Người đàn bà đi nhặt mặt trời Sáng tác: Trần Đức Tiến --------------------------------------------- Người đàn bà đi nhặt mặt trời Trên đống bỏ hoang của loài người Màn đêm che lối Tưởng rằng nắng tươi Sương đọng trên lá Ngỡ giọt nắng rơi Quên hết vì đâu Đời mình nên tội
Người đàn bà đi nhặt cuộc tình Không nhớ người quen bỏ mặc mình Tuổi xanh khát nắng Giữa đời cháy da Đưa mặt lên khóc Thương tình xót xa Hay khóc người xưa Lệ nào cho vươn
Người đàn bà đi nhặt đời mình Trên đống bỏ hoang đầy tội tình Cỏ cây như đưa Mơ hồ biết đâu Con đường đêm vắng Côn trùng ruỗi nhau Chia chát niềm đau Đời người phai mau
Người đàn bà đi nhặt mặt trời Hong ấm tình yêu của loài người Buồn thương nơi ấy Có người hóa điên Quen mùi chăn gối Nhưng chẳng nhớ tên Trên đống bỏ hoang mà lầm thiên đàng Trên đống bỏ hoang mà lầm thiên đàng!
Có lẽ đàn tranh là cây đàn được nhiều người Việt biết đến nhiều nhứt và có đông người học nhứt trong số các nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Thật ra đàn tranh không phải bắt nguồn từ Việt Nam mà đúng ra là từ Trung Quốc. Có một giả thuyết cho rằng tiếng đàn khi đánh lên nghe giống như âm từ "tranh". Nhưng giả thuyết này không đứng vững. Về sau có một số giả thuyết khác cho rằng đàn tranh là do chữ "tranh" có nghĩa là "tranh luận thêm một bộ trúc phía trên. Giả thuyết này có đưa ra một huyền thoại. Nói rằng ngày xưa có hai người tranh nhau một cây đàn "sắc' có 25 dây . Mông Điềm, một vị quan thời nhà Tần, mới chặt cây đàn sắc ra làm hai, một cây đàn 12 dây và một cây đàn 13 dâỵ Từ đó người ta mới gọi là đàn tranh. Một huyề thoại khác nói rằng dưới thời nhà Tần có hai chị em nhà kia tranh nhau một cây đàn sắc có 25 dây. Dành qua dành lại, cây đàn rớt xuống bể làm haị Người chị lấy cây đàn có 13 dây, còn người em lấy cây đàn 12 dâỵ Từ đó mới phát xuất tên đàn tranh. Điều chắc chắn là đàn tranh Trung Quốc đọc là zheng (tsân) được xuất hiện giữa khoảng thế kỷ thứ ba trước công nguyên vào cuối nhà Tần.
Ở Việt Nam, đàn tranh xuất hiện đầu tiên vào lúc nào, không ai biết rõ. Có thể vào cuối thế kỷ thứ 9. Nhưng có điều chắc chắn là đàn tranh được nhắc đến lần đầu tiên trong dàn tiểu nhạc dưới thời nhà Trần (1225-1400) trong quyển Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ. Ông Phạm Đình Hổ kể rằng cây đàn tranh chỉ có 15 dây chứ không phải 16 dâỵ Người đánh đàn mang móng bằng bạc để khảy hoặc dùng hai khúc cây sậy nhỏ đánh lên dây theo kiểu đánh đàn tam thập lục ngày nay. Cách dùng cây sậy khỏ lên dây không còn được truyền tụng nữa.
Click this bar to view the full image. Click the image to open in full size.
Đàn Tranh còn được gọi là Đàn Thập Lục (16 dây). Thùng đàn dài khoảng từ 100cm tới 110cm. Một đầu rộng từ 17cm tới 20cm, và một đầu nhỏ cỡ 12cm tới 15cm. Mặt âm bảng làm bằng cây ngô đồng hình cầu vòng. Thành đàn làm bằng gỗ trắc. Đáy đàn làm bằng một miếng ván có khoét ba cái lỗ: lỗ hình bán cầu ở phía dưới đầu đàn để có chỗ cột dây đàn cho đừng bị tuột dây; lỗ thứ nhì hình chữ nhựt ở giữa đáy đàn dùng để cho người đàn có nơi để xách đàn, và lỗ thứ ba tròn và nhỏ dùng để treo đàn trên vách tường sau khi hết muốn đàn nữa. Đầu đàn có một sợi dây bằng đồng uốn cong gọi là "cầu đàn" dùng làm điểm tựa cho 16 dây đàn bằng thép . Mỗi sợi dây căng từ cầu đàn tới trục đều chạy trên một con nhạn (còn gọi là " ngựa đàn" - chevalet theo tiếng Pháp hay bridge theo tiếng Anh). Nhạn có thể di chuyển tùy theo cách lên dây đàn theo điệu Bắc, Nam, Xuân, Ai , Đảo, Oán,vv... Âm vực của đàn tranh cổ truyền là ba bát độ hay quãng 8 (octave) .
Theo truyền thống miền Trung và Bắc, người đàn sử dụng ngón tay cái, trỏ và giữa của bàn tay mặt hoặc với móng tay thật để dài mà khảy nhưng âm thanh phát ra không được trong trẻo) hoặc với móng gẩy (onglet / plectrum) đeo vào. Ở miền Nam chỉ dùng có hai ngón tay mặt: ngón cái và ngón trỏ mà thôi . Có nhiều thủ pháp cho tay mặt rất được phổ thông cho đàn tranh. Cách gẩy lướt trên các dây đàn tạo thành một chuổi âm dài . Có hai cách đàn chữ Á.
Á xuống gẩy với ngón cái từ các âm cao đến âm thấp khoảng 7 hay 8 dây liên bậc Á lên gẩy với ngón tay trỏ từ âm thấp tới âm cao. Kỹ thuật này rất được ưa thích tại Việt Nam và nhứt là các nhạc sinh thế hệ trẻ sau này thường đàn trong các nhạc phẩm mới sáng tác Đánh chồng âm, hợp âm thường được thấy trong nhạc đàn tranh, có nghĩa là hai âm thanh cùng đánh một lúc tạo thành hai âm cách nhau một quãng tám, gọi là song thanh ( miền Nam), hay song long (miền Bắc), có khi liên bậc hay có khi cách bậc. Đánh song huyền là cách đánh hai dây cùng một lúc nhưng âm thanh không cách nhau một quãng tám như song long/song thanh màcó thể là quãng 2, 3, 4, 5 vv ...
Đánh nhiều dây là đánh cùng một lúc ba hay bốn dây tạo thành một hợp âm. Kỹ thuật này mới được áp dụng sau này co chiều hướng tây phương. Ngón vê làdùng các ngón tay mặt gẩy liên tục thật mau trên một dâỵ Có thể vê hai dây. Một số thủ pháp như ngón láy rền, ngón vuốt, vv... làm tăng thêm sự phong phú của kỹ thuật đàn tranh Việt Nam. Thủ pháp của bàn tay trái góp phần để tạo rõ hiệu quả âm thanh tính qua các ngón rung, ngón nhấn, ngón vỗ . Mấy lúc sau này tay trái còn được sử dụng phối hợp với bàn tay mặt để đánh các chồng âm hay một vài kỹ thuật khác . Thủ pháp tay trái gồm có:
Ngón rung là dùng 2 hay 3 ngón tay trái rung nhẹ trên sợi dây tạo một âm thanh phát ra giao động như làn sóng nhỏ
Ngón nhấn thể nhấn nửa bậc, một bậc hay một bậc rưỡi Ngón nhấn láy được dùng rất thường ở đàn tranh
Ngón vỗ dùng ngón tay mặt gẩy dây cùng một lúc ngón tay trái vỗ và nhấc lên ngay.
Ngón vuốt dùng tay mặt gẩy đàn, tiếp theo dùng 2 hay 3 ngón tay trái vuốt trên dây đàn đó làm tăng sức căng của dây đàn một cách đều đều, liên tục âm thanh được nâng cao lên nửa cung hay một cung là thủ pháp của tay trái mà trước đây quá ít người biết sử dụng. Có thể gẩy bằng hai tay để tạo thêm chồng âm . Thường là tay trái gẩy những âm rải trong khi tay mặt phải sử dụng ngón vê , hoặc trong khi tay mặt nghỉ. Đôi lúc có thể gẩy giai điệu trong bản nhạc, đặc biệt là những đoạn nhạc êm dịu, trữ tình.
Bồ âm là kỹ thuật mới bắt nguồn từ kỹ thuật đàn bầu, nghĩa là chạm cạnh bàn tay trái lên giữa dây đành tính từ cầu đàn tới con nhạn trong khi tay mặt gẩy dây đó.
Cách lên dây đàn:
Có nhiều cách lên dây đàn tranh tùy theo điệụ Sau đây là một số lên dây căn bản Dây Bắc, Quảng: Sol - La - Do - Re - Mi - Sol Dây Đảo : Sol - La - Do - Re - Fa- Sol Dây Nam Ai,Xuân:Sol - Sib - Do - Re - Fa- Sol Dây Vọng cổ : Sol - Sib + Do - Re - Mi - Sol Sa Mạc : Sol - Sib+ Do - Re - Fa- Sol Tây Nguyên : Sol - Si Đo - Re - Fa#- Sol
Bài bản căn bản:
Vềbài bản cho nhạc sinh học đàn tranh, tôi chỉ ghi lại đây một số bài căn bản theo truyền thống miền Trung và miền Nam mà thôi.
Theo truyền thống miền Trung, dây Bắc có 10 bài ngự:
1. Phẩm tuyết 2. Nguyên tiêu 3. Hồ quảng 4. Liên hoàn 5. Bình nguyên 6. Tây mai 7. Kim tiền 8. Xuân phong 9. Long hổ 10.Tẩu mã
Về bài bản theo dây Nam thì có:
1 Nam ai (còn gọi là ai giang) 2. Hành vân 3. Nam xuân (còn gọi là Hạ giang hay Nam chiến) 4. Nam bình (còn gọi là vọng giang) 5. Chinh phụ 6. Tứ đại cảnh 7. Tương tư khúc
Truyền thống miền Nam trong nhạc đàn tài tử gồm có một số bài dây Bắc:
Bài nhỏ:
1. Lưu thủy đoản 2. Bình bán 3. Kim tiền Huế 4. Tây thi vắn 5. Khổng Minh tọa lầu 6. Mẫu tầm tử 7. Long Hổ hội 8. Thu hồ
6 bài lớn:
1. Lưu thủy trường 2. Phú lục 3. Bình bán chấn 4. Xuân Tình 5. Tây thi 6. Cổ bản
7 bài lớn trong nhạc lễ :
1. Xàng xê 2. Ngũ đối thượng 3. Ngũ đối hạ 4. Long đăng 5. Long ngâm 6. Vạn giá 7. Điệu khúc
1. Nam ai 2. Nam xuân 3. Đảo ngũ cung 4. Tứ đại oán 5. Văn Thiên Tường 6. Vọng cổ
Sự đóng góp của một số giáo sư cổ nhạc như GS Nguyễn Hữu Ba, GS Bửu Lộc, GS Vĩnh Phan, GS Nguyễn Vĩnh Bảo, đã tạo ra một số nhạc sĩ trẻ có đầu óc muốn cải tiến và phát triển như Phạm Thúy Hoan và các nhạc sĩ nhóm Hoa Sim như Quỳnh Hạnh, Phương Oanh, Ngọc Dung ở Saigon trước 1975 . GS Nguyễn Vĩnh Bảo đã dựa trên các cây đàn tranh của Đài Loan, Nhựt Bổn mà chế biến những đàn tranh 17, 19 và 21 dây với những âm thanh thật trầm và thật sống làm cho âm sắc giàu hơn nhiều Tại Paris, Trung Tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre d'Etudes de Musique Orientale / Centre of Studies for Oriental Music) do GS Trần Văn Khê sáng lập vào năm 1958 đã đào tạo hàng trăm nhạc sinh đàn tranh đủ các quốc tịch trong vòng 30 năm (tính cho tới năm 1988 là năm trung tâm này đóng cửa).
Ngày xưa, đàn tranh ít được phổ biến, chỉ hòa đàn trong dàn nhạc ngũ tuyệt, đàn tài tử miền Nam, hay là độc tấu, hoặc đệm cho một người hát . Ngày nay, với những kích thước lớn nhỏ khác nhau, với số dây từ 16 lên tới 21 dây hay nhiều hơn nữa, với những thủ pháp tân kỳ, đàn tranh có thể độc tấu, hòa tấu, đệm cho hát, cho ngâm thơ và luôn cả trong nhạc điện thanh (electro-acoustical music/ musique electro-acoustique) mà nhà sọan nhạc Nguyễn Văn Tường và tôi đã cọng tác để thực hiện qua nhạc phẩm Về Nguồn trình bày lần đầu tại Pháp năm 1975 . TS Lê Tuấn Hùng đã bảo vệ luận án tiến sĩ nhạc học về Đàn Tranh, bài bản đàn tranh tại trường đại học Monash University, Melbourne, Úc Châu vào năm 1991. Tại Pháp có GS Trần Văn Khê, Trần Thị Thủy Ngọc, Quỳnh Hạnh và Phương Oanh mở lớp dạy đàn tranh . Tại Canada, có Đức Thành ở Montreal dạy đàn tranh hàm thụ và trình diễn đàn tranh .Tại Úc châu có Lê Tuấn Hùng. Tại Hoa kỳ có TS Nguyễn Thiếu Phong, BS Đào Duy Anh.
Tôi đã giới thiệu đàn tranh tại Pháp và ở hải ngoại từ năm 1966 qua hàng nghìn buổi trình diễn và tại hàng trăm đại hội liên hoan nhạc truyền thống khắp năm châụ Với 23 dĩa hát thực hiện tại Pháp (15 dĩa như 33 vòng , 8 CD), tôi đã mang tiếng đàn tranh đi vào 60 quốc gia và nhơ ` đó ai ai đều biết tới tiếng đàn tranh Với một cái nhìn tổng quát vềcác loại đàn tranh ở Viễn Đông, tôi hy vọng mang lại cho độc giả một cái nhìn xác thực về sự đa diện của cây đàn tranh và sự giàu có về âm thanh, thủ pháp, bài bản, cũng như về các nhạc sĩ, các nhà viết nhạc cho một nhạc khí đặc trưng của Viễn Đông: Đàn Tranh.
Tại Việt Nam ngoài Phạm Thúy Hoan, còn có hiện nay ba nữ nhạc sĩ đàn tranh trẻ tuổi là Hải Phượng (đoạt giải Tài năng trẻ đàn tranh toàn quốc 1992), Vân Ánh (đoạt giải đàn tranh tài năng trẻ năm 1995) , và Thanh Thủy (đoạt giải tài năng trẻ đàn tranh năm 1998) . Một hội đàn tranh Châu Á lần đầu được tổ chức tại Saigon từ 10 tới 14 tháng 9, 2000 với sự tham dự của hơn 200 nhạc sĩ đàn tranh của Việt Nam, Đại Hàn, Nhựt Bổn và Tân Gia Ba thổi một luồng gió mới vào nhạc dân tộc trong xứ, và có thể làm phát triển đàn tranh ở Việt Nam. http://www.vietnamtourism.edu.vn/cac-loai-nhac-cu-viet-nam/9422-dan-tranh.html
Nguồn gốc tên gọi đàn tranh Posted by: Hà Vũ Trọng (---.cpe.net.cable.rogers.com) Date: May 27, 2006 11:32AM Posted by: Vu Viet Hung (220.163.24.---) Date: March 25, 2006 12:26AM
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÀN TRANH
Đàn tranh là 1 loại đàn xuất hiên sớm nhat o Trung quốc.Căn cứ vào những khảo chứng thì vào thời Xuân thu chiến quốc đã luu hành rộng rãi loại đàn này.Tính đến ngày nay,đàn tranh đã có 2500 năm lịch sử.
