NGÀY MAI TRỜI LẠI SÁNG

Người Với Người Sống Để Yêu Nhau

Subscribe to RSS feed

Sticky post

CÀNH HỒNG TRÊN ÐỒI TUYẾT

Mỗi lần đọc tập hồ sơ, quan tòa phải nheo mắt khó khăn dù có kính lão. Bên cạnh ông còn hai người trẻ hơn, nhưng tầm độ cũng ngoài bốn mươi. Người ngồi bên phải dáng điệu như còn chưa quen với loại áo cánh rộng của luật sư. Ông ta trịnh trọng đến nỗi vụng về mỗi khi kéo ống tay rộng thùng thình.
Phiên tòa hôm nay không có gì hào hứng, ngoài quan tòa, luật sư buộc tội, chống án, chỉ có dăm bẩy người ngồi ở mấy ghế gỗ phía cuối đợi xem phiên xử. Vị chánh án mở hồ sơ, hỏi bị cáo:
- Ông bị tố cáo là ăn cắp đồ thánh của đền thờ. Ông có điều gì muốn trình bày không?
- Thưa quan tòa tôi không phải là quân gian phi.
Quan tòa quay ra phía kẻ tố cáo hỏi:
- Xin ông kể lại diễn tiến của sự việc.
Vị linh mục tuổi độ ngũ tuần bước ra giữa, tay cầm một tập hồ sơ. Ông đang định mở ra đọc thì quan tòa yêu cầu ông gập tập hồ sơ lại, chỉ kể bằng trí nhớ. Vị linh mục hơi ấp úng một chút, rồi cũng bắt đầu:
- Thưa quan tòa, chính mắt tôi không trông thấy. Khi tôi tới tháp chuông thì bị can đã bị bắt. Nhân chứng nhìn rõ sự việc là ông X. cũng có mặt đây.
Vị linh mục quay về phía ông X. đang ngồi ở hàng ghế thứ hai. Ngài chìa tay về phía ông X. để cho quan tòa biết, rồi lại tiếp tục trình bày:
- Lúc đó khoảng tám giờ tối. Tôi đang ở trên gian cung thánh, sắp sửa khóa cửa nhà thờ, bỗng nghe thấy xôn xao ở tháp chuông. Tôi tới nơi thì thấy ông X. và bị cáo đang giằng co, lớn tiếng với nhau.
Quan tòa hỏi vị linh mục:
- Vậy ngài có đồng quan điểm với ông X. là bị cáo đây đã dự định ăn cắp quả chuông?
Vị linh mục lưỡng lự rồi đáp:
- Tôi nghĩ như vậy! Thưa quan tòa, kể từ mấy tháng nay nhiều vụ mất cắp đã xẩy ra ở nhà xứ. Tuần trước chúng tôi cũng mới mất một bình hương cổ rất quý.
Người luật sư biện hộ cho bị can nóng nẩy đứng dậy đáp trả:
- Xin lỗi linh mục, đó là điều vô lí! Bị can chỉ có một mình, với thân hình tiều tụy, ốm yếu như thế này làm sao bị can có thể ăn cắp được quả chuông nặng cả mấy trăm kí lô!
Vị linh mục chưa tìm được câu trả lời thích hợp thì quan tòa đã gõ chiếc búa xuống bàn ra hiệu cho luật sư biện hộ im lặng:
- Yêu cầu luật sư im để bên công tố trình bày.
Người luật sư trẻ ngồi xuống, tức tối. Quan tòa ra hiệu cho linh mục về chỗ rồi gọi ông X.
- Có phải ông là người đã bắt quả tang bị cáo đây?
- Thưa quan tòa, đúng thế!
- Xin ông trình bày sự việc, yêu cầu ông kể rành mạch từng chi tiết theo thứ tự thời gian từ ban đầu.
- Thưa quan tòa, khi tôi tới tháp chuông thì trông thấy tên ăn cắp này đang tháo dây chuông. Hắn mang theo một con dao găm và một túi vải đồ nghề đủ các thứ kìm, búa, chìa khóa...
Vị quan tòa quay qua phía bị cáo hỏi:
- Ðiều cáo trên đây có đúng không?
Bị cáo buồn phiền nhìn quan tòa, bình thản thưa:
- Thưa quan tòa không! Tôi chỉ có con dao và túi vải, nhưng túi vải là túi đựng quần áo của tôi, tôi không có kìm, búa, và bất cứ chìa khóa nào. Tôi cũng có thêm một khúc dây thép mà ông X. đã không nói tới. Tôi mới leo lên gần tới sàn gác chuông, chưa tới nơi thì ông X. ở trên lầu chuông leo xuống rồi ông đạp tôi ngã từ cầu thang và đổ tội cho tôi ăn cắp, chứ không phải là ông leo ở dưới lên như ông vừa trình bày.
Quan tòa ghi chép rồi quay về phía linh mục hỏi:
- Thưa linh mục, ngài đã về xứ đạo được bao lâu?
- Thưa quan tòa, mười hai năm.
- Có phải ngài là người xây tháp chuông không?
- Không phải tôi, nhưng tôi tu bổ và sửa lại lầu chuông hầu như hoàn toàn.
- Xin linh mục tả cho chúng tôi biết về lầu chuông như thế nào.
- Thưa quan tòa, cả lầu chuông được xây nối liền với nhà thờ ở căn cuối cùng. Muốn lên lầu chuông phải qua cửa nhà thờ, rồi lên gác hát của ca đoàn. Từ gác hát có một cầu thang gỗ nhỏ, đủ để hai người đi, dẫn lên tháp chuông. Còn lầu gỗ, nơi để đặt quả chuông thì rộng bằng hai manh chiếu. Sàn của lầu chuông lát bằng gỗ thông. Ðủ làm chỗ ngủ cho chừng dăm, ba người. Muốn leo lên sàn chuông thì phải mở một nắp như nắp hầm.
Ông X. thêm vào:
- Vì thế lầu chuông có thể là chỗ ngủ đêm của bọn vô gia cư!
Ông ta ngừng nói trước khi quan tòa đập búa ra lệnh cho ông không được nói khi chưa có phép. Vị quan tòa quay lại hỏi bị can:
- Ông lên tháp chuông làm gì vào giữa đêm tối như vậy?
-Thưa quan tòa, cả câu chuyện thì dài dòng, quan tòa có thể cho tôi trình bày hết?
Vị quan tòa để xệ cặp kính lão, nheo mắt nhìn phạm nhân từ đầu đến chân như muốn lục lọi trong con người này những điều kì dị. Ngần ngừ. Ông ra lệnh:
- Hãy trình bày đầu đuôi:
- Thưa quan tòa, ngày còn bé tôi là cậu nhỏ chiều nào cũng giật chuông. Tiếng chuông đã là một phần đời của tôi. Tiếng chuông đã thấm vào trọn vẹn hồn xác tôi. Những buổi chiều không có tiếng chuông cầu nguyện tôi thấy khắc khoải, đời tôi như thiếu vắng một cái gì gần gũi và linh thiêng lắm. Tôi yêu những lầu chuông. Tôi yêu những tiếng chuông đồng. Giã từ tuổi thơ, tôi phiêu bạt khắp nẻo đường nhưng bao giờ cũng nhớ về lầu chuông xưa. Có những chiều tôi thường lẻn lên lầu chuông ngủ qua đêm khi tôi đi đường. Lầu chuông là nơi tôi trú mưa, lầu chuông che tôi khỏi nắng. Khi còn nhỏ thì lầu chuông là nơi tuổi thơ nô đùa. Lớn lên, khi đủ tuổi khôn thì lầu chuông vẫn nhắc nhở tôi về tiếng gọi của Thượng Ðế trên cao. Trong những ngày phiêu bạt, tôi đã dừng lại biết bao nhiêu lầu chuông và tôi đã đánh bóng không biết bao nhiêu quả chuông đồng bị mưa nắng làm sét hoen rỉ. Khi tôi qua đây vào một buổi chiều, tôi cũng ước mong được nghe tiếng chuông, nhưng chiều qua, không gian lặng lẽ hiu hắt. Tôi không hiểu vì sao không ai giật chuông. Tôi đã leo lên lầu gỗ và thấy giây chuông đã bị đứt, quả chuông đã bị mạng nhện chăng kín. Quả chuông đã bị lãng quên từ lâu ngày. Tôi thấy xót xa cho Thượng Ðế trên thập giá. Ngài chẳng có ai chuyện trò, chỉ có mỗi tiếng chuông mà nay lầu chuông cũng im vắng. Vì thế tôi đã tìm khúc giây thép này để mong tìm cách nối lại giây chuông xưa.
Lời nói của gã bị can chỉ lớn đủ để mọi người nghe. Gã ốm yếu. Trông bên ngoài không ai có thể nghĩ là hắn lại có những tư tưởng lạ lùng như thế. Ông già ngồi ở hàng ghế cuối cùng, hai tay cầm gậy tre run run, xúc động vì tâm sự của bị can. Gã luật sư nhìn lơ đãng qua cửa sổ. Vị linh mục cúi đầu trầm tư không nói gì. Ông chánh án ra hiệu cho mọi người chú ý, bỏ chiếc kính lão xuống bàn, ông nhìn tất cả mọi người hỏi:
- Ông ta bị cáo là ăn trộm. Nhưng chỉ có một nhân chứng là ông X. còn ai biết gì nữa không?
Ông X. mừng như bắt được cơ may hiếm có để vội kết tội gã đàn ông đang đứng lo xo trên kia cho xong chuyện. Vừa chợt định giơ tay minh xác là còn một nhân chứng nữa, nghĩ sao ông lại dừng lại. Sau đó ông mới hối hận đã hơi quá vội vàng với ý nghĩ điên rồ ấy. Ông giữ kín nhân chứng thứ hai này không hề nói cho ai hay trong suốt đời ông.
Nhớ lại đêm đó, khi gã tội nhân tới gần sàn chuông thì ông X. ở trên đi xuống mở nắp ván và gã nghe có giọng nói phụ nữ trên gác chuông. Như thế, ngoài ông X. còn nhân vật thứ hai. Nhưng nhân vật này không hề xuất hiện cho dù sau khi ông X. đã túm cổ áo hắn la lối và vị linh mục đã đến.
Im lặng như tờ. Vị quan tòa dáo dác nhìn khắp phòng, gõ chiếc búa gỗ xuống bàn kết luận:
- Không hẳn là đủ điều kiện để buộc tội bị cáo ăn cắp chuông. Nhưng cũng không đủ chứng cớ để chứng tỏ bị cáo là người ngay. Dựa vào lời khai của linh mục, nhà thờ đã bị mất cắp nhiều lần trong những tuần lễ vừa qua. Bị can là người "phiêu bạt" như lời tự thú. Xét theo luật pháp và bị can đã xác nhận là đã lẻn lên lầu chuông hai lần vào đêm khuya. Xâm phạm giáo đường trong đêm vắng không có phép của linh mục quản nhiệm là điều phạm pháp. Quan tòa xin kết thúc: Ba năm cải hóa!
Tiếng búa khô khan đập xuống bàn không gây nổi tiếng động. Riêng ông già dự kiến, chậm rãi cúi tìm cây gậy tre, mò từng bước chậm ra cửa, ánh sáng chiếu rõ hai giọt lệ còn đọng trên gò má nhăn nheo.
* * *
3 NĂM SAU
Ngoài ba mươi tuổi đời, ba năm tuổi tù. Ba năm tù không phải là thời gian quá dài. Nhưng cái cô đơn của cuộc đời bị xét đoán bất công. Cái xót xa cho sự thật thất bại trước sức mạnh của bóng tối. Cái vắng lặng của lầu chuông là thao thức trong lòng hắn, đã làm hắn cằn cỗi. Rồi nữa, chồng thêm lên mảnh đời độc hành: Cái già nua mang úa mầu thất vọng. Vẫn dáng người dong dỏng cao. Ðôi mắt vẫn đặc biệt. Những suy tư thầm lặng dường như sâu hơn. Trong đôi mắt ấy nỗi buồn thất vọng lớn hơn nỗi buồn oán trách. Nỗi buồn thao thức chìm lắng xuống hơn nỗi buồn bị kết án. Hắn xách túi vải lững thững xuống đồi. Ði được một quãng, hắn quay lại nhìn khu nhà tù chiều nay mới được phóng thích. Dẫu sao, đấy cũng là ngôi trường cho chàng hiểu thân phận làm người. Gởi gắm lại nơi ấy những tháng ngày cảm nhận bóng tối có sức mạnh trong cuộc đời. Và có thực sự ánh sáng công lí là hương thơm có thể bay ngược chiều gió?
Ra tù vào mùa xuân. Trời gió mát. Cảnh vật thiên nhiên cho hắn thêm sức sống, vỗ về hắn bằng lời hứa hi vọng, an ủi hắn bằng mơ ước ngọt của tương lai. Chiếc túi trên vai. Bước chân ngập ngừng. Ði mà chưa biết về đâu. Rải rác đây đó, đàn bò béo tốt đang gặm cỏ trên ven đồi. Những chùm dâu đỏ đang mùa chín tới nằm phơi mình dưới nắng ấm. Chàng thấy ngoài nhà tù, vũ trụ vẫn đẹp, vẫn tha thiết lắm. Những cánh nhạn đang bâng khuâng buông cánh muốn làm quen nhau trên bầu trời bình yên. Thế giới đẹp quá. Thế giới mà Thượng Ðế đã làm cho cỏ hoa đồng nội đẹp hơn áo lụa, gấm vóc của Salomon. Vũ trụ mà Thượng Ðế đã lo chăm sóc để chim muông khỏi lo lắng kiếm ăn hầu có thì giờ ca hót véo von. Chàng ngước mắt nhìn trời cao tin tưởng, cám ơn Thượng Ðế. Một niềm vui nhỏ nở trong tim gã tù nhân mới được vào đời lần thứ hai.
Cặm cụi bước về phố dưới thung lũng, trên đường đi, mấy bác nông phu nhễ nhãi mồ hôi chào hắn những lời chào thân tình. Họ cho hắn những trái dưa chín thơm mùi mật ong. Cánh đồng bình yên. Chàng muốn dừng chân nơi đây lập nghiệp nhưng nhớ lại lời cha của chàng căn dặn. Phải đi. Phải luôn luôn là từ giã. Hắn ngần ngại nghĩ đến những tình thân quen thuộc trên đường đời. Hắn được nhận lời chào nhưng phải quên ngay sau đó. Hắn phải lên đường bước tới chứ không được dừng chân lưu luyến. Ðiều ấy đôi khi làm hắn thấy lẻ loi.
Từng đống rơm còn thơm mùi lúa mới gặt nằm rải rác khắp cánh đồng. Mấy chú bê nhỏ chạy tung tăng bên vú mẹ căng tròn bầu sữa. Dăm ba cô gái gánh những gánh bí ngô vàng rộ lên đường về. Những mớ tóc đen đơn giản lúc lắc sau chiếc cổ trắng nõn nà, bịn rịn mồ hôi. Những đôi mắt bình an, trong sáng như mầu trời trao cho chàng cảm xúc bâng khuâng. Buổi chiều ra tù của hắn hôm nay rất đẹp. Chàng nghĩ về tương lai với một niềm vui kín đáo mang mầu hi vọng mịn màng.
Nửa ngày mới về tới phố. Chung quanh tường đá đã nở mùa hoa leo tím. Ngồi trên bờ đá của ngôi nhà thờ cổ nghỉ chân. Chàng đã bỏ lại cánh đồng đằng sau lưng. Tâm trí chàng vẫn chan chứa những nụ cười giòn giã, lời nói chân tình của mấy bác nhà nông. Ðối với chàng dường như chỉ có những người nhà quê là mến chàng. Từ ngày chàng bỏ làng quê nhỏ ra đi, chàng đã gặp biết bao miệt thị, khó khăn, nhưng chưa lần nào những khó khăn ấy đến từ những bàn tay chỉ biết vui bên vườn đất. Nghĩ lại mấy năm về trước, buổi trưa trước mặt quan tòa, kẻ kết án chàng toàn là những người có địa vị, có chức sắc trong xã hội, trong giáo xứ. Nhớ về đó, thoáng nỗi khổ đau dâng về.
Ngôi nhà thờ hiền hòa như bóng mát cho kẻ mệt vì đường xa có chỗ nghỉ chân. Mầu rêu xanh đậm phủ theo những vết nứt trên tường xi măng già. Nhìn ngôi nhà thờ, ngắm những bông hoa nhỏ, chàng giơ tay vuốt bờ đá rêu mát lạnh. Cõi lòng cung kính như thoang thoảng thấy mùi hương trầm đang kính dâng trong đền thờ. Ðã mấy năm nay chàng xa vắng mùi hương quen thuộc ấy. Ðã mấy năm nay không ngày nào mà chàng không nghĩ đến những hàng nến trắng cháy lung linh trên bàn thánh. Giờ này, bồi hồi sung sướng. Trước mặt chàng, nhà thờ đây, trong ấy có mùi hương, có nến sáng. Người thanh niên tìm lối vào. Chàng lại mân mê vuốt từng phiến đá mát rượi của tường đền thánh. Lúc vừa xoay ổ khóa, cũng là lúc chàng vội rụt tay về. Lời của ông quan tòa năm xưa vẫn còn ám ảnh: Xâm phạm nhà thờ không có phép của cha xứ quản nhiệm là bất hợp pháp! Chàng đứng ngần ngại. Tự nghĩ, biết đâu chẳng lại phải vào tù lần nữa. Ðứng nhìn nhà thờ, chàng ngó tháp chuông cao, nuối tiếc, không dám tìm lối vào. Buồn bã đi về phía phố.
Hàng me xám nặng của một buổi chiều hết nắng. Nửa ngày đường. Chiếc túi trên vai làm chàng mỏi, nhưng vui mỗi khi nghĩ đến tình người mà chàng đã bắt gặp trên cánh đồng. Ði qua một quãng đồng thôi mà chàng được biết bao thương mến. Ổ bánh còn thơm mùi mới nướng. Họ đã cho chàng từng chùm dâu chín đỏ. Những củ khoai nướng còn thơm mùi tro. Chiếc bánh vương mầu lá gói. Ðang nghĩ tới niềm vui ấy, chàng chạnh lòng trông thấy người đàn bà ăn xin.
