Sinh ra nơi thôn dã. Tầm nhìn trải núi sông. Tấm lòng tựa tùng bách. Cốt cách hồ chi mai...

**BoconganhWaitwind 's Blog** Ta là gió giữa đời xanh vô tận..

Subscribe to RSS feed

Sticky post

Chuyện gã khờ đi góp gió

,

Tôi đã bước qua một cuộc yêu như thế! Một mối tình đơn phương lặng lẽ.
19 tuổi vào đời với một vết thương không bao giờ liền chỉ. Còn lại với thời gian chỉ là một trái tim hóa đá, một cảm giác trống vắng, xót xa của đợi chờ!
Cầu mong một khoảng trời binh yên sau những vấp ngã chúi đầu!

Read more...

SÂN GA CHIỀU MƯA RƠI.!

Trời Đà Nẵng chiều nay mưa kéo đến
Cả khung trời đùng đục lệ mưa sa
Người thân quen đến tiễn kẻ đi xa
Vẫn tấp nập dưới chiều mưa ga nhỏ.

Khách bộ hành nép vô hè phố
Tạm dừng chân chờ đợi dứt cơn mưa
Những người vui trò chuyện vẫn say sưa
Người lo lắng mong mưa chiều sớm dứt.

Sân ga nhỏ chiều nay mưa sủng ướt
Hạt mơ màng như bụi phấn bay bay
Hạt nhớ thương nhè nhẹ tách chân may
Hạt buồn tủi rơi sao mà trĩu nặng.

Trời Đà Nẵng chiều nay đâu mây trắng?
Đâu trời cao? Đâu hoa nắng lung linh?
Đâu hoàng hôn? Đâu tiếng sóng rập rình?
Đâu tất cả ..? một cung trời trắng bạc.!

Sân ga nhỏ chiều nay như thầm nhắc
Kẻ đi xa hãy nhớ buổi hôm nay
Trời thấm buồn nên tuôn lệ chia tay
Người ở lại hãy ghi vào kí ức...

Tàu đã đến khi mưa chiều chưa dứt
Kẻ ra đi người ở lại chào nhau
Anh cô đơn lặng lẽ bước lên tàu
Gửi buồn tủi vào chiều mưa ga nhỏ.!

__Ft_________________________NH__

TÌNH MẸ THĂM THẲM BỜ ĐÔNG..!

,

Chiều nay SG bỗng mưa.Lại nhớ mẹ quá đi thôi..! __Con bất hiếu___!


"Ta làm thơ cho đời và biết bao người con gái
Có bao giờ thơ cho mẹ ta không?"[/COLOR]
"1.!------------Bóng Núi.!------------

Triền lau trắng mười năm hun hút gió
Áo mẹ nâu vừa đó bạc mây chiều
Có mùa sim tím tràn qua nỗi nhớ
Đêm con về ngõ phố vấp yêu thương.

Con sấp ngửa bóng hình trò ký thác
Tay chiêm bao không vuốt nổi mặt mình
Trái sung chát rụng bên đồi gió cát
Trôi theo sông về ngang bến mẹ nằm.

Nhà một nấm co ro lùa mưa bấc
Mười ngón chân mòn dốc chợ nhà quê
Bóng mẹ đổ gai xương rồng cào nhói
Chim khách bay biền biệt chẳng thấy về.

Con hối hả chạy theo nghìn ma lực
Dốc mù sương mẹ khắc khoải nguyện cầu
Ngày trở lại rối một trời mây trắng
Bóng mẹ già,bóng núi nhập nhòa đau..!


2.!-------------MẸ TÔI.!-----------------

Ngày con xa quê lên tỉnh trọ học
Mắt mẹ hiền vui giấu nỗi âu lo
Chốn xa hoa nơi phố thị muôn màu
Tim đau nhói khi chiều buông cuối phố.

Thương biết mấy cây cầu tre bé nhỏ
Đôi vai gầy trĩu nặng gánh hàng rong
Chân lê bước khi chiều tan buổi chợ
Dáng mẹ gầy trên sông nước mênh mông.

Con lớn khôn trong từng lời ru của mẹ
"Lặn lội thân cò buôn bán mom sông"
Ôm ước mơ con vào lòng biển cả
Mẹ mỉm cười quên vất vả long đong.

Trang sách thơm còn ước mồ hôi mặn
Quyển vở dày trĩu nặng mấy công lao
Trong đời con mẹ là tất cả
Hành trang loang đầy nước mắt nhớ thương.


3.!-----------LỜI MẸ RU.!--------------

Lời ru nào mẹ đã ru con
Mà giấc mơ có cánh cò bay lả
Thuở trong nôi con nằm ấm dạ
Mẹ lặng thầm vất vả sớm hôm.

Lời ru nào mẹ đã ru con
Đưa con qua bao ghềnh thác đổ
Như sức mạnh không gì cản nổi
Vượt lên trên đỉnh dốc thời gian.

Mẹ cả đời lặn lội gian nan
Lời mẹ ru nghe sao ấm quá
Thầm con hiểu mẹ là tất cả
Giữa lời ru là năm tháng nhọc nhằn.!


4.!---------HƯƠNG TRẦU CỦA MẸ.!-----------

Một miếng bã trầu trên lối con đi
Làm chạnh nhớ mùi thơm nồng của mẹ
Mùi hương quyện lẫn trầu cau thuốc rễ
Khi con về, cuối xuống, Mẹ hôn con.

Mùi hương dịu dàng rất đỗi yêu thương
Con đã có từ trong vòng tay mẹ
Con đi biết bao chân trời xa lạ
Lúc trở về Mẹ vẫn một mùi hương.

Mái tóc thay màu, mái tóc pha sương
Mẹ móm mém với cối trầu nhỏ bé
Khuôn mặt hiền, nụ cười tươi cắn chỉ
Êm đềm sao những lúc mẹ chờ con.

Mẹ ra đi, một buổi hạ vừa sang
Chiếc cối nhỏ buồn trên......
Miếng trầu cuối cùng mẹ ăn bao giờ thế
Trong lòng con đọng mãi một mùi hương...!
__HNC___________________NNH___"


4..!--------------MẸ--------------------

(Xin tặng cho những ai được diễm phúc còn có Mẹ
Đỗ Trung Quân - 1986)

Con sẽ không đợi một ngày kia
Khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt
Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua
Mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ
Ai níu nổi thời gian?
Ai níu nổi?
Con mỗi ngày một lớn lên
Mẹ mỗi ngày thêm già cỗi
Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn.