Thông thường người ta gọi đàn tranh là cổ tranh, cũng giống như cách gọi cổ cầm đối vơi đàn cầm,điều này có lẽ đàn tranh và các loại nhac cụ khác có một cội nguần lịch sủ, ngào ngạt tính đặc sắc dân tộc cho đến sự phong phú của ca khúc đàn tranh đã giữ lại được sự trang nhã, hứng thú va tình cảm nhat định.Thời cổ đại,đàn tranh còn được gọi là Tần tranh,Dao tranh,Ngân tranh,Vân tranh,Tố tranh...
(-) Nguần gốc và các loại hình đàn tranh
Về nguần gốc cua đàn tranh, lịch sủ ký tải ko giống nhau,đại thể co 3 thuyết: 1, Phân cầm vi tranh thuyết(đàn tranh là do đàn cầm bị chia ra làm 2) Trong lịch sư cổ đại ,thực sự có sự phân loại này. Đường Triệu Lân(Tang zhaolin) trong (Nhân thoại lục) ký tải:" đàn tranh,tức là Tần nhạc vậy, là 1 loại của đàn cầm, có 50 dây. Hoàng đế lệnh cho tố nữ gảy đàn, nghe hay ko dứt dẫn đến đàn bị vỡ.Người Tần gảy đàn,anh em tranh nhau, lại bị vỡ ra làm 2.Từ đó được gọi là đàn tranh" Đinh Độ thời Tống cũng có thuyết tương tự:"Người Tần bạc nghĩa, cha con tranh nhau cây đàn cầm dẫn đến bị vỡ,từ đó gọi là đàn tranh.Nhật Bản thế kỷ 17 trong(Nhạc đạo loại tập)"nguoi Tần có con mà vô nghĩa, đưa 1 cây Cầm cho 2 con gái, tranh nhau mà bị vỡ làm 2, từ đó gọi là đàn tranh"
Thuyết này thực sự ko co 1 chút khoa học nào, chỉ la truyền thuyết mà thôi Hãy khoan nói về chữ tranh của những người vô tình vô nghĩa, chỉ lấy 1 loại nhạc cụ để mà nói đều là vô số những bộ phân cấu tạo thành,thiếu bất kỳ 1 bộ phận nào thi đều ko thể hoạt đông được, từ 1 biến thành 2 tất nhiên ko thể còn toàn vẹn được, thế thì sao cuối cùng lại biến thành 2 nhạc cụ đơn độc được?
2, Tranh trúc đồng nguyên thuyết(đàn tranh,đàn trúc co cùng nguần gốc) (đàn trúc là 1 loại đàn cổ co 13 dây)
3, Mông Điềm tạo tranh thuyết Căn cứ vào Tùy thư Âm nhạc chí viết:"đàn tranh, 13 dây, Mông Điềm đời Tần sáng tạo" Nhiều sách khác lại viết ko phải do Mông điềm sáng tạo... Căn cứ về thời gian,chỉ có thể nói Mông Điềm đã cải cách đàn tranh mà thôi.
