Posts tagged with "Phan_cung"
Wednesday, 11. April 2007, 02:49:40
Phan_cung
Repeater
Trong một mạng LAN, giới hạn của cáp mạng là 100m (cho loại cáp mạng CAT 5 UTP – là cáp được dùng phổ biến nhất), bởi tín hiệu bị suy hao trên đường truyền nên không thể đi xa hơn. Vì vậy, để có thể kết nối các thiết bị ở xa hơn, mạng cần các thiết bị để khuếch đại và định thời lại tín hiệu, giúp tín hiệu có thể truyền dẫn đi xa hơn giới hạn này.
Repeater là một thiết bị ở lớp 1 (Physical Layer) trong mô hình OSI. Repeater có vai trò khuếch đại tín hiệu vật lý ở đầu vào và cung cấp năng lượng cho tín hiệu ở đầu ra để có thể đến được những chặng đường tiếp theo trong mạng. Điện tín, điện thoại, truyền thông tin qua sợi quang… và các nhu cầu truyền tín hiệu đi xa đều cần sử dụng Repeater.
Hub
Hub được coi là một Repeater có nhiều cổng. Một Hub có từ 4 đến 24 cổng và có thể còn nhiều hơn. Trong phần lớn các trường hợp, Hub được sử dụng trong các mạng 10BASE-T hay 100BASE-T. Khi cấu hình mạng là hình sao (Star topology), Hub đóng vai trò là trung tâm của mạng. Với một Hub, khi thông tin vào từ một cổng và sẽ được đưa đến tất cả các cổng khác.
Hub có 2 loại là Active Hub và Smart Hub. Active Hub là loại Hub được dùng phổ biến, cần được cấp nguồn khi hoạt động, được sử dụng để khuếch đại tín hiệu đến và cho tín hiệu ra những cổng còn lại, đảm bảo mức tín hiệu cần thiết. Smart Hub (Intelligent Hub) có chức năng tương tự như Active Hub, nhưng có tích hợp thêm chip có khả năng tự động dò lỗi - rất hữu ích trong trường hợp dò tìm và phát hiện lỗi trong mạng.
Bridge
Bridge là thiết bị mạng thuộc lớp 2 của mô hình OSI (Data Link Layer). Bridge được sử dụng để ghép nối 2 mạng để tạo thành một mạng lớn duy nhất. Bridge được sử dụng phổ biến để làm cầu nối giữa hai mạng Ethernet. Bridge quan sát các gói tin (packet) trên mọi mạng. Khi thấy một gói tin từ một máy tính thuộc mạng này chuyển tới một máy tính trên mạng khác, Bridge sẽ sao chép và gửi gói tin này tới mạng đích.
Ưu điểm của Bridge là hoạt động trong suốt, các máy tính thuộc các mạng khác nhau vẫn có thể gửi các thông tin với nhau đơn giản mà không cần biết có sự "can thiệp" của Bridge. Một Bridge có thể xử lý được nhiều lưu thông trên mạng như Novell, Banyan... cũng như là địa chỉ IP cùng một lúc. Nhược điểm của Bridge là chỉ kết nối những mạng cùng loại và sử dụng Bridge cho những mạng hoạt động nhanh sẽ khó khăn nếu chúng không nằm gần nhau về mặt vật lý.
Switch
Switch đôi khi được mô tả như là một Bridge có nhiều cổng. Trong khi một Bridge chỉ có 2 cổng để liên kết được 2 segment mạng với nhau, thì Switch lại có khả năng kết nối được nhiều segment lại với nhau tuỳ thuộc vào số cổng (port) trên Switch. Cũng giống như Bridge, Switch cũng "học" thông tin của mạng thông qua các gói tin (packet) mà nó nhận được từ các máy trong mạng. Switch sử dụng các thông tin này để xây dựng lên bảng Switch, bảng này cung cấp thông tin giúp các gói thông tin đến đúng địa chỉ.
Ngày nay, trong các giao tiếp dữ liệu, Switch thường có 2 chức năng chính là chuyển các khung dữ liệu từ nguồn đến đích, và xây dựng các bảng Switch. Switch hoạt động ở tốc độ cao hơn nhiều so với Repeater và có thể cung cấp nhiều chức năng hơn như khả năng tạo mạng LAN ảo (VLAN).
Router
Router là thiết bị mạng lớp 3 của mô hình OSI (Network Layer). Router kết nối hai hay nhiều mạng IP với nhau. Các máy tính trên mạng phải "nhận thức" được sự tham gia của một router, nhưng đối với các mạng IP thì một trong những quy tắc của IP là mọi máy tính kết nối mạng đều có thể giao tiếp được với router.
Ưu điểm của Router: Về mặt vật lý, Router có thể kết nối với các loại mạng khác lại với nhau, từ những Ethernet cục bộ tốc độ cao cho đến đường dây điện thoại đường dài có tốc độ chậm.
Nhược điểm của Router: Router chậm hơn Bridge vì chúng đòi hỏi nhiều tính toán hơn để tìm ra cách dẫn đường cho các gói tin, đặc biệt khi các mạng kết nối với nhau không cùng tốc độ. Một mạng hoạt động nhanh có thể phát các gói tin nhanh hơn nhiều so với một mạng chậm và có thể gây ra sự nghẽn mạng. Do đó, Router có thể yêu cầu máy tính gửi các gói tin đến chậm hơn. Một vấn đề khác là các Router có đặc điểm chuyên biệt theo giao thức - tức là, cách một máy tính kết nối mạng giao tiếp với một router IP thì sẽ khác biệt với cách nó giao tiếp với một router Novell hay DECnet. Hiện nay vấn đề này được giải quyết bởi một mạng biết đường dẫn của mọi loại mạng được biết đến. Tất cả các router thương mại đều có thể xử lý nhiều loại giao thức, thường với chi phí phụ thêm cho mỗi giao thức.
Gateway
Gateway cho phép nối ghép hai loại giao thức với nhau. Ví dụ: mạng của bạn sử dụng giao thức IP và mạng của ai đó sử dụng giao thức IPX, Novell, DECnet, SNA... hoặc một giao thức nào đó thì Gateway sẽ chuyển đổi từ loại giao thức này sang loại khác.
Qua Gateway, các máy tính trong các mạng sử dụng các giao thức khác nhau có thể dễ dàng "nói chuyện" được với nhau. Gateway không chỉ phân biệt các giao thức mà còn còn có thể phân biệt ứng dụng như cách bạn chuyển thư điện tử từ mạng này sang mạng khác, chuyển đổi một phiên làm việc từ xa...
Thursday, 20. July 2006, 10:41:12
Phan_cung
Không lâu nữa trong mùa hè này, chip lõi kép của hãng Intel (Core 2 Duo) sẽ xuất hiện trong những chiếc máy tính ở khắp mọi nơi. Chuyên gia phân tích hàng đầu của PC Magazine - Joel Santo Domingo đã trình bày 10 điều cần biết về Core 2 Duo.
1. Core 2 Duo sẽ là bộ vi xử lý nhanh nhất hiện nay. Theo những kết quả thử nghiệm sơ bộ, chip lõi kép của Intel có tốc độ nhanh hơn cả Pentium EE và AMD FX62 nhờ những công nghệ mới như sử dụng tất cả các bộ nhớ đệm (Smart Cache) và mở rộng thực thi động (Wide Dynamic Execution).
2. Core 2 Duo đã vượt qua Pentium như một cái tên không thể thiếu trong các bộ vi xử lý ngày nay. Nó như một lời chào tạm biệt Pentium: Sẽ không bao giờ xuất hiện một chip Pentium 5, 6, hay XX. Vậy xin dành cho Pentium một phút mặc niệm!
3. Lần đầu tiên, Intel chế tạo đặc biệt một cấu trúc lõi hợp nhất cho tất cả các loại: Conroe cho màn hình, Merom dành riêng cho Notebook và máy chủ/ máy trạm thì có Woodcrest. Tất cả các chip kia đều dựa trên công nghệ sản xuất lõi của Intel và cả ba đều là các bộ vi xử lý lõi kép.
4. Cả ba loại chip cải tiến (Conroe, Merom, và Woodcrest) sẽ cung cấp cho máy tính công suất lớn hơn nhưng lại tốn ít điện năng. Nó sẽ giúp laptop kéo dài thời lượng của pin. Đồng thời, Core 2 Duo làm cho hệ thống các trình tạo xuất hiện với những màn hình và máy trạm mỏng hơn. Sở dĩ như vậy là vì năng lượng thấp đồng nghĩa với việc tỏa ít nhiệt nên không gian dành cho quạt gió trong CPU cũng giảm đi.
5. Mở rộng vấn đề trên, năng lượng thấp sẽ làm cho quạt gió chạy chậm hơn vì thế hệ thống máy tính của bạn sẽ bớt ồn khi hoạt động. Với nhiều máy tính trong phòng khách hay các phòng làm việc nhỏ hẹp thì "yên tĩnh" là thứ quan trọng hơn bao giờ hết.
6. Cho đến bây giờ, Core 2 Duo được chế tạo ra để đánh bại bộ vi xử lý Pentium D/EE (LGA775). Nó sẽ mang đến niềm hân hoan của sự được nâng cấp - đặc biệt đối với những ai đã mua những chiếc máy tính hiện đại và nhanh nhất hồi mùa hè năm ngoái. Niềm vui này cũng được chia sẻ với những nhà sản xuất - những người không muốn phí tiền cho một đống những bộ phận khác nhau.
7. Tính đa nhiệm đang thể hiện ở một cấp độ cao hơn. Với công nghệ thực sự của Core 2 Duo, bạn có thể biến chiếc máy tính thông thường của mình thành một vài hệ thống ảo, tất cả đều chạy được trên những ứng dụng khác nhau và OS. Ví dụ, về mặt lý thuyết mà nói, bạn có thể chạy trình duyệt FTP server trên một máy, ứng dụng Web server trên một máy khác còn cơ sở dữ liệu thì trên chiếc máy tính thứ 3 mà vẫn chơi game hay lướt web trên máy thứ 4. Đây thực sự là một lợi ích cho các chuyên gia thiết kế muốn giữ cho sự vận hành của các máy ảo được "sạch sẽ".
8. Hiện nay chỉ có các máy tính dành cho doanh nghiệp mới có chip hỗ trợ tính năng bảo vệ TPM 1.2 bên trong. Với Core 2 Duo, tất cả các máy tính đều luôn trong trạng thái an toàn. Công nghệ bảo mật TPM (Trusted Platform Module) bảo vệ các mật khẩu, mật lệnh, mở máy và các dữ liệu cá nhân ở ổ cứng khỏi những hacker, phần mềm gián điệp Spyware và những tên trộm nhân dạng (ID thieves).
9. Về việc quy ước các tên gọi: Conroe, Merom, và Woodcrest không chính xác để chỉ khả năng tốc độ hay sự thực thi. Lý do là các văn phòng thiết kế CPU cho máy tính và máy trạm đặt tại Oregon, California, và Texas vì thế những tên chip của Intel tượng trưng cho các thành phố - Conroe (Texas) và Woodcrest (California). Vậy còn cái tên Merom? Đó là tên một cái hồ cổ xưa tại Israel, vì thế nên theo suy đoán là nơi những con chip máy tính được chế tạo.
10. Vậy khi nào bạn có thể sở hữu 1 trong những con chip ấy? Intel dự kiến những bộ vi xử lý chip lõi kép trong các hệ thống sẽ chính thức được giới thiệu trong vài tuần nữa. Có tin đồn chúng sẽ xuất hiện ở tuần cuối của tháng này. Và, việc mà chúng ta phải làm bây giờ là chờ đợi những hệ thống ấy vào đầu tháng 8.
Thursday, 20. July 2006, 10:33:33
Phan_cung
Nếu như vài năm trước đây chúng ta không có nhiều điều để nói về RAM bởi đa số các hệ thống đều được trang bị SDRAM với tốc độ từ 66MHz tới 133MHz thì trong khoảng thời gian ngắn trở lại đây, đã xuất hiện khá nhiều chủng loại bộ nhớ mới như DDR SDRAM, Rambus RDRAM, DDR-II SDRAM... khiến người dùng 'hoa cả mắt' khi chọn lựa
Trong những năm qua, người dùng đã chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của hệ thống máy tính để bàn. Hai dòng CPU chính của Intel và AMD thay đổi liên tục không chỉ về tốc độ (từ vài trăm MHz lên tới hàng GHz) mà còn cả giao tiếp (Intel: Socket 370/ 423/ 478 /775, AMD: Slot A, Socket 462-A/ 754 /940/ 939...) và dĩ nhiên chúng kéo theo sự thay đổi của bo mạch chủ và nhiều thành phần khác. Một trong những thành phần chịu ảnh hưởng lớn nhất là bộ nhớ hệ thống (RAM). Bài viết này sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về những khái niệm của bộ nhớ RAM máy tính kèm theo một số thông tin bổ ích khác. Tuy nhiên chúng ta sẽ tập trung vào bộ nhớ DDR và DDR2 vì hiện tại, chúng là loại thống trị trên thị trường. SDRAM đã quá cũ còn RDRAM thì giá quá cao mà chỉ được dùng trong một số máy tính Pentium 4 đời đầu.
1. KHÁI NIÊM CƠ BẢN VỀ RAM
TÊN GỌI
Hiện nay nhiều người thường nhầm lẫn về cách gọi tên của các loại RAM. Nếu như RDRAM không có gì để nói thì với dòng SDRAM, việc nhầm lẫn ngày càng lớn. Khái niệm RAM (Random Access Memory) thì chắc hẳn ai cũng biết. DRAM hay SDRAM là khái niệm mở rộng hơn (Synchronous Dynamic Random Access Memory - RAM đồng bộ). Ban đầu và thậm chí hiện nay khi nói đến SDRAM người ta thường nghĩ ngay đến RAM loại cũ với tốc độ 100MHz hay 133MHz; tuy nhiên từ sau khi DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM) ra đời thì quan niệm này hoàn toàn sai. Tham khảo một vài bảng báo giá linh kiện, bạn sẽ thấy các công ty đã góp phần không nhỏ vào việc khiến người dùng hiểu sai vấn đề. SDRAM là tên gọi chung của một dòng bộ nhớ máy tính, nó được phân ra SDR (Single Data Rate) và DDR (Double Data Rate). Do đó nếu gọi một cách chính xác, chúng ta sẽ có hai loại RAM chính là SDR SDRAM và DDR SDRAM. Cấu trúc của hai loại RAM này tương đối giống nhau, nhưng DDR có khả năng truyền dữ liệu ở cả hai điểm lên và xuống của tín hiệu nên tốc độ nhanh gấp đôi. Trong thời gian gần đây xuất hiện chuẩn RAM mới dựa trên nền tảng DDR là DDR-II, DDR-II có tốc độ cao hơn nhờ cải tiến thiết kế.
TỐC ĐỘ (SPEED)
Đây có lẽ là khái niệm được người dùng quan tâm nhất, tuy nhiên có người thắc mắc về cách gọi tên, đối với DDR thì có hai cách gọi theo tốc độ MHz hoặc theo băng thông. Ví dụ, khi nói DDR333 tức là thanh RAM đó mặc định hoạt động ở tốc độ 333MHz nhưng cách gọi PC2700 thì lại nói về băng thông RAM, tức là khi chạy ở tốc độ 333MHz thì nó sẽ đạt băng thông là 2700MB/s (trên lý thuyết). Tương ứng như thế chúng ta sẽ có bảng sau:
Thường ở Việt Nam thông dụng các loại RAM có bus 333 và 400, những loại có bus cao hơn thường xuất hiện ở những loại cao cấp như Kingston HyperX, Corsair , Mushkin LV nhưng nói chung khá hiếm.
ĐỘ TRỄ (LATENCY)
CAS Latency là khái niệm mà người dùng thắc mắc nhiều nhất. Trước đây, khi đi mua RAM, người mua thường chỉ quan tâm tới tốc độ hoạt động như 100MHz hay 133MHz nhưng gần đây, khái niệm CAS đang dần được người dùng để ý bởi nó đóng vai trò khá quan trọng vào tốc độ xử lý tổng thể của hệ thống; đặc biệt trong ép xung. Vậy CAS là gì?
CAS là viết tắt của 'Column Address Strobe' (địa chỉ cột). Một thanh DRAM được coi như một ma trận của các ô nhớ (bạn có thể hình dung như một bảng tính excel với nhiều ô trống) và dĩ nhiên mỗi ô nhớ sẽ có toạ độ (ngang, dọc). Như vậy bạn có thể đoán ngay ra khái niệm RAS (Row Adress Strobe)là địa chỉ hàng nhưng do nguyên lý hoạt động của DRAM là truyền dữ liệu xuống chân nên RAS thường không quan trọng bằng CAS.
Khái niệm độ trễ biểu thị quãng thời gian bạn phải chờ trước khi nhận được thứ mình cần. Theo từ điển Merriam-Webster thì latency có nghĩa là 'khoảng thời gian từ khi ra lệnh đến khi nhận được sự phản hồi'. Vậy CAS sẽ làm việc như thế nào? CAS Latency có ý nghĩa gì?
Để hiểu khái niệm này, chúng ta sẽ cùng điểm nhanh qua cách thức bộ nhớ làm việc, đầu tiên chipset sẽ truy cập vào hàng ngang (ROW) của ma trận bộ nhớ thông qua việc đưa địa chỉ vào chân nhớ (chân RAM) rồi kích hoạt tín hiệu RAS. Chúng ta sẽ phải chờ khoảng vài xung nhịp hệ thống (RAS to CAS Delay) trước khi địa chỉ cột được đặt vào chân nhớ và tín hiệu CAS phát ra. Sau khi tín hiệu CAS phát đi, chúng ta tiếp tục phải chờ một khoảng thời gian nữa (đây chính là CAS Latency) thì dữ liệu sẽ được tìm thấy. Điều đó cũng có nghĩa là với CAS 2, chipset phải chờ 2 xung nhịp trước khi lấy được dữ liệu và với CAS3, thời gian chờ sẽ là 3 xung nhịp hệ thống.
Bạn sẽ thắc mắc như vậy phải chăng CAS2 nhanh hơn CAS3 tới 33%, không đến mức như vậy bởi có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu năng tổng thể của bộ nhớ điển hình như:
+ Chuỗi xử lý thông tin: kích hoạt RAS, chờ khoảng thời gian trễ RAS-to-CAS Delay và CAS Latency.
+ Truy cập bộ nhớ theo chuỗi: đôi khi chipset sẽ đọc dữ liệu trong bộ nhớ RAM theo chuỗi (burst) như vậy rất nhiều dữ liệu sẽ được chuyển đi một lần và tín hiệu CAS chỉ được kích hoạt một lần ở đầu chuỗi.
+ Bộ vi xử lý có bộ đệm khá lớn nên chứa nhiều lệnh truy cập và dữ liệu; do đó thông tin được tìm kiếm trên bộ đệm trước khi truy cập vào RAM và tần số dữ liệu cần được tìm thấy trên bộ đệm (hit-rate) khá cao (vào khoảng 95%).
Nói tóm lại việc chuyển từ CAS 3 sang CAS 2 sẽ tăng hiệu năng xử lý cho tất cả các ứng dụng. Những chương trình phụ thuộc vào bộ nhớ như game hay ứng dụng đồ họa sẽ chạy nhanh hơn. Điều này đồng nghĩa với việc những thanh RAM được đóng dấu CAS2 chắc chắn chạy nhanh hơn những thanh RAM CAS3. Nếu bạn dự định mua đồ chơi cho một cuộc đua ép xung hay đơn giản chỉ cần hệ thống đạt tốc độ tối ưu, hãy chọn RAM CAS2 nhưng nếu chỉ là công việc văn phòng, CAS 3 hoàn toàn vẫn đáp ứng yêu cầu.
TẦN SỐ LÀM TƯƠI
Thường thì khi nhắc tới khái niệm tần số làm tươi (RAM Refresh Rate), người ta thường nghĩ ngay đến màn hình máy tính, tuy nhiên bộ nhớ DRAM (Dynamic Random Access Memory) cũng có khái niệm này. Như bạn đã biết module DRAM được tạo nên bởi nhiều tế bào điện tử, mỗi tế bào này phải được nạp lại điện hàng nghìn lần mỗi giây vì nếu không dữ liệu chứa trong chúng sẽ bị mất. Một số loại DRAM có khả năng tự làm tươi dữ liệu độc lập với bộ xử lý thường được sử dụng trong những thiết bị di động để tiết kiệm điện năng.
SDRAM ACCESS TIME
Việc cho ra đời cách đọc dữ liệu theo từng chuỗi (Burst Mode) đã giúp khắc phục nhiều nhược điểm và tăng hiệu năng cho RAM, chu kì của chuỗi ngắn hơn rất nhiều chu kì trang của RAM loại cũ. Chu kì của chuỗi cũng được coi như là chu kì xung nhịp của SDRAM và chính vì thế nó được coi như thang xác định cho tốc độ của RAM bởi đó là khoảng thời gian cần thiết giữa các lần truy xuất dữ liệu theo chuỗi của RAM. Những con số -12, -10, -8... ghi trên các chip RAM cho biết khoảng thời gian tối thiểu giữa mỗi lần truy xuất dữ liệu: nhãn -12 xác định chu kì truy cập dữ liệu của RAM là 12ns (nano-giây) đồng nghĩa với việc tốc độ hoạt động tối đa của RAM sẽ là 83MHz. Thường RAM có tốc độ cao sẽ sử dụng chip RAM có chu kì truy xuất thấp nhưng với chu kì truy xuất thấp chưa chắc RAM đã có thể hoạt động ở tốc độ cao do còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Do đó đôi khi bạn sẽ gặp trường hợp thanh RAM có tốc độ thấp nhưng khi đem vào 'thử lửa' ép xung thì lên được tốc độ cao hơn nhiều so với những loại RAM mặc định dán nhãn tốc độ cao.
2. CHỌN ĐÚNG LOẠI RAM
Khi mua hay ráp máy tính, việc chọn đúng loại RAM là khá quan trọng nhưng lại ít người để ý. Mỗi hệ thống sử dụng CPU Intel hay AMD lại 'thích' một kiểu RAM khác nhau, ngoài ra việc chọn lựa RAM còn phụ thuộc vào chipset và nhu cầu làm việc của người dùng. Thông thường CPU Intel Pentium 4 và Athlon 64 yêu cầu RAM tốc độ cao (bus 400MHz) trở lên do FSB của CPU khá lớn cho phép băng thông dữ liệu rộng. Nếu như RAM không đáp ứng được mức băng thông đó thì sẽ bị hiện tượng 'nghẽn cổ chai' (bottle-neck), ứng dụng sẽ hoạt động rất chậm. Nếu không xét đến việc ép xung (overclock), thông thường khi mua RAM cho máy tính, bạn hãy mua như sau:
DDR SDRAM
Như đã nói ở trên, đây đang là loại RAM thông dụng và thịnh hành nhất cho toàn bộ các loại máy tính để bàn vào thời điểm bạn đọc bài viết này.
A. ĐỐI VỚI CPU INTEL
+ Intel Pentium 4-C/E/G/J Front Side Bus (FSB) 800MHz: Những loại CPU này có FSB rất lớn nên nếu sử dụng trên nền bo mạch chủ 865/875 hay 915/925 mới nhất, bạn sẽ đạt tốc độ cao khi lắp đặt bộ nhớ kênh đôi (Dual Channel DDR) đúng cách. Về nguyên tắc Dual Channel DDR khá giống với chế độ RAID của đĩa cứng, với 100MB dữ liệu chuyển vào RAM, thay vì vào một thanh RAM đủ 100MB, chipset sẽ chuyển đồng thời vào mỗi thanh RAM 50MB nên sẽ rút ngắn thời gian làm việc xuống chỉ còn một nửa. Và như vậy hai thanh RAM DDR bus 400 sẽ cho băng thông lý thuyết lên mức 800MHz, tương xứng với bus của CPU. Điều đó cho thấy nếu bạn sử dụng CPU có bus 800 thì việc mua hai thanh RAM DDR bus 400 giống nhau là lựa chọn lý tưởng. Chú ý hai thanh RAM phải giống nhau cả về tốc độ và loại chip nhớ sử dụng, đặc biệt là khi bạn chạy trên nền chipset i875P bởi chipset này khá 'khó tính', nếu không giống nhau thì rất có thể tính năng PAT sẽ không được kích hoạt và làm giảm hiệu năng hệ thống.
+ Intel Celeron/Pentium4 bus 400MHz/533MHz: Mặc dù những loại CPU có bus khá cao nhưng do thuộc thế hệ cũ hoặc dòng rẻ tiền nên chúng thường được lắp chung với các loại chipset 845, cho đến chipset 845PE thì tốc độ RAM cao nhất được chính thức hỗ trợ chỉ là 333MHz. Do đó nếu bạn lắp RAM DDR400 thì sẽ không kinh tế. Như vậy trừ khi bạn dùng bo mạch chủ có chipset 845PE, còn nếu không bạn nên chọn các loại RAM có bus 266MHz và để dành khoản tài chính dư ra cho một lần nâng cấp tổng thể hệ thống sau này.
B. ĐỐI VỚI AMD
Nếu như từ trước đến nay những dòng CPU của AMD không được phổ biến ở Việt Nam do chế độ phân phối và bảo hành thì giờ đây với việc Silicom chính thức trở thành nhà phân phối cho AMD, người dùng sẽ hoàn toàn yên tâm sử dụng dòng vi xử lý này. Mặt khác, trên thị trường cũng xuất hiện thêm nhiều sản phẩm bo mạch chủ và phụ kiện (quạt tản nhiệt, đế lắp socket...) cho CPU AMD. Tuy nhiên có một điều đáng buồn là trước kia sản phẩm của AMD được yêu thích do chi phí thấp mà hiệu năng cao, còn giờ đây phương châm đó không còn được như vậy bởi những dòng CPU cao cấp của AMD giá quá cao, thậm chí vượt hơn Intel. Tuy nhiên người dùng AMD cần chú ý là bộ xử lý AMD (đặc biệt là AthlonXP) sẽ cho hiệu năng tốt nhất khi RAM chạy đồng bộ với FSB (tốc độ ngang nhau) và CAS Latency thấp (tốt nhất là 2) nên việc chọn đúng RAM là rất quan trọng.
+ Duron/Athlon XP/Sempron Bus 266MHz: Nếu bạn đang sử dụng những loại CPU này thì dĩ nhiên lựa chọn lý tưởng nhất vẫn là DDR 266MHz. Thường thì do bus thấp nên bạn có thể tìm được nhiều loại RAM có CAS2, hãy chú ý chi tiết này và chọn lựa sao cho hợp lý.
+ AthlonXP bus 333/400MHz: Với hai loại CPU này, việc chọn RAM phụ thuộc nhiều vào chipset của mainboard mà bạn sử dụng. Thường thì với các loại chipset thông dụng VIA có số hiệu từ 333 trở xuống như KT333, KT266, KM266... bạn nên dùng RAM tốc độ 333MHz.
Tại sao lại không tìm mua RAM bus 400MHz? Lý do rất đơn giản, việc tìm mua một thanh RAM bus 266 hay 333 có CAS thấp đơn giản hơn nhiều so với tìm một thanh RAM 400MHz CAS2. Đối với những chipset như KT400, KT600 hay đặc biệt là nVIDIA nForce 2, bạn nên mua DDR400 bởi ngoài việc chúng hỗ trợ sẵn tốc độ này thì đa số CPU AthlonXP Barton của AMD đều có thể chạy tốt ở bus 400MHz cho dù mặc định chúng chỉ là 333MHz mà thôi. Tuy nhiên nhớ chú ý lựa chọn thật kĩ trước khi mua vì trên thị trường hiện nay có rất nhiều chủng loại RAM DDR400 với nguồn gốc khác nhau. Chi tiết về việc chọn lựa RAM bạn có thể tham khảo bài viết 'Overclock - Được, mất và những điều cần biết' (Thế Giới Vi Tính A 9/2003). Chú ý nForce2 hỗ trợ Dual Channel DDR 400MHz.
+ Athlon 64: Hầu như tất cả các hệ thống Athlon64 đều yêu cầu tối thiểu RAM có bus 400MHz, những hệ thống Socket939 mới hỗ trợ Dual Channel nên bạn phải nhớ chọn mua cho phù hợp.
DDR-II
Mặc dù đã xuất hiện được một thời gian dài nhưng DDR-II dường như chưa tạo được ấn tượng tốt với người dùng, chìa khóa chính để nhà sản xuất nâng băng thông của DDR-II lên chính là việc nhân chip nhớ chạy ở một nửa tần số của bộ đệm I/O và điều này đồng nghĩa với việc bộ đệm dữ liệu chạy ở tốc độ gấp đôi nhân. Thông thường nếu RAM có tốc độ 100MHz thì bộ đệm dữ liệu cũng chạy ở tốc độ 100MHz, nhưng với DDR, tốc độ này là 200MHz. Trong DDR-II, bộ đệm dữ liệu chạy ở 200MHz vẫn với xung nhịp 100MHz của RAM, điều này cho phép chúng xử lý được 4 bit dữ liệu trong một xung nhịp vì tốc độ gấp đôi nên khi áp dụng nguyên tắc DDR lên thì chúng ta sẽ được tần số dữ liệu thực lên tới 400MHz với chỉ 100MHz tốc độ hoạt động của RAM. Nói một cách đơn giản hơn:
Với DDR1: 100MHz xung thực -> 100MHz bộ đệm dữ liệu -> 200MHz tốc độ dữ liệu (DDR).
Với DDR2: 100MHz xung thực -> 200MHz bộ đệm dữ liệu -> 400MHz tốc độ dữ liệu (DDR).
Như vậy độ trễ CAS của DDR-II sẽ có nhiều điểm khác biệt so với DDR-I hiện tại và thường được đặt ở mức 4 hoặc 5. Hiện nay ở thị trường trong nước không có nhiều sự lựa chọn về bộ nhớ DDR-II do nhu cầu của người dùng chưa cao mà sản phẩm hiếm, giá đắt. Ngoài ra nếu bạn muốn sử dụng DDR-II cho máy tính để bàn của mình, bạn không có sự lựa chọn nào ở thị trường Việt Nam ngoài những bo mạch chủ có chipset Intel 915 và 925, điều này sẽ kéo theo nhiều nâng cấp khác như CPU Socket 775 và card đồ họa PCI-Express. Mặc dù vậy, tốc độ của DDR-II vào thời điểm hiện tại chưa chứng tỏ được sức cạnh tranh so với DDR truyền thống nên không được người dùng quan tâm nhiều. Bạn có thể tìm thấy một vài sản phẩm của Samsung, Kingston hay KingMax ở nhiều cửa hàng trong cả nước nếu cần.
3. KINH NGHIÊM
Chắc chắn bạn cũng nhận thấy một điều là sự lựa chọn vào thời điểm hiện tại gần như chỉ giới hạn trong loại RAM DDR bởi DDR-II và RDRAM hầu như không phổ biến. Đa số những loại DDR đang được bán ở các cửa hàng linh kiện máy tính đều có khả năng hoạt động trơn tru trên mọi hệ thống. Tuy nhiên, để có được loại RAM tốt, hiệu năng cao đồng thời bạn vẫn muốn 'nghịch ngợm' ép xung được thì sẽ phải bỏ ra một chút công sức. Thông dụng nhất là DDR400 hay còn gọi là PC3200 với hàng chục loại khác nhau và giá cả chênh nhau từ vài USD cho tới vài chục USD! Để tiện, chúng ta sẽ phân làm hai loại: 'bình dân' và 'cao cấp'. Những loại RAM bình dân thường không có vỏ thép mà chỉ gồm thanh RAM không, một số hàng thuộc dòng này của những hãng tên tuổi như Corsair hay Kingston thì có thêm hộp nhựa đựng rất lịch sự và ghi rõ là Value RAM. Dòng Value RAM nói chung chất lượng không được đồng đều và phụ thuộc khá nhiều vào loại chipset mà hãng sản xuất sử dụng, mỗi đợt hàng chất lượng lại rất khác nhau nên việc mua được sản phẩm tốt hay dở đa phần đều nhờ may mắn. Ví dụ như Kingston Value RAM PC3200 có đợt là RAM CAS 2,5, có đợt lại là CAS 3; Adata PC3200 có vỏ nhựa lúc mới ra thì bị xem thường nhưng về sau thì lại được khen và sức mua mạnh dẫn tới hiếm hàng. Vậy bí quyết là gì? Thường khi mua RAM thuộc dòng cấp thấp, bạn có thể rất dễ dàng nhìn thấy những kí hiệu ghi trên chip RAM và những thanh RAM có chất lượng tốt thường sử dụng chip nhớ của những hãng có tên tuổi như Winbond, Samsung, Hynix, Huyndai, Kingston, Kingmax... chú ý chọn loại RAM có 8 chip nếu có thể. Ngoài ra bạn có thể kiểm tra thông số Access Time thông qua đoạn mã ghi trên chip RAM ví dụ như với một thanh Elixir bình thường có mã số là N2DS25680BT-5T thì -5 chính là thông số bạn cần tìm, từ đó suy ra tốc độ của thanh RAM này khoảng 400MHz trở lên. Yếu tố cuối cùng mà bạn kiểm tra là chất lượng bản mạch và độ tinh xảo của mạch in, hãy thử uốn nhẹ thanh RAM để kiểm tra độ bền, một số RAM có các lớp bản mạch dập không được khít và phát ra tiếng kêu khi uốn hơi cong sẽ dễ hỏng hơn những thanh khác.
Với những dòng RAM cao cấp thì việc lựa chọn sẽ khó khăn hơn nhiều do vỏ hộp lẫn bản thân thanh RAM đều được đóng gói bảo vệ rất kĩ lưỡng (tham khảo hình bên). Việc tháo vỏ đóng gói để xem bên trong là không thể, bạn chỉ có thể nhận diện chất lượng của RAM thông qua mã số sản phẩm và ngày tháng sản xuất, nhìn chung những sản phẩm thuộc dòng cao cấp có chất lượng khá tốt đáp ứng được hầu hết người dùng kể cả khi bạn muốn ép xung, chỉ trừ một vài người thuộc loại 'quái kiệt' với đầy đủ đồ nghề 'xịn' cho overlocking mới có yêu cầu cao hơn. Những loại RAM tốc độ cao thuộc series cao cấp nổi bật ở thị trường Việt Nam vào thời điểm hiện tại có thể kể:
+ Kingston HyperX: Với tốc độ từ 400MHz cho tới 500MHz và được phân phối thông qua đại lý chính hãng nên người dùng có thể yên tâm sử dụng, tuy nhiên hệ số CAS của HyperX khá cao nên không được người dùng AMD ưa chuộng. Một số series HyperX sản xuất trước kia sử dụng chipset Winbond BH-5 được dân overlocker săn lùng liên tục.
+ Adata Vitesta: Tốc độ từ 500MHz đến 600MHz, giá thành khá rẻ, trong thử nghiệm một thanh Atada Vitesta ngẫu nhiên có thể chạy CAS 2,5 (mặc định của nhà sản xuất là 3) ở bus 500MHz (chế độ kênh đôi Dual Channel) ổn định.
+ Mushkin Level 2 Black Cover: Tốc độ từ 400MHz tới 466MHz. Hiện tại đây là loại RAM được giới sành đồ chơi máy tính đánh giá khá cao về khả năng nâng lên tốc độ cao và CAS thấp, đặc biệt dòng mới nhất sử dụng chip nhớ Samsung kí hiệu TCCD cho kết quả tốt hơn nhiều và thậm chí còn vượt xa dòng BH-5 trước kia. Loại chip nhớ TCCD còn được sử dụng cho cả những series RAM có bus mặc định là 600MHz (PC4800).
+ Corsair: Sau một thời gian dài vắng bóng, hiện tại Corsair đang dần lấy lại phong độ với dòng sản phẩm RAM XMS C2PT cao cấp mới nhất (revision 4.1) dùng chipset TCCD, trong những thử nghiệm của diễn đàn VOZ, hầu hết các loại RAM sử dụng chipset TCCD đều có thể vượt qua bus 550MHz dễ dàng thậm chí với hệ số CAS chỉ ở mức 2,5. Ngoài ra hãng còn cung cấp dòng RAM có CAS 2 với dàn đèn Data Indicator nháy theo hoạt động khá đẹp. Tuy nhiên bạn cần lưu ý theo ý kiến nhiều người dùng thì những sản phẩm RAM cao cấp của Corsair có chất lượng không được đồng đều cho lắm.
+ Gskill: Đây là một tên tuổi mới đối với người dùng trong nước, tuy nhiên sự ra mắt của hãng với dòng RAM DDR600 (chip nhớ TCCD) thực sự gây ấn tượng. Mặc dù vậy số lượng hàng không nhiều và việc tìm mua rất khó khăn.
Ngoài ra những nhà sản xuất như OCZ hay Geil cũng có nhiều sản phẩm cao cấp mà bạn có thể tìm mua nhưng thường khá hiếm vì không có đại lý phân phối chính thức trong nước.
3. ĐIỀU CHỈNH BIOS CHO PHÙ HỢP
A. TỐC ĐỘ
Muốn tối ưu hóa hiệu năng của RAM, bạn chỉ có cách sử dụng BIOS của máy tính, nhấn Del khi khởi động để vào BIOS. Thường các thông số của RAM chia làm hai mục, tỉ lệ của RAM sẽ nằm trong phần CPU Voltage/Frequency (một số hãng sản xuất lại đưa chúng vào nhóm riêng ví dụ như Soft Menu (Abit), Genie Bios (DFI)... Trong phần này, mỗi hãng có cách sắp xếp khác nhau nhưng đều dựa trên một nguyên tắc chung là tốc độ của RAM tỉ lệ với FSB của CPU theo một hệ số nhất định. Một số hãng như Asus chọn cách hiển thị tốc độ RAM trực tiếp giúp người dùng không mất thời gian tính toán còn Abit lại chọn cách sử dụng tỉ lệ, bạn sẽ phải nhân, chia để có kết quả tốc độ tuy nhiên điều này sẽ giúp bạn có thêm kiến thức và hiểu rõ hơn về thông số của máy tính. Tốc độ của RAM được tính theo tỉ số CPU/DRAM, ví dụ khi CPU có bus ngoài là 200MHz (ở những CPU bus 800MHz) và tỉ lệ này là 1:1 thì RAM sẽ chạy ở bus 200MHz (400MHz DDR). Khi tỉ lệ là 5:4, bus ngoài CPU là 200MHz thì tốc độ RAM sẽ là (200/5)*4 = 160MHz (320MHz DDR).
Riêng những thông số khác về RAM như CAS Latency, RAS-to-CAS Delay... đều được tất cả các nhà sản xuất đưa vào một nhóm chung có tên là Advance Chipset Configuration. Có thể bạn sẽ cảm thấy hoa mắt nhưng thông số quan trọng nhất là phần DRAM Timing bao gồm bốn thông số chính theo thứ tự là CAS Latency, Act to Precharge Delay, Ras-to-CAS Delay và DRAM Ras Precharge. Nếu bạn gặp thông số RAM kiểu như 2-2-2-5 hay 2-3-3-7 thì đó chính là bốn thông số được xếp theo đúng thứ tự như vậy. Ý nghĩa của những thông số còn lại bạn có thể tham khảo sách hướng dẫn đi kèm của từng bo mạch chủ.
B. ĐIÊN THẾ:
Cũng trong những hình ảnh trên, bạn có thể thấy có một chỉ số về điện thế cung cấp cho RAM (DRAM Voltage). Thường thì DDR sử dụng mức điện thế 2,5v và DDR-II là 1,8v. Một số loại RAM DDR tốc độ cao có thể yêu cầu tới 2,8v hoặc 2,85v, đối với những loại này bạn phải tham khảo tài liệu hướng dẫn đi kèm để có được thông tin. Tuy nhiên bạn cần tuân theo một nguyên tắc an toàn là: Không nên kéo điện thế lên quá 2,9v nếu không có giải pháp tản nhiệt hữu hiệu vì RAM có thể sẽ bị cháy hoặc phồng IC sau một thời gian sử dụng. Đối với những loại bo mạch chủ rẻ tiền, bạn sẽ không chỉnh được điện thế của RAM mà chỉ có thể thay đổi được tốc độ. Trong trường hợp này bạn có thể sử dụng một vài món đồ chơi chuyên dụng như DDR Booster của OCZ. Theo thống kê từ phía người dùng, những chip RAM của Samsung có khả năng chịu được điện cao nhất và ép xung lên được mức tốc độ tương xứng, còn những loại chip của Winbond thì có thể chạy ở tốc độ cao ngay cả với điện thế mặc định hoặc nhỉnh hơn một chút. Điện thế của RAM thậm chí còn ảnh hưởng cả đến timing nên nếu thanh RAM bạn mua về không chạy được ở mức timing thấp (ví dụ như 2) thì bạn có thể thử đẩy điện thế lên một chút xem sao.
Sau khi đã có đủ những giải pháp về phần cứng, điều quan trọng nhất của việc chọn RAM chính là hiệu năng cao và ổn định, bạn sẽ cần đến những phần mềm chuyên dụng để kiểm tra tốc độ cũng như khả năng hoạt động lâu dài của RAM cho dù chạy ở tốc độ mặc định hay ép xung. Hai chương trình sáng giá nhất được nhiều người dùng đánh giá cao là Sisoft Sandra 2005 (http://www.sisoftware.co.uk/) và Passmark Burn-in Test (http://www.passmark.com). Hai chương trình này có khả năng kiểm tra băng thông của RAM kèm theo thử nghiệm tối đa 'nội lực' của RAM để phát hiện lỗi nếu có. Nếu như RAM của bạn đạt được thời gian kiểm tra từ 8 đến 10 tiếng và tốc độ chấp nhận được thì bạn là người may mắn, nếu không hãy kiểm tra lại toàn bộ mọi thiết bị hoặc liên hệ với nơi bán để đổi loại khác.
Tóm lại, việc chọn mua một loại RAM đúng với cấu hình máy tính và phù hợp với công việc của mình là rất quan trọng. Việc mua RAM từ các hãng tên tuổi dĩ nhiên sẽ đảm bảo cho bạn về chất lượng cũng như bảo hành. Mặc dù đa số các loại RAM trên thị trường vào thời điểm hiện tại đều có thời hạn bảo hành 3 năm nhưng sẽ thật phiền toái nếu RAM hỏng và bạn phải chạy đi chạy lại để liên lạc với nơi bán; chưa kể chuyện thanh RAM chập chờn có thể cho dữ liệu quan trọng của bạn ra đi không lời từ biệt chỉ trong tích tắc. Nói chung nếu là máy tính cho văn phòng, bạn hoàn toàn có thể mua những loại RAM phổ thông để tiết kiệm chi phí, dĩ nhiên là phải kiểm tra cẩn thận. Còn nếu như bạn là 'dân chơi' overlock sành sỏi hoặc thường xuyên chơi game tốc độ cao hay chỉ đơn giản là muốn làm cho chiếc máy tính của mình trông 'xịn' hơn thì có thể lướt qua dòng sản phẩm cao cấp nhưng hãy nhớ kiểm tra cái ví của mình trước! Giá của chúng chắc chắn không hề rẻ chút nào. Để biết thêm thông tin và giải đáp thắc mắc của mình, bạn có thể ghé thăm diễn đàn Vietnam Overclocker Zone tại địa chỉ
www.vozforums.com.
Những món đồ chơi không thể thiếu
Bạn có thể nhận thấy một điều rất rõ ràng đó là tốc độ của RAM và điện thế sử dụng ngày càng cao hơn. Ban đầu chúng ta có DDR200/2,5v thì giờ đây chúng ta đã có DDR500/2,8v (thậm chí là 2,85v đối với một số loại nhất định) hay DDR2-667/1,8v. Hai yếu tố này đã góp phần làm cho nhiệt độ của RAM ngày càng tăng, đó cũng chính là lý do tại sao các loại RAM cao cấp thường có lá thép ốp ở mặt ngoài; ngoài lý do bảo vệ thì nó còn góp phần tản nhiệt. Tuy nhiên nếu bạn mua được RAM loại thường nhưng có tốc độ tốt và khả năng ép xung cao, bạn có thể tham khảo những giải pháp tản nhiệt dành riêng cho RAM của những nhà sản xuất thứ ba như tản nhiệt cho RAM của CoolerMaster (xem hình).
Nếu cảm thấy khả năng tài chính có giới hạn, bạn có thể tự chế những mẩu tản nhiệt như hình bên với một cục tản nhiệt lớn của CPU và một chiếc cưa sắt. Nếu khéo tay, bạn sẽ có những sản phẩm đẹp mắt không thua gì hàng hiệu. Một số nhà sản xuất lại chọn giải pháp đơn giản hơn bằng cách làm những tấm giải nhiệt giống của hàng hiệu với chất liệu như hợp kim dẫn nhiệt hay đồng đỏ nhưng thực tế chúng không hiệu quả cho lắm.
Một món đồ chơi nữa cũng đang được dân overclock ưa chuộng hiện nay là DDR Booster của OCZ tuy nhiên nó khá nguy hiểm và bạn chỉ nên dùng nếu có kinh nghiệm về máy tính. DDR Booster không phải là một thanh RAM mặc dù khi mới nhìn thì có vẻ hơi giống. Tuy nhiên nó lại rất gần gũi với RAM nhờ khả năng can thiệp vào hệ thống cấp điện cho RAM, chính vì thế với DDR Booster, bạn có thể chỉnh được điện năng tiêu thụ cho RAM một cách chính xác nhờ đồng hồ đo đi kèm.
Việc sử dụng rất đơn giản, bạn chỉ việc cắm vào khe RAM trống rồi vặn chiết áp trong khi theo dõi đồng hồ sao cho hợp lý vì nếu nhiệt độ lên quá cao, RAM có thể bị cháy. Có thể DDR Booster khá đáng sợ nhưng hiệu quả nó mang lại thì không ai có thể chê được. Trước kia bạn cần đến mỏ hàn và trình độ điện tử vào loại có hạng nếu muốn chỉnh lại điện của RAM bằng tay thì với DDR Booster, việc cần làm chỉ đơn giản là cắm và vặn. Bạn có thể hình dung những thanh RAM rất thường bình thường bán đầy ngoài cửa hàng có thể chạy ở tốc độ gần gấp đôi hoặc chí ít cũng ngang với các loại RAM xịn hay không? Câu trả lời là có, dĩ nhiên là với DDR Booster và những giải pháp tản nhiệt hợp lý.
Các bước nâng cấp bộ nhớ
Khi nhận thấy máy tính chạy chậm chạp, có thể bạn nghĩ ngay tới việc nâng cấp card màn hình, bộ xử lý hay bo mạch chủ (mainboard). Nhưng bạn có biết rằng trong nhiều tình huống, nâng cấp bộ nhớ RAM giúp tăng đáng kể hiệu năng máy tính mà chi phí lại rẻ?
XÁC ĐỊNH DUNG LƯỢNG
Dung lượng bộ nhớ phụ thuộc vào hệ điều hành và ứng dụng. Windows XP yêu cầu bộ nhớ RAM tối thiểu 64MB nhưng khuyến khích 128MB. Windows Me yêu cầu tối thiểu 32MB, trong khi Windows 98 chỉ cần 16MB. Nếu cài thêm bộ Office XP trên hệ điều hành Windows XP, bạn cần tối thiểu 128MB RAM. Để chạy cùng lúc các ứng dụng như Word, Excel và Power Point, bạn cần tối thiểu 152MB. Nói chung, bạn nên trang bị 256MB RAM khi sử dụng hệ thống WinXP. Nếu để chơi game, thiết kế đồ họa, xử lý phim, bạn nên có 512MB RAM; càng nhiều càng tốt nhưng còn phụ thuộc vào khả năng hỗ trợ của bo mạch chủ .
XÁC ĐỊNH LOẠI BỘ NHỚ
Hiện có 3 công nghệ bộ nhớ phổ biến là SDRAM, DDR-SDRAM và RDRAM nên bạn cần xác định loại bộ nhớ dựa theo tài liệu hướng dẫn của bo mạch chủ.
SDRAM: Phổ biến trong các hệ thống Pentium, Pentium II, và Pentium III, SDRAM có 3 loại: PC66, PC100 và PC133; tương ứng với tần số làm việc 66MHz, 100MHz và 133 MHz.
DDR SDRAM: Phổ biến trong hệ thống Pentium IV hay AMD. Cũng giống như SDRAM, DDR SDRAM cũng có nhiều loại tốc độ khác nhau như PC2100, PC2700, PC3200, PC3500 và PC3700 (xung làm việc tương ứng là 266MHz, 333MHz, 400MHz, 433MHz, và 466MHz)
RDRAM: Là công nghệ bộ nhớ 'xịn' nhất, RDRAM sử dụng cho các hệ thống Xeon và Pentium IV cao cấp. Do giá còn mắc nên không được phổ biến như 2 loại RAM trên.
ĐỘ TƯƠNG HỢP
Đừng vội chọn loại RAM tốc độ nhanh vì chưa chắc thích hợp với máy bạn mà nên chọn loại bộ nhớ có thông số giống như bộ nhớ hiện thời trên hệ thống. Mua thanh DDR-SDRAM PC3700 tốc độ 466MHz trong khi bo mạch chủ chỉ hỗ trợ tối đa RAM 266MHz thì xem ra không hiệu quả bằng mua loại DDR SDRAM PC2100 tốc độ 266MHz.
LẮP ĐẶT
Trước tiên, bạn phải mở thùng máy và nhớ đeo vòng khử tĩnh điện hoặc tiếp đất để tránh làm hỏng linh kiện điện tử. Quan sát trên bo mạch chủ, tìm những khe cắm RAM (có lẽ là dài nhất). Nhấn chốt 2 bên khe cắm RAM còn trống ra hai bên rồi đặt thanh RAM vào đúng vị trí, nhấn đều 2 đầu (để không làm hỏng hay trầy xước mạch điện tử) đến khi thấy 2 chốt cắm vào hai thành thanh RAM. Lắp đặt RDRAM cũng tương tự nhưng cần lắp các thanh RDRAM theo cặp và đặt CRIMM trong khe cắm trống để khép kín mạch điện. Đối với loại SDRAM, bạn sẽ phải đẩy nghiêng.
CHẠY THỬ
Hãy quan sát con số báo dung lượng bộ nhớ khi hệ thống khởi động. Nếu sai biệt thì nên kiểm tra lại vị trí gắn các thanh RAM. Nếu cần có thể nhấn phím Pause/ Break để tạm dừng màn hình khởi động.
Khi thấy hệ thống báo dung lượng RAM đủ và khởi động bình thường vào Windows, bạn tiếp tục chạy thử một số ứng dụng và kiểm tra xem chúng có hoạt động tốt không; bởi RAM không tương thích có thể gây ra sự cố treo máy hay đóng băng.
VIDEO RAM (VRAM)
VRAM được phát triển dựa trên công nghệ FPM (fast page mode), có hai cổng giao tiếp thay vì một cổng như thông thường: một cổng dành cho chức năng làm tươi màn hình) cổng còn lại xuất ảnh ra màn hình. Nhờ thiết kế này, VRAM hoạt động hiệu quả hơn DRAM trong những ứng dụng video. Tuy nhiên, do sản lượng tiêu thụ chip video ít hơn chip nhớ chính nên giá còn cao. Vì thế, trong một số hệ thống card video ít tiền, người ta có thể dùng DRAM thông thường để giảm giá thành.
GRAPHIC DDR (GDDR)
GDDR (DDR đồ họa) được phát triển dựa trên công nghệ DDR SDRAM dành riêng cho đồ họa. Sau phiên bản GDDR-2 thiết kế dựa trên DDR-II, ATI và NVIDIA đã kết hợp chặt chẽ với các nhà sản xuất bộ nhớ để đưa ra phiên bản GDDR-3 có điện áp làm việc thấp hơn GDDR-2, làm việc từ tần số 500MHz đến 800MHz với mục tiêu giảm điện năng tiêu thụ, tăng mật độ chip nhớ và đơn giản hóa giải pháp tản nhiệt.
WINDOW RAM (WRAM)
WRAM là một dạng bộ nhớ hai cổng khác, được dùng trong những hệ thống chuyên xử lý đồ họa. Hơi khác VRAM, WRAM có cổng hiển thị nhỏ hơn và hỗ trợ tính năng EDO (Extended Data Out).
SYNCHRONOUS GRAPHIC RAM (SGRAM)
SGRAM là loại SDRAM thiết kế riêng cho video với chức năng đọc/ghi đặc biệt. SGRAM cho phép truy xuất và chỉnh sửa dữ liệu theo khối thay vì từng đơn vị nên giảm bớt số lượt đọc/ghi bộ nhớ và tăng hiệu năng của bộ điều khiển đồ họa.
BASE RAMBUS VÀ CONCURRENT RAMBUS
Trước khi trở thành công nghệ bộ nhớ chính, công nghệ Rambus được dùng làm bộ nhớ video. Công nghệ bộ nhớ Rambus dùng làm bộ nhớ chính hiện tại được gọi là Direct Rambus. Còn hai dạng Rambus sơ khai là Base Rambus và Concurrent Rambus được dùng cho ứng dụng video trong máy trạm và hệ thống game video như Nintendo 64.
Bộ nhớ cải tiến
ENHANCED SDRAM (ESDRAM)
Để tăng tốc độ và hiệu năng, thanh nhớ chuẩn có thể được tích hợp thêm bộ đệm SRAM (Static RAM) trực tiếp trên chip. ESDRAM là SDRAM có thêm bộ đệm SRAM để có khả năng làm việc với tần số 200MHz. Cũng tương tự nguyên lý bộ nhớ đệm ngoài, DRAM cũng dùng một bộ đệm SRAM để lưu dữ liệu thường dùng, nhằm rút ngắn thời gian truy xuất DRAM. Ưu điểm của SRAM trên chip là tạo lập tuyến bus rộng hơn giữa SRAM và DRAM, tăng cường băng thông và tốc độ DRAM một cách hiệu quả.
FAST CYCLE RAM (FCRAM)
FCRAM được Toshiba và Fujitsu đồng phát triển nhằm phục vụ máy chủ, máy in cao cấp và hệ thống chuyển mạch viễn thông. Bộ nhớ được phân thành nhiều mảng và có thiết kế hàng đợi nên tăng được tốc độ truy xuất ngẫu nhiên và giảm điện năng tiêu thụ.
SYNCLINK DRAM (SLDRAM)
Hiện tại tuy đã lỗi thời nhưng SLDRAM từng được cộng đồng chế tạo DRAM phát triển nhằm cạnh tranh với Rambus vào cuối thập niên 1990.
VIRTUAL CHANNEL MEMORY (VCM)
Do NEC phát triển, VCM cho phép các 'khối' bộ nhớ khác nhau giao tiếp độc lập với bộ điều khiển nhớ và có đệm riêng. Cách này cho phép mỗi tác vụ hệ thống thành một khối riêng, không chia sẻ hay dùng chung với các tác vụ cùng chạy khác.
BỘ NHỚ FLASH
Bộ nhớ Flash là dạng bộ nhớ ghi lại được, không mất, trạng thái ổn định, có chức năng kết hợp của RAM và ổ đĩa cứng. Bộ nhớ flash lưu bit dữ liệu dưới dạng tín hiệu điện trong ô nhớ (giống DRAM) nhưng có khả năng nhớ cả khi ngắt điện (giống đĩa cứng). Nhờ đặc tính điện thế thấp, ổn định, tốc độ cao, bộ nhớ flash thích hợp với rất nhiều ứng dụng di động như máy ảnh số, máy quay phim số, điện thoại di động, máy in, PDA, máy nhắn tin, máy ghi âm số, máy MP3, hệ thống GPS.
Thursday, 20. July 2006, 10:31:09
Phan_cung
Trong chiếc máy tính, có nhiều thứ linh kiện mà người sử dụng không hẳn đã biết rõ về nó. Để giúp người dùng PC có thêm kiến thức về phần cứng computer, bài viết dưới đây cung cấp một số thông tin của một trong các linh kiện đó.
BIOS là gì?
BIOS (Basic Input/Output System - hệ thống nhập/xuất cơ bản) thường được tích hợp trên mainboard dưới dạng bộ nhớ chỉ đọc nên còn được gọi là ROM BIOS. Ngày nay, các BIOS được thiết kế dưới dạng Flash ROM, nghĩa là có thể thay đổi nội dung một cách linh hoạt bằng chính các chương trình do các nhà sản xuất viết ra.