Con sẽ không đợi một ngày kia
Có người cài cho con lên áo một bông hồng
Mới thảng thốt nhận ra mình mất mẹ
Mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng
Hoa đẹp đấy - cớ sao lòng hoảng sợ?
Ta ra đi mười năm xa vòng tay của mẹ
Sống tự do như một cánh chim bằng
Ta làm thơ cho đời và biết bao người con gái
Có bao giờ thơ cho mẹ ta không?
Những bài thơ chất ngập tâm hồn
Đau khổ - chia lìa - buồn vui - hạnh phúc
Có những bàn chân đã giẫm xuống trái tim ta độc ác
Mà vẫn cứ đêm về thao thức làm thơ
Ta quên mất thềm xưa dáng mẹ ngồi chờ
Giọt nước mắt già nua không ứa nổi
Ta mê mải trên bàn chân rong ruổi
Mắt mẹ già thầm lặng dõi sau lưng
Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân
Mấy kẻ đi qua?
Mấy người dừng lại?
Sao mẹ già ở cách xa đến vậy
Trái tim âu lo đã giục giã đi tìm
Ta vẫn vô tình
Ta vẫn thản nhiên?

Hôm nay...
Anh đã bao lần dừng lại trên phố quen
Ngã nón đứng chào xe tang qua phố
Ai mất mẹ? ...sao lòng anh hoảng sợ
Tiếng khóc kia bao lâu nữa ..của mình?
Bài thơ này xin thắp một bình minh
Trên đời mẹ bao năm rồi tăm tối
Bài thơ như một nụ hồng
Con cài sẵn cho tháng ngày sẽ tới!


NGỒI BUỒN NHỚ MẸ TA XƯA...

Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào.

Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa.

Cái cò... sung chát đào chua...
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.

Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao.

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm...
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi.

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ... mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng.

Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương...!

__Nguyễn Duy____________NNH__


http://aevn.fr/topic/tuyen-tap-tho-ve-me--t3650

...LÀ CỦA RIÊNG EM...!

--------NỤ HÔN TÌNH YÊU...!--------

Nếu em về trên lối cũ ngày xưa
Cho tôi gởi một chút tình nóng hổi
Mối tình nhỏ vừa đi vừa thổi
Sợ em cầm phỏng mất tay xinh.

Em cứ vào trong trái tim tôi
Mê cung nhỏ coi chừng em bị lạc
Nhắm mất lại cứ bước về phía trước
Ở cuối đường nơi ấy sẽ có tôi.

Tôi muốn vào trong trái tim em
Tìm bóng hình của mình trong đó
Cánh cửa đóng không bao giờ để ngỏ
Có dùng bom thoải mái vô tư.

Chẳng bao giờ tôi mở được ra chăng
Chắc em dùng khóa vạn năng chống cắt
Chẳng chìa nào có thể tra vào được
Chỉ một...nụ hôn..nóng bỏng..rực cháy môi..!
__Ch______________________NH__


-------------------GỬI EM...!---------------------

Gửi cho em chút màu nắng hạ
Nắng bâng khuâng ghé đậu mái hiên nhà
Bằng lăng tím con đường anh bước vội
Tím trời chiều tím tím một khoảng không em

Gửi cho em mưa đầu mùa tháng sáu
Phượng rơi nghiêng trên trang sách học trò
Lưu bút nhỏ chuyền tay nhau buổi cuối
Cổng trường khép rồi mơ ước hết bay cao!

Gửi cho em! Anh gửi cho em!
Kỉ niệm xưa ngày thơ ta bỏ ngỏ
Bao nhớ thương ngập ngừng chưa dám nói
Cả vụng khờ khi anh biết yêu em.!
__C2_____________________NH__

Tình "Copy"

Không hiểu sao cứ mỗi lần tôi nhắc đến cái từ "Yêu đơn phương" là lại cảm thấy có cái gì đó cứ xót xa... Thế nên, để giảm nhẹ mức độ đau thương của con tim .... Tôi đặt title là "Yêu một mình" ...

Trên đời này ... có 1 thứ tình cảm đau đớn nhất nhưng cũng vĩ đại nhất ... thứ tình cảm mà 1 đứa như tôi -lúc nào cũng quan niệm " cái gì k thuộc về mình thì có cố vẫn vĩnh viễn k thuộc về mình " -không bao h đủ kiên nhẫn để theo đuổi ... đó là tình yêu đơn phương ....

Còn gì đau đớn hơn việc tình yêu chẳng được đáp trả ... cho đi mà người ta chẳng buồn nhận ...Chẳng biết làm gì hết chỉ biết lặng lẽ ngắm nhìn cuộc sống của người ta từ 1 nơi rất xa .. bởi biết rằng mình không thể bước vào cuộc sống đó ... Có lúc lại tự lừa dối mình .. tự cho mình những ảo tưởng và hy vọng ....rằng người ta thích mình ... để rồi lại sụp đổ và thất vọng khi nhận ra người ta vô tâm quá ... có khi còn chẳng biết đến tình cảm của mình ...Có đôi khi chỉ là 1 cái nhìn ... 1 câu hỏi quan tâm .. 1 vài cử chỉ biểu hiện ... mình cũng biến đó là cái phao để bấu víu vào khi sắp bị chìm vào biển tuyệt vọng ... để rồi 1 ngày nhận ra tất cả chỉ là ngộ nhận ... cái phao đó xẹt đi và chính nó nhấn chìm mình xuống ...

Có những khi muốn quen 1 người khác ... muốn yêu 1 người khác ... nhưng trong lòng lại cứ chần chừ chờ đợi ... cứ hy vọng rằng 1 ngày người ta nhận ra và đáp trả tình cảm của mình ... cứ chờ hoài ... đợi hoài mà chẳng hề biết điều đó sẽ chẳng bao h xảy ra ...
Có khi trong lòng lại dấy lên sự ghen tuông ... khi thấy người ta quan tâm tới người khác ...nhắc nhiều tới người khác ... đùa cợt với người khác ...trong lòng lại lo lắng nếu người ta yêu người khác thì mình chẳng còn cơ hội ...
Rồi lại những lúc xót xa khi thấy người ta đau đớn vì người khác ... căm thù tột đỉnh kẻ đã làm cho người ta tổn thương .....
...Rồi khi lòng tự nhủ phải quên người ta đi .. phải chôn vùi đi ... nhưng làm không có được .. từ trước tới nay có bao h con tim nghe lời của lí trí đâu ...cứ luyến tiếc mãi điều gì mà chính mình cũng chẳng xác định rõ ... Cứ mỗi ngày những cảm xúc ... những hy vọng ... những thương yêu ... cứ giằng xé, dằng xé và xé nát con tim .... Nói 1 cách khác ... yêu đơn phương là cả 1 cuộc chiến đấu với chính bản thân mình ... 1 cuộc chiến không có người thắng ko có người thua ... chỉ biết 1 điều kết cục sẽ chắc chắn là đau đớn ...
Nhưng cũng thật vĩ đại .... vì người ta có thể chịu đựng được tất cả những đau đớn dày vò đó ... Biết là đớn đau những vẫn cứ xông vào ... Cứ cho đi cho đi .. có khi mỗi ngày lại nhiều hơn ... dẫu biết sẽ chẳng được đáp trả ...

Cũng như khi tôi từng nói với ai đó ... đừng chờ đợi tôi ... thì cái câu trả lời ấy ... " Anh yêu em vì Anh yêu em chứ không phải vì em sẽ yêu Anh... và anh chờ đợi là chờ đợi ngày Anh hết yêu em chứ không phải ngày em yêu Anh ... " ... cái câu ấy ... không biết đã bao lần đứng trước người đó tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ .... vì đã có lúc tôi còn chẳng dám thừa nhận tình yêu của mình .... Và vì thế ... tình yêu đơn phương với tôi rất vĩ đại và vô cùng đáng trân trọng ..
(trích blog bethich_troisao pé Hằng)

TÌNH BUỒN CHIỀU THỨ SÁU..!


Người yêu hỡi có khi nào em biết
Anh yêu em không thể nói nên lời
Muốn gần em.! Ôi nếu tôi có thể...
Sẽ nhìn em, nhìn mãi mãi không thôi.!


**********...NNH...**********
2!
Em có biết anh yêu em nhiều lắm
Muốn ôm em và gắn chặt môi hôn
Trong cô đơn anh thấy xót xa nhiều
Em xa quá xa tầm tay anh với.!


**********...NNH...***********
3.!
Quế Sơn ơi chiều nay sao buồn thế
Tiết học dài ngồi ngắm lá vàng rơi
Có những lúc gục đầu lên trang vở
Bất chợt buồn vì nhớ bóng hình xưa.!

**********...NNH...**********

Mỹ Nhân Trung Quốc

1.Tây Thi
Thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, Việt quốc có 1 cô gái giặt áo, ngũ quan đoan chính, phấn diện đào hoa, tướng mạo hơn người. Khi cô giặt áo bên bờ sông, bóng cô soi trên mặt nước sông trong suốt làm cô thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy ảnh cô, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó,người trong vùng xưng tụng cô là “Trầm Ngư”.Và cô được xếp là 1 trong tứ đại mỹ nhân TQ.


Năm ấy, vua Việt (không phải Việt Nam ta) là Câu Tiễn sau khi được trả về nước bèn muốn tuyển mỹ nữ cống vua Ngô là Phù Sai. Lúc ấy có 2 mỹ nhân được chọn là Tây Thi và Trịnh Đán. Sau 3 năm miệt mài học ca múa, họ được đem dâng Ngô vương. Ngô vương được người đẹp lấy làm quí lắm, cho là Câu Tiễn hết mực yêu quí mình. Từ đó, Phù Sai suốt ngày quấn quýt lấy Tây Thi ở Cô Tô Đài, trễ biếng việc chính sự. Về sau, Việt vương Câu Tiễn đem quân đánh bại Ngô, phá hủy tôn miếu xã tắc nước Ngô, khi về Việt quốc lại mang cả Tây Thi về. Việt hoàng hậu nhân đấy cho người lẻn bắt Tây Thi đem đá buộc vào chân và đẩy xuống sông mà bảo rằng: “Nó là cái vật vong quốc, còn để làm gì”
Người đời sau không rõ chuyện ấy, ngoa truyền là: Phạm Lãi đem Tây Thi đi Ngũ Hồ, mới có 2 câu thơ rằng:
“Đem Tây Thi đi là có ý sợ: Sợ còn nghiêng nước hại quân vương!”

Xét thực ra Phạm Lãi trốn đi vì sợ Câu Tiễn giết hại công thần, đến vợ con cũng còn phải bỏ lại, huống chi là Tây Thi. La Ẩn có thơ cãi oan cho Tây Thi rằng:
“Nước nhà còn, mất bởi cơ trời. Sao cứ Tây Thi đổ lỗi hoài! Tây Thi nếu làm Ngô mất nước. Nước Việt khi mất là tại ai?”

Thật đúng là: gái quốc sắc như cơn sóng lượn, trai anh hùng như chiếc thuyền nghiêng.!
2.Điêu Thuyền
Tư Đồ Vương Doãn, đại thần của Hán Hiến Đế thời Tam Quốc dùng cô con gái nuôi của mình là Điêu Thuyền để thực hiện mỹ nhân kế nhằm ly gián cha con Đổng Trác và Lữ Bố. Trong buổi tiệc chiêu đãi Đổng Trác, Tư Đồ Vương Doãn cố ý gọi Điêu Thuyền ra bái yết Đổng công. Khi người đẹp vừa ra đến thì lạ thay đột nhiên có một cơn gió nhẹ thổi đến, một vầng mây trôi che khuất mặt trăng. Nhân đấy, Vương Doãn liền xuýt xoa trước mặt Đổng Trác rằng: Điêu Thuyền đẹp đến nỗi trăng nhìn thấy cũng phải trốn sau lưng mây. Vì vậy, Điêu Thuyền được mọi người xưng tụng là “Bế Nguyệt”.

3.Vương Chiêu Quân

Thời Hán Nguyên Đế tại vị, nam bắc giao binh, vùng biên giới không được yên ổn. Hán Nguyên Đến vì an phủ Hung Nô phía bắc, tuyển Chiêu Quân kết duyên với thiền vu Hô Hàn Tà để lưỡng quốc bảo trì hoà hảo vĩnh viễn. Trong một ngày thu cao khí sảng, Chiêu Quân cáo biệt cố thổ, đăng trình về phương bắc. Trên đường đi, tiếng ngựa hí chim hót như xé nát tâm can của nàng; cảm giác bi thương thảm thiết khiến tim nàng thổn thức. Nàng ngồi trên xe ngựa gảy đàn, tấu lên khúc biệt ly bi tráng. Nhạn bay về phương nam nghe thấy tiếng đàn, nhìn thấy thiếu nữ mỹ lệ trên xe ngựa, quên cả vỗ cánh và rơi xuống đất. Từ đó, Chiêu Quân được gọi là “Lạc Nhạn”.

