network).
Máy chủ kiểm tra tất cả các cuộc truy nhập vào, xác nhận đúng trước khi cho phép kiến tạo đường hầm. Ngoài ra, gói dữ liệu IP (Internet Protocol datagram) sử dụng trong mạng máy chủ cũng đã được mã hoá bằng nhiều biện pháp khác nhau và sau đó mới lồng vào bên trong gói dữ liệu TCP/IP khác để truyền đi trên Internet, do vậy dữ liệu truyền cho nhau qua Internet được bảo vệ an toàn.
3/ Intranet kết nối với các Web trên Internet.
Nói chung Intranet là một mạng nội bộ không nối với bên ngoài, nhưng Intranet hiện tại rất hay được kết nối với Internet vì những thực tế sau:
- Trên Internet có rất nhiều thông tin chứa trên World Wide Web mà những thông tin chung đó cần cho tất cả mọi cán bộ công nhân viên trong một công ty hay một tổ chức, nếu đã sử dụng Intranet với các Web nội bộ mà không có các thông tin chung này thì họ sẽ ra khỏi Intranet để truy nhập vào Internet như vậy sẽ lãng phí thời gian của người lao động và phải trả tiền cho thời gian truy nhập tìm kiếm, rà soát thông tin trên Internet cho rất nhiều người, tốn kém hơn nhiều, do vậy trên Intranet cũng sẽ có Web nối với Internet để bộ phận có trách nhiệm, thông thạo địa chỉ của các nguồn thông tin, cặp nhật các thông tin cần thiết. Máy chủ trung gian (Proxy Server) theo kiểu NT Window của Microsoft rất thích hợp với cách sử dụng này.
- Intranet cũng sử dụng được các dịch khác của Internet như thư điện tử, dịch vụ truyền File (FTP), diễn đàn thông tin (Bulletin Board) để bàn luận, trao đổi thông tin cho nhau về từng chủ đề một. Tất cả những dịch vụ này nếu chỉ trong nội bộ của một công ty thì không cần Internet, nhưng những dịch vụ này sẽ không hoàn chỉnh và kém hấp dẫn nếu như nó không được nối với Internet để liên lạc toàn cầu.
Intranet kết nối với Internet.
Lợi ích của Intranet.
a/ Lợi ích công nghệ của Intranet.
Do sử dụng công nghệ của Internet nên Intranet kế thừa được các lợi ích sau:
- Các máy tính tham gia mạng có thể chia sẻ hay gửi thông tin cho nhau.
- Các máy tính tham gia mạng có thể khác kiểu, khác loại.
- Các ứng dụng trên Internet như thư điện tử, Web, FTP v.v.. cũng như các phần mềm đã có sẵn và đã được thực tế chứng minh.
- Đường nối theo kiểu siêu văn bản (Hypertext link) rất dễ dàng cho người sử dụng tra cứu, tìm kiếm hay lấy thông tin trên một diện rất rộng (đến phạm vi toàn cầu).
- Kết nối dễ dàng với các cơ sở dữ liệu sẵn có, các văn bản đã được soạn thảo trên máy tính.
b/ Lợi ích kinh tế.
- Intranet là cơ sở để tiến tới một mô hình cơ quan mới "Cơ quan không giấy tờ công văn" (paperless office), có nghĩa các thông tin trao đổi cho nhau chỉ thông qua máy tính không theo đường công văn. Hiện tại chúng ta đang làm việc trong môi trường mà hầu như mọi thông tin văn bản pháp quy đều được trao đổi bằng giấy tờ công văn kéo theo sự chậm trễ, sai lệch và phiền phức của nó. Mô hình cơ quan không giấy tờ công văn rất có thể là một cuộc cách mạng, đánh dấu một bước tiến hoá mới trong lịch sử văn minh nhân loại vì để thực hiện được nó không chỉ phải hoàn thiện công nghệ, giải pháp mạng, trình độ năng lực tin học của từng người lao động mà còn phải xoá bỏ được cả một hệ thống làm việc theo kiểu hành chính giấy tờ truyền thống ở quy mô toàn cầu (mặc dù mức độ của các quốc gia có thể khác nhau) để thiết lập một "quan hệ sản xuất" mới trên một phạm vi quốc gia và quốc tế.
- Tăng năng suất lao động, có nghĩa tăng lợi nhuận kinh doanh vì có thông tin nhanh chóng được cặp nhật và thông báo hàng ngày, giảm đáng kể bộ phận hành chính trung gian cũng như lượng đầu tư khổng lồ cho nó.
Tuesday, 17. October 2006, 12:24:24
Mang
Internet, sau một thời gian ngự trị ở vị trí hàng đầu thì nay đã lùi về hậu trường, chỉ để lại sự hiện diện, nhường mặt trận cho những cuộc chiến khác. Gần đây xuất hiện khái niệm intranet, một từ "tai hại" vẫn gây nhầm lẫn cho những người chỉ vừa mới làm quen với những thuật ngữ của Internet.
Các số liệu thống kê
Tuần báo Business Week mới đây cho biết 1 phần 6 số công ty của Mỹ đã có intranet, một nửa số còn lại cũng đã chuẩn bị kế hoạch cho dự án này.
Ngay cả khi việc xây dựng intranet cho công ty không phải là trách nhiệm của bạn thì bạn cũng nên có một số khái niệm về nó, đơn giản chỉ là để không bị bỡ ngỡ khi nghe người ta bàn tán. Còn nếu bạn có thể đưa ra một số lý do tại sao phải xây dựng một intranet thì ban lãnh đạo công ty chắc sẽ nhìn bạn với một con mắt khác và bạn có thể sớm được "cất nhắc" lên những chức vụ cao hơn đấy. Tốt hơn hết, hãy vứt bỏ công việc tẻ nhạt của bạn hiện nay và giúp công ty chuẩn bị cho tương lai!
Intranet là gì?
Tỉnh dậy sau giấc mơ tuyệt diệu trên, bạn sẽ phải đối mặt với thực tế để tìm hiểu xem thực chất intranet là gì. Một cách nôm na, đó là tập hợp các máy tính được nối với nhau và cái nọ có thể "nói chuyện" với cái kia theo cách mà trình duyệt xét Web trao đổi thông tin với các Web server trên toàn thế giới. TCP/IP là ngôn ngữ chính thống trên Internet và hầu hết các công nghệ như trình duyệt xét, FPT (thủ tục truyền file), Gopher và e-mail cũng tương tự như vậy. Chỉ với một máy tính và một trình duyệt xét Web, ai cũng có thể dễ dàng thiết lập một địa chỉ Web và qua đó trao đổi thông tin với mọi người.
Thay vì cung cấp thông tin cho hết thảy mọi người, intranet chỉ mang thông tin đến với những người trong phạm vi công ty bạn, bất thể nó nằm trong một tòa nhà hay rải rác trên một vài thành phố khác nhau.
Intranet hoàn toàn có thể bị cô lập khỏi Internet, hoặc bằng cách ngắt ra, hoặc bị "khóa" bằng một firewall. Firewall chỉ đơn giản là một server đứng chắn giữa intranet và thế giới bên ngoài, theo dõi những thông tin vào/ra intranet. Firewall gây khó khăn cho những kẻ phá rối hay tìm cách ăn cắp những thông tin bí mật, ngoài ra nó còn là công cụ giúp các nhà quản trị hệ thống thông tin quản lý ngăn chặn mọi người trong công ty "thả hồn" trên www.playboy.com cả ngày.
Các hệ thống mở
Cái hay của TCP/IP là tính độc lập về mặt môi trường, có nghĩa là máy nào cũng có thể dùng để nối vào intranet được, bất kể đó là IBM PC, Apple Macintosh, Unix workstation hay thậm chí cả những hệ thống mainframe hoặc midrange của IBM. Nói một cách khác, intranet biến mạng trở thành một hệ thống mở, đồng nhất mọi công nghệ truyền thông điệp hay trao đổi file giữa các máy.
