Một góc cuộc đời Da Vinci,
Những ngày tháng xuyên qua những thung lũng, cánh rừng, ngọn núi, mùa đông,
Các bức ký họa,
Suy nghĩ trong sâu thẳm của một danh họa,
Người đàn bà nông dân, “nhỏ bé và mảnh mai như một đứa trẻ”, “gương mặt thanh thanh và cái mũi thanh tú dưới vầng trán cao”, không biết chính xác là bao nhiêu tuổi, 40 hay 45 “chính bà cũng chẳng biết”,
Bà chuẩn bị những bữa ăn tươm tất cho thầy trò Da Vinci một cách lặng lẽ. Rất ít khi bà trò chuyện, bà chỉ khẽ trả lời lí nhí khi có người hỏi đến,
Công việc của bà quanh quẩn trong nhà, bếp, chuồng ngựa, sân vườn.
Công việc của ông đọc sách, vẽ, và dõi theo bà.
Một mối tình thầm lặng. Xảy ra trong im lặng. Trong những bữa ăn, những ngày hè, nơi khoảnh vườn, giữa những nét cọ và những đêm đông. Bà và ông. Hầu như không nói chuyện. Có chăng cuộc đối thoại giữa họ- nói đúng hơn cuộc đối thoại một chiều của họ diễn ra lần duy nhất.Lần duy nhất bà nói cho bao nhiêu năm dồn nén, nói cho nguyện ước của chính mình. Sau đó bà ra đi.
171 trang sách không xảy ra cuộc đối thoại nào. Bà- gia nhân của ông. Người đàn bà bé nhỏ và lặng lẽ. Cần mẫn làm việc mỗi ngày trôi qua. Ông- người đã trải qua bao nhiêu vùng đất, gặp bao nhiêu phụ nữ; tại tòa lâu đài bên bờ sông Loire này, yêu bà bằng một tình yêu trong yên lặng.
Tình yêu giữa họ bắt đầu cho đến lúc kết thúc được viết bởi ngôn ngữ văn chương trộn lẫn với chất thơ, chất nhạc, chất họa thấm đẫm câu chữ. Những trang văn viết về hai con người tuy xa cách nhưng rất gần gũi, vô ngôn nhưng đầy ắp câu từ. Một tình yêu kỳ lạ.
Đọc Nguyên ước, ta phải dặn mình nhè nhẹ, nâng niu, khẽ khàng và trân quý bởi ngọc không được có tỳ, tranh không thể có vết.
Nguyện ước khiến ta cảm nhận được một điều, tình yêu vẫn ở đó, dù không nói bằng lời.
P101100_1541%5B01)
.jpg]
Những câu văn đẹp:
“ Đôi khi các cử chỉ chậm rãi- do mệt mỏi hay do dự, hay chỉ do bà cần thời gian để làm các việc- chậm rãi đến độ gần như bất động, chỉ hơi đoán thấy được cử động như những cái nhìn giữa bờ mi khép, chẳng còn gì động đậy nếu đó không phải là ánh lửa trong lò sưởi, củi từ từ ri xuống giọt nhựa cuối cùng và bỗng chốc bắn ra những tia lửa trên phía lò. Như thể thời gian ngừng lại, hãy còn bất động đó những điều cần phải có thời gian để lấy lại can đảm, thời gian ngưng đọng, một cách giản đơn và mạnh mẽ đến nỗi có thể chẳng còn gì khác nữa để hy vọng, ông đoán biết được ánh nhìn dưới mi mắt bất động, trong suốt, cố định như đất sét được từ từ nhào nặn thành các bình sứ. Ông nhìn bà như thể đang nhìn một người xa lạ, quay về phía bà, dõi mắt theo khi bà lùi xa không nói một lời.”
“ …kết cục đến với ông giống như với bà, còn lại gì trong những điều họ có thể thực sự nghĩ tới, khát khao một chốn nương thân, hay niềm hạnh phúc của những giấc mơ đầu tiên, và có bao giờ họ khát khao gì khác những ngày đang tới và không còn có thể tới, phải, như vậy thì giờ đây sự tồn tại của họ khác nhau ở chỗ nào, họ chết đi dâng hiến và ưng thuận, ra đi không nhớ nhung không nuối tiếc, ông hình dung bà ở bên ông ngày cuối cùng, đứng thấp thoáng sau cánh màn, đôi bàn tay đặt trên nếp váy gấp và khuôn mặt khuất dưới bóng chiếc mũ vải, chỉ một bên gò má lấp ló trong chút ánh sáng cũng như lúc này len lỏi vào trong phòng, và có thể cả viền môi, nơi da thịt căng mọng hơn đôi chút, không nhúc nhích cũng chẳng nói thêm gì bà nhìn ông ra đi, ông hình dung bà trong buổi sớm mai ấy, nét mặt trĩu nặng và mí mắt trong suốt tái xanh vì mệt mỏi, bất động và câm lặng, người đứng thẳng trong chiếc váy xám, bà nhìn ông ra đi trong cái nhợt nhạt của buổi sáng. Như thể bà đoán được, ngồi đối diện ông trên chiếc ghế đẩu, gần như dồn nén vì mệt mỏi, bà nhìn ông, ánh nắng rọi vào gò má và thái dương, con mắt ánh lên trong ánh sáng đang lên trên những khoảng vườn treo, ngày đã tận, mỗi ngày của cái mùa hè vô tận này, mùa hè cuối cùng, ông nghĩ thế, họ thường nhìn nhau không nói gì, họ gần như chẳng hiểu nhau khi họ nói. Khi một hồi lâu bà mới cười, ông tự hỏi tại sao.”