Subscribe to RSS feed

Zinédine Zidane

Zinédine Yazid Zidane (còn có biệt hiệu là Zizou); sinh ngày 23 tháng 6 năm 1972 tại Marseille, Pháp), là một cầu thủ bóng đá người Pháp, từng đưa đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp lên ngôi vô địch thế giới lần thứ nhất năm 1998. Anh được coi như một trong những cầu thủ xuất sắc nhất của mọi thời đại. Vào tháng 7 năm 2006, Zidane chính thức giã từ sự nghiệp cầu thủ với danh hiệu "Quả bóng vàng" của Giải vô địch bóng đá thế giới 2006, sau khi cùng đội tuyển Pháp đoạt danh hiệu Á quân. Anh là một trong 4 cầu thủ ghi bàn trong 2 trận chung kết World Cup. Ngoài ra Zidane còn để lại hình ảnh rất ấn tượng sau khi nhận thẻ đỏ trong trận chung kết vì húc đầu vào hậu vệ Marco Materazzi của đội tuyển Ý.


Tên đầy đủ Zinedine Yazid Zidane
Ngày sinh 23 tháng 6 năm 1972 (36 tuổi)
Nơi sinh Marseille, Pháp
Chiều cao 1,85 m
Vị trí Tiền vệ công (đã nghỉ)
CLB trẻ
1982–1983
1983–1987
1987–1988 US Saint-Henri
SO Septèmes-les-Vallons
AS Cannes
CLB chuyên nghiệp1
Năm CLB Số trận
(số bàn thắng)*
1988–1992
1992–1996
1996–2001
2001–2006 AS Cannes
Girondins Bordeaux
Juventus
Real Madrid 061 0(6)
135 (28)
151 (24)
155 (37)
Đội tuyển quốc gia
1991–2006 Pháp 108 (31)


Khởi đầu sự nghiệp tại Cannes

Zidane được sinh ra ở thành phố cảng Marseille của Pháp và là con trai trong một gia đình nhập cư gốc Algérie. Cha và mẹ của anh, Smail và Malika, đã di cư từ làng Aguemone thuộc vùng Kabylie của Algérie năm 1953 đến định cư ở Paris, trước khi chuyển đến Marseille một vài năm sau.

HLV Jean Varraud của đội bóng thành phố Cannes ngay lập tức bị cuốn hút khi thấy cậu bé 14 tuổi chơi bóng. Ông mời Zidane về AS Cannes. Và sau 6 tuần thử, Zidane được kí hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên trong cuộc đời.

Điều đáng tiếc là Zidane không được thi đấu cho đội bóng quê hương, đồng thời cũng là đội bóng anh ưa thích nhất: Olympique de Marseille. Kể cả sau khi thành danh rồi, anh vẫn khao khát được một lần được mặc chiếc áo trắng của Marseille.


Nhà của Zidane tại Aguemone (Algérie)

Zidane ra mắt ở giải hạng Nhất Pháp vