3D Vietnam

Subscribe to RSS feed

Phóng đại ảnh

Liệu có thể tạo được những tấm ảnh sao cho mắt bình thường cũng có thể nhìn chính xác được mà không cần tới kính lúp không? Được lắm chứ! muốn vậy chỉ cần dùng một máy ảnh vật kính có tiêu cự lớn là được. Căn cứ vào những điều đã trình bày ở trên, chỉ cần dùng một máy ảnh có vật kính tiêu cự bằng 25 - 30 cm là ảnh chụp ra có thể nhìn rõ (bằng một mắt) trên khoảng cách thông thường. - lúc ấy ảnh sẽ nổi lên một cách thích đáng.

Còn có thể chụp được cả những tấm ảnh mà ngay khi xem bằng hai mắt trên một khoảng cách lớn vẫn không thấy là ảnh phẳng. Trên kia chúng tôi đã nói rằng khi hai mắt thu được từ một vật thể nào đó hai hình tượng giống nhau thì ý thức sẽ hợp nhất chúng lại thành một bức tranh phẳng. Nhưng khuynh hướng này yếu đi rất nhanh khi ta tăng khoảng cách. Thực nghiệm chứng tỏ rằng những tấm ảnh chụp được bằng cỡ vật kính tiêu cự là 70cm thì có thể nhìn trực tiếp bằng hai mắt mà vẫn thấy sự phổi cảnh.

Nhưng nếu máy ảnh nào cũng có tiêu cự dài thì quả rất bất tiện. Do đó chúng tôi nêu ra một phương pháp khác: đó là phóng đại tấm ảnh đã chụp được bằng máy ảnh thông thường. Sau khi phóng đại, khoảng cách chính xác cần thiết để nhìn ảnh cũng phải kéo dài một cách tương ứng. Thí dụ, nếu tấm ảnh đã chụp được bằng vật kính có tiêu cự 15 cm thì phóng to lên 4 hoặc 5 lần là đủ được kết quả như ý muốn: có thể nhìn ảnh phóng đại bằng hai mắt với khoảng cách 60-70cm. Trên ảnh phóng đại có thể có đôi chỗ lờ mờ không rõ, nhưng không trở ngại gì cho ấn tượng thu nhận được cả, bởi vì, nhìn trên một khoảng cách xa thì những chỗ ấy không rõ rệt lắm. Còn đứng về phương diện nổi hình lên và có tính phối cảnh thì có thể dám chắc rằng những tấm ảnh này rất đạt

Nếu thấy thích bạn vui lòng click vào ==> Thích

Người Nhật “đào vàng” trong rác điện tử

Đối với không ít người nó chỉ là rác thải nhưng người Nhật lại coi nó là mỏ vàng. Nó ở đây là những chiếc điện thoại di động, ti-vi, máy tính, máy nghe nhạc số..., nói chung là các thiết bị điện tử hư cũ mà chúng ta đã hoặc đang định vứt bỏ.

Nếu bạn cũng có ý quăng cái di động không thể sử dụng được nữa của mình vào sọt rác, hãy suy nghĩ lại. Có lẽ trước tiên bạn nên “đào” lấy vàng, bạc, đồng và nhiều kim loại khác trong ruột “dế” bởi nhiều loại đang có giá cao ngất ngưởng. Kiểu tái chế này được gọi là “đào mỏ đô thị” (urban mining), nói một cách dễ hiểu là việc rã các thiết bị điện tử cũ để thu hồi kim loại quí hiếm như iridium, vàng... Đây là ngành công nghiệp đang “hốt bạc” ở Nhật, nhất là trong bối cảnh giá nhiều loại kim loại liên tục phá kỷ lục. Điển hình là vàng đang giao dịch với giá trên 890 USD/ounce (28,35 gam) sau khi leo lên đỉnh 1.030 USD hồi tháng 3 vừa qua. Còn đồng, nhôm và bạc hiện cũng có giá cao kỷ lục.

Theo tính toán của Công ty Yokohama Metal ở Nhật, một tấn quặng vàng trung bình chỉ cho khoảng 5 gam vàng trong khi một tấn ĐTDĐ bỏ đi có thể thu được ít nhất 150 gam vàng. Đó là chưa kể trong núi rác này còn chứa khoảng 100 kg đồng và 3 kg bạc cùng nhiều kim loại khác nữa. Những vật liệu này sẽ được tái sử dụng trong các linh kiện điện tử mới trong khi vàng và các kim loại quí thì được nấu và bán lại cho các nhà chế tác nữ trang, giới đầu tư hay nhà sản xuất ĐTDĐ, vốn chuộng dùng vàng trong mạch điện tử bởi nó dẫn điện tốt hơn cả đồng.

Ngành “Urban mining” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Nhật – nước sản xuất hàng điện tử hàng đầu thế giới không được thiên nhiên ưu đãi tài nguyên nhưng lại có hàng chục triệu cái a-lô và vô số hàng điện tử cũ được vứt bỏ mỗi năm. Đi đầu trong lĩnh vực này là Eco-Sytem tọa lạc gần Thủ đô Tokyo. Mỗi tháng công ty xuất xưởng trung bình 200–300 kg vàng thỏi nguyên chất 99,99%, thu về 5,9-8,8 triệu USD. Con số này tương đương sản lượng của một mỏ vàng cỡ nhỏ. Ngoài ĐTDĐ và thiết bị điện tử, Eco-System còn “khai thác” kim loại từ chip nhớ, dây cáp và hộp mực in có chứa thành phần bạc và palladium, một dạng kim loại quí như bạch kim thường có trong quặng vàng, đồng và nikel.

Hiện tại, mặc dù người dân ngày càng quan tâm tới môi trường và vấn đề tái chế rác thải nhưng ngành “urban mining” vẫn không thu gom đủ ĐTDĐ cũ để cung cấp cho các nhà máy tái chế. Theo một quan chức Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật, 128 triệu dân nước này bình quân thay “dế” mới sau khoảng 32 tháng sử dụng. Hằng năm có rất nhiều điện thoại bị bỏ đi nhưng chỉ 10-12% được tái chế bởi người dùng có xu hướng cất giữ làm kỷ niệm, một phần vì lo ngại mất dữ liệu cá nhân trong điện thoại. Theo thống kê, tài khóa 2006 chỉ có 558 tấn ĐTDĐ cũ ở Nhật được thu gom để tái chế, giảm 1/3 so với 3 năm trước. Do không đủ nguyên liệu, nhiều công ty tái chế Nhật đang phải nhập của Singapore và Indonesia bo mạch second-hand, vốn cũng có chứa các kim loại hiếm như indium – thành phần quan trọng trong quá trình sản xuất ti-vi màn hình phẳng và màn hình máy tính, antimony và bismuth, vật liệu không thể thiếu trong nhiều sản phẩm công nghệ cao.

Nếu thấy thích nhấp chuột vào đây ==>
Thank

Mua bán các sản phẩm Apple :"iPhone,iPad,iPod,iMac,Macbook" với giá cực sốc

Chào mừng bạn đến với Thái Dương Store,nơi chuyên cung cấp các sản phẩm Apple như:Macbook,iMac,iPhone,iPad,iPod Touch và tất cả mọi thứ về Apple: unlock,nâng cấp Firmware,fix lỗi phần mềm,sửa chửa phần cứng,cài đặt game 3D,ứng dụng,nhạc,hình phim...V.V.... Luôn có sẳn hàng đến là xem trực tiếp không cần chờ..thân

.


Khi ACE đên mua sẽ có đội ngũ kỹ thuật chuyên nghiệp hướng dẫn cách xử dụng máy và itunes đễ khi về ACE hoàn toàn có thễ tự dùng được.


Bán iPhone,iPad,iPod Touch,Macbook,Phụ kiện iPhone,iPad,iPod Touch với tiêu chí bán lẻ với giá sỉ

.


Luôn có nhìu Macbook,iPhone 3G-3Gs-iPhone4,iPod Touch,iPad mới,cũ cho bạn lựa chọn

.Chi tiết liên hệ click vào đây ==> http://www.jookata.com/cua-hang/mua-ban-cac-san-pham-apple-iphoneipadipodimacmacbook-voi-gia-cuc-soc--click-here-de-co-gia-tot-nhat-vn!!-21942.html

Nghệ thuật xem ảnh

Về cấu tạo thì máy ảnh là một con mắt lớn:kích thước của ảnh in trên kính mờ phụ thuộc vào khoảng cách giữa vật kính và đồ vật cần chụp.Máy ảnh thu được hình phối cảnh của đồ vật lên tấm phim giống như hình ảnh mà một con mắt của chúng ta(bạn hãy chú ý là một con mắt!) đặt ở nơi vật kính nhìn thấy. Do đó, một khi ta muốn nhìn tấm ảnh mà có được một ấn tượng về thị giác hoàn toàn giống nguyên vật thì chúng ta phải:
1) Nhìn ảnh bằng một con mắt và 2)Đặt ảnh cách mắt một khoảng cách thích hợp.
Chúng ta có thể hiểu dễ dàng rằng nếu chúng ta xem ảnh bằng hai con mắt thì không sao tránh khỏi nhìn thấy trước mắt mình một bức tranh phẳng, chứ không phải là một hình có chiều sâu. Bởi vì đây là một hiện tượng xảy ra căn cứ vào đặc điểm của thị giác chúng ta. Khi chúng ta nhìn một hình khối thì hai ảnh nhận được trên võng mạc của hai mắt không giống nhau. ảnh mắt phải nhìn thấy không hoàn toàn giống ảnh mắt trái nhìn thấy (hình minh họa) Chính do những ảnh không giống nhau này mà chúng ta có cảm giác rằng vật thể có hình khối chứ không phải phẳng: ý thức của chúng ta hợp nhất hai ấn tượng không giống nhau ấy lại thành một hình tượng nổi (như ta đã biết , kính xem ảnh nổi cũng được chế tạo theo nguyên tắc ấy). Còn nếu như trước mắt chúng ta là một vật phẳng, như một mặt tường chẳng hạn, thì tình hình lại hoàn toàn khác; lúc ấy cả hai mắt cùng thu được những ấn tượng hoàn toan giống nhau: tính chất giống nhau ấy là dấu hiệu làm cho ý thức biết được vật ấy là vật phẳng.
Bây giờ chắc các bạn hiểu, khi xem ảnh bằng hai mắt thì ta sẽ phạm sai lầm gì; làm như vậy chúng ta buộc ý thức của mình phải nhận rằng trước mắt mình là một bức tranh phẳng! Khi chúng ta đưa ra cho hai con mắt nhìn một tấm ảnh mà đáng lý ra chỉ nhìn bằng một mắt, chúng ta đã tự ngăn trở mình không thấy những cái phải nhỉn thấy trên tấm ảnh; thế là toàn bộ cái ảo giác do máy ảnh tạo ra một cách hoàn thiện như thế đã bị những hành động vô ý thức ấy làm sai lệch đi.


Phải để tấm ảnh cách mắt một khoảng bao nhiêu?
Cái quy tắc thứ hai - phải đặt ảnh cách mắt một khoảng thích hợp , nếu không sẽ làm hỏng mất sự phối cảnh chính xác - cũng không kém phần quan trọng.
Thế những khoảng cách này phải là bao nhiêu?
Muốn có được một ấn tượng hoàn toàn thì phải nhìn ảnh dưới một góc trong bằng góc trông mà vật kính của máy ảnh "nhìn" hình trên kính mờ của buồng tối; hoặc có thể nói, bằng góc trông mà vật kính "nhìn" vật được chụp (hình minh họa gắn vô). Từ đó ta suy ra rằng hình của vật nhỏ hơn kích thước tự nhiên bao nhiêu lần thì phải đặt tấm ảnh cách mặt một khoảng nhỏ hơn khoảng cách từ vật đến vật kính bấy nhiêu lần. Nói khác đi, cần phải đặt ảnh cách mắt một khoảng xấp xỉ bằng tiêu cự của vật kính.

Nếu ta chú ý rằngđa số các máy ảnh thường dùng có vật kính tiêu cự là 12-15 cm (xưa rồi bây giờ hết sài), thì chúng ta sẽ thấy rằng từ trước tới nay chúng ta chưa hề xem ảnh với một khoảng đặt cách mắt chính xác bao giờ, vì khoảng thấy rõ đối với một con mắt bình thường (25cm) gần gấp hai lần khoảng cách đã nói ở trên. Cà những tấm ảnh treo tường cũng cho ta cảm giác phẳng vì ta đã nhìn chúng với một khoảng cách còn lớn hơn nữa.

Chỉ có người cận thị có khoảng cách tương đối ngắn (cũng như trẻ em là người có thể nhìn rõ được ở những khoảng cách ngắn) khi xem nhìn một tấm ảnh thông thường bằng phương pháp chính xác ( bằng một con mắt) thì mới thấy công hiệu. Khi đặt cách mắt chừng 12 - 15 cm sẽ thấy trước mắt mình không phải là bức tranh bằng phẳng, mà là một hình nổi giống như nhìn thấy trong kính xem ảnh nổi vậy.

Bây giờ tôi tin chắc rằng bạn đọc đều đồng ý rằng trước kia, do không biết, nên chúng ta đã không thể nhận được từ tấm ảnh toàn bộ hệ quả mà nó có thể cung cấp cho ta, và thường hay than phiền một cách vô ích rằng ảnh không có sức sống. Toàn bộ vấn đề là do chúng ta không biết đặt mắt cách ảnh một khoảng thích hợp và chúng ta lại dùng hai mắt để nhìn một hình chỉ dành cho một mắt.

Nếu thấy thích bạn vui lòng click vào ==> Thích

Chuyện thật ở Trung Quốc

Hãy đọc tới đoạn chót vì đây là một Câu Chuyện Thật đã xảy ra ở Trung Quốc vào năm 2008, và đã được đưa lên BBC & CNN…

Read more...

Cỏ ngọt hóa... đắng

Ông Phạm Đồng Quảng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT) cho biết, cỏ ngọt là loại cây trồng có sẵn ở nước ta từ lâu, tuy nhiên trước đây Việt Nam dường như chưa để ý nhiều đến loại cây trồng này do chưa có điều kiện nghiên cứu về công dụng, hiệu quả kinh tế... Cách đây 10-15 năm, cỏ ngọt cũng từng đã được một số trung tâm nghiên cứu đưa vào trồng thử nghiệm, song do thị trường tiêu thụ, công nghệ chế biến chưa có nên bẵng đi một thời gian dài, loại cây trồng có giá trị kinh tế rất cao này bị bỏ quên.

Gần đây, được sự đồng ý của Cục Trồng trọt, Cty Cổ phần Stevia Ventures (địa chỉ chính tại quận Hoàng Mai - TP Hà Nội) đã hợp tác với thị trường Mỹ, Singapore, Malaysia, Trung Quốc... NK cây cỏ ngọt giống mới về Việt Nam để mở rộng vùng nguyên liệu. Từ năm 2009 đến nay, Cty Stevia Ventures đã tiến hành NK giống và hợp tác với nông dân trồng thử nghiệm tại một số tỉnh như Bắc Giang, Thái Bình, Sơn Tây, Hòa Bình, Hưng Yên... Theo dự kiến, khi vùng nguyên liệu còn ít, cỏ ngọt sẽ được Cty Stevia Ventures ký hợp đồng thu mua và sấy khô để bán nguyên liệu sang các đối tác nước ngoài.

Cũng theo Cty này, khi vùng nguyên liệu ổn định và chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu, đối tác nước ngoài sẽ đầu tư liên doanh với Cty Stevia Ventures xây dựng NM chiết xuất đường Steviol từ cỏ ngọt ngayViệc mở rộng phát triển vùng nguyên liệu cỏ ngọt do Cty Stevia Ventures đầu tư đã được nhiều địa phương hưởng ứng. Đặc biệt tại Bắc Giang, tháng 6/2010, UBND tỉnh này đã phê duyệt dự án "Ứng dụng tiến bộ KHKT phát triển vùng nguyên liệu cỏ ngọt phục vụ nhu cầu trong nước và XK". Đây cũng là đề tài khoa học do Sở KHCN tỉnh Bắc Giang chủ trì thực hiện với nguồn kinh phíngân sách sự nghiệp khoa học tỉnh hỗ trợ gần 1 tỉ đồng. tại Việt Nam.

Từ đầu năm 2010 đến nay, tỉnh Bắc Giang đã xây dựng mô hình SX cỏ ngọt làm giống và thương phẩm với quy mô 15 ha tại các huyện Hiệp Hòa, Lạng Giang, Tân Yên, Yên Dũng và Việt Yên... Kết quả bước đầu tại các mô hình thử nghiệm, cỏ ngọt đã cho thu hoạch được 2- 4 lứa với sản lượng khá cao (trung bình trên 1,5 tạ/sào/lứa). Tuy nhiên gần đây, đáng buồn là đã có khá nhiều diện tích cỏ ngọt trồng thử nghiệm ở Bắc Giang đã bị chết, gây thiệt hại lớn cũng như làm mất niềm tin của nông dân.

Tại xã Lương Phong (huyện Hiệp Hòa), đầu năm 2010, Cty Stevia Ventures đã ký HĐ với 26 hộ dân thôn Sơn Quả trồng cỏ ngọt trên diện tích hơn 2,6 mẫu. Tuy nhiên đến thời điểm này, phần lớn diện tích cỏ ngọt đều đã bị chết nên nông dân đã chuyển sang trồng ngô, lạc... Hiện chỉ còn 2-3 hộ dân giữ ruộng cỏ còn sống sót nhưng cỏ hồi phục phát triển kém. Các diện tích cỏ ngọt còn được trồng tại xã Thường Thắng (huyện Hiệp Hòa) cũng như tại các địa phương khác ở tỉnh Bắc Giang, tình trạng cỏ ngọt bị chết cũng diễn ra khá nghiêm trọng.

Ông Đoàn Văn Kha (xóm Thượng, thôn Sơn Quả), một trong những hộ tham gia ký HĐ trồng cỏ ngọt với diện tích 8 thước cho biết: Theo HĐ với Cty Stevia Ventures, nông dân được Cty hỗ trợ 100% giống cỏ, 70% chi phí phân bón trong quá trình chăm sóc. Khi cỏ cho thu hoạch, Cty sẽ bao mua với giá cam kết 15 nghìn đồng/kg cỏ tươi. Theo ông Kha, cỏ ngọt có ưu điểm dễ trồng, dễ chăm bón, không kén đất. Thời gian từ khi trồng cây con tới lúc cho thu hoạch khoảng 45 ngày. Sau khi thu hoạch, không phải trồng mới mà để nguyên gốc để cỏ chồi lứa mới. Bình quân mỗi lứa thu hoạch cách nhau khoảng 25 ngày.

Theo nông dân thôn Sơn Quả, năng suất cỏ ngọt trồng thử tại đây dao động từ 1,3 đến 1,5 tạ/sào/lứa. Ông Đoàn Văn Kha cho biết, 8 thước trồng cỏ ngọt của ông từ đầu năm 2010 đến nay đã thu được 3 lần, tổng cộng được hơn 1 tạ cỏ tươi. Cỏ bán lại cho Cty Stevia Ventures với giá 15 nghìn đồng/kg, tương đương gần 2 triệu đồng. Đây là thu nhập rất cao so vơi trồng lúa nên bà con tham gia trồng thử nghiệm rất ủng hộ. Tuy nhiên ông Kha cho biết, gần đây, không chỉ ruộng cỏ ngọt của ông mà của các hộ khác trong thôn cũng đồng loạt chết sạch nên đành phải phá bỏ chuyển sang trồng lạc.

Mặc dù là một dự án khảo nghiệm khoa học giống cây trồng, đáng ra phải được giao cho ngành nông nghiệp chủ trì thực hiện, nhưng theo tìm hiểu của chúng tôi tại Bắc Giang, cơ quan chủ trì thực hiện các mô hình trồng cỏ ngọt lại do Sở KH-CN đảm nhiệm. Tại huyện Hiệp Hòa, Phòng Hạ tầng – Kinh tế của UBND huyện được giao làm cơ quan thường trực. Việc cỏ ngọt mắc bệnh chết, ngành BVTV của tỉnh này cũng không thấy vào cuộc. Bà Nguyễn Thị Nghĩa, một hộ dân trồng cỏ ngọt khác tại thôn Sơn Quả kể lại: sau khi cắt được 3 lứa (khoảng giữa tháng 8/2010) thì cây cỏ bắt đầu đen sì, lá xoăn tít, nứt răng cưa... Thân và lá đều rất giòn, đụng nhẹ vào là gẫy. Sau một thời gian, các ruộng cỏ ngọt tàn lụi dần. Mặc dù nông dân nghe theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật của Cty Stevia Ventures mua nhiều loại thuốc kích thích tăng trưởng, trừ nấm... về phun nhưng đều không có tác dụng. Theo thống kê của UBND xã Lương Phong, diện tích cỏ ngọt bị chết, không cho thu hoạch lên tới hơn 1 mẫu. Diện tích còn lại hơn 1,5 mẫu cho thu hoạch được 2-3 lứa, nhưng hiện tại cũng đã bị chết gần hết.

Trước tình hình cỏ ngọt bị chết hàng loạt, Cty Stevia Ventures cùng UBND huyện Hiệp Hòa đã tiến hành kiểm tra. Theo nhân viên kỹ thuật của Cty Stevia Ventures, nhận định ban đầu cỏ ngọt bị chết chủ yếu là do 2 bệnh: bệnh Acute anthrax do nấm Antharax gây ra và bệnh đốm thân do nấm Phytophthore Capsici gây ra. Ngoài ra, các nhân viên kỹ thuật cũng nhận định: cỏ ngọt là loài không ưa nước, tuy nhiên sau đợt mưa lớn vì ảnh hưởng của cơn bão số 3 (giữa tháng 8/2010) đã khiến đất trồng cỏ bị úng nghiêm trọng khiến cỏ bị chết.

Tuy nhiên, đây mới là nhận định ban đầu của cán bộ Cty Stevia Ventures. Nông dân trồng cỏ ngọt đang rất cần các nhà khoa học cũng như cơ quan Bảo vệ thực vật vào cuộc làm rõ

Bán nhà mặt tiền đưởng 3/2 3.5X10m,1 trệt . 2 lầu - Giá khoảng 129 SJC 6.2 tỉ

,

- Cần bán nhà mặt tiền đường 3/2 , Q11, Gần đường Nguyển Thị Nhỏ ,

Diện tích 3.5 X 10 m, gồm 1 trệt , 1 lửng, 2 lầu . 3WC,

diện tích sử dụng 132 m2, nhà đẹp, thoáng , sạch sẽ ,

đang cho thuê tầng trệt 8 triệu /tháng , điện nước đầy đủ,internet , gần ngân hàng , trường học.vvvvv.

Gía 6.2 tỉ




click vào link này => http://www.nhadatnhanh.vn/detail/13633/ban--nha-mat-tien-duong-32--35x10m1-tret--2-lau--gia-khoang-129-sjc-62-ti.html#viewdetail

CÔNG TY TNHH TM - DV - XNK QUANG HUY STAR

- Cần tuyển : nhân viên kinh doanh (nam/nữ)

- Yêu cầu : tốt nghiệp trung cấp trở lên , có kinh nghiệm sẽ được ưu tiên

- Thời gian : hành chánh

- Mức lương : thỏa thuận + hoa hồng

- Ai có nhu cầu xin việc xin vui lòng liên hệ click vào đây ==> http://www.jookata.com/viec-tim-nguoi/can-tuyen-nhan-vien-kinh-doanh--q7-21229.html



===============

Hàng ngàn tin tuyển dụng việc làm được cập nhật từng giờ tại trang web tuyendunggap.com bạn có thể chọn danh mục ngành nghề để tìm công việc mình cần



===============

Đăng một tin trên trang web www.jookata.com bạn được đăng lên nhiều trang web khác miễn phí

Gà hấp muối

Đảm bảo với món này, thịt gà của bạn sẽ ngon hơn hẳn gà luộc. Da căng, thịt mềm, màu vàng bóng bảy, vị lại thơm và đậm đà.

Đầu bếp Chen giới thiệu món mới gà hấp muối đặc trưng của tiệm vịt quay Bắc Kinh Hồng Vân với giá chỉ có 150.000 đồng/con

Liên hệ : 1275D đường 3 tháng 2 P.16 Q.11 TP. HCM
ĐT: 0169 5355 124

Phép toàn ảnh

ME
Đọc nhanh rss://tisa/4/2790
HomePublicRss
News|Note|Book

Vũ trụ toàn ảnh: một kỷ nguyên khoa học mới?
Gửi Me

03:48-4/16/2009

Nhóm các nhà vật lý Đức và Anh GEO600 khi đang truy tìm sóng hấp dẫn đã ghi đo được một tiếng ồn lạ lùng mà họ không giải thích được. Nhà vật lý Mỹ CRAIG HOGAN đã tiên đoán sự tồn tại của tiếng ồn đó và đồng nhất tiếng ồn đó với tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise) của vũ trụ. Trong vũ trụ toàn ảnh mọi thực thể trong không gian và thời gian đều liên thông với nhau (interconnectedness) và cách tiếp cận toàn ảnh giúp thống nhất hấp dẫn và lượng tử ( bài toán số một của vật lý ) và rộng hơn cung cấp một tầm nhìn nhất quán đối với mọi hiện tượng thuộc vật lý, sinh học, bệnh học, tâm lý học, ngoại tâm lý học (parapsychology)...Vũ trụ toàn ảnh nếu đúng sẽ mở ra một kỷ nguyên khoa học mới có chiều sâu hơn hiện nay (ScienceDaily Feb.4, 2009).

