KM2011

KM2011

Subscribe to RSS feed

Du lich Son La

Sơn là núi, La là suối. Sơn La có nghĩa là vùng đất bắt nguồn từ con suối trên núi. Cùng với thời gian, con suối ấy vẫn đang tuôn trào bao bọc 12 dân tộc anh em, tạo thành sức mạnh, tỏa sáng như viên ngọc giữa đất trời Tây Bắc.



Sơn La - vẻ đẹp hoang sơ, thuần khiết đầy quyến rũ.

Vùng đất Sơn La có vẻ đẹp hoang sơ thuần khiết của rừng, của núi, của những dòng suối nước trong veo, của những thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ, và cả tấm lòng chân chất, hiếu khách của người dân bản xứ. Mùa xuân về, hoa ban nở trắng càng tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc trong những cuộc hành trình về với Sơn La.

Đến Sơn La để ngắm nhìn những cảnh đẹp hùng vĩ mà nên thơ như Hang Dơi, Thác Dải Yếm, hang Trâu… và để tận hưởng không khí trong lành của vùng khí hậu tiểu ôn đới đang quyện hòa cùng hương chè ngan ngát.

Thác Dải Yếm

Hang Thẳm Ké (hang Trâu) dài chừng 1km với 2 cửa hang thông ngang 2 sườn núi. Đây từng là kho chứa vũ khí lớn nhất mà chúng ta tìm được ở Tây Bắc sau khi thực dân Pháp thua trận ở Điện Biên. Hang bia Quế Lâm Ngự Chế - nơi ghi dấu bút tích của Vua Lê Thái Tông năm 1440 với bài thơ được khắc trên vòm hang vách đá thẳng đứng. Dưới lòng hang rộng là rất nhiều thạch nhũ từ vòm hang buông xuống.

Thác nước Bản Vặt, một địa danh gắn liền với lịch sử cư trú rừ rất xa xưa của tộc người Thái ở vùng đất Mường Sang xưa, Mộc Châu ngày nay.Có thể nói đây là một cảnh quan sinh thái tuyệt đẹp được thiên nhiên ban tặng cho chủ nhân vùng đất này. Ngoài tên gọi dân dã trên, thác nước này còn có tên gọi khác như thác Nàng, thác Dải Yếm, nhằm ví vẻ đẹp của thác nước như xuân sắc của người con gái tuổi trăng tròn.



Đó là những thắng cảnh kỳ vĩ do thiên nhiên và con người kiến tạo, là một phần không thể thiếu của vùng rừng núi Tây Bắc Sơn La.



Vùng đất văn hoá giàu hương sắc

Đến với Sơn La, bạn không chỉ được ngắm nhìn một vùng núi non hùng vĩ mà còn được khám phá về giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc: những vòng xòe cuốn hút, rượu cần ngây ngất men say, ánh lửa bập bùng và giọng hát ngọt ngào của các thiếu nữ miền sơn cước….

Sơn La là nơi hội tụ sinh sống lâu đời của 12 dân tộc anh em: Thái, Mông, Dao, Kinh, Mường, Khơ Mú, Kháng, La ha, Xinh Mun, Lào, Hoa, Tày. Giữa cái rất riêng của 12 dân tộc ấy là những nét rất chung, đó là sự giao hòa giữa các nền văn hóa:

Di tích lịch sử, văn hoá và khảo cổ

Vùng đất Sơn La hiện còn lưu giữ hơn 100 di tích lịch sử văn hóa và di chỉ khảo cổ, trong đó có chín di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia. Ngoài những chứng tích từ thời kỳ Lê sơ cho đến các di tích của một thời oanh liệt chống thực dân Pháp, các nhà khảo cổ còn phát hiện nhiều dấu vết của người Việt cổ và thu được nhiều công cụ sản xuất, săn bắt của người tiền sử.

Những di tích, dấu tích trên Hang Bia, Quế Lâm Nghị Chế, với bài thơ khắc của vua Lê Thái Tông đã khẳng định lịch sử, truyền thống hàng nghìn năm trước của mảnh đất này. Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu vẫn còn đó, là một minh chứng về những tội ác của giặc Pháp và tinh thần bất khuất, anh hùng của các chiến sĩ cách mạng Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc. Hàng nghìn cán bộ cách mạng từng bị giam cầm và có tới gần 200 đồng chí lãnh đạo các cấp của VN đã trưởng thành từ đó.

Cây Đào Tô Hiệu

Bảo tàng Sơn La lưu giữ những nét văn hoá đặc sắc của 14 dân tộc anh em sống ở Sơn La với hàng trăm di vật từ thời kỳ tiền sử, sơ sử được tìm thấy tại địa phương. Gần 1.000 bản sách được ghi chép bằng chữ Thái cổ ở nhiều thể loại (sử thi, trường ca, truyện thơ dân gian...) và nhiều vật dụng cầm tay bằng đá, sắt, hay trống đồng có niên đại nhiều nghìn năm, được tìm thấy trong các hang động và di chỉ ở Chiềng Ơn, Pắc Ma, Mường Chiên và khắp vùng lòng hồ sông Đà đang được bảo quản và trưng bày tại đây.

Đồn mộc lỵ huyện Mộc Châu, một địa danh đã đi vào lịch sử cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp của quân và dân Mộc Châu, Son La. Đồn được Thực Dân Pháp xây dựng năm 1947, năm 1951 được tăng cường lực lượng, vũ khí và mở rộng qui mô để cai trị, đàn áp nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu, khống chế quốc lộ 6 và quốc lộ 43 sang Hủa Phăn (Lào). Trong chiến dịch Tây Bắc, đêm 19/11/1952, trung đoàn 174, sư đoàn 3, đại đoàn 316 tấn công tiêu diệt Đồn Mộc Lỵ 53 chiến sĩ đã hy sinh trong trận đánh lịch sử này.

Đền thờ Vua Lê Thái Tông mang dáng dấp kiến trúc Đền cổ Việt Nam với các hoạ tiết mang đậm nét tâm linh của dân tộc, được khởi công tháng 9/2001, khánh thành 22/01/2003 để ghi nhớ công đức của nhà Vua, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân địa phương.

Di tích lịch sử Tập đoàn cứ điểm Nà Sản, nơi đánh dấu 5 trận đánh lớn nhất của quân và dân ta vào một căn cứ quân sự mạnh về hoả lực, đông về lực lượng của Pháp. Di tích đã đi vào lịch sử quân sự cách mạng Việt Nam, là bước tập dượt cho cuộc tấn công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ; Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp.

Lễ hội truyền thống

Phong tục tập quán và lễ hội truyền thống ở Sơn là mang nét đặc trưng riêng biệt của từng dân tộc. Nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc của 12 dân tộc sinh sống tại Sơn La đang được gìn giữ, phát huy, tiêu biểu như các lệ hội: Vào mùa, Hoa Ban, Cầu mưa của dân tộc Thái; Pang A Nụn Pan của dân tộc La Ha; Mương A Ma của dân tộc Xinh Mun; Xênh Pang Ả của dân tộc Kháng…

Như lễ hội Xen Pang Ả dân tộc Kháng được tổ chức với quy mô một vùng rộng lớn, gồm nhiều bản, và cứ 2 hay 3 năm được tổ chức một lần vào khoảng từ tháng 10 tới tháng 12. Lễ hội được tổ chức với mục đích mời các "ma nhà", "ma bản", "ma trời" hưởng lễ vật và những người được Pa Ả chữa cho khỏi bệnh (được coi là con nuôi) đến dâng lễ, tạ ơn, đồng thời để Pa Ả cầu chúc cho hồn vía các con nuôi lành mạnh, không hay ốm đau, làm ăn phát tài. Lễ hội Xen Pang Ả ngoài phần lễ cúng cầu xin, còn là nơi nhân dân diễn lại các công việc nương rẫy, thu hái lâm sản trong đời sống thường nhật, thông qua các trò diễn; chơi các trò chơi dân gian; hát đối đáp giao duyên; múa ống, múa khăn.

Đây là dịp để mọi người tạ ơn tổ tiên và các thế lực siêu nhiên đã giúp đỡ cho họ có sức khỏe, bản mường yên bình, no ấm. Đặc biệt lễ hội còn là dịp để lớp thanh niên chưa vợ chưa chồng tìm hiểu, hẹn hò nên vợ thành chồng, bởi vậy lễ hội Xen Pang Ả còn có ý nghĩa trong việc tái tạo cộng đồng dân tộc.

Hay lễ hội Mương A Ma dân tộc Xinh Mun thường từ 3- 5 năm tổ chức một lần. Người đứng ra tổ chức, chủ trì lễ hội là những người làm thầy mo trong bản. Lễ hội diễn ra trong 2 ngày, vào khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 2 âm lịch, khi mùa màng đã thu hoạch xong và năm đó được mùa, lúa ngô đầy nhà và nuôi được nhiều gà, lợn…Lễ hội Mương A Ma được tổ chức trong phạm vi gia đình, nhưng lực lượng tham gia làm công việc chuẩn bị lễ vật, cỗ bàn và đặc biệt là lực lượng tham gia phần hội thì bao gồm cả bản, từ các ông, bà già, thanh niên nam nữ và cả trẻ nhỏ, mọi người đều tham dự lễ hội với tinh thần tự giác, hăng say và nhiệt tình. Lễ hội Mương A Ma là một nét văn hóa tiêu biểu, đặc sắc nhất của đồng bào dân tộc Xinh Mun, là một hình thức sinh hoạt văn hóa tập thể lành mạnh, góp phần tích cực vào việc vun đắp tình đoàn kết cộng đồng, giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, tạo ra bầu không khí vui tươi phấn khởi, hướng người dân theo những cái thiện, xa rời cái xấu.

Có thể nói, lễ hội dân gian truyền thống chính là tiếng nói thể hiện ước muốn vươn tới những điều tốt đẹp của đồng bào các dân tộc Sơn La, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Văn hoá ẩm thực

Ở Sơn La, những món ăn đặc sản từ cây rừng, từ ao vườn, ruộng đồng, được chế biến bởi những bàn tay khéo léo của người con gái bản đảm đang thành những món ăn ngon khó quên.


Cơm lam

Cơm lam vẫn thấy trong các tiệc tùng lễ hội của nhiều dân tộc trên núi rừng Sơn La. Nhưng với người Thái, nó còn có trong từng bữa ăn thường ngày. Cũng là từ hạt nếp nương, nhưng cơm lam là loại cơm đặc biệt ngon vì nó không được nấu theo cách thức thông thường mà được nướng trên rừng rực than củi trong những ống nứa. Gạo nếp ngâm ủ qua đêm được cho vào từng ống nứa non, một loại tre rừng đặc biệt có lớp vỏ lụa mỏng bên trong lòng đốt, thêm nước vừa đủ và nút lại bằng lá chuối khô rồi đưa lên bếp đốt cho đến khi vỏ ống tre cháy sém. Sau đó chẻ tách phần cật nứa chỉ còn lại lớp lụa mỏng bó chặt từng cây cơm trắng nõn nà. Trên lớp vỏ lụa trắng mỏng ấy có thoáng chút mặn, chút hương của rừng và của khói làm cho miếng cơm dẻo thật sự thăng hoa. Ăn cơm lam, ngoài muối vừng, không thể thiếu một loại thức chấm có tên là chẩm chéo. Chẩm Chéo được chế biến từ muối, ớt tươi nướng, hành, rau mùi…, đặc biệt không thể thiếu loại trái rừng có tên là mắc khén, tất cả được đâm nhuyễn. Không có mắc khén không làm ra chẩm chéo, không có chẩm chéo không thành bữa cơm lam. Cơm lam Sơn La thường được bán vào mùa đông. Vì loại ống nứa để nướng cơm lam mùa này mới có. Để thưởng thức được một ống cơm lam.
Hay như món cháo “Mắc nhung” mang hương vị đặc trưng của núi rừng. Sau mùa gặt, quả mắc nhung gieo vãi trên nương bắt đầu chín mọng, bà con hái đem về rửa sạch, thêm gừng xả, trộn với gạo tấm, tưới ít nước đủ chín, túm vào lá chuối buộc chặt vùi trong tro bếp nóng, hoặc đồ xôi như món “Mọ gà” của đồng bào dân tộc Thái, chỉ 30 phút sau sẽ có ngay một món ăn sền sệt, ngăm ngăm đắng, thơm cay là lạ đầy hấp dẫn và chấm với xôi rất hợp khẩu vị, Ngày nay, cháo “Mắc nhung” đã trở thành món ăn đặc sản được mọi người ưa chuộng. Để có món cháo Mắc nhung (tiếng Mường gọi là quả ngố), người chế biến phải biết chọn loại tẻ thơm, nếu được tấm đầu vụ gặt non (như cốm) thì càng tốt. Dùng thịt sương sườn lợn nướng khô hay hun khói, băm nhỏ nấu nhuyễn với cháo tấm. Khi cháo chín tới cho quả Mắc nhung vào, đập thâm củ gừng, ở nướng và xả cả củ bỏ vào đáy nồi cháo, khuấy đều. Vài phút sau, đã có ngay món cháo "Mắc nhung" đặc sản thơm nồng, đặc sánh.

Các món ăn ngày tết của các dân tộc ở Sơn La cũng là một nét văn hoá ẩm thực gây ấn tượng sâu sắc đối với những ai đã từng đặt chân đến đây. Một số dân tộc ở Sơn La từ xưa đã có lệ vào mùa măng (nhất là măng tre, vầu, bương. lay) là làm các loại măng giành cho tết.. Măng chua: Chủ yếu dùng măng vầu, bương thái nhỏ hoặc giã cho vào hũ ủ lên men, càng để lâu càng chua. Măng chua chủ yếu để xào với các loại lòng lợn, gà và xào với thịt mỡ ăn đỡ ngấy. Măng héo: (Nó héo): Bà con Thái Trắng, đồng bào Mông ở Mộc Châu, Bắc Yên thường hay làm loại măng này. Măng héo làm từ măng chua. Măng chua vắt kiệt nước phơi nhiều ngày cho khô quắt lại, đem đồ xôi, rồi lại phơi thật khô, sau đó cho vào ống hay gói lá khô để dùng dần. Nó héo là một đặc sản. Một cân Nó héo tốn hàng hũ măng chua và dùng được nhiều lần. Món lòng xào chỉ cần cho một nắm "Nó héo", sẽ có vị chua ngon và rất thơm. Món canh ULR (còn gọi là lom nhọk): Ngày lễ – tết của người Khơ Mú không thể thiếu được món canh ULR , ULR được chế biến từ các loại thịt chuột, chim, sóc sấy khô băm nhỏ trộn với hoa chuối, các loại rau thơm, ớt chỉ thiên (cá quả), mắc khén, bột gạo nếp cho vào ống tre, bương bánh tẻ, đổ nước vào đem đốt (như đốt cơm lam). Khi sôi lấy que tre vót nhọn sọc liên tục đến lúc nào nhuyễn thì thôi. Khi đổ ra bát nó sền sệt, sánh dùng xôi nếp nắm chấm quệt ăn rất thơm và ngon.