Chiêu Quân tên Vương Tường, người đất Tỷ Quy thuộc Nam quận. Nàng bị tuyển vào cung đời Hán Nguyên Đế (48-33 trước DL). Lúc bấy giờ vua Hán có đến 3000 mỹ nữ nên không thể nào biết mặt hết được. Vua truyền thị vệ Mao Diên Thọ sai họa sĩ vẽ hình tất cả cung nữ để vua xem và gọi đến khi cần

Mao Diên Thọ thừa đấy mà ăn hối lộ. Các cung nữ khác đành bằng lòng, riêng chiêu Quân đã có 1 sắc đẹp hơn các cung phi, lại có tính tự trọng nên không chịu lót tiền mà còn xỉ mắng Thọ trước mặt đông người. Thọ câm tức nên lén lấy viết chấm dưới khóe mắt ảnh Chiêu Quân 1 chấm làm thành nốt ruồi

Nhìn bức ảnh, Hán Nguyên Đế rất bằng lòng. Nhưng Thọ lại sàm tấu người tuy đẹp nhưng lại có nốt ruồi dưới khóe mắt mà sách tướng gọi là “thương phu trích lệ”, đó là nốt ruồi sát chồng. Nhà vua nghe lời nên chẳng nghĩ gì đến Chiêu Quân

Hung Nô xâm phạm bờ cõi, Đại Hán thua to. Hán Nguyên Đế buộc phải cống phẩm vật và người đẹp để cầu hòa. Thọ lại tâu vua đem Chiêu Quân cống Hồ. Bữa tiễn đưa, nhà vua sững sờ khi trông thấy người đẹp nào có nốt ruồi nào bèn sai vũ sĩ bắt Mao Diên thọ nhưng Thọ đã trốn sang Hung Nô rồi. Chiêu Quân cáo biệt cố hương, đăng trình về phương bắc. Trên đường đi, tiếng ngựa hí chim hót như xé nát tâm can của nàng; cảm giác bi thương thảm thiết khiến tim nàng thổn thức. Nàng ngồi trên xe ngựa gảy đàn, tấu lên khúc biệt ly bi tráng và cất giọng ngâm:

“Cánh én cô đơn đượm tủi sầu
Ngang trời gió cuốn bạt về đâu?
Quan san ngàn dặm vương thương nhớ,
Hồ, Hán từ đây cách biệt nhau!”

Khi đến đài Lạc Nhạn có đàn chim nhạn nghe tiếng đàn ai oán nên ssà xuống, Chiêu Quân bắt được chim nhạn, liền xé lụa cắn móng tay lấy máu viết thư, buộc vào chân nhạn rồi thả bay đi, mong rằng chim mang tin về cố quốc. Nhìn cánh nhạn bay, nhìn dòng sông Hắc Thủy âm thầm chảy, nàng tê tái lòng thở dài:

“Thủy hà sóng lạnh gió đìu hiu,
Cánh nhạn lê thê giải nắng chiều.
Thấp thoáng mây về nơi lữ thứ,
Mơ màng một giấc mộng cô liêu!”

Từ chi tiết nhạn bay sà xuống nên Chiêu Quân được gọi là “Lạc Nhạn”. Tiếc thay sau đấy mỹ nhân lại trầm mình xuống sông. Truyền thuyết kể lại rằng: trước khi trầm mình, nàng khấn rằng: “xin trời cao đưa thiếp về cố hương”. Khi nàng chết thì lạ thay nước sông chảy ngược mang xác nàng về cố quố

4.Dương Quý Phi

Sủng Phi của Đường Minh Hoàng Lý Long Cơ

Đường Triều Khai Nguyên niên, có một thiếu nữ tên gọi Dương Ngọc Hoàn được tuyển vào cung. Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kềm được, buông lời than thở : “Hoa a, hoa a ! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy ?”. Lời chưa dứt lệ đã tuông rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại Hàm Xú Thảo (cây mắc cỡ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là “Hoa Nhượng”.

5.Trác Văn Quân

Tư Mã Tương Như vốn là 1 con người hào hoa phong nhã rất mực, đi đến đâu ông cũng dùng bút mực và cây đàn để kết bằng hữu. Ông vốn quen thân với quan lệnh ở huyện là Vương Cát nên đến chơi. Cát lại mời Tương Như cùng đi dự tiệc ở nhà Trác Vương Tôn là viên ngoại trong huyện. Nghe tiếng Tương Như đàn hay nên quan huyện cùng Trác Vương Tôn yêu cầu Tương Như cho thưởng thức 1 bài.
Trác ông vốn có người con gái rất đẹp tên Văn Quân, còn trẻ đã sớm góa chồng, thích nghe đàn. Tương Như biết, sinh lòng yêu mến nên nhân đấy vừa đàn vừa hát khúc “Phượng cầu hoàng” để tỏ tình.
Tiếng đàn lảnh lót, giọng hát thâm trầm, ý đầy tình cảm, con người hào hoa phong nhã đã khuất phục được Văn Quân. Rồi 1 đêm, nàng bỏ nhà đi cùng Tương Như. Gia cảnh Tương Như nghèo túng khiến Trác ông từ con gái. 2 vợ chồng cùng mở quán rượu mưu sinh.
Sau Hán Vũ Đế biết tài nên vời ra làm quan. Từ đấy, Trác ông cũng không dám khinh thường con rể nữa. Nhưng chẳng bao lâu Tương Như lại vịn lý do bệnh rồi từ quan để sống 1 cuộc sống an nhàn.

6.Ban Chiêu
Em gái của Ban Cố, Ban Siêu. Ban Cố soạn Hán Thư, bộ sử nối tiếp Sử Ký của Tư Mã Thiên, Hán Thư chưa kịp hoàn thành thì Ban Cố bị Lạc Dương Lệnh hãm hại mà chết, Ban Chiêu giúp anh hoàn tất phần “Thiên Văn Chí” trong Hán Thư.

7.Thái Diễm
Tức Thái Văn Cơ, con gái của quan Nghị Lang Thái Ung thời Đông Hán.
Thái Diễm cũng gọi là Thái Văn Cơ, một nữ sĩ tài hoa đời Tam Quốc (220-264). Cha nàng là Thái Ung, có tài thẩm âm vào bực nhứt cổ kim. Tương truyền, thấy một người chụm củi, ông bảo: “Tôi nghe tiếng củi đó nổ, biết là củi tốt, sao đem chụm cho uổng”. Ông xin khúc củi về, làm một cây đàn, tiếng rất trong.

Nàng Thái Diễm lên 8 đã giỏi đàn. Có chồng là Vệ Đạo Giới nhưng lại góa chồng sớm, không con. Đương lúc Đổng Trác nổi loạn, nàng bị rợ phương bắc bắt về đất Phiên, phải sống tủi nhục ở đất Hung Nô. Nàng nhớ quê hương, mới làm ra 18 khúc kèn rợ Hồ. Những bản nhạc này truyền vào Trung Nguyên. Tào Tháo là chúa nước Ngụy, trước vốn là bạn thân của cha nàng, nay lại thưởng thức bản nhạc, động lòng thương xót, mới sai người đem ngàn lượng vàng lên phương bắc chuộc nàng về.
Vua đất Hồ là Tả Hiền vương vốn sợ uy thế của Tào Tháo phải cho người đưa nàng về Hán. Tháo lại đứng làm chủ gả nàng cho Đổng Kỷ.

Khi về nước, nàng Thái Diễm có làm bài “Bi phẫn thi” dài 540 chữ, tả nỗi long đong của nàng, lời cực kỳ thống thiết, mỗi chữ như một giọt lệ.

Dục tử bất năng đắc,
Dục sinh vô nhứt khả.
Bỉ sương giả ha cô?
Nãi lao thử ách họa!
Nghĩa:

Muốn chết mà không được,
Muốn sống thêm vất vả.
Hỡi trời xanh tội gì?
Bắt ta gặp tai họa!

