Skip navigation.

STICKY POST

Lời ngỏ

Lang thang vào opera mở blog, mong học hỏi được những điều hay mới lạ từ các anh chị em nơi này.

Blog đối với tôi như một thú giải trí, cũng là một nơi gặp gỡ bạn bè cũ mới, xa gần, và cũng là nơi tôi vào trú ẩn khi mõi gối chùng chân.

Mong các anh chị em, ai có ghé qua và có thể chỉ giúp điều gì LD rất sẳn lòng đón nhận và học hỏi.

Chào thân thương,

Lãng Du.











Một Mối Tình

Một Mối Tình

Ngày ấy, tôi vào đại học với đôi bím tóc thắt nơ màu xanh nước biển, anh nói, với đôi bím tóc bự tổ bố này anh có thể nhận ra em ngay từ đàng xa. Ngôi trường tôi học vốn là một tu viện cũ, bên trái là biển Bắc Mỹ An xanh ngăn ngắt, bên phải là con đường nhỏ ngoằng ngoèo lên Ngũ Hành Sơn. Ngày ấy, tôi cùng vài đứa bạn đuổi nhau chạy dọc theo hành lang cư xá cười hét ầm ĩ, và rồi im bặt lấm lét nhìn nhau khi thấy các anh trong đội bảo vệ ký túc xá trừng mắt nhìn dù họ chỉ là sinh viên năm thứ tư. Ngày ấy, tôi gặp anh, người con trai với cặp mắt hơi buồn nhưng lại có cái miệng cười vô cùng quyến rũ và tài ăn nói thu phục lòng người. Ðiều đó là phước hay là họa cho tôi? Ngày ấy ai mà cần biết chỉ biết rằng anh đối với tôi là tất cả.

Ðêm trăng, chúng tôi thả bộ ra biển chơi, từ cư xá anh ra đến biển phải đi qua một ruộng lúa, qua một bãi tha ma, qua một đồng khoai lang, qua một bãi phơi lưới dân chài. Tôi đi sát bên anh, muốn đoạn dường này dài vô tận và tưởng như thế gian này không có hạnh phúc nào hơn. “Sợ ma không?” anh hỏi. “Không” tôi đáp một cách tin tưởng. Anh không biết rằng tôi vốn là một đứa sợ ma nhất trên thế gian này nhưng đi bên cạnh anh tôi bỗng trở nên can đảm lạ lùng. Anh kể một câu chuyện tiếu lâm về ma nào đó và tôi cười khanh khách, tôi ngày ấy là thế, thần thánh hóa mọi điều về anh.

Read more...

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG VIỆT NAM

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG VIỆT NAM



“Đường Việt Nam …. Ôi vô tận”, có những đường cao tốc mỗi bên hai làn xe và cũng
có những con hẻm chỉ vừa đủ cho một người lách qua một cách chật vật. Đường Việt
Nam có những ổ gà sống trâu, có những quán cà phê và bãi rác ngay trên mặt đường
nhưng đường Việt Nam cũng có những quãng đường sạch và đẹp như tranh vẽ. Những
rãnh nước bẩn thỉu với những đống rác hôi thối hai bên những con đường chật hẹp
nơi phố cổ ở Hà Nội mà người của đất ngàn năm văn vật phải bịt mũi rùng mình khi
phải đi qua. Quãng đường từ thành phố Bà Rịa đi tới thị xã Vũng Tầu với hoa lá
được chom nom cắt tỉa rất kỹ lưỡng và đẹp mắt là một hãnh diện. Quốc lộ 1A từ
Sài Gòn xuống tận Cà Mâu thì lại nhếch nhác hỗn độn. Miền Tây ngày nào với hoa
lá xum xuê bây giờ hai bên đường chỉ tòan là nhà, rất khó tìm được một mảng
xanh. Nhà cao nhà thấp, cái nhô ra cái thụt vào nhưng gần như nhà nào cũng là
một cửa hàng buôn bán. “Nhà mặt phố, bố làm to” vẫn là một tiêu chuẩn của những
ước mơ. Đường Sài Gòn bây giờ còn đâu ngọn xanh ngọn đỏ. Mùa mưa thì nước ngập
quá bánh xe, mùa nắng cát bụi mù mịt. Mùa nào cũng đầy những gian nan khổ ải.

Nước Việt Nam đất hẹp người đông. Nhà cầm quyền không có khả năng họach định và
tiên liệu, cũng chắc là vì túi tham nên cho nhập cảng xe ô tô và xe máy một cách
bừa bãi. Thằng anh Trung cộng chế tạo xe máy với giá rẻ nhưng bắt dân chạy xe
đạp hay đi xe búyt để giữ gìn môi trường và trật tự giao thông. Lâu lâu kêu gọi
dân tự nguyện mang xe máy ra bãi đất trống đốt. Những cái xe máy Made in China
xuất xưởng ào ạt đã có thằng em Việt cộng lãnh đủ. Của ôi của thối từ phương Bắc
đã có bọn cán bộ đầu nậu ở Hà Nội lo. Vừa phụng dưỡng thằng anh cho đầy tình môi
hở răng lạnh vừa kiếm tí lãi mua cái nhà ở California cho ấm bụng. Chỉ những
người tiêu thụ là dân nghèo phải dốc hầu bao ra để làm giầu cho cả bọn Trung
cộng lẫn Việt cộng. Các cháu ngoan của ông Hồ có thể giỏi về đặc công pháo kích
nhưng lại mù tịt về một kế họach quản trị đô thị và một chữ bẻ làm đôi về những
nguyên tắc căn bản phát triển kinh tế cũng không có. Một ngày nào đó số xe máy ở
Việt Nam sẽ bằng nửa dân số. Lúc đó người ta mang xe ra đường, nổ máy, rồi …
nhìn nhau ngẩn ngơ.



Theo luật lệ giao thông, người đi xe máy mỗi khi ra đường phải đội nón bảo hiểm,
nhiều người nhất là giới phụ nữ mặt bịt kín khẩu trang trông như Tạc Dăng về
thành. Người nào cũng phải vật lộn với từng tấc đất. Cãi nhau, chửi nhau, bấm
còi, rồ máy xe cũng chẳng giải quyết được gì. Cái rừng xe máy với đủ lọai tiếng
còi xe chẳng biết ai ra hiệu cho ai. Những tiếng quát tháo chửi bới lạc lõng đâu
đó cũng chẳng biết ai chửi ai. Người nào cũng hùng hục quẹo sang bên phải, lách
qua bên trái để cố nhích lên nửa vòng bánh xe. Xe ô tô nằm đường là chuyện như
cơm bữa. Anh tài xế taxi gác chân lên tay lái ngủ một giấc ngon lành, lúc tỉnh
dậy nhìn một rừng xe gắn máy bao bọc chung quanh, chửi thề vài tiếng như là một
thói quen rồi ngủ tiếp.



Read more...

Nụ cười đến sau nước mắt

Nụ cười đến sau nước mắt




Bác sĩ khuyên tôi nên đưa mẹ về nhà chăm sóc, bởi vì thời gian sống của người còn khoảng 3 tháng. Rời khỏi phòng bác sĩ, tôi nghẹn ngào, nước mắt dàn dụa trên má. Vậy là mọi hy vọng cứu sống mẹ tôi đã tắt.

Cố nén khổ đau vào lòng, tôi lặng lẽ thu xếp đồ đạc và đưa mẹ ra sân bay trở về nhà. Dù không được biết kết quả tình trạng bệnh của mình, nhưng hình như mẹ đã linh cảm được chuyện chẳng lành xảy đến qua nỗi đau hiện trên gương mặt của tôi.

Tôi thơ thẩn đưa mắt nhìn mọi người trên sân bay. Ở đàng kia, 1 cô bé khoảng chừng 11 tuổi đang khóc tức tưởi vì phải chia tay với bố. Nhìn 2 cha con bịn rịn ko nỡ rời nhau, tôi chạnh lòng nghĩ đến mẹ. Hơn lúc nào hết, tôi chỉ muốn òa khóc,khóc nức nở như cô bé đó.

Khi lên máy bay, bất ngờ cô bé ngồi đối diện với mẹ con tôi, và dai dẳng khóc, hình như lời an ủi của mẹ cô bé ko đem lại kết quả gì cả. Bỗng nhiên, tôi nghe tiếng mẹ tôi dỗ dành:

-Này cô bé, nụ cười của cháu trốn đi đâu mất rồi. Nụ cười ơi, hãy xuất hiện đi nào!

Cô bé nín khóc, nhìn mẹ tôi, và bẻn lẽn mìm cười. Bắt được nụ cười đó, mẹ tôi khẽ reo:

-Bà biết thế nào cháu cũng sẽ cười mà. Cháu biết ko, đằng sau những nụ cười là giọt nước mắt ấm áp đấy!

Nghe những lời mẹ nói, tôi bất chợt nhớ lại ngày còn nhỏ, tôi hay bị vấp ngã, đầu gối trầy xước khiến tôi chỉ biết rên rỉ, khóc lóc. Mẹ thường nhẹ nhàng an ủi tôi:

Read more...

Khói...

Khói...








Read more...

Ảnh Đẹp

Ảnh Đẹp Sưu Tầm











Read more...

Đẹp.....

Đẹp.....













Read more...

LỠ HẸN THỜI ÁO TRẮNG

LỠ HẸN THỜI ÁO TRẮNG







Áo trắng ngây thơ dưới mái trường
Thầy cô dấu ái, bạn bè thương
Nhung tơ mái tóc vương mầu nắng
Khúc khích ô mai mộng bình thường

Áo trắng như hồn trắng nữ sinh
Vô tư nuôi lớn thiết tha tình
Tháng ngày gom góp bằng lưu bút
Chất chứa một thời áo nữ sinh.

Áo trắng ngày xưa đi lấy chồng
Một người trở gót một người trông
Em đi bỏ lại con đường nắng
Với mái trường xưa của tuổi hồng

Áo trắng hôm nay đã vắng rồi
Không còn khúc khích cạnh tường vôi
Bạn bè mấy đứa - Trời ơi phá
Em đã đi rồi bỏ cuộc chơi

Áo trắng trinh nguyên đã bỏ trường
Bỏ thày bỏ lớp bỏ ngàn thương
Bỏ vùng lưu bút vương mầu nhớ
Bỏ cả bạn bè lịm vấn vương.

Áo trắng ngày xưa lỡ hẹn rồi
Mình anh đứng đợi buồn khôn nguôi
Giơ tay với bắt lời nhung nhớ
Gỏi gió cho mây... lỡ thật rồi!

Sưu tầm






Read more...

Người Anh Hùng Họ Ngụy

Người Anh Hùng Họ Ngụy



Trần Mạnh Hảo

Người yêu nước không thể nào là ngụy

Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy

Nhưng anh :

Là Ngụy Văn Thà (*)



Anh- hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo

Lao thẳng vào tàu giặc cướp

Tên anh còn mãi với Hoàng Sa

Biển vật mình thét đại bác

Giặc bủa vây chiến dịch biển người

Lửa dựng trời dìm tàu giặc

Máu anh cùng đồng đội ngời ngời

Ôm chặt tàu

Ôm chặt đảo

Anh hóa thành Tổ Quốc giữa trùng khơi



Gió mùa đông bắc gào khóc

Ngụy Văn Thà

Mãi mãi neo tàu vào quần đảo

Tổ Quốc ngoài Hoàng Sa

Trận chiến ba mươi phút

Tượng đài anh là phong ba

Đỉnh sóng khói hương nghi ngút

Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu



Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ

Linh hồn anh hú gọi đất liền

Ngụy Văn Thà

Tên anh không phải bài ca

Tên anh là lời thề độc :

- Phải giành lại Hoàng Sa

Sóng vẫn vồ lấy đảo…


Sài Gòn 15-9-2009

Trần Mạnh Hảo




(*) Ghi chú : Theo báo Tuổi Trẻ ra ngày 14-9-2009 : liệt sĩ thiếu tá Ngụy Văn Thà hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 của hải quân Việt Nam Cộng Hòa và đồng đội đã anh dũng hi sinh bảo vệ đảo Hoàng Sa ( cùng các chiến hạm khác: HQ-4,HQ-5,HQ-16) trong trận hải chiến đẫm máu với tàu Trung Quốc xâm lược ngày 19-01-1974







Read more...

Bản Tình Ca Của Một Người Tị Nạn

Bản Tình Ca Của Một Người Tị Nạn


Hai năm sau ngày đất nước chia đôi, từ miền Bắc hoang tàn, tôi lặn lội tới vùng giới tuyến mong vượt thoát vào miền Nam tự do.

Lần tới gần sông Bến Hải, đêm tối âm u bờ Bắc, tôi đã nhìn thấy cầu Hiền Lương vì bờ Nam rực sáng ánh đèn. Trên cột cờ cao vút, bóng cờ vàng sọc đỏ lung linh. Giọng ca ngọt ngào từ loa treo vọng về miền Bắc:

"...sông Bến Hải là nơi chia cắt đôi đường...
hỡi ai... lạc lối... mau quay... về đây ...!"

Tôi đứng đó chơi vơi định hướng, đăm đăm nhìn cờ vàng bên kia bờ sông lịch sử, uống từng lời ca trong cơn đói khát, rồi bừng tỉnh, lao lên phía trước. Từ đâu đó, mấy cái nón cối xông ra. Tôi bị trói hai tay bằng sợi thừng oan nghiệt, theo nón cối về địa ngục trần gian.

19 tuổi, lao tù đầy đọa, tôi đã mất mẹ, mất cha, bị qui là tư sản, xa vắng họ hàng vì chia rẽ giai cấp. Tôi mất Hà nội là nơi tôi sinh ra làm người Việt Nam. Không có tang cha khi cha gục xuống, không có tang mẹ khi mẹ xuôi tay, không hy vọng có đám cưới đời mình.

Bạo quyền cộng sản Việt Nam bắn giết hàng trăm ngàn người, qui là địa chủ. Nhiều trăm ngàn người bị tập trung lên rừng, để lại vợ con không nhà không đất. Thời gian làm ngưng nước mắt, oán than cũng vô ích, chỉ còn tiếng kêu vang vọng khắp miền: "Chúng tôi muốn sống!"

25 năm sau tôi vượt biển, thoát tới Hong Kong (1981). Bốn mươi tư năm từ lúc chào đời, thành người tị nạn cộng sản.

Ngày tiếp kiến phái đoàn Mỹ xin đi định cư, một ông Mỹ dáng nghiêm trang, nghe tôi trả lời, đột nhiên hỏi "anh có biết nói tiếng Pháp?". Tôi nhìn ông, giọng run run: "L'exilé partout est seul!" (Kẻ lưu đày nơi đâu cũng cô độc).

Ông gật đầu hiểu cả tiếng Tây, hiểu lòng tôi đau xót. Xưa tôi học trường Albert Sarraut, Hà nội.

Đứng bên rào kẽm gai, sau dãy nhà tôn của trại tị nạn Hong Kong, một mình, suy tư thân phận. Tôi sẽ đến nơi xứ lạ là nước Mỹ xa xôi, tìm quê hương mới, chỉ trở về khi đất nước Việt Nam tự do, không còn cộng sản.

Đứa bé chừng 5, 6 tuổi, tung trái banh, toan bắt thì trượt chân, trên sân trại. Tôi đã kịpgiang tay đỡ cháu khỏi ngã thì người đàn bà chạy tới, đứng im, lặng lẽ nhìn tôi.

Tiếng trẻ thơ kêu "Má", tôi nhìn nàng... Sự thầm lặng và ánh mắt trao nhau là chân tình của người tị nạn Việt Nam nhẫn nhục, khổ đau, nói được nhiều hơn lời nói. Rồi những ngày sau đó, tâm sự, nỗi niềm, tôi đã cùng Mai kết thành bạn đường và bạn đời, đi Mỹ định cư.

Người lính Cộng Hòa hiên ngang dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, quyết bảo vệ quê hương. Anh tử trận, mang thân đền nợ nước, để lại con thơ. Mai trở thành góa phụ, miền quê Đà Nẵng, cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại. Sau năm 1975, mất nước. Mẹ già khuất núi, con chậm lớn vì cháo loãng, bo bo thay cho sữa mẹ và cơm.

Một đêm mưa bão, Mai bị tên trưởng công an xã cưỡng hiếp, du kích xã canh gác quanh nhà. Mai phải sống vì con mới lên ba, mất cha còn mẹ. Người dân Đà Nẵng ra đi, đã mang theo vợ con người lính chiến tới Hong Kong năm 1981. Đứa con lên sáu không biết tiếng gọi "Ba" !

Tôi mang nặng tủi nhục, đọa đày triền miên đất Bắc đi tìm tự do. Mai gánh những thương đau, mất mát, cơ cực của miền Nam, bồng con đi tị nạn. Lấy dĩ vãng chia xẻ cùng nhau, chúng tôi sắp xếp lại hành trang cho bớt gánh đoạn trường, đi Mỹ.

Con đã có Má, có Ba. Má bồng Con, Ba xách túi, Con có đồ chơi, cầm chiếc máy bay vẫy chào các Chú, hai người lính chiến Quảng Nam đưa tiễn. Tôi nhìn Con tự nhủ: "Ba sẽ dạy con tiếng "Cha", chỉ cho Con hình người lính Cộng Hòa, ở bất cứ nơi đâu đều là Cha Con đó!".

Mai đã nhất định không đi kinh tế mới, tôi đã trốn công tường, vào tù chịu đựng, bây giờ dù bỏ lại quê hương nhưng còn Tổ quốc Việt Nam. Bốn ngàn năm lịch sử, thăng trầm, người dân, nước Việt sẽ không trở thành cộng sản, chỉ có số nhỏ đang cầm quyền .

Quê hương mới của chúng tôi là vùng đông bắc nước Mỹ.

Căn Apartment hai phòng, hai chiếc giường nệm, một chiếc bàn con, đã cho tôi ấn tượng đẹp những ngày đầu tới Mỹ.

Lúc tôi khôn lớn, không có chiếc giường làm nơi cư trú, vì đã thành vô sản. Rồi tôi hiểu, vô sản cũng vẫn còn giai cấp. Phải lên rừng, một miếng nylon bọc vài manh vải gọi là quần áo, thì mới thành "người vô sản chân chính"!

Nhìn con ngon giấc ngủ Thần Tiên, vợ chồng tôi thao thức, không phải lo âu mà thì thầm những dự định tương lai. 18 tháng welfare trợ cấp, đủ thời gian cho mình đi học tiếng Anh. Đọc dòng thư hội M&RS nhắc trả nửa tiền nợ vé máy bay sang Mỹ "Xin bạn trả dần 12 tháng, giúp cho người sau bạn định cư", theo ý Mai, ý nghĩ nhân hậu của người đàn bà làm mẹ, "mình trả ngay từ tháng thứ hai".

Việc đơn giản là tại sao người ta không khấu trừ vào trợ cấp, lại đòi riêng. Mai chỉ nhẹ nhàng "nợ thì mình trả, ở hiền sẽ gặp lành", nhưng tôi lại suy nghĩ mung lung. Đây là bước đầu thử thách, cái thước đo lòng người tị nạn. 72 đô tiền nợ một tháng, có thể không trả và quên đi. Một lần để lòng vẩn đục sẽ trở thành bất lương. Cha mẹ bất lương con cái sẽ chẳng nên người .