Một trong số những lợi ích không ai phủ nhận được của intranet là nó có thể làm cho ước mơ "một văn phòng không giấy" trở thành hiện thực. Vì máy tính là nhân vật chính đầu tiên trong kịch bản "văn phòng không giấy", là bằng chứng hùng hồn về một công nghệ không tưởng. Tuy nhiên, ngày đó vẫn còn chưa đến. Có intranet, bạn chẳng cần phải in văn bản ra và gửi bằng chuyển phát nhanh đến văn phòng tại Singapore chỉ vì bạn dùng PC còn ở Singapore người ta lại xài Mac.
Bạn còn có thể đưa mọi thông tin về công ty lên intranet, ví dụ như các qui định đối với nhân viên, số điện thoại của từng người, các chính sách và nội qui, v.v... Như vậy các đồng nghiệp ở những văn phòng khác đều có thể truy cập vào để xem thông tin này nếu họ được kết nối vào mạng.
Ngoài việc mang lại hiệu quả trong công việc, intranet còn giúp bạn giữ cho luồng thông tin luôn được cập nhật. Thay vì phải gửi thông báo đến cho 100 người, bạn chỉ phải cập nhật vào một file.
Nhiều công ty chỉ sử dụng intranet vào mục đích trao đổi thư điện tử. Nhưng xin mách với bạn thêm một số thứ có thể khai thác được, ví dụ như tổ chức những cuộc "họp ảo" (virtual meeting) bằng NetMeeting, CoolTalk, hội đàm từ xa qua video bằng Intel Proshare hay theo dõi cổ phiếu theo thời gian thực. Hãy biết cách tiết kiệm chi phí đi lại!
Cứ xây dựng đi rồi họ sẽ đến
Để xây dựng một mạng intranet, trước tiên bạn cần có một mạng, và nếu bạn đã có một mạng LAN thì bạn hoàn toàn có thể tận dụng nó và thêm vào một số bộ phận cần thiết khác như các Web server và đường thuê bao. Tất nhiên, bạn cũng cần xem xét khả năng tăng nhanh đáng kể số người kết nối vào mà xác định xem mạng của bạn có đủ băng thông hay không. Khi sử dụng cho những ứng dụng multimedia nặng nề như hội đàm từ xa, intranet cần rất nhiều băng thông. Trong những trường hợp như vậy, bạn phải có một server riêng. Bạn cũng phải dành ra một khoản ngân sách cho việc đào tạo và bảo trì hệ thống, thông thường là cao hơn chi phí cho trang bị phần mềm và phần cứng.
Novell thức tỉnh bởi hiện thực của Internet và liền lập tức đưa ngay khả năng internetworking vào NetWare. Microsoft cũng không sợ "tụt hậu" vì đã có Windows NT và Internet Information Server. Thậm chí cả Lotus cũng đang cố gắng cho ra trình duyệt xét Web tương thích Notes đầu tiên. Tuy nhiên, bản chất mở của Internet có nghĩa là bạn không cần phải trao cả tương lai công ty mình vào tay chỉ một nhà sản xuất nào.
Ngược lại, bạn có thể xây dựng một mạng rồi sử dụng tất cả các giải pháp của các hãng nói trên.
Hãy bắt tay vào việc
Ngoài những ứng dụng đã nói đến ở trên, sau khi intranet của công ty bạn được hoàn tất, các nhà phát triển vẫn phải tiếp tục làm việc nhằm làm cho mạng trở nên hữu dụng hơn. Cụ thể là, không ai muốn một ngày nào đó các PABX (hệ thống điện thoại nội bộ) lại trở thành một phần của intranet. Máy điện thoại sẽ chỉ được nhắn đến như một kỷ vật trong quá khứ và máy tính sẽ chính là máy điện thoại đối với những ai sử dụng VocalTec's Internet Phone. Bạn có thể hình dung ra số tiền bạn tiết kiệm được cho những cuộc gọi đường dài.
Nếu chịu khó dạo "lòng vòng" trên Internet chắc chắn bạn còn tìm thấy nhiều lời chào mời hấp dẫn cho việc xây dựng mạng intranet rẻ tiền, nhanh chóng và dễ dàng. Mọi việc thật đơn giản. Hãy bắt tay vào việc!Máy chủ (server) là một cái hộp và là nền tảng của mạng intranet, đúng không? Một máy PC hoặc Mac bất kỳ nào cũng đảm nhiệm được vai trò này. Vâng, đúng và cũng không đúng.
Làm việc với HTML (hypertext markup language - ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản) không là vấn đề khó nhọc đối với máy tính loại trung bình của bạn, nhưng các thay đổi theo xu hướng thời đại sẽ làm cho bạn phải suy nghĩ nhiều hơn nữa đến phần cứng đang có để hỗ trợ cho các Web server.
Các thành quả trong xã hội tăng theo tốc độ tên lửa, số lượng trang Web thường sẽ nhiều gấp đôi sau mỗi chu kỳ 6 tháng và các công việc mới - như truy cập vào các cơ sở dữ liệu thừa kế chẳng hạn - sẽ nhiều hơn lên so với khả năng có thể chịu đựng được của các máy chủ hiện nay.
"Intranet đang trở thành máy chủ cho các ứng dụng", Mike Mata, giám đốc kinh doanh các giải pháp Internet của Compaq Computer, phát biểu. Vì lý do đó, một số hệ máy thông thường sẽ sớm được xem xét để sử dụng vào chức năng này để nâng cao được tính hiệu quả, khả năng quản lý, năng suất hoạt động, và mức độ linh hoạt.
Nếu bạn không tính đến một trong các điều đó trước khi phủi bụi cho chiếc máy 486 và đưa nó vào hoạt động thì hãy khoan, đừng làm tội nó. Nói ngắn gọn, đó sẽ là tất cả những gì mà bạn cần đến.
Theo các nhà tư vấn thì chính phần mềm mới đáng được chú ý. Chín mươi chín phần trăm trục trặc mà chúng ta gặp phải đều dính líu đến phần mềm".
Điều này có nghĩa, bạn không muốn mất đến sáu tháng trời điều chỉnh phần mềm của mình chỉ để phát hiện ra rằng phần cứng đã chạy hết ga rồi. Bây giờ chính là lúc phải cân nhắc xem sự tiến triển của intranet có tác động như thế nào đến kế hoạch phần cứng.
Người khổng lồ tí hon
Một điều đáng kinh ngạc về intranet là những yêu cầu về xử lý đều không cao lắm hiện nay. Sau nhiều năm nhanh hơn, lớn hơn, nhiều hơn, đến nay bạn đã có thể bắt đầu nối mạng thật sự với không phải một cái gì khác lạ hơn là những chiếc máy PC hoặc Macintosh.
Một ví dụ, trong khi Trung tâm Y học Mayo dùng Server SPARC-20 của Sun Microsystems để phục vụ cho các trang tin nội bộ, thì phần lớn mạng intranet của trung tâm vẫn dựa trên một nhóm khoảng 50 máy PC và Mac khác.
Theo thực tế, chỗ thắt nút trong các môi trường Ethrnet tốc độ 10 bit/sec là dây nối, chứ không phải là máy tính. Máy có thể phục vụ cho tất cả các tập tin mà mạng còn có khả năng điều tiết.
Apple Computer chẳng hạn, đã từng tuyên tố có thể hỗ trợ cho 100.000 máy khách của mạng intranet bằng cặp máy Macintosh 8550/200s ghép thành dãy, mỗi máy được lắp 40 đến 60MB RAM và một ổ đĩa cỡ gigabyte. Apple cho biết là bạn cần có một máy để làm dịch vụ HTML, và một máy khác để hỗ trợ cho các cơ sở dữ liệu.
Các chuyên gia cho biết việc xuất bản thụ động không gây căng thẳng cho máy chủ, và dịch vụ các trang HTML rất dễ dàng, ngay bộ xử lý cũng không phải vất vả với việc này.
Nhưng đó là hôm nay. Còn ngày mai thì không dễ dàng như vậy.
Tập trung nhiều áp lực sẽ gây căng thẳng cho các máy chủ của intranet, bao gồm cả mọi vấn đề phát sinh từ việc bùng nổ số lượng trang tin cần lưu trữ cho đến khả năng video và audio được intranet hỗ trợ.
Quá trình có thể diễn ra như sau:
Càng nhiều người dùng đưa máy vào trực tuyến, thì càng nhiều tài liệu ấn phẩm có cơ hội được đọc đến, và số lượng trang bắt đầu tăng lên.
Không gian đĩa trên một số máy chủ trung tâm sẽ bị tràn và yêu cầu của máy chủ bị chậm lại khi mạng nạp tải.
Lúc này bạn sẽ nhận thấy cần thiết bổ sung thêm không gian đĩa lớn hơn và hoặc dành riêng một tuyến dẫn 10M bit/sec cho máy chủ hoặc đưa nó vào một mạng cục bộ 100M bit/sec, bộ xử lý bắt đầu bị nghẹt vì những người dùng đã làm phình to nội dung trực tuyến bằng đồ họa, ảnh và các thành phần khác làm tăng kích thước trang.
Thời điểm đổ vỡ xảy ra khi mọi người bắt đầu đưa các câu hỏi yêu cầu Web server cung cấp nội dung, và máy chủ đó cần phải liên lạc với một cơ sở dữ liệu ở xa để tạo ra trang tin được yêu cầu. Vì vậy bạn phải nâng cấp máy chủ bằng cách bổ sung thêm bộ xử lý và tăng cường bộ nhớ lớn hơn.
Nhưng hiện nay, các ứng dụng trên intranet bắt đầu được lưu ý, được phát huy tác dụng, và được hoạch định hướng phát triển chiến lược. Đây là thời điểm người ta bắt đầu chú ý đến việc quản lý các công cụ, đến các tùy chọn có sẵn như độ dư thừa, các cơ cấu truy tìm có khả năng định vị dữ liệu phân tán rải rác trong cơ quan, và các tùy chọn về an toàn như mã hóa chẳng hạn. Và có thể đây cũng là thời điểm bổ sung năng lực xử lý mạnh hơn, bộ nhớ lớn hơn, và không gian đĩa lớn để phù hợp với tất cả các đòi hỏi trên.
Tiếp theo là khả năng đáp ứng đa phương tiện. Bạn phải tăng cường các máy chủ của mình để quản lý gánh nặng này. Nhưng đối với những ứng dụng video liên tục thì tốt nhất là dành riêng một máy chủ để hỗ trợ.
Việc này có hấp dẫn lắm không? Có thể có, có thể không. Nhưng tốt hơn là đề phòng trước những trường hợp xấu nhất ngay từ bây giờ, thay vì phải chịu đau khổ trong năm sau.
Hãy xem một dẫn chứng sau đây: mạng intranet của Digital Equipment Corp. bao gồm 1.100 vị trí Web, đã hỗ trợ 400.000 trang HTML vào tháng 2/1995. Trong vòng sáu tháng sau số lượng trang đã tăng lên hơn gấp đôi, đến 900.000 trang. Kathleen Pacyna là giám đốc tiếp thị đối với chương trình server intranet của Digital đã cho biết.
Kiểu tăng vọt này không hiếm trong số những người tiên phong của intranet. Và đây chỉ mới là dấu hiệu đầu tiên trong các vấn đề mà chúng ta sẽ gặp.
Những yêu cầu về môi trường
Đối phó với sự bùng nổ về nội dung thường chỉ đơn giản là bằng cách bổ sung thêm không gian đĩa. Không có gì đáng sợ.
Chỗ đáng quan tâm là khi hiệu suất máy bắt đầu sụt giảm do sử dụng nhiều. Điều này là nguyên nhân chính làm cho mạng bị trục trặc hiện nay.
"Trường hợp có hơn vài tá máy khách cùng thâm nhập vào máy chủ đồng thời. Khi bạn đang sử dụng dải tốc độ hơn nửa triệu bit mỗi giây, bạn sẽ phải đẩy tốc độ lên 10M bit", Mata của hãng Compaq phát biểu. "Hầu như ngay lập tức, bạn phải tăng đến tốc độ 100M bit".
Và khi bạn phát triển mạng, điểm thắt sẽ chuyển dời vào máy chủ. Trong lúc máy Pentium 166 MHz với 64M byte RAM và một ổ đĩa lớn là tốt đối với mạng Ethrnet tốc độ 10M bit/sec, thì trong môi trường mạng 100M bit/sec có thể bạn sẽ cần đến máy PC 200 MHz hoặc máy Mac tương đương với 128 MB RAM hoặc hơn, hay ngay cả máy mạnh hơn như loại RISC của Digital hoặc Sun.
Vấn đề là: Khi các hạn chế của mạng đã được loại bỏ, thì các câu hỏi về phần cứng sẽ được quan tâm đến. Lớn cỡ nào? Nhanh cỡ nào? Bao nhiêu thì đủ? Không có quy tắc cố định nào ở đây cả, tuy vậy, các chuyên gia cũng đưa ra một số ý kiến. Điều này tùy thuộc vào máy chủ sẽ được dùng để làm việc cụ thể gì. Nếu cho là máy sẽ làm dịch vụ các trang Web. Nhưng trang Web hôm nay có thể khác trong ngày mai.
Theo Digital, một trang Web thông thường được tạo bởi bốn tập tin riêng rẽ - gồm các logo, các biểu tượng, văn bản, và thanh công cụ chẳng hạn - và mỗi tập tin cỡ 16KB.
Các nhà bình luận đều phát biểu cứ sau một hoặc hai năm, các trang tin có thể trở nên lớn hơn từ năm đến mười lần do được bổ sung thêm nhiều hình ảnh, tiếng, video v.v... Cho nên, nếu bạn định cỡ cho máy chủ của mình trên cơ sở số lượng các truy cập của người dùng trong mỗi giờ và kích thước tập tin trung bình, thì mới hình dung hết mức độ lớn của nó. Hãy ước chừng một cách rộng rãi nhất rồi sau đó tăng nó lên ít nhất gấp bốn lần.
Với tính toán như vậy, bạn hãy xem xét có bao nhiêu phần trăm các trang tin của mình phải được tạo ra theo phương thức động. Đây có lẽ là một yêu cầu duy nhất nhằm vào sự phát triển trong tương lai.
Nếu có từ 20% đến 30% trong số tập tin của bạn được tạo ra theo phương thức động hôm nay, thì một năm sau có thể là hơn 50%. Một yêu cầu của bộ duyệt (browser) có thể phải truy cập vào ba cơ sở dữ liệu khác nhau và thực hiện 10 lần tra tìm cơ sở dữ liệu. Điều này khác xa với việc đáp ứng một trong HTML tĩnh. Đồng thời mức độ phức tạp của công việc cũng thay đổi.
Mata của Compaq đã phát biểu: "Khi mà mọi người đều muốn có được nhiều ứng dụng hơn thông qua bộ duyệt Web - đa phương tiện, các cơ sở dữ liệu mới nhất, theo dõi xử lý công việc, hoặc thông tin lưu trữ trong các sản phẩm phần mềm nhóm như Lotus Notes chẳng hạn - thì đã đên lúc bạn phải nói về một máy chủ ứng dụng mạnh".
Tăng cường cho máy chủ
Vì không thể dự đoán trước những yêu cầu của người dùng cuối như thế nào, và sự trộn lẫn dữ liệu và các ứng dụng ra sao (có bao nhiêu chương trình con Java đang chạy v.v...), nên điều tốt nhất phải thực hiện khi tăng cường khả năng của máy chủ là xây dựng sẵn khả năng có thể mở rộng bên trong bản thân máy. Hãy quan tâm đến máy có khả năng đa xử lý đối xứng (SMP), bạn sẽ có thể bổ sung thêm nhiều bộ xử lý khi các yêu cầu thay đổi, đồng thời hỗ trợ việc liên kết (clustering) để có thể kết chuỗi có bộ xử lý với nhau.
Hầu hết các máy chủ trên cơ sở máy PC cao cấp đều có khả năng hỗ trợ SMP bốn đường (four-way SMP). Bạn có thể chọn máy Compaq Proliant 5000 chẳng hạn, là loại có bốn bộ xử lý Pentium Pro. Cũng tương đương như vậy là máy NF 9000 của NetFrame Systems, Inc.
