Kỷ Yếu Tình Thân Hữu Trong Vòng Tay Minh Đức
Friday, December 12, 2008 7:07:16 PM
Lời Tựa
Như một giấc mơ đẹp khi giặp lại người cha, thầy, cô, và các bạn học xưa. Đúng vậy qua tập kỷ yếu này tôi cũng như các bạn lội ngược dòng thời gian, trở về khung trời kỷ niệm xưa dưới mái trường thân yêu Minh Đức, Hố Nai, Biên Hòa, Đồng Nai.
Sau bao thăng trầm trong cuộc sống tha hương, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng ước mơ được sống lại tuổi học trò thần tiên với các cha, thầy, cô, và các bạn học xưa. Những kỷ niệm ngây thơ, đẹp như mơ chỉ hiện hữu trong tuổi học trò.
Tập kỷ yếu “Tình thân hữu trong vòng tay Minh Đức” trong tay bạn sẽ đưa bạn trở về mái trường thân yêu Minh Đức, Hố Nai, Biên Hòa, Đồng Nai năm xưa qua những bài viết về những kỷ niệm học trò cũng như những hình ảnh của các cha, thầy, cô, và các bạn ngày nay. Khi bạn mở từng trang của tập kỷ yếu gợi lại trong ký ức bạn những ngày tháng thần tiên tuổi học trò đó.
Tập kỷ yếu “Tình thân hữu trong vòng tay Minh Đức” như lời tạ ơn dâng lên các cha, thầy, cô đã gieo những hạt giống nhân bản, kiến thức vào tâm hồn các bạn từ hơn 30 năm xưa nay đã sinh hoa kết trái.
Thay mặt hội Cựu Học Sinh Minh Đức Hải Ngoại chân thành cảm ơn các cha, các thầy, cô đã dành những khích lệ cũng như những tâm tình rất thân thương. Cảm ơn các bạn đã đóng góp những bài viết đầy tâm tư tình cảm dành cho các cha thầy cũ và các bạn. Và cảm ơn các bạn đã đóng góp về mặt tài chánh để tờ kỷ yếu này hoàn thành cũng như ngày Đại Hội Cựu Học Sinh Minh Đức Hải Ngoại lần thứ II thành công.
Ước mong kỷ yếu “Tình thân hữu trong vòng tay Minh Đức” là sợi dây liên kết các cha, thầy, cô, và các bạn khắp nơi xa gần. Xin kính chúc quý cha, quý tu sĩ, quý thầy, quý cô, quý anh chị và gia đình khang an, hạnh phúc.
Chân thành kính chúc
Thay mặt hội CHSMD Hải Ngoại
Hội Trưởng
Đào Văn Dậu
THƠ
Xa Rồi Minh Đức
Ngày hôm ấy, anh xa rời Minh Đức
Mối tình đầu đành bỏ lại sau lưng
Trên trời cao mây buồn bay lưng chừng
Lòng thương nhớ người em yêu bé nhỏ
Mắt trông theo nỗi buồn vương ngọn cỏ
Bóng thông già ôm một mỗi tơ vương
Trên tháp cao chim kêu mất người thương
Sân trường rộng càng thấy mình cô quạnh
Trời ngợp nắng, sao lòng vẫn thấy lạnh
Gió hiu hiu sao cành lá không bay
Hương tình không uống thế mà say
Mai xa cách, lấy ai dìu em bước
Đất khô cạn vì đất cần có nước
Em bơ vơ vì em cần có anh
Cây cô đơn chim không hót trên cành
Vườn hoa đẹp, bướm không khoe sắc thắm
Em ở lại với nỗi buồn sầu lặng
Kỷ niệm xưa thoáng ẩn hiện như gương
Không gian buồn sao quá nỗi yêu thương
Minh Đức hỡi! Bao ân tình chan chứa…
Hoàng Anh 27/12/1969

Hạ Buồn
Ve kêu phượng đỏ sân trường,
Còn đâu cắp sách đến trường năm xưa.
Thầy cô nay đã dần thưa,
Ra đi không hẹn thời gian quay về.
Hạ Buồn gọi nắng vào hè,
Mây trôi lờ lững chia lià cách xa.
Trường xưa năm cũ cùng ta,
Ôn lại kỷ niệm những ngày ấu thơ.
Tuổi xuân vụt thoáng không ngờ,
Thời gian tan biến như là thoảng qua.
Đời người như giấc Nam Kha,
Mới vừa thấy đó mà nay xa rồi.
Bạn ơi! nhất chí cùng tôi,
Hướng về Minh Đức xa xơi êm đềm.
Nơi xưa chồn cũ ngày đêm,
Dĩ vãng nhớ lại là niềm vui thay.