Hình ảnh người đàn bà im lặng như một bức tranh tĩnh vật. Lặng lẽ. Chẳng thiếu được những thua thiệt trong cuộc sống. Ðời làm sao vắng bóng được nước mắt. Có kẻ giầu, phải có người nghèo. Cuộc đời là vậy. Nhưng bất hạnh cho ai rơi trong dòng đời héo cạn ấy. Có chủ ông, phải có tôi nợ. Vẫn biết mầu sắc nào cũng cần cho bức tranh hoàn hảo. Vẫn hay chẳng thể loại trừ cái mầu xám lặng lẽ khỏi cảnh bình minh huy hoàng. Chính cái lặng lẽ của nó làm rực thêm cái nét vàng. Chính cái hẩm hiu mang số phận xám ngắt ấy làm cho mầu bình minh tươi rực. Nhưng có bao giờ cái mầu rực rỡ của bình minh kia biết cái mảng mầu tối tăm ấy chính lại là vùng đất cần thiết cho mình nương tựa? Cuộc đời là thế. Bất hạnh chen giữa hoan lạc. Ðau khổ tìm lối ngoi lên để cho hạnh phúc sáng giá. Chàng đứng nhìn người đàn bà ăn xin.
Người đàn bà nhăn mặt thảm thiết. Bà cấu đứa bé mắt còn đỏ hoe, đứa bé khóc ré vì đau. Nhặt những đồng tiền sáng như bạc dắt vào chiếc bao cài ở vành quần rồi lại ngồi nhìn lơ đãng, thản nhiên. Mỗi lúc có người tới, bà nhăn nhó ra vẻ nghèo đói, đứa bé lại khóc thét lên vì bị bà lấy chiếc kẹp tóc nghiến vào bắp chân đã tím bầm để gợi lòng trắc ẩn của kẻ qua đường. Thằng bé vô tội trở nên nạn nhân của một kẻ làm tiền. Chàng thấy bà chẳng có tật nguyền gì. Túi tiền bà giấu ở đâu? Nghĩ đến lòng người, chàng thất vọng, chán ngán bỏ đi.
Chàng vào phố, đi vòng quanh khắp cả. Từ khu này lang thang sang khu khác. Rực rỡ đèn mầu, tấp nập người qua lại. Hàng đèn dọi lên những sợi giây chuyền vàng làm sáng một vuông cửa. Trên nền nhung đen, những chiếc nhẫn kim cương gặp ánh điện lóe lên sáng ngời. Người chen người tấp nập. Họ ôm nhau đi trên phố. Những đôi tình nhân trẻ đi tìm bến mơ. Hơi café đượm nóng làm chàng thèm nghỉ chân.
Giầu sang của phố thị đã đưa chàng vào một thế giới quá lạc lõng, đơn côi. Trong đám đông ấy, ở một vỉa hè, chàng sững sờ ngó người đàn bà đang ôm chặt chiếc bóp da rằn ri như da rắn. Bà đang xóc những con lúc lắc trên mặt tấm vải lớn. Chung quanh bà, kẻ ngồi, người đứng. Họ đang sát phạt nhau bằng những canh bạc tham lam. Người chủ sòng chính là người đàn bà ngồi ăn xin ở góc phố hồi ban tối. Chiếc nốt ruồi trên ngón tay cái. Không thể lầm.
Ra khỏi khúc đường nhộn nhịp chàng tìm một ghế đá công viên ngồi nghỉ. Cuộc đời như một vòng tròn, đi mãi không có lối ra. Quyền lực, giầu sang, nghèo khổ, gian dối, yêu thương, hận thù, tất cả quay vòng, dính lẫn vào nhau. Những bước chân long đong hối hả. Những dòng lệ trong đêm. Những tính toán mệt nhừ. Những bàn tay chai cứng vì lao tác. Thở dài. Chàng thấy như con người đang lao đao vất vả quá mà vẫn không gặp cái mà họ kiếm tìm. Họ khổ sở xây những bức tường thành cao rồi than khóc là không có ánh sáng. Họ tất tưởi đi giành giật sự an nhàn bằng vội vã, để rồi càng vội vã, an nhàn càng mù xa.
Hạnh phúc? Sự chết? Tất cả lại đưa chàng vào câu hỏi cũ kĩ nhưng vẫn rất khó trả lời: Ðâu là ý nghĩa cuộc sống? Trên ghế đá công viên mát lạnh, chàng không biết nhân loại đáng thương hay đáng trách. Nghĩ đến công việc của chàng, chàng bắt đầu nguyện cầu:
- Lạy Cha, tay con ngắn quá mà cuộc đời thì như Cha biết đó, bao la, phức tạp, ngổn ngang những bóng tối, con không biết phải làm gì, khởi đầu từ đâu. Con không biết rồi ngày mai ra sao.
- Con cứ làm theo sức con. Hạt giống con đang có trên tay hãy gieo xuống. Ai là người tưới, ai nhổ cỏ, ai là người làm cho nó nên xanh tươi, ai sẽ gặt, đó là việc của Cha.
- Vâng, con xin làm theo ý Cha.
- Cuộc đời bao la thì con đừng bao giờ xây đắp cho riêng tư nhưng hãy miệt mài đi mãi. Cuộc đời phức tạp, con hãy giữ trái tim đơn sơ. Cuộc đời ngổn ngang, con hãy sống trong sự thật. Cuộc đời đầy bóng tối, con hãy thắp lên một que diêm.
- Vâng, con xin làm theo ý Cha. Nhưng dường như chẳng có kết quả. Cha bảo nơi nào có chia li thì hãy đem nối chắp vá lại. Nơi nào có tang tóc thì đem ủi an. Nhưng Cha thấy đó, lúc con nối lại giây chuông là lúc con bị kết án ăn trộm. Lúc con định chia sớt nhọc nhằn với người đàn bà ăn xin là lúc con khám phá ra túi bạc và lòng ích kỉ nhỏ nhen. Ðâu là sự thật soi cho con đi hả Cha?
- Con không đi tìm sự thật. Sự thật ở trong con và con đến để làm chứng cho sự thật. Con đem sự thật cho đời. Vì thế, nơi nào có gian dối, Cha gởi con tới. Nơi nào có kết án bất công, Cha bảo con đến.
Người thanh niên ngồi yên trầm mặc. Lời nói trong hồn thao thức, thăm thẳm sâu. Nhẹ nhàng như một lời mời, thách đố như một lệnh truyền. Phải đi. Phải đến. Ðấy là ý nghĩa đời chàng. Một thoáng lại hiện về trong trí nhớ. Nhà tù, vòng sắt, quan tòa. Chàng biết gian dối, bất công có sức mạnh của nó, kẻ dám đương đầu với bất công là kẻ phải can đảm chấp nhận tù đầy, khổ đau. Chàng lại nghĩ tới thân mình. Một thoáng lo âu ngần ngại lướt qua như lời nói khẽ cho chàng hay đời chàng sẽ còn nhiều giông tố phũ phàng vì chàng dám sống cho sự thật. Ý nghĩ ấy làm chàng trầm nét băn khoăn. Nhưng chàng đứng dậy, xách theo túi vải, nói với lòng mình:
- Thức ăn của ta là làm theo Ðấng đã sai ta.
Người đàn bà bên kia đường trông thấy chàng, vội rời hè phố, băng qua lộ, bước qua hàng rào công viên, đến trước mặt chàng:
- Ông có lửa không, cho tôi xin mồi lửa?
Người phụ nữ vừa nói vừa đưa điếu thuốc lên môi. Móng tay nàng dài, sơn mầu huyết dụ. Cặp môi đỏ mọng, mướt lánh như nàng vừa mới thoa son xong. Chàng đưa tay lên túi áo ngực:
-Xin lỗi cô, tôi không có bật lửa.
Người đàn bà như chờ đợi thêm nhưng hắn chỉ nói có thế. Nàng tỏ vẻ thất vọng, hơi bực mình, nhưng người đàn bà kiên nhẫn thêm. Bây giờ nàng đứng sát bên hắn. Gã bối rối vì mùi nước hoa làm chàng xao xuyến. Và dường như ngực người đàn bà cũng vừa chạm vào da thịt chàng. Dưới vùng sáng mờ của ngọn đèn néon ở góc công viên cho chàng thấy chiếc nút áo ngực của người đàn bà đã mở rộng. Da thịt nàng căng tròn, mời mọc. Chàng chưa biết phản ứng làm sao, người đàn bà đến sát chàng thêm nữa. Chiếc quần bó chẽn, mùi nước hoa đẩy đưa người đàn bà vào dáng dấp cám dỗ. Giọng nói phụ nữ đuổi đi cái im lặng ngập ngừng:
- Năm mươi đồng?
Hắn không hiểu gì. Người đàn bà nói thẳng:
- Năm mươi đồng một đêm!
Nàng đợi chờ phản ứng của gã. Hắn có hiểu ý? Hắn nghe không rõ? Im lặng. Hắn không dám hỏi lại. Người đàn bà chỉ tay vào túi vải hắn đang đeo, hỏi thăm rồi bảo chàng:
- Bán cho tôi ít dâu và mấy trái dưa đi, bao nhiêu?
Hắn không biết phải trả lời thế nào. Cuộc gặp gỡ bất ngờ. Chàng có bao giờ mua bán đâu mà biết giá cả. Ðã mấy năm trong tù, chàng chẳng biết gì ngoài xã hội. Chàng nghĩ thầm, mới từ chiều đến giờ mà đã gặp bao nhiêu chuyện bất ngờ. Chàng cúi mở chiếc túi thì người đàn bà đặt tay lên vai ra hiệu cho chàng hãy đem túi vải ra chỗ có ánh sáng. Hắn xách túi vải theo sau người đàn bà. Nhưng họ đã không dừng lại ở ngọn đèn nơi đầu công viên. Họ tiếp tục đi với nhau dọc dẫy phố. Họ nói chuyện với nhau nhiều hơn. Ðã có một cánh cửa nào đó mở ngõ cho những câu chuyện có lối đi về. Khi chàng biết được nàng là một gái đêm đang tìm khách, và người khách hàng nàng đang muốn ngủ đêm nay lại là chính chàng, chàng cảm thấy lo âu hồi hộp, nhưng cũng có phiêu lưu. Chàng chưa bao giờ gần gũi đàn bà, đêm nay là đêm đầu tiên chàng ngửi thấy mùi nước hoa ngay bên, da thịt căng đầy trước mặt, Chàng bối rối, và rồi tự nhủ chắc chắn phần thắng sẽ về chàng. Chàng nhớ lại lời nói ban nẫy khi chàng cầu nguyện:
- Nơi nào có bóng tối thì con hãy đốt lên một que diêm.
Ðêm nay chàng đã gặp bóng tối. Thầm nghĩ nhất định chàng phải đem tâm hồn nàng về với ánh sáng. Chàng sẽ đốt lên một que diêm. Ý nghĩ ấy cho chàng can đảm, bình tĩnh theo nàng về căn gác trọ.
* * *
Vị chánh án hỏi bị can:
- Ông có quả bị bắt trong đêm ngày mồng 5 tháng 4 ở căn nhà số 103 không?
- Thưa quan tòa đúng.
- Ông đến đó làm gì?
- Tôi đến để thắp lên một ánh lửa trong bóng đêm.
Ở một góc nọ người đàn bà béo phị vừa cười ngặt nghẽo vừa lớn tiếng trong giọng nói pha trò:
- Ông ấy là thánh đấy!
Mọi người cười ồ. Riêng người phụ nữ bị kết án là gái điếm cúi đầu khóc. Vị quan tòa hỏi nàng:
- Còn cô, cô muốn nói gì không?
Người đàn bà tức giận, không ngần ngại nhìn thẳng vào ông chánh án trả lời:
- Biết bao nhiêu người đàn ông đã đến với tôi, trí thức có, đạo mạo có, họ là những kẻ kết án tôi ban ngày nhưng lại cần tôi ban đêm...
Người đàn bà còn đang nói thì có tiếng đập bàn phản đối của người đàn ông phía sau. Ông chánh án đập chiếc búa gỗ ra lệnh cho tất cả giữ trật tự. Mặt ông đỏ như gấc, tức tối vì câu nói của người đàn bà, như ông thấy trong số những người đàn ông mà bà ám chỉ đã có cả ông:
- Yêu cầu bà chỉ trả lời vào câu hỏi. Bà có muốn khiếu nại gì không?
Người đàn bà chỉ tay về phía gã đàn ông nói:
- Tôi không khiếu nại gì cho tôi, nhưng riêng người này thì vô tội. Ông không tìm tôi như nhiều người đàn ông khác, nhưng tôi tìm ông. Ông nghèo. Ông chỉ có một tâm hồn là giàu có. Ông đã đốt lên một que diêm trong bóng đêm. Ông chỉ cho tôi con đường về nhà cũ mà tôi đã bỏ đi. Ông chính là đấng thánh như lời các người vừa nói!
Cả phòng xử án lại phá lên cười. Vị quan tòa không đập búa nữa nhưng đợi cho mọi người cười xong, ông mở tập hồ sơ rồi tuyên bố vắn gọn:
- Tất cả đã rõ. Những mụn ghẻ trên da thịt xã hội phải được cắt đứt!
Cả phòng xử im lặng vì giọng nói cứng rắn và bực tức của ông. Người đàn ông bị kết án đứng xuôi tay nhớ lại lời từ trời cao đã nói với hắn trong khi cầu nguyện:
- Nơi nào có ngổn ngang thì con hãy sống trong sự thật. Nơi nào phức tạp thì con hãy giữ trái tim đơn sơ. Nơi nào có gian dối thì Cha gọi con tới. Nơi nào có bất công thì Cha bảo con đến.
Chàng cúi đầu chấp nhận tất cả. Riêng người đàn bà bị kết tội là điếm ôm mặt khóc nức nở. Nàng không sợ hãi cho đời nàng nhưng nàng thương người đàn ông vô tội đang đứng trước mặt nàng. Chính nàng là người hiểu rõ đâu là sự thật, đâu là công lí của xã hội. Cả phòng xử đông người nhưng chỉ có hai kẻ bị kết án là biết sự thật và cùng đau khổ cho sự thật.
SAU NHỮNG NGÀY TÙ
Tất cả trắng bát ngát. Tuyết phủ kín cánh đồng. Hàng táo đứng trơ cành khô khẳng khiu. Gió ào ào như muốn xô ngã tên tù. Hắn ôm túi vải vào ngực, đứng nhìn cánh đồng tuyết lạnh mà thấy cô đơn về mênh mông.
Hắn đã được thả tù sớm hơn bản án cay nghiệt vì sức khỏe hao mòn. Ðã nhiều đêm hắn muốn tắt thở vì cơn ho. Vào những tháng gần đây sức khỏe của hắn giảm sút một cách thảm hại. Gió rét về từng cơn. Hắn đi không vững. Mặt hốc hác, chỉ còn đôi mắt vẫn huyền nhiệm.
Ra tù lần này khác với những năm về trước. Bây giờ là mùa đông băng giá. Chàng xiêu vẹo cầm cự với những cơn gió vô tình nghiệt ngã. Thỉnh thoảng hắn lại ngồi xuống ôm ngực ho. Mỗi lúc gió một nhiều. Dường như có một trận bão ở đâu đó. Hắn tìm lối xuống đồi nhưng tất cả mọi lối mòn đã bị tuyết phủ kín. Hắn chỉ còn căn cứ vào những hàng cây bên đường mà phỏng đoán lối đi. Hắn nhớ lại kì ra tù lần trước có hàng cây anh đào, nhưng hôm nay đã biến mất. Chúng đã bị chặt từ thuở nào? Gió lật ngược tấm vải khoác, chàng phải ngồi xuống tránh gió. Ði đâu bây giờ? Chàng thấy vũ trụ mà Thượng Ðế đã dựng nên lớn quá, nhưng chàng không có chỗ nghỉ chân. Chàng thấy Thượng Ðế đã trang điểm vũ trụ bằng vàng bạc châu báu mà chàng thì không có bữa ăn chiều nay.
Trời càng về tối gió càng lạnh. Ði được một quãng xa, đến gần ngọn đồi năm xưa mà bác nông phu đã cho chàng bánh và dâu thơm thì trời chuyển mây, tuyết rơi. Chàng nhớ về những kỉ niệm năm xưa ở khúc đường này mà muốn ứa lệ. Giờ này các bác nông phu ở đâu? Tuyết rơi rất nhanh. Cố gắng bước vội. Ðã thấy ánh đèn phố xa tít dưới thung lũng. Chàng nhớ tới ngôi nhà thờ đã ngồi nghỉ năm xưa. Chàng thầm nghĩ sẽ cố gắng về tới nơi để xin một chỗ trọ đêm nay. Trên đồi tuyết lạnh mà những tưởng tượng ra mùi hương trầm nồng ấm của nhà thờ, lòng chàng nhẹ nở một an ủi êm đềm.
Nhưng chàng đã chẳng bao giờ tới nơi. Tuyết rơi dầy hơn, nhanh hơn. Mỗi lúc tuyết một phủ kín thêm cánh đồng đã trắng lạnh. Trên ngọn đồi, một đống tuyết nhỏ nổi bật lên cao phủ kín tên tù nhân xấu số. Hắn đã ngã chết vì đói trong trời tuyết lạnh.
* * *
Xế chiều, mặt trời mù mờ trong sương. Từ dưới thung lũng đi lên, người ta thấy một bóng người trong chiếc áo khoác màu đen. Ðầu, cổ choàng khăn kín mít. Cánh đồng trắng như một biển muối. Rải rác đây đó những bụi cây nhỏ đứng chơ vơ. Hàng táo ở ven đường càng về chiều càng đen sẫm. Cơn bão tuyết đã dứt từ mấy hôm nay. Gió thổi bay những hạt tuyết đọng trên cành, bây giờ chỉ còn những cành cây trơ trọi, đen đủi, thỉnh thoảng rung rinh khi con gió đến.
Khi đi tới ngọn đồi, người đàn ông ngó về phía đồi tuyết. Ông tần ngần đi chậm lại rồi băng qua ruộng lúa bị tuyết phủ ngập, đi dần lên gò tuyết cao. Tuyết phủ mịn màng như một bãi cát đồng trinh. Bước đi của người đàn ông in từng vết chân thành một vệt ngoằn ngoèo dài. Khi tới gần đồi tuyết thì ông không thể hồ nghi được nữa. Trước mặt ông là cụm hoa hồng!
Vì sao lại có cây hồng giữa mùa đông băng giá? Ðây có phải là cây hồng thật? Ngạc nhiên quá đỗi. Ông cúi xuống, ngồi sát bên cây hồng. Màu lá xanh ngát thỉnh thoảng rung lên theo nhịp gió đẩy. Một bông hồng lớn bằng trái cam, đỏ thẫm. Cánh hồng mướt như nhung. Sương ướt còn long lanh trên những cánh hồng mềm. Người đàn ông đứng ngó sững sờ. Ông lại thắc mắc một mình. Giữa đồi tuyết lạnh sao lại có cành hồng? Tất cả cây cối đều rũ bã chết khô sao lại có cây hồng xanh tươi? Cả rừng cây đứng thua trận mùa đông sao lại có cành hồng thản nhiên? Người đàn ông giơ tay vuốt những cánh hồng xinh. Một cơn gió nhẹ, cánh hồng lao chao nghiêng ngả. Người đàn ông với tay đỡ, che cho bông hồng. Cánh gai nhọn làm tay ông rướm máu, bấy giờ ông mới nhận thấy một điều khác lạ: Những mũi gai nhọn. Gai của cây hồng này không giống những loại hồng khác. Người đàn ông nhìn kĩ hơn vì chưa bao giờ thấy những chiếc gai lạ như thế. Nó dài gấp ba, bốn lấn gai hồng thường và nhọn hoắt như lưỡi dao sắc bén.
Người đàn ông băn khoăn lạ lùng vì cây hồng ngoại lệ trong mùa đông, nhưng không biết giải thích ra sao. Ông định hái bông hoa nhưng rồi lại đổi ý. Gạt tuyết ở gốc hồng, ông tìm cách bứng cả cụm hồng về nhà trồng. Gạt được một mớ tuyết, ông thấy sồn sột của móng tay cào trên nền vải. Ông bới mạnh hơn, lẹ hơn, thay vì đất đen, dưới lớp tuyết phủ là một tấm vải màu vàng ngà. Vừa ngạc nhiên vừa hồi hộp, ông tiếp tục lần theo chiều vải mà cào tuyết. Ðược một lúc, ló ra một khoảng vải lớn. Ông cầm miếng vải kéo mạnh. Tuyết bay mù mịt. Ông hoảng hốt giật bắn người: Một đôi chân! Ông vội vàng lui về phía sau. Rõ ràng một đôi chân người! Ông quay mặt nhìn chung quanh như muốn cầu cứu nhưng cánh đồng vẫn hoang vu vắng lặng. Chênh chếch về phía tây, mặt trời mù đặc trong sương ẩm.
Người đàn ông tháo chiếc túi vải đeo ở vai để xuống bên cạnh. Ðó là chiếc túi da màu đen có in hình thánh giá mạ vàng. Túi da nhắc nhở ông đến một sứ mạng thiêng liêng. Ông lại ngó quanh như mong có người đang đi đường để ông bớt lẻ loi, sợ hãi. Có thể đây là nạn nhân của bão tuyết? Có thể bị cướp đánh? Còn nhiều cái có thể khác đặt ra trong đầu ông. Có thể họ đã chết? Có thể còn sống? Nếu còn sống thì ông phải làm gì? Câu hỏi làm người đàm ông liên tưởng đến túi da bên cạnh có in hình thánh giá ở ngoài. Dường như cây thánh giá ấy cho ông thêm can đảm để bới nạn nhân ra khỏi tuyết.
Hai tay lạnh cóng, ông rút chiếc khăn đang đeo ở cổ cuốn lấy bàn tay phải để làm chiếc găng tay cho đỡ lạnh. Bấy giờ mới ló ra cổ áo dòng đen có chiếc collar màu trắng. Ông là một linh mục đang trên đường đi làm việc mục vụ. Nạn nhân nằm co quắp nhưng người vẫn còn mềm. Linh mục bới sạch tuyết trên mặt nạn nhân thì ông nhăn mặt nghĩ ngợi. Trên khuôn mặt như có nét quen thuộc mà vị linh mục hình như có gặp nạn nhân ở đâu đó. Có thể là bộ râu? Có thể là mái tóc? Hay là sống mũi? Linh mục cố moi móc trong cái trí nhớ bắt đầu già nua theo tuổi tác. Ðôi mắt nạn nhân nhắm nghiền như đang ngủ say. Càng nhìn kĩ, linh mục càng thêm xác tín là đã gặp nạn nhân rồi. Ngài xác định nhưng vẫn còn mơ hồ, lãng đãng chưa tìm được một chứng cớ rõ ràng. Ðang cố gắng lục lọi các ngăn tủ của trí nhớ, ngài lại nhìn thấy một đầu miếng vải khác nữa nhô lên khỏi tuyết ở cách đó không xa, chừng vài bước chân. Vị linh mục kéo mạnh miếng vải, cả chiếc túi bật lên. Ngài ngó đăm đăm vào chiếc áo choàng lớn mà nạn nhân đang mặc. Màu vải của chiếc túi và của chiếc áo khoác giống y như nhau. Thêm một tia sáng soi vào vùng tối của trí nhớ, quay ngược thời gian về khoảng 7 năm trước đây. Chính chiếc áo này, gã đàn ông đã mặc, với túi vải này hắn đã xách theo đứng trước tòa án khi bị tố cáo là ăn cắp quả chuông của nhà thờ. Linh mục nhìn kĩ hơn vào khuôn mặt nạn nhân và càng nhìn kĩ ngài càng thấy điều đó đúng. Chính nạn nhân là kẻ ăn cắp quả chuông của giáo xứ, năm nào!
Nạn nhân còn mềm nhưng không còn dấu hiệu của sự sống. Linh mục ngần ngại lấy chiếc túi da đen, mở nắp tìm cuốn kinh và lọ dầu thánh, thứ dầu để xức cho bệnh nhân. Biết đâu nạn nhân chưa chết hẳn, nghĩ thế, ngài mở một cuốn sách nhỏ, tìm lời kinh nguyện cho kẻ đang hấp hối rồi đọc:
- Lạy Chúa, xin xót thương tôi tớ Chúa đây, vì lòng nhân từ, xin Chúa ban ơn trợ giúp để người tôi tớ Chúa được mạnh sức trung thành với Chúa đến cùng. Xin dấu thánh của Người là ân sủng xóa hết tội khiên...
Linh mục vừa đọc vừa xức dầu lên trán nạn nhân. Trên vừng trán, khi linh mục vén mớ tóc lên cao, ngài thấy những vết sẹo đã lành lâu ngày nhưng còn trông rõ như những vết gai nhọn đâm chằng chịt. Lúc xức dầu vào lòng bàn tay nạn nhân, ngài thấy bàn tay mềm như người còn sống dù là giữa trời tuyết giá băng. Ở lòng bàn tay ưng ửng đỏ rồi máu từ từ rớt xuống nền tuyết trắng tinh. Lòng bàn tay mở ra một lỗ bị đâm thật lớn như dấu bị đóng đinh. Linh mục ngỡ rằng nạn nhân đã bị kẻ cướp đánh. Thế nhưng còn dấu đinh ở bàn tay thì sao? Nếu bị cướp giết thì sao lại để lại chiếc túi? Nạn nhân đã bị tuyết phủ sao vẫn còn máu tươi đỏ? Mà những gì đựng trong túi vải kia? Linh mục lại bắt đầu băn khoăn, linh tính báo cho ngài biết một sự gì khác thường, nhưng ngài không thể xác định được.
Linh mục đổ tất cả mọi thứ trong chiếc túi vải xuống tuyết. Một mớ quần áo cũ. Tất cả chỉ có thế. Chính những quần áo mà ngài đã nhìn thấy mấy năm trước đây khi quan tòa ra lệnh cho hắn lấy ra khỏi chiếc túi trong ngày hắn bị xử án. Linh mục lục lọi kĩ nhưng không có gì. Riêng có một gói nhỏ, bọc kính cẩn bằng miếng vải màu đỏ thẫm. Khi mở xong lớp vải sau cùng, linh mục thất vọng, đây không phải là gói tiền hay nột thứ gì quý mà chỉ là cuốn sách cũ. Ðó là cuốn Thánh Kinh, bìa da bị cong và rách, những mép trang nhàu nát vì bị mở quá nhiều lần. Vị linh mục mở qua, mở lại nhưng cũng chẳng có một thứ giấy tờ gì nói cho rõ nạn nhân là ai.
Riêng ở trang đầu tiên, khi linh mục mở tờ bìa, ở góc phải, phía trên cao có mấy chữ viết như học sinh vẫn đề tên vào góc sách để biết sách nào là của ai. Nét chữ không đẹp, nét mực cũng nhòe, phải nhìn kĩ người ta mới có thể đọc được: Giêsu, Nazareth.