Hồ phong xuân hạ khởi,
Phiên phiên suy ngã y,
Túc túc nhập ngã nhĩ.
Cảm thời niệm phụ mẫu,
Ai thán vô cùng dĩ!
Nghĩa:

Xuân hạ, gió Hồ nổi,
Phất phất tà áo ta.
Ào ào bên tai thổi,
Cảm xúc sinh nhớ nhà,
Cùng khổ thay nông nỗi.

(Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)

Một hôm, Tào Tháo đem quân đánh Lưu Bị, tiện đường ghé thăm. Đổng Kỷ làm quan xa chỉ có nàng ở nhà. Nghe tin Tháo đến, nàng vội ra rước vào. Tháo ngồi trên sập, nàng thi lễ xong chắp tay đứng hầu bên. Tháo nhìn lên vách, chợt thấy một tấm bìa treo, có ghi bài văn bia, bèn đứng dậy bước đến xem và hỏi nguồn gốc. Thái Diễm thưa:
- Đây là bài văn bia đề một nàng Tào Nga. Xưa đời Hòa Đế, ở vùng Thượng Ngu có một người đồng bóng tên Tào Vu, hay lên đồng nhảy múa. Một hôm vào ngày mồng 5 tháng 5, Vu say rượu, đứng múa may trên thuyền, sẩy chân té xuống sông chết. Cô con gái của Vu vừa lên 14 tuổi, quá thương cha, cứ đi dọc bờ sông kêu khóc suốt 7 ngày đêm, rồi nhảy xuống nước mất tích. Qua 5 ngày sau, bỗng thấy nàng đội xác cha nổi lên mặt sông. Người trong làng vớt xác cả hai chôn cất. Quan huyện Thượng Ngu là Đỗ Thượng tâu việc ấy về triều. Triều đình khen nàng Tào Nga là gái hiếu, truyền cho lập bia. Đỗ Thượng lại sai Hàn Đan Thuần làm bài văn khắc vào bia để ghi lại việc ấy. Hàn Đan Thuần bấy giờ mới 13 tuổi, cầm bút viếc ngay một hơi thành bài văn, chẳng phải sửa chữa một chữ. Đỗ Thượng chịu là hay, cho khắc vào bia dựng bên mộ nàng Tào Nga. Thời bấy giờ, ai đọc cũng lấy làm lạ. Tiếng văn hay đồn dậy xa gần… Phụ thân thiếp nghe tiếng cũng tìm đến xem, gặp lúc trời tối, không nhìn thấy chữ, phải sờ vào bia, lần từ nét mà đọc. Đọc xong, người lấy bút viết 8 chữ lớn vào sau lưng bia. Về sau, có người khắc cả 8 chữ vào đấy.

Tào Tháo thấy 8 chữ ấy cũng ghi trên bức bia, bên cạnh bài văn như sau: “Hoàng quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cửu”.
Tháo hỏi Diễm:
- Nhà ngươi có hiểu ý nghĩa 8 chữ này không?
Nàng thưa:
- Tuy là di bút của cha, nhưng thú thật thiếp cũng hiểu ý nghĩa ra sao.
Tháo quay lại hỏi các mưu sĩ, mọi người đều chịu không biết. Bấy giờ có quan Chủ bạ là Dương Tu lên tiếng:
- Tôi hiểu ra rồi.
Tu giải:
- Tám chữ đó là ẩn ngữ của Thái Ung. “Hoàng quyến” là lụa màu vàng, tức là màu sắc của tơ (ti sắc), chữ “ti” với chữ “sắc” hợp lại thành chữ “tuyệt”. “Ấu phụ” nghĩa là con gái còn nhỏ, tức là “thiếu nữ”. Chữ “thiếu” đứng bên chữ “nữ” hợp thành chữ “diệu”. “Ngoại tôn” là cháu ngoại. Cháu ngoại tức là đứa con của con gái mình (nữ nhi tử). Chữ “nữ” chắp với chữ “tử” thành chữ “hảo”. “Tê cửu” là cái cối giã hành tỏi. Cái cối là vật chịu cay (thụ tân). Chữ “thụ” đặt bên chữ “tân” thành chữ “từ”. Tóm lại, đó là ẩn chữ “Tuyệt diệu hảo từ”, tức Thái Ung đã hết lời khen tặng văn chương của Hàn Đan Thuần vậy.
Mọi người đều khen Dương Tu tài thức mẫn tiệp.

8.Tạ Đạo Uẩn
Tạ Đạo Uẩn sống vào đời nhà Tấn (265-419). Lúc nhỏ đã nổi tiếng thông minh, có tài biện luận. Sau, Tạ Đạo Uẩn kết duyên cùng Vương Ngưng Chi cũng là 1 nhà nho lỗi lạc đương thời. Làm vợ Vương, nàng thường thay chồng tiếp khách văn chương, luận bàn thi phú. Nàng là con người hoạt bát, thông suốt nhiều vấn đề, lập luận vững chăc làm nhiều tay danh sĩ đương thời phải thán phục.

Cháu gái Tạ An, người xuất hiện trong điển “Vịnh Nhứ Tài”. Tác phẩm tiêu biểu : “Đăng Sơn”
Nga nga đông nhạc cao,
Tú cực xung thanh thiên.
Nham trung gian hư vũ,
Tịch mịch u dĩ huyền.
Phi công phục khí tượng,
Vân cấu thành tự nhiên.
Khí tượng nhĩ hà nhiên ?
Toại lệnh ngã lâu thiên.
Thệ tướng trạch tư vũ,
Khả dĩ tận thiên niên.

9. Võ Tắc Thiên

Nữ hoàng Võ Tắc Thiên đại đế (624 – 705), cổ vãng kim lai duy chỉ có 1 người này. Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cũng có các tiểu nữ hoàng khác từng ngồi trên bảo tọa của hoàng đế, nhưng các quan điểm hiện nay chỉ xem Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất, bởi vì bà lên ngôi hoàng đế bằng chính thực lực của bản thân, không phải là tượng gỗ nghe theo sự điều khiển của kẻ khác

10. Thượng Quan Uyển Nhi

Cháu gái Thượng Quan Nghị, hiệu xưng là Cân Quốc Thủ Tướng đầu tiên. Thời Đường Cao Tông, cháu gái tể tướng Thượng Quan Nghị là Thượng Quan Uyển Nhi, thông thuộc thi thư, không những biết ngâm thơ viết văn mà còn hiểu biết chuyện xưa nay, thông minh mẫn tiệp dị thường.

11. Ban Tiệp Dư

Ban Tiệp Dư là con nhà danh môn, còn trẻ đã học thành tài, thời Hán Thành Đế được lập làm Tiệp Dư. Chị em Triệu Phi Yến sau khi đắc sủng, ganh ghét tài năng phẩm hạnh của Ban Tiệp Dư, Ban Tiệp Dư ngày đêm lo sợ nên xin theo hầu thái hậu ở cung Trường Tín. Có thể bài “Đoàn Phiến Thi” được sáng tác tại cung Trường Tín, bài thơ nhỏ này dùng từ thái mới mẻ, tình như ai oán, biểu hiện thật ủy uyển hàm súc, có một loại khí độ oán mà không giận

12. Chân Hoàng Hậu

Tên gọi Chân Mật, là hoàng hậu của Ngụy Văn Đế Tào Phi

Sau khi Tào Phi xưng đế, sủng hạnh Quách hoàng hậu, Quách hậu cậy đắc sủng nên gièm pha Chân hoàng hậu, từ đó Chân hoàn hậu thất sủng. Sau khi bị vua bỏ lơ không nói đến, từ “Đường Thượng Hành” có thể đọc thấy được lòng tương tư cực chí của một người vợ đối với trượng phu, một lòng thâm tình vô hối. Sự chờ đợi của Chân hoàng hậu đáng thương cuối cùng chỉ là một tờ giấy chết của Tào Phi. Thậm chí sau khi chết, thi thể phải lấy tóc che mặt, lấy trấu lấp miệng, chịu nỗi khổ vũ nhục và lăng ngược.
Đường Thượng Hành
Bồ sinh ngã trì trung, kỳ diệp hà li li.
Bàng năng hành nhân nghĩa, mạc nhược tiếp tự tri.
Chúng khẩu thước hoàng kim, sử quân sinh biệt li.
Niệm quân khứ ngã thời, độc sầu thường khổ bi.
Tưởng kiến quân nhan sắc, cảm kết thương tâm ti.
Niệm quân thường khổ bi, dạ dạ bất năng mị.

13. Hoa Nhị Phu Nhân

Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn từng ngưỡng mộ tài danh của Hoa Nhị Phu Nhân. Hoa Nhị Phu Nhân là Phí Quý Phi của Hậu Thục Hậu Chủ - Mạnh Xưởng, xuất thân là 1 ca kỹ ở Thanh Thành (nay ở phía Đông Nam thành phố Giang Yển). Tương truyền “Hoa Nhị Phu Nhân Cung Từ” có hơn 100 biến, trong đó thật ra chỉ có hơn 90 biến. Khi Tống diệt Hậu Thục, chỉ dùng có 1 vạn quân, 14 vạn quân Hậu Thục không chiến mà hàng, Hoa Nhị Phu Nhân theo Mạnh Xưởng lưu vong về phương bắc, đêm nghỉ ở Gia Minh dịch trạm, cảm hoài nỗi buồn nước mất nhà tan, đề lên vách quán bài “Thái Tang Tử”. Nhưng vì quân kỵ thôi thúc nên bị mất hết một nửa, cứ viết được 1 chữ lại rơi lệ.
Thái Tang Tử
Sơ li thục đạo tâm tướng toái,
Li hận miên miên.
Xuân nhật như niên,
Mã thượng thời thời văn đỗ quyên.

14. Hầu Phu Nhân

Tùy Dương Đế Dương Quảng tại vị, quảng cáo cao lâu, bắt hàng ngàn thiên hạ mỹ nữ nhốt vào trong đó, Hầu Phu Nhân chính là 1 trong số hàng ngàn cung nữ đó mà suốt cả cuộc đời cũng chưa hề gặp được Tùy Dương Đế, cuối cùng buồn tủi mà chết. 1 tài nữ mỹ lệ ra đi trong lẳng lặng chỉ để lại cho đời mấy vần thơ:

Xuân nhật khán mai
Thiết băng vô tiêu nhật, quyển liêm thời tự tần
Đình mai đối ngã hữu liên ý, tiên lộ chi đầu nhất điểm xuân.

《春日看梅》
砌雪无消日, 卷帘时自颦。
庭梅对我有怜意, 先露枝头一点春。

15.Đường Uyển

Đường Uyển, người Âm Sơn Việt Châu thời Nam Tống là biểu muội của Lục Du. 2 người là thanh mai trúc mã, sau đấy kết thành vợ chồng. Về sau do sự phản đối của Lục mẫu nên 2 người đành chia tay. Sau đó, Lục Du kết duyen cùng 1 cô gái họ Vương. Còn Đường Uyển thì gả cho Triệu Sĩ Trình. Trong 1 lần tình cờ, 2 người lại gặp nhau, tình ý ngày xưa lại chứa chan. 2 người bèn cùng nhau làm bài “Thoa đầu phương” để tỏ tình ý của mình:

Hồng tô thủ, hoàng đằng tửu, mãn thành xuân sắc cung tường liễu
Đông phong ác, hoan tình bạc, nhất bôi sầu tự, kỷ niên ly tố
Thác! Thác! Thác
Xuân như cựu, nhân không sấu, lệ ngân hồng ấp giao tiêu thấu
Đào hoa lạc, nhàn trì các, sơn minh tuy tại, cẩm thư nang thác
Mạc, mạc, mạc
Lục Du
Thế tình bạc, nhân tình ác, vũ tống hoàng hôn hoa dịch lạc.
Hiểu phong can, lệ ngân tàn, ý giam tâm sự, độc ngữ tà nan.
Nan, nan, nan !
Nhân thành các, kim phi tạc, bệnh hồn thường tự thu thiên tác.
Giác thanh hàn, dạ lan san, phạ nhân tuân vấn, yết lệ trang hoan.
Mãn, mãn, mãn !
Đường Uyển

Vì nỗi nhớ nhung da diết ấy mà không lâu sau nàng sinh bệnh rồi mất. Lục Du hay tin như sét đánh ngang tai, mấy phen khóc đến chết đi sống lại. Từ đó về sau, cái tên Đường Uyển đã trở thành 1 đề tài quen thuộc trong sáng tác văn chương của Lục Du. Mãi đến khi 84 tuổi ông vẫn không quên người vợ, người tri kỷ lúc đầu của mình. Người đời đánh giá đây chính là 1 mối tình “thiên cổ hận”.

16. Tiết Đào

Nữ thi nhân thời Đường, người gọi là Nữ Hiệu Thư, từng xướng họa cùng thi nhân nổi tiếng đương thời Nguyên Trẩn, thực lực không thua kém. Tác phẩm tiêu biểu : Ngô Đồng Thi (làm khi mới 8 tuổi)
Đình trừ nhất cổ đồng,
Tủng cán nhập vân trung,
Chi nghênh nam bắc điểu,
Diệp tống vãng lai phong.

(“Trước sân cây đồng già,
Chót vót vào mây xa.
Cánh đón chim nam bắc
Lá đưa gió lại qua.”)