Bạn không nên cứ mặc thêm mãi cùng một loại áo cho nàng công chúa của bạn mỗi khi bổ sung bộ xử lý, Mata của Compaq cho ý kiến. "Bạn sẽ tăng thêm hiệu suất đáng kể bằng bộ xử lý thứ hai, và sẽ rất tốt với bộ xử lý thứ ba. Nhưng cái thứ tư sẽ không tăng được bao nhiêu vì tất cả phụ thuộc vào phần mềm."
Cũng đừng quên kiểm tra các bộ phận khác được tăng cường như thế nào. NetFrame cho phép người sử dụng có thể thay nóng các board mạch PCI, các ổ đĩa, bộ nguồn nuôi và các quạt trong máy NF9000 mà không cần tắt hệ thống. Bộ nhớ có thể tăng lên đến 2GB, không gian đĩa đến 500GB. Máy này có trang bị một bộ xử lý vào/ra dựa trên cơ sở 486, nhưng có thể nâng lên đến tám bộ như vậy.
NetFrame giải thích rằng các bộ xử lý vào/ra dành riêng này sẽ khắc phục được hiện tượng thắt cổ chai nhờ cách ly sự lưu chuyển vào/ra tốc độ chậm với bộ nhớ và các chức năng vào/ra có tốc độ nhanh.
Dĩ nhiên, nếu bắt đầu với một máy RISC mạnh, thì bạn sẽ không phải bận tâm về việc nâng cấp sớm như trường hợp bắt đầu với máy PC hoặc Mac. Nhưng khi bạn phát triển nhanh một hệ thống RISC, thì không gì có thể so sánh được với những hệ thống này được tăng cường.
Hãy cân nhắc về điều này: Khi Digital mới đưa ra cơ cấu dò tìm AltaVista (altavista.com), họ đã cho chạy nó trên một hệ thống máy Digital Alpha có hai CPU. Hệ thống này đã được phát triển thành một cụm gồm 10 máy Alpha với 40 bộ xử lý. Tất cả chúng đã được thực hiện ghép nối trong chế độ trực tuyến. Hiện tại, Digiatal đã đưa công nghệ liên kết vào các hệ PC chạy Windows NT.
Một số trong khả năng liên kết giống như trên được dùng cho các môi trường PC, vì công nghệ liên kết đã được các hãng Compaq, Microsoft Corp. và Tandem hỗ trợ.
Các sản phẩm đầu tiên của Compaq dựa trên nỗ lực này đã giúp công ty nâng cao khả năng sẵn sàng của máy chủ bằng cách cho phép thiết bị này sao lưu vào thiết bị kia. Trong năm nay, công ty sẽ chú ý đến việc sử dụng công nghệ liên kết để tăng cường công suất máy.
Nói chung, nếu mọi vần đề đều bình thường, mạng intranet trung bình của bạn vẫn có thể dùng các máy PC hoặc Mac để làm máy chủ ở mức phòng ban, còn các máy PC, Mac được liên kết hoặc các hệ thống RISC công suất lớn được sử dụng để phục vụ cho các trang Web nội bộ cũng như các chức năng cộng tác.
Bùi Xuân Toại
Network World 12/96
Những điều ảnh hưởng đến công việc
Đây là một số nguyên nhân làm nặng gánh thêm cho các máy chủ trong mạng intranet của bạn
Sự bùng nổ trang tin
Web nội bộ của Sun Microsystems hỗ trợ hơn một triệu trang. Của Digital Equipment Corp. thì có 900.000 trang. Điều lưu ý là số trang tăng gấp đôi trong mỗi sáu tháng khi tất cả mọi người nhận thức được khả năng của intranet.
Sự phình to cỡ trang
Một trang trung bình hiện nay gồm bốn tập tin 16 KB (đối với những loại như văn bản, các logo, các thanh công cụ. v.v..) tức tổng cộng là 64 KB tất cả. Hãy tính xem việc bổ sung thêm các thành phần đa phương tiện sẽ mở rộng kích thước trang dần theo từng mức độ trong vòng một năm là bao nhiêu.
Tạo trang động
Nếu chỉ 20% đến 30% số trang hiện nay được tạo ra bằng phương thức động, máy chủ phải tham chiếu tới một hay nhiều cơ sở dữ liệu để chắp nối thành một trang tin theo yêu cầu của bộ duyệt - thì sau một năm nữa sẽ là 50%, và sẽ bòn rút cạn kiệt tài nguyên của máy chủ.
Bảo mật
Hiện nay có thể có 5% tập tin được mã hóa. Trong vòng một năm nữa, con số này sẽ lên tới 20% vì lượng thông tin nhậy cảm được đưa vào intranet nhiều hơn, có nghĩa là máy chủ sẽ phải mất nhiều thời gian hơn cho việc mã hóa và giải mã các tập tin đó.
Tạo dòng video
Người ta đã làm mọi cách để nhét thêm video vào, điều này khiến cho một server Web Pentium 90 MHz có thể hỗ trợ cho 15 đến 20 dòng video (stream), trong khi vẫn thực hiện chức năng phân phối các trang HTML bình thường của mình. Số dòng video ngày càng nhiều hơn nên bạn sẽ phải dành riêng một máy cho nhiệm vụ này; làm như vậy, với một PC cùng loại có thể hỗ trợ cho khoảng 50 đến 60 dòng video. Thực tế cho thấy, năm đến mười người dùng có thể chung nhau một dòng video. Cho nên, nếu bạn có cùng lúc 10 dòng bạn có thể hỗ trợ cho 50 đến 100 người dùng.
Bao nhiêu thì vừa
Xem xét cấu hình bộ nhớ và đĩa
Nếu bạn gặp trục trặc không thể cứu gỡ và quyết định phải nâng cấp một số máy chủ chính trong mạng intranet lên Pentium 200 MHz, thì một trong những câu hỏi đầu tiên được đặt ra là phải thêm bộ nhớ cỡ bao nhiêu vào đó và cấu tạo các đĩa như thế nào.
Mike Mate, giám đốc đơn vị kinh doanh các giải pháp internet của Compaq Computer Corp. đã phát biểu là phải suy tính đến số lớn khi xem xét RAM. Với các loại dữ liệu bình thường, một máy Compaq ProLiant 1500 đang hỗ trợ cho vài trăm máy khách sẽ cho hiệu suất tính theo tổng số byte trong mỗi giây, cao gấp bốn lần khi dùng 128MB RAM so với khi dùng 32MB RAM. "32 thì không đủ, còn 128 có thể hơi thừa", Mata cho biết.
Trong môi trường các tập tin lớn với Common Gateway Interface xen lẫn bên trong, bạn chỉ gia tăng được 10% đến 20% khi chuyển từ 32MB lên 64MB RAM. Nhưng bạn sẽ tăng hầu như gấp đôi hiệu suất khi nhảy lên 128MB.
Dù chưa kiểm chứng chặt chẽ, nhưng có thể 128MB cũng không đủ đối với các máy chủ Web đa phương tiện.
Câu hỏi về đĩa liên quan đến sự trao đổi không cân xứng giữa lợi ích và tốc độ. Chẳng hạn như nếu tốc độ là cần thiết và một vài bit có thể hy sinh được như trong đào tạo bằng đa phương tiện, người sử dụng sẽ không thể nhận biết các bit bị rơi rớt thì bộ lưu trữ RAID Level 0 là phương thức đáng ao ước: Dữ liệu được đọc ra từ đĩa mà không dùng bất kỳ parity nào để kiểm lỗi. Phương thức này không cho khả năng phục hồi lại dữ liệu chính xác, nhưng tốc độ truyền thì đạt được cực đại.
Nếu đang nói về các dữ liệu ứng dụng, bạn sẽ cần RAID level 1 hoặc 5; cả hai phương thức này đều có sự dư thừa dữ liệu. Nhưng khi tăng đến vài trăm khách hàng, tốc độ byte/sec có thể sụt còn 1/3 nếu bạn sử dụng hệ thống lưu trữ RAID.
Bạn và đồng nghiệp đã lướt trên Web, nhưng vẫn còn làm việc theo cách cũ phải không? Hãy thiết lập ngay mạng intranet cho riêng mình, rất tiết kiệm!
Hoan nghênh bạn đến với trường dạy về mạng intranet của chúng tôi. Xin hãy tự nhiên tìm tòi và học hỏi - không ai biết bạn đang ở đây cả.
Bạn là một nhà quản lý? Bạn đã điều hành tập thể của mình hoạt động rất tốt. Nhưng bạn cho rằng còn có thể làm tốt hơn, và đồng thời cũng biết rõ những gì đang gây trở ngại cho bạn - đó là sự thất bại trong việc trao đổi thông tin! Bạn muốn những thành viên trong nhóm phải đóng góp thông tin tốt hơn, tránh để rơi thông tin vào tay bọn trộm cắp, nghe được tin tức một cách nhanh chóng, và dễ dàng tìm thấy những tài liệu then chốt cũng như các thông tin thiết yếu khác.
Nói tóm lại, bạn phải làm với các đồng nghiệp của mình cùng những loại công việc mà xưa nay bạn vẫn làm tất cả trên mạng Internet.
Thực ra, bạn hy vọng là có thể sử dụng chính những công cụ Internet này để đạt được những trợ giúp thật sự trong công việc - điều này chỉ xảy ra nếu bạn tìm được đúng các hệ thống thích hợp. Liệu hệ thống thông tin trong công ty bạn có quan tâm đến điều này không? Đôi khi là có, nếu bạn là người may mắn. Nhưng nếu những gì bạn muốn làm trên mạng của công ty không được xem là một tài liệu mang tính chiến lược, thì chính bạn cũng có thể đã quên mất nó. Thế giới những người quản lý các hệ thống thông tin cũng có những vấn đề của riêng họ, và những vấn đề của bạn, họ không quan tâm.
Không có cách giải quyết nào khác, không có một tia sáng nào ở cuối đường hầm, loại trừ một con đường ra duy nhất. Một phương án lựa chọn có thể làm thay đổi mọi tình huống, đó là:
Mạng intranet riêng cho chính nhóm của bạn.
Vâng, bạn có thể vỗ tay vui mừng, đó là sự thực. Intranet chính là một mạng Internet nội bộ, nó cho phép mọi người có thể đóng góp những thông tin nào mà họ thích, bằng những phần mềm đã có sẵn trên các PC của họ: các trình duyệt Web (Web browser).
Đến đây, những gì bạn muốn nói sẽ là: “Những người quản lý hệ thống thông tin đang tạo nên mạng intranet cộng tác cho công ty của chúng ta, còn chúng ta thì chỉ lấy được thông tin nào mà họ chọn để đưa cho.”
Nhưng hãy quên ngay “chuyện vớ vẩn đó!”. Đừng thấy sóng cả mà tay chèo. Hãy xin, mượn, hoặc lấy cho được một intranet server! Hoặc bằng bất cứ giá nào để có nó trong tay, và thiết lập mạng intranet riêng cho chính bạn.
Những gì chúng ta có thể thực hiện ngay tức khắc trên mạng intranet của mình?
Hãy quên đi tất cả những thứ nhạt nhẽo mà bạn thấy trên các site World Wide Web thương mại lớn. Chắc chắn bạn ước muốn đạt đỉnh cao, nhưng quyền ưu tiên trước nhất của bạn chỉ là những dữ liệu dùng chung trong nhóm. Đối với loại này bạn không có yêu cầu gì khác thường. Điều bạn cần là một khoảng không gian trên máy chủ intranet server. Hãy xin một ít khoảng trống nào đó trên một máy chủ đã có trong thế giới các hệ thống thông tin, hoặc xóa bỏ một cách cương quyết và tự làm lại tất cả (xem mục “Danh sách Server Intranet”).
Khi đã có được một máy chủ cho mạng intranet của mình, bạn có thể làm được một khối lượng công việc đáng kinh ngạc mà không phải dùng đến các phần mềm server hay các chức năng đặc biệt nào của trình duyệt. Rất dễ dàng đưa vào server intranet các hồ sơ, các bản giới thiệu có giá trị, hoặc mọi loại tư liệu mà bạn ưa thích.
Chẳng hạn, nếu đã mua một hệ máy PC vài năm trước đây, thì bạn vẫn có thể dùng trình xử lý văn bản của nó để tạo ra kiểu tài liệu, như một bản dự án chẳng hạn, theo quy cách HTML (loại ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản của World Wide Web), và đưa nó vào trong server intranet.
Tất cả được dùng để giới thiệu, trình diễn. Thực ra, bạn có thể đưa các tài liệu văn bản đơn giản đã dùng lâu nay vào máy chủ nếu muốn trình duyệt có thể đọc được nó cũng dễ dàng như một tài liệu HTML. Và nếu bạn có phần mềm tìm kiếm đang chạy trên máy chủ, bạn cũng có thể tìm thấy tài liệu này ngay cả trong trường hợp không có gì liên kết với nó.
Bạn sẽ hỏi tại sao phải làm những việc đó? Lý do bằng những việc lưu trữ, tìm kiếm và lấy ra các tài liệu trên server intranet, bạn có thể tiết kiệm được nhiều thời gian trong việc chuẩn bị sẵn sàng các tài liệu cần thiết cho mọi người - bất kể chúng nằm trên máy nào và ở vị trí nào.
Nếu có lỗi trong tài liệu đưa vào máy chủ, bạn có thể sửa ngay, và báo cho nhóm làm việc rằng tài liệu đó đã được thay đổi. Bạn cũng không phải gửi cho mỗi người bản tài liệu bị sửa lem nhem, hoặc chỉ cho họ cách tìm đến tập tin bằng một tên đường dẫn phức tạp, cần dùng đến một nửa số chủng loại phần mềm mà những người nhận không thể nào có được. Thay vào đó, bạn chỉ cần gửi đi mối liên kết với tài liệu - và chỉ bằng một cái nhấn chuột là họ đã có nó.
Hãy khuyến khích các thành viên trong nhóm đưa mọi vấn đề thực sự có ích vào server intranet. Giao cho một số người nào đó nhiệm vụ thường xuyên quét qua toàn mạng intranet để nắm vững những gì đã được gửi vào, và quy định cho họ mỗi tuần phải phát một thông báo bằng thư điện tử để báo lại cho mọi người biết về những thông tin mới.
Chẳng hạn, khi một thành viên của nhóm phát triển thông tin gửi bản dự án mới nhất lên server intranet, thì phải làm sao để bảo đảm cho mọi người có liên quan đến dự án đó đều biết cách tìm nó như thế nào. Sau đó, khuyến khích những người này gửi lại cho anh ta những ý kiến và ý tưởng mới của họ về dự án.
Bạn có thể đầu tư thêm một máy quét tài liệu cá nhân để các thành viên trong nhóm có thể thường xuyên bổ sung những tài liệu in vào các tập tin intranet.
Một điều quan trọng: mỗi người đều phải có một áo khoác riêng cho mình. Mặc áo với nhiều kiểu cách khác nhau bao giờ cũng có ích. Ví dụ, bạn có thể gửi đi một bảng sơ đồ bố trí cán bộ, sơ đồ này sẽ rất cần thiết đối với những nhóm lớn hoặc những tình trạng phức tạp, trong đó các thành viên hay phải đi công tác hoặc thường xuyên liên lạc với nhau từ xa. Trong sơ đồ này, mỗi thành viên đều có một trang chủ (home page) liệt kê những thông tin về bản thân họ như nghề nghiệp, báo cáo cho ai, đang làm việc trên hệ thống nào, số điện thoại, và thời gian biểu.
Dĩ nhiên sẽ tốt hơn nếu bổ sung thêm một phần mềm dùng cho máy chủ để sắp xếp những gì mà bạn gửi vào. Nếu bạn có thể lưu trữ các sổ ghi dịch vụ khách hàng trong một cơ sở dữ liệu trực tuyến mà không phải là một loạt những hồ sơ rời, thì bạn sẽ có một hệ thống dễ quản lý hơn.
Chúng ta còn có thể làm được gì?