To see a World in a Grain of Sand

And a Heaven in a Wild Flower,

Hold Infinity in the palm of your hand

And Eternity in an hour.

Dịch nghĩa:

Để thấy Vũ trụ trong một Hạt cát

Và Bầu trời trong một Đóa hoa Rừng,

Hãy giữ Vô cùng trong lòng tay bạn

Và Thiên thu trong một khắc đồng hồ.

William Blake (thi sĩ Anh 1757-1827)

Toàn ảnh ( holography) là gì?

Như chúng ta biết trong quang học có phương pháp ghi một vật thể 3 chiều bằng một ảnh 2 chiều (hologram). Kỹ thuật này gọi là holography (phương pháp toàn ảnh). Chữ holography có gốc từ tiếng Hy Lạp (whole, toàn thể) + graphe (writing, ghi ảnh). Đây là một phương pháp chụp ảnh hiện đại. Holography được phát minh năm 1948 bởi nhà vật lý người Hung Dennis Gabor (1900-1079), nhờ thành tích này ông được nhận giải Nobel năm 1971.

Hình 1 . Holography trong quang học

Hologram là một ảnh 2D (2 chiều), song khi được nhìn dưới những điều kiện chiếu sáng nhất định thì tạo nên một hình ảnh 3D (3 chiều) trọn vẹn. Mọi thông tin mô tả vật thể 3D đều được mã hoá trên mặt biên 2D. Như vậy chúng ta có hai thực tại 2D và 3D tương đương với nhau về mặt thông tin (xem hình 1).

Một tính chất quan trọng khác của hologram là nếu chỉ lấy một phần của nó người ta cũng có thể khôi phục được hình ảnh 3D của vật. Tính chất này được diễn tả trong mấy vần thơ đề tựa của William Brake ở đầu bài viết ( trùng hợp vì triết lý toàn ảnh), mặc dầu chúng được viết từ nhiều thế kỷ trước.

Hai kiến trúc sư lớn của toàn ảnh

Hai nhà khoa học, kiến trúc sư của lý thuyết toàn ảnh là: nhà vật lý David Bohm (Đại học London) và nhà thần kinh học xuất sắc Karl Pribram (Đại học Stanford , tác giả cuốn sách nổi tiếng Các ngôn ngữ của não bộ – Languages of the Brain). Một điều kỳ lạ là hai nhà khoa học này vốn làm việc trong hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau lại cùng đi đến những kết luận giống nhau. Bohm đi đến kết luận về tính toàn ảnh của vũ trụ sau nhiều năm không hài lòng với những giải thích các hiện tượng vi mô theo thuyết lượng tử, còn Pribram - vì sự thất bại của các lý thuyết cổ điển sinh học đối với những bí ẩn trong sinh lý học thần kinh ( neurophysiology).

Cuối cùng họ gặp nhau và cùng hiểu rằng mô hình toàn ảnh cho phép hiểu được một loạt những điều bí ẩn trong vật lý, trong thần giao cách cảm (telepathy), tiên tri (precognition-biết trước sự vật), sự thống nhất con người và vũ trụ (oneness), động học tâm lý (psychokinesis),...

Vũ trụ là một toàn ảnh (hologram)

Khi làm việc tại Phòng thí nghiệm Bức xạ Berkeley về plasma, Bohm đã nhận xét rằng trong trạng thái plasma các electron không hành xử như những thực thể riêng lẻ mà như thành phần của một hệ thống nhất liên thông (interconnected). Điều đáng ngạc nhiên là plasma có thể hút các tạp chất ở biên giống như một trực trùng amip (amoeboid) nuốt chất lạ vào bào nang. Bohm có ấn tượng là biến các electron là một sinh thể. Những ý tưởng đó giúp Bohm tìm ra plasmon, tạo nên tiếng tăm cho nhà vật lý.

Hình2 . Hai cá vàng trên hai màn hình từ hai camera chỉ là hai hình ảnh của một thực thể ở mức sâu hơn.

Bohm đưa ra một ví dụ: hãy lấy một con cá vàng đang bơi trong bể cá cảnh (hình 2) và tưởng tượng rằng bạn chưa bao giờ thấy một cảnh tượng như vậy, mọi nhận thức của bạn chỉ có được nhờ hai camera tivi A & B quét từ hai góc khác nhau. Khi nhìn vào hai màn hình tivi bạn lầm tưởng đang quan sát hai con cá vàng. Song theo dõi một lúc bạn thấy rằng có mối liên hệ đồng bộ giữa hai con cá này. Như vậy hai ảnh trên hai màn hình chỉ là hai biểu hiện của một thực thể ở mức sâu hơn, trong trường hợp này thực thể đó là bể cá cảnh với cá vàng bên trong. Tình huống này giống như hai photon phát ra từ sự phân rã của một positronium.Theo Bohm tồn tại một thế lượng tử chiếm đầy không gian và các hạt liên thông với nhau một cách không định xứ (nonlocal).

Nguyên lý toàn ảnh có thể dẫn đến một triết học sâu sắc. David Bohm (hình 3) quan niệm rằng thực tại mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày chỉ là một loại ảo tưởng giống như một bức tranh toàn ảnh (hologram). Dường như thực tại có hai mức: một mức ở sâu hơn gọi là mức tiềm ẩn (cuộn lại) /implicate (enfolded) và một mức gọi là mức tường minh (mở ra) /explicate (unfolded). Một film toàn ảnh (hologram) và hình ảnh nó tạo ra là ví dụ của hai mức tiềm ẩn và tường minh. Cuộn film thuộc mức tiềm ẩn vì hình ảnh được mã hóa trong các dạng giao thoa chứa trong film còn hình ảnh chiếu ra thuộc mức tường minh vì các giao thoa mã hóa được mở ra (unfolded).

Theo David Bohm sóng và hạt đều bị cuộn lại trong một thực thể lượng tử, chỉ có quá trình tương tác mới bộc lộ tường minh một khía cạnh nào đó còn khía cạnh kia vẫn nằm tiềm ẩn. Vì từ toàn ảnh (holographic) có tính tĩnh tại (static) nên để mô tả những quá trình động (dynamic) cuộn lại và mở ra liên tục của thực tại nên David Bohm đưa ra danh từ toàn ảnh động (holomovement)

Bohm quan niệm rằng mọi vật trong vũ trụ đều là những phần tử của một continium [1]. Bohm cho rằng phân biệt thế giới sống (living) và không sống (nonliving) là điều vô nghĩa.

Vì mỗi phần của một bức toàn ảnh (hologram) đều chứa thông tin của toàn ảnh cho nên mỗi bộ phận của vũ trụ đều chứa thông tin của toàn vũ trụ. Điều đó có nghĩa là nếu biết cách tiếp cận thì chúng ta có thể tìm thấy thiên hà Tiên nữ (Andromeda) trong móng ngón tay bàn tay trái [2]. Bài thơ của William Blake (thi sĩ Anh 1757-1827) đề dẫn trên đây diễn tả cùng một ý.

Não bộ là một toàn ảnh (hologram)

Pribram (hình 4) xuất phát từ việc tìm hiểu não bộ lưu trữ trí nhớ bằng cách nào và ở đâu . Trong những năm 1940 người ta tin rằng trí nhớ nằm trong não bộ. Mỗi dấu vết trí nhớ gọi là một engram, tuy chẳng ai biết engram được cấu tạo bằng gì .

Từ năm 1920 Wilder Penfield dường như chứng minh được rằng các engram nằm trong những vùng nhất định của não bộ [3]. Pribram, lúc còn là một nhà phẫu thuật thần kinh nội trú không có một nghi ngờ nào đối với lý thuyết engram của Penfield. Song nhiều điều xảy ra đã làm Pribram thay đổi quan điểm. Tại Phòng thí nghiệm sinh học Yerkes, Florida, nhà tâm lý thần kinh (neuropsychologist) Karl Lashley đã huấn luyện chuột một số kỹ năng rồi cắt bỏ những phần trong não bộ có thể liên quan đến kỹ năng đó (không một nhà phẫu thuật nào tìm được một vị trí xác định của các engram ). Song một điều ngạc nhiên là dù cắt bỏ bao nhiêu đi nữa kỹ năng được huấn luyện vẫn lưu tồn. Và Pribram đi đến kết luận quan trọng: trí nhớ không được lưu trữ tại một nơi nào cả trong não bộ mà bằng một cách nào đó lan truyền và phân bố trong toàn não bộ.

Vào giữa năm 1960 khi Pribram đọc một bài báo trên Scientific American về cấu tạo của một hologram thì ông hiểu rằng: não bộ là một toàn ảnh (hologram).

Trí nhớ được xem như là những xung lượng thần kinh đan chéo chằng chịt trong não bộ tương tự như những hình ảnh giao thoa tia laser trên một diện tích của hologram.

Không riêng gì đối với trí nhớ mà đối với các khả năng khác của con người như thị giác và thính giác người ta cũng quan sát được các tính chất toàn ảnh (nhà nghiên cứu Hugo Zucarelli phát triển kỹ thuật gọi là âm học toàn ảnh - holophonic sound, sử dụng tính toàn ảnh của thính giác).

Nếu như một phần của hologram có khả năng tái tạo toàn ảnh của một vật thì mỗi phần của não bộ cũng chứa tất cả thông tin để phục hồi toàn bộ trí nhớ.

Một nhà sinh học là Paul Pietsch (Đại học Indiana) muốn chứng minh rằng Pribram sai đã thực hiện hơn 700 thí nghiệm (cắt lớp, đảo chiều, thay đổi thứ tự, cắt bỏ, thái mỏng) trên bộ não của nhiều con kỳ giông (salamandridae) song lúc đặt lại trong bộ não những gì còn lại thì thấy các con vật vẫn hành xử như không có điều gì xảy ra đối với trí nhớ.

Bohm và Pribram gặp nhau

Hình 3 . David Bohm (1917-1992)

Hình 4. Karl Pribram

Các lý thuyết của Bohm và Pribram đã tạo nên một quan điểm sâu sắc về nhận thức luận đối với thế giới khách quan: toàn bộ vũ trụ là một toàn ảnh (the entire universe is a hologram), bộ não là một hologram cuộn vào trong vũ trụ toàn ảnh (the brain is a hologram enfolded in a holographic universe).

Các lý thuyết của Bohm và Pribram đã tạo nên một quan điểm sâu sắc về nhận thức luận đối với thế giới khách quan: toàn bộ vũ trụ là một toàn ảnh (the entire universe is a hologram), bộ não là một hologram cuộn vào trong vũ trụ toàn ảnh (the brain is a hologram enfolded in a holographic universe).

Năm 1982 Alain Aspect (Đại học Paris) đã thực hiện một thí nghiệm có thể nói là quan trọng nhất trong thế kỷ 20, liên quan đến nghịch lý EPR [4], chứng minh rằng trong những điều kiện nhất định các hạt như electron có thể tức thời liên lạc với nhau (vậy vận tốc truyền thông tin lớn hơn vận tốc ánh sáng) bất kể khoảng cách giữa chúng là 10 m hay 10 triệu dặm.

Theo David Bohm thì thí nghiệm của Aspect càng chứng minh vũ trụ quả là một hologram. Trong nghịch lý EPR , theo Bohm thì Einstein sai lầm vì cho rằng hệ đó là hai hạt riêng lẻ trong khi phải xét chúng như một hệ không phân chia được.

Và không phải các electron đã truyền thông tin cho nhau theo một cách bí ẩn nào đó mà là sự phân cách giữa chúng chỉ là một ảo tưởng. Tại một mức sâu các hạt đó không là những thực thể riêng lẻ mà chỉ là những biểu kiến của một thực thể cơ bản.

Rộng hơn mọi thành phần của vũ trụ ở một mức sâu đều liên thông với nhau (interconnectedness) và ngược lại vũ trụ hiện hữu trong mỗi bộ phận ("whole in every part"). Một ví dụ của mức sâu đó của thực tại chính là cái bể cá cảnh cùng con cá vàng trong ví dụ nói ở trên đây. Theo Bohm ta thấy được những thực thể riêng biệt chỉ vì ta chỉ nhìn được một khía cạnh của thực tại. Các thực thể riêng biệt đó chỉ là những bóng ma (eidolon) còn vũ trụ tự thân là một hình chiếu, nói cách khác là một hologram.

Các electron của nguyên tử carbon trong não bộ của con người liên thông với các nguyên tử của mỗi con cá hồi đang bơi, của mỗi quả tim đang đập và của những vì sao đang chiếu sáng trên bầu trời. Vì sự liên thông phổ quát này mà trong vũ trụ toàn ảnh , thậm chí không gian và thời gian không còn là cơ bản nữa!

Những khái niệm như tọa độ và thời điểm sẽ không còn ý nghĩa trong một vũ trụ mà không vật gì được tách rời với vật khác trong không gian và thời gian. Tại mức sâu hơn này, thực tại là một siêu hologram trong đó quá khứ, hiện tại và tương lai quyện vào nhau và tồn tại đồng thời. Tại mức sâu siêu hologram nếu tìm được phương pháp thích hợp chúng ta có thể làm tái hiện được những cảnh tượng từ quá khứ xa xôi.

Sự tổng hợp hệ thống ý tưởng của Bohm và Bribram dẫn đến là hệ mẫu toàn ảnh HP (Holographic Paradigm). Nhiều nhà khoa học công nhận rằng nhiều hiện tượng ngoại tâm lý học (para-psychological [5]) như thần giao cách cảm, luân hồi, tiên tri... có thể hiểu được nhờ HP.

Thời gian sẽ trả lời HP đúng hay sai song hiện tại HP ,vì hàm lượng triết lý lớn, đang làm say đắm nhiều nhà khoa học và là nguồn cảm hứng dồi dào cho điện ảnh (các phim ‘The Matrix’, ‘The 13th Floor’, Star Trek...) cho nghệ thuật, văn chương.

Cuộc chiến quanh lỗ đen & nguyên lý toàn ảnh

Vì sao mà nguyên lý toàn ảnh trở nên quan trọng cho vật lý lượng tử?[6]

Năm1993 Gerard ‘t Hooft (và có thể cùng thời Leonard Susskind, một trong những người phát triển lý thuyết dây) đề ra nguyên lý holographic: theo nguyên lý này tồn tại một vật lý nD trên mặt biên (không gian n chiều) mô tả được hoàn toàn vật lý (n+1)D của hệ nằm trong mặt biên (không gian n+1 chiều).Thông tin trong một thể tích không gian sẽ được lưu trữ bề mặt của thể tích đó, ở đấy một bit thông tin chiếm 1/4 yếu tố diện tích Planck (Bekenstein). Đối với lỗ đen thông tin này sẽ được mã hóa trên mặt chân trời của lỗ đen.

Theo nguyên lý holographic các quy luật vật lý trên mặt biên (xem là hologram) mô tả tương tác giữa các hạt như quark, gluon trong khi các quy luật vật lý của không gian nằm trong mặt biên được mô tả bởi lý thuyết siêu dây như thế có chứa cả hấp dẫn!

Hình 5 . Lý thuyết trường conform (CFT) trên mặt biên (hologram ) tương đương với lý thuyết dây có hấp dẫn trong không gian anti-de Sitter ( ánh xạ holographic : AdS / CFT )

Năm 1997, tác giả Maldacena (Đại học Harvard) đã thực hiện nguyên lý holography nhờ thiết lập mối quan hệ sau:

Một vũ trụ mô tả bởi lý thuyết siêu dây (như vậy có hấp dẫn) trong một không-thời gian anti-de Sitter 5 chiều tương đương với một lý thuyết trường lượng tử (không chứa hấp dẫn) trên mặt biên 4 chiều của không-thời gian đó (xem hình 5).

Bài toán lớn nhất hiện nay của vật lý lượng tử là thống nhất được hai lý thuyết lớn nhất của thời đại: lý thuyết lượng tử và lý thuyết tương đối rộng. Nguyên lý toàn ảnh nói trong bài này có hy vọng là một phương án để làm được điều đó!

Công trình của Maldacena gây một tiếng vang lớn trong giới vật lý lý thuyết, trong vòng 5 năm công trình của Maldacena được trích dẫn trên 5000 lần và được xem như một bước đột phá về quan niệm, tạo nên một cách nhìn mới đối với hấp dẫn và lý thuyết trường lượng tử.

Cuốn sách vừa xuất bản " Cuộc chiến quanh lỗ đen- La guerre du trou noir " của Leonard Susskind [6] mô tả lại cuộc tranh luận giữa Stephen Hawking và nhiều người khác thuộc phái phản đối. Stephen Hawking cho rằng lỗ đen là một thực thể vi phạm nguyên lý bảo toàn thông tin trong lý thuyết lượng tử (và trong vật lý nói chung), một thực thể xé nuốt thông tin (dévoreurs d’informations). Song đến năm 2004 thì Stephen Hawking tuyên bố thua cuộc John Preskin trong một cuộc đánh đố rằng thông tin bảo toàn hay biến mất sau khi lỗ đen bay hơi.

Như vậy bài toán nghịch lý về thông tin trong lỗ đen có thể xem như được sáng tỏ phần nào (thông tin là bảo toàn song thu hồi nó như thế nào?). Nguyên lý toàn ảnh khẳng định rằng mọi thông tin trong lỗ đen giờ đây được mã hoá trên diện tích chân trời và thông tin được bảo toàn trong quá trình bay hơi của lỗ đen. Thất bại này của Stephen Hawking càng làm cho giới khoa học chú ý nhiều đến HP.

Một kiểm chứng thực nghiệm: phát hiện tiếng ồn toàn ảnh (holographic noise) của dự án GEO600?

GEO600 là một dự án hợp tác giữa Viện Vật lý hấp dẫn Max Planck, Đại học Leibniz Hannover, Đại học Cardiff, Đại học Glashow và Đại học Birmingham. GEO600 là một detector dài 600 m, xây dựng tại Hannover (Đức) có mục tiêu tìm sóng hấp dẫn phát ra từ những thiên thể như sao neutron, lỗ đen. Hiện nay GEO600 [7] chưa tìm ra sóng hấp dẫn song rất có thể đã phát hiện một hiện tượng quan trọng nhất trong thế kỷ này. Trong nhiều tháng qua đội ngũ GEO600 đau đầu vì một nhiễu loạn, một tiếng ồn không giải thích được trong detector của họ.

Hình 6 . Craig Hogan

Nếu nhóm GEO600 đã tìm thấy những gì mà Craig Hogan phỏng đoán thì chúng ta đang ở trong một hologram vũ trụ khổng lồ.

Một điều đáng ngạc nhiên, Craig Hogan (hình 6), Giám đốc Trung tâm Vật lý thiên văn các hạt cơ bản, Phòng thí nghiệm Gia tốc quốc gia Fermi , GS Đại học Chicago, Illinois lại tiên đoán được rằng nhóm GEO600 sẽ gặp vấn đề về tiếng ồn lạ lùng này và đưa ra cách giải thích: nhóm GEO600 đã tiến đến giới hạn cơ bản của không thời gian, đã tiến đến điểm mà continium phẳng phiu của Einstein chấm dứt nhường chỗ cho cấu trúc dạng "hạt" gián đoạn, nhóm GEO600 đã chạm ngõ đến sự thăng giáng "run rẩy" lượng tử của không thời gian, một mức sâu của thực tại trong vũ trụ hologram [8]. Tại những khoảng cách vi mô với kích thước cỡ 10– 35 m ( độ dài Planck) không thời gian có cấu trúc gián đoạn như cấu tạo được bằng những pixel .

GS Bernard Schutz (Viện Thiên văn Hoàng gia Anh) nói: nếu tiếng ồn toàn ảnh được phát hiện thì đây là tín hiệu của một kỷ nguyên mới trong vật lý cơ bản (ScienceDaily,Feb.4,2009). GS Karsten Danzmann, Giám đốc Viện Albert Einstein Hannover dè dặt hơn phát biểu: vấn đề tiếng ồn toàn ảnh đã đặt nhóm nghiên cứu GEO600 vào tâm cơn lốc của một nghiên cứu cơ bản quan trọng của thế kỷ. Nhóm các nhà vật lý GEO600 đang tích cực thu thập dữ liệu để chứng minh liệu tiếng ồn họ thu được có phải là tiếng ồn toàn ảnh hay không?

Nếu nhóm GEO600 đã tìm thấy những gì mà Craig Hogan phỏng đoán thì chúng ta đang ở trong một hologram vũ trụ khổng lồ.

Kết luận

Vũ trụ của chúng ta có thể là một hologram khổng lồ (Our World May Be a Giant Hologram [9]). Nếu điều này đúng thì trước mắt chúng ta là một kỷ nguyên khoa học mới (ScienceDaily,Feb.4,2009) có tầm bao quát một cách thống nhất nhiều hiên tượng (từ vật lý đến các khả năng kỳ diệu của não bộ) mà khoa học hiện nay chưa có lời giải thích. Vũ trụ toàn ảnh sẽ có tác động lớn đến triết học và là nguồn cảm hứng của nhiều ngành nghệ thuật. Nhiều nhà khoa học xếp lý thuyết Vũ trụ toàn ảnh ở tuyến đầu tri thức (latest frontier of knowledge), lý thuyết Vũ trụ toàn ảnh có nội dung lớn hàm ẩn cả toán, lý, sinh, triết học...

-----------

Tài liệu tham khảo & chú thích

[1] David Bohm, Wholeness and the implicate Order, 1980.

[2] Michael Talbot, The holographic Universe,1996.

[3] Wilder Penfield, The mystery of Mind, 1975.

[4] EPR : nghịch lý EINSTEIN, PODOLSKY & ROSEN,

xem Cao Chi , Cơ học lượng tử : từ quan điểm Einstein đến quan điểm tương quan (RQM), KH&TQ số tháng 9 / 2008.

[5] Ngoại tâm lý học (parapsychology) nghiên cứu những khả năng giả đoán của tâm lý: ngoại cảm (telepathy), tuệ nhãn (perceptiveness), tiên tri và hồi tri (precognition

& retrocognition). động học tâm lý (psychokinesis).

[6] La Recherche, Paul Davies & Leonard Susskind, Fevrier 2009 No 427.

[7] http://www.geo600.de

[8] Craig Hogan, Physical Review D, vol 77, p 104031.

[9] Marcus Chown, Our world may be a giant hologram, New Scientist, 15 January, 2009.

Nguồn: Khoa học Công nghệ

Vịt Quay Bắc Kinh

Thèm miếng vịt quay Bắc Kinh
Một món ăn mà tiếng tăm của nó đã vượt qua biên giới Trung Quốc, được cả thế giới biết đến như một niềm tự hào trong ẩm thực Trung Hoa.
Vịt quay xuất hiện từ thời đại nhà Nguyên (1206-1368). Vào thời đại Minh Triều vịt quay là một trong những món ăn chính của các vua chúa. Năm 1416 nhà hàng đầu tiên có vịt quay được mở tại Bắc Kinh và từ đó trở đi món vịt quay Bắc Kinh được biết đến như một thương hiệu riêng của thành phố Bắc Kinh.
Bí quyết để có được món ăn đặc biệt này phải kể đến từ khâu chuẩn bị cho đến chế biến, đó là những công đoạn hết sức quan trọng để tạo cho món ăn này nét đặc trưng riêng không thể có ở những nơi khác.
Thật thiếu xót khi đến Bắc Kinh mà không thưởng thức món vịt quay trứ danh.
Vịt được chọn thường được lấy từ Nam Kinh, vào tháng 9 mùa thu khi lúa chín vàng là lúc thịt vịt ngon nhất: mập mạp nhưng không nhiều mỡ, da căng không bị trầy xước, thịt chắc và dai hơn, đặc biệt là vịt được nuôi thả vườn hay tại các kênh đào hay trên những thửa ruộng 45 ngày cho đến khi cân nặng vịt đạt 3-4kg trước khi đem đi chế biến.
Món vịt vừa cầu kỳ vừa tinh tế.
Sau khi chọn được vịt ngon nhất, vịt sẽ được ướp với mạch nha và những gia vị như giấm đỏ, đường, muối, ngũ vị hương. Công đoạn này được lặp lại nhiều lần sao cho gia vị có thể ngấm đều vào da.
Công đoạn nướng vịt cũng cần phải có sự khéo léo, loại củi để nướng vịt phải là cây long não hoặc cây ăn trái, mùi thơm của gỗ sẽ làm tăng hương vị cho thịt vịt. Khi nướng cần phải xoay vịt theo 4 phía ức, lưng và hai cánh vịt để vịt chín vàng đều.
Đặc biệt để thịt bên trong mềm người ta sẽ cho nước vào trong bụng vịt, nước sôi sẽ giúp hầm bên trong thịt. Một con vịt quay hấp dẫn sẽ có lớp da chín màu bánh mật giòn rụm vị béo mà không hề ngấy, đây chính là thành phần ngon nhất của con vịt, còn thịt bên trong lại mềm như luộc.
Tại hầu hết các nhà hàng phục vụ món da và thịt riêng, du khách có thể lấy da vịt đã được cắt từng miếng mỏng và đều cuốn với bánh tráng hoặc với vài thứ rau như dưa chuột và cà rốt… chấm với vị đậm đà của nước xốt được chế biến đặc biệt, còn thịt sẽ được chiên với cơm thơm ngon, phần xương sau sẽ được chế biến thành món canh hoặc nhiều món khác nhau. Những loại rau như hành tây, tỏi hay dưa chuột… được ăn kèm sẽ làm tăng thêm hương vị cho món ăn.
Món vịt hấp dẫn mọi thực khách.