Vai trò của BIOS
BIOS thực ra là một tập hợp các chương trình nhỏ được tự động nạp và giữ quyền điều khiển khi máy tính mới bật lên, BIOS có vai trò như sau:
- Kiểm tra các thành phần của máy tính khi mới khởi động. Quá trình này gọi là POST-Power Of Selt Test. POST kiểm tra các thiết bị bộ nhớ, bo mạch chính, card màn hình, ổ mềm, ổ cứng, bàn phím, chuột... xem chúng có sẵn sàng làm việc không?
- Chuyển giao quyền điều khiển cho hệ điều hành. Sau quá trình POST, BIOS tìm cung mồi trên thiết bị khởi động (lần lượt theo trình tự được quy định trong CMOS có thể là đĩa mềm, đĩa cứng, CD, card mạng...). Nếu thấy, nó sẽ nạp cung mồi vào bộ nhớ, đến lượt cung mồi tìm hệ điều hành trên thiết bị nhớ để nạp và trao quyền điều khiển cho hệ điều hành.
- Sau khi hệ điều hành được nạp, BIOS làm việc với bộ xử lý (command.com) để giúp các chương trình phần mềm truy xuất các thiết bị của máy tính.
Như vậy, kể từ khi máy tính mới bật lên cho đến khi tắt, BIOS luôn luôn hoạt động và là môi trường trung gian giữa phần mềm và phần cứng nên chi phối khá nhiều hoạt động của máy. Vì vậy mà nhiều hãng, (ví dụ như Gigabyte) còn tích hợp hai BIOS trên cùng một mainboard gọi là Dual BIOS, để phòng khi BIOS chính (main BIOS) bị hỏng thì đã có backup BIOS sẵn sàng phục vụ.
Nâng cấp BIOS
Có một số phiên bản BIOS tính tương thích không cao, cũng có thể một vài thiết bị nào đấy mới được nâng cấp nên khi lắp vào máy nó sẽ khiến BIOS "không hiểu". Trong xu thế các thiết bị sử dụng với máy tính được cải tiến không ngừng, nhà sản xuất mainboard bắt buộc phải thường xuyên nâng cấp phiên bản BIOS để hệ thống hoạt động "trơn tru".
Thường thì các hãng sản xuất mainboard cập nhật đều đặn các phiên bản BIOS của họ lên trang web của hãng. Như vậy, nếu không hài lòng với BIOS đang có, người sử dụng có thể download về và thực hiện nâng cấp (tất nhiên là phải chọn đúng BIOS dùng cho loại mainboard mà máy tính đó đang sử dụng, nếu không nguy cơ bo mạch chủ hỏng là khá cao). Thao tác này khá đơn giản. Tất cả chỉ bao gồm hai tập tin, một tập tin thực thi thường có tên dạng Flash.exe và một tập tin dữ liệu (ROM Data) dạng nhị phân. Nhiệm vụ của người dùng là chép hai tập tin này vào một đĩa mềm (tốt nhất là đĩa có thể khởi động được), khởi động máy từ đĩa này rồi từ dấu nhắc của DOS thực hiện câu lệnh: Flash<tên tập tin ROM Data>. Người dùng sẽ được nhắc khẳng định việc cập nhật BIOS và chú ý không được tắt máy hay khởi động lại trong quá trình cập nhật.
Có một số mainboard cho phép cập nhật BIOS từ đĩa mềm ngay trong chương trình Setup CMOS, chỉ việc chọn chức năng cập nhật BIOS (bằng một phím chức năng) rồi được yêu cầu nhét đĩa mềm có chứa tập tin ROM Data vào là xong.
Khi BIOS bị lỗi
Ví dụ, chiếc máy tính sử dụng mainboard Gigabyte GA-8IK1100, ổ cứng đời mới SATA 150 Samsung 120 GB, một hôm hệ điều hành Windows XP của nó không thể nào khởi động được, kể cả nạp ở chế độ Safe Mode. Mọi linh kiện lần lượt được dùng phép "thử loại trừ sai", cuối cùng đi đến kết luận mainboard có lỗi. Giải pháp sử dụng bản BIOS phòng bị (back up BIOS) để khởi động máy, kết quả không khá hơn. Vào Internet, truy cập trang web của Gigabyte, download bản BIOS mới nhất của GA-8IK1100 Rev 2.0 là Model của mainboard, thực hiện thao tác cập nhật BIOS. Khởi động lại máy, màn hình Windows XP quen thuộc lại hiện lên nhanh chóng.
Các bước cập nhật BIOS
Tập tin download được có dạng nén tự bung .EXE. Khi chạy, nó nhận được tập tin thực hiện FLASH879.EXE và 8IKK12.FI vào đĩa mềm. Nhét đĩa mềm này vào máy, bật máy lên, ấn phím Del trong quá trình POST để vào chương trình Setup CMOS. Nhất phím F8 để vào chế độ cập nhật BIOS. Chọn chức năng update main BIOS from floppy. Một cảnh báo với khung màu đỏ hiện lên hỏi lại có chắc chắn không (Enter Dual BIOS/Q-Flash Utility: Y/N). Gõ Y, ấn phím Enter, quá trình F10 để tắt máy, thế là xong.
Lưu ý là quá trình cập nhật BIOS tuy rất ngắn nhưng vẫn có khả năng sự cố mất điện xảy ra. Trong trường hợp đó, BIOS chắc chắn sẽ hỏng hẳn và chỉ còn cách đưa tới "bệnh viện" cầu cứu. Tốt nhất là nên sử dụng bộ lưu điện UPS cho máy khi thực hiện thao tác này.
(theo Tin Học & Đời Sống)
*******************************
Tại hạ Bigball_hacker mong được các hạ chỉ giáo
*******************************
I wish I
1. Trở thành Staff
2. Trở thành Professional Hacker
*******************************
KHÔNG BAO GIỜ HACK SITE CÓ DƯỚI 2000 MEMBER HOẶC DƯỚI 2000 POST
*******************************
Nếu rảnh ra chat với tui: Bigball_hacker_vn
29/06/2006 18:46:33
Bigball_hacker
Citizen
Joined: 12/06/2005 07:25:21
Bài gởi: 350
Offline
Virus có thể phá hỏng ROM Bios ??
Virus CIH (hay còn gọi là Chernobyl) là một minh chứng cho sự lỏng lẻo của hệ điều hành này. CIH được phát hiện vào 7/1998 ở Đông Nam Á. Tác giả của nó cho rằng mức độ tàn phá của virus này giống như thảm họa rò rỉ lò phản ứng hạt nhân Chernobyl vào ngày 26/4/1986 ở Nga mà nhân loại phải cảnh giác. Các biến thể CIH lây vào file EXE-32 của Windows 9x. Mỗi khi kích hoạt, CIH kiểm tra ngày hiện tại của hệ thống để quyết định "ra tay" hay chỉ lây sang các EXE khác. Nếu đúng ngày 26/4 (đối với dị bản 1003 và 1049) hoặc 26 hàng tháng (đối với dị bản 1019), CIH format track 0 tất cả các ổ đĩa cứng trên máy, sau đó CIH ghi "rác" vào flash ROM khiến máy bị phá hủy hoàn toàn. Khai thác điểm yếu của Windows 95, CIH đã làm thay đổi nhận thức chủ quan của người dùng rằng "virus máy tính chỉ phá hủy dữ liệu luận lý, chúng không thể chạm đến phần cứng của máy". Với kịch bản tội lỗi của nó, CIH đã làm hỏng hàng triệu chiếc máy tính "hàng hiệu" trên toàn thế giới (loại sử dụng chip ROM hàn chết trên bo mạch chủ).
(Theo PC World VN)
BIOS cũng là một ẩn họa
Một phương pháp mới có thể được các hacker lợi dụng để tấn công máy tính: sử dụng bộ nhớ flash của BIOS làm môi trường ẩn chứa cho các đoạn mã nguy hiểm. Hình thức mới này khiến cho hệ điều hành máy tính dù phát hiện ra cũng khó mà diệt trừ được các chương trình độc này.
BIOS - Basic Input/Output System - điều khiển việc kiểm tra sơ bộ phần cứng máy tính, chứa những thông tin và công cụ cấu hình một số tính năng cơ bản trên máy tính của bạn, can thiệp trước khi các hệ điều hành như Windows được nạp vào máy tính.
Phần nhân của BIOS được ghi vào trong ROM, rất khó có thể thay đổi. Tuy nhiên một phần các công cụ và thông tin cấu hình phần cứng của máy lại nằm trong bộ nhớ flash, có thể ghi xóa được. Các thông tin nằm trong vùng flash này sau đó được chuyển giao cho hệ điều hành sử dụng. Các nhà sản xuất cũng có thể nâng cấp một số tính năng của mainboard thông qua việc nạp thêm một số thông tin vào vùng nhớ này (gọi là Update Flash BIOS).
Những hacker am hiểu về Rootkits (những công cụ hoạt động vượt qua sự kiểm soát của hệ điều hành) có thể tận dụng không gian bộ nhớ flash này để ẩn chứa các chương trình độc hại. Chính vì vậy, dù hệ điều hành có phát hiện bị nhiễm mã độc thì cũng rất khó để có thể loại trừ. Đây chính là phát hiện mới nhất của nhà nghiên cứu John Heasman của NGS (Next-Generation Security Software), đưa ra tại hội nghị Hacker Mũ Đen được tổ chức trong tuần này.
Cụ thể, những hacker có thể sử dụng các công cụ quản lý việc sử dụng nguồn điện của BIOS (ACPI ), và sử dụng ngôn ngữ lập trình này để tạo ra các Rootkits ẩn chứa trong bộ nhớ flash. Ngay cả việc thay thế một số chức năng của bộ công cụ này thành các đoạn mã độc cũng là điều hoàn toàn có thể.
Điều nguy hiểm là các đoạn mã này tồn tại và phát tán bất kể bạn format (định dạng) lại đĩa cứng, cài đặt lại hệ điều hành hay cài các chương trình phòng chống mã độc. Chương trình sẽ tự động nạp vào mỗi khi bạn bật máy tính lên.
Hiện, chỉ có hai cách để phòng chống việc này. Thứ nhất là khóa chức năng cập nhật flash BIOS tự động. Cách thứ hai là sử dụng một số loại BIOS bảo mật đặc biệt, ví dụ Phoenix Technologies' TrustedCore hoặc Intel's SecureFlash
Wednesday, 19. July 2006, 04:28:10
Phan_cung
Nếu tự mình muốn lắp lấy chiếc máy tính bạn sẽ bối rối với vô số chipset hiện có trên thị trường. Intel, VIA, SiS... không ngừng đua tranh về công nghệ chipset! Công nghệ nào sẽ hiệu quả cho công việc của bạn đây?
Để chọn được bo mạch chủ (BMC) xử lý nhanh, hoạt động ổn định thì yếu tố quan tâm hàng đầu của bạn phải là chipset - đây là trung tâm đầu não quản lý mọi hoạt động của BMC, từ việc giao tiếp CPU, bộ nhớ, đồ họa đến các thiết bị ngoại vi (chuột, bàn phím, âm thanh, mạng, modem, printer...). Theo kinh nghiệm thực tiễn, các BMC dùng cùng chipset có tốc độ và sự ổn định không khác biệt nhiều. Vì vậy bạn cần chọn chipset đủ mạnh, đáp ứng được nhu cầu, ổn định.