Nếu chỉ đầu tư một ít tiền cho phần mềm, đồng thời có đủ thời gian để chuẩn bị và cho nó chạy, thì khối lượng công việc phải làm sẽ rất lớn. Còn nếu bạn có ý định thử làm chút ít công việc lập trình, hoặc có một cộng tác viên có khả năng làm việc đó, thì thế giới thông tin sẽ mở rộng ra trước mặt bạn. Sau đây là một số khả năng.
1. Lấy ngay dữ liệu của những công ty đang hoạt động, như các cơ sở dữ liệu khách hàng và sản phẩm của họ chẳng hạn. Hiện nay có nhiều công cụ cho phép bạn “chôm” những cơ sở dữ liệu có sẵn và đưa vào các máy chủ intranet của bạn (làm việc này đôi khi phải thủ đoạn).
2. Hoàn thiện dịch vụ khách hàng. Bạn có thể mua một số trình ứng dụng đắt tiền và hấp dẫn để nắm bắt một cách thực chất cách giải quyết các yêu cầu đặc biệt của khách hàng. Nếu không làm được như vậy, bạn hãy ghi lại các cuộc gọi và các giải pháp vào server intranet của mình, đồng thời phải bảo đảm là các hồ sơ đó sẽ được nghiên cứu. Nếu chỉ đơn thuần ghi chép lại, bạn sẽ chỉ được một nguồn tài nguyên không có giá trị lắm để dùng cho việc lập kế hoạch, cho các dự án và các dịch vụ bán hàng.
3. Ghi chép và đánh dấu các thông tin của dự án. Đối với mỗi dự án, hãy thành lập một trang để chứa các thông tin về nhiệm vụ và về tình trạng, đồng thời liên kết các tài liệu có liên quan khác với nó. Điều này sẽ làm cho mạng intranet của bạn tương đương như một cơ sở kiến thức đối với các công việc quá khứ, hiện tại và tương lai. Một lần nữa ở đây, bạn cũng nên có tất cả các loại trình ứng dụng tinh vi về dự án trên intranet, nếu bạn có đủ tiền.
4. Thiết lập hệ thống báo cáo bán hàng. Lưu lại các báo cáo bán hàng, báo cáo đặt hàng và thông tin khách hàng trong mạng intranet của bạn. Trong một số trường hợp, có thể sẽ phải liên kết tài liệu này với các nguồn gốc tin, các bản ghi chép dịch vụ khách hàng, và các thông tin hỗ trợ khác.
5. Thay các mẫu giấy tờ nội bộ. Hiện đang có sẵn quá nhiều các phần mềm công cụ cho phép bạn biên soạn các mẫu giấy tờ đơn giản để thu giữ dữ liệu rồi đưa nó vào thư điện tử hoặc các cơ sở dữ liệu - tất cả đều không cần đến công việc lập trình.
6. Những công cụ thảo luận nhóm đều đang chuyển hướng mạnh, nhằm vào Internet và intranet. Có thể sử dụng những công cụ đó rất tốt cho các nhóm nhỏ, phân tán.
7. Phân phối tin. Bạn có thể để mặc mọi người nếu họ có thì giờ lang thang xung quanh Web và intranet để nhặt tin tức. Hoặc (sẽ tốt hơn nhiều) bạn đưa một số phần mềm lên máy chủ để sưu tập một cách có hệ thống các dữ liệu từ hầu hết các nguồn, và phân phối ra cho tất cả mọi người có liên quan.
Trở lại vấn đề chính: Làm cách nào để có một server intranet?
Điều này phụ thuộc vào tình hình quản lý cụ thể của tổ chức bạn. Nếu nhóm các hệ thống thông tin của bạn đã có một server intranet đang chạy thì hãy cố thuyết phục họ giúp đỡ. Nếu họ do dự thì hãy nói thêm rằng bạn sẽ không đòi hỏi một sự hỗ trợ phiền phức nào, mà chỉ cần một khoảng trống nào đó để thâm nhập.
Cuối cùng, nếu không tìm được sự giúp đỡ từ thế giới các hệ thống thông tin đó, thì bạn phải tự tổ chức và xây dựng lấy một server intranet.
Điều này thực tế không khó khăn quá như bạn tưởng. Bạn có thể cho chạy phần mềm server ngay trên hệ thống máy để bàn của một số người nào đó nếu họ có bộ vi xử lý đủ mạnh và bộ nhớ đủ lớn. Nếu có khả năng dành riêng một PC trong mạng làm máy chủ thì tốt nhất, và một PC 486 không cần trang bị thêm là đủ để bắt đầu được rồi. Sau đó là câu hỏi về hệ điều hành và phần mềm server (xem “Danh sách Server Intranet”).
Bây giờ thì chỉ còn tổ chức hệ thống và cho chạy, bổ sung đủ mọi trình ứng dụng cần thiết, hướng nó vào phục vụ cho nhóm bạn, và bắt đầu đưa một số nội dung có tác dụng vào. Còn nếu muốn có khả năng gọi ra ngoài cơ quan thì gắn thêm modem, nối vào một tuyến điện thoại, và bắt buộc phải tuân theo một số mật khẩu.
Có thực dễ dàng như vậy không?
Sự thực là không mấy khó khăn trong việc chuẩn bị chạy một mạng intranet. Chỉ cần bạn hiểu rõ mục đích và tác dụng của intranet và có quyêt tâm làm việc này. Bao giờ cũng như vậy.
Nếu nhóm các hệ thống thông tin của bạn thực hiện mạng intranet với mức độ cao, cho nhiều người truy xuất thì có lẽ bạn phải cần đến các công cụ mạnh và mới nhất.
Cho đến đây, bạn đã biết rõ mình có thể làm được những gì rồi đó. Chúc may mắn với mạng intranet kín đáo của bạn. Xin mời bạn rời lớp học bằng cửa sau. Chúng tôi sẽ gửi bằng tốt nghiệp cho bạn bằng thư điện tử nếu bạn tiếp xúc với chúng tôi qua một hòm thư nặc danh. Và, xin hoan hô cuộc cách mạng!
Danh sách Server Intranet
Bạn chỉ có ngân sách hạn chế và không thể thâm nhập vào thế giới các hệ thống thông tin để chia xẻ các trò chơi với họ phải không? Sau đây là cách thức để bắt tay vào xây dựng một mạng intranet cỡ văn phòng lớn.
Đầu tiên, hãy chọn một PC có CPU nhanh cỡ 486 trở lên, một bộ điều hợp mạng (network adapter) cùng với một ít cáp nối, bộ nhớ tối thiểu 16MB, và một ổ cứng 500MB trở lên. Đối với hệ thống máy Macintosh, bạn cần có loại tương đương PowerMac 6150/50 với bộ nhớ 16 MB. Phải rồi, bạn còn cần phải có một lời ban phúc từ thế giới các hệ thống thông tin cho phép bổ sung thêm một máy vào mạng.
Chú ý, bạn cũng có thể dùng chung máy tính đang hoạt động của ai đó, tuy nhiên bạn sẽ có thể phải tăng thêm bộ nhớ - 32 MB là con số tối thiểu mà bạn cần có trong một hệ máy dùng chung. Đồng thời phải bảo đảm PC của người đó là loại nhanh (Pentium 90 là thấp nhất). Mặt khác, máy chủ này sẽ ngưng phục vụ bất kỳ ai khi nó đang bận tính lại một bảng tính.
Thứ hai, hãy cài đặt một hệ điều hành thích hợp, như Windows 95 hoặc Windows NT, NetWare, OS/2, Mac OS, hay Unix, tùy theo sự tiện dụng của bạn.
Thứ ba, bổ sung thêm phần mềm Web server (dịch vụ Web). Bạn có nhiều loại để chọn, nhưng nên bắt đầu với loại đơn giản và rẻ tiền nhất. Sau đây là một số loại phần mềm đang có sẵn.