Tiết Đào (770-832), tự Hồng Độ. Cha Tiết Vân là một viên tiểu lại ở kinh đô, sau loạn An Sử dời đến ở Thành Đô, Tiết Đào sinh vào năm thứ 3 Đại Lịch thời Đường Đại Tông. Lúc còn nhỏ đã thể hiện rõ thiên phú hơn người, 8 tuổi đã có thể làm thơ, cha từng ra đề “Vịnh Ngô Đồng”, ngâm được 2 câu “Đình trừ nhất cổ đồng, tủng cán nhập vân trung”; Tiết Đào ứng thanh đối ngay : “Chi nghênh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong”. Câu đối của Tiết Đào như dự đoán trước mệnh vận cả đời của nàng. Lúc 14 tuổi, Tiết Vân qua đời, Tiết Đào cùng mẹ là Bùi Thị nương tựa nhau mà sống. Vì sinh kế, Tiết Đào bằng dung mạo và tài năng hơn người tinh thi văn, thông âm luật của mình bắt đầu đến các nơi ăn chơi hoan lạc, rót rượu, phú thi, đàn xướng hầu khách nên bị gọi là “Thi Kỹ”.
Nghe lời thơ có ý lả lơi nên người cha than rằng: nghiệp chướng đã vướng vào mình rồi. Cứ như lời thơ này, con gái ta về sau ắt là 1 đứa lãng mạn, bất hạnh
Mấy năm sau, cha nàng mất, gia cảnh bần cùng, nàng phải gởi thân chốn thanh lâu để lấy tiền nuôi mẹ già. Danh tiếng nàng nổi khắp nơi nên có nhiều danh nhân tài tử đến xin gặp mặt
Đến đời Đường Hiến tông (806-820) có quan Tả thập di tên Nguyên Chẩn, 1 danh nho đương thời, vâng chiếu đi thanh tra đất Thục, nghe danh Tiết Đào mong gặp mặt nên nhờ bạn giới thiệu. Đôi bên gặp nhau, xướng họa tâm đắc, quyến luyến không rời. Nhưng vì công vụ, Nguyên Chẩn phải trở về Trường An. Kẻ lên ngựa chẳng yên lòng dứt áo, người ở lại ngậm ngùi ôm nặng nỗi nhớ thương. Sau tướng trấn thủ Tây Xuyên là Lưu Tích tạo phản, chiến tranh loạn lạc nên 2 người mất hết tung tích. Ngày tháng trôi qua, tuổi càng chồng chất, nghĩ buồn thương cho thân phận vô duyên nên lui về đầm Bạch Hoa, cất am đi tu. Thực là “nhất phiến tài tình thiên cổ lụy”
Thời Đường Đức Tông, triều đình mời Trung thư lệnh Vĩ Cao làm Tiết độ sứ Kiếm Nam, thống lược Tây Nam, Vĩ Cao là một quan viên nho nhã cũng có tài thơ văn, ông nghe nói về tài năng xuất chúng của Tiết Đào mà còn là hậu nhân của quan chức triều đình, liền phá lệ mời nàng dùng thân phận nhạc kỹ đến Soái Phủ đãi yến phú thi, Tiết Đào trở thành Doanh Kỹ nổi tiếng ở Thành Đô (Nhạc kỹ chính thường được mời đến các cuộc vui chơi của võ quan trấn thủ các nơi). Sau 1 năm, Vĩ Cao mến tài Tiết Đào, chuẩn bị tấu xin triều đình để Tiết Đào đảm nhiệm quan chức Hiệu Thư Lang, tuy chưa kịp thực hiện nhưng danh hiệu “Nữ Hiệu Thư” đã không kính mà đến, đồng thời Tiết Đào cũng được gọi là “Phụ Mi Tài Tử”. Về sau, Vĩ Cao vì trấn thủ biên cương có công nên được phong làm Nam Khang Quận Vương, rời khỏi Thành Đô. Lý Đức Dụ tiếp nhiệm Kiếm Nam Tiết Độ Sứ cũng rất ngưỡng mộ tài năng của Tiết Đào. Trong suốt cuộc đời của Tiết Đào, Kiếm Nam Tiết Độ Sứ tổng cộng có 11 người thay phiên đảm nhiệm, người nào cũng vô cùng thanh lãi và kính trọng nàng, địa vị của nàng đã vượt xa một tuyệt sắc hồng kỹ tầm thường...

17. Chu Thục Chân

Nữ từ nhân nổi tiếng thời Đường, hiệu xưng U Thê Cư Sĩ, được biết là một tài nữ người ở Tiền Đường thời Tống, thi từ đều giỏi, đương thời chỉ có nàng mới xứng tề danh với Lý Thanh Chiếu. Tác phẩm tiêu biểu có “Đoạn Trường Tập” và “Đoạn Trường Từ” được lưu truyền, nổi tiếng nhất là “Điệp Luyến Hoa”.
Chu Thục Chân có cuộc đời khá u sầu. Nguyên nàng có một ý trung nhân lý tưởng, cũng là người tài hoa mà nàng tự quen biết. Nhưng phụ mẫu không cho phép nàng kết hôn với ý trung nhân của mình, mà gả nàng cho 1 thương nhân. Chồng nàng là người chỉ biết kiếm tiền, đối với thi từ và tranh vẽ của nàng đều không có hứng thú, vì vậy mà cuộc sống của nàng lúc nào cũng đầy u sầu và tẻ nhạt.

18. Quách Ái

Các cung nữ triều nhà Minh đa phần đều xuất thân từ các gia đình thanh bạch trong chốn kinh thành. Một khi được chọn vào cung thì học như con chim trong lồng, khó lòng mà gặp lại người thân nữa. Hơn nữa những năm đầu triều Minh vẫn còn áp dụng chế độ tuẫn táng tàn bạo của triều Nguyên trước. Khi Minh Tuyên Tông mất, cung nữ Quách Ái được lệnh phải tuẫn táng khi nàng chỉ vào cung mới được 20 ngày. “Tuyệt mệnh từ” là tác phẩm nàng viết trước lúc chết, câu câu đều chứa chan nước mắt thể hiện sự sinh tử biệt ly với cha mẹ

Tuyệt mệnh từ

Tu đoạn hữu số hề, bất túc giảo dã
Sinh nhi như mộng hề, tử giả giác dã
Tiên ngô thân nhi qui hề, tàm dư chi thất hiếu dã.
Tâm thê thê nhi bất năng dĩ hề, thị tắc khả điệu dã.