Quê hương hải ngoại có hay,
Hai chin tháng sáu là ngày hằng năm.
Họp mặt thăm hỏi ân cần,
Liên kết thắm thiết bạn gần bạn xa.
Mọi người như cánh thiên nga,
Hăng say hưởng ứng đó là tình thân.
Chu Nhắt

Hoài Cảm
Hạnh Phúc Nơi Nào
Có ai về nhặt lại lá Thu xưa
Góp chút nắng .. xuyên qua từng kẽ lá
Tuổi học trò .. một thời thơ ngây la.
Bức thư tình .. ép chiếc lá thu phai
Buổi tan tường .. ai dõi mắt tìm ai
Trao tâm tình .. qua nụ cười, ánh mắt
Hương tình đầu .. thoảng hồn thơm trong vắt
Ướp hồng tim .. tuổi chớm bước vào yêu
Tuổi thần tiên .. ấp ủ ước mơ nhiều
Đem giấc mơ .. chấp cánh diều khát vọng
Tung đôi cánh giữa biển trời .. cao rộng
Dệt khát khao trong những giấc mơ con
Ngày ra đi .. trong ký ức .. ai còn?
Bóng cô thầy .. miệt mài trên bục giảng
Tiếng gõ nhịp thời gian trôi quên lãng
Góc sân trường cây Phượng vĩ đơm hoa
Ai nhớ ai trong kỷ niện nhạt nhòa
Bao gương mặt tim về trong thao thức
Tiếng trống trường .. để long ai náo nức
Được chung đường với ai đó lớp bên …
Bao vui buồn .. trôi giữa đời chênh vênh
Lắm lo toan, bôn ba đời xuôi ngược
Người .. lặng lẽ .. tha phương .. xa đất nước
Bao ước mơ .. bỏ quên lại một thời
Chợt một ngày, long bỗng nhớ chơi vơi
Chân lạc bước tìm về mùa Thu cũ
Tim loạn nhịp .. kỹ ức thôi yên ngủ …
Ngày xưa ơi! Thương nhớ đến bao giờ .. ???
10/04/2008
Biển và Anh
Hạnh Phúc Nơi Nào
Anh như Biển, mênh mông và sâu thẳm
Chợt ồn ào .. rồi lặng lẽ trầm ngâm
Phựt sục sôi, .. bỗng yếu đuối âm thầm
Em khờ khạo .. nên bao lần hờn dỗi
Anh như Biển .. gần .. và xa vời vợi
Sương giăng mờ, se lạnh sớm mùa đông
Giang đôi tay .. muốn ô Biển vào lòng
Nghe chơi với một khoảng không tĩnh lặng
Anh như Biển, qua 4 mùa mưa nắng
Sơm lung linh, nắng tắt .. ánh chiều vàng
Em ngẩn ngơ .. phút .. bối rối .. ngỡ ngàng
Anh dắt em .. lang thang miền cổ tích
Anh là Sóng đi từ nơi xa tít
Miệt mài xô .. bãi cát suốt ngày đêm
Anh là Sóng .. lúc ngoan ngoãn, êm đềm
Lúc giận dữ .. Sóng bạc đầu trắng xóa ..
Em không muốn .. như mặt trời chói lòa
Nắng chói chang làm hực nóng Biên anh
Em không thích làm cơn gió đi nhanh
Lướt qua Biển .. rời về nơi xa lắm
Em mơ ước .. làm thuyền đi vạn dặm
Mai thủy chung .. với Biển suốt ngàn năm
Và ước muốn .. làm bờ cát âm thầm
Anh .. Biển .. Sóng .. hôn bờ Em mãi mãi …
12-05-2007

Vĩnh Biệt Một Linh Hồn !
hoang_vu
Dù không đợi cũng tới ngày đó thôi
Ai cũng phải một lần bị gọi đến
Nhưng không thể biết được giờ trình diện
Nên vì thế luôn luôn phải sẵn sàng .
Trong thánh đường đang có một đám tang
Không tiếng khóc nhưng lòng tôi rướm lệ !
Linh hồn kia , tên trùng Mẹ tôi thế !
Xin cúi đầu nguyện cầu cho cả hai !
Đâu ai biết , chuyện gì ở ngày mai ,
Nhưng tôi biết khi mất Mẹ buồn lắm !
Đọc kinh cầu cho tôi nhiều suy ngẫm!
Cùng mất Mẹ , nhưng tôi vẫn còn Cha .
Hạnh phúc đó, mà tôi chẳng nhận ra ,
Để hôm nay mới giật mình sám hối !
Nơi quê nhà Cha tôi hằng mong đợi !
Một người con biền biệt nơi xứ người !
Tang lễ xong , vừa lúc trời mưa rơi !
Trời cũng khóc thương những người mất Mẹ !
Tôi cúi đầu cùng Linh mục chủ tế ,
Dâng khói hương vĩnh biệt một linh hồn !
( xin cầu cho linh hồn Anna )
CHÂN DUNG NGƯỜI CON
Suu tam
Xưa kia, có một người rất giàu thường chia sẻ công việc sưu tập các hoạ phẩm với con trai mình. Họ cùng đi vòng quanh thế giới, mua sắm những tuyệt tác quý báu nhất. Các bức tường trong lâu đài ông được trang hoàng bằng những tác phẩm vô giá của Picasso, Van Gogh, Monet và nhiều danh họa khác được. Người cha góa vợ hài lòng nhìn con mình trở nên một nhà sưu tập dày dạn kinh nghiệm. Cặp mắt sắc sảo và trí óc lanh lợi trong kinh doanh của cậu con khiến người cha rất tự hào khi giao dịch với những nhà sưu tầm trên khắp thế gian. Khi mùa đông đến, chiến tranh bao trùm đất nước, và cậu trai trẻ phải lên đưòng tòng quân. Sau vài tuần, cha cậu nhận một điện tín. Cậu con yêu dấu của ông bị mất tích. Nhà sưu tầm nghệ thuật bồn chồn chờ đợi tin tức, lo rằng mình chẳng bao giờ gặp lại con. Ngày qua ngày, điều ông lo lắng đã trở thành sự thực, chàng trai đã chết khi đưa một đồng đội mình đến trạm cứu thương. Buồn rầu và cô đơn, cụ già chờ đợi ngài đại lễ đến với tâm trạng u uất thảm sầu. Niềm vui ngày lễ mà cha con ông chờ đợi giờ đây chẳng bao giờ đến trong nhà ông nữa.Sáng ngày lễ Phục Sinh, tiếng gõ cửa đánh thức cụ già chán chường kia dậy. Trên đường bước ra cửa, những tuyệt tác đắt tiền trên các bức tường chỉ gợi cho ông nhớ rằng con ông không còn trở về. Ông mở cửa ra, và một quân nhân chào ông mà trên tay cầm một cuộn giấy lớn. Anh tự giới thiệu: “Cháu là bạn của con bác. Cháu là người mà con bác đã cứu và đã chết thay. Con có thể vào nhà một lúc không? Con có cái này trình cho bác.” Cụ già bắt đầu mở cuộn giấy và nhìn thấy chân dung của con trai đã khuất của mình. Dù cho chẳng ai xem đây là tác phẩm của một thiên tài, nhưng bức họa vẽ lại gương mặt của con ông với những chi tiết rất sống động. Giấu kín nỗi xúc động, ông cám ơn người lính và hứa sẽ treo trên lò sưởi. Vài giờ sau, sau khi người quân nhân đã đi về, cụ già bắt tay vào việc. Giữ đúng lời hứa, ông treo bức họa trên lò sưởi, và gạt qua một bên những họa phẩm đáng giá hàng ngàn mỹ kim. Làm xong việc, ông ngồi xuống ghế và sống qua ngày lễ bằng cách ngắm nhìn món quà mà ông vừa nhận.
Những ngày tháng tiếp theo, người cha hiểu rằng dù con mình không còn bên cạnh, nhưng anh vẫn tiếp tục sống qua những người mà anh đã cứu giúp. Không bao lâu sau, ông biết rằng con ông đã cứu hằng chục quân nhân bị thương trước khi bị một viên đạn xuyên qua trái tim từ ái của anh. Những mẩu chuyện về chiến tích của nguời con ngày càng đến tai ông, và lòng tự hào và mãn nguyện dần dần xóa tan nỗi buồn của mình, thì bức họa về người con trở nên của cải quí giá nhất của ông, làm mờ đi những tác phẩm đắt tiền mà các viện bảo tàng trên thế giới uớc mong. Ông nói với bè bạn láng giềng rằng bức họa về con ông là món quà quí giá nhất mà ông từng nhận được.
Một năm sau, cụ già lâm bệnh và qua đời. Thế giới nghệ thuật xôn xao, vì nhà sưu tập qua đời và con ông đã chết, nên các họa phẩm của ông sẽ được đem ra bán đấu giá. Theo ý nguyện của cụ già, mọi tác phẩm nghệ thuật được đem bán đấu giá vào ngày Lễ Phục Sinh, vì ấy là ngày mà ông nhận được món quà ông tha thiết nhất.
Đã đến ngày dự định và các nhà sưu tập nghệ thuật khắp thế giới tuôn về để hy vọng mua được những họa phẩm lừng danh thế giới. Bao nhiêu giấc mơ sẽ trở thành hiện thực hôm nay – hẳn là nhiều người sẽ tự hào khi có quyền tuyên bố: “Tôi có được bộ sưu tập giá trị nhất”. Buổi đấu giá bắt đầu với một họa phẩm không nằm trong danh sách các viện bảo tàng. Ấy là bức họa chân dung con trai nhà sưu tập. Nhân viên bán đấu giá đề nghị khách hàng đề ra một giá khởi điểm, như ai ai cũng im lặng. Ông hỏi: “Ai muốn ra giá khởi điểm là 100 Mỹ Kim?”
Vài phút trôi qua mà không ai nói một lời. Cuối cùng, từ cuối căn phòng vang lên một tiếng nói. “Ai mà thèm bức họa này? Chỉ là ảnh của con ông ấy thôi. Thôi quên nó đi và chuyển sang những hàng có giá trị kìa.” Nhiều tiếng nói khác cũng nhao lên đồng ý. Nhân viên đấu giá đáp lại: “Không, chúng tôi cần phải bán họa phẩm này trước đã! Có ai mua hình người con này không?” Cuối cùng, người láng giềng của cụ già lên tiếng: “Ông có thể bán cho tôi 10 Mỹ Kim không? Thực tình tôi chỉ có bấy nhiêu thôi – nhưng vì tôi từng biết cậu trai, nên tôi muốn có được bức họa này.”
Sau một khoảnh khắc im lặng, nhân viên đấu giá nói: “Một người ra giá 10 Mỹ Kim, có ai trả cao hơn không?” Rồi ông hô: “Một, hai, bán!” Chiếc búa gõ xuống bàn. Cả phòng cưòi ồ và có người nói to: “Bây giờ ta có thể quên nó đi và khởi sự đấu giá cái kho tàng thực sự kia.” Nhân viên đấu giá nhìn cử tọa và thông báo rằng cuộc bán đấu giá đã kết thúc.
Căn phòng lặng đi vì ngạc nhiên. Rồi một người lên tiếng hỏi: “Kết thúc, thế là làm sao? Chúng tôi đâu đến đây để mua hình của con lão già ấy. Còn các bức họa kia thì sao? Còn những tác phẩm nghệ thuật giá hàng triệu kia kìa. Yêu cầu ông giải thích xem thế nào!” Những tiếng nói khác cũng lao xao đồng tình.
Nhân viên đấu giá đưa tay lên yêu cầu phòng im lặng. Thế rồi ông trả lời: “Chỉ đơn giản thôi. Vị luật sư của gia trang ngày bảo rằng theo di chúc của người cha, ai nhận được người con, thì nhận được tất cả.”
Đời người là một cuộc bán đấu giá. Chúng ta là khách mua hàng. Có những thứ vật chất và những thứ tâm linh để mình mua. Biết bao nhiêu lần, giống như những khách hàng này, chúng ta tìm kiếm những thứ vật chất to lớn có vẻ có giá trị cao, và lại xem thường những thứ tâm linh mà ta xem là không đáng gì cả, thế nhưng chúng lại quyết định cho đời sống vĩnh cửu của mình? Dường như không cần phải trả giá cao lắm để đón nhận tình yêu của Chúa Giêsu Kitô vào tâm hồn mình. Tình yêu ấy là một tình yêu cho không, và lòng trung thành đáp trả của chúng ta là một cái giá gần như không đáng kể. Có lẽ chúng ta cần phải khám phá lại, giống như các khách hàng kia, rằng khi ta có được Người Con, thì ta có được mọi sự!
NGÔI TRƯỜNG MINH ĐỨC
Phạm Thị Huê
Sau những năm tháng xa quê hương, và nhất là những năm tháng dài xa ngôi trường Trung Học Minh Đức thân thương này. Tôi tưởng chừng như không còn cơ hội để tìm hiểu về nơi này; ấy vậy mà sau hơn 40 năm sau, tôi lại có dịp gặp lại, thăm hỏi, và ôn lại nhưng kỷ niệm của thời học trò.
Tôi tới Minh Đức vào khóa jọc năm 1962, sau khi học xong lớp Đệ Thất của trường Thánh Tâm. Lớp Đệ Lục chúng tôi năm đó có chừng hơn 30 tên. Trong số đó, đám Đệ Tứ dòng Đa Minh chúng tôi đã chiếm tới 10 trò rồi. Tôi tính lại coi nhóm Đệ Tứ chúng tôi gồm các chị Phao, Đào, Dâng, Nhài, Lịch, Hường, Thái, Tuy, Giang, Sơn, Tú và tôi Huê.