Một sáng mùa Xuân, "bé Nam" gọi Má, gọi Ba, chỉ bông hoa mầu vàng mầu đỏ đung đưa bên vườn hàng xóm, kêu lên "hoa tu-líp". Bà già người Mỹ đứng trên thềm, giơ tay vẫy vẫy. Mai đã nói "Thank you", ngọt ngào, mạnh dạn, tay chỉ trỏ, diễn tả được những gì muốn nói.

Bà Jenny hiểu chút ít về "chiến tranh Việt Nam" qua tivi, sách báo hồi bà còn dạy học. Bà đã thấy "Boatpeople", những thuyền nhân tị nạn, nhưng lần đầu bà thấy một gia đình người Việt đến vùng này, lại là hàng xóm nên bà có cảm tình. Đây là ứng nghiệm "Ở hiền gặp lành" hay là sự may mắn cho gia đình tôi? Nói thế nào thì cũng đúng vì vài nơi trên đất Mỹ vẫn còn kỳ thị chủng tộc.

Thời gian trôi đi nhưng hai tiếng "lần đầu" lặp lại: lần đầu ra nhà Bank, lần đầu tới Post Office. Có những lần đầu chưa biết, nhưng có hai lần đầu quan trọng: "bé Nam" đi học, chúng tôi xin được việc làm. Bà Jenny cùng chúng tôi đưa "cháu" tới trường, bà cho chiếc mũ baseball và đôi giầy sneaker trắng muốt, khen "Cháu cute." Vợ chồng nhìn nhau, không hiểu, lát nữa về tra tự điển.

"Từ nay chúng mình có Má, bé Nam có Bà...!" Mai thốt lên khi chúng tôi đồng lòng nhận "Má Nuôi". Bà Jenny thành "Má Jen". Chuyện xảy ra vào ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), 17 năm về trước.

Sống một mình trong căn nhà rộng rãi, bà Jenny vốn là cô giáo nên rất yêu trẻ. Bà mời "cả nhà" sang ăn turkey.

Bé Nam lên bảy, đi học, hiểu nhiều về Thanksgiving hơn Má và Ba. Ăn uống vui vẻ, vợ chồng tôi nói chuyện với bà, có lúc ngồi im lặng hơi lâu vì vốn tiếng Anh ít ỏi. Bỗng bé Nam kêu "Má...!". Bà Jenny toan đứng dậy thì Mai buột miệng nói: "Má... let me do it!".

Nghe tiếng "Má" lỡ lời của Mai, tiếng Việt, vừa lạ, vừa thích, bà bâng khuâng giây lát.

Mai kể chuyện xưa, miền Đà Nẵng cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại... Tôi góp phần thông dịch, bớt thêm: Người Việt Nam coi việc chăm sóc cha mẹ già là bổn phận, dù chịu nhiều cơ cực cũng cố gắng đền ơn sinh thành, dưỡng dục.

Bà suy nghĩ mấy ngày, bỏ dự định chuyển về Florida, tỏ ý muốn nhận gia đình tôi làm Con, làm Cháu.

Chúng tôi dọn nhà sang ở chung với "Má Jen", điều này ít thấy trong các gia đình người Mỹ có con trưởng thành. Các con nhờ Má, nói được tiếng Anh. Cháu quấn quít bên Bà, xem chú chuột Mickey. Mùa Đông buốt giá nhưng trong nhà nồng ấm tình người. Má vui tươi hơn trước, thích ăn bánh xèo và phở Việt Nam.

Mai vẫn cặm cụi hàng ngày, làm những chiếc ví tay của phụ nữ. Mấy người bạn Việt Nam đặt cho Mai biệt danh "Bà đầm hãng bóp" vì "giỏi việc, lại biết tiếng Anh," nhiệt tình giúp đỡ bà con.