Món mọk: Món mọk này người Thái, Mường, Khơ Mú…đều hay làm nhưng mỗi dân tộc làm một kiểu khác nhau, ngon nhất vẫn là mọk của người Khơ Mú. Mọk được chế biến từ thịt gà (nếu gà to chỉ lấy cổ, cánh, bộ lòng mề là đủ) băm nhỏ, ớt khô, mắc khén giã nhỏ, củ sả thái nhỏ, bột gạo nếp trộn với nhau cho vào lá chuối túm lại bỏ vào chõ xôi sôi lên. Khi chín cũng nhuyễn, sánh sền sệt như món canh ULR.
Bạn hãy thử một lần lên Tây Bắc, đến với Sơn La, vào một đêm lạnh dịu ngồi quanh bếp lửa, nhâm nhi rượu cần nồng nàn, ăn một miếng cơm lam, hay một bát cháo Mắc nhung ngọt ngào... thì mới cảm nhận hết được hương vị núi rừng của nền văn hoá ẩm thực nơi đây.

Nét đặc sắc của những làn điệu dân ca và những điệu múa say đắm lòng người
Nếu như hoa ban - hoa đào - hoa ''bó mạ''... là biểu tượng của các dân tộc ở Sơn La, thì những điệu múa của họ cũng làm nên một vườn hoa muôn sắc và ngát hương, mang bản sắc văn hoá độc đáo, vẻ đẹp tâm hồn trong sáng và thấm đẫm tình người...
Sơn La - thủ phủ trước đây của Khu tự trị Tây Bắc - một miền quê được mệnh danh là xứ sở Hoa Ban nổi tiếng với những làn điệu dân ca say đắm lòng người, và đặc biệt là những điệu múa vừa dịu dàng tha thiết, vừa rộn ràng, sôi nổi…

Điệu múa “nhảy khèn” của các chàng trai H’Mông thật độc đáo và hấp dẫn. Trong tiếng khèn lá dập dìu của các cô gái, các chàng trai cất lên tiếng khèn dập dìu, dồn dập… kèm theo những động tác múa thể hiện tài năng, sự khéo léo và cả sức dẻo dai: vừa thổi khèn liên tục, vừa quay tít nhiều vòng hoặc nhảy nhanh với những động tác chân phức tạp, có lúc lại lăn tròn dưới đất mà điệu khèn vẫn không dứt tiếng… Các nghệ nhân kể rằng: trước đây, trai tráng H’Mông còn thi tài quay trên lá chuối mà lá chuối không rách, quay trên đầu ba chiếc cọc gỗ nhỏ mà không ngã, thậm chí còn ly kỳ hơn: quay trên miếng ván bắc qua chảo nước nóng… Điểm độc đáo có một không hai của “nhảy khèn” là các động tác múa đều mang tính ngẫu hứng rất cao với sự sáng tạo phong phú đến bất ngờ của từng cá thể.
Ngày xưa các cô gái H‘Mông không có múa, nhưng ngày nay, từ giao thoa văn hoá và sức cuốn của phong trào các cô gái cũng múa chẳng kém con trai; phổ biến nhất là điệu múa ô nổi tiếng: những chiếc ô màu sắc rực rỡ cứ xoay tròn, lên cao, xuống thấp, quấn quýt ôm lấy thân hình con gái tạo nên vẻ đẹp uyển chuyển và sinh động.

Đến với đồng bào Dao để thưởng thức điệu múa Chuông. Những chiếc chuông được lắc mạnh tạo thành nhịp đều đặn, những sợi tua mầu được tung lên, hạ xuống, lượn tròn thật nhịp nhàng, sinh động và đẹp mắt. Xem múa Chuông, ta có cảm giác như những chùm tua mầu tung tăng, nhảy nhót giữa không gian cùng tiếng chuông thôi thúc... như lòng người háo hức, hân hoan. Xem múa Chuông, người am hiểu nghệ thuật cũng phải thán phục vì người Dao Tiền đã tạo nên tiết tấu múa bằng nhịp 5/4 và nhịp 7/4 - đó là loại nhịp ''phức'' của âm nhạc hiện đại. Độc đáo hơn, từng loại nhịp (5/4 hoặc 7/4) lại không kéo dài mà thường đan cài với nhau thành từng cụm: cứ hai nhịp 5/4 lại đến một nhịp 7/4 và thỉnh thoảng lại xen vào một số nhịp 4/4 mở đầu cho các đoạn múa lớn.
Xoè vòng là hình thức múa cộng đồng của dân tộc Thái. Từ xưa đến nay, xòe vòng của dân tộc Thái luôn có sức hấp dẫn đặc biệt. Mỗi khi âm thanh trầm bổng, nhịp điệu của trống xòe nổi lên lại thôi thúc mọi người đến với vòng xòe. Trong tiếng trống, tiếng chiêng, mọi người xích lại gần nhau, quây quần bên nhau, vui tươi, đầm ấm. Một vài chục người thì làm một vòng xòe, dăm bảy trăm người trở lên có thể chia ra nhiều vòng hay xếp vòng trong, vòng ngoài, nhiều nơi còn chia vòng theo lứa tuổi. Tay trong tay, vai kề vai, chân người nọ dịch bước theo chân người kia trong không khí, tình cảm say sưa, đầm ấm của vòng xòe, đêm xòe. Động tác, đội hình xòe đều rất giản dị, các tạo hình và động tác, tính chất nhịp nhàng của độ nhún, bước đi của vòng xoè rất gần gũi với nhiều động tác hoạt động của con người trong lao động và sinh hoạt hàng ngày. Nhịp xòe nhẹ nhàng uyển chuyển, nhưng đôi khi do không khí cuộc vui thôi thúc, mọi người vỗ tay, nhảy lên, hú lên rất náo nhiệt. Cũng có những động tác như người trực tiếp xòe, người đánh trống, đánh chiêng rất uyển chuyển, lúc mạnh, lúc nhẹ và có sức lôi cuốn mạnh mẽ.

Mang trong lòng ấn tượng về vòng Xoè và âm thanh của trống cồng... chúng ta lại đến với tiếng ''Cống tốp'' - một loại trống độc đáo của đồng bào Kh'Mú.
Khác với chiếc trống lớn được đánh bằng dùi trong những lễ hội lớn: Tiếng ''cống tốp''- (một loại trống nhỡ, vỗ bằng tay vào hai mặt trống) là tiếng trống đầm ấm của trai gái tộc người Kh' Mú. Bất cứ ở đâu, dù trong đêm trăng sáng hay bên ánh lửa hồng, tiếng trống cứ vang lên là con trai, con gái cùng háo hức bước chân, rạo rực nỗi lòng. Bởi trong tiếng trống đặc biệt ấy, họ tìm được bạn tình qua vũ điệu ''nộc Dung'' (chim Công); Một vũ điệu được cấu tạo qua con mắt thẩm mỹ rất độc đáo của người Kh' Mú từ ngàn xưa truyền tại: Trong vũ điệu, người Kh' Mú không miêu tả vẻ đẹp lộng lẫy bên ngoài của chim Công mà họ tái hiện những cử chỉ của chúng thành những động tác múa sôi nổi, quyến rũ, lôi cuốn và gợi cảm... Để vũ điệu trở thành mê say trong sự giao duyên đầy ý nhị của đầu, của vai, của mông, trong những bước chân nhịp nhàng, lẫn và ánh trăng, hoà vào bóng núi, giữa bản mường quê hương.
Sơn La - phố núi thật giàu bản sắc. Mới chỉ vài nét văn hoá giản đơn trong ăn mặc, ẩm thực, sinh hoạt tinh thần mà đã ấn tượng biết bao, đã tạo thành thế mạnh vật thể và phi vật thể của vùng sơn cước; thành lời mời gọi, thành cớ giữ chân, thành lời nhắn nhủ, ước hẹn gặp lại với những người đã đến và cả những người chưa đến Sơn La.

HỌ LÊ

Lê (chữ Hán: 黎) là một trong các họ phổ biến nhất ở Việt Nam. Lê (phiên âm Hán Việt của 黎) cũng là một trong các họ của Trung Quốc, họ này thường xuất hiện ở miền Nam Trung Quốc (Quảng Đông - Hồng Kông). Tuy nhiên, theo gia phả của họ Lê, dòng họ này được coi là thủy tổ của người Việt từ thời khai thiên lập địa từ dân tộc Lạc Việt đến Đại Việt. Đặc biệt, họ cho rằng dòng họ này chỉ tồn tại ở nước Việt như An Dương Vương Phục Phán là ông tổ của họ Lê.

Tại Trung Quốc, có các thuyết sau về nguồn gốc của họ Lê tại quốc gia này:

* Hậu duệ của bộ tộc Cửu Lê.
* Nước Lê (ngày nay là huyện Lê Thành, địa cấp thị Trường Trị, Sơn Tây, Trung Quốc) là chư hầu của nhà Thương, sau bị Tây Bá hầu Cơ Xương tiêu diệt. Đến khi Chu Vũ Vương thi hành chế độ phong kiến, phong tước cho các hậu duệ của Đế Nghiêu. Hậu duệ của những người cai trị nước Lê được phong tước hầu. Con cháu sau này lấy tên nước làm họ, do đó mà có họ Lê.
* Giai đoạn Ngũ Hồ loạn Hoa thời kỳ Nam-Bắc triều, những người Tiên Ti di cư từ phương Bắc xuống Trung Nguyên, sau bị Hán hóa và cải họ thành họ Lê. Ngụy thư quan thị chí có viết: "Tố Lê thị hậu cải vi Lê thị".
* Một chi trong Thất tính công của người Đạo Tạp Tư (Taokas) ở miền tây Đài Loan sau bị Hán hóa, đã giúp đỡ nhà Thanh dẹp yên cuộc nổi dậy của Lâm Sảng Văn nên được Càn Long ban cho họ Lê.