Read more...

Sticky post

CHỌN BẠN ĐỜI

Hai chàng trai tỏ tình với hai cô gái. Một chàng nói:
- Anh chỉ có trái tim. Cô gái nào có thể chia sẻ khó khăn với anh trên đường đời thì sẽ có chỗ trong nó.

Chàng kia bảo:
- Anh có một tòa lâu đài và muốn cùng người bạn đời ở trong đó để chia sẻ niềm vui.

Sau khi suy nghĩ, một cô gái nói:
- Anh chàng kì lạ ơi, trái tim của anh quá chật hẹp với em. Nó chỉ nằm gọn trên lòng bàn tay em, mà em thì muốn tự mình bước vào một ngôi nhà mà ở đó em có thể cảm nhận sự mênh mông, tươi sáng do hạnh phúc mang lại. Em chọn tòa lâu đài và hy vọng ở đó sẽ không có sự chật chội, buồn chán. Ở đó sẽ rộng rãi, thoáng mát, sáng sủa, nghĩa là sẽ hạnh phúc.

Chàng trai có tòa lâu đài cầm tay cô gái và bảo:
- Sắc đẹp của em xứng đáng với sự giàu có của anh.

Rồi chàng đưa cô gái về tòa nhà nguy nga của mình.

Cô gái kia đưa tay cho chàng trai chỉ có trái tim, thì thầm nói:
- Trên thế gian này, không ở đâu ấm áp và dễ chịu hơn trái tim con người. Không một tòa nhà nguy nga nào có thể so sánh với nơi ở thần kỳ đó.

Và cô gái đã đi cùng chàng trai trên con đường đầy khó khăn của chàng. Đường lên núi thật khó đi. Hai người đã cùng vượt qua bao gian nan, vất vả nhưng trong trái tim chàng trai yêu dấu, cô gái luôn cảm thấy yên bình và ấm áp, cảm giác hạnh phúc chưa bao giờ rời xa cô. Cô chưa bao giờ thấy chật chội trong trái tim bé nhỏ của chàng bởi khi trái tim tỏa ánh sáng tình yêu thì nó trở nên to lớn, mênh mông, đủ chỗ cho tất cả.

Khi hai người đã lên đến đỉnh núi, họ trông thấy một nguồn rạng ngời, cảm thấy sự ấm áp, cảm nhận được tình yêu bao la và hiểu được niềm hạnh phúc vô biên của con người khi con đường dẫn anh đến hạnh phúc đó đi qua trái tim.

Cô gái chọn tòa lâu đài chẳng bao lâu sau đã cảm thấy khó chịu vì sự rộng rãi mênh mông của tòa nhà. Rồi cô hiểu ra rằng: Dù rộng đến đâu, tòa nhà đó vẫn có giới hạn và tòa nhà đối với cô chẳng khác gì chiếc lồng chim. Đẹp đến mấy thì chiếc lồng vẫn làm cho con chim cảm thấy chật chội, ngột ngạt, khó cất lên tiếng hót.

Cô nhìn qua cửa sổ, đi vòng quanh hàng cột nhưng không thể tìm được lối ra. Tất cả như đè nặng lên cô, bóp cổ cô. Còn bên ngoài cửa sổ là cái gì đó tuyệt đẹp và khó chạm tới. Không tòa nhà nguy nga nào có thể sánh được với những gì bên ngoài cửa sổ, bên ngoài khoảng không mênh mông, tươi sáng.

Cô hiểu rằng cô không bao giờ được hưởng niềm hạnh phúc đó, niềm hạnh phúc xa vời vợi. Cô đã không thể hiểu được con đường nào sẽ dẫn tới niềm hạnh phúc đó. Cô chỉ biết buồn và nỗi buồn đã làm trái tim cô chết dần, chết dần. Cô gái đã chết vì nỗi buồn phải ở trong chiếc lồng do chính cô đã chọn.

Con người quên rằng mình là chim. Con người quên rằng mình biết bay. Con người quên rằng có những khoảng không rộng lớn cho họ bay vào mà không bao giờ sợ rơi xuống. Trước khi lựa chọn hãy lắng nghe trái tim mình, đừng nhờ đến sự lạnh lùng băng giá của trí óc - trí óc tỉnh táo nhưng không nhạy cảm. Con người quên rằng không có hạnh phúc dễ dàng, quên rằng muốn có hạnh phúc thì phải vượt qua con đường lâu dài, gian khó và đó chính là ý nghĩa của cuộc đời

Read more...

Một chiều mưa tháng chín

Hết ca lúc 8.30 tối. Tôi thơ thẩn trên con đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Suy nghĩ về khóa thi designer 17. Rất buồn xen lẫn một chút ghen tị với Huy. Huy không biết tay nghề thế nào nhưng Huy vô sau mình, và mới làm có 3 tháng thôi. Có lẽ vì Huy tháo vát và vui tính nên lấy lòng quản lý nên được chọn để đi thi. Còn minh thì mãi chẳng được chọn. Hơi hụt hẫng và thất vọng nhiều. Nhưng minh không được chọn cũng đúng vì khi đi phỏng vấn mình khai chỉ mới theo nghề được 4 tháng mà thôi.
Vòng xe chạy về hướng dòng chúa Cứu Thế, dựng xe đứng cầu nguyện dưới chân Đức Mẹ, xin mẹ cho con biết phó thác mọi sự trong tay mẹ. Xin Mẹ dẫn dắt từng bước con đi, vì con biết Mẹ hiểu con hơn chính con hiểu con, Mẹ biết khả năng của con vì có đôi lúc vì tự phụ mà con không thấy được vị trí mà con đang đứng.