Qua hình minh họa bạn sẽ hình dung ra hoạt động của chipset. Nói một cách dễ hiểu, nó giống như ngã tư và bùng binh trong hệ thống giao thông, nếu quản lý không tốt thì rất dễ kẹt xe, tranh chấp tuyến đường, khi đó hệ thống sẽ chạy chậm hoặc thậm chí treo luôn mà bạn không biết tại sao. Thông thường, chipset gồm 2 thành phần: chipset cầu bắc (North Bridge Chipset) và chipset cầu nam (South Bridge Chipset). Nhiệm vụ của hai chipset này được quy định rõ ràng và hiếm khi thay đổi. Năm 1997, giao tiếp AGP được giới thiệu và chipset cầu bắc có thêm nhiệm vụ kết nối với card đồ họa. Chipset cầu bắc sẽ quản lý việc giao tiếp dữ liệu với CPU, RAM và card đồ họa, vì vậy nó rất quan trọng, khả năng xử lý của BMC phụ thuộc chipset này rất nhiều. Chipset cầu nam quản lý các thiết bị ngoại vi, thông tin từ ngoài vào chipset cầu nam được đưa lên cầu bắc để xử lý và trả kết quả về. Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ như chipset Intel 875P lại đưa giao tiếp mạng gigabit lên chip cầu bắc để tránh nghẽn đường truyền từ chip cầu nam lên cầu bắc. Tại sao Intel lại làm như vậy? Giao tiếp giữa chipset cầu bắc và cầu nam qua kỹ thuật Hub Link của Intel đạt băng thông 266MB/giây. Trong trường hợp xấu nhất thì những thành phần sau có thể giao tiếp cùng lúc: IDE RAID 0: 100 MB/giây; LAN 1 Gb/giây=125MB/giây; USB 2.0: 60 MB/giây; card PCI: 21 MB/giây; Serial ATA: 150 MB/giây. Như vậy, theo lý thuyết thì băng thông lớn nhất sẽ là 456MB/giây (card âm thanh và các thành phần khác chưa được tính vào). Hub Link với băng thông 266MB/giây cũng có trường hợp bị quá tải. Do đó, Intel đã tổ chức lại và đưa giao tiếp mạng từ chipset cầu nam sang chipset cầu bắc, bởi vì thành phần này có thể góp phần làm nghẽn băng thông giao tiếp giữa 2 chipset (VIA và SiS có công nghệ riêng làm cho băng thông giao tiếp giữa chipset cầu nam và bắc đạt 1GB/giây nên hai hãng này đã không đưa mạng gigabit cho chipset cầu bắc quản lý).
Một trường hợp khác là chipset nForce3 150. Trong khi các hãng thường dùng 2 chipset thì nVidia lại tích hợp cả cầu bắc và cầu nam thành nForce3 150, khi đó sẽ không còn quãng đường di chuyển từ cầu nam lên cầu bắc và ngược lại, do đó sẽ giảm thời gian xử lý.
Trên thị trường có rất nhiều chipset được sử dụng cho BMC, mỗi loại đáp ứng một yêu cầu riêng, chipset dùng với CPU Intel có Intel 845, 845E, 845G, 845PE, 848P, 865P, 865PE, 865G, 875P; SiS 645, 648, 650, 655; VIA P4X333, P4X400, PT800, PT880... Chipset dùng CPU AMD có VIA KT333, KT400, KT600, K8T800; SiS 746FX, SiS 755; nVidia nForce2, NVidia nForce3 150... và còn nhiều loại khác. Do số lượng chipset nhiều và một số có tính năng gần giống nhau, nên để dễ dàng, bạn nên chọn CPU trước (đọc bài 'Chọn CPU nào cho Desktop của bạn' trên TGVT A tháng 02/2004 trang 86), sau đó sẽ tìm chipset phù hợp CPU đã chọn.
Thông thường việc chọn chipset chủ yếu dựa vào tỉ lệ hiệu năng/giá tốt nhất, đồng thời chipset cũng phải đủ sức đáp ứng các nhu cầu phát sinh trong tương lai như cho phép nâng cấp CPU, bộ nhớ, ổ cứng và mở rộng các giao tiếp ngoại vi. Không giống CPU, giá BMC dùng các chipset mới không biến động nhiều sau một thời gian, vì vậy nếu được thì bạn nên trang bị chipset mạnh cho BMC để dễ nâng cấp và thuận tiện trong việc giao tiếp với các thiết bị mới.
CPU cũng lắm đa đoan
Giống như CPU, BUS hệ thống (Front SIDE BUS - FSB) của chipset chạy với CPU Intel và AMD cũng khác nhau để phù hợp với những chiêu tiếp thị CPU của nhà sản xuất. Intel Pentium 4 dùng Quad Data Rate, còn AMD Athlon sử dụng Double Data Rate, vì thế chipset có FSB 400 cho CPU AMD và FSB 800 cho CPU Intel có tốc độ bus như nhau.
Hiện nay trên thị trường có chipset hỗ trợ FSB 400, 533 hay 800 đối với CPU Intel và FSB 200, 266, 333, 400, 800 cho CPU AMD. Nếu có thể thì bạn nên chọn chipset hỗ trợ FSB 533, 800 khi dùng CPU Intel và FSB 333, 400, 800 cho CPU AMD để đáp ứng nhu cầu nâng cấp RAM và CPU, nếu dùng chipset có FSB thấp thì sau này rất khó tìm thiết bị tương thích vì không còn sản xuất.
Việc Intel đưa ra công nghệ siêu luồng (Hyper Threading) đã làm nhiều người dùng hết sức phấn khích, do chỉ cần bỏ tiền mua một CPU nhưng được dùng tới hai. Tuy nhiên khả năng cải thiện tốc độ của công nghệ này không nhiều, cũng một phần do chưa có nhiều ứng dụng tận dụng công nghệ này.
Bộ nhớ - làm bạn đau đầu!
Do hiện trạng bộ nhớ SDRAM và RDRAM rất hiếm trên thị trường, DDRAM thì phổ biến do đó bạn nên lưu ý đến khả năng hỗ trợ của chipset. CPU và RAM giao tiếp nhau thông qua chipset cầu bắc, do đó tuyến bus này nên chọn sao cho đồng bộ (xem bảng 1), nếu không hệ thống của bạn có thể hoạt động chậm hoặc không ổn định.
Trong khi công nghệ siêu luồng của Intel chưa phát huy hiệu quả thì công nghệ bộ nhớ kênh đôi (dual channel) lại cải thiện tốc độ đáng kể. Trước kia, đường dữ liệu chuyển đến bộ nhớ sẽ đi theo một chiều lên hoặc xuống, nhưng với công nghệ này trong cùng một lúc sẽ có hai đường dữ liệu giao tiếp bộ nhớ, một đường truyền đi và một đường về. Nếu bạn cần tính toán nhiều, xử lý, chuyển đổi video, âm thanh thì sẽ thấy rõ tác dụng của kênh đôi. Bạn cần lưu ý là để chạy chế độ kênh đôi thì phải có số chẵn các thanh bộ nhớ (2 hoặc 4) và gắn theo hướng dẫn của nhà sản xuất BMC. Như vậy, nếu chipset hỗ trợ công nghệ bộ nhớ kênh đôi thì thay vì mua một thanh RAM 512MB, bạn nên dùng hai thanh 256MB và sẽ thấy tốc độ hệ thống được cải thiện nhiều.
Các giao tiếp khác
Ngoài tốc độ cao, chipset cần có nhiều giao tiếp với các thiết bị ngoại vi khác và đây là phần việc của chipset cầu nam. Các chipset cầu nam hiện nay không thể thiếu USB 2.0 tốc độ 480Mb/giây, âm thanh 6 kênh (5.1), AGP 4X/8X và còn các giao tiếp mở rộng khác: đĩa cứng Serial ATA tốc độ 150MB/giây, IDE RAID và SATA RAID chế độ 0 (striping) và 1 (mirroring) cho tốc độ truy cập đĩa nhanh (truy xuất 2 đĩa cùng lúc) và bảo toàn dữ liệu (ghi lên 2 đĩa cùng lúc), IEEE 1394 chuyên truyền dữ liệu tốc độ cao như video, âm thanh số SPDIF và mạng gigabit. Nếu bạn muốn BMC có nhiều giao tiếp thì chắc chắn phải lưu ý đến các giao tiếp này, do đó nếu để ý kỹ bạn sẽ thấy một số BMC dùng cùng chipset cầu bắc nhưng lại có giá khác biệt.
Để thuận tiện, chúng tôi phân chipset thành hai phần khác nhau dùng CPU Intel và AMD, trong mỗi phần sẽ được chia ra các phần nhỏ dành cho từng đối tượng người dùng. Chúng tôi sẽ phân tích giúp bạn chọn được chipset cầu bắc đáp ứng tiêu chí tỉ lệ hiệu năng/giá tốt nhất, còn các giao tiếp khác như SATA, IEEE 1394, RAID, SPDIF,... thì tùy vào nhu cầu mà bạn có thể chọn.
Chipset dùng CPU Intel
Chipset dùng CPU Intel có ba nhãn hiệu nối tiếng là Intel, VIA và SIS. Intel luôn là người đi đầu, đưa ra các công nghệ mới nhằm tăng khả năng xử lý cũng như độ ổn định của chipset. Hơn nữa, Intel cũng chính là nhà sản xuất CPU do đó các chipset Intel luôn có tốc độ, sự ổn định cao và nhiều người rất yên tâm khi sở hữu BMC dùng chipset Intel. VIA và SiS luôn phải theo đuổi Intel về các công nghệ mới (như siêu luồng, bộ nhớ kênh đôi). Tuy nhiên, hai hãng này cũng có những công nghệ riêng làm tăng tốc độ xử lý, hơn nữa giá thành thấp luôn là ưu thế cạnh tranh.
1. Cho nhu cầu phổ thông
Các chipset này đáp ứng tốt nhu cầu học tập, xem phim, dùng các ứng dụng văn phòng. Do đó, nếu không có nhu cầu cao hơn, bạn không cần phải chi nhiều cho BMC với các chipset đắt tiền. Dòng chipset cho người dùng phổ thông có rất nhiều chọn lựa, vì thế nếu chưa quen bạn có thể choáng ngộp với hàng chục chipset được giới thiệu.
Dòng chipset Intel 845 và 848 đáp ứng rất tốt các yêu cầu trên và được nhiều người ưa chuộng do giá tương đối rẻ và có nhiều chọn lựa. Intel 848 có 848P, Intel 845 có tất cả 7 loại: 845, 845E, 845GV, 845GL, 845GE, 845G, 845PE (các chipset có chữ G phía sau được tích hợp VGA). Nhìn chung, các chipset này có tốc độ xử lý khá, hầu hết đều hỗ trợ công nghệ siêu luồng trừ chipset 845 và 845GL (xem bảng 4 để biết thông tin chi tiết).
VIA có chipset P4X266/P4X333/P4X400. P4X266 dùng công nghệ V-Link cho tốc độ giao tiếp giữa chipset cầu bắc và cầu nam đạt 266MB/giây. P4X333 và P4X400 có công nghệ Double V-Link cải tiến tốc độ giao tiếp cầu bắc-nam, đạt 533MB/giây.