[sửa] Những người Việt Nam họ Lê nổi tiếng

* Lê Đại Hành (Lê Hoàn), vua sáng lập nhà Tiền Lê
* Lê Thái Tổ (Lê Lợi), vua sáng lập nhà Hậu Lê
* Lê Thánh Tông, vua anh minh nhất nhà Hậu Lê
* Lê Văn Hưu, nhà sử học đời nhà Trần, tác giả bộ Đại Việt sử ký nay không còn nhưng được sử gia Ngô Sĩ Liên đã dựa vào để soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư
* Lê Hựu Hà, Nhạc sĩ Việt Nam
* Lê Hữu Trác, Danh y Việt Nam, thường được gọi là Hải Thượng Lãn Ông.
* Lê Quý Đôn, nhà bác học thời Lê-Trịnh
* Lê Duẩn, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
* Lê Khả Phiêu, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam
* Lê Văn Thiêm: nhà toán học Việt Nam.
* Lê Trọng Tấn: Đại tướng, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
* Lê Minh Hương: Thượng tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam
* Lê Đức Anh: Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1992 đến tháng 12 năm 1997.
* Lê Xuân Tùng: nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII.
* Lê Hồng Anh: Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam.
* Lê Thanh Hải: Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X.
* Lê Văn Dũng: Đại tướng,Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.
* Lê Bá Khánh Trình, nhà toán học Việt Nam.
* Lê Quang Linh, ca sĩ dòng dân ca Việt Nam.

[sửa] Những người Trung Quốc họ Lê nổi tiếng

* Lê Cảnh Hi, nhà thư pháp nổi tiếng thời Bắc Chu.
* Lê Nguyên Hồng, tổng thống Cộng hòa Trung Hoa sau Viên Thế Khải
* Lê Dân Vĩ, người khai sinh nền điện ảnh Hồng Kông
* Lê Minh, nam ca sĩ, diễn viên Hồng Kông
* Lê Tư, nữ diễn viên Hồng Kông

Đình Kiều Mai

Đình Kiều Mai thuộc thôn Kiều Mai, xã Phúc Diễn, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội.

Đình Kiều Mai thờ thành hoàng làng là Đào Trường, người có công đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc và giúp vua Hùng dẹp loạn trong nước nên được phong là Bạch Hạc Tam Giang. Khi mất ông được nhân dân địa phương thờ phụng. Ngoài ra, dân làng Kiều Mai còn thờ Quốc công là một vị tướng của Hai Bà Trưng làm Thành hoàng tại làng Phú Mỹ (Từ Liêm). Hàng năm cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng, dân làng Kiều Mai rước thần vị Quốc công tới Phú Mỹ để tế rồi lại rước về. Lễ hội này là một cuộc giao lưu văn hoá giữa hai làng Kiều Mai và Phú Mỹ. Hai làng đã kết giao với nhau chặt chẽ không chỉ về mặt thờ thành hoàng mà còn cả trong đời sống hàng ngày.

Đình Kiều Mai được xây dựng khoảng thế kỉ XVII và trải qua nhiều lần trùng tu. Đình nằm trên một khu đất cao, trước mặt có giếng nước tốt, vẫn còn được sử dụng cho tới ngày nay. Qua giếng là tới sân đình có tường bao quanh và liền kề với một cái ao ở phía bên trái. Dọc hai bên sân lại có hai dãy nhà dải vũ, mỗi dãy năm gian. Cuối sân là đại đình, trên đỉnh nóc đắp hai con long mã và hai đầu thềm đều được chạm nổi hai đầu hổ. Phần trang trí phía trong tập trung vào phần mái và trên các bức cốn, cửa võng với các đề tài tứ linh và tứ quý cùng với vân mây, sóng nước. Các bộ phận trang trí đều được sơn son thiếp vàng. Hậu cung là một khám gỗ trong đặt long ngai, bài vị Thành hoàng.

Đình Kiều Mai hiện còn giữ được một số hiện vật quý với nhiều loại hình, ở nhiều chất liệu như cuốn Thần phả ghi niên hiệu Hồng Phúc 1 (1572), 10 đạo sắc phong trong đó có sắc phong Quang Trung 5 (1792), sắc Cảnh Thịnh 4 (1802) đều phong Thần là Hộ quốc tý dân, anh minh, Thượng đẳng Phúc thần, 13 tấm bia đá trong đó có nhiều bia ghi lại việc trùng tu lớn vào năm Cảnh Trị 1 (1663), một chuông đồng, long đình, bài vị.