Mấy cô ngoài đời (hồi đó gọi nhau là đệ tử, và ngoài đời) gồm các cô Hoài, Mến, Xuân, Kim Đĩnh, Chén…. Giữa khóa, còn có thêm mấy cô ở xứ Ngọc Đồng hay Thái Bình gì đó lên, cô Xuân Tươi và cô Đễ. Các cậu ngoài đời thì nổi tiếng là có Nguyễn Văn Uy (sau này làm Linh Mục có uy quyền lắm) rồi Vạn và Huy… đám con trai tôi không nhớ hết; bởi vì lúc đó “đi tu” đâu có để ý tới con trai làm chi. Sở dĩ tôi còn nhớ cậu học trò Uy bởi vì lúc đó cậu Uy dám thách thức với thầy Giám Thị là thầy Đỉnh. Trong lớp đám con trai phá phách và làm ồn lắm, thầy Đỉnh vào tính đuổi cả đám… Thầy Đỉnh giận dữ, bước nhanh vào lớp học hô lớn:”Một, Hai, ra khỏi lớp”… Trò Uy đứng dậy hiên ngang tay chống cạnh sườn, nhìn thẳng thầy giám thị cũng quát lên:”Ba không ra.” Cả lớp học vỗ tay reo hò, ủng hộ trò Uy; kể cả đám đệ tử hiền lành chúng tôi. Nghĩ lại thời gian đó thật đúng là “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.”
Tôi nhớ những năm học ở trường Minh Đức, giữa cái tuổi tràn đầy sức sống, giữa cái tuổi hoa niên, với đầu óc còn trinh trắng chỉ biết học mà thôi. Tuy ở trong nhà đệ tử, nhưng nhìn lại chúng tôi phải cảm ơn cha hiệu trưởng Nguyễn Quang Hiền. Với tinh thần cởi mở cha đã khuyến khích để Bề Trên tu viện cho phép đệ tử chúng tôi tham gia các sinh hoạt chung của nhà trường; như những lễ hội mùng Trung Thu hoặc là những chương trình đi cắm trại ngoài trời.
Buổi cắm trại vui nhất là năm chúng tôi học đệ Lục. Trường tổ chức cắm trại một ngày ở núi Bửu Long, với đầy đủ những tiết mục của một trại hè. Chương trìng gồm có thi nấu ăn giữa các lớp, làm bích báo cấp thời, thi kéo giây, cướp cờ, .v.v.. Hồi đó nhóm con gái chúng tôi được phân công lo nhiệm vụ chọn món ăn, và làm món ăn. Nhóm con trai lo đi xách nước từ dưới chân núi lên, rồi còn phải đi ôm củi để nấu bếp nữa. Phải cái chị Phao trưởng nhóm lúc đó đòi cho bằng được làm món gỏi gà, và nấu miến gà… Mà nhớ là làm từ con gà còn sống đó… Thế mớ biết là từ lúc 12, 13 tuổi mà nhóm con gái chúng tôi đã biết cắt tiết gà, làm lông gà, mổ gà, làm lòng gà cho sạch xào miến. Gỏi gà với rau bắp cải xắt thiệt nhuyễn với đủ hành giấm, rau răm. Bù lại cho nhóm con trai phải xuống tận suối chia nhau sách nước lên núi làm thịt gà để bù lại cho những vất vả này. Năm đó lớp đệ Lục chúng tôi chiếm hạng nhất về nấu ăn đó. Mấy lớp kia thì làm những món tầm thường như cơm chiên, rau xào, đậu hũ canh hẹ, không mất công gì lắm. Kể cũng giỏi phải không các bạn vì chỉ có một thì giờ nhất định chừng 2 giờ đồng hồ, mà cái lớp đệ Lục năm 1962 – 1963 dám làm thịt gà để tranh giải nấu ăn cắm trại… không biết giờ này những bạn đó ai còn, ai mất?
Thế rồi sang năm đệ Ngũ… cái lớp mà nhiều thầy cô sợ lắm. Các thầy cô dạy trung học ở Việt Nam thường nói rằng hai cái lớp khó dạy nhất thời bấy giờ là: đệ Ngũ và đệ Tam. Đệ Ngũ là vì vừa tới cái tuổi ương ương do đó không có nhỏ bá như những lớp đệ Thất, đệ Lục, và lại chưa phải là cái năm học bài thi Trung Học Đệ Nhất Cấp như lớp đệ Tứ. Còn cái lớp đệ Tam ấy là vừa nhảy lên bậc trung học đệ nhị cấp, rồi lại không phải học thi Tú Tài; cho nên học trò hai lớp này ưa làm loạn là vậy.
Chính vì thế mà cái lớp đệ Ngũ chúng tôi năm đó cũng hoạt động ra phết lắm. Nào là làm “cheerleaders” cho nhóm con trai tranh đá banh với những lớp khác; nào là hội họp làm bích báo cho thật xôm trò. Cái lúc mà nhóm con gái chúng tôi hô hào cổ võ cho đội banh của lớp mình, thì cũng là lúc chúng tôi thấy rằng cách làm trọng tài cho các đội banh không được công bằng. Lớp đệ Ngũ đá banh hay mà bị cho xuống hạng Ba. Thế là nhóm con gái nhao nhao la lên:”Cha hiệu trưởng thiên vị”. Nhiều đứa la thế mà chỉ có tôi và con Hường bị phạt. Chúng tôi bị phạt là bởi vì còn đang ở trong đệ tử. Hai đứa tưởng là bị đuổi ra khỏi nhà đệ tử, nhưng cũng may cha Hiền xin tha cho. Bù lại hai đứa phải bị qùy cả giờ trong bữa ăn tối của nhà dòng. Nghĩ lại buổi quỳ đó thấy mình bị oan, cho tới bây giờ đầu gối vẫn còn cảm thấy đau, và hình như cũng còn một cái thẹo vô hình nào đó trong đầu gối. Nghĩ lại kinh nghiệm này, tôi cứ đinh ninh rằng không bao giờ với tư cách một nhà giáo phạt bất cứ trò nào khi không có chứng cớ. Đừng phạt oan cho con cái hay cho học trò… vết đau tâm lý sẽ hằn sâu vào cuộc đời của các em.
Cũng những năm học ở Minh Đức là nhũng năm chúng tôi tò mò, muốn được đọc truyện dài của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Nhưng thời đó một phần vì không có sách đọc, một phần vì nhà dòng cấm đệ tử đọc những tiểu thuyết này. Nhưng cửa lớn đóng thì cửa sổ nhỏ cũng được mở ra. Chúng tôi, những đứa học trò ma lanh làm quen với cha Phan Lâm. Cha Phan Lâm hồi đó mới chịu chúc Linh Mục xong về dạy môn vạn vật ở Minh Đức. Cha trẻ trung, đẹp trai, lại giỏi vẽ, cha viết chữ thật đẹp. Các bài học vạn vật của cha hầu như cha học thuộc lòng… Cha chẳng cần sách mà nói trôi chảy hết các bài vạn vật từ đệ Ngũ cho tới đệ Tứ. Đám học trò chúng tôi ngẩn ngơ ra nghe, không những vậy, cha còn vẽ them những hình ảnh cây lá hoặc những bộ phận con ngườI thật tài tình, y như hình chụp từ sách vở ra. Nhưng cái tài đó không làm chúng tôi phục cha Phan Lâm cho bằng cha đồng ý cho chúng tôi mượn tiểu thuyết về đọc. Chỉ có một nhóm nhỏ thôi, cái nhóm nhỏ đệ tử phá phách lạI hay làm loạn, cũng là cái đám hay mượn sách của cha về đọc; ai ở trong nhóm này thì tự biết, tớ không có khai ra đâu. Ai muốn tìm hiểu thì liên lạc sau nhé. Tụi tôi mượn sách của cha về chuyền tay nhau, ban ngày thì kiếm chỗ nào xa xa, kín đáo ở đằng sau nhà đệ tử hoặc là nấp trong bụi sắn nào đó đọc. Tối thì kiếm đèn pin trùm trong mền đọc. Đọc ngấu nghiến để khỏI bị bắt, có lẽ đó là cái thú sung sướng nhất thời còn đi học, thời còn tu với nhau trong nhà đệ tử ở xứ Hà Nội. Cha Phan Lâm có đọc được chuyên này thì cha cũng bỏ qua nhé. Ít nhất là cha đã đem tới cho đám con gái mới lớn này những niền vui thật dễ thương, và cho đến bây giờ hơn 40 năm rồi vẫn còn nhớ.
Lên tới năm đệ Tứ.niên khóa 1964 – 1965 đó là năm phải học để thi Trung Học Đệ Nhất Cấp; đứa nào cũng ngoan như con chiên vậy. Suốt ngày đêm chỉ còn biết học và học mà thôi. Lúc này, những vấn đề làm bích báo, hay văn nghệ, thể thao thì các anh chị trong lớp đệ Tứ nhường cho các em lớp nhỏ hết. Bây giờ là lúc phải nhồi sọ những công thức toán, những bài vạn vật, lịch sử, địa lý. Chúng tôi bắt đầu chuyền tay cho nhau những tờ giấy nho nhỏ ghi lại tên những con song miền Trung, vùng đồng bằng miền Nam, những cao nguyên Trung phần, hay những địa danh khác miền Bắc. So sánh với những học sinh học lớp 8, lớp 9 bây giờ chúng tôi thấy sự học hồi đó khác xa quá chừng. Cái học từ chương, nhồi sọ vẫn là những cách học chúng tôi cần phảI theo để nhớ. Những mảnh giấy gọn gàng gấp 4 lần, rồi gấp 8 lần để đâu cho gọn, rảnh lúc nào là bỏ ra ôn lại lúc đó… Chỉ luyện nhớ rồi lại nhớ hoài những công thức… những địa danh, những ngày tháng của lịch sử….