Mẹ biết rõ rằng con muốn đi xây dựng tương lai và cuộc sống ở nước ngoài. con muốn thực hiện được nguyện vọng của mình nên con mới theo cái nghề này. Nhưng con không biết là con có phù hợp hay không nhưng Mẹ biết đấy chưa bao giờ con nghĩ con sẽ thích cái nghề này cả!

Từ nhỏ con đã được dạy rằng không được nói dối vì nói dối trước sau gì người ta cũng phát hiện ra và nói dối sẽ gây ra nhiều hậu quả không thể lường trước được. Nhưng bây giờ con không biết nói dối gây ra hậu quả gi nhưng việc con khai với người phỏng vấn con chí mới bước vào nghề có 4tháng đã khiến con khổ nhiều! Những người bạn vào cùng đợt đều đã được sắp phụ chính, chỉ có con vẫn cứ lêu lổng. Và những người cùng đợt đó giờ người ta cũng có tên đi thi hết rồi, chỉ còn con la bị rớt lại...Phải chăng đây là hậu quả của việc mình nói thật hay sao?

Đúng là sống như Chúa dạy thật không phải dễ!

Hi everybody!

Chào nhưng dân cư Opera đáng mến!
Mình muốn làm hang đá vào dịp lễ noel nhưng lai không biết ở đâu có show những style của hang đá để mình có thể chọn lựa.
Các bạn có biết trang web nao có không? Chỉ mình với! Thanks lắm lắm!

ÔI! ĐÃ THÁNG 12 RỒI, SẮP HẾT NĂM RỒI!!!!!!!

Thời gian trôi wa nhanh quá! Mới ăn tết, giờ lại.... phải tết nữa rồi! Lại già đi thêm một tuổi nữa rồi!!!!

Một năm trôi qua mà chưa làm được gì cả. Nhìn lại những ngày tháng đã qua, mình chẳng thấy hài lòng chút nào cả! Có lẽ mình phải cấp tốc vạch ra một kế hoạch cho năm mới thôi. Ôi! tệ thật! Nhưng sao chưa đi được một nửa đường của kế hoạch thì con sâu làm biếng lại trỗi dậy, hoành hành.

Mình phải làm sao đây! Có ai kíu mình với!!!!!!!!!!!

Ngày Buồn

Một cảm giác tội lỗi, cô đơn cứ len lỏi vào tâm hồn tôi. Thấy mình sao quá vô dụng, chẳng làm được điều gì cho hay ho cả! Giờ tôi chẳng muốn làm gì cả, chỉ muốn kiếm một nơi thật yên tĩnh để... khóc thật to, để trút hết mọi phiền muộn trong lòng! Tìm một lối đi cho chính mình.

Bức Tranh Cuộc Đời

3h30 chiều, tôi phụ nó bó từng bó bông mang ra chợ bán. Hôm nay đã là mùng 2 rôi mà còn nhiều bông thế này thì làm sao bán hết trong ngày hôm nay? Tôi thầm nghĩ nhưng cũng lui cui phụ nó chở bông ra chợ cho sớm. Hai đứa đi từ đầu chợ đến cuối chợ mà chẳng kiếm ra nổi một chỗ ngồi cho yên thân. Ai cũng lắc đầu như xua đuổi hai đứa lạ mặt. Ở đây ai bán cũng phải trả tiền thuê chỗ nên không ai chấp nhận cho một kẻ ngoại lai nào được phép xâm chiếm. Mãi cả giờ đồng hồ sau chúng tôi mới xin đựơc một cố bán trái cây tốt bụng cho mượn cái mặt của ống cống dùng để để những trái cây hư, rổ thúng.... Mùi cống bốc lên từng đợt hôi không chịu nổi, nhưng cũng thầm cảm ơn người phụ nữ tốt bụng kia. Nếu không chắc là không biết đi đâu nữa. Ngồi mãi tới tối mịt mà chỉ bán được khoảng 6-7 bó bông với giá rẻ đến bất ngờ...! với mong muốn bán càng nhiều càng tốt. Cả ở nhà nữa thì còn khoảng 50 bó, một con số biết nói đấy.... Hai đứa ngồi nói nói, cười cười nhưng đâu đó trong mắt nhỏ vẫn vương nỗi buồn. Không phải buồn vì bông bị ế mà vì áp lực của người mẹ không biết cảm thông, không biết thể hiện tình thương và quan tâm đến con cái, không biết đến lời dỗ dành, yêu thương mà chỉ biết phun ra những lời cay độc, tục tĩu từ môi miệng. 7h30 chúng tôi dọn về, chúng tôi cố pha trò cho nhau cười để lấp đi nỗi chán nản. Về đến nhà, hai mẹ con nhìn nhau chẳng nói lời nào, nhỏ đưa mẹ số tiền đã bán đựơc. Giờ tôi mới thấy đựơc sự đồng cảm giữa hai con người khắc khẩu này đó là nét mặt tiu ngỉu, buồn bã. Cả hai đồng ý là phải thanh lý đám bông ế này cho khuất mắt nếu vì bông chẳng còn tươi mà ngày mai cũng mùng 3 rồi, chẳng còn ai mua bông về cúng nữa. Nhưng thanh lý bằng cách nào đây? Cả hai đồng ý đem cho một cái chùa gần đó. Thế là hai đứa lại tiếp tục chở bông đi. Đi đến chùa lại nghĩ bông héo thế này cho chùa, các sư cũng chẳng dùng được, mà của tốt không cho lại đi cho của ôi thiu, cho như tống đi cho xong, thật đắc tội. Chắc có ngày bị quả báo quá! Thế là nhỏ có ý kiến đem đến bãi rác chợ vứt, Nhưng khi đến lại có quá nhiều người không dám vứt! Trời ạ, hai đứa đi vứt bông mà như là đu thủ tiêu xác chết vậy, như hai tên tội phạm mới làm chuyện xấu xa vậy!Thật chẳng ra làm sao cả. Và cuối cùng chúng tôi bàn nhau mang đến bãi đất trống gần đó vứt. Trời thì mưa tầm tã mà hai đứa lại chở nhau đi lòng vòng vứt bông. Thật khổ hết mức!

Thế đấy, nhìn người ta sống trong cảnh khổ, nghe người ta kể hoàn cảnh của họ. Tôi và bạn chỉ có thể đứng ngoài cửa nhìn vào mà cảm thông chia sẻ mà bùi ngùi thay họ. Tốt hơn nữa thì giúp họ với khả năng mình có về vật chất hay tinh thần. Nhưng không ai có thể hiểu hết những ngóc ngách tâm sự của họ, những trăn trở, những bế tắc, những vòng luẩn quẩn mà họ đang loay hoay tìm lối ra cho chính mình và gia đình mình. Như một con mồi, càng cố giãy giụa tìm lối thoát thì càng bế tắc.

Nhưng tất cả vẫn đời chúng ta ở con đường phía trước. Dù bạn mất hết tất cả nhưng tôi tin rằng bạn vẫn còn tương lai. Tương lai điều duy nhất mình có thể hy vọng vào và hãy dùng tất cả sức lực của hôm nay làm cho một ngày mai tươi sáng hơn....

Một người bạn là

Một giây phút nào đó trong cuộc sống bạn tìm được một người bạn thân ….Đó là người có thể thay đổi cuộc sống của bạn ,dù chỉ một phần nhỏ nào đó .là người có thể làm cho bạn cười ngặt nghẽo đến nỗi bạn không thể dừng lại được. Là người làm cho bạn tin rằng thế giới này thật sự tốt đẹp .Là người đã ngồi hàng giờ để thuyết phục bạn rằng ,thật sự cánh của cuộc đời vẫn chưa đóng lại với bạn và nó đang chờ bạn mở ra . đó chính là người bạn mãi mãi ….

Khi bạn ngã qụy và thế giới quanh bạn dường như quá đen tối và trống rỗng ,người ấy sẽ nâng bạn lên và làm cho thế giới này bỗng vụt sáng và lấp đầy những khoảng trống .Người ấy có thể dắt bạn qua những giây phút khó khăn của cuộc sống ,lúc buồn bã bế tắc .Người bạn ấy sẽ nắm lấy tay bạn và nói rằng mọi chuyên rồi sẽ tốt đẹp .Và nếu bạn tìm thấy một người bạn như thế bạn đã thật hạnh phúc và đầy đủ ,bởi vì bạn đã có một tình bạn mãi mãi trong cuộc đời và nó sẽ không bao giờ kết thúc ….