Riêng về kiến trúc, đình Kiều Mai là một trong số rất ít những ngôi đình có đầu đốc nằm dọc, quay ra phía trước. Kiều Mai là một ngôi đình cổ còn nhiều nét chạm được giữ lại mang nét nghệ thuật thế kỉ XVII. Đình Kiều Mai còn là nơi hội họp của dân làng và chính quyền cách mạng lâm thời thời kì những năm 1946.

Đình đã được công nhận là Di tích Lịch sử - văn hoá năm 1994.

Quê Hương là chùm khế ngọt

Làng Kiều Mai
(Theo Hà Nội Mới )

Làng Kiều Mai(HNMĐT) - Làng Kiều Mai nằm ven bờ sông Nhuệ, trước Cách mạng Tháng Tám 1945 cùng với ba làng : Đình Quán, Ngoạ Long, Nguyên Xá hợp thành xã Phúc Diễn thuộc huyện Từ Liêm. Cả bốn làng có dân số là 1653 người. Tên gọi xa xưa của Kiều Mai là Mai Trang trại, nền làng cũ ở giáp Cầu Diễn.

Làng ở gần cầu, lại có rừng mơ lớn, nên mới gọi là Kiều Mai. Về sau, dân làng tin rằng, thế đất ở gần sông hay bị vận hạn (!?) nên chuyển đến chỗ hiện nay. Vết tích của làng cũ còn lại là giếng đá, vườn trúc, văn chỉ cách đây trên 20 năm vẫn còn. Điều này chứng tỏ cuộc di chuyển này diễn ra cách đây vài trăm năm. Ngày nay, Kiều Mai là một thôn của xã Phú Diễn.

Làng Kiều Mai là nơi cư trú của các họ : Đào (dòng họ lập cư đầu tiên), Nguyễn Đình (từ Hữu Thanh Oai lên), họ Lê (ở làng Phú Diễn chuyển sang), Trần (từ làng Trung Kính, nay thuộc quận Cầu Giấy). Trước đây, trai đinh trong làng chia thành hai giáp Đông và Đoài.

Kiều Mai là làng nông nghiệp đồng mùa. Xưa kia làng có 280 mẫu ruộng nhưng hầu hết nằm trong tay các gia đình thuộc thành phần địa chủ. Chất đất lại xấu, nên năng suất lúa rất thấp, đời sống dân làng rất nghèo. Trước Cách mạng, cả làng chỉ có ba ngôi nhà ngói. Từ sau trận lụt do vỡ đê Liên Mạc, được phù sa bồi nên đồng ruộng trồng khoai lang, ngô, các loại rau vụ đông rất tốt.

Làng Kiều Mai thờ ả Lã Nàng đê - một tướng của Hai Bà Trưng quê ở làng Nghĩa Lộ (nay thuộc xã Yên Nghĩa, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây). Hội làng diễn ra vào ngày mồng 10 tháng Hai. Trong hội có một số tục quan trọng :

Một là tục thi xôi cây giữa hai giáp trong làng. Mỗi giáp thổi một lượng xôi trắng đủ để chất cao thoe một cột đan vòng bằng tre như cái mũ, giáp nào chất xôi cao hơn, xôi trắng, mịn hơn thì được giải.

Hai là, tục kết nghĩa với làng Phú Mỹ ở bên kia sông. Tục kết nghĩa có hai nguồn gốc. Một nguồn từ việc thờ cúng : làng Phú Mỹ thờ Quốc công - anh trai của của ả Lã Nàng Đê cũng là tướng của Hai Bà Trưng. Một nguồn từ quan hệ canh tác. Một bộ phận lớn ruộng đất của làng Kiều Mai (280 mẫu) nằm sát hoặc nằm xen với ruộng của làng Phú Mỹ (1091 mẫu) nên hai làng coi nhau như anh em. Hiện tại đình làng còn bản Giao từ sự lập ngày10 tháng Giêng năm Duy Tân thứ năm (1911) ghi lại việc chức dịch và dân hai làng lập thoả ước kết nghĩa được duy trì từ lâu đời. Mỗi năm, vào ngày hội của làng Phú Mỹ (mồng 7 tháng Giêng), làng Kiều Mai rước thánh xuống đình Phú Mỹ để cùng tế; đến ngày 10 tháng Hai, Kiều Mai mở hội, Phú Mỹ lại rước qua sông Nhuệ sang cùng tế.

Không chỉ giao hiếu trong tế lễ, hai làng còn có quan hệ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống thường ngày. Có lần Kiều Mai bị hoả hoạn, mấy chục ngôi nhà bị cháy, Phú Mỹ lập tức huy động góp tte, nứa, rơm rạ và nhân công sang giúp dựng lại nhà. Một lần khác, Kiều Mai bị dịch bệnh làm chết nhiều trâu bò, Phú Mỹ mang trâu sangcày giúp Quan Anh. Ngược lại, nhiều lần, Phú Mỹ vì nhiều ruộng nên cấy muộn, Kiều Mai mang trâu bò, nhân công sang cày cấy giúp. Từ năm 1989 đến nay, tục kết nghĩa giữa hai làng được phục hồi.