Trong thời gian này tôi cũng nhớ nhất là các thầy Trần Khắc Hiếu, Trần Khắc Hòa (hai anh em ruột). Thầy Hiếu dạy toán, thầy Hòa dạy Việt văn. Thầy Hiếu lúc nào cũng nghiêm nghị, trắng trẻo, đẹp trai như con gái. Thầy Hòa dạy Việt văn trái lại đen thui, đeo kính cận thiệt nặng. Ấy thế mà thầy Hòa lại được đám học trò con gái để ý tới nhiều hơn. Ngoài ra còn có thầy Thương, cao lớn, có đứa còn nói là thầy cao lớn và đen như dân Thượng; có lẽ vì vậy mà bố mẹ đặt tên thầy là Thương. Thầy dạy môn địa lý, nhưng lại là người thích thi ca; chả thế mà thầy giảng bài địa lý thiệt nhanh để có thì giờ đọc cho học trò nghe bài thơ “Đồi Tím Hoa Sim” của Hữu Loan. Đây cũng là thời gian mà chúng tôi tìm kiếm những bài thơ hay để viết vào một tập thơ lưu bút. Những bài thơ nổi tiếng, những bài thơ mang đầy tình tự quê hương, những bài thơ mới… ôi thôi thì đủ thứ. Chép thơ làm sao cho đẹp, chép làm sao cho thật nhiều, rồi còn chọn đứa nào chữ đẹp nhất chép giùm nữa. Tập thơ mà gần 40 năm sau, nhìn lại với nét chữ mong manh, với bao nhiêu kỷ niệm của thời thanh xuân. Nét chữ đẹp nhất của Lịch, nét chữ oai hung, cứng rắn mà lúc đó cứ nói là chữ đàn ông của cái Giang… Cũng chẳng hiểu tại sao lúc đó cứ cái gì đẹp và oai hùng, là cứ gán cho đàn ông….
Nhìn lại cuộc sống của mình, tôi vẫn nghiệm ra rằng thời gian này có lẽ là thời gian đẹp và vui nhất. Đẹp vì lúc đó mình chưa phảI lo lắng gì nhiều cho cuộc sống. Vui vì mình được sống những ngày tháng an bình. Tuy rằng có sợ vì bị kỷ luật, nhưng còn dám nói ra những điều mình suy nghĩ… nói xong rồi bị phạt cũng nói. Những tiếng cười hồn nhiên của tuổi thiếu thời nhưng đam mê, vui sưóng dù phải đọc một cuốn tiểu thuyết một cách vội vã nhưng thật là hạnh phúc. Mong rằng, các bạn học cũ từ thuở đó luôn sống vui với những kỷ niệm này. Các thầy giáo của Minh Đức xin nhận nơi đây long ghi ơn chân thành của những người học trò cũ. Các vị hiệu trưởng, giám thị đã có công rèn luyện, mở mang trí tuệ cho đám học trò ngỗ nghịch, xin luôn luôn được hưởng mọi sự an bình.
Ngáy 7 tháng 5 năm 2008
Thánh Phêrô và Thánh Phaolô
Thánh Phêrô: Thánh sử Máccô chấm dứt phần thứ nhất của Phúc Âm với một tuyệt đỉnh thắng lợi. Sau khi ghi lại nhiều sự hồ nghi, hiểu lầm và chống đối Ðức Giêsu, giờ đây Phêrô tuyên xưng đức tin: "Thầy là Ðấng Thiên Sai" (Máccô 8:29b). Ðó là một trong những giây phút huy hoàng của cuộc đời Thánh Phêrô, kể từ ngày ngài được kêu gọi ở Biển Galilê để trở thành kẻ lưới người.
Tân Ước rõ ràng cho thấy Phêrô là vị lãnh đạo các tông đồ, được Ðức Giêsu chọn với một tương giao đặc biệt. Cùng với Giacôbê và Gioan, Phêrô được đặc ân chứng kiến sự Biến Hình, sự sống lại của một đứa trẻ đã chết và sự thống khổ trong vườn Cây Dầu. Bà mẹ vợ của Phêrô bị Ðức Giêsu quở trách. Ngài được sai đi với Gioan để chuẩn bị cho lễ Vượt Qua trước khi Ðức Giêsu từ trần. Tên của ngài luôn luôn đứng đầu các vị tông đồ.