Học giả Chu Tuấn Thanh đời Thanh trong(Thuyết văn thông huấn định thanh) viết:"Cây đàn tranh cổ có 5 dây, được làm từ cây trúc,Mông Điềm cải thành 12 dây, từ đời Đường có 13 dây"
Từ nhưng dẫn chứng trên,ta có thể thấy: đàn tranh và đàn trúc ở thời kỳ đầu đều đươc chế tạo từ thân cây trúc,hình dài,mảnh,nhẹ và đều có 5 dây.
Nói tóm lại,đàn tranh khi còn trong thời kỳ chỉ là 1 nhạc cu giản đơn với 5 dây(hoặc ít hơn), rất có thể đươc ché tạo từ 1 loại ống trúc to.Niên đại trước hoặc trong thời khì Xuân thu chien quốc, ko thể là thời kỳ sau khi Tần thủy Hoàng thống nhất Trung quốc.Quan hệ của đàn tranh,đàn trúc,đàn cầm, ko thể là do phân khai đàn cầm mà thành đàn tranh đươc,cũng ko thể la do đàn trúc diễn biến mà thành đàn tranh, mà là chúng có cùng 1nguần gốc, cũng rất có thể tham chiếu kết cấu của đàn cầm mà cải cách ra đàn tranh.
(=); Sự biến đổi của phương thức và kỹ thuật diễn tấu của đàn tranh,Tần tranh
1, Đàn tranh: Cổ đại, đàn tranh co 5 dây.Đến cuối thời kỳ chiến quốc để gia tăng sức khoáng đạt của âm vực nên cải thành 12 dây.Sau đó sự cải cách đối với đàn tranh rất chậm.Từ đời Hán,Tấn đến Đường,Tống hơn 1300 năm chỉ thêm được co 1 dây.Tuy chỉ tăng thêm 1 dây nhưng về măt giai điệu âm thanh thì có sự khác biệt lớn,tăng cường chủ âm và làm cho giá trị thực dụng càng tăng cao.Đến thời kỳ nhà Hán,đàn tranh xuất hiện sụ chuyển điệu.(Tranh phú) viết" Dùng sự di động của trụ đàn đẻ biến điêu âm thanh" gọi la phuong pháp di trụ biến điệu(thúc điệu chuyển di trụ) Dây đàn thường lam băng tơ hoặc gân gà, Côn điêu (loai chim) Dây bằng tơ có đăc điểm chủ yếu là:ngân sắc thâm hậu(sâu mà dầy),linh hoạt ma thẩm thấu, nhu hòa,ấm. Đén đời Nguyên Minh Thanh lại xuất hiện 14 va 15 dây va xuất hiên dây làm bằng khim loại đồng sắt.Dây sắt ngân âm thanh việt, minh lương,trường âm rất thích hợp thể hiên những nhạc khúc lien miên, thanh nhã.Đây là thời kỳ mà các kỹ xảo diễn tấu đã đạt được trình độ rất cao, nhieu sach ký tải :nghe tiêng đàn có thể hoan hỷ hay rơi lệ Đến đời Thanh thì lại có 1 sự phát triển mới,đàn tranh đã sử dụng 7 giai âm mà ngày nay chung ta dùng.Tại (Luật lã chính nghĩa hợp biên) viêt" đàn tranh giông đàn cầm mà nhỏ hơn, co 14 dây... tùy vào cung điều của trụ va dây để hài hòa âm điệu,thùng đàn bằng gỗ chuyên dụng dát vàng,4 bên chạm trổ tinh xảo,lỗ dây đàn làm băng ngà voi ,nay đàn 14 dây lây 5 thanh 2 mà biến thành 7 vậy.Đương thời có nguoi độc tấu đàn tranh khúc"nguyệt phong nhi" Khoảng cuối thời Thanh hoăc Trung hoa dân quốc ,đàn tranh 16 dây mới xuât hiện.Hiên nay những nơi SX đàn tranh tôt nhat là Tứ xuyên,Thượng hải,Tô châu http://www.viethoc.org/phorum/read.php?13,26544,26545,quote=1
Trình bày: UriBoo; DotHipe Sáng tác: UriBoo; DotHipe
Uriboo: Đừng suy nghĩ nếu đã nhất quyết sau này sẽ yêu em Đừng toan tính trước mắt có lúc sẽ chẳng có Vì đôi lúc vô tình, em chẳng thể đứng nhìn Thấp thoáng có bóng dáng anh chờ.