Công đoạn nướng vịt cũng cần phải có sự khéo léo.
Cách thưởng thức vịt ngon nhất là chỉ ăn da, không dùng thịt và không được ăn trực tiếp. Có 3 cách phổ biến của người Bắc Kinh khi thưởng thức vịt quay như: dùng đũa gắp lát thịt ăn cùng với bánh tráng và thêm một vài lát dưa chuột hoặc cà rốt rồi cuộn lại chấm với nước tương.
Hoặc có thể dùng tỏi phi cùng với bánh tráng được cuốn lại, hay chỉ đơn giản dùng những miếng da vịt thơm giòn chấm với nước tương. Cho dù với cách nào. bạn cũng đều có thể thưởng thức được hết vị thơm ngon của vịt quay
Vịt quay Bắc Kinh được các nhà khoa học đánh giá là có lợi cho sức khỏe bởi vịt được nuôi bằng thức ăn thiên nhiên và cách chế biến rất khoa học, vịt được quay cách xa ngọn lửa nên không bị ám khói. Đặc biệt nguyên liệu mang lại màu đỏ tươi cho món vịt quay được chiết xuất từ gạo lên men giúp cải thiện sức khỏe của tim mạch, giảm nguy cơ đau tim và được coi như một thảo dược.

Tuyển 15 Nhân viên nạp tiền điện thoại cho khách hàng – làm việc từ 3->4h / ngày – QTân Bình

-CÔNG TY PHÁT TRIỂN VIỄN THÔNG KHU VỰC MIỀN NAM: chuyên liên doanh hợp tác với tập đoàn nước ngoài và chuyển khai phat triển mạng lưới viễn thông
-Do nhu cầu phát triển mở rộng thị trường phục vụ cho nh cầu của người tiêu dùng sử dụng các mạng điện thoại
MOBIFONE, VINAFONE, VIETTEL, VIETNAM MOBILE, BEE LINE, S FONE,
EVN.Chúng tôi cần tuyển gấp 1 số vị trí làm việc:

- 15 Nhân viên nạp tiền điện thoại cho khách hàng

Yêu cầu:

+ Tuổi từ 18 đến 35

+ Tối thiểu tốt nghiệp THCS

+ Có tinh thần trách nhiệm cao, ham học hỏi.

+ Thích kinh doanh.

+ Ưu tiên cho những người hòa đồng, vui vẻ.

+ Chấp nhận ứng viên chưa kinh nghiệm. Cty sẽ hướng dẩn các làm việc việc.

Chú ý :

+ Công việc có khả năng thăng tiến cao khi bạn có sự tự tin và biết phát huy các
năng lực của bản thân.

+ Môi trường làm việc năng động thích hợp cho SV làm thêm ngoài giờ.

Quyền lợi :

+ Được trả công xứng đáng với sự nổ lực làm việc tốt của các bạn . Lương +thưởng
-Thời gian làm việc theo ca :ca 1 :13h-|>16h30 . ca 2 : 16h30-> 20h30
-Từ thứ 2 đến thứ 7, CN và lễ tết được nghỉ.

-Hồ sơ xin việc gồm : 1 đơn xin việc, 2 sơ yếu lý lịch, 2 bản photo chứng minh, 2 tấm hình 3x4 ( tất cả không cần công chứng)

-Vui lòng liên hệ: để đặt cuộc hẹn phỏng vấn. mời click vào link này xem chi tiết ==> http://www.jookata.com/viec-tim-nguoi/tuyen-15-nhan-vien-kinh-doanh--truong-phong-18413.html

600 Nghề Ít Vốn dễ Làm

Panasonic đang phát triển máy chiếu 3D

Sau thành công với TV Plasma 3D, Panasonic đang muốn trình làng mẫu máy chiếu 3D Hometheater đầu tiên của mình cuối năm nay.


Các thông số kỹ thuật và hình ảnh về máy chiếu 3D đầu tiên của Panasonic vẫn chưa được tiết lộ.
Ảnh: HDGuru.

Panasonic, một trong những nhà sản xuất thiết bị 3D có chất lượng tốt nhất trên thị trường hiện nay vừa đưa ra thông tin, họ đang trong quá trình phát triển mẫu máy chiếu 3D Home-theater đầu tiên của mình. Tiết lộ tại hội nghị InfoComm 2011, đại diện của Panasonic cho biết, sản phẩm của hãng sẽ được giới thiệu chính thức vào cuối năm nay.

Theo HD Guru 3D, máy chiếu 3D đầu tiên của Panasonic sẽ sở hữu chất lượng hình ảnh 3D tốt hơn những sản phẩm đang có trên thị trường, có khả năng tương thích với các loại đầu Blu-ray Viera 2D và 3D của hãng. Ngoài ra sản phẩm này sẽ được tích hợp cả công nghệ Lens Memory Feature và hệ thống chiếu hình 2.35 extra wide như trên model PT-AE4000E nổi tiếng của hãng.

Trong khi đó, các thông tin chi tiết về cấu hình của sản phẩm cũng như hình ảnh về mẫu máy chiếu 3D đầu tiên hiện vẫn chưa được Panasonic tiết lộ.

Ngân Lê

LG Optimus 3D chính hãng khoảng 2 tháng nữa sẽ tới VN

Optimus 3D được LG lần đầu tiên giới thiệu tại hội nghị di động Mobile World Congress diễn ra tại Barcelona vào tháng 2 năm nay. Điện thoại mới của LG có khả năng quay và hiển thị video 3D mà không cần đeo kính.



LG Optimus 3D được trang bị phần cứng độc đáo với chip và bộ nhớ RAM lõi kép. Ảnh: Ubergizmo.


Trang Cnet đánh giá hiệu ứng 3D trên thiết bị này hiển thị rất tinh tế và độc đáo. Hình ảnh hiển thị như trôi nhẹ trên màn hình. Người sử dụng không phải nhìn những bóng màu xanh và đỏ như khi nhìn vào chuẩn 3D thông thường.

Thiết bị mới của LG được tích hợp vi xử lý lõi kép TI OMAP4430 tốc độ 1GHz với CPU Cortex A9 và card đồ họa PowerVR SGX540. Optimus 3D được trang bị màn hình 4,3 inch độ phân giải WVGA, có khả năng hiển thị nội dung 3D mà không phải sử dụng kính chuyên dụng để nhìn. Sản phẩm trên có thể quay video HD 1080p và 720p với tốc độ lần lượt là 24 khung hình/giây và 30 khung hình/giây với hai camera 5 megapixel ở mặt sau.

LG Optimus 3D có các tính năng khác như Bluetooth, WiFi, quản lý cá nhân, đồng bộ và lưu trữ qua kết nối USB, trình phát nhạc, bộ nhớ trong 8GB có thể mở rộng bằng thẻ microSD, dung lượng pin 1.500 mAh và hỗ trợ các giao thức DLNA/HDMI. Ngoài ra, chiếc điện thoại mới này còn có bộ nhớ RAM kép 512MB (2 x 256MB) và sử dụng hệ điều hành Android 2.2 Froyo. Optimus 3D sẽ được bày bán trước ở châu Âu và tiếp tục mở rộng sang hơn 60 thị trường khác trong suốt mùa hè năm nay.

LG cũng khẳng định LG Optimus 3D sẽ được bán tại một số thị trường châu Á trong thời gian không xa, cụ thể ở Việt Nam là sau một hoặc hai tháng nữa. Tuy nhiên, thời gian này, hàng xách tay đã có mặt với giá 21 triệu đồng.

Mệt quá tự nhiên không vào được opera

Mệt quá tự nhiên không vào được opera vì bị chặn nhưng có hơn 1001 các vô

Phim 3D Việt thu 3,5 tỷ đồng sau ba ngày chiếu

Bóng ma học đường' thu hút 47.000 lượt người tới rạp và vượt xa doanh thu công chiếu ba ngày đầu tiên của các bộ phim Tết nổi đình đám trước đây như 'Nụ hôn thần chết' (1,5 tỷ đồng) và 'Giải cứu thần chết' (2 tỷ đồng).
> 'Bóng ma học đường' sốt vé trong ngày công chiếu/ 'Bóng ma học đường' tạo mốc mới cho kỹ xảo phim Việt

Read more...

Hình Phật 3D

Room for rentel ,for office District 2

Room for rentel , for office : 700 -> 800 USD/month

- Three bedroom , one living room , two shower comfortable

- You dont worry anything before we have security for take care you sieu thi co- opmark , bookstore

- Contact : ==> http://www.nhadatnhanh.vn/detail/13718/room-for-rentel-for-office-district-2.html#viewdetail

- Address : District 2 and Vung Tau near beach about five minute

Thủy tinh bền như kim loại nhờ nguyên tố paladi

Mới đây một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc phòng thí nghiệm Berkeley và Học viện công nghệ California (Caltech, Mỹ) đã thành công trong nghiên cứu chế tạo một loại thủy tinh kim loại với độ cứng và dẻo đến khó tin ngay cả khi bị nén.

Read more...

Chưa phát hiện trứng gà Trung Quốc giả ở Việt Nam

Bài sưu tầm này chỉ có ý giúp các bạn gợi ý làm món trứng chay đã nấu chín, không có ý gợi ý làm trứng giả

Read more...

CÔNG TY TNHH BẢO HIỂM NHÂN THỌ AIA VIỆT NAM_



Số 364 Cộng Hòa. F13, Q.Tân Bình

_Tuyển nhân viên kinh doanh Bảo Hiểm Nhân Thọ tại TPHCM

- Số lượng: không giới hạn

- Vị trí tuyển: 1/Trưởng nhóm kinh doanh, 2/Trưởng nhóm tập sự, 3/Quản lý bảo hiểm - Thời gian: hành chánh

- Mức lương: Vị trí 1: 8 triệu, vị trí 2: 4 trệu, vị trí 3: 2 triệu - Yêu cầu: Vị trí 1 và 2: Tuổi từ 27->45 tuổi.Tốt nghiệp Cao Đẳng hoặc có kinh nghiệm về Bảo hiểm và Quản lý. Vị trí 3: Từ 22 tuổi trở lên.

- Có cơ hội đi du lich và thăng tiến - Ai có nhu cầu tìm việc xin liên hệ: - Điện thoại: 0902 442 988 hoặc 0943 778 379 Gặp C.Hậu

Tìm việc làm và tuyển dụng mời vào trang web ==> http://www.tuyendunggap.com

Tuyển trợ lý

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VINA TÔNG_ Số 357- Đường Lê Văn Lương. F.Tân Quy, Q7(Tòa nhà HOÀNG ANH GIA LAI) -Tuyển nhân viên Trợ lý Dự án_ Văn phòng tại TPHCM - Số lượng: 2 nhân viên( Nam/Nữ) - Yêu cầu: Tuổi từ 20->26 tuổi.Trình độ 12/12.Biết tiếng Hoa,giao tiếp tiếng Hoa lưu loát. Vi tính văn phòng - Thời gian: Hành chánh - Mức lương: thỏa thuận, có phụ cấp tiền cơm, xăng, điện thoại - Hồ sơ đầy đủ - Ai có nhu cầu tìm việc xin liên hệ: - Điện thoại: 0918 373 126 Gặp C.Quân

================
Hàng ngàn tin tuyển dụng việc làm được cập nhật từng giờ ==> www.tuyendunggap.com

C.TY TNHH TM - SX HƯNG VIỆT
CẦN TUYỂN GẤP
* GSBH khu vực Miền Đông, Miền Tây.
* 10 Nam bán hàng & 02 GSBH kênh Shops KV HCM
* 04 Nam bán hàng & 01 GSBH kênh Horeca KV HCM
* 05 Nam giao hàng xe GM & 02 Tài xế xe Tải
* 01 Sale Admin và 01 Chăm sóc khách hàng qua ĐT
* 02 kỹ thuật cơ điện
Lương Căn Bản + Thưởng (thỏa thuận)
Yêu cầu:
Có ít nhất 01 năm kinh nghiệm ở vị trí tương ứng
Nộp hồ sơ :
chi tiết ==> http://www.jookata.com/viec-tim-nguoi/tuyen-ban-hang--tiep-thi--cham-soc-khach-hang-qua-dien-thoai-12410.html

Một số khái niệm về truyền hình ba chiều (3D-TV)

Vài năm trước trong dịp thăm công viên DisneyLand ở Hồng Kông, Trung Quốc, khi ngồi xem phim nổi trong rạp chúng tôi đã nhiều phen hoảng hồn, phải cúi đầu tránh các vật thể ảo như đĩa, dao… mà chuột Micky và vịt Donald choảng lẫn nhau.

Ngay trong những ngày cuối năm 2009, đầu năm 2010 này phim 3D Avatar đã gây ra một cuộc cách mạng xem phim không chỉ trên thế giới mà cả ở Việt Nam, và khi số báo này tới tay bạn đọc thì việc mua được vé để xem phim này có lẽ cũng không phải là dễ. Phải nói rằng phim nổi thật hấp dẫn và thú vị. Với cặp kính đeo và ngồi trên ghế, bạn có thể đắm mình thực sự vào thế giới của các nhân vật trong phim. Và chúng ta cũng có thể tự hỏi: Khi nào thì khán giả truyền hình có thể xem các chương trình 3D qua màn ảnh truyền hình? Ở đây tôi không dùng khái niệm màn ảnh nhỏ nữa vì các màn hình lớn với độ phân giải cao đang dần trở nên thông dụng trong cuộc sống. Bài này muốn giúp bạn đọc có một số kiến thức về truyền hình nổi hay truyền hình ba chiều (3D-TV) với cách hiểu là hình ảnh truyền hình mà ta thụ cảm có thể vượt ra khỏi khuôn khổ của màn hình TV thông thường. Trong bài có thể có những thuật ngữ tiếng Anh chưa tiện dịch ra tiếng Việt vì không chuẩn, hoặc dịch ra không thật đúng, mong bạn đọc thông cảm.



1. Khái niệm và bản chất.

Khái niệm.

Theo Hiệp hội Viễn thống Quốc tế (ITU), có thể hiểu một cách đầy đủ rằng “Truyền hình 3D (3D Television, 3DTV) là tên gọi chung chỉ các hệ thống mà các hệ thống đó cung cấp cho người xem cảm giác độ sâu tương tự với cảm giác mà chúng ta thấy trong thế giới thực”.

Bản chất của việc tạo ra hình ảnh 3 chiều.




Về bản chất hai mắt của con người được đặt cách nhau một khoảng không gian nhất định (trung bình khoảng 6,25 cm). Do vậy khi hai mắt người nhìn vào một vật thể (hiểu cả theo nghĩa hẹp là một vật cụ thể hoặc nghĩa rộng là cả không gian rộng lớn quanh ta) thì hình ảnh mà hai mắt cảm thụ được sẽ khác nhau vì hai góc nhìn là khác nhau.

Hai hình ảnh xem từ mắt trái (Left Eye View) và mắt phải (Richt Eye view) đó sẽ được bộ não (cụ thể là hệ thống thần kinh thị giác), hoạt động như “một bộ xử lý ảnh”, hợp nhất lại để tạo thành một ảnh thụ cảm 3D đơn (hình 1). Ứng dụng hiện tượng này các nhà nghiên cứu đã đề ra các giải pháp để tạo ra hình ảnh nổi cho phim và truyền hình. Đây cũng chính là nguyên lý cơ bản mà các camera 3D mới hiện nay làm việc.

2. Các loại màn hình 3D.

Trong thực tế phát triển kỹ thuật hiện nay có nhiều phương pháp tạo hình ảnh 3D cho TH, và đi kèm với chúng là các hệ thống hiển thị cho 3DTV. Có thể phân ra làm các hệ thống hiển thị chủ yếu như sau:

• Hệ thống công nghệ stereoscopic: là hệ thống dựa trên các cặp kính, các hình ảnh được hướng đến các mắt trái và phải. Trong hệ thống này lại phân làm hai loại: các cặp kính thụ động (passive glasses) mà thường là các kính phân cực; các cặp kính tích cực (active glasses) mà thường là các kính cửa chập (shutter glasses);

• Hệ thống công nghệ không dùng kính (auto-stereoscopic), gồm các loại như: lenticular display, parallax barrier, spinning Mirror;

• Các hệ thống khác: Holographic (điều chế ánh sáng không gian khi dùng giản đồ giao thoa sóng ánh sáng)…

Trong phần này chúng tôi xin trình bày một vài dạng thông dụng nhất hiện nay.

2.1. Các công nghệ Stereoscopic TV.

a) Công nghệ Các kính cửa chập (shutter glasses), hay kính phân cực tích cực:

Công nghệ 3D mà một số hãng như Panasonic, Sony, Nvidia thường hay sử dụng nhất hiện nay và trong tương lai gần là công nghệ “các kính cửa chập”. Về cơ bản đó là các cặp kính thực hiện ngăn cách luân phiên mắt trái và mắt phải trong khi TV phát các ảnh riêng rẽ cho mỗi mắt, do vậy tạo nên ảnh 3D trong tâm trí (mind) của người xem.

Nguyên tắc làm việc của công nghệ Các kính cửa chập (hình 2) là như sau: Tín hiệu video của TV lưu ảnh cho mắt trái trên các field chẵn, và các ảnh cho mắt phải trên các field lẻ của nó. Bản thân TV được đồng bộ với các kính của chập qua công nghệ tia hồng ngoại (infra-red) hoặc công nghệ sóng cao tần (RF). Các kính cửa chập có chứa tinh thể lỏng và bộ lọc phân cực. Khi nhận được tín hiệu đồng bộ thích hợp từ TV từng mắt kính sẽ bị đóng (bị làm mờ tối) hoặc mở (được trở thành trong suốt) làm cho mắt trái sẽ chỉ nhìn thấy ảnh trên field chẵn, mắt phải sẽ chỉ nhìn thấy ảnh trên field lẻ của tín hiệu video. Điều này có nghĩa rằng ở mỗi thời điểm chỉ có một mắt nhìn thấy một ảnh. Bằng việc xem hai ảnh từ các hướng ứng với hai mắt khác nhau, ảnh 3D sẽ được cấu tạo lại bởi não bộ.



Vậy điều này có gây ra sự trễ cho người xem? Cũng không cần lo lắng vì với tần số quét màn hình (screen refresh rate) của truyền hình 3D hiện đại trải nghiệm xem của người sử dụng cuối là hoàn toàn tốt, trơn tru và liên tục.

Ưu điểm của phương pháp này là, phụ thuộc vào tần số frame được sử dụng, có thể sử dụng màn hình HD để xem nội dung 3D HD mà không cần cải biên gì.

Một nhược điểm của công nghệ này là do sự đóng mở (chớp) nhanh của các cửa chập ánh sáng lọt vào mắt sẽ yếu hơn, làm cho ảnh dường như tối hơn. Đồng thời giá thành của cặp kính cao, và phải nạp điện.

b) Công nghệ các kính phân cực thụ động:

Về cơ bản các kính phân cực là các kính râm bình thường, được sử dụng cho xem 3D stereoscopic từ trước tới nay. Chúng cũng là loại kính 3D thông dụng nhất hiện đang được sử dụng trong các rạp chiếu bóng. Cũng giống như các kính cửa chập, các kính phân cực dùng các thấu kính để chỉ ra các ảnh khác nhau cho mỗi mắt, làm cho não cấu trúc ảnh 3D cho người xem.

Kính 3D phân cực làm việc như sau: Để cho kính phân cực làm việc phim cần xem phải được quay khi dùng hai camera, hoặc dùng một camera đơn với hai ống kính. Khi chiếu thì phải dùng hai máy chiếu (projector) trái và phải, gắn với các bộ lọc phân cực trên các ống kính, và sau đó chiếu đồng thời phim trên cùng một màn ảnh. Bộ lọc phân cực định hướng các ảnh từ máy chiếu bên trái theo một mặt phẳng (ví dụ, mặt phẳng đứng), còn bộ lọc trên máy chiếu bên phải thì định hướng các ảnh của nó theo mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng trên (tức là mặt phẳng ngang).

Màn hình LCD dùng bộ lọc phân cực phủ toàn bộ màn (hình 3). Chúng là các dải các bộ lọc phân cực xắp xếp theo chiều ngang của màn, và được thay đổi luân phiên phân cực, với mỗi dải che một dòng ngang các pixel. Khi video được hiển thị, các dòng lẻ tải tín hiệu video trái, còn các dòng chẵn tải tín hiệu video phải.

Các cặp mắt kính mà người xem đeo khi ngồi xem là các kính đặc biệt, được trang bị các thấu kính phân cực khác nhau. Các thấu kính trái của cặp kính được sắp trong cùng một mặt phẳng đứng, có nghĩa là cùng với mặt phẳng của các hình ảnh mà máy chiếu trái phát ra, tức ứng với các dòng chẵn. Tình hình tương tự như vậy đối với các thấu kính phải của cặp kính. Như vậy mắt trái của người xem chỉ nhìn thấy các hình ảnh trên màn được chiếu ra từ máy chiếu bên trái, còn mắt phải của người xem chỉ nhìn thấy các hình ảnh trên màn được chiếu ra từ máy chiếu phải. Vì cả hai hình ảnh được thu nhận từ hai góc khác nhau nên não bộ của người xem sẽ tổng hợp thành một ảnh 3D đơn.



Nếu phân cực tròn trái và tròn phải được sử dụng thì ảnh vẫn giữ được hiệu ứng 3D của nó khi người xem nghiêng đầu. Về thực chất thì mỗi mắt của người xem chỉ nhìn thấy một nửa của ảnh toàn phần. Ưu điểm của phương pháp này là chỉ cần một kênh truyền hình đơn là có thể tải tín hiệu 3D, và cặp kính xem thì không đắt. Nhược điểm là màn hình phải được gắn các bộ lọc phân cực trên đó, làm tăng đáng kể giá thành. Việc xem video 2D bình thường, không dùng cặp kính, trên các màn hình này thì không bị ảnh hưởng bởi các bộ lọc phân cực. Một nhược điểm khác của công nghệ này là, cũng như các cặp kính của chập, cường độ ánh sáng tới được mắt người sẽ bị giảm.

Như vậy chúng ta thấy nhược điểm lớn nhất của công nghệ stereoscopic 3D TV là yêu cầu người sử dụng phải mang kính hoặc thiết bị đặc biệt để xem. Điều này là không thuận tiện và khó chịu, gây mỏi mắt. Ngoài ra, khi không có kính thì không thể sử dụng nội dung 3D bất kỳ. Màn hình phải được hiệu chuẩn để làm việc với 3D, và khi không có kính thì cũng có nghĩa là các ảnh xem được sẽ bị méo mó… Điều này dẫn đến việc chuyển sang lụa chọn giải pháp 3DTV không cần dùng kính.

c) Phương pháp hiển thị DLP 3D:



Đây là một phương pháp dựa trên công nghệ màn hình xử lý số ánh sáng (Digital Light Processing – DLP). Nó liên quan tới việc tạo giản đồ dạng bàn cờ của hai ảnh. Máy chiếu thay đổi luân phiên giữa hai ảnh. đầu tiên nó hiển thị ảnh trái (ứng với các ô vuông tối trên bàn cờ), và sau đó ảnh phải (ứng với các ô vuông sáng). (Hình 4). Hệ thống này cũng dùng cặp kính cửa chập tích cực. Phương pháp làm việc tốt nhất với các màn hình DLP, nhưng tín hiệu phải được cung cấp theo định dạng bàn cờ, là định dạng có nguồn gốc từ các board đồ họa máy tính hoặc các hộp biến đổi đặc biệt.

2.2. Các công nghệ autostereoscopic TV.

Các máy thu hình autostereoscopic TV hoạt động trên nguyên lý giống nhau, nhưng dựa trên các công nghệ chính: các thấu kính hình hột đậu (lenticular lenses) và rào chắn thị sai (parallax barrier).

a) Công nghệ lenticular lenses:

Đây là công nghệ dùng các thấu kính dạng hình trụ nhỏ xíu, gọi là các lenticule. Các lenticule này được dán thành mạng trên một phiến trong suốt. Sau đó phiến này được dán lên bề mặt hiển thị của màn hình LCD. Do vậy khi người xem xem các ảnh thì các ảnh đó được phóng to bởi thấu kính hình trụ. Để hình dung điều này bạn có thể làm thí nghiệm như sau. Cuộn tròn một tờ báo hoặc tạp chí thành hình trụ và giữ nó ở phía trước bạn. Sau đó dùng một tay che mắt trái. Hãy chú ý các chữ (text) và hình ảnh mà bạn nhìn thấy bằng mắt phải. Tiếp theo mở mắt trái và dùng tay che mắt phải. Về bản chất, với hai góc nhìn khác nhau đã cho, bằng mắt trái bạn sẽ nhìn thấy nhiều hơn text và hình ảnh ở tận cùng phía trái, và ngược lại. Bằng việc kết hợp hai ảnh này, bộ não của chúng ta có thể cảm thụ độ sâu.




Tương tự như vậy, khi bạn đang nhìn ảnh hình trụ mà TV đang chỉ ra cho bạn, các mắt trái và phải của bạn nhìn thấy hai ảnh 2D khác nhau, và não bộ sẽ kết hợp chúng để tạo thành một ảnh 3D.