- Apache (http://www.apache .org) hoạt động trên nền OS/2 và Unix. Đây là phần mềm được chọn phổ biến nhất cho máy chủ Web trên Internet bởi đó là một thử nghiệm it bảo đảm thành công. Nó có các tính năng rất phong phú và tài liệu tốt (nếu không phải là tài liệu kỹ thuật). Đây là loại phần mềm miễn phí, nhưng không có một sự hỗ trợ nào.
- Microsoft Internet Information Server (IIS) (http: //www.microsoft.com), hiện nay đã được kèm với Windows NT 4.0. Đây là một phần mềm server intranet đáng tin cậy và tiện lợi nếu bạn đang dùng NT, đồng thời bạn còn có thể có hỗ trợ. Cũng cần chú ý thêm, Microsoft FrontPage đi kèm với phần mềm máy chủ Web của chính nó, dùng được cho cả Windows 95 lẫn NT.
- NetWare Web Server của Novell (http://www.novell .com) giá 995 USD, tốc độ cực nhanh, nhưng cài đặt không dễ dàng.
- FastTrack server của Netscape (http :// www.netscape .com) giá 295 USD; có các phiên bản dùng cho Windows 95, NT, và nhiều biến thể khác nhau của Unix. Được thiết kế để dễ cài đặt và sử dụng, chạy rất nhanh, đồng thời còn cho một số tính năng tốt.
- Building Your Own WebSite for Windows 95 and NT của O’Reilly and Associates (http://www.ora.com), được bán ra trên đĩa CD-ROM cùng với một số tài liệu tốt nhất. Giá khoảng 59 USD.
- WebStar for Macintosh của Quarterdeck (http://www.quarterdeck.com). Đây là một giải pháp hiệu quả cho các máy chủ Macintosh với nhiều tính năng tiên tiến. Giá 895 USD.
Công cụ intranet cho chúng ta
Có nhiều công cụ intranet khác nhau. Sau đây là một ít trình biên tập trang và các bộ chương trình cơ sở dữ liệu được ưa thích dùng cho intranet.
Các trình biên tập trang Web
Texture Design của Future Tense 495 USD (http://www.futuretense .com) là một bộ biên tập thượng hạng dùng để làm cho việc giới thiệu nội dung hấp dẫn, khéo léo hơn. Nó đã được mô tả “như là một trình PageMaker dùng cho Web”.
FrontPage của Microsoft 149 USD là một bộ biên tập hạng nhất khác với giao diện đồ họa hấp dẫn và có nhiều mẫu, nhiều xảo thuật, và nhiều hình rời để bạn có thể bắt tay vào.
Word for Windows 95 cùng với Internet Assistant for Word là một hệ thống biên tập cơ bản thuộc loại có thể chấp nhận được.
Word for Windows 97 còn tốt hơn nữa.
Narvigator Gold của Netscape 79 USD là một bộ biên tập ở mức độ tập sự, chấp nhận được và có thể bạn đã biết giao diện của nó rồi.
HotMetal Pro của SoftQuad 159 USD (htt://www.softquad.com) là một sự chọn lựa tốt cho khuynh hướng nghiêng về kỹ thuật.
Các công cụ giống như Microsoft Front Page 2.0 làm cho nó rẻ tiền, dễ dàng và hấp dẫn trong việc tạo nên một site intranet.
Các sản phẩm cơ sở dữ liệu Web
Cold Fusion của Allaire 495 USD (http://www.allaire.com) là một công cụ phát triển Web khá hoàn hảo.
WebFiler của Alpha Software 995 USD (http://www. alphasoftware.com) cho phép những người bình thường có thể xây dựng những cơ sở dữ liệu intranet.
Web.dat của Corel 100 USD (http://www.corel.com) dùng rất tốt cho việc thông dịch các cơ sở dữ liệu đang có để dùng cho intranet.
Intra Builder Professional của Borland 500 USD có cùng công dụng như trên, những gói phần mềm này có mức độ cao cấp hơn.
Các công cụ giống như Microsoft FrontPage 2.0 làm cho nó rẻ tiền, dễ dàng và hấp dẫn trong việc tạo nên một site intranet.
(Xem “Danh sách Server Intranet” để biết những địa chỉ URL không liệt kê ở đây).
5 điều nên và không nên đối với intranet
Nên làm
1. Đưa những tài liệu có ích lên mạng intranet của bạn. Mạng intranet càng liên quan đến công việc của mọi người thì họ càng sử dụng nó nhiều hơn.
2. Bắt đầu từ đơn giản. Các công nghệ intranet không khó hơn các công nghệ PC, nhưng nếu không bắt đầu từ thấp đến cao, bạn sẽ chết ngập trong quá tải.
3. Duy trì chi phí thấp. Một khi tất cả đều hoạt động, bạn rất có thể thu được nhiều lợi hơn.
4. Làm cho mọi người để hết tâm trí vào. Bí quyết thành công của một mạng intranet là đóng góp của toàn nhóm.
5. Làm cho nó trở nên đáng yêu. ít nhất cũng phải đưa một số đồ họa và hình ảnh vào trang chủ của mạng intranet.
Không nên làm
1. Đừng bị chôn vùi trong những vấn đề kỹ thuật. Rất dễ bị mắc bẫy trong mớ các xảo thuật Web hào nhoáng, và đó cũng là nơi tiêu hủy không thương tiếc một khối lượng lớn thời gian và sức lực của bạn.
2. Không cưỡng bức nhân viên của bạn phải sử dụng intranet. Hãy thu hút họ bằng khuyến khích động viên, không phải bằng đe dọa.
3. Đừng hạn chế những gì mà nhân viên của bạn có thể đưa lên intranet, ngoại trừ những vấn đề dung tục và vi phạm quy chế công ty.
4. Đừng lo lắng đến việc bỏ bớt đồ họa. Mạng nội bộ của bạn sẽ không bị chậm đi bao nhiêu trừ phi phải chở đến 10 MB hình ảnh.
5. Không thông báo cho những hệ thống thông tin khác quá sớm
Mạng LAN của công ty bạn sẽ thay thế hệ thống điện thoại
Vài chục năm qua, truyền thông được thực hiện ở 3 dạng: tiếng nói được đưa đi qua mạng điện thoại, dữ liệu đóng gói gửi lên mạng truyền dữ liệu và hình ảnh video truyền trong không gian hoặc một hệ thống cáp. Một số chuyên gia tiên đoán kỷ nguyên Great Intergration, khi mà tất cả các hình thức truyền thông kể trên hoà nhập thành một thể thống nhất, điều khiển bằng một loại thiết bị và thậm chí thanh toán chỉ với một hãng duy nhất. Công nghệ điện thoại đi bước đầu tiên vào 15 năm trước bằng cách định ra chuẩn viễn thông gọi là ISDN, viết tắt từ Integated Services Digital Network (mạng dịch vụ truyền dữ liệu số hóa tích hợp). Nhưng có những người cho rằng ISDN nghĩa là "It Still Does Nothing" "Chưa làm nên trò trống gì"). Đây là dự án kết hợp tiếng nói (voice), dữ liệu (data) và video, quản lý chúng bằng cùng một thiết bị của công ty điện thoại để thực hiện số hóa mạng điện thoại tới tận người dùng đầu cuối. Tuy vậy, ISDN dường như vẫn chưa tìm được chỗ đứng trên thị trường.
Thử dùng trong LAN
Năm 1993, Vocaltec Inc., một công ty của Israel với các văn phòng đặt ở Northvale, N. J, đưa ra Vocalchat, phương tiện cho phép đưa tiếng nói lên mạng cục bộ. Người dùng cài một card đặc biệt vào máy tính của mình. Thiết bị này, sau đó nối với ống nghe điện thoại, sẽ kiểm tra người nhận các cuộc gọi điện thoại có đang nối mạng LAN hay WAN của công ty hay không. Nếu không, liên lạc sẽ nối với hệ chuyển mạch điện thoại của riêng hãng hoặc với PBX (Private branch exchange - hệ thống điện thoại vùng). Trong trường hợp người dùng đầu kia đang nối mạng, tín hiệu sẽ được số hóa, nén, đóng gói và gửi lên mạng. Tại nơi nhận, máy tính cũng được lắp một card như vậy, nhưng ở thời điểm này làm chức năng giải mã, khôi phục âm thanh ban đầu và chuyển vào hệ thống điện thoại của người nghe. VocalTec cho rằng sản phẩm của họ cho phép bổ sung nhiều dịch vụ và cách làm như vậy có thể tiết kiệm được chi phí so với việc sử dụng PBX.