Và Phêrô là người duy nhất được Ðức Giêsu nói, "Này Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Ðấng ngự trên trời. Bởi thế, Thầy bảo với anh: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Ðá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời. Anh cầm buộc gì dưới đất, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; anh tháo cởi điều gì dưới đất, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" (Mátthêu 16:17b-19).
Nhưng các chi tiết xác thực của Phúc Âm cho thấy các thánh sử không xu nịnh Phêrô. Hiển nhiên ngài là một người không biết giao tế. Và đó là sự an ủi lớn lao cho chúng ta khi thấy Phêrô cũng có những yếu đuối con người, ngay cả trước mặt Ðức Giêsu.
Phêrô đã độ lượng hy sinh mọi sự, tuy nhiên ngài vẫn có thể hỏi một câu thật nông cạn như trẻ con, "Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con sẽ được gì?" (x. Mt 19:27). Ngài phải chịu sự tức giận vô cùng của Ðức Kitô khi chống đối ý tưởng của một Ðấng Thiên Sai đau khổ: "Satan, hãy lui ra sau Ta! Anh cản lối Ta. Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người" (Mt. 16:23b).
Phêrô sẵn sàng chấp nhận lý thuyết về sự tha thứ của Ðức Giêsu, nhưng dường như chỉ trong giới hạn bảy lần. Ngài đi trên mặt nước khi vững tin, nhưng bị chìm khi hồ nghi. Ngài không để Ðức Giêsu rửa chân cho mình, nhưng lại muốn toàn thân được sạch. Ngài thề không khi nào chối Chúa trong bữa Tiệc Ly, và sau đó lại thề với người tớ gái là ngài không biết người ấy. Ngài trung thành chống lại sự bắt giữ Ðức Giêsu bằng cách chém đứt tai tên Man-khô, nhưng sau cùng ngài lẩn trốn với các tông đồ khác. Trong sự phiền muộn vô cùng, Ðức Giêsu đã nhìn đến ngài và tha thứ cho ngài, và Phêrô đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết.
Thánh Phaolô: Nếu giả như có nhà truyền giáo Hoa Kỳ kêu gọi phải chấp nhận chủ nghĩa Mác-xít chứ đừng tôn trọng Hiến Pháp, thì phản ứng tức giận sẽ giúp chúng ta hiểu cuộc đời Thánh Phaolô hơn khi ngài bắt đầu rao giảng là chỉ có Ðức Kitô mới cứu chuộc được chúng ta. Ngài từng là người Pharixiêu hơn ai hết, trung thành với luật Môisen hơn ai hết. Nhưng bây giờ bỗng dưng ngài xuất hiện trước các người Do Thái như một người lạc giáo của Dân Ngoại, một kẻ phản bội và chối đạo.
Tâm điểm đức tin của Phaolô thật đơn giản và tuyệt đối: chỉ Thiên Chúa mới có thể cứu chuộc nhân loại. Không một nỗ lực nào của con người -- ngay cả việc tuân giữ lề luật cặn kẽ nhất -- có thể tạo nên công trạng để chúng ta có thể dâng lên Thiên Chúa như của lễ đền tội và đền đáp các ơn sủng. Ðể được cứu chuộc khỏi tội lỗi, khỏi sự dữ và cái chết, nhân loại phải triệt để mở lòng cho quyền năng cứu độ của Ðức Giêsu Kitô.
Phaolô không bao giờ mất sự yêu quý dòng dõi Do Thái của ngài, mặc dù ngài tranh luận nhiều với họ về sự vô dụng của Luật mà không có Ðức Kitô. Ngài nhắc nhở cho Dân Ngoại biết rằng họ được tháp nhập vào tổ tiên của người Do Thái, là những người được Chúa chọn, là con cái của lời đã hứa.
Vào ngày 29-6, chúng ta tưởng nhớ sự tử đạo của hai vị tông đồ. Ngày tháng này có từ năm 258, dưới thời bách hại của Valerian, khi các tín hữu tìm cách lấy xác của hai ngài để khỏi rơi vào tay các kẻ bách hại.
Kinh Thánh không ghi lại cái chết của Thánh Phêrô và Phaolô, hoặc bất cứ vị Tông Ðồ nào, ngoại trừ Thánh Giacôbê con ông Giêbêđê (TVCÐ 12:2), nhưng qua các bài đọc và truyền thuyết có từ thời Giáo Hội tiên khởi, các ngài đã tử đạo ở Rôma dưới thời Hoàng Ðế Nêrô, và được chôn cất ở đây. Là một công dân Rôma, có lẽ Thánh Phaolô bị chặt đầu. Còn Thánh Phêrô, được biết ngài bị treo ngược đầu trên thập giá.