Nhìu khi vẫn ước muốn con tim e đây sẽ rung động Rồi đôi lúc quá trớn em đã khiến anh đau Rồi em mới hĩu rằng em đã trót yêu người Đã quá trễ để có thể không yêu 1 người.
HIPE: I miss you i miss you i miss you everyday Những lời thề này gửi đến em Và anh biết và anh đếm Từng giây để luôn bên em ( người ) Người yêu hỡi sẽ còn yêu mãi ( mãi yêu trọn đời )
Brige: Trao nhau bao nhiu ước muốn giấc mơ muôn màu Dìu bước để tới ánh sáng tương lai ngày mai I miss you i miss you i miss you everyday Nhớ về nụ cười và ánh mắt Thật say mắm thật mê đắm Chìm trong nắng ấm em mong Người yêu hỡi sẽ còn yêu mãi.
End: I miss you ( ú ú uh.....) Rồi anh đến ( ó ó ôh...) Đó là hạnh phúc!
Thương em anh trèo non cao Mua mưa thâu mây tan mệnh bạc Thương anh em lội sâu sông Trôi hương, trôi hoa tan phận ngọc Còn chần chừ chi? Hỡi anh! Hôn em, ôm em cho nát chênh vênh Ừ, tình là điên-khát say Hôn em, ôm em sao nát chênh vênh? Thương em thương tình đa mang Yêu trăng 30, quên mình. Thương tôi thương phận long đong Yêu tan mong manh, tan nhật- nguyệt Thương tâm!
Im lặng của đêm tôi đã lắng nghe Im lặng của ngày tôi đã lắng nghe Im lặng của đời tôi đã lắng nghe Tôi đã lắng nghe trái tim lạc loài Bao dêm đã qua im lặng của người Tôi đã lặng nghe im lặng của tôi Im lặng giòng sông tôi đã lắng nghe Im lặng ngọn đồi tôi đã lắng nghe Im lặng thở dài tôi đã lắng nghe Tôi đã lắng nghe im lặng thở dài Sau con bão qua im lặng một người Nghe bao nỗi đau trên một bàn tay
Tôi đang lắng nghe im lặng cuộc tình Sau một cuộc tình tôi đang lắng nghe Khi hoa héo khô im lặng nụ tàn Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe Tôi đang lắng nghe im lặng đời mình. Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe…
Ngày ta lạc nhau là ngày không bình yên, nụ hôn lạc trong nụ hôn Bao thương mê kêu gào, em xa xôi phương nào Ta lao đao một đời. Đợi một đổi thay!
Tình mình không là mơ, vì đời không là thơ, vậy nên em ngại trao lời yêu Tuy yêu thương dâng trào trong tim em hôm nào Sao chôn sâu tình mình để lệ rơi mềm môi!
Người ơi xin đừng khóc, đừng khóc Vì khóc chỉ làm tuổi xuân héo khô Vì nước mắt chỉ làm lòng thêm xót xa Chỉ mong em giữ mãi ngày xưa đó, em hỡi! Người ơi xin đừng khóc, đừng khóc Vì khóc chỉ làm lòng thêm đớn đau Dù biết rằng đời ta không có nhau Chỉ mong mai sau cho tình mình miên viễn! Hát câu yêu thương ta thuộc về nhau
Giờ đây mình anh quay về thiên đường xưa, Chưa kịp nghe lời yêu từ em Đưa tay ôm tim mình, chơi vơi anh ngã gục Cô đơn anh xa đời, nụ cười còn trên môi! Giờ đường xưa mình em, chạnh lòng nghe dĩ vãng, nụ hôn ngày xưa còn đó Đêm nay vui bên người, như bên anh đêm nào Như tim em đã chọn, đành lòng thôi hỡi tôi!