SiS có 645/645DX/648/648FX. Tương tự chipset của VIA, chipset SiS cũng có những công nghệ để tăng tốc độ giao tiếp giữa chipset cầu nam và cầu bắc. SiS 645/645DX dùng công nghệ MuTIOL 16 bit dữ liệu cho bus 533MB/giây. SiS 648 và 648FX ngoài tuyến bus 1GB/giây còn có công nghệ siêu luồng.
Tính năng của các chipset SiS và VIA được tóm tắt trong bảng 2 & 3. Nếu không xử lý đồ họa, chơi game, thì bạn nên chọn chipset có tích hợp VGA sẽ tiết kiệm được chi phí mua card VGA.
Tóm lại, xét về hiệu năng/giá thì bạn nên chọn BMC dùng các chipset Intel 845PE, Intel 848P, SiS 648/648FX, VIA P4X333/P4X400, nếu cần VGA tích hợp thì có Intel 845GE.
2. Cho nhu cầu trung cấp
Bạn nên chọn các chipset mạnh cho yêu cầu xử lý cao, dùng các ứng dụng đồ họa, chuyển đổi video, âm thanh. Hơn thế nữa, nó cũng có thể đáp ứng nhu cầu nâng cấp của bạn sau này.
Chipset Intel 865PE, 865G, 865GV hỗ trợ FSB 800, công nghệ siêu luồng, bộ nhớ kênh đôi DDR400. Nếu các chipset này được kết hợp với CPU có FSB 800, công nghệ siêu luồng cùng hai thanh RAM cho kênh đôi thì thật là 'bốc'.
VIA PT800 cũng có siêu luồng, hoạt động ở bus 800, bộ nhớ DDR400, giao tiếp bắc nam thông qua tuyến bus 533MB/giây nhờ công nghệ V-link. VIA PT880 có sự cải tiến với công nghệ Ultra V-Link cho bus bắc nam đạt 1GB/giây, công nghệ bộ nhớ kênh đôi được điều khiển bởi DualStream64, cùng kiến trúc bus bất đồng bộ cho phép dữ liệu được truyền đi một cách tối ưu.
SiS 655 có siêu luồng, công nghệ MuTIOL cho tốc độ bus bắc-nam 1GB/giây, cho phép giao tiếp bộ nhớ kênh đôi DDR333. SiS 655FX cũng giống SiS 655 nhưng được cải tiến khi có FSB 800 và dùng bộ nhớ kênh đôi DDR400.
Giá BMC dùng các chipset này khoảng 80 đến 120USD nhưng có thể cao hơn nếu BMC có thêm các tính năng cao cấp như SATA, IDE RAID, SATA RAID, IEEE 1394, âm thanh số SPDIF, mạng gigabit,...
Đây là những chipset mạnh về tính năng lẫn tốc độ, các chipset này có thể chạy tốt với CPU Prescott mới của Intel (dùng công nghệ sản xuất 90nm). Nếu cần máy tính tốc độ cao, bạn có thể chọn Intel 865PE, SiS 655FX hoặc VIA PT880. Nếu giao tiếp đồ họa AGP 8X qua card rời tỏ ra hoang phí khi bạn không dùng nhiều thì chipset Intel 865G có vẻ thích hợp. VGA tích hợp này cũng khá mạnh, có thể hoạt động tương đương GeForce 4 MX 440.
3. Cho nhu cầu cao cấp
Các chipset mạnh ngoài tốc độ còn phải có sự ổn định cao, vì thế các BMC dùng chipset này đáp ứng tốt các nhu cầu xử lý film, ảnh, âm thanh hoặc có thể dùng làm server cho các văn phòng nhỏ nhờ độ ổn định khá tốt.
Chipset Intel 875P ngoài các tính năng mạnh như FSB800, siêu luồng, bộ nhớ kênh đôi DDR400, đồ họa AGP 8X, mạng gigabit. Chipset này còn hỗ trợ bộ nhớ ECC (kiểm tra lỗi) làm cho hệ thống hoạt động tin cậy hơn. Thêm vào đó là giải pháp Performance Acceleration Technology (PAT) của Intel, gọi đơn giản là chế độ Turbo. Ở chế độ này tốc độ của hệ thống sẽ được cải thiện khi dùng FSB 800 và bộ nhớ dual channel DDR 400.
SiS 655TX được trang bị FSB800, siêu luồng, bộ nhớ kênh đôi DDR400, đồ họa AGP 8X và công nghệ MuTIOL cho băng thông bắc-nam 1GB/giây. Hơn nữa nó có công nghệ Advanced HyperStreaming làm cho dòng dữ liệu di chuyển qua chipset thông minh và hiệu quả hơn, tăng tốc độ truyền dữ liệu đến khối điều khiển bộ nhớ, do đó làm tăng tốc độ hệ thống.
Cả hai chipset này đều hỗ trợ tốt CPU Prescott mới của Intel, có giá từ 100USD trở lên. Chipset Intel 875P có vẻ thích hợp với những việc cần sự ổn định cao như server, xử lý số liệu và dĩ nhiên nó cũng đáp ứng tốt việc xử lý hình ảnh, âm thanh; còn SiS 655TX thích hợp để lắp máy tốc độ cao nhưng có giá tương đối rẻ.
Chipset dùng CPU AMD
Nếu như Chipset Intel được nhiều người chuộng khi dùng CPU Intel thì ba hãng VIA, SiS và nForce dường như ngang sức ngang tài khi chạy với CPU AMD. Cả ba đều có những công nghệ riêng cạnh tranh nhau về tốc độ và giá thành. Riêng với CPU AMD bạn còn phải quan tâm đến dạng đế cắm. Chúng ta sẽ đề cập đến hai loại phổ biến nhất hiện nay: Athlon XP (socket A-462) và Athlon 64bit (754). Thường đối với nhu cầu phổ thông và trung cấp thì bạn chỉ cần quan tâm đến loại AMD đầu và loại sau dành cho nhu cầu cao cấp.
1. Cho nhu cầu phổ thông
Các chipset dành cho nhu cầu phổ thông dùng CPU AMD Athlon XP tại thị trường Việt Nam dường như chỉ có hãng VIA với các loại VIA KT400, KT400A, KM400. Các chipset này thuộc cùng dòng sản phẩm và chỉ khác nhau ở một số chi tiết, tất cả đều hỗ trợ BXL FSB 333, tuyến bus bắc-nam 533MB/giây (công nghệ V-Link), đồ họa AGP 8X. VIA KT400A dùng bộ điều khiển FastStream64 cho phép truy cập bộ nhớ nhanh hơn nhưng qua thử nghiệm thực tế cho thấy sự khác biệt rất ít. KM400 có thêm chip đồ họa tích hợp.
Chipset VIA KT400 hoặc KT400A đáp ứng tốt cho nhu cầu phổ thông và dùng với CPU AMD Athlon XP, nếu không muốn tốn chi phí cho card đồ họa rời thì VIA KM400 sẽ là chọn lựa thích hợp.
2. Cho nhu cầu trung cấp
Chipset cho nhu cầu trung cấp có nhiều chọn lựa hơn với sự tham gia của ba hãng VIA, SiS, nVidia.
VIA KT600 là bản nâng cấp của VIA KT400, chạy được với BXL FSB 400, bộ nhớ DDR 400, AGP 8X, băng thông bắc-nam V-Link 533MB/giây.
SiS 746FX có FSB 333 nhưng vẫn chạy được với FSB 400, bộ nhớ DDR400, AGP 8X và bus bắc-nam dùng công nghệ MuTIOL 1GB/giây. SiS 748 có tính năng tương tự 746FX nhưng mạnh hơn với FSB 400.
So với các chipset khác thì nVidia nForce2 Ultra 400 thực sự nổi bật khi có bộ nhớ kênh đôi DDR 400, ngoài ra chipset này còn hỗ trợ FSB 400MHz, AGP 8X, giao tiếp bắc-nam đạt 800MB/giây qua công nghệ HyperTransport. nForce2 IGP tương tự nForce2 Ultra 400 nhưng có thêm chip đồ họa tích hợp GeForce 4 MX cũng của NVidia.
Xét về hiệu năng và giá thì có lẽ chipset nVidia nForce2 Ultra 400 và nForce2 IGP tỏ ra có ưu thế nhất. Nếu chọn nForce2 IGP thì ngoài khe AGP8X bạn còn có chip đồ họa tích hợp GeForce 4 MX và dĩ nhiên giá sẽ đắt hơn nForce2 Ultra 400.
3. Cho nhu cầu cao cấp
VIA K8T800 chạy với chip cầu nam VIA VT8237 trên môi trường V-Link 533 MB/giây, dường như tốc độ này cũng khá đủ nên không ảnh hưởng nhiều đến các ứng dụng, vì dựa vào điểm số thử nghiệm thì BMC dùng chipset này có tốc độ cao hơn so với các BMC dùng chipset khác.
nForce3 150 có chipset cầu bắc và cầu nam tích hợp thành một. Nó có băng thông giao tiếp bộ xử lý (Hyper Transport) không đồng đều, băng thông truyền lên chỉ có 8 bit ở 600 MHz, trong khi truyền xuống là 16 bit ở 800 MHz, nhưng cũng không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ. nForce3 150 bù đắp cho sự thiếu thốn này với công nghệ StreamThru, có thể đồng thời điều chỉnh tốc độ băng thông của các thiết bị gắn vào như mạng, âm thanh.
SiS 755 giao tiếp với chipset cầu nam SiS 964 qua công nghệ MuTIOL băng thông 1GB/giây. Công nghệ HyperTransport được dùng để truyền dữ liệu giữa SiS 755 và CPU. Tuy băng thông được cải thiện bằng các công nghệ mới nhưng SiS 755 vẫn chưa đuổi kịp VIA K8T800 về tốc độ xử lý.
Trong ba chipset này thì VIA K8T800 có tốc độ xử lý cao hơn nForce3 và SiS 755, tuy nhiên tùy thuộc vào nhu cầu cụ thể (giá BMC, các giao tiếp được hỗ trợ) mà bạn quyết định nên chọn chipset nào.
Lời cuối
Nhìn chung công nghệ Chipset hiện nay khá phong phú và đáp ứng đầy đủ cho tất cả nhu cầu công việc.
Các chipset của Intel hoạt động tốt và ổn định, do hãng này cũng là nhà sản xuất CPU nên chúng phối hợp rất 'khớp' với nhau. Chipset của SiS và VIA luôn phải theo đuổi các công nghệ mà Intel đưa ra, tuy nhiên hai hãng này cũng có những công nghệ riêng nhằm tăng khả năng xử lý, hơn nữa giá thành thấp luôn là ưu thế cạnh tranh lớn.
nVidia, VIA, SiS cũng có các dòng chipset dành cho CPU AMD, trong khi chipset nVidia nForce2 của nVidia đang chiếm ưu thế về tốc độ khi dùng với AMD Athlon XP, thì chipset VIA K8T800 dùng AMD Athlon 64bit vẫn đang dẫn đầu trong cuộc đua.
Tóm lại, nếu bạn thích dùng chipset của Intel cùng CPU Intel thì chipset 845PE, 845GE, 848P, 865PE, 865G và 875P là những chọn lựa tốt cho bạn, nhưng cũng có những chọn lựa hay với SiS và VIA giá hấp dẫn nhưng tốc độ chẳng thua kém như SiS 648, 648FX, 655FX, 655TX; VIA P4X333, P4X400, PT880. Nếu dùng CPU AMD Athlon XP thì có lẽ chipset nVidia nForce2 Ultra 400, nForce2 IGP là chọn lựa tốt, với AMD Athlon 64 bit thì có VIA K8T800.