Nghĩ về bạn ,tôi muốn nói rằng …những ý nghĩ của bạn sẽ sáng lên trong những ngày tháng cô đơn ,bằng cách nào đó mà bạn luôn ở đó với nụ cười và sự vui vẻ ,với tình cảm dành để chia sẽ ….bạn làm tôi mỉm cười những khi tôi buồn bã nhất ….bạn là người thân nhất mà tôi đã có …cảm ơn bạn đã là bạn của tôi .

Mầu Nhiệm Của Ðau Khổ


Trong tác phẩm có tựa đề "Ðêm", tác giả Êliwisel, người sống sót từ các trại tập trung Ðức Quốc Xã trở về và sau được giải Nobel Hòa Bình, đã kể lại một cuộc hành quyết như sau:
Những người lính Ðức Quốc Xã xem ra có vẻ lo lắng và bị xáo trộn hơn mọi khi. Treo cổ một thiếu niên trước mặt hàng ngàn người không phải là chuyện cơm bữa. Người đứng đầu trại đọc bản án. Tất cả mọi con mắt đều hướng về cậu bé. Người cậu bé tái xanh nhưng nó mím môi để giữ bình tĩnh, giàn treo đang phủ bóng lên cậu bé. Lần này, người đứng đầu trại khước từ vai trò lý hình, ba người lính Ðức Quốc Xã thế chỗ ông, ba nạn nhân cùng leo lên ba chiếc ghế, ba cái cổ cùng được đưa vào ba cái lỗ dây thòng lọng. Hai người lớn hô: "Tự do muôn năm", nhưng người thiếu niên giữ thinh lặng. Ðàng sau tôi có người hỏi: "Chúa đang ở đâu? Người đang ở đâu?" Khi người trưởng trại ra hiệu, cả ba cái ghế cùng bị xô ra một bên. Cả trại chìm ngập trong thinh lặng. Ở chân trời, thái dương đang từ từ lặn. Người trưởng trại la lớn: "Bỏ mũ ra!" Giọng của ông khàn. Tất cả chúng tôi đều khóc. Rồi ông lại ra lệnh: "Ðội mũ lên!" Và cuộc diễn hành về trại bắt đầu. Hai người lớn không còn sống nữa, những cái lưỡi của họ thè ra, tím lịm và sưng lên; nhưng chiếc dây thừng thứ ba còn động đậy, vì quá nhẹ cân cho nên cậu bé vẫn còn sống. Trong hơn một tiếng rưỡi đồng hồ, em vẫn còn treo lơ lửng ở đó, chiến đấu giữa cái chết và sự sống. Chết từ từ dưới cái nhìn của chúng tôi. Và chúng tôi phải nhìn thẳng vào mặt em. Em vẫn còn sống khi tôi đi qua trước mặt em, lưỡi em vẫn còn đỏ nhưng mắt em đã mất thần. Sau lưng tôi, tôi vẫn còn nghe cái giọng lúc nãy hỏi: "Bây giờ, Chúa đang ở đâu?" Và tôi nghe có một tiếng nói trong tôi trả lời cho ông: "Chúa ở đâu ư? Ngài đang ở đây này. Ngài đang bị treo trong cái dây thòng lọng kia kìa!"
* * *
Có hai người cùng bị treo trên thập giá với Chúa Giêsu. Một người đã nhận ra Ngài như Ðấng cứu độ và được ơn tha thứ. Một người lại nguyền rủa và khước từ sám hối. Trước đau khổ của cuộc sống, có người tin tưởng và phó thác, có người nổi loạn và phạm thượng. Ðau khổ là thước đo nhân cách và lòng tin của con người. Ðau khổ là trường đào luyện và thanh tẩy con người. Giữa bao đau khổ, Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy được thái độ đúng đắn của con người. Ngài luôn thưa xin vâng với thánh ý Chúa Cha. Trước đau khổ của người khác, Ngài cảm thông tới độ đồng hóa với tất cả những ai đang đau khổ. Ngài là Thiên Chúa có mặt trong từng nỗi đau của con người. Ngài là Thiên Chúa đang quằn quại trong mỗi một người đang đau khổ. Ngài là Thiên Chúa đang bị bách hại. Ngài là Thiên Chúa bị ruồng rẫy khước từ trong tất cả những người bị bỏ rơi và bị đẩy ra bên lề xã hội.
Hằng năm, vào Mùa Chay, chúng ta sống mầu nhiệm khổ nạn của Chúa Giêsu. Chúng ta không dửng dưng trước nỗi khổ đau của người đồng loại. Khổ đau dường như là nơi ưu việt để Thiên Chúa của tình yêu tỏ mình. Chính qua và trong những người đang đau khổ mà Ngài mời gọi chúng ta nhận ra Ngài.
Lạy Chúa,
Trong thân phận con người, chúng ta không thể thoát khỏi khổ đau. Chúa đã nên giống chúng con trong mọi sự. Chúa đã trải qua đau khổ. Giữa những khổ đau, xin cho chúng con luôn cảm nhận được sự hiện diện của Chúa mọi nơi mọi lúc.

Thành Công Trong Cuộc Sống

Khi còn cắp sách đến trường, mỗi người đều có những mơ ước thật lớn lao và ngây ngô, tôi và bạn đều muốn làm những việc mà mình thích. Trước hết là để tự khẳng định mình và để người khác công nhận khả năng của mình. Điều đó chẳng có gì sai.

Nhưng các bạn biết không sau 1 năm tôi chạm tay vào cuộc sống này, tôi bắt đầu có những suy nghĩ khác. Tôi nhận ra cuộc đời này có quá nhiều những phức tạp, cạm bẫy và mưu mô và thật không dễ dàng để đạt được những điều mình thích. Tất cả đều phải được đánh đổi bằng sự nỗ lực, mồ hôi và cả nước mắt. Tôi bất mãn, mất niềm tin với mọi người và với chính mình. Tôi trở nên tự ty, thu mình với mọi người.

Tôi mất động lực, mất niềm say mê trong công việc. Nhưng từ khi tôi đọc được quyển sách đó, tôi đã thay đổi cách suy nghĩ của mình. Để không mất động lực, mỗi ngày tôi tự hỏi mình: "hôm nay cần phải làm những việc gì? Việc đó có cần thiết hay không?" và tôi dùng quỹ thời gian có được trong ngày để làm những việc mà mình đã hoạch định từ sáng sớm. Đền cuối ngày, trước khi đi ngủ, tôi tự kiểm điểm lại xem mình đã làm được những gì và chưa làm đựơc những gì, còn sai sót gì để tiếp tục hoàn thiện và cố gắng cho ngày mai. Và trong mỗi việc tôi làm, trong những môi trường làm việc khác nhau tôi tự tìm ra cho mình một idol. Tất nhiên là không phải để thần tượng họ, chiêm ngắm họ. Nhưng những idol này có nhiệm vụ làm cái đích của tôi. Tôi lấy họ là đích đến để tôi vươn lên bằng họ. Nói một cách khác tôi âm thầm cạnh tranh với họ.

Tất nhiên tôi cũng cần phải có những mục đích của tháng và của năm. Tôi thường đặt ra cho mình mục đích vào đầu mỗi năm và hoạch định mục tiêu cho từng tháng. Bằng cách đó mình sẽ không bị chệch hướng. Ví dụ, bạn đã 25 tuổi rồi, bạn có dự định lập gia đình với người bạn gái mình đang quen vào tuổi 27. Tức bạn còn 2 năm nữa để chuẩn bị cho tổ ấm của mình. Bạn cần những gì? Điều trước hết là phải thông bao cho bạn gái của mình vào một ngày đẹp trời, sau đó chọn ngày để 2 gia đình qua lại nói chuyện. và điều đầu tiên bạn cần nghĩ tới đó là tiền. Hãy cố gắng tích luỹ tiền lo cho gia đình nhỏ bé của mình. Tất nhiên không chỉ là cho cái đám cưới to đùng mà phải chuẩn bị cho cả một tổ ấm của mình. Có thể là mua đất, xây nhà, sắm đồ cho tiện nghi của gia đình... Hãy cùng nhau vạch ra những cái cần phải thực hiện và thực hiện cho bằng được.

Tôi không phải là người thành công nhưng những điều tôi viết trên đây rất có ích cho mỗi bạn trẻ. Nếu có thể hãy đóng góp thêm ý kiền để tôi đựơc học hỏi thêm.
May 2012
M T W T F S S
April 2012June 2012
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31