Làng Kiều Mai có vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và kiểm tra phong trào làm thuỷ lợi, chống hạn vào ngày 7 - 8 - 1955. Nơi Bác dừng chân nói chuyện với cán bộ và dân làng hiện đã được dựng bia tưởng niệm.

Kiều Mai hiện đang thay đổi sâu sắc trên con đường đô thị hoá.
[/FONT]

Bưởi Diễn

Bưởi Phú Diễn

Bưởi Phú Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) ngon không kém bưởi Ðoan Hùng (Phú Thọ). Ngọt, thơm, cùi mỏng, ít hột, nhiều nước hơn, có phần ấn tượng hơn nữa. Theo cụ Vũ Văn Chức (xóm Chùa, Ðức Diễn), từ năm 1910 ông lý trưởng đất Diễn là Vũ Văn Khang, người xóm Ðông, lên thăm em trai là Vũ Văn Mười ở Ðoan Hùng, có đem theo một cây bưởi con về trồng ở vườn nhà. Mấy năm sau, thấy cây ra quả ngon, hơn 100 gia đình trong làng xin chiết cành về trồng, sau đó nhân ra khắp làng, khắp xã. Cụ Vũ Xuân Châu (người xóm Ðông), đã 73 tuổi cho biết, khi cụ sinh ra, bưởi đã có ở đây từ đời ông cụ ngoại rồi, nghĩa là khi ông biết thì bưởi đã được trồng ở vườn nhà ông ít nhất 40 năm. Nhưng bác Nguyễn Văn Ngó thì được cụ thân sinh kể là, thời nhà Nguyễn, làng có ông Trinh làm quan triều đình tới hàm bát trụ. Một tết, về thăm làng, ông mang theo một quả bưởi. Cả nhà ăn, thấy ngon liền lấy hạt đem gieo. Bưởi ngon có từ đó. Loại bưởi này hằng năm không cho nhiều quả nhưng rất ngon nên dành để tiến vua, được gọi là bưởi tiến để phân biệt với các giống bưởi khác. Bưởi tiến dần dần lấn át các loại bưởi khác, chiếm vị trí độc tôn trong vườn quả ở Diễn.

Gắn bó lâu năm với bưởi có gia đình cụ Nhương, cụ Doanh, cụ Bảy Thi. Trồng nhiều nhất là gia đình ông Vũ Kế Giảng, có đến gần một mẫu tây, thu hoạch năm 2000 gấp từ 4-5 lần trồng cây ăn quả khác. Rồi vườn cây của ông Nguyễn Văn Ngó ở Ðình Quán, có tuổi từ 10-15 năm. Bưởi cho từ 70-90 quả một cây, chất lượng cao giá bán tại gốc đến 12-13 nghìn một quả.

Ðể có được mùa thu bưởi đòi hỏi người trồng đầu tư không ít. Cây giống là Bưởi chiết từ cành cây gốc vào tháng giêng, hai hàng năm. Sau khi chiết cành hai ba tháng rễ vàng như mầu mỏ chim sáo mới chích ra trồng được. Hố để trồng bưởi không đào sâu, trồng nổi bầu, chỉ sâu độ một gang tay. Người trồng bưởi có kinh nghiệm lấy thuốc ngâm xà phòng tưới vào gốc và quét vôi một đoạn gốc để diệt sâu vẽ bùa, loại sâu chuyên ăn lá bưởi non. Khi cây sắp ra hoa thì có lại muội vẩy, như vẩy rêu cây cau. Loại muội này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và sản lượng quả nên người trồng bưởi phải dùng thuốc phun vào cây sau khi có mưa hoặc phải phun nước trước cho ẩm thân cành rồi mới phun thuốc.

Ðến gần Tết, bưởi được hái xuống. Quả bưởi bổ ra sẽ thấy vỏ rất mỏng, cùi trắng xốp tỏa mùi thơm ngào ngạt. Tép bưởi ráo múi, khô tay, mọng nước như bưởi Thanh Trà xứ Huế và vị ngọt như đường phèn. Nước bưởi dính vào quần áo sẽ vương mãi mùi hương bưởi. Bưởi của những cây lâu năm ngon hơn bởi tép vàng, khô, mọng nước và thơm ngát hơn. Chợ Diễn thuộc làng Vàng, Ðức Diễn mà câu ca dao xưa đã nhắc đến những đặc sản của đất kinh kỳ:

"Cam Canh, bưởi Diễn, cốm Vòng Quất vàng Quảng Bá, đào hồng Nhật Tân Táo soan Thiện Phiến, Gia Lâm Cá rô Ðầm Sét, sâm cầm Hồ Tây"

Và:

"Chợ Diễn một tháng sáu phiên Bưởi vàng trái ngọt ai quên, nhớ về".

Ai muốn ăn bưởi Diễn hãy đến tận vườn nhà, sẽ được tận hưởng hương thầm thú vị của một vùng quê ngoại ô, dịu dàng, kín đáo như tình người trồng bưởi.
[/SIZE][/FONT]
May 2012
M T W T F S S
April 2012June 2012
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31