  《绝命辞》

  修短有数兮,不足较也。

  生而如梦兮,死者觉也。

  先吾亲而归兮,惭予之失孝也。

  心凄凄而不能已兮,是则可悼也。

Vì sự ích kỷ của các đời đế vương, quảng thúc mỹ nữ, nhốt trong hậu cung đã làm hại thanh xuân, hạnh phúc và tính mệnh của biết bao thiếu nữ. Nếu có kiếp sau, chắc chắn họ sẽ hy vọng được gả vào một nhà bình thường, trên còn phụ mẫu, dưới có nhi nữ, họ cũng cam tâm tình nguyện đắm chìm trong ngọn lửa yêu thương của thê chức mẫu chức trên nhân gian, tháng năm dần qua cho đến một ngày kia họ lạc hạ hoàng tuyền, tức là kiếp này đã dứt

19. Liễu Như

Là kỹ nữ nổi tiếng cuối đời Minh, tên thật là Dương Ái

Sau Liễu Như Thị gả cho Tiền Khiêm Ích, là 1 danh sĩ đương thời. Nếu so với tuổi tác Trần Tử Long và Liễu Như Thị thì Tiền Khiêm Ích đáng làm bậc trưởng bối, nhưng xét về học vấn cao thâm uyên bác thì Tiền Khiêm Ích lại hơn hẳn Trần Tử Long. Liễu Như Thị tuy đôi lúc có nhung nhớ Trần Tử Long nhưng nghĩ đến sự ân ái yêu thương của chồng thì nàng lại trấn tĩnh. Tuy ẩn cư nhưng đôi vợ chồng này lại rất quan tâm đến thế sự. Bấy giờ Lý Tự Thành trong làm phản, lãnh đạo nghĩa quân chống lại triều đình, ngoài thì quân Thanh lâm le xâm lược. Trần Tử Long chẳng những không hiềm khích với Tiền Khiêm Ích mà còn hăng hái tiến cử Ích ra làm quan cứu đời. Khi Lý Tự Thành chiếm lấy Bắc Kinh, lật đổ nhà Minh thì tấm lòng chống phản quân của đội vợ chồng Tiền Khiêm Ích và Liễu Như Thị lại hóa thành lòng yêu nước chống quân Thanh xâm lược. Cuộc đời Liễu Như Thị từng tiếp xúc với 2 thi nhân nổi tiếng đương thời là Trần Tử Long, Tiền Khiêm Ích, thật là làm rạng danh quần thư, không nhượng phe tu mi.
20. Lý Sư Sư

Tư ái của Tống Huy Tông (bồ nhí).
(Rất nổi tiếng trong tác phẩm Thủy Hử. Nghe đâu là người iu của Lãng Tử Yến Thanh)

21. Trần Viên Viên

Trần Viên Viên là mỹ nhân đã gián tiếp khiến giang sơn Trung Hoa rơi vào tay giặc Thát từ quan ngoại.
Nghe nói do Ngô Tam Quế hận không lấy được nàng, đã dẫn quân Thanh vào cửa quan, để dành lại người đẹp. Vì vậy không phải do nàng trực tiếp gây ra cảnh sinh linh đồ thán đó, nhưng vẫn bị người của mấy đời sau phỉ nhổ

22. Lý Thanh Chiếu

Lý Thanh Chiếu, hiệu “Dịch An Cư Sĩ”, người Sơn Đông - Lịch Thành thời Tống (nay là Sơn Đông - Tế Nam). Cha là Lý Cách Phi, làm quan đến Lễ Bộ Viên Ngoại Lang, một người học vấn uyên bác. Mẹ là Vương Thị, cũng là một người biết thơ văn. Lý Thanh Chiếu được cha dạy ngâm thơ, viết từ và tản văn từ nhỏ. 18 tuổi được gả cho Triệu Minh Thành, cũng là một người có học vấn. 2 vợ chồng cùng sinh hoạt, cùng học tập, cuộc sống rất tình thú. Khi quân Kim diệt Tống, vợ chồng Lý Thanh Chiếu chạy xuống phương nam lánh nạn. Năm 1129, Triệu Minh Thành được phái đến Hồ Châu nhậm chức, đi đến Kiến Khang thì qua đời, Lý Thanh Chiếu phải bôn ba đến Chiết Giang nương nhờ em trai là Lý Kháng. Về sau cùng với Lý Kháng phiêu bạc qua Việt Châu, Đài Châu, Hàng Châu và Kim Hoa.
Sinh đang tác nhân kiệt, tử diệc vi quỷ hùng.
Chí kim tư Hạng Vũ, bất khẳng quá Giang Đông

23. Tả Phấn

Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm nghe tiếng em gái thi nhân Tả Tư là Tả Phấn có tài năng hơn người nên lập tức tuyển vào cung, Tả Phấn vì tài đức siêu quần nên ngày ngày được đế vương cùng quần thần tán thưởng, được phong làm người coi giữ hậu cung. Hiềm nổi ngư sắc hoang đường Tư Mã Viêm là một trong số các đế vương vô sỉ vô vi của lịch sử, Tả Phấn được phong là Quý Phi, bất quá là do Tư Mã Viêm vì cái hư danh trọng hiền đãi sĩ, trong “Tấn Thư” gọi Tả Phấn là “Tư lậu thể luy, thường cư bạc thất” (thân thể gầy yếu, ở nhà đạm bạc). “Trác Mộc Thi” là tác phẩm mà trong đó, Tả Phấn tả lại cuộc sống đạm bạc của mình:

《啄木诗》

南山有鸟, 自名啄木。
饥则啄木, 暮则宿巢。
无干于人, 唯志所欲。
此盖自卑, 性清者荣,性浊者辱。

Trác mộc thi:

Nam Sơn hữu điểu, tự xưng trác mộc
Cơ tắc trác mộc, mộ tắc túc sào
Vô can vu nhân, duy chí sở dục
Thử cái tự ty, tính thanh giả vinh, tính trọc giả nhục

24. Hoàng Nga


25.Vệ Tử Phu

Nổi tiếng khắp thiên hạ vì mái tóc đen và đẹp

26. Ngư Huyền Cơ


27. Đổng Ngạc Phi

Người thân yêu nhất của Thuận Trị Đế

28. Hồng Phất Nữ

Phong trần tam hiệp - Trương Hồng Phất, ái thê của Lý Tịnh, một cô gái thông minh và giản dị.

29.Hạ Cơ

Hạ Cơ là con gái của Trịnh Mục Công , Hạ Cơ có một sắc đẹp được người ta gọi là "Đào Hoa Phu Nhân" , Hạ Cơ rất đẹp lại giỏi về văn và Hạ Cơ cũng là tam trong tứ Mỹ Nhân của đời Xuân Thu.

30. Chương Đức Đậu

Hán hoàng hậu

31. Đặng Tuy

Hán Hoà Hy hoàng hậu

32. Lý Hương Quân


33. Triệu Phi Yến

Hán Thành Đế hoàng hậu. Giỏi ca múa, thân hình nhỏ gọn, nhẹ như chim yến, tương truyền có thể đứng trong lòng bàn tay mà múa nên gọi là “Phi Yến”. Nhập cung thời Thành Đế cùng với Tiệp Dư, sau được lập làm hoàng hậu. Khi Bình Đế tức vị, bị phế làm thứ dân, tự sát mà chết
May 2012
M T W T F S S
April 2012June 2012
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31