Thursday, March 19, 2009 3:25:21 AM



Cuối cùng, quyết tâm chinh phục điểm cuối cùng của đất nước em đã thực hiện xong sau một thời gian dài hậm hực vì nhiều lần đi hụt.....cảm giác sướng vẫn còn đến thật bây giờ. Sướng miên man và muốn chia sẻ cảm xúc ấy cùng ace ở đây, và nếu ai muốn có thêm thông tin thì cứ tự nhiên liên hệ, em hết lòng đáp ứng.
Tính ra thì vẫn còn quá rẻ cho một chuyến đi như thế. Ăn ngon, ngủ yên mà hết đúng 1.400k. Đúng là quá ngon lành cành đào. Nhưng những thứ vật chất ấy không thể nào mang ra so sánh hay trả tiền cho cái cảm xúc của em trên từng đoạn đuờng. Đối với em thì nó đẹp từng ki lô mét. 6 ngày đi qua là 6 ngày mang lại cho em cả trăm ngàn cảm xúc khi chính mình bằng tai nghe, mắt thấy cuộc sống đang từng ngày diễn ra trước mặt quá đỗi đời thường. Dù rằng nếu không có em đi qua những nơi ấy thì nó vẫn cứ phải diễn ra như một điều tự nhiên phải thế. Chỉ có mình, những con người cứ suốt ngày phải bon chen nơi chốn thị thành , hít nhiều khói bụi và đấu tranh với mọi cảm dỗ. Cuộc mưu sinh vì nồi cơm đã làm con người ta quên đi tuổi thơ êm đềm, giờ đi, rồi bắt gặp lại chính quê hương mình qua những cánh đồng, làng mạc, cây cỏ. Rồi bắt gặp lại tuổi thơ của chính mình khi nhìn lũ trẻ đen nhẻm, tóc khét nắng, trần truồng tắm sông, mới thấy yêu, thấy nhớ và tiếc cho lũ trẻ thành phố dù ăn ngon, mặc đẹp, tiếp xúc sớm với công nghệ hiện đại chẳng sẽ bao giờ có được cái tuổi thơ như thế trong cuộc đời.
Friday, November 7, 2008 10:44:26 AM
Ai đã từng đến Tuyên Quang mới cảm nhận được vẻ đẹp huyền bí và kỳ thú của nơi này, cái cuốn hút du khách không phải là các món sơn hào hải vị hay những danh lam thắng cảnh mà chính là điều giản dị thân quen gần gũi nhất đối với cuộc sống đó là con sông Lô, nước xanh như pha mực. Vẻ đẹp đó đã được nhiều nhạc sĩ lấy cảm hứng để viết lên lời bài hát du dương mà trầm bổng như muốn đánh thức sự tĩnh lặng cua núi rừng nơi đây. Có những nhà thơ đã cảm nhận bằng những áng thơ mượt mà êm dịu, trường tồn mãi với thời gian mà người ta gọi đó là “Trường ca sông Lô”. Trên trang sách em thơ vẫn còn đó những câu bình dị đi sâu vào lòng người “Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt, nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát, chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca”. Sông Lô mùa con nước nổi lại càng đẹp hơn vì lượng du khách, tầu bè tấp nập qua lại, nó như một bức tranh huyền diệu mà người cầm bút bắt đầu chấm phá những nét đầu tiên. Sông Lô được bắt đầu từ thượng nguồn Na Hang, chảy qua địa phận Tuyên Quang về Việt Trì và đổ ra sông Hồng. Không hiểu do tạo hoá sinh ra hay bị cảm phục bởi lòng người mà đoạn chảy qua thị xã Tuyên Quang ngày đêm êm đềm hiền hoà như dòng sữa mẹ ngọt ngào nuôi từng đứa con khôn lớn trưởng thành. Có du khách nước ngoài đã từng nói: “Dòng Lô mượt mà như tóc cô gái Tày đang độ tuổi xuân, tôi yêu Việt Nam, tôi yêu dòng Lô vì đó là một huyền thoại”. Vâng! Đó chính là một huyền thoại, một câu chuyện dài mà nhiều người đang viết. Nó miệt mài chảy giữa hai dãy núi song song như đang chứng kiến sự đổi thay diệu kỳ của mảnh đất anh hùng đã đi vào lịch sử, như một trường ca bất tử đó là khí thế sục sôi trong những năm kháng chiến, sôi động ồn ào của sự phát triển như vũ bão của người dân vùng đất ATK bất khuất năm xưa, và dường như nó cũng đang chào đón sự thay da đổi thịt trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới nơi đây.
Thị xã Tuyên Quang là một thung lũng lòng chảo, bằng phẳng được bao bọc bởi những dãy núi cao vững chắc về địa lý và có ý nghĩa chiến thuật sâu sắc. Phía tây thị xã vẫn còn đó thành nhà Mạc hiên ngang như thầm minh chứng khí phách và lòng quyết tâm chống giặc ngoại xâm bảo vệ non sông gấm vóc của cha ông ta. Phía đông ngoài những dãy núi đồ sộ, cao ngất trời tạo nên thế hùng hồn vững chắc, thì dưới chân núi con sông Lô lại hiền hoà chảy qua như chế ngự cái sừng sững đó. Có phải chăng đây là một bức tranh mê hồn mà thiên nhiên chính là tác giả hay tạo hoá đã dựng nên một “Binh pháp tôn tử” thuận lòng người dân nơi đây đã lấy nhu trị cương để cảnh báo một vùng đất thiêng mà không có một thế lực phản động nào có thể xâm phạm được. Nhưng chỉ biết rằng “Trường ca sông Lô” đã làm nên một kỳ tích và đã đi vào lịch sử sau này. Theo lời kể lại của người dân nơi đây thì từ đoạn thị xã Tuyên Quang chảy về Chí Đám, Đoan Hùng (Phú Thọ), xưa kia ông cha ta đã từng dùng những trái bưởi quét sơn và thả xuống sông giả làm thuỷ lôi đánh lừa tàu chiến Pháp đi vào khu vực bày binh bố trận của ta. Tạo điều kiện để ta tiêu diệt chúng. Dòng Lô đã ôm lấy những trái bưởi ngọt ngào, tạo nên sức mạnh vô hình nhấn chìm tất cả bè lũ cướp nước. Thất trận rồi ngoái đầu nhìn lại thấy dòng Lô gầm gừ mà hồn bay phách lạc, đó chẳng phải là một kỳ tích hay sao?.
Là vùng đất với nhiều dân tộc anh em như Tày, Dao, Cao Lan… sinh sống, con người và cảnh vật nơi đây thật hiền hoà, hoà quện vào nhau, như cau với trầu. Thấu hiểu điều đó, dòng Lô như vòng tay âu yếm của mẹ hiền ôm trọn những con người nơi đây để tạo nên một vành đai an toàn. Dòng Lô là nơi tạo nên kế sinh nhai cho muôn người dân ở dọc đôi bờ và những người ở nơi khác đến. Hàng ngày từ sáng sớm đến đêm khuya, thuyền bè xuôi ngược tấp nập như một bức tranh quê sôi động ồn ào đầy sức sống. Hàng hoá không phải là cái gì xa lạ quý hiếm mà nó chỉ là cây gỗ, hạt đỗ, củ khoai, con gà, con cá… Gần gũi thân quen như con người với chính núi rừng nơi đây. Sáng sớm ngay bến sông đầu chợ đã tấp nập bán mua kẻ lên thuyền, người xuống phố. Một khúc sông thơ mộng đã quyến rũ lòng người bởi cái tình của làng chài ven sông, chút e lệ của cô gái Tày da trắng như bông Lau, má hồng như bông Súng với những gánh măng rừng non mập. Người mua là mua cái tình tứ, cái quyến rũ của lòng người, kẻ bán là bán cái duyên của núi rừng và cái duyên của con người mà bến sông chính là nơi neo đậu. Khi màn đêm buông xuống đứng trên cầu Nông Tiến với hơn 1km chiều dài ta lại có dịp quan sát khúc sông, những ánh điện của làng chài của những quán nước ven sông núp dưới tán bằng lăng xanh mát đan chéo vào nhau lung linh huyền ảo như đưa ta lạc vào một giấc mơ mà không muốn tỉnh, trông thật giống thành phố biển về đêm với những ngọn đèn lung linh của người đánh cá. Đêm hè trăng thanh gió mát có những con thuyền nhỏ lướt nhẹ trên mặt nước phải chăng đó là những đôi trai gái đang tình tự? Những người muốn quên đi một ngày lao động vất vả, muốn được thưởng ngoạn cái quyến rũ của khúc sông quê, muốn được những áng mây lơ lửng trên bầu trời? Cứ mỗi độ mưa về, sông Lô nước lại đầy hơn, mặt sông cũng rộng hơn, làng xóm, cây cối dọc theo hai bờ dường như xuống thấp, lúc này cảnh buôn bán không còn nữa mà thay vào đó là những người xem nước, là thuyền bè của những người đánh cá, những người vớt củi dọc theo khúc sông. Có năm người ta đánh được những con cá nặng từ 20-25kg mà chúng tôi thường gọi là cá sông, không hiểu do vỡ đập hồ ao ở đâu đó mà có hay do loài cá cũng biết vùng nước lành để kiếm ăn. Theo quan niệm của các cụ già thì năm đó sẽ bội thu. Trời đất như có sự giao hoà lẫn nhau. Khi chiều buông, hoàng hôn xuống thấp thì cả một khúc sông được nhuộm bởi một màu vàng như núi chân du khách. Sông Lô mãi mãi trở thành một bến đợi.
Nguồn: Hoàng Nghiệp, báo Quân đội nhân dân
Friday, October 17, 2008 2:37:51 AM
Không biết khi mang thai tôi, mẹ có thèm ăn dở măng không mà ra đời tôi khoái món măng tới vậy. Trước ttiên phải kể đến loại măng chua, có nơi quen gọi măng khai, nghe ra không được êm tai nhưng chuẩn xác. Vị chua khai ấy hợp làm sao với cái tanh tao, ngọt mềm của xương thịt loài thủy cầm: ngan, vịt, cò, vạc le le... trong món bún xáo hay đùi ếch xào chua. Giản đơn hơnlà đĩa măng áo tơi xé nhỏ luộc chín tới, chấm nước mắm nhỉ, thêm tí chanh tí ớtcũng đã thấy ngời ngợi cái sắc sảo của đọt măng. Mà lạ lắm! Cái ớt cay cặp miếng măng khai, như thích làm duyên làm dáng, cứ cay nồng, cay nặc, cay đến chảy nước mắt nước mũi , cay đến hít hà.... có thể mới thấy hết được cái ngon, cái đã của miếng măng ngâm ớt. Rồi phải kể đến nồi măng ninh chân giò trong mâm cỗ tết. Những miếng măng lưỡi lợn được luộc kỹ, xả hết chất đắng, ninh khéo với những miếng chân giò nục nạc, béo mềm. Miếng măng sậm sựt mà nuột nà, thấm đượm vị thơm tho ngọt ngào của miếng thịt ninh, gợi thèm tới tái tê đầu lưỡi!Ăn một miếng măng ninh nóng hổi thấy cả một thời xuân phơi phới trong lòng.... Tết xứ Bắc, thiếu nồi măng ninh còn gì là mùi vị của ngày xuân nữa.!
Măng là sản phẩm của đồi rừng, muốn ăn măng cho thật sướng miệng phải tìm lên miền núi phía Bắc, tìm về cái xứ sở hội tụ đủ linh khí hiền hòa lẫn cái hoang dã dữ dội của trời và đất để sản sinh ra những người con gái đẹp có tiếng và những món ăn dân dã mà mang đậm cái hoang dã một thời. Nơi này cũng là quê hương của các loại măng ngâm tro, măng muối chua với quả mắc mật, măng chua không muối... để luộc, để nấu, để xào. Cái món ăn đơn giản nhất, cuốn hút nhất vẫn là món luộc. Món luộc đâu có gì lạ, nhưng cái món nước chấm măng ở đó mới thật độc đáo khó quên. Đó là một thứ hỗn hợp của nhiều loại rau, quả, hạt của đồi rừng, được nướng chín, rang vàng, giã nát, khuấy trọn cho thật đều, thật sánh. Thứ nước chấm chấm chẻo ấy, thì chỉ có ở vùng rừng núi, có đủ vị cay, vị mặn, chua chát và ngọt ngào... quyện vào những miếng măng luộc trắng tươi màu lụa, giòn sậm sựt dưới răng. Ngon... tới bờ, tới bến!
Mỗi lần có dịp về quê, tôi đã được thỏa mãn nỗi thèm măngvới mọi cách chế biến. Nhưng với tôi mùi vị của tất cả các thứ măng đều phải nhún nhường trước vị măng đắng. Mùa đào măng rất ngắn ( khoảng cữ giêng hai ) và cực kỳ vất vả. Mụt măng cứ nằm sâu vào trong lòng đất nên người đi kiếm phải mất công đào bới. Mệt muốn nổ đom đóm mới có được mụt măng. Khi mụn măng trồi lên mặt đấtthì vị đắng kia cũng đội nón ra đi, mất hết cái ngon, cái thi vị...
Ở vùng cao, bà con dân tộc hay có thói quen lùi măng đắng trong đống than hồng bếp nhà sàn, như kiểu nướng khoai, sắn. Măng chín lấy ra, gọt sạch, thái lát, chấm chút muối dầm trái ớt rừng, cay phỏng môi xé lưỡi, ăn muốn... quên đời.
Măng đắng cũng dần xuất hiện trong mâm cơm thị thành. Đưa một gắp lên miệng, thoạt nhai thấy đắng tê đầu lưỡi, càng nhai càng nghe dịu lại, dư vị ngọt ngào còn quyện lâu nơi vòm miệng. Măng đắng chấm mắm tép đồng, mắm tôm chua thì dễ nghiền như nghiền tràu thuốc, khó mà quên được cái đắng quắt cùng dư vị ngọt ngào ấy. Vào mùa mà thiếu gắp măng đắng, miếng cơm cứ nhạt phèo khóa nuốt.
Nói tới măng mà quên trái trám thì quả là có phần thiên vị. Măng & Trám, đôi bạn đồng hành từ miền sơn cước về xuôi đã bao đời, làm nên miếng ngon cho cư dân phường phố. Cây trám mọc ở đồng rừng, là loại cây gỗ tạp nhưng cũng cao mươi lăm mét. Trái trám nhỏ thau thau đậu trên cành cao tít, người không rành hái trái chắc bó tay, nhưng với dân địa phương đâu có gì là khó. Chẳng rõ từ đời nào truyền lại, đến cữ thu hái trái, người ta đóng dăm cái đinh thép dưới gốc cây, chỉ ít bữa trái chín mẩy đua nhau rụng xuống dưới đất, tha hồ mà lượm mà hốt. Hết thời vụ, lại nhổ cái đinh cất đi, để dành năm sau sài tiếp.
Có hai loại trám trắng & đen. Trám trắng giống như trái cà ná trong Sài Gòn, muối hay kho đều được. Trám đen mới đáng để cho dân phường phố phải đợi, phải mong...Đợi chờ cho đúng vụ tháng Mười, tìm ra các sạp bán đồ lagim ngoài chợ hay kêu người bán trám rong vào nhà chọn mua một mớ. Trám cũng có thể coi là thức thời trân chỉ có trong mùa heo heo lạnh.
Trám mua về sống nhăn, cứng và chat nè. Muốn ăn phải biết cách ủ cho khéo. Để trám sống vào liễn, nấu nước vừa tới chừng vừa nóng tay, đổ ngập vào trám, ngâm qua đêm là trám vừa chín tới. Nghe thì dễ thế nhưng ủ được mớ trám cho khéo lại là cả một vấn đề. Khẻo ủ thì trái chín mềm, bùi béo. Vụng thì trám chín nục hoặc sượng, còn gì là ngon nữa.
Ở vùng đồi núi, ẩm thực con người dân dã nhưng không kém phần ngon miệng. Miếng trám ủ chín, chám tương, chám muối vừng thơm phức, vừa bùi, vừa ngậy, đậm đà vừa miệng. Khách dưới xuôi đến thăm nhà, mời lót dạ đĩa xôi trám nóng hôi hổi, tạo được thích thú bất ngờ. Vị bùi của xôi trám sắc sảo hơn vị bùi của xôi đậu xanh, đậu đen, đậu lạc. Thoang thoảng hương lạ của đồng rừng.
Về xuôi, quả trám được bàn tay khéo léo của các bà các cô thị thành nấu nướng điệu đàng hơn. Trám ủ rồi được tách làm đôi theo chiều dọc. Thịt heo nạc băm nhuyễn với hành khô và mộc nhĩ, tiêu xay, thêm tí ra vị cho khéo rồi nhồi vào nửa quả trám. Xếp trám nhồi lên đĩa , mang đi hấp chín. Trên cái đĩa men trắng ấy xếp đầy những múi trám nhồi còn nóng,bốc hơi nghi ngút, gợi nhớ hình ảnh đoàn thuyền viễn xứ, lênh đênh trên mặt nước, dưới ánh hoàng hôn mờ sương. Miếng trám nhồi hòa quyện thật tài tình vị đài các của chốn thị thành với mùi hoang sơ nơi đồng rừng, tuy chẳng phải sơn hào hải vị, nhưng cũng đáng được tôn vinh là miếng ngon của mùa thu xứ Bắc.
Vào những ngày se lạnh, cô vợ trẻ xinh xinh bới cho chồng bát cơm gạo tám trắng thơm, gắp cho chồng miếng trám nhồi còn nóng hôi hổi, rưới thêm thìa nước trám đậm đà. Âu yếm ngắm nhìn chàng thong thả và cơm. Chạm rãi nhai để thưởng thức món ngon trong sự chăm sóc dịu dàng của người vợ trẻ. Dám chắc rằng, anh chồng nào lúc đó cũng cảm thấy lòng mềm đi, thương quá người bạn đời hiền dịu như tơ như liễu của mình. Chàng thấy cần cường tráng hơn để đối chọi với đời, để chở che cho người vợ thảo hiền có bàn tay nội trợ vừa xinh đẹp, vưa khéo léo nhường kia. Hương thêm đậm, lửa thêm nồng... phải chăng tình yêu đôi lứa không đơn thuần là sự khao khát của con tim, mà nó còn có phần xứng đáng dành cho cái bao tử háu đói của cánh đàn ông nữa.!...
Xa rồi những vùng đất đồi rừng phía Bắc, trong tôi vẫn âm thầm nỗi nhớ... nhớ những ngày lất phất mưa xuân đi đào măng trong rừng tre, rừng nứa . Vắt bám từng bầy mà vẫn cảm thấy ham thấy thích. Nhớ những giờ phút quây quần bên mâm cơm ấm cúng cạnh bên bếp lửa cùng vị măng đắng chấm muối ớt, vị trám bùi chấm với muối vừng.
Ngày nay ở vùng đồi rừng, chẳng ai lỡ để măng già, trám rụng hoài phí như thế. Để dưới xuôi này còn bao nhiêu người thương thương nhớ nhớ, chờ đợi ngóng trông hương vị của vùng sơn cước. Như tôi đây dù đã bao năm trời xa cách, vẫn nhớ vẫn thèm khôn nguôi cái vị măng đắng trám bùi. Mỗi lần có dịp về quê vào mùa măng mùa trám, phải kiếm phải tìm để ăn cho bằng được, cho dù chỉ là một gắp nhỏ. Có thế mới làm tạm vơi đi nỗi sầu nhớ măng thèm trám. Lúc đó lòng chợt tươi lên hơn hớn như được hội ngộ cùng bạn cũ người xưa, sau nhiều năm xa xôi cách trở.