Cũng như Má Jen, Mai không thích xa hoa, theo Má vào tiệm sách trong Mall nhiều hơn vào tiệm bán phấn son, make up. Việc từ thiện đã thành sở thích, Mai gửi 200 đôla, mỗi lần, giúp đồng bào bão lụt miền Trung , miền Bắc, vì lương tâm, đạo lý. Kẻ cầm quyền ăn chặn của dân, như đám cướp, có bao giờ được mãn kiếp yên thân. Đức Phật từ bi dạy Mai lòng độ lượng.

Tôi làm technician, ngành điện tử. Nhớ xưa, học sửa radio bị nghi làm gián điệp. Bộ công an Hà nội lấy công nông lãnh đạo, coi "điện tử" là CIA. Mười bẩy năm trong ngành điện tử, nay chắc tôi thành CIA ngoại hạng!

Bây giờ, ngồi trước máy computer, nối vào mạng Net, đọc Website tiếng Anh, tiếng Việt, thông tin thế giới bằng eMail, việc hãng, việc nhà, công tư hòa vào nhau từng ngày làm việc, tôi đã có cuộc sống an hòa, hạnh phúc, một Gia Đình thật sự yêu thương.

"Ngày mai, chúng mình đi New York thăm con". Mai nắm tay tôi, hân hoan về ngày mai.

Ngày mai là tương lai của bé Nam ngày trước, giờ là một thanh niên cao 6 foot, đầy nghị lực bước vào đời. Xong đại học, Nam Nguyen trở thành chuyên viên tài chánh, làm việc trong văn phòng, tầng thứ 32 của một nhà "chọc trời" New York.

Ngày con ra trường là ngày vui trọn vẹn, ngày con nhận việc mới là niềm sung sướng của Má, của Ba, của Gia Đình tị nạn, mong ước từng ngày cho Con thành Người.

Lâu lắm rồi, tôi mới có một đêm không ngủ để nhìn lại đời mình.

Tháng Chín, sang Thu, se lạnh vùng đông bắc nước Mỹ. Tôi đã sống nơi đây 18 năm tị nạn, không thất vọng mà tin tưởng vào tương lai.

Người cộng sản muốn làm Hung Thần cai quản địa cầu, dựng lên Địa Ngục. Dựng được vài phần thì xụp đổ, sót lại từng mảnh vỡ điêu tàn. Hung Thần đã chết.

Thoát kiếp lưu đày làm người tự do, tôi kính cẩn tri ân người phá ngục: người lính Cộng Hòa, giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, chính nghĩa Quốc GiaViệt Nam, từ tinh thần đến lãnh thổ.

Người lính chiến Cộng Hòa hiên ngang đi làm Lịch Sử. Không có Anh, tôi đã không có niềm tin để sống sót, đã thành nấm mộ hoang trên rừng xơ xác. 21 năm kiên cường giữ vững miền Nam, Anh đối mặt Hung Thần, cứu sống thêm hàng triệu người vô tội.

Người lính của miền Nam tự do tử trận. Anh để lại người Vợ hiền, cuốc đất trồng khoai, chúng vẫn không tha, chà đạp nhân phẩm. Tôi lê bước chân vô định, gặp Mai làm Bạn Đường, nhìn mắt con thơ thấy hình người Lính chiến.

Anh đã để lại Con Thơ cho tôi được làm "Ba" mang tròn trách nhiệm. Con đã trưởng thành, mai này sẽ góp phần xây dựng lại Quê Hương. Tôi muốn níu lại thời gian để được thương vợ, thương con nhiều hơn nữa.

Đã quá nửa đêm về sáng. Nhìn Mai ngon giấc ngủ thần tiên như "bé Nam" ngày đầu tới Mỹ, tôi ngồi im lặng bên bàn viết, đợi chờ sớm mai để được nhìn bình minh bừng sáng Phương Đông, được nhìn Mai thức dậy, mỉm cười, âu yếm nhìn Chồng.

Cuộc sống an vui. Ngót 20 năm rồi, không biết khóc, đêm nay tôi nhỏ từng dòng lệ, xúc động, bùi ngùi.

Tôi đang sống và đang viết Bài Tình Ca của Một Người Tị Nạn.

Tự Do (vietbao)







Read more...

December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31