Tuy nhiên, sản phẩm của VocalTec không được người dùng quan tâm mấy. Có ý kiến cho rằng mặc dù thiết bị làm việc tốt, nhưng đơn giản là nó đã đi trước thời gian.
Tháng 2/1995, VocalTex tổ chức lại và bước vào cuộc chiến mới với Internet phone (gọi tắt là Iphone) - một phần mềm cho phép đưa tiếng nói lên Internet. Do mạng toàn cầu này có phí truyền tin rẻ. Về lý thuyết người dùng sẽ đỡ tốn kém hơn, nhất là khi thực hiện các liên lạc đường dài. Phương thức truyền tiếng nói như vậy không phải không có nhược điểm: những cuộc gọi không đầy đủ, trả lời trễ và chất lượng âm không đều. Tuy vậy, đã có những hãng chấp nhận công nghệ mới, trong đó có Radian House Europe Ltd., một công ty xuất/nhập khẩu ở West Hempstead, N.J., ước tính dùng IPhone tiết kiệm được từ 1200 đến 1500 USD/tháng.. Dù sao chăng nữa, Internet telephony cũng đủ hấp dẫn để hơn hai chục hãng bước vào cuộc, trong đó có Netscape, Microsoft và IBM.
Rất kinh tế với Intranet
18 tháng phát triển vẫn chưa đẩy công nghệ mới này trội hơn đáng kể so với điện thoại phân vùng. Có lẽ hiệu quả hơn là sử dụng trong LAN hay WAN, vì trên Internet còn vướng mắc bởi vấn đề tốc độ liên quan đến tắc nghẽn các gói tin, mà điều này lại dễ dàng kiểm soát trong mạng cục bộ.
Một động cơ có tác dụng thúc đẩy việc sử dụng "điện thoại intranet" là tính kinh tế: ngoài việc tiết kiệm bởi các đặc tính và khả năng nâng cấp, dùng công nghệ mới trong nội bộ cộng tác chắc chắn sẽ tiết kiệm được chi phí cho các cuộc gọi đường dài, sử dụng các tuyến thuê bao sẵn có giữa các LAN.
Pasha Roberts, chủ tịch Webline Comunications, nói intranet telephony có tác dụng trước hết ở sự tích hợp tiếng nói với dữ liệu. Webline đang chuẩn bị đưa ra sản phẩm cho phép tích hợp Web site, LAN và trung tâm điện thoại để khi người dùng nhấn vào một mục trong trang Web, họ sẽ được nối với công ty qua Internet hoặc điện thoại. Điều này dễ gây ấn tượng hơn.
Trong cả 2 trường hợp, cuộc gọi thông qua LAN, đi đến người đại diện thương mại đầu tiên. Người này nhận dữ liệu từ khách hành, xử lý nó với dữ liệu trong CSDL công tác và đưa các giải pháp lên trang Web của công ty. Người dùng sẽ thu nhận được thông tin này nhờ bộ duyệt Web và xử lý nó trên máy tính của họ. Trong lúc đó, cả hai phía vẫn có thể nói chuyện, và dữ liệu vẫn tiếp tục được trao đổi. Tương lai không xa, tất cả sẽ được duy trì trong chế độ thời gian thực, suốt toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ khâu thiết kế tới bước tiếp thị.
Bell Atlantic sử dụng công nghệ này để quản lý hệ thống thư thoại (voicemail) của công ty. Thông điệp gửi cho người đăng ký dịch vụ thư thoại được số hóa và lưu trên bộ lưu trữ từ tính. Khi người đang khi gọi điện thoại vào, thông điệp được lấy ra và gửi qua mạng LAN đến chỗ người gọi. ở đây, nhở card giao tiếp, thông điệp được chuyển thành giọng nói.
Khoa công nghệ thông tin của Cornell Univesity còn tiến thêm một bước: Hệ thống điện thoại intranet hoàn toàn thay thế PBX. Bằng cách sử dụng điện thoại thông qua LAN, tổ chức này đã tiết kiệm được đáng kể trong việc nâng cấp hệ thống diện thoại. Hiện tại đã khởi đầu với gần 200 trạm và sẽ triển khai sử dụng từ đầu 1997". Nếu không dùng dự án này, đại học Cornell sẽ phải hỗ trợ tới 20.000 tuyến điện thoại vào cuối thể kỷ này. Dùng nó, sẽ chỉ cần có 12.000 tuyến, thậm chí thấp hơn nữa.
Trở ngại
Thế mạnh của điện thoại dùng trên mạng là chia sẻ tài nguyên: các gói dữ liệu từ những cuộc gọi khác nhau được chuyển trên cùng một đường dây. Điều này cũng có nghĩa là không tránh khỏi được ùn tắc và chậm trễ. Với dữ liệu thì không thành vấn đề, có thể chờ một lúc. Nhưng tiếng nói trong hội thoại thì rất nhạy cảm với thời gian, chỉ một thay đổi nhỏ tốc độ cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc đàm thoại.
Có nhiều giải pháp khắc phục tình trạng đến chậm và mất mát gói tin, mà một trong những cách đó là tính trung bình giữa các khoảng cách. Cái giá phải trả là tiếng nói hơi bị biến điệu, có trường hợp mất liên lạc.
Hệ thống của Cornell giải quyết bằng cách dùng công nghệ ATM để dành cho các cuộc hội thoại những vùng dải thông riêng, Đặc điểm của hệ thống này là người dùng không phải mua và cài card ATM vào máy của mình.
Nhiều hãng cũng đã nhảy vào lĩnh vực này. Tháng 9/96 vừa qua, Micom Communications Corp. đã đưa ra Voice Over IP, một loại card dùng để hỗ trợ dùng điện thoại trong LAN/WAN. Để giải quyết vấn đề mất gói dữ liệu, phương pháp này bổ sung thông tin vào mỗi gói dữ liệu, để một gói đến trễ có thể lấy lại thông tin từ các gói lận cận. Có lẽ đây là giải pháp tốt hơn so với cách tính trung bình ở Cornell. Theo Micom, card này có thể kiểm soát được 4 khối (trunk) điện thoại trên một tuyến 56Kbps và vẫn dành một nửa băng thông cho việc truyền dữ liệu thông thường.
Dialogic Corp. đang phối hợp với VocalTec để phát triển một sản phẩm hoàn toàn mới. Người dùng Internet Telephony Gateway để gọi từ New York đến Los Angeles chỉ việc nhấc máy điện thoại thông thường, gọi vào cổng nối (gateway) của công ty và đưa vào mã thành phố và số điện thoại của người nhận. Cổng nối New York liên lạc với Los Angeles bằng WAN hay Internet để quay số vào vùng sở tại. Khi người nhận ở Los Angeles nhấc máy, hai cồng nối kể trên bắt đầu số hóa và đóng gói cuộc hội thoại, gửi qua WAN hoặc Internet. Ưu điểm của công nghệ này là quy mô mở rộng chỉ tuyến tính. Nhóm cổng mới vẫn có giá như cũ, trong khi PBX tăng chi phí khi nâng cấp.
Nhiều nhà quan sát không ưa ý tưởng tách biệt điện thoại intranet giữa chuyển mạch cũ, tồi và cách nối mạng mới, tốt hơn. Tony Tissot, giám đốc tiếp thị của Simens Rolm ở Santa Clara, calif, nói: "Người ta nghĩ rằng điện thoại truyền thống không còn tồn tại bao lâu nữa, nhưng đây là công nghệ chuyển mạch đã được thử thách, có hệ thống dịch vụ hoàn hảo hơn mạng số liệu". Dù báo chí có chê trách đến đâu (Báo the New York Times mới đây coi ISDN như một phương tiện kỳ quặc đang chết yểu), dịch vụ này sẽ vẫn còn ở nhiều nơi, sẽ được số hóa hoàn toàn, kể cả tiếng nói.