Nhược điểm của công nghệ lenticular lenses là là nó phụ thuộc rất nhiều vào vị trí bạn ngồi so với màn hình. Nó đòi hỏi những vị trí xem tốt (sweet spot) để có thể đạt được hiệu ứng 3D, và việc lệch đi dù chỉ một ít sẽ làm cho ảnh TV được thụ cảm dường như bị méo đi. Phụ thuộc vào số lenticule và tần số quét của màn, có thể sẽ có nhiều vị trí xem tốt.

b) Công nghệ rào chắn thị sai (parallax barrier):

Công nghệ parallax barrier là một phương pháp chính khác cho phép xuất ảnh autostereoscopic. Công nghệ này đang được nhiều công ty như Sharp, LG… thực hiện, vì nó là một trong những công nghệ thân thiện nhất với khách hàng, và có lẽ cũng là công nghệ duy nhất cho phép xem 2D thông thường.

Parallax barrier là một lưới tinh (fine grating) tinh thể lỏng đặt ở phía trước màn hình, với những kẻ hở tương ứng với những cột pixel nhất định của màn TFT. Các vị trí này được cắt để cho phép truyền các ảnh luân phiên tới mỗi mắt người xem khi họ ngồi ở những vị trí xem tối ưu. Khi một điện áp thấp được đặt vào parallax barrier các khe hở của nó sẽ hướng ánh sáng từ mỗi ảnh tới mắt trái và mắt phải khác nhau một ít; do vậy tạo hình dung độ sâu và ảnh 3D trong não.

Hoạt động của công nghệ parallax barrier (hình 6) là như sau. Trong mode 2D tinh thể lỏng chuyển mạch được điều khiển sao cho rào chắn thị sai là trong suốt, cho phép tất cả ánh sáng đi qua. Điều này làm cho mắt trái và mắt phải cùng nhìn thấy ảnh như vậy, dẫn tới hiển thị hai chiều. Trong mode 3D rào chắn thị sai được tạo ra bởi việc điều khiển tinh thể lỏng chuyển mạch, do vậy tách ánh sáng tới hai ảnh. Điều này tạo ra các ảnh khác nhau tới mắt trái và mắt phải, tạo cảm giác độ sâu.



Ưu điểm của công nghệ rào chắn thị sai là có thể đóng mở dễ dàng rào chắn, theo các hãng sản xuất máy thu hình 3D loại này là chỉ cần dùng một phím nhấn (button) trên điều khiển xa là xong. Do đó cho phép máy thu hình có thể được sử dụng cho cả xem 2D và 3D.


Nhược điểm của công nghệ này cũng là để xem 3D trung thực thì cần phải chọn những vị trí xem tốt. Tất nhiên, cũng như công nghệ lenticular lenses việc chọn này không phải là quá khó, nhưng không phải người xem có thể thụ cảm tốt nội dung 3D ở mọi vị trí.

Dưới đây là tóm tắt cơ bản các dạng màn hình 3DTV được giới thiệu ở các hội chợ, triển lãm hoặc các buổi trình diện khác nhau gần đây. Các nhận xét chỉ để bạn đọc tham khảo vì hiện có thể có các màn hình hiện đại hơn.





Một thách thức của 3DTV là cần cung cấp một định dạng 3DTV để làm việc với tất cả các dạng màn hình đa dạng, bao gồm:

• Các hệ thống stereoscopic (tích cực và thụ động);

• Single view auto-stereoscopic (2D + depth ...);

• Phải là mở và thân thiện với các hệ thống multiview autostereoscopic đang được phát triển;

• Các kích thước màn/các khoảng cách xem khác nhau (vì hiệu ứng 3D cũng phụ thuộc vào vị trí xem);

• Hỗ trợ HDTV đang có qua anaglyph (tiềm năng).

TS. Trần Dũng Trình/Tạp chí KHKT Truyền hình

Sự phân cực ánh sáng

Ánh sáng Mặt Trời và hầu như mọi dạng nguồn chiếu sáng tự nhiên và nhân tạo khác đều tạo ra sóng ánh sáng có vectơ điện trường dao động trong mọi mặt phẳng vuông góc với hướng truyền sóng. Nếu như vectơ điện trường hạn chế dao động trong một mặt phẳng bởi sự lọc chùm tia với những chất liệu đặc biệt, thì ánh sáng được xem là phân cực phẳng, hay phân cực thẳng đối với hướng truyền, và tất cả sóng dao động trong một mặt phẳng được gọi là mặt phẳng song song, hay mặt phẳng phân cực.



Mắt người không có khả năng phân biệt giữa ánh sáng định hướng ngẫu nhiên và ánh sáng phân cực, và ánh sáng phân cực phẳng chỉ có thể phát hiện qua cường độ hoặc hiệu ứng màu, ví dụ như sự giảm độ chói khi mang kính râm. Trong thực tế, con người không thể nào phân biệt giữa ánh sáng thực độ tương phản cao nhìn thấy trong kính hiển vi ánh sáng phân cực và hình ảnh tương tự của cùng mẫu vật ghi bằng kĩ thuật số (hoặc trên phim) và rồi chiếu lên màn hứng với ánh sáng không phân cực. Ý niệm cơ bản của sự phân cực ánh sáng được minh họa trên hình 1 đối với một chùm ánh sáng không phân cực đi tới hai bản phân cực thẳng. Vectơ điện trường vẽ trong chùm ánh sáng tới dưới dạng sóng sin dao động theo mọi hướng (360 độ, mặc dù chỉ có 6 sóng, cách nhau 60 độ được vẽ trong hình). Trong thực tế, vectơ điện trường của ánh sáng tới dao động vuông góc với hướng truyền với sự phân bố đều trong mọi mặt phẳng trước khi chạm phải bản phân cực thứ nhất.


Các bản phân cực minh họa trong hình 1 thực ra là những bộ lọc gồm các phân tử polymer chuỗi dài định theo một hướng. Chỉ có ánh sáng tới dao động trong cùng mặt phẳng với các phân tử polymer định hướng bị hấp thụ, còn ánh sáng dao động vuông góc với mặt phẳng polymer thì truyền qua bộ lọc phân cực thứ nhất. Hướng phân cực của bản phân cực thứ nhất là thẳng đứng nên chùm tia tới sẽ chỉ truyền qua được những sóng có vectơ điện trường thẳng đứng. Sóng truyền qua bản phân cực thứ nhất sau đó bị chặn lại bởi bản phân cực thứ hai, do bản phân cực này định hướng ngang đối với vectơ điện trường trong sóng ánh sáng. Ý tưởng sử dụng hai bản phân cực định hướng vuông góc với nhau thường được gọi là sự phân cực chéo và là cơ sở cho ý tưởng về kính hiển vi ánh sáng phân cực.


Manh mối đầu tiên cho sự tồn tại của ánh sáng phân cực xuất hiện vào khoảng năm 1669 khi Erasmus Bartholin phát hiện thấy tinh thể khoáng chất spar Iceland (loại chất canxit trong suốt, không màu) tạo ra một ảnh kép khi các vật được nhìn qua tinh thể trong ánh sáng truyền qua. Trong thí nghiệm của ông, Bartholin cũng quan sát thấy một hiện tượng khá lạ thường. Khi tinh thể canxit quay xung quanh một trục nhất định, một trong hai ảnh cũng chuyển động tròn xung quanh ảnh kia, mang lại bằng chứng mạnh mẽ cho thấy tinh thể bằng cách nào đó đã tách ánh sáng thành hai chùm tia khác nhau.


Hơn một thế kỉ sau đó, nhà vật lí người Pháp Etienne Malus đã xác định được ảnh tạo ra với ánh sáng phản xạ qua tinh thể canxit và lưu ý rằng, dưới những điều kiện nhất định, một trong các ảnh sẽ biến mất. Ông đã nhận định không chính xác rằng ánh sáng ban ngày thông thường gồm hai dạng ánh sáng khác nhau truyền qua tinh thể canxit theo các đường đi độc lập nhau. Sau đó, người ta xác định được sự khác biệt xảy ra do sự phân cực của ánh sáng truyền qua tinh thể. Ánh sáng ban ngày gồm những ánh sáng dao động trong mọi mặt phẳng, trong khi ánh sáng phản xạ thường giới hạn trong một mặt phẳng song song với bề mặt mà từ đó ánh sáng bị phản xạ.

Ánh sáng phân cực có thể được tạo ra từ những quá trình vật lí phổ biến làm lệch hướng chùm tia sáng, như sự hấp thụ, khúc xạ, phản xạ, nhiễu xạ (hoặc tán xạ) và quá trình gọi là lưỡng chiết (đặc điểm của sự khúc xạ kép). Ánh sáng phản xạ từ bề mặt phẳng của một chất lưỡng cực điện (hoặc cách điện) thường bị phân cực một phần, với vectơ điện của ánh sáng phản xạ dao động trong mặt phẳng song song vói bề mặt của vật liệu. Ví dụ thường gặp về những bề mặt phản xạ ánh sáng phân cực là mặt nước yên tĩnh, thủy tinh, bản plastic, và đường xa lộ. Trong những thí dụ này, sóng ánh sáng có vectơ điện trường song song với bề mặt chất bị phản xạ ở mức độ cao hơn so với sóng ánh sáng có những định hướng khác. Tính chất quang học của bề mặt cách điện xác định lượng chính xác ánh sáng phản xạ bị phân cực. Những chiếc gương không phải là bản phân cực tốt, mặc dù nhiều chất liệu trong suốt trong vai trò bản phân cực rất tốt, nhưng chỉ khi góc ánh sáng tới nằm trong một giới hạn nhất định nào đó. Một tính chất quan trọng của ánh sáng phân cực phản xạ là độ phân cực phụ thuộc vào góc tới của ánh sáng, với lượng phân cực tăng được quan sát thấy khi góc tới giảm.

Khi xét sự tác động của ánh sáng không phân cực lên một bề mặt cách điện phẳng, có một góc duy nhất mà tại đó sóng ánh sáng phản xạ bị phân cực hoàn toàn vào một mặt phẳng. Góc này thường được gọi là góc Brewster, và có thể dễ dàng tính được bằng phương trình sau đối với chùm ánh sáng truyền qua không khí:

n = sin(θi)/sin(θr) = sin(θi)/sin(θ90-i) = tan(θi)

trong đó n là chiết suất của môi trường mà từ đó ánh sáng bị phản xạ, θ(i) là góc tới, θ(r) là góc khúc xạ. Bằng việc giải phương trình, người ta có thể thấy rõ rằng chiết suất của một chất chưa biết có thể xác định được từ góc Brewster. Đặc điểm này đặc biệt hữu ích trong trường hợp chất mờ đục có hệ số hấp thụ cao đối với ánh sáng truyền qua, không thể áp dụng được công thức của định luật Snew quen thuộc. Việc xác định lượng phân cực bằng kĩ thuật phản xạ cũng làm dịu đi cuộc tìm kiếm trục phân cực trên bản phim phân cực không được đánh dấu.



Nguyên lí của góc Brewster được minh họa trong hình 3 đối với một tia sáng phản xạ từ một bề mặt phẳng của một môi trường trong suốt có chiết suất lớn hơn không khí. Tia tới được vẽ với chỉ hai mặt phẳng dao động vectơ điện, nhưng nó dùng để miêu tả ánh sáng có các dao động trong mọi mặt phẳng vuông góc với hướng truyền. Khi chùm tia đi tới bề mặt ở góc tới hạn (góc Brewster, kí hiệu θ trong hình 3), thì độ phân cực của tia phản xạ là 100%, với sự định hướng của các vectơ điện nằm vuông góc với mặt phẳng tới và song song với bề mặt phản xạ. Mặt phẳng tới được định nghĩa bởi sóng tới, sóng khúc xạ, và sóng phản xạ. Tia khúc xạ hợp một góc 90 độ với tia phản xạ và chỉ bị phân cực một phần.

Đối với nước (chiết suất 1,333), thủy tinh (chiết suất 1,515) và kim cương (chiết suất 2,417), góc tới hạn (Brewster) tương ứng là 53, 57 và 67,5 độ. Ánh sáng phản xạ từ bề mặt đường xa lộ ở góc Brewster thường tạo ra ánh chói khó chịu và làm người lái xe xao lãng, có thể chứng minh một cách khá dễ dàng bằng cách quan sát phần ở xa của xa lộ hoặc mặt nước hồ bơi vào một ngày nắng nóng. Các laser hiện đại thường khai thác lợi thế của góc Brewster để tạo ra ánh sáng phân cực thẳng từ sự phản xạ ở các bề mặt gương đặt ở hai đầu hộp laser.

Như đã nói ở phần trên, sự phản xạ rực rỡ xuất phát từ những bề mặt nằm ngang, ví dụ như xa lộ hoặc nước trong hồ, bị phân cực một phần với các vectơ điện trường dao động theo một hướng song song với mặt đất. Ánh sáng này có thể bị chặn lại bởi các bộ lọc phân cực định theo hướng thẳng đứng, như minh họa trong hình 4, với cặp kính râm phân cực. Các thấu kính của cặp kính có những bộ lọc phân cực định theo hướng thẳng đứng đối với cấu trúc kính. Trong hình, sóng ánh sáng màu xanh có vectơ điện trường của chúng định theo cùng hướng như các thấu kính phân cực và, vì vậy, được truyền qua. Trái lại, sóng ánh sáng màu đỏ định hướng dao động vuông góc với định hướng của bộ lọc và bị chặn lại bởi thấu kính. Kính râm phân cực rất có ích khi lái xe dưới cái nắng chói chang hoặc đi ở bờ biển khi ánh sáng Mặt Trời bị phản xạ từ bề mặt đường hoặc mặt nước, dẫn tới ánh chói có thể làm ta gần như không thấy gì nữa. Các bộ lọc phân cực cũng khá có ích trong nhiếp ảnh, chúng có thể được gắn ở phía trước thấu kính camera để làm giảm ánh chói và làm tăng độ tương phản ảnh toàn thể trong hình chụp hoặc ảnh kĩ thuật số. Các bản phân cực dùng trên camera thường được thiết kế có một vòng lắp cho phép chúng quay khi sử dụng để thu được hiệu ứng mong đợi dưới những điều kiện chiếu sáng khác nhau.



Một trong những bộ lọc phân cực đầu tiên được chế tạo vào đầu thế kỉ 19 bởi nhà khoa học người Pháp Francis Arago, nhà nghiên cứu tích cực tìm hiểu bản chất của ánh sáng phân cực. Arago đã nghiên cứu sự phân cực của ánh sáng phát ra từ những nguồn khác nhau trên bầu trời và nêu ra một lí thuyết tiên đoán rằng vận tốc ánh sáng phải giảm khi nó truyền vào một môi trường đậm đặc hơn. Ông cũng làm việc với Augustin Fresnel nghiên cứu sự giao thoa trong ánh sáng phân cực và phát hiện thấy hai chùm ánh sáng phân cực với sự định hướng dao động của chúng vuông góc nhau sẽ không chịu sự giao thoa. Các bộ lọc phân cực của Arago, được thiết kế và chế tạo trong năm 1812, chế tạo từ nhiều bản thủy tinh ép sát vào nhau.

Đa phần chất phân cực được sử dụng ngày nay có nguồn gốc từ những màng tổng hợp do tiến sĩ Erwin H.Land phát minh ra năm 1932, sớm vượt qua tất cả các chất khác làm môi trường được chọn dùng để tạo ra ánh sáng phân cực phẳng. Để chế tạo những màng này,(Nó bao gồm một bộ phim nitrat cellulose chứa rất nhiều tinh thể nhỏ của sulfate iodoquinine."Văn bản gốc : It comprises a cellulose nitrate film containing very small crystals of iodoquinine sulfate") các tinh thể iodoquinine sulfate nhỏ xíu, định theo cùng một hướng, được gắn vào một màng trùng hợp trong suốt để ngăn chặn sự di trú và định hướng lại của tinh thể. Land đã chế tạo các bản chứa màng phân cực được thương mại hóa dưới cái tên Polaroid (tên thương phẩm đã được đăng kí), trở thành một thuật ngữ được chấp nhận rộng rãi đối với các bản này. Bất cứ dụng cụ nào có khả năng lọc ánh sáng phân cực phẳng từ ánh sáng trắng tự nhiên (không phân cực) ngày nay đều được gọi là bản phân cực, cái tên được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1948 bởi A.F. Hallimond. Vì những bộ lọc này có khả năng truyền chọn lọc các tia sáng, phụ thuộc vào sự định hướng của chúng đối với trục bản phân cực, nên chúng biểu hiện một dạng lưỡng sắc, và thường được gọi là bộ lọc lưỡng sắc.

Kính hiển vi ánh sáng phân cực lần đầu tiên được nêu ra vào thế kỉ 19, nhưng thay vì sử dụng chất phân cực truyền qua, ánh sáng được phân cực bằng sự phản xạ từ một chồng đĩa thủy tinh đặt hợp một góc 57 độ so với mặt phẳng tới. Sau đó, những thiết bị tiên tiến hơn dựa trên tinh thể chất khúc xạ kép (như canxit(một dạng của cacbonat canxi)) cắt theo kiểu đặc biệt và hàn với nhau tạo thành lăng kính. Một chùm ánh sáng trắng không phân cực đi vào tinh thể loại này bị tách thành hai thành phần phân cực theo hướng vuông góc với nhau (trực giao).

Một trong hai tia sáng ló ra khỏi tinh thể lưỡng chiết được gọi là tia thường, còn tia kia gọi là tia bất thường. Tia thường bị khúc xạ ở mức độ cao hơn bởi lực tĩnh điện trong tinh thể và chạm tới bề mặt hàn ở góc tới hạn của sự phản xạ nội toàn phần. Kết quả là tia này bị phản xạ ra khỏi lăng kính và bị loại trừ bởi sự hấp thụ ở mép thiết bị. Tia bất thường truyền qua lăng kính và ló ra dưới dạng chùm ánh sáng phân cực thẳng truyền thẳng tới tụ sáng hoặc mẫu vật (đặt trên bàn soi hiển vi).

Một số mẫu dụng cụ phân cực trên cơ sở lăng kính được bày bán rộng rãi và chúng thường được đặt theo tên nhà chế tạo ra chúng. Lăng kính phân cực phổ biến nhất (minh họa trong hình 5) đặt theo tên William Nicol, người đầu tiên chẻ và hàn hai tinh thể spar Iceland với nhau bằng nhựa Canada vào năm 1829. Lăng kính Nicol lần đầu tiên được sử dụng để đo góc phân cực của hỗn hợp lưỡng chiết, mang đến những phát triển mới trong việc tìm hiểu sự tương tác giữa ánh sáng phân cực và các chất kết tinh.



Hình 5 minh họa cấu trúc của một lăng kính Nicol điển hình. Một tinh thể chất khúc xạ kép (lưỡng chiết), thường là canxit (một dạng của cacbonat canxi), được cắt dọc theo mặt phẳng đánh dấu a-b-c-d và hai nửa sau đó hàn lại với nhau, tạo ra hình dạng tinh thể ban đầu. Một chùm ánh sáng trắng không phân cực đi vào tinh thể từ phía bên trái và tách thành hai thành phần bị phân cực theo hướng vuông góc với nhau. Một trong hai chùm này (gọi là tia thường) bị khúc xạ ở mức độ lớn hơn và chạm tới ranh giới hàn ở một góc mà kết quả là bị phản xạ toàn bộ khỏi lăng kính qua mặt tinh thể ở trên cùng. Còn chùm kia (tia bất thường) bị khúc xạ ở mức độ ít hơn và truyền qua lăng kính, đi ra ngoài dưới dạng chùm ánh sáng phân cực phẳng.

Những cơ cấu lăng kính khác được đề xuất và chế tạo trong thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, nhưng hiện nay chúng không còn được sử dụng để tạo ra ánh sáng phân cực trong những ứng dụng hiện đại. Lăng kính Nicol rất đắt và kềnh càng, và có khẩu độ rất hạn chế, nên công dụng của chúng giới hạn ở những sự phóng đại cao. Thay vì vậy, ngày nay ánh sáng phân cực được tạo ra phổ biến nhất bằng sự hấp thụ ánh sáng có tập hợp hướng dao động nhất định trong môi trường lọc (ví dụ như bản phân cực), trong đó trục truyền của bộ lọc vuông góc với sự định hướng của polymer tuyến tính và tinh thể có chứa chất phân cực.

Trong những bản phân cực hiện đại, các sóng ánh sáng tới có dao động vectơ điện trường song song với trục tinh thể của bản phân cực bị hấp thụ. Nhiều sóng trong số các sóng tới sẽ có sự định hướng vectơ xiên góc, nhưng không vuông góc với trục tinh thể, và sẽ chỉ bị hấp thụ một phần. Mức độ hấp thụ đối với các sóng ánh sáng xiên phụ thuộc vào góc dao động mà chúng chạm tới bản phân cực. Những tia nào có góc đó gần song song với trục tinh thể sẽ bị hấp thụ nhiều hơn so với những tia có góc gần vuông góc. Các bộ lọc Palaroid phổ biến nhất (gọi là sêri H) truyền qua chỉ khoảng 25% chùm ánh sáng tới, nhưng mức độ phân cực của tia truyền qua vượt trên 99%.

Một số ứng dụng, nhất là kính hiển vi ánh sáng phân cực, dựa trên các bản phân cực vuông góc để xác định chất khúc xạ kép hoặc lưỡng chiết. Khi hai bản phân cực đặt vuông góc nhau, trục truyền của chúng định hướng vuông góc nhau và ánh sáng truyền qua bản phân cực thứ nhất hoàn toàn bị dập tắt, hoặc bị hấp thụ, bởi bản phân cực thứ hai, bản này thường được gọi là bản phân tích. Lượng ánh sáng hấp thụ của bộ lọc phân cực lưỡng sắc xác định chính xác bao nhiêu ánh sáng ngẫu nhiên bị dập tắt khi bản phân cực được dùng trong bản cặp bắt chéo, và thường được gọi là hệ số dập tắt của bản phân cực. Về mặt định lượng, hệ số dập tắt được xác định bởi tỉ số của ánh sáng truyền qua bởi cặp phân cực khi trục truyền của chúng định hướng song song và lượng ánh sáng truyền qua khi đặt chúng vuông góc với nhau. Nói chung, hệ số dập tắt từ 10.000 đến 100.000 để tạo ra nền đen thẳm và mẫu vật lưỡng chiết dễ quan sát nhất (và tương phản) trong kính hiển vi quang học phân cực.


Lượng ánh sáng truyền qua cặp bản phân cực chất lượng cao bắt chéo được xác định bằng sự định hướng của bản phân tích đối với bản phân cực. Khi các bản phân cực định hướng vuông góc nhau, chúng biểu hiện một mức dập tắt cực đại. Tuy nhiên, ở những góc khác, mức độ dập tắt thay đổi như minh họa bởi biểu đồ vectơ trong hình 6. Bản phân tích được dùng để điểu chỉnh lượng ánh sáng truyền qua cặp bắt chéo, và có thể quay trong đường đi tia sáng để cho các biên độ khác nhau của ánh sáng phân cực truyền qua. Trong hình 6a, bản phân cực và bản phân tích có trục truyền song song nhau và vectơ điện của ánh sáng truyền qua bản phân cực và bản phân tích có độ lớn bằng nhau và song song với nhau.

Quay trục truyển bản phân tích đi 30 độ so với trục truyền của bản phân cực làm giảm biên độ của sóng ánh sáng truyền qua cặp bản, như minh họa trong hình 6b. Trong trường hợp này, ánh sáng phân cực truyền qua bản phân cực có thể phân tích thành những thành phần nằm ngang và thẳng đứng bằng toán học vectơ để xác định biên độ của ánh sáng phân cực có thể truyền qua bản phân tích. Biên độ của tia truyền qua bản phân tích bằng với thành phần vectơ đứng (minh họa là mũi tên màu vàng trong hình 6b).

Tiếp tục quay trục truyền bản phân tích đến góc 60 so với trục truyền bản phân cực, làm giảm hơn nữa biên độ của thành phần vectơ truyền qua bản phân tích (hình 6c). Khi bản phân tích và bản phân cực hoàn toàn chéo góc (góc 90 độ) thì thành phần thẳng đứng trở nên không đáng kể (hình 6d) và các bản phân cực thu được giá trị dập tắt cực đại của chúng.

Lượng ánh sáng truyền qua cặp bản phân cực có thể được mô tả định lượng bằng cách áp dụng định luật bình phương cosin Malus, là hàm của góc giữa các trục truyền bản phân cực:

I = I (o) cos2 θ (Bình Phương)

trong đó I là cường độ ánh sáng truyền qua bản phân tích (và toàn bộ lượng ánh sáng truyền qua cặp bản phân cực chéo góc), I(o) là cường độ ánh sáng tới trên bản phân cực, và q là góc giữa trục truyền của bản phân cực và bản phân tích. Bằng việc giải phương trình, có thể xác định khi hai bản phân cực chéo góc (θ = 90 độ) thì cường độ bằng không. Trong trường hợp này, ánh sáng truyền qua bởi bản phân cực bị dập tắt hoàn toàn bởi bản phân tích. Khi các bản phân cực xiên góc 30 và 60 độ, ánh sáng truyền qua bởi bản phân tích giảm đi tương ứng là 25% và 75%.