Người ơi xin đừng khóc, đừng khóc Vì khóc chỉ làm tuổi xuân héo khô Vì nước mắt chỉ làm mình thêm xót xa Chỉ mong em giữ mãi ngày xưa đó, em hỡi! Người ơi xin đừng khóc, đừng khóc Vì khóc chỉ làm lòng thêm đớn đau Dù biết rằng đời ta không có nhau Chỉ mong mai sau cho tình mình miên viễn! Hát câu yêu thương ta thuộc về nhau
Rồi một ngày mai khi hoàng hôn thức giấc Anh ơi, anh đâu rồi Em bơ vơ phương trời Tình ơi xin hãy ngủ yên
Hi! Bài này là cổ kình lắm rồi! Lần đầu tiên anh nghe Phương Thanh hát là bài này và anh kết luôn cả bài hát lẫn ca sĩ! Nếu ko có anh có lẽ bài này sẽ ko có trong từ điển của mình! (Vì mình là thế hệ về sau rồi mà!) Và giờ mình cũng kết nó luôn, mình cũng hay hát bài này nhưng chỉ khi nào...!!!^_^!
Sáng tác: Trần Anh Đóa hồng em trao cho anh Trái tim hồng anh trao cho em Cho vòng đời kết lại. Tình yêu có tự bao giờ Có phải từ ngày đầu ta mới gặp nhau Tình em trong tình anh Đời anh trong đời em Dù chân trời góc bể trọn đời ta mãi bên nhau. Tình em như biển biếc Đời anh là dòng sông Vượt qua bao thác ghềnh Tìm về nơi con sóng vỗ bờ. Đẹp như bông hồng thắm Một đời không nhạt phai Ngày hôm nay kết lại Để trăm năm hạnh phúc nồng nàn Tình đôi ta thắm đượm bởi con tim còn mãi chân thành. [/I]
Bạn mình vừa gửi cho mình nghe bài này! Nói thật lần đầu nghe bài này mình đã thấy dị ứng vì lời bài hát quá bùn cười! Giờ thì mình đã hiểu hơn rằng dù bài hát có tồi tệ đến đâu nhưng chỉ nói lên suy nghĩ và tâm trạng của một ai đó thì nó được quy vào loại hay với người đó! Nhưng quả thực là bài này lại thực tâm quá, thô thiển quá mức! Cái j mà: Anh ko bao giờ bó tay cớ chứ? ===>>> Nghe mà thấy nản! ====>>> Bạn mình vẫn cực kỳ trẻ con! Nhưng cũng khá đáng iu đấy chứ! Hehe!
Có lúc buồn anh lặng câm vì câu nói em hỏi anh \"Sao không cưới em mình đã yêu nhau thật lâu mà tai vì sao anh cứ im không trả lời?\" Tại vì anh có lý do cũa riêng anh
Số anh nghèo không thể lo được cho em thêm ấm êm Anh không nói ra vì nói ra em buồn hơn Hãy hiểu cho anh anh cũng yêu anh cũng buồn \"Là đàn ông anh phải lo lắng cho em\" Đừng buồn đừng giận anh mà em Và hãy cho anh thời gian Để chứng minh anh cần em Anh sẽ cố gắng, anh làm tất cả cũng vì em Em đừng suy nghĩ Dù là nhọc nhằn ko hề chi Và anh sẽ không bao giờ lui bước dù khó khăn Và anh sẽ không bao giờ không bao giờ anh bỏ em Và anh sẽ không bao giờ không bao giờ anh bó tay [/I][/ALIGN]