Sự phân cực của ánh sáng tán xạ

Các phân tử chất khí và nước trong bầu khí quyển làm tán xạ ánh sáng từ Mặt Trời theo mọi hướng, hiệu ứng gây ra bầu trời xanh, những đám mây trắng, hoàng hôn đỏ rực, và hiện tượng gọi là sự phân cực khí quyển. Lượng ánh sáng tán xạ (gọi là tán xạ Rayleigh) phụ thuộc vào kích thước của các phân tử (hydrogen, oxygen, nước) và bước sóng ánh sáng, như đã được chứng minh bởi huân tước Rayleigh hồi năm 1871. Những bước sóng dài, như đỏ, cam, vàng không bị tán xạ nhiều như các bước sóng ngắn, như tím và xanh dương.



Sự phân cực khí quyển là kết quả trực tiếp của sự tán xạ Rayleigh của ánh sáng Mặt Trời bởi các phân tử trong khí quyển. Lúc va chạm giữa photon đến từ Mặt Trời và phân tử chất khí, điện trường từ photon giảm dao động và rồi tái bức xạ ánh sáng phân cực từ phân tử đó (minh họa trong hình 7). Ánh sáng phát xạ bị tán xạ theo hướng vuông góc với hướng truyền ánh sáng Mặt Trời, và bị phân cực hoặc dọc, hoặc ngang, phụ thuộc vào hướng tán xạ. Đa phần ánh sáng phân cực chạm đến Trái Đất bị phân cực ngang (trên 50%), một sự thật có thể xác nhận bằng cách quan sát bầu trời qua một bộ lọc Polaroid.

Có những báo cáo cho biết một số loài côn trùng và động vật nhất định có khả năng phát hiện ánh sáng phân cực, gồm các loài kiến, ruồi, và một số loài cá, danh sách các loài thật ra còn dài hơn nhiều. Ví dụ, một số loài côn trùng (chủ yếu là ong mật) được cho là đã sử dụng ánh sáng phân cực để định vị mục tiêu của chúng. Nhiều người cũng tin rằng có một số cá nhân nhạy cảm với ánh sáng phân cực và có thể quan sát thấy một đường chân trời màu vàng chồng lên nền trời xanh khi nhìn chằm chằm theo hướng vuông góc với hướng của Mặt Trời (một hiện tượng gọi là chổi Haidinger). Các protein sắc tố vàng, gọi là macula lutea, là những tinh thể lưỡng sắc cư trú trong hố mắt người, được biết là cho phép người ta nhìn thấy ánh sáng phân cực.

Ánh sáng phân cực elip và phân cực tròn

Trong ánh sáng phân cực thẳng, vectơ điện trường dao động theo hướng vuông góc với hướng truyền sáng, như đã nói ở trên. Các nguồn sáng tự nhiên, như ánh sáng Mặt Trời, và các nguồn sáng nhân tạo, gồm ánh sáng đèn nóng sáng và đèn huỳnh quang, đều phát ra ánh sáng có vectơ điện định hướng ngẫu nhiên trong không gian và thời gian. Ánh sáng thuộc loại này gọi là không phân cực. Ngoài ra, cũng tồn tại một vài trạng thái ánh sáng phân cực elip nằm giữa phân cực thẳng và không phân cực, trong đó vectơ điện trường có hình dạng elip trong mọi mặt phẳng vuông góc với hướng truyền sóng ánh sáng.

Sự phân cực elip, không giống như ánh sáng phân cực phẳng và không phân cực, có “cảm giác” quay theo hướng quay vectơ điện xung quanh trục truyền (tới) của chùm tia sáng. Khi nhìn từ phía sau lại, hướng phân cực có thể là xoay sang trái hoặc xoay sang phải, một tính chất gọi là độc khuynh của sự phân cực elip. Sự quét vectơ xoay theo chiều kim đồng hồ được cho là phân cực phải (thuận), và sự quét vectơ xoay ngược chiều kim đồng hồ là phân cực trái (nghịch).

Trong trường hợp mà trục chính và trục vectơ phụ của elip phân cực bằng nhau, thì sóng ánh sáng rơi vào loại ánh sáng phân cực tròn, và có thể phân cực trái hoặc phải. Một trường hợp nữa thường xảy ra trong đó trục chính của thành phần vectơ điện trong ánh sáng phân cực elip tiến tới không, và ánh sáng trở nên phân cực thẳng. Mặc dù mỗi kiểu phân cực có thể thu được trong phòng thí nghiệm với thiết bị quang học thích hợp, chúng cũng xảy ra trong ánh sáng tự nhiên không phân cực.

Sóng ánh sáng thường và bất thường phát ra khi chùm ánh sáng truyền qua tinh thể lưỡng chiết có vectơ điện phân cực phẳng vuông góc với nhau. Ngoài ra, do sự giao thoa trong tương tác điện tử mà mỗi thành phần trải qua trong hành trình của nó đi qua tinh thể, thường xuất hiện một sự lệch pha giữa hai sóng. Mặc dù sóng thường và sóng bất thường đi theo quỹ đạo độc lập nhau và tách xa nhau trong tihn thể canxit (một dạng của cacbonat canxi-3Dvietnam) đã mô tả ở phần trên, nhưng đây không phải là trường hợp phổ biến đối với những chất kết tinh có một trục quang vuông góc với mặt phẳng chiếu sáng tới.



Một loại chất đặc biệt, gọi là đĩa bù hoặc đĩa trễ, khá có ích trong việc tạo ra ánh sáng phân cực elip và phân cực tròn cho một số ứng dụng, như kính hiển vi quang học phân cực. Những chất lưỡng chiết này được chọn bởi vì, khi trục quang của chúng đặt vuông góc với chùm tia sáng tới, thì các tia sáng thường và bất thường đi theo quỹ đạo giống hệt nhau và biểu hiện sự lệch pha phụ thuộc vào mức độ lưỡng chiết. Vì cặp sóng trực giao bị chồng chất, nên có thể xem là một sóng có các thành phần vectơ điện vuông góc với nhau cách nhau bởi một sự chênh lệch nhỏ về pha. Khi các vectơ kết hợp bằng cách cộng lại đơn giản trong không gian ba chiều, sóng thu được trở thành bị phân cực elip.

Ý tưởng này được minh họa trong hình 8, trong đó vectơ điện tổng hợp không dao động trong một mặt phẳng, mà quay dần xung quanh trục truyền sóng ánh sáng, quét thành quỹ đạo elip xuất hiện dưới dạng đường xoắn ốc khi sóng được nhìn từ một góc nào đó. Độ lớn của sự lệch pha giữa sóng thường và sóng bất thường (có cùng biên độ) xác định vectơ quét thành elip hay đường tròn khi sóng được nhìn từ phía sau của hướng truyền sóng. Nếu độ lệch pha là 1/4 hoặc 3/4 bước sóng, thì vectơ tổng hợp vẽ nên xoắn ốc tròn. Tuy nhiên, độ lệch pha là 1/2 hoặc nguyên bước sóng thì tạo ra ánh sáng phân cực thẳng, và tất cả những độ lệch pha khác quét nên những hình dáng khác nhau của elip.

Khi sóng thường và sóng bất thường đi ra khỏi tinh thể lưỡng chiết, chúng dao động trong những mặt phẳng vuông góc nhau có cường độ tổng hợp bằng tổng cường độ thành phần của chúng. Do sóng phân cực có vectơ điện dao động trong những mặt phẳng vuông góc, nên các sóng có khả năng chịu sự giao thoa. Thực tế này có hệ quả là khả năng sử dụng chất lưỡng chiết tạo ra hình ảnh. Giao thoa chỉ có thể xảy ra khi vectơ điện của hai sóng dao động trong cùng mặt phẳng trong suốt quá trình giao nhau để tạo ra sự thay đổi biên độ của sóng tổng hợp (một yêu cầu đối với sự tạo ảnh). Do đó, các vật trong suốt lưỡng chiết vẫn không nhìn thấy được, trừ khi chúng được xác định giữa các bản phân cực chéo nhau, chỉ truyền qua các thành phần sóng phân cực elip và phân cực tròn song song với bản phân cực gần người quan sát nhất. Những thành phần này có thể tạo ra các dao động biên độ gây ra độ tương phản và ló ra khỏi bản phân cực dưới dạng ánh sáng phân cực thẳng.

Ứng dụng của ánh sáng phân cực

Một trong những ứng dụng thông dụng và thực tế nhất của sự phân cực là sự hiển thị tinh thể lỏng (LCD) dùng trong hàng loạt dụng cụ như đồng hồ đeo tay, màn hình máy tính, đồng hồ bấm giờ, đồng hồ treo tường và nhiều vật dụng khác. Các hệ hiển thị này dựa trên sự tương tác của các phân tử kết tinh chất lỏng dạng que với điện trường và sóng ánh sáng phân cực. Pha tinh thể lỏng tồn tại ở trạng thái cơ bản được gọi là cholesteric, trong đó các phân tử định hướng thành lớp, và mỗi lớp kế tiếp thì hơi xoắn một chút để tạo ra hình dạng xoắn ốc (hình 9). Khi sóng ánh sáng phân cực tương tác với pha tinh thể lỏng, sóng đó bị “xoắn lại” một góc gần 90 độ so với sóng tới. Độ lớn chính xác của góc này là hàm mũ của pha tinh thể lỏng cholesteric, nó phụ thuộc vào thành phần hóa học của các phân tử (có thể được điều chỉnh tinh tế bằng sự thay đổi nhỏ trong cấu trúc phân tử).



Một ví dụ lí thú về ứng dụng cơ bản của tinh thể lỏng với các dụng cụ hiển thị có thể tìm thấy trong sự hiển thị số tinh thể lỏng 7 đoạn (minh họa trong hình 9). Ở đây, pha tinh thể lỏng nằm kẹp giữa hai đĩa thủy tinh có gắn điện cực, tương tự như miêu tả trong hình. Trong hình 9, các đĩa thủy tinh định hình với 7 điện cực màu đen có thể tích điện riêng rẽ (những điện cực này là trong suốt đối với ánh sáng trong dụng cụ thực). Ánh sáng truyền qua bản phân cực 1 bị phân cực theo chiều đứng và, khi không có dòng điện áp vào các điện cực, pha tinh thể lỏng gây ra góc “xoắn” 90 độ của ánh sáng cho phép nó truyền qua bản phân cực thứ 2, bản 2 bị phân cực ngang và định hướng vuông góc với bản phân cực 1. Ánh sáng này khi đó có thể tạo nên một trong bảy đoạn trên màn hiển thị.

Khi dòng điện được áp vào các điện cực, pha tinh thể lỏng sắp thẳng hàng với dòng điện và mất đi đặc trưng xoắn ốc cholesteric. Ánh sáng truyền qua một điện cực tích điện không bị xoắn và bị chặn lại bởi bản phân cực 2. Bằng cách phối hợp điện thế trên bảy điện cực dương và âm, màn hiển thị có khả năng biểu diễn các số từ 0 đến 9. Trong ví dụ này, các điện cực ở phía trên bên phải và phía dưới bên trái được tích điện và chặn ánh sáng truyền qua chúng, cho phép tạo ra số “2” trên màn hiển thị (nhìn ngược lại trong hình 9).

Hiện tượng hoạt tính quang học trong những chất nhất định có nguyên nhân từ khả năng của chúng làm quay mặt phẳng của ánh sáng phân cực. Thuộc loại này là nhiều loại đường, amino acid, các sản phẩm hữu cơ tự nhiên, các tinh thể nhất định và một số chất dùng làm thuốc uống. Độ quay được đo bằng cách đặt một dung dịch hóa chất mục tiêu giữa hai bản phân cực bắt chéo trong thiết bị có tên là máy nghiệm phân cực. Được quan sát thấy lần đầu tiên vào năm 1811 bởi nhà vật lí người Pháp Dominique Arago, hoạt tính quang học đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh hóa đa dạng, trong đó hình học cấu trúc của phân tử chi phối sự tương tác của chúng. Các hóa chất làm quay mặt phẳng dao động của ánh sáng phân cực theo chiều kim đồng hồ được gọi là dextrorotatory levorotatory. Hai hóa chất có cùng công thức phân tử nhưng khác nhau về tính chất quang học được gọi là đồng phân quang học, chúng làm quay mặt phẳng của ánh sáng phân cực theo những hướng khác nhau.

Các tinh thể không đối xứng có thể được dùng để tạo ra ánh sáng phân cực khi áp điện trường vào bề mặt đó. Một dụng cụ phổ biến sử dụng ý tưởng này có tên là tế bào Pockels, có thể dùng chung với ánh sáng phân cực làm thay đổi hướng phân cực đi 90 độ. Tế bào Pockels có thể bật và tắt rất nhanh bằng dòng điện và thường được dùng làm cửa chắn nhanh cho phép ánh sáng đi qua trong khoảng thời gian rất ngắn (cỡ nano giây). Hình 10 biểu diễn sự truyền ánh sáng phân cực qua tế bào Pockels (sóng màu vàng). Ánh sáng sin màu xanh và đỏ phát ra từ vùng giữa của tế bào biểu diễn cho ánh sáng phân cực đứng hoặc ngang. Khi tế bào tắt, ánh sáng phân cực không ảnh hưởng gì khi nó truyền qua (sóng màu xanh), nhưng khi tế bào hoạt động hoặc mở, vectơ điện của chùm ánh sáng lệch đi 90 độ (sóng màu đỏ). Trong trường hợp có điện trường cực lớn, các phân tử của chất lỏng và chất khí nhất định có thể xử sự như tinh thể dị hướng và sắp thẳng hàng theo kiểu tương tự. Tế bào Kerr, thiết kế dùng chất lỏng và chất khí gia dụng thay cho các tinh thể, cũng hoạt động trên cơ sở làm thay đổi góc ánh sáng phân cực.



Những ứng dụng khác của ánh sáng phân cực bao gồm những chiếc kính râm Polaroid đã nói ở trên, cũng như việc sử dụng các bộ lọc phân cực đặc biệt dùng cho thấu kính camera. Nhiều thiết bị khoa học đa dạng sử dụng ánh sáng phân cực, hoặc phát ra bởi laser, hoặc qua sự phân cực của các nguồn nóng sáng và huỳnh quang bằng nhiều kĩ thuật khác nhau. Các bản phân cực đôi khi được sử dụng trong phòng và chiếu sáng sân khấu để làm giảm ánh chói và tăng độ rọi sáng, và mang kính để cảm nhận chiều sâu với những bộ phim ba chiều. Các bản phân cực bắt chéo còn được dùng trong bộ quần áo du hành vũ trụ để làm giảm đột ngột khả năng ánh sáng phát ra từ Mặt Trời đi vào mắt của nhà du hành vũ trụ trong lúc ngủ.

Sự phân cực ánh sáng rất có ích trong nhiều mặt của kính hiển vi quang học. Kính hiển vi ánh sáng phân cực được thiết kế dành cho quan sát và chụp ảnh các vật nhìn thấy được chủ yếu do đặc trưng bất đẳng hướng về mặt quang học của chúng. Các chất dị hướng có tính chất quang học thay đổi theo hướng truyền của ánh sáng đi qua chúng. Để hoàn thành công việc này, kính hiển vi phải được trang bị cả bản phân cực, đặt trong đường đi của tia sáng trước mẫu vật, và bản phân tích (bản phân cực thứ hai), đặt trong quang trình giữa lỗ sau vật kính và ống quan sát hoặc cổng camera.

Sự tương phản ảnh tăng lên do sự tương tác của ánh sáng phân cực phẳng với chất lưỡng chiết (hoặc khúc xạ kép), tạo ra hai thành phần sóng riêng rẽ phân cực trong những mặt phẳng vuông góc với nhau. Vận tốc của các thành phần này khác nhau và thay đổi theo hướng truyền ánh sáng qua vật. Sau khi ra khỏi vật, các thành phần ánh sáng lệch pha nhau và quét nên một hình elip vuông góc với hướng truyền, nhưng kết hợp lại qua sự giao thoa tăng cường và triệt tiêu khi chúng truyền qua bản phân tích. Kính hiển vi ánh sáng phân cực là kĩ thuật nâng cao độ tương phản cải thiện chất lượng ảnh thu được với chất lưỡng chiết khi so với những kĩ thuật khác như sự chiếu sáng trường tối và trường sáng, tương phản giao thoa vi sai, tương phản pha, tương phản điều biến Hoffman, và sự huỳnh quang. Ngoài ra, việc sử dụng phân cực cũng cho phép đo đạc những tính chất quang học của khoáng vật và các chất tương tự và có thể giúp phân loại và nhận dạng các chất chưa biết.

Do không biết rõ tác giả nào dịch ai cũng nhận là tác gia nên xin đề sưu tầm







Hãng Zero Creative vừa ra mắt LCD có khả năng hiển thị hình ảnh 3D thấy được bằng mắt thường mà không cần kính đặc biệt.


TV LCD hiển thị hình ảnh 3D với kích thước 71 inch. Ảnh: Engadget.
Phiên bản 71 inch tiếp nối dòng xyZ là kích cỡ to nhất của hãng xuất xứ Hà Lan tính đến thời điểm này. Công nghệ hiển thị 3D của hãng dựa trên việc để nhìn thấy hình ảnh 3 chiều, mắt trái và mắt phải sẽ tiếp nhận các góc khác nhau của cùng một hình ảnh, từ đó xác định được khoảng cách và chiều sâu của một vật. Dựa trên cơ chế này, màn xyZ được trang bị các thấu kính lenticular nằm ở phía trước màn hình. Thấu kính này điều chỉnh vị trí hình ảnh ở mức từng điểm ảnh một, tạo ra các hình ảnh ở các góc độ khác nhau trước khi tới mắt người.

Màn hình hiện tại của hãng có khả năng phát tới 8 góc khác nhau, trong khi mắt người chỉ nhìn được 2 góc ở cùng một thời điểm. Với 8 góc này người xem có thể thay đổi hướng nhìn để có thể thấy được hiệu ứng 3 chiều rõ rệt hơn. Phần mềm xử lý cùng với giải thuật đặc biệt sẽ đảm bảo tất cả các điểm ảnh của màn hình sẽ hiển thị chính xác hiệu ứng 3D này.



Mô hình chiếu phim 3D từ phiên bản LCD này. Ảnh: Zerocreative.

Để nuôi hình ảnh 3D không cần đeo kính, màn 71 inch này chắc chắn sẽ làm các nhà bảo vệ môi trường phật ý bởi một giờ nó tiêu thụ mất tới một số điện (1 kW) thay vì xu hướng 50 Watt trên các màn thân thiện môi trường hiện nay.

Mức giá cho màn hình khủng này cũng không hề dễ chịu, lên tới 70.000 euro (khoảng 100.000 USD).

Theo Nguyễn Hà


Phim 3D được chiếu như thế nào

Kính xem hiện gồm hai màu đỏ và lục-lam (cyan) để khi kết hợp lại có thể có đủ cả 3 màu cơ bản, cho người xem tiếp nhận màu sắc của hình ảnh 3 chiều thật hơn.

Trước đây, khi xem phim 3 chiều, bạn phải đeo một cặp kính mắt màu đỏ, mắt màu lục. Ảnh: Wired.


Với sự ra mắt đình đám của bộ phim 3D Avatar, tạp chí Wired.com đã đến tận trụ sở của Dolby Laboratories tìm hiểu về lịch sử công nghệ chiếu phim 3D từ xưa cho tới thời điểm hiện tại.

Trước đây thông thường, để xem phim 3D, người ta thường phải mang một cặp kính với một mắt màu đỏ và một mắt màu lục. Phương pháp này vốn dựa trên một công nghệ hình nổi 3D cổ điển có từ những năm 1950. Ở hệ thống này, hình ảnh trên màn hình được chiếu bằng hai lớp màu khác nhau nhưng được chiếu sao cho hình ảnh chồng khít lên nhau. Khi người xem đeo kính vào, mỗi mắt sẽ nhìn thấy một hình ảnh riêng biệt, hình màu đỏ sẽ tới một mắt và hình màu lục sẽ tới mắt kia. Vỏ não phụ trách hình ảnh sẽ kết hợp hai khung nhìn này lại và tái hiện lại đối tượng thành 3 chiều.

Dù tạo được tiếng vang không nhỏ thời bấy giờ, cách tạo hình nổi này vẫn còn khá nhiều nhược điểm, như màu sắc trên phim rất hạn chế và lại rất khó nhận biết chi tiết trong các cảnh 3D. Thêm vào đó, hiện tượng bóng ma xảy ra do có những hình ảnh đáng lẽ phải xuất hiện ở mắt trái lại hiển thị sang mắt phải.

Kể cả màn hình cũng có vấn đề. Các rạp trình chiếu phim 3D bằng công nghệ hình nổi phải lắp đặt một màn bạc (silver screen) để đạt được khung cảnh lý tưởng bởi lẽ các màn có tính phản xạ sẽ giúp cho hai tín hiệu ánh sáng khác nhau tách biệt tốt hơn.

Nhưng rồi công nghệ phim 3D đã tiến được những bước dài. Hình ảnh nổi 3 chiều giờ đã được cải thiện: kính xem hiện tại thường gồm hai màu đỏ và lục-lam (cyan) sao cho khi kết hợp lại có thể có đủ cả 3 màu cơ bản, làm cho người xem tiếp nhận màu sắc của hình ảnh 3 chiều được thật hơn.



Bộ lọc sẽ chuyển ánh sáng phân cự tuyến tính thành phân cực tròn. Ảnh: Wired.

Các rạp theo công nghệ RealD, vốn là hệ thống chiếu phim 3D thông dụng nhất hiện giờ, sử dụng một bộ lọc phía trước máy chiếu để tạo ánh sáng phân cực tròn (circular polarization light) khi chiếu lên màn bạc. Về cơ bản, bộ lọc này sẽ lọc các ánh sáng phân cực tuyến tính thành ánh sáng phân cực tròn bằng quy trình làm chậm lại một thành phần (component) của điện trường. Khi các phần phương thẳng đứng và phương ngang của hình ảnh được chiếu lên màn bạc, bộ lọc sẽ làm chậm lại thành phần thẳng đứng khoảng một phần tư nhịp. Do bị chậm pha so với phương ngang nên hiệu ứng này sẽ tạo nên ánh sáng phân cực xoay tròn. Công nghệ này giúp não người tái hiện những hình ảnh 3D được tự nhiên và thật hơn. Ánh sáng phân cực tròn cũng loại bỏ được việc phải dùng tới hai máy chiếu để chiếu hai hình ảnh màu sắc tách biệt như công nghệ truyền thống. Màn bạc lúc này giữ vai trò duy trì sự phân cực của hình ảnh.

Hệ thống 3D của Dolby được sử dụng để chiếu phim Avatar lại khác biệt đôi chút. Hệ thống này sử dụng một bánh xe kính lọc đặt bên trong máy chiếu với một bóng có công suất cỡ 6,5 kW ở phía sau. Bánh xe gồm hai phần, mỗi phần sẽ lọc ánh sáng (cả ba màu đỏ, lục và lam) từ máy chiếu thành các bước sóng khác nhau. Để hình ảnh không bị hiệu ứng ngừng hình, bánh xe này quay với tốc độ khá nhanh, khoảng 3 vòng mỗi khung hình. Một kính chuyên dụng dùng để xem sẽ có các thấu kính thụ động, chỉ cho phép các sóng ánh sáng đi theo một hướng nhất định nào đó đi qua, từ đó tách riêng được các bước sóng đỏ, lục, lam cho mỗi mắt.



Công nghệ 3D sử dụng trong phim Avatar có thể chuyển từ cách thức chiếu 3D xuống 2D. Ảnh: Wired.

Lợi thế của hệ thống 3D Dolby nằm ở chỗ, công nghệ này không còn cần tới một màn bạc nữa do bánh xe tích hợp đã đủ khả năng tách màu và bóng đèn đủ cung cấp độ sáng cần thiết cho hình ảnh. Cơ chế này còn cho phép điều chỉnh máy chiếu để chuyển đổi cách thức chiếu phim từ 2D thông thường sang phim 3D và ngược lại dễ dàng hơn nhiều.

Duy chỉ có nhược điểm của phương pháp này là vẫn còn khá đắt đỏ. Một hệ thống chiếu phim 3D chuẩn Dolby sẽ mất tổng cộng khoảng 26.500 USD chưa bao gồm kính mắt. Còn riêng các cặp kính dùng để xem cũng có giá tới khoảng 27 USD một chiếc.

Nguyễn Hà

Pháp tiên phong mở dịch vụ khiêu dâm 3D theo yêu cầu

Công ty sản xuất truyền hình Marc Dorcel có trụ sở tại Paris đã chính thức ra mắt dịch vụ thuê bao video và các nội dung “người lớn” được thể hiện trong không gian 3D.

Read more...

Ở Sài Gòn hiện nay, công nghệ 3D đang trở thành ...

Trong công nghệ 3D phân cực, màn bạc (silver screen) là một màn chiếu cho máy chiếu có tính chất bề mặt là không khử cực ánh sáng (non-depolarization) đối với mọi vị trí và góc nhìn. Ánh sáng bị phân cực (sau khi qua tấm filter phân cực thứ nhất đặt trước máy chiếu) đập vào màn chiếu thường sẽ không giữ tính phân cực, còn màn chiếu bạc phải giữ hoàn toàn tính phân cực đó. Màn bạc là thành phần không thể thiếu đối với hệ thống chiếu 3D phân cực. Màn bạc được chế tạo khá công phu, do đó màn bạc nhập khẩu của nước ngoài có giá rất cao
Từ một màn chiếu Trung Quốc 200 USD, giới hâm mộ HD, 3D đã mày mò nghiên cứu để xây dựng thành màn chiếu bạc xem phim 3 chiều có chất lượng gần tương đương như một sản phẩm xịn giá 10.000 USD.

Read more...

Máy ảnh 3D 4 ống kính

(NDHMoney) Nhà sản xuất máy ảnh của Đức - Minox giới thiệu mẫu máy ảnh mini PX3D có thể chụp ảnh 3D với 4 ống kính tại triển lãm Photokina. Người sử dụng loại máy này có thể xem ảnh 3D mà không cần kính.


Minox không đi tiên phong trong việc sử dụng tới 4 ống kính để tạo hiệu ứng 3D nhưng đây là hãng đầu tiên đặt các ống kính nằm theo chiều dọc.

PX3D có cảm biến ảnh 5-megapixel với các ống kính đều có tiêu cự 9mm, khi chụp ảnh tất cả các ống kính sẽ cùng thu hình 1 lúc. Hiện tại loại máy này chưa có khả năng zoom và quay video.

Theo Minox, những người sử dụng PX3D sẽ có quyền lựa chọn bức ảnh nào sẽ được sử dụng sau cùng trong 4 bức ảnh chụp được hoặc kết hợp chúng thành ảnh 3D. Ngoài ra người sử dụng còn có thể thử kết hợp ảnh theo các cách khác trong quá trình xem lại ảnh.

Mỗi một bức ảnh có thể đặt chế độ mở riêng và điểm bắt nét - một chức năng rất tiện dụng cho những người thích chơi ảnh HDR và mỗi bức ảnh (riêng lẻ) có thể lưu lại thành ảnh JPEG hoặc kết hợp lại thành 1 bức ảnh chung như ý muốn.

Những bức ảnh 3D sẽ được lưu trữ theo dạng AVI và hệ thống sẽ cho phép người sử dụng xem ảnh mà không cần đến kính phân cực. Tuy nhiên, Minox vẫn chưa giải thích rõ cụ thể cơ chế hoạt động của hệ thống mà chỉ thông báo đơn giản là mọi loại PC thông thường đều có thể chạy những bức ảnh 3D của họ.

PX3D được phát triển dựa trên liên kết của Minox với 3D-Competence - một hãng chuyên về ô tô và sử dụng các kỹ thuật trong ngành này cho các ứng dụng về ảnh. Hiện tại, PX3D vẫn ở trong giai đoạn thử nghiệm. Theo Minox, sản phẩm sẽ có mặt trên thị trường vào hè năm 2011 với mức giá khoảng 682 USD (khoảng 13,4 triệu đồng).



CES 2010: Light Touch - máy chiếu laser thế hệ mới

Nguyên tắc 3D

Các hãng Nhật đua nhau làm màn hình 3D di động

Giới hạn ở loại màn hình 3D không sử dụng kính là việc chúng có góc xem hạn chế, thường là quá nhỏ hoặc phụ thuộc vào vị trí "điểm ngọt", nơi người xem có thể thấy được hình ảnh ba chiều rõ nét nhất.

Mới đây, tại Nhật, sau Sharp và Hitachi, đến lượt Toshiba trình diễn mẫu màn hình 3D không cần sử dụng đến kính đeo chuyên dụng. Sản phẩm mẫu của Toshiba có kích thước 21 inch, cho phép hiển thị hình ảnh 3 chiều trực tiếp thông qua công nghệ tấm chắn phân quang đặt trực tiếp phía trên màn hình.



Màn hình 3D không dùng kính của Toshiba sử dụng công nghệ tấm chắn phân quang. Ảnh: Engadget.

Theo lời giới thiệu của Toshiba, màn hình 3D của hãng có khả năng hiển thị hình ảnh 3D rõ nét với góc nhìn rộng nhờ vào hệ thống 9 tấm phân quang riêng biệt được sắp xếp tạo để tạo nên hình ảnh 3D độ nét cao. Thử nghiệm sản phẩm, người xem có cảm giác hoàn toàn thoải mái và không hề cảm thấy mỏi mắt khi xem các hình ảnh ba chiều ở trong góc nhìn rộng 30 độ phía trước màn ảnh.

Ngoài ra, mẫu màn hình 3D 21 inch này còn sở hữu màn hình phân giải 1.280 x 800 pixel, có độ sáng 480 cd mỗi m2 giúp tối ưu việc trình diễn hình ảnh ba chiều.

Akihabara News tiết lộ thêm, hiện tại màn hình 3D 21 inch mà Toshiba vừa giới thiệu chỉ là sản phẩm mẫu ở dạng thô, chưa hoàn thiện. Nhưng đây có thể là mẫu màn hình sẽ được sử dụng ở các sản phẩm thương mại của Toshiba, như TV, màn hình máy tính... được hãng phát hành trong tương lai.

Tuấn Anh

Hàng 'độc' điện thoại 3D tại triển lãm VN Telecomp 2010

Điện thoại 3D không cần kính được nhà mạng DoCoMo, Nhật Bản, phân phối và giới thiệu là điện thoại 3D không cần kính đầu tiên trên thế giới.



Giá bán của chiếc điện thoại này được giới thiệu là không quá 15 triệu đồng. Phía trước máy với các phím bấm. Màn hình sử dụng là màn hình 3,8 inch, cảm ứng.

Hàng 'độc' điện thoại 3D tại triển lãm VN Telecomp 2010

Điện thoại 3D không cần kính được nhà mạng DoCoMo, Nhật Bản, phân phối và giới thiệu là điện thoại 3D không cần kính đầu tiên trên thế giới.

Sony trình diễn màn hình 3D không cần kính phân cực

Tại hội nghị Siggraph diễn ra cuối tháng 7/2010, Sony dự định trình diễn màn hình 3D 360 độ.
Tuy rằng còn rất lâu mới có thể đưa vào sản xuất hàng loạt, công nghệ màn hình 3D này của Sony chắc chắn sẽ tạo ra sự chú ý đặc biệt của công chúng. Màn hình 360 độ autostereoscopic của Sony cho phép hiển thị hình ảnh của đối tượng từ mọi góc nhìn như là quan sát một đối tượng thực trong không gian.



Màn hình 3D 360 độ autostereoscopic hiển thị hình ảnh giống như vật thể thực.
Sony sử dụng một nguồn sáng LED đặc biệt để tạo ra hình ảnh 360 độ độc đáo tới mọi hướng nhìn ứng với mỗi góc. Người xem có thể cảm nhận được chiều sâu của hình ảnh do mắt trái và phải nhìn từ hai góc khác nhau và thấy hai hình ảnh khác nhau.

Điểm tuyệt vời nhất là loại màn hình này không cần dùng tới kính 3D. Nếu bạn có đeo kính cận hay viễn, bạn sẽ không phải vất vả đeo cặp kính lọc 3D như khi đi xem phim 3D hiện nay.



Màn hình này còn cung cấp các tính năng tương tác người xem dựa trên các cảm biến hành vi.
Màn hình 360 độ có một cổng vào video kỹ thuật số để kết nối với máy tính hoặc các thiết bị khác. Khi dữ liệu video được truyền tới màn hình, các đối tượng không gian sẽ xuất hiện bên trong hình trụ. Nếu các hình ảnh 360 độ này được tạo ra liên tục bởi card đồ họa, chúng ta sẽ có một bộ phim 3D với góc nhìn 360 độ hoàn hảo. Màn hình này cũng được trang bị một cảm biến hành vi, mang lại cho người xem khả năng điều khiển tương tác với đối tượng hình ảnh bên trong thông qua các chuyển động của tay.

Đây là hệ thống hiển thị 3D đầu tiên hỗ trợ các hình ảnh 3D chất lượng cao từ góc nhìn 360 độ, hỗ trợ 24 bit màu, thiết kế nhỏ ngọn cùng với giao diện kỹ thuật số và khả năng tương tác chuyển động.

Loại màn hình này mang lại rất nhiều ứng dụng tiềm năng như giải trí, tạo hình 3D chuyên nghiệp, biển báo kỹ thuật số, màn hình tại các bảo tàng, các trò chơi video và công nghệ truyền thông 3D... Tuy nhiên, một màn hình 3D 360 độ yêu cầu có một bộ vi xử lý hình ảnh siêu mạnh để xử lý và xuất ra các tín hiệu hỗ trợ hiển thị hình ảnh 3D toàn góc nhìn.

Laptop 3D không cần kính của Toshiba

Sau khi trình làng 2 mẫu TV 3D không cần kính, hãng điện tử Nhật Bản tiếp tục giới thiệu máy tính xách tay tích hợp màn hình đặc biệt cho phép trải nghiệm hình ảnh ba chiều không cần sự hỗ trợ của phụ kiện.


Người dùng có thể điều chỉnh một phần đặc biệt trên màn hình để trình chiếu ảnh 3D còn những vị trí khác hiển thị 2D như bình thường.


Mẫu laptop 3D không cần kính của Toshiba. Ảnh: itmedia.

Dự kiến laptop 3D của Toshiba được bán ra dưới nhãn hiệu Dynabook, màn hình 12 inch. Theo các chuyên gia, giá của máy tính xách tay 3D này đắt không thua kém gì TV 3D không cần kính (từ 1.500 USD trở lên).

Toshiba hứa hẹn sẽ tung sản phẩm ra thị trường vào năm sau

TV 3D không cần kính của Toshiba

Hãng điện tử Nhật Bản giới thiệu 2 model TV GL1 cỡ 12 và 20 inch, cho phép người xem trải nghiệm hình ảnh 3 chiều mà không cần sự hỗ trợ của phụ kiện.



Sản phẩm 12GL1 cỡ 12 inch, độ phân giải 466 x 350 pixel và có giá khoảng 1.443 USD.

Ảnh TV 3D 12GL1
.

Còn model 20GL1 cỡ 20 inch sử dụng độ phân giải 720p (1.280 x 720 pixel) với mức giá 2.885 USD..

Toshiba 20GL1.

Dự kiến, cả 2 mẫu TV 3D này sẽ được xuất xưởng vào tháng 12 tới.

Cũng liên quan đến Toshiba, trang Nikkei BP dựa theo nguồn đáng tin cậy, khẳng định công ty điện tử Nhật Bản đã ngừng phát triển công nghệ OLED và tập trung sang mảng LCD. Phần lớn nhân viên đang làm việc cho nhà máy công nghệ OLED sẽ chuyển sang bên LCD. Nguyên nhân của hành động này được cho là do OLED vẫn chưa thực sự phổ biến và giá thành sản xuất vẫn quá tốn kém.

Nguyễn Hùng[/ALIGN]

Hội thảo công nghệ làm phim 3D tại VN


Hội thảo công nghệ làm phim 3D tại VN

Với sự tham gia của nhà quay phim người Mỹ Barry Braverman, cuộc hội thảo sẽ giới thiệu với các nhà làm phim VN về kiến thức sản xuất phim 3D kỹ thuật số, đồng thời ra mắt máy quay phim phim 3D Full HD AG-3DA1.> 10 phim truyện tranh giải tại LHP Quốc tế VN/ 6 bộ phim Pháp trình chiếu tại LHP Quốc tế VN

Nằm trong khuôn khổ LHP Quốc tế VN lần thứ I diễn ra tại thủ đô Hà Nội, Hội thảo công nghệ làm phim 3D do nhà sản xuất camera truyền hình chuyên dụng Panasonic Systems Asia Pacific tổ chức sẽ diễn ra tại Phòng Gương - Nhà Hát Lớn Hà Nội từ 10h30 - 12h30 vào ngày 17/10.

Nhà quay phim Barry Braverman - một chuyên gia về Digital Media có hơn 30 năm kinh nghiệm làm phim tài liệu và phim truyện - tham gia cuộc hội thảo và giới thiệu về quy trình làm phim 3D tại VN, để các nhà làm phim của nước nhà có thể vững bước vào thời đại làm phim 3D kỹ thuật số trong tương lai gần.

Barry Braverman đã làm việc cho rất nhiều kênh truyền hình nổi tiếng như National Geographic, ABC News, HBO, Discovery và History Channels. Ông cũng từng thực hiện video ca nhạc cho hai nghệ sĩ nổi tiếng Stevie Wonder và Yanni.

Thông qua cuộc hội thảo, Barry bày tỏ mong muốn đưa công nghệ 3D đến gần hơn với các nhà làm phim VN bởi đây đang là xu hướng phát triển của điện ảnh thế giới. Tuy nhiên, độ phức tạp và chi phí cao khi làm 3D hiện nay vẫn khiến các nhà làm phim còn e ngại.

Tại cuộc hội thảo, chiếc máy quay phim 3D Full HD có hình dáng gọn nhẹ -Panasonic AG-3DA1 - dành cho giới chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới cũng sẽ được giới thiệu tại VN. Khách mời tham dự hội thảo cũng sẽ được tận mắt xem hình 3D quay trực tiếp từ chiếc máy này trên màn hình lớn 120 inch.

Khán giả VN mới thực sự được tiếp cận công nghệ 3D trong gần một năm trở lại đây, thông qua siêu bom tấn Avatar của đạo diễn James Cameron và sự xuất hiện của DVD, TV 3D. Tuy nhiên, công nghệ ba chiều đã tạo được chỗ đứng riêng của nó và liên tục phát triển, trở thành một phần không thể thiếu đối với nhu cầu nghe, nhìn của con người.

LHP Quốc tế VN lần thứ I diễn ra từ 17 đến 21/10 tại thủ đô Hà Nội. Ngoài cuộc hội thảo công nghệ làm phim 3D tại VN ngày 17/10, Ban tổ chức còn thực hiện nhiều cuộc tọa đàm khác dành cho các nhà làm phim trẻ của VN.

Hội thảo công nghệ Canon - Giải pháp giảm tối đa kinh phí cho phim độc lập, diễn đàn Giải pháp tăng cường sản xuất phim VN cũng sẽ diễn ra tại Nhà Hát Lớn Hà Nội vào sáng và chiều ngày 18/10.

Tọa đàm VN - môi trường hấp dẫn sản xuất phim tổ chức vào chiều ngày 19/10. Cuộc tọa đàm Chủ đề xây dựng nền công nghiệp điện ảnh VN tổ chức chiều 20/10 sẽ khép lại các cuộc hội thảo công nghệ và tọa đàm của LHP Quốc tế VN lần thứ I.

Nguyên Minh



Tạo tranh 3D trên phố nhằm tránh tai nạn giao thông

Tạo tranh 3D trên phố nhằm tránh tai nạn giao thông

Trên một con đường ở thành phố Vancouver (Canada), người điều khiển ô tô không dám đi nhanh vì xuất hiện một cô bé đang chơi bóng.

Tuy nhiên, đó chính là ảnh được tạo từ nghệ thuật 3D trên phố. Đoạn đường này gần trường học và thường xảy ra tai nạn do tài xế lái xe quá tốc độ.
Video "em bé 3D" chơi bóng ngoài đường. Ảnh: Preventable.ca

Hình ảnh cô bé hiện dần ra từ khoảng cách 30 m và người điều khiển phương tiện có đủ thời gian để giảm tốc độ.


Công nghệ 3D chạm đến mốc độ nét cao



TT- – TTO - Các nhà nghiên cứu của Đức và Thụy Sĩ đã phát triển thành công công nghệ 3D mới dành cho gia đình có khả năng cung cấp một hình ảnh với chất lượng cao trên màn hình hiển thị.

Thông qua dự án Eureka, các nhà khoa học tại Infitec đã phát triển một màn hình phẳng LCD 3D có khả năng cung cấp chất lượng hình ảnh hiển thị Full HD.

Trước đó, Infitec đã tạo ra một công nghệ mới dựa trên các nguyên tắc cũ của kính màu đỏ và màu xanh lá cây (kính phân cực). Phiên bản mới của công ty sử dụng một dải hẹp làn sóng màu để nâng cao chất lượng của hình ảnh, bằng cách sử dụng bước sóng cụ thể của màu đỏ, xanh lá cây và màu xanh dương cho mắt phải và bước sóng khác nhau của cùng một màu cho mắt trái

Infitec đã hợp tác với công ty chuyên về bộ lọc 3D của Thụy Sĩ có tên Optics Balzers kết hợp bốn màu phát sáng đèn diode (LED) gồm hai màu xanh lá cây, một đỏ và một màu xanh dương để tạo ra màu sắc mà họ cần.

Thử nghiệm trên màn hình Dualplex Display có kích thước hiển thị 23-inch thì việc gây căng thẳng trên đôi mắt của người xem thấp hơn nhiều so với các công nghệ 3D khác. Các kính không tối đen và ánh sáng xung quanh màn hình có thể được xem từ mọi góc độ mà không làm lệch đi hình ảnh 3D.

Arnold Simon, giám đốc kỹ thuật của Infitec cho biết: “Người xem có thể nằm trên ghế Sofa để xem truyền hình hoặc họ có thể lần lượt đứng ở bất cứ góc độ nào để xem mà hình ảnh không thay đổi”.

Các đối tác đã tiến hành đăng ký việc cấp bằng sáng chế công nghệ màn hình mới của mình ở Đức và đang trong quá trình đăng ký bằng sáng chế cho các nước khác.

Mục tiêu cuối cùng của nhóm là bán màn hình LCD 3D ở chất lượng HD cho người tiêu dùng bình thường, nhưng bước đầu các đối tác này nghĩ rằng họ sẽ tiếp cận đến các mục tiêu là thị trường màn hình chuyên nghiệp cũng như hỗ trợ cho các chuyên gia y tế. Đặc biệt, việc sử dụng hình ảnh 3D có thể giúp bác sĩ phẫu thuật tốt nhất.

QUỐC TRUNG (Theo TGDaily)

Bàn phím, chuột bằng tre

(TNTT&GT) Trung Quốc đang tìm kiếm giải pháp thân thiện với môi trường hơn nhằm thay thế bàn phím và chuột bằng nhựa. Và họ đã “dừng chân” ở tre.

Theo Công ty Công nghệ tre Giang Tây, nhà sản xuất bàn phím và chuột bằng tre duy nhất ở Trung Quốc, cho biết việc sản xuất bàn phím và chuột bằng tre bắt đầu vào năm 2008, chủ yếu được xuất sang các thị trường nước ngoài. Tại Mỹ và châu Âu, các sản phẩm này bán rất chạy.

Bắt đầu từ đầu năm 2009, những cửa hàng nhượng quyền được mở tại các thành phố Thượng Hải và Ninh Ba, và người Trung Quốc bắt đầu ưa chuộng bàn phím và chuột bằng tre. Thật thú vị khi nhìn thấy một trong những nước gây ô nhiễm nhất thế giới thực hiện các bước đi, dù nhỏ, hướng đến việc bảo vệ môi trường.

Khang Huy

Theo Thanh niên

Bài 3

3.4.3. Cầu não

a/. Đặc điểm cấu tạo



Cầu não nằm trên hành tuỷ, ngăn cách với hành tuỷ bởi rãnh hành - cầu. Cấu tạo gồm hai phần: phần nền và phần mái. Phần nền nằm phía trước do các bó tháp tạo nên. Phần mái nằm phía sau do các đường dẫn truyền lên, xuống từ hành tuỷ tạo nên đáy não thất IV.

Tại đây có các đôi dây thần kinh não số V, VI, VII, VIII (V: sinh ba; VI: vận nhỡn ngoài; VII: thần kinh mặt; VIII: thính giác). Phần ống giữa tủy ở cầu não và hành não phình rộng ra tạo nên não thất IV chứa dịch não tuỷ.

Cũng như hành tuỷ, trong cầu não có một số nơron tập trung lại thành các trung khu điều khiển, điều hòa một số hoạt động quan trọng như trung khu ức chế hô hấp ở cầu não, trung khu thần kinh vận mạch, trung khu ăn uống, trung khu nôn, trung khu tiết mồ hôi, trung.khu tiết nước mắt, trung khu hắt hơi, trung.khu hô hấp, trung khu nhấp nháy mắt.

b/. Chức năng cầu não

Cũng như hành tuỷ, cầu não cũng thực hiện các chức năng phản xạ và chức năng dẫn truyền. Chức năng phản xạ do các trung khu đảm nhiệm. Chức năng dẫn truyền do các dải băng cảm giác đi lên, dẫn truyền các cảm giác sâu và nông có ý thức.

3.4.4. Tiểu não

a/. Đặc điểm cấu tạo

Tiểu não là một cấu trúc lớn nằm sau cầu não và hành tuỷ, bị thùy chẩm của bán cầu đại não che khuất. Tiểu não được phát triển mạnh ở động vật có vú và chim.

Tiểu não có ba thùy: một thùy giun ở giữa và hai bán cầu tiểu não ở hai bên. Bán cầu tiểu não được phát triển cùng với sự phát triển của bán cầu đại não và chỉ có ở động vật có vú. Tiểu não cũng do hai phần: chất xám và chất trắng tạo nên.

+ Phần chất xám: Khác với tủy sống và hành tủy, chất xám ở tiểu não được phân bố ở bề mặt ngoài các bán cầu tiểu não, tạo thành lớp vỏ dày 1 - 2,5 cm. Các khe, các rãnh trên bề mặt ăn sâu vào trong chia vỏ tiểu não thành các thùy các hồi. Mỗi thùy chi phối sự hoạt động một phần cơ thể. Vỏ bán cầu tiểu não gồm nhiều nơron, tập hợp thành 3 lớp tế bào thần kinh cơ bản: ngoài là lớp tế bào phân tử, tiếp đến là lớp tế bào Purkinjơ và trong cùng là lớp tế bào hạt. Cấu tạo đặc biệt của vỏ tiểu não chủ yếu do lớp tế bào Purkinjơ tạo nên. Sợi nhánh của các nơron trong lớp Purkinjơ có nhiều nhánh phụ hướng ra bề mặt tiểu não, còn sợi trục của chúng lại hướng vào phía chất trắng bên trong.

+ Chất trắng: Nằm dưới vỏ chất xám. Các chất trắng trong tiểu não cũng làm thành các đường dẫn truyền từ các phần khác nhau của thần kinh trung ương đến tiểu não. Bên trong chất trắng của tiểu não có tập hợp một số nơron, tạo thành 4 đôi nhân, đó là nhân mái (nhân vòm), nhân cầu, nhân hộp (nhân nút chai) và nhân răng.

b/. Chức năng tiểu não

Tiểu não có nhiệm vụ phối hợp các hoạt động phức tạp. Cụ thể là :

- Kiểm soát và điều hoà các hoạt động không tuỳ ý (như trương lực cơ, sự phối hợp các động tác và duy trì tư thế thăng bằng trong không gian.

- Kiểm soát và điều khiển các vận động tuỳ ý. Nếu tiểu não bị tổn thương, có thể dẫn đến sự rối loạn các vận động tuỳ ý như sai hướng, sai sầm, giảm trương lực cơ, các động tác tuỳ ý thiếu chính xác, vụng về, đi lảo đảo.

- Phối hợp với đại não trong việc điều khiển các chức năng sinh lí của hệ thần kinh thực vật như chức năng dinh dưỡng, hoạt động tim mạch, thân nhiệt, tiêu hoá, hô hấp…

Bài 4

3.4.6. Não trung gian

a/. Đặc điểm cấu tạo



Não trung gian nằm khuất giữa 2 bán cầu đại não. Cấu tạo gồm 4 phần: gò thị, vùng dưới gò, vùng trên gò, vùng ngoài gò. Bên trong có não thất III thông với cống Sylvius.

+ Gò thị (hay đồi thị = hypothalamus). Gồm một đôi chất xám hình bầu dục lớn nối với nhau bằng mép xám. Gò thị là trung khu cảm giác quan trọng dưới vỏ não. Nó vừa điều hòa các phản xạ dinh dưỡng vừa tham gia hình thành các phản xạ không điều kiện (PXCĐK).

+ Vùng dưới gò. Gồm hai phần: phần trước và phần sau. Phần trước có củ xám - là trung khu dinh dưỡng, có ảnh hưởng lên sự trao đổi chất và điều hòa thân nhiệt. Củ xám có đôi dây thần kinh thị giác (dây thần kinh não số II) tạo nên chéo thị giác. Phần sau có hai củ núm vú - là trung khu khứu giác dưới võ não.

b/. Chức năng não trung gian

+ Vùng đồi thị là trung tâm thu nhận, xử lí các chuyển giao thông tin cảm giác lên vỏ não. Các nơ ron của não trung gian có vai trò quan trọng trong việc hình thành các động tác mới và kĩ xảo vận động, tham gia hình thành các phản xạ có điều kiện. Đồi thị là trung tâm của các cảm giác nông và sâu có ý thức. Khi đồi thị bị tổn thương, một va chạm nhẹ lên da cũng đủ gây cảm giác đau đớn.

+ Vùng dưới đồi là trung khu dưới vỏ cao cấp nhất. Nó điều khiển các chức năng dinh dưỡng, chức năng nội tiết (đặc biệt là sự hoạt động của tuyến yên); điều tiết hành vi dinh dưỡng và sinh dục, điều hoà tim mạch, hô hấp và trạng thái thức, ngủ.

Ngoài ra, vùng dưới đồi còn đảm nhận chức năng điều hoà thân nhiệt. Tất cả các cơ chế điều hoà thân nhiệt như thoát mồ hôi qua da, qua hơi thở, sự co giãn mạch máu ở da…đều do vùng dưới đồi đảm nhận. Một trong những hiện tượng thể hiện vai trò điều hoà thân nhiệt là hiện tượng rùng mình. Rùng mình là kết quả hoạt động tổng hợp của các nhóm nhân dưới đồi kết hợp với một số nhân dưới vỏ khác.

Chức năng điều tiết hành vi dinh dưỡng và sinh dục cũng là một trong số các chức năng của vùng dưới đồi. Rất nhiều phản xạ có liên quan đến các chức năng phức tạp của cơ thể nhằm thoả mãn các nhu cầu như đói, khát, cũng như các nhu cầu đòi hỏi về mặt tình dục … cũng liên quan đến hoạt động của vùng dưới đồi..

Cấu tạo não (tại sao tôi lại sưu tầm về não chẳng qua thật muốn hiểu sâu sắc về 3d)

3.4.7. Đại não và các dây thần kinh não

a/. Đặc điểm cấu tạo đại não

a/. Đặc điểm cấu tạo đại não

a.1 Cấu tạo ngoài

Đại não là phần não cùng, được phát triển mạnh nhất, chiếm toàn bộ khối lượng và thể tích não bộ.

Đại não gồm 2 nửa trái, phải đối xứng qua rãnh liên bán cầu với 3 mặt : mặt trên, mặt dưới, mặt trong. Trên bề mặt đại não có các khe, các rãnh ăn sâu vào trong chia bề mặt đại não thành các thuỳ, các hồi não.

Mặt trên có 3 khe là khe Sylvius (khe bên); khe Rolando (khe giữa); khe thẳng góc ngoài (khe đỉnh thẩm), chia mặt ngoài thành 4 thùy: thùy trán, thùy đỉnh, thùy chẩm, thùy thái dương. Mỗi thùy lại có các rãnh chia các thùy thành các hồi não. Cụ thể là:

- Thùy trán: Có 4 hồi não: hồi não trán lên, HNT1, HNT2, HNT3.

- Thùy đỉnh: Có 2 rãnh chia thành 3 hồi: hồi đỉnh lên; HĐ1 và HĐ2.

- Thùy chẩm: Có 3 hồi: hồi chẩm1, HC2, HC3.

- Thùy thái dương: Có 3 hồi: hồi thái dương1, HTD2, HTD3

Mặt trong có 3 khe: khe dưới trán, khe thẳng góc trong, khe cựa. Ba khe này chia BCĐN thành 5 thùy: thùy vuông, thùy viền, thùy chêm, thùy thái dương.

Mặt dưới có 2 khe là khe Bisa, khe sylvius, chia mặt dưới thành 2 thùy: thùy ổ mắt (ở phía trước) và
thùy thái dương - chẩm (ở phía sau).


a.2. Cấu tạo trong

Bổ dọc đại não, quan sát thấy có 2 phần: phần chất xám và phần chất trắng. Ngoài ra bên trong có não thất bên (gồm não thất I và não thất II)

+ Phần chất xám. Phân bố tập trung ở phần vỏ bán cầu đại não. Phần còn lại là các nhân nền như nhân đuôi, nhân bèo, nhân trước tường và thể hạnh nhân. Trong đó nhân đuôi và nhân bèo là trung khu dưới vỏ cao nhất, điều hòa nhiệt và các chức năng dinh dưỡng khác.

Vỏ bán cầu đại não có 14 – 17 tỉ nơron với hình dạng, kích thước, mật độ và hướng đi khác nhau, làm thành lớp vỏ BCĐN với độ dày mỏng khác nhau, trung bình 2 – 3 mm, gồm 6 lớp nơ ron:

- Lớp bề mặt ngoài: ít nơ ron.

- Lớp hạt ngoài: gồm những nơ ron hình hạt, hình tháp nhỏ.

- Lớp nơ ron hình tháp: gồm các nơ ron hình tháp.

- Lớp hạt trong: gồm các nơ ron hình sao nhỏ.

- Lớp nơ ron hạch: gồm các nơ ron có đột trục dài đi ra tận miền ngoài.

- Lớp nơ ron đa hình: Gồm các nơ ron hình tháp, hình thoi.

Các nơron ở các lớp 1, 2, 3, 4 có nhiệm vụ liên lạc giữa các đường hướng tâm từ các phần dưới của hệ thần kinh lên các vùng khác nhau của vỏ não.

Các nơron ở các lớp 5, 6 có nhiệm vụ dẫn truyền các xung thần kinh theo sợi li tâm đến các nhân ở não và tủy sống.

+ Phần chất trắng: nằm dưới chất xám tạo thành khối dày đặc, bao gồm hệ thống các sợi liên hợp cùng bên, các sợi liên bán cầu, các sợi dẫn truyền li tâm và hướng tâm. Trong đó hệ thống liên bán cầu là lớn nhất, tạo thành thể chai. Phía dưới thể chai có một bó sợi chất trắng khác là tam giác não. Các sợi trong chất trắng có nhiệm vụ khác nhau:

- Sợi liên hợp cùng bên : nối các phần của vỏ cùng một bên bán cầu.

- Các sợi liên bán cầu: Nối hai phần đối xứng của bán cầu đại não, trong đó thể chai là bó sợi lớn nhất.

- Các sợi dẫn truyền li tâm: Là những sợi đi ra khỏi giới hạn của bán cầu đại não, làm nhiệm vụ liên hệ hai chiều giữa vỏ não với các phần dưới của thần kinh trung ương

+ Não thất bên: là 2 khe hẹp nằm trong khối chất trắng của 2 bán cầu đại não gọi là não thất I và não thất II. Nó thông với não thất III của não trung gian, trong chứa đầy chất dịch (dịch não tuỷ)

b/. Chức năng của đại não

Vỏ đại não là trung khu của cảm giác và vận động có ý thức, trung khu của trí nhớ, của trí khôn và khả năng tư duy.

Với 6 lớp nơ ron, phân thành 52 vùng (trung khu) chức năng, mỗi vùng đảm nhận một chức phận nhất định. Các vùng này được phân thành 2 loại vùng: vùng cảm giác và vùng vận động.

+ Vùng cảm giác: tiếp nhận các xung động từ cơ quan thụ cảm của cơ thể, gồm một số vùng quan trọng sau:
- Vùng cảm giác thi giác nằm ở thuỳ chẩm, có nhiệm vụ tiếp nhận xung động từ cơ quan thụ cảm thị giác, cho ta cảm giác ánh sáng và nhìn thấy được vật

- Vùng cảm giác thính giác, nằm ở thuỳ thái dương, có nhiệm vụ tiếp nhận xung động từ cơ quan thụ cảm thính giác, cho ta cảm giác về âm thanh, tiếng động

- Vùng cảm giác khứu giác, nằm ở thuỳ thái dương, có nhiệm vụ tiếp nhận xung động từ cơ quan thụ cảm khứu giác, cho ta cảm giác về mùi.

- Vùng cảm giác vị giác, nằm ở hồi đỉnh lên, có nhiệm vụ tiếp nhận xung động từ cơ quan thụ cảm xúc giác, cho ta cảm giác đau, nóng lạnh, cảm giác bản thể.

+ Vùng vận động bao gồm:

- Vùng vận động tuỳ ý, nằm ở hồi trán lên, chi phối vận động theo ý muốn của nửa thân đôi diện

- Vùng tiền vận động, nằm ở thuỳ trán bên, chi phối vận động không ý muốn (vận động không tuỳ ý)

- Vùng hiểu tiếng nói, nằm ở thuỳ thái dương trái (đối với người thuận tay phải), hoặc nằm ở thuỳ thái dương phải (đối với người thận tay trái). Ngoài ra thuỳ thái dương còn liên quan đến chức năng nhớ và với các giấc mơ

- Vùng hiểu chữ viết, nằm ở thuỳ chẩm

- Vùng vận động nói và vận động viết, nằm ở thuỳ trán lên, giúp ta vận động nói và vận động viết
c/. Các dây thần kinh não

Gồm 12 đôi dây xuất phát từ mặt dưới của bộ não (trừ đôi số 4 xuất phát từ mặt lưng của não giữa). Các dây thần kinh não có 3 loại: dây thần kinh vận động, dây thần kinh cảm giác và dây thần kinh pha.

+ Đôi số I (dây thần kinh cảm giác khứu giác), bắt nguồn từ các nơ ron khứu giác của niêm mạc mũi. Các nhánh trong của nơron khứu giác kéo dài ra tạo thành sợi thần kinh khứu giác. Các sợi này liên kết với nhau rồi chui qua xương sàng để vào xoang sọ.

+ Đôi số II (dây thần kinh cảm giác thị giác), bắt nguồn từ các tế bào hạch của võng mạc. Sợi trục của các nơ ron này tạo thành dây thần kinh thị giác và được coi là bó thị giác. Một phần sợi thần kinh của bó thị giác sẽ bắt chéo nhau để tạo thành chéo thị giác tại não giữa. Sau khi bắt chéo, toàn bộ các sợi thần kinh thị giác sẽ tới thể gối của vùng đồi thị. Một phần sợi thần kinh của bó thị giác kết thúc tại 2 củ não sinh tư để tham gia thực hiện các phạn xạ vận động thị giác

+ Đôi số III (dây thần kinh vận nhãn chung), là một dây pha, có nhân nằm trong não giữa. Các sợi hướng tâm của nó xuất phát từ các cơ quan thụ cảm của mắt. Các sợi li tâm của nó điều tiết hoạt động của cơ nhãn cầu, chuyển động của con ngươi, của các mi mắt.

+ Đôi số IV (dây thần kinh cảm động), là một dây pha. Các sợi li tâm điều tiết vận động cơ cầu mắt. Các sợi hướng tâm cũng xuất phát từ các bộ phận thu cảm của cơ cầu mắt (cơ chéo trên)

+ Đôi số V (dây thần kinh sinh ba hay tam thoa), là một dây pha, có nhiều nhóm nhân nằm từ não giữa tới hành tuỷ. Các sợi vận động của đôi dây thần kinh này bắt nguồn từ nhân vận động nằm trong cầu não. Các sợi cảm giác của đôi dây thần kinh này là rễ của các nơ ron giả đơn cực trong hạch Gaxeri. Từ hạch này sẽ cho ra 3 nhóm sợi thần kinh cơ bản của dây thần kinh tam thoa là: Nhóm sợi thần kinh thuộc nhánh thị giác điều tiết hoạt động cảm giác của nhãn cầu, mi mắt; Nhóm sợi tạo thành thần kinh hàm trên, gồm nhiều nhánh nhỏ, điều tiết cảm giác của răng hàm trên, niêm mạc và vùng da môi trên, da mi dưới, xoang hàm; Nhóm sợi tạo thành thần kinh hàm dưới là một dây pha có sợi vận động và cảm giác điều tiết hoạt động các cơ vòm họng, cơ dưới hàm, cơ dưới lưỡi.

+ Đôi số VI (dây vận nhãn ngoài), là một dây pha, có nhân nằm trong cầu não. Các sợi vận động của dây thần kinh này điều tiết cơ thẳng bên của mắt. Các sợi cảm giác cũng xuất phát từ các bộ phận thụ cảm của cơ này.

+ Đôi số VII (dây thần kinh mặt), là một dây pha, bao gồm sợi cảm giác, sợi vận động và sợi đối giao cảm. Nhân của đôi dây thần kinh số VII có các nhánh cảm giác để điều tiết hoạt động của tuyến nước bọt, đảm bảo cảm giác vị giác cho nửa ngoài của lưỡi; các nhánh vận động chi phối sự hoạt động của các cơ mặt…

+ Đôi số VIII (dây thần kinh cảm giác thính giác), gồm 2 nhánh: nhánh ốc tai và nhánh tiền đình, giúp tiếp nhận cảm giác âm thanh và thăng bằng

+ Đôi số IX (dây thần kinh lưỡi hầu), là một dây pha, gồm các sợi hướng tâm tiếp nhận các thông tin cảm giác từ lưỡi. Các sợi li tâm điều tiết hoạt động cơ trâm - móng, của tuyến mang tai.

+ Đôi số X (dây thần kinh phế vị hay dây thần kinh mê tẩu), là một dây pha, gồm các sợi cảm giác, sợi vận động và sợi đối giao cảm có nhân nằm trong hành tuỷ, có nhiệm vụ điều tiết hoạt động của cơ thanh quản, cơ vòm, thực quản, tim, động mạch chủ, phổi và các tạng trong khoang bụng

+ Đôi số XI (dây thần kinh gai sống cổ), là dây thần kinh vận động, chi phối sự hoạt động của các cơ vùng cổ.

+ Đôi số XII (dây thần kinh hạ thiệt hay thần kinh dưới lưỡi), có nhiệm vụ điều tiết sự vận động cơ lưỡi.



Thương tổn thần kinh

Các vùng cảm giác và vận động nguyên phát:

(Xem hình 14: vùng thị giác, thính giác, cảm giác, và vận động nguyên phát)



1. Vỏ não thị giác (vỏ não rãnh cựa, thùy chẩm, vùng 17). Hãy dành thời gian để ôn lại đường thị giác: võng mạc - thần kinh thị - giao thị - bó thị - thể gối ngoài - tia thị - vỏ não thị giác. Chú ý rằng, sang thương 1 bên trước giao thị chỉ gây khiếm khuyết thị trường ở 1 mắt, trong khi sang thương từ giao thị về sau, khiếm khuyết giới hạn ở 1 vùng thị trường (nhưng thường ở 2 mắt) (Hình 11)

2. Vỏ não thính giác (hồi Heschl, thùy thái dương, bên trong khe Sylvian)

3. Vỏ não cảm giác bản thể (hồi sau trung tâm, vùng 3, 1 và 2)

4. Vỏ não vận động (hồi trước trung tâm, vùng 4)
Vỏ não kết hợp

1. Vỏ não kết hợp đơn vùng (unimodal) : mỗi vùng vỏ não cảm giác nguyên phát được tiếp cận bởi 1 vùng vỏ não kết hợp đơn (tức là chỉ liên kết trực tiếp với 1 vùng vỏ não kết hợp)

2. Vỏ não kết hợp đa vùng (polymodal và supramodal) được liên kết với các vùng vỏ não kết hợp đơn vùng cũng như các vùng vỏ não kết hợp cao cấp hơn khác.

Các cấu trúc này được nghĩ là để các chức năng chuyên biệt được phục vụ phân tích ở các vùng khác nhau, và các vùng này có sự liên hệ với nhau. Ví dụ các chức năng chuyên biệt như: ngôn ngữ, thị giác không gian...
Bán cầu trội (Cerebral dominance)

Hai bán cầu đại não không tương đương nhau về mặt chức năng. Các sự không cân xứng về mặt chức năng đã được ghi nhận như sau:

Ngôn ngữ

Ở trên 95% người thuận tay phải, bán cầu trái là vùng ưu thế về mặt ngôn ngữ. Ở người thuận tay trái, bán cầu ưu thế hoặc cũng là bán cầu trái hoặc có khả năng ngôn ngữ cả 2 bên; thỉnh thoảng mới có bán cầu phải ưu thế.

Tay thuận / Thực dụng

Tay thuận phản ánh sự không cân xứng về mặt chức năng của hai bán cầu đối với khả năng làm các động tác tinh vi. Mất thực dụng là do tổn thương bán cầu đối bên tay thuận.

Sự chú ý tập trung (Attention)

Sự thờ ơ nữa thân nặng được thấy nhiều ở tổn thương bán cầu bên phải hơn bên trái. Điều này phản ánh sự mất cân xứng 2 bán cầu về cơ chế tập trung chú ý.

Khả năng thị giác không gian (Visuaspatial abilities)

Các kỹ năng thị giác không gian được phát triển cao hơn ở bán cầu phải.

Cảm xúc

Aûnh hưởng cảm xúc trong tổn thương bán cầu trái khác với trong tổn thương bán cầu phải. Các sang thương thùy trán trái thường đi kèm với trầm cảm nhiều hơn, trong khi tổn thương bán cầu phải thường gây sự vô cảm.
Vỏ não viền (Limbic cortex): cảm xúc và trí nhớ

Giải phẫu (Hình 15)



Limbus có nghĩa là viền. Các cấu trúc của vỏ não viền tạo thành một vòng bao quanh thân não và gian não. Các cấu trúc hệ viền bao gồm (đi theo 1 vòng) : Amygdale, hải mã và hồi cạnh hải mã, vỏ não vùng đai (cingulate cortex), vỏ não thùy trán phần ổ mắt và vỏ não thùy đảo. Vùng viền xu hướng có một cấu trúc nguyên thủy hơn là tân sinh, và được liên kết chặt chẽ với phần nền não trước (basal forebrain) và hạ đồi.
Chức năng

Cảm xúc

Thái độ cảm xúc lệ thuộc vào các thay đổi nội tiết, thần kinh thực vật và vận động, được điều hòa bởi hạ đồi. Bởi vì vỏ não viền não trước nằm chen giữa tân vỏ não và hạ đồi, nên về mặt lý luận nó được giả định rằng nó là trung gian ảnh hưởng của vỏ não lên vùng hạ đồi. Các dữ liệu lâm sàng và thực nghiệm đã xác nhận điều này: ở động vật, các sang thương vùng ổ mắt của vỏ não thùy trán và vỏ não cực thái dương, và sang thương của amygdala đi kèm với các thay đổi trạng thái độ cảm xúc. Ở người động kinh xuất phát từ các cấu trúc thái dương trong (đặc biệt là amygdala) có thể biểu hiện bằng cảm giác cảm xúc như cảm giác sợ.

Trí nhớ

Các sang thương ảnh hưởng hồi hải mã và các liên kết của nó không làm ảnh hưởng đến cảm xúc, nhưng thay vào đó có thể làm ảnh hưởng sâu sắc đến trí nhớ. Các sang thương đúng vào các cấu trúc sau có thể gây ra các rối loạn trí nhớ sâu sắc.

Ñ Hồi hải mã và vỏ não thái dương lân cận.

Ñ Đồi thị trong (đồi thị trước, bó thể vú - đồi thị, đồi thị lưng trong)

Ñ Nền não trước, có lẽ đặc biệt là các neuron sinh cholinergic của nhân vách, phóng chiếu về hồi hải mã. Các cấu trúc khác của vùng phức tạp này cũng có thể góp phần tạo trí nhớ.
Một số hội chứng lâm sàng

Mất ngôn ngữ (Aphasia) (Hình 16)



Mất ngôn ngữ phần lớn thường đi kèm với tổn thương vỏ não bán cầu trái. Các yếu tố sau có ích cho việc phân biệt: (xem bảng )



Mất ngôn ngữ “quanh sylvian” (The peri-sylvian aphasias)

Các cấu trúc bao quanh khe sylvian điều hòa sự lập lại ngôn ngữ được nghe bằng tai. Các tín hiệu thính giác được xử lý bởi hồi Heschl (vỏ não thính giác nguyên phát), và sự phân tích âm thanh có lẽ xảy ra ở vùng vỏ não thính giác kết hợp kế cận (vùng Wernicke). Lời nói được mã hóa ở nhiều vùng phía trước (trong đó có vùng Broca, nằm trước vỏ não vận động), và các vùng này điều khiển trực tiếp vỏ não vận động kế cận để tạo ra sự vận động nhằm phát âm phù hợp. Tổn thương các vùng này sẽ làm suy giảm khả năng lập lại lời nói, một nét đặc trưng của mất ngôn ngữ quanh khe sylvian. Để thông hiểu ngôn ngữ , các thông tin đã được phân tích về ngữ âm phải kết nối với các vùng bên ngoài vùng “quanh sylvian” (trong số đó có hồi góc).

Mất ngôn ngữ Broca (Broca’s aphasia)

Đặc trưng bởi lời nói không trôi chảy, lập lại kém và sự thông hiểu còn tương đối nguyên vẹn. Các sang thương gây nên nằm ở vùng Broca và vỏ não lân cận.

Mất ngôn ngữ Wernick (Weknicke’s aphasia)

Lời nói trôi chảy nhưng rối loạn dùng âm của từ ngữ, và sự lập lại và thông hiểu bị suy giảm. Các sang thương nằm ở vùng Wernicke

Mất ngôn ngữ dẫn truyền (Conduction aphasia)

Lời nói trôi chảy, sự thông hiểu nguyên vẹn, nhưng lập lại kém. Các sang thương có thể làm mất liên hệ từ vùng Wernicke sang vùng Broca.

Mất ngôn ngữ toàn bộ (global aphosia)

Nói không trôi chảy hoặc không nói được, lập lại và thông hiểu kém. Toàn bộ vùng vỏ não “quanh sylvian” bị ảnh hưởng.

Mất ngôn ngữ “xuyên vỏ não” (Transcortical aphasias)

Các loại mất ngôn ngữ này đặc trưng bởi sự lặp lại còn nguyên vẹn. Các sang thương thay đổi hơn mất ngôn ngữ “quanh sylvian”. Thêm vào các vị trí vỏ não đã được ghi nhận, mất ngôn ngữ “xuyên vỏ não” có thể do tổn thương dưới vỏ não.

Mất ngôn ngữ vận động “xuyên vỏ” (Transcortical motor aphasia)

Lời nói không trôi chảy, nhưng sự lập lại và sự thông hiểu còn tốt. Các sang thương nằm ở thùy trán, nhưng chừa vùng Broca.

Mất ngôn ngữ cảm giác “xuyên vỏ” (Transcortial sensoray aphasia)

Lời nói trôi chảy, nhưng trống rỗng và thường bị loạn dùng nghĩa của từ ngữ. Sự thông hiểu bị suy giảm, nhưng lập lại bình thường. Các sang thương ở phía sau, nhưng chừa lại vùng Wernicke.

Mất ngôn ngữ định danh (Anomic aphasia)

Loại này được xem như mất ngôn ngữ cảm giác “xuyên vỏ” nhẹ, trong đó sự thông hiểu không bị ảnh hưởng nhưng định danh đồ vật thì bị suy giảm. Lời nói trôi chảy, kèm vòng vo (khi bệnh nhân không tìm được từ để diễn giải). Sự lập lại bình thường . Sang thương ở hồi góc và hồi thái dương giữa, cũng như một số vùng lân cận khác đã được xác nhận.

Mất ngôn ngữ “xuyên vỏ” hỗn hợp (Mixed transcortical aphasia)

Lời nói không trôi chảy, sự thông hiểu kém nhưng sự lập lại bình thường. Bệnh nhân có thể lập lại từng đoạn của lời người khác (chứng nhại lời: echolalia). Các sang thương thường bao hàm cả mất ngôn ngữ vận động và cảm giác “qua vỏ”, và phần lớn thường do nhồi máu não vùng phân cách (watershed infarction) đi kèm với hẹp ĐM cảnh trong nặng.

Các hội chứng mất liên kết (Disconnection syudromes)

Các khiếm khuyết thần kinh không chỉ do sự phá hủy vùng vỏ não (gây tổn thương các chức năng đặc biệt), mà còn do sự mất liên kết giữa các vùng. Một ví dụ là hội chứng không đọc được chữ nhưng cảm nhận được chúng khi vẽ lên da (hội chứng Dejerine: mù đọc chữ đơn thuần). Phần lớn thường bị gây ra bởi nhồi máu vùng tưới máu của động mạch não sau bên trái, sang thương làm mất liên kết vùng vỏ não thị giác bên phải với các trung tâm ngôn ngữ bán cầu trái. Vỏ não thị giác trái bị phá hủy, bệnh nhân không thể đọc dù thị trường trái vẫn còn nguyên vẹn, nhưng các chức năng ngôn ngữ khác thì bình thường. (Xem hình 17)



Sự thờ ơ nữa thân (Unilatera neglect)

Bệnh nhân không đáp ứng hoặc đáp ứng chậm hơn khi kích thích xuất hiện ở trong thị trường đối diện với bên tổn thương. Đầu tiên họ có vẻ như bán manh 1 bên, hoặc như mất cảm giác 1 bên, nhưng cuối cùng thì chức năng cảm giác có thể bình thường nếu sự tập trung có thể duy trì được. Bệnh nhân cũng có thể không nhận thức được bệnh của họ (anosognosia). Họ có thể phủ nhận liệt nữa người, hoặc không chấp nhận họ bị tai biến mạch máu não. Sự thờ ơ thường gặp và nặng nề hơn trong tổn thương bán cầu phải hơn bán cầu trái.

Hội chứng mất trí nhớ (amnesic symdome)

Các nét chính của hội chứng mất trí nhớ là: (1) Mất trí nhớ xuôi, không có khả năng học thuộc các thông tin mới xảy ra sau khởi phát mất trí nhớ; (2) Mất trí nhớ ngược, mất khả năng phục hồi lại các thông tin đã được học trước khi khởi phát mất trí nhớ ; và (3) Sự tập trung và chức năng trí tuệ bình thường.

Nhiều người mất trí nhớ có chức năng ngôn ngữ, thực dụng, thị giác không gian và thậm chí chức năng thùy trán bình thường. Nếu bạn không dùng những test trí nhớ đặc biệt thì bạn có thể xếp họ vào trí nhớ bình thường. Hơn nữa, một số loại trí nhớ nào đó lại nguyên vẹn trong hội chứng mất trí nhớ: BN có thể học những điều thường qui như các kỹ năng vận động, và đọc ngược qua gương ; hành vi của họ có thể bị ảnh hưởng bởi các thông tin mà họ không thể nhớ lại liên tục. Do đó các chức năng còn sót lại này được điều hòa bởi các cấu trúc não khác. Ví dụ, người ta nghĩ rằng trí nhớ vận động và thói quen có thể được điều hòa thông qua hạch nền, nhưng điều này vẫn chưa rõ ràng. Các bệnh thường đi kèm với hội chứng mất trí nhớ bao gồm tai biến mạch máu não, u não, chấn thương sọ não, rối loạn Wernicke- Korsakoff do thiếu thiamin, và bệnh Alzheimer (ảnh hưởng đến hồi hải mã và nền não trước). Trong bệnh Alzheimer, các khiếm khuyết nhận thức (mất ngôn ngữ, mất thực dụng, rối loạn thị giác không gian) chẳng bao lâu sẽ kết hợp với mất trí nhớ để tạo ra một hình ảnh lâm sàng phức tạp hơn.

Các hội chứng thùy trán (Frontal lobe syndromes)

Thùy trái có vai trò quan trọng bậc cao trong hành vi. Không có sự hướng dẫn của nó, chúng ta sẽ bị mất sự kiểm soát các hành động. Do đó bệnh nhân thùy trán có thể có cư xử “bất thường”: họ có thể sử dụng những đồ vật một cách thành thạo thậm chí khi không có lý do để dùng, họ lập lại các hành vi, việc làm mới xảy ra, và họ không tìm hiểu cái gì rõ ràng nhất. Họ có thể diễn tả các hành vi như có bệnh tâm thần, không cần quan tâm đến hậu quả hành động của họ, đưa ra những quyết định vô trách nhiệm trong công việc, và với thời gian, họ có thể có những hình thái tình dục không đúng đắn (mặc dù nhìn chung là họ bị giảm khoái cảm tình dục). Các bệnh nhân sa sút trí tuệ do tổn thương thùy trán cũng không thể hệ thống được kinh nghiệm của họ và cũng không biết lên kế hoạch tương lai. Họ thường quên nhiều thứ, không phải họ không thể mã hóa trí nhớ mới, mà bởi vì họ không thể khởi phát trí nhớ thích hợp. Ví dụ, bệnh nhân có thể nói là đi đến cửa hàng để mua 5 món đồ vật, nhưng khi đến nơi họ lại bị thu hút bởi tạp chí, đọc nó, và sau đó trở về nhà mà không mua thứ gì. Khi được hỏi tại sao ông ta đi đến cửa hiệu, ông ta có thể nhớ lại các thứ mà ông ta dự định mua; ông ta đã quên để nhớ lại chúng cho đúng lúc. [Bệnh nhân mất trí nhớ kinh điển thì không thể nhớ lại danh sách khi đã quên]. Các bệnh nhân tổn thương vùng trán ổ mắt bộc lộ sự khó khăn trong việc ức chế những hành vi không thích hợp. Các bệnh nhân với các sang thương trán trong thường bị bất động, khó khởi đầu hành vi.









Bí mật bộ não

Não bộ của con người là một tổ chức phức tạp, tinh vi nhất của hệ thần kinh. Thông qua các giác quan như mắt, tai, da, bộ não tiếp thu các thông tin về thị giác, thính giác, xúc giác... để từ đó nhận thức ra đối tượng, xử lý và giai đáp thông tin qua các hình thức vận động.

Sự phát triển của não

Ngay từ ngày thứ 18 của phôi đã có mầm mống của não, khi phôi được 3 tháng tuổi thì não đã có đủ các thành phần.

Khi mới sinh, não nặng khoảng 300g và khi 1 tuổi khoảng 800g. Não tăng trọng lượng rất nhanh cho tới 2 tuổi, tăng chậm hơn khi 20-25 tuổi và dừng lại khi 65 tuổi, sau đó - cũng như tất cả các cơ quan khác của cơ thể - trọng lượng của não giảm dần do mất nước. Trọng lượng trung bình của não là 1.370g.

Mô tả

Bộ não, còn gọi là não bán cầu nằm trong hộp sọ ở trên lều tiểu não.
Não bán cầu bao gồm vỏ não và các tổ chức dưới vỏ.

a/ Vỏ não được các rãnh não chia thành các thùy gồm: thùy trán, thùy đỉnh, thùy chẩm và thùy thái dương.

Các rãnh nhỏ chia các thùy thành các hồi, thí dụ hồi thứ nhất trán (F1).
Thùy trán chiếm tới 40% khối lượng não

b/ Các tổ chức dưới vỏ - các nhân xám trung ương.

Các chức năng của bộ não

Do đặc điểm cấu tạo của vỏ não (chất xám và chất trắng) nên có những diện chức năng về cảm giác, giác quan và vận động.

Chức năng về giác quan:

Nhìn: Thông qua mắt, các đường dẫn truyền thị giác đưa hình ảnh lên vùng chẩm của não. Từ đó các kích thích thị giác được bộ não phân tích (hình dạng), đánh giá (so sánh) và lưu trữ (ghi nhớ).

Nghe: Thông qua đôi tai, các đường dẫn truyền thính giác đưa âm thanh lên não ở vùng thái dương, từ đó não phân tích (loại âm), đánh giá (so sánh) và lưu trữ (ghi nhớ).

Chức năng nghe là một trong những giác quan được phát triển ngay từ trong bào thai. Trong bụng mẹ, bào thai đã có thể nghe được âm nhạc, vì vậy người ta có phương pháp dạy trẻ bằng cách cho nghe nhạc cổ điển ngay từ khi còn là bào thai.

Tiếp thu các loại cảm giác: Thông qua bộ não, con người có thể tiếp thu các loại cảm giác, đặc biệt là cảm giác nhận biết đồ vật...

Thể hiện các động tác: Chức năng giải đáp là chức năng cơ bản thứ hai của não. Biểu hiện giải đáp là các hình thức vận động. Vận động tự chủ qua đường bó tháp, vận động phối hợp (hệ tiểu não - tiền đình) và vận động tự động (các nhân xám trung ương).

Các nhân xám trung ương có chức năng biểu thị dáng điệu, động tác, vẻ mặt... Tất cả nhằm điều chỉnh trương lực và điều hòa cử động...

Ngoài chức năng cơ bản là tiếp thu và giải đáp, não bộ còn làm phong phú hoạt động con người qua các quá trình tâm lý, tư duy, trí nhớ, lời nói, chữ viết... Đó là chức năng cao cấp của vỏ não. Những chức năng này thực hiện được nhờ sự hoạt động của toàn vỏ não, đặc biệt là ở thùy trán, thùy thái dương, thùy đỉnh, thùy chẩm, khứu não...

Bộ não giữ vai trò quan trọng trong hoạt động toàn diện, đa dạng của con người, giúp con người thích ứng với các hoàn cảnh xã hội. Do đó nhiều chuyên ngành khoa học tự nhiên và xã hội đã xây dựng các chiến lược bảo vệ và phát triển bộ não.


Theo Sức khỏe và Đời sống

Bí mật về thôi miên

Cuối những năm 90, thế kỷ XX cả Italia xôn xao vì sự kiện lạ lùng. Hàng trăm chủ cửa hàng liên tiếp thông báo cho cơ quan chức năng địa phương về tình trạng biến mất một cách bí hiểm tiền mặt tại các két sắt cửa hàng. Các nhân viên thu ngân không thể giải thích, sự việc đã xảy ra thế nào.Một số chỉ mang máng nhớ, trong số khách hàng cuối cùng ra khỏi cửa hàng có hai người Hinđu.

Khi xem kỹ một số cuốn băng do hệ thống camera cửa hàng bị mất trộm quay được, các thám tử không thể tin vào mắt mình. Các thủ phạm đã thôi miên nhân viên cửa hàng! Hiện diện bên cạnh kẻ cắp, song những cá nhân này hoàn toàn bất động, không hề ý thức được chuyện gì đang xảy ra vì bản thân đã bị đưa vào trạng thái mê muội. Họ không hề có phản ứng bắt giữ hoặc đuổi bắt kẻ gian.

Thời gian ngắn sau đó những kẻ thôi miên bất lương đã bị bắt quả tang. Cảnh sát và các chủ cửa hàng thở phào nhẹ nhõm.

Trong cạm bẫy đơn điệu

Thôi miên – cho dù không hiếm trường hợp rất giống ngủ mê, song hoàn toàn không phải giấc ngủ. Những nghiên cứu điện não đồ não bộ đã chứng minh điều đó. Cụ thể: Những sóng não bộ người ngủ có tần số khác, sóng não bộ người thức có tần số khác, sóng não bộ người bị thôi miên còn có tần số khác nữa.



Trong thời gian một ngày chúng ta có thể nhiều lần rơi vào trạng thái như vậy, không cần sự trợ giúp của nhà thôi miên. Chăm chú nhìn vào một điểm nào đó trên trần nhà, chúng ta có thể tự “cách ly” ra khỏi thực tại trong chốc lát. Trạng thái tương tự cũng xảy ra trong lúc đi đi xe lửa – lắng nghe tiếng gõ đều đều của bánh xe, cho dù thực sự không ngủ, song chúng ta cũng không biết nhiều thông tin từ những gì hành khách cùng toa nói ra. Trạng thái mơ màng như thế không có gì nguy hiểm, một khi nó không xuất hiện với người đang điều khiển xe máy hoặc phương tiện giao thông nào khác.

Phong cảnh đơn điệu, con đường thẳng tắp và những hàng cây ẩn hiện nhịp nhàng bê ngoài cửa sổ toa tầu có thể tác động không khác gì một nhà thôi miên sành nghề. Còn thêm nữa, không khác gì bị buộc vào cổ, con mắt của chúng ta bám theo dải sơn trắng phân chia các làn đường. Âm thanh đơn điệu của động cơ gây mệt mỏi tri giác, não bộ bắt đầu phát ra sóng alfa, đặc trưng của trạng thái bị thôi miên. Cho dù vẫn mở mắt, song người lái xe không kiểm soát, chuyện gì đang diễn ra, đối tượng như rơi vào trạng thái ý thức khác.

Thông thường người ta nói rằng, ai đó ngủ sau tay lái. Trong nhiều trường hợp không thể khẳng định đó là giấc ngủ từ góc độ y học. Không có gì nghi ngờ, đó là thôi miên.

Ai sợ thôi miên?

Những nhà thôi miên khác nhau sử dụng cùng một phương pháp với cùng một đối tượng thường đạt được kết quả không giống nhau. Cá tính và kiến thức của nhà thôi miên đóng vai trò quyết định hiệu quả.

Mọi người đều có thể đọc sách tự học thôi miên và thực hành. Tuy nhiên kiến thức của đối tượng loại này không toàn diện. Theo chuyên gia trị liệu thôi miên nổi tiếng Ba Lan và châu Âu Vojciech Gorecki, từ sách vở chúng ta không thể khám phá ngôn ngữ thân thể, những cử chỉ đóng vai trò chìa khoá mở cánh cửa vào tiềm thức con người. Và thiếu yếu tố này không thể hy vọng hiệu quả mong muốn.

Cá tính của đối tượng bị thôi miên cũng có ý nghĩa đặc biệt. Các chuyên gia nhấn mạnh rằng, những người mạnh mẽ về tâm lý chính là đối tượng dễ bị đưa vào trạng thái hôn mê nhất. Bởi họ tự tin, cởi mở với mọi thử nghiệm và không sợ người thứ hai. Người như thế có thể bị hôn mê, thậm chí rất sâu – ngay lần đầu tiên. Tuy nhiên những người khó bị thôi miên cũng có thể học được điều này. Cơ may đạt được trạng thái bị thôi miên sâu gia tăng sa mỗi lần tập.

Theo kết quả nhiều công trình nghiên cứu, có khoảng 5% dân số hoàn toàn không thể thôi miên. Họ có thể rơi vào trạng thái hôn mê, nhưng phải sau vài trăm lần thử nghiệm. Khoảng 25% dân số có thể đưa vào trạng thái hôn mê sâu. Số còn lại chỉ có thể bị rơi vào trạng thái bị thôi miên trung bình.

Mức độ nông sâu của hôn mê có thể đánh giá dựa trên cơ sở đối tượng bị thôi miên thực hiện mệnh lệnh của người thôi miên thế nào. Ở mức độ nhẹ - đối tượng bị thôi miên chỉ cảm thấy buồn ngủ và thư giãn thoải mái. Mặc dù ý thức được rõ ràng chuyện gì đang diễn ra xung quanh, song đã có t hể làm theo mệnh lệnh của người thôi miên. Các chuyên gia tâm lý trị liệu rất hay sử dụng trạng thái thôi miên nhẹ để chữa trị cai nghiện và các chứng bệnh kinh. Cá thể bị đưa vào trạng thái hôn mê trung bình vẫn duy trì được ý thức, nhưng không mở được mắt. Ở trạng thái t hôi miên nhẹ các tri giác rất mệt mỏi, song không bị ảo giác. Sau khi rơi vào trạng thái bị thôi miên nặng đối tượng có thể mở mắt, đi đứng và nói theo mệnh lệnh của người thôi miên, nhưng… chỉ nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy những gì người thôi miên suy diễn.

Những suy diễn trong trường hợp như thế có sức mạnh thật phi thường. Người ta đã tiến hành những thí nghiệm, theo đó đối tượng bị hôn mê sâu được thông báo rằng, sẽ bị bỏng vì thanh sắt nung nóng, sau đó người thôi miên cho đối tượng tiếp xúc với bút bi đã đỏ lựng và phổng rộp, bản thân đối tượng cảm thấy đau đớn.

Tiết mục trình diễn sân khấu phổ biến có tên “Nhịp cầu thôi miên” từng mang lại vinh quang cho không ít nhà thôi miên. Đối tượng rơi vào trạng thái hôn mê sâu có thẻ tự treo mình giữa hai ghế đẩu, chỉ tựa gót chân chân và đầu vào mép ghế. Cái ghế băng sống như thế có thể chịu đựng trong lượng của một người đàn ông! Trong khi ở trạng thái tỉnh táo bình thường một người khoẻ mạnh cũng không thể thực hiện nhiệm vụ như thế.

Đã nhiều năm tiết mục độc đáo trên không được trình diễn. Sau nỗ lực phi thường như vậy đối tượng bị thôi miên thường bị đau cơ bắp và chấn thương cột sống. Thế nhưng tất cả cảm giác hết sức khó chịu ấy chỉ hành hạ sau khi đối tượng đã tỉnh táo hoàn toàn. Trái lại không hề có cảm giác đau cũng như mệt mỏi trong thời gian biểu diễn.

Quyền năng dường như vô hạn, mà những nhà thôi miên sành nghề có được khiến người ta vừa khiếp đảm vừa khâm phục. Và thường xuyên hiện những câu hỏi, liệu cót hể lợi dụng đối tượng bị thôi miên để thực hiện hành vi tội ác hoặc tự tử.

Tội ác hoàn hảo?

Các chuyên gia trong nghề quả quyết rằng, thậm chí bị rơi vào trạng thái bị thôi miên sâu nhất, đối tượng vẫn không mất lý trí. Người bị hôn mê sâu cũng không bao giờ thực hiện những mệnh lệnh trái với lương tâm của mình.

Bản thân các nhà thôi miên trấn an, một khi ra mệnh lệnh cho ai đó nhảy qua cửa sổ - đối tượng sẽ không thi hành. Trong những trường hợp như vậy con người sẽ lập tức tỉnh dậy. Thậm chí thầy thôi miên sành nghề nhất cũng không thể duy trì trạng thái hôn mê, nếu đưa ra những mệnh lệnh trái với những giá trị mà đối tượng bị thôi miên tôn thờ. Tuy nhiên một khi người thôi miên dẫn dắt câu chuyện theo hướng: Đang là ngày hè nóng bức, đằng sau cửa sổ là bể bơi tuyệt đẹp… Tất cả chuyên gia có uy tín đều thừa nhận, bối cảnh như vậy có thể dẫn đến hành vi thực thi mệnh lệnh – đối tượng bị thôi miên có thể nhảy qua cửa sổ.

Người ta chứng minh hiện tượng đó theo lý lẽ: Có thể châm chước sự bảo hiểm thuộc dạng lương tâm của chính mình. Một khi đối tượng tin rằng, bản thân đang thực hiện vai diễn tại trường quay và chỉ bắn đạn giả, về mặt lý thuyết có thể bị lợi dụng để thực hiện hành vi tội ác thực. Con người như thế sẽ không có gì áy náy trước khi bấm cò súng. Bởi anh ta đinh ninh rằng, đó chỉ là một vai diễn.

Dĩ nhiên, đó chỉ là lý thuyết. Cho đến nay người ta vẫn chưa ghi nhận bất cứ trường hợp nào lợi dụng thôi miên để thực hiện tội ác. Chính thức chỉ có duy nhất trường hợp lợi dụng thôi miên để ăn cắp tiền tại một số cửa hàng ở Italia được giới thiệu ở đầu bài.

Nỗi sợ hãi có cặp mắt to

Liệu sức mạnh, mà thôi miên mang lại có đồng nghĩa với việc phải tránh xa những người có khả năng thôi miên? Không nhất thiết. Cho dù thôi miên có thể bị lợi dụng vì những mục đích đen tối, song đa số các trường hộp – nhờ thôi miên có thể giúp ích cho đời. Các chuyên gia đặc biệt nhấn mạnh tính hiệu quả của “sự sai khiến thôi miên” trong chữa trị cai nghiện, một số chứng bệnh thần kinh và giảm đau.

Vojciech Gorecki, nhà thôi miên nổi tiếng Ba Lan và châu Âu sử dụng liệu pháp thôi miên trong điều trị cai nghiện rượu. Ông khẳng định rằng, 95% trường hợp cai nghiện thành công ngay sau vài liệu trình thôi miên. Giới chuyên gia thường áp dụng thuật thôi miên ngược chiều. Trong thời gian thôi miên người ta “kéo lùi” bệnh nhân về thời trẻ sơ sinh, thậm chí thời kỳ thai nhi còn nằm trong bụng mẹ.

“Cần phải khai quật trí nhớ sự kiện đáng buồn từ bóng tối của tiềm thức” – Gorecki giải thích. “Làm nó lộ ra, chỉ cho bệnh nhân thấy và biến nỗi sợ hãi kia thành “con chim sẻ” đã thuần hoá”. Ca điều trị có hiệu quả thường diễn ra với đối tượng bị hôn mê nhẹ. Nhưng khẳng định của Gorecki, thôi miên sâu không phải là tiêu chuẩn đảm bảo thành công của liệu pháp.

Trái với lập luận của Gorecki, nhà trị liệu thôi miên Ryszard Bohinski thiên áp dụng thôi miên sâu. Ông lý giải, trạng thái hôn mê sâu mang lại hiệu quả nhanh hơn. Không phải lập lại liệu trình vài ba lần – như trường hợp hôn mê nông. Bohinski cũng làm dịch vụ điều trị cai nghiện. Năng lực phi thường của ông đã giúp nhiều người mắc bệnh thần kinh lấy lại được trạng thái nội tâm cân bằng.

Tại Ba Lan cơ quan cảnh sát điều tra thỉnh thoảng cũng nhờ cậy sự trợ giúp của các nhà thôi miên. “Vài năm trước chúng tôi đã yêu cầu họ cộng tác trong quá trình điều tra vụ cướp ngân hàng ở Otwock” – bà Grazyna Puchalska, phát ngôn viên Bộ Công an Ba Lan kể. “Các nhân chứng không nhớ gì về thủ phạm, họ không khẳng định điều gì rõ ràng vì hậu quả hoàng loạn nặng nề. Khi ấy chúng tôi đã kêu gọi sự giúp đỡ của chuyên gia thôi miên. Tất nhiên nhưng lời khai của đối tượng bị thôi miên không thể sử dụng làm chứng cứ pháp lý, song chúng đã tạo điều kiện để chúng tôi vẽ lại chính xác chân dung phần tử phạm pháp”.

Vài chi tiết về thuật thôi miên

1.Trạng thái hoàn toàn tỉnh táo:

+ Não bộ phát ra sóng beta (tần suất 14,21 lần/giây).

+ Thị giác, thính giác, khứu giác… hoạt động bình thường.

+ Mọi người nhìn nhận thời gian và không gian bình thường.

2.Bị thôi miên nhẹ:

+ Não bộ phát ra sóng alfa (tần suất 7,14 lần/giây).

+ Thị giác, thính giác, khứu giác… có thể bị thầy thôi miên sai khiến.

+ Rối loạn nhìn nhận thời gian và không gian.

+ Nhịp thở và mạch đập chậm lại .

+ Cơ bắp thả lòng.

3.Trạng thái hôn mê trung bình/sâu

+ Não bộ phát ra sóng teta (tần suất 4,7 lần/giây).

+ Các tri giác rất dễ chịu sự sai k hiến của thầy thôi miên.

+ Rối loạn đánh giá thời gian và không gian.

+ Nhịp thở và mạch chậm

+ Giống như trạng thái thôi miên nhẹ, cơ bắp thả lỏng, nhưng có thể căng thẳng sau sự sai khiến của thầy thôi miên.

+ Có thể xảy ra phản xạ thể chất – thí dụ da phổng rộp sau mệnh lệnh chạm vào thanh sắt nung nóng (thực sự chỉ là cái bút bi). Trong trạng thái này có thể thực hiện cái gọi là “nhịp cầu thôi miên”.

4.Trạng thái hôn mê rất sâu

+ Não bộ phát ra sóng delta (tần suất thấp hơn 4 lần/giây)

+ Trạng thái đối tượng gần giống bất tỉnh.

+ Các tri giác ngừng hoạt động.

+ Nhịp hô hấp và mạch rất yếu, ngấp nghé giới hạn nguy hiểm.

+ Rất hiếm khi áp dụng trong thôi miên.

5.Ngộ nhận:

+ Thôi miên là hiện tượng siêu nhiên và người biết thôi miên có sức mạnh siêu nhân.

+ Đối tượng bị thôi miên ngoan ngoãn thực hiện mọi mệnh lệnh của thầy thôi miên.

Theo Trí thức trẻ còn Trí thức trẻ theo ai đếch biết nghe không kiểm chứng là đặc tính của dân trên mạng




Bạn muốn có một chú hổ trong nhà? Không thể, vì bạn sẽ gặp rắc rắc rối với pháp luật. Nhưng bạn có thể thỏa mãn ước mơ với phiên

Bạn muốn có một chú hổ trong nhà? Không thể, vì bạn sẽ gặp rắc rắc rối với pháp luật. Nhưng bạn có thể thỏa mãn ước mơ với phiên bản mini của hổ, được tạo ra bằng cách lai giữa các loài mèo. Judy Sugdem, một người nuôi thú nghiệp dư ở Mỹ, đã tạo ra được những chú mèo đặc biệt trông giống hệt hổ. Bà gọi chúng là toyger (ghép từ "toy" nghĩa là đồ chơi và "tiger" - hổ). Toàn thế giới hiện nay chỉ có 350 chú toyger do 25 nhà nuôi thú chăm sóc.

Ngoại trừ vóc dáng nhỏ bé và trọng lượng khiêm tốn của loài mèo, toyger sở hữu khá nhiều đặc điểm ngoại hình của hổ: Bộ lông vàng sẫm điểm những sọc đen nổi bật, vòng tròn trắng quanh mắt, dáng đi oai vệ. Tất cả những thứ đó đều là thành quả của việc lai tạo giữa các giống mèo chứ chẳng liên quan gì đến hổ.

Judy bắt đầu quá trình tìm tòi để tạo ra toyger từ gần 20 năm trước. Thoạt tiên, bà thử cho mèo Bengal (con lai của báo châu Á và mèo nhà) phối giống với mèo mướp. Con của chúng lại được phối giống với mèo Kashmir. Cứ như vậy, vừa chọn lọc vừa nhân giống, cuối cùng Judy đã thu được những chú toyger đầu tiên tạm khiến bà hài lòng.

Nhưng để chúng trở thành phiên bản hoàn hảo của hổ thì vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Theo tính toán của Judy, ít nhất phải đến năm 2010, những thế hệ toyger thực sự xứng danh là "hổ nhà" mới ra đời. So với toyger hiện nay, chúng sẽ có đôi tai ngắn hơn, mắt nhỏ hơn, hàm rộng hơn và mũi nở hơn. Tương xứng với chất lượng có một không hai đó là một mức giá giật mình. Hiện tại, một chú toyger có giá 4.000 USD. Mức giá sẽ còn tăng cao khi toyger được hoàn thiện.

Cũng giống như nguyên mẫu, toyger có bản năng săn mồi siêu hạng vượt xa những giống mèo thường. Chuột, chim và các động vật nhỏ rất khó thoát khỏi móng vuốt của chúng. Tuy nhiên, chúng không phải là những "kẻ máu lạnh", nhiều tính hoang dã. Ngược lại, toyger rất tinh nghịch và thân thiện. Chúng thích được vuốt ve âu yếm và sẵn sàng chui vào ngủ với người.

Khác với hầu hết các giống mèo, toyger bơi giỏi và rất thích nghịch nước. Chúng có thể nô đùa hàng giờ liền trong các bể tắm trẻ em, hoặc tha thẩn đi dạo trong mưa một cách khoái chí. Về mặt này, chúng thực sự có thể sánh ngang với loài hổ.

(Theo Khoa Học & Đời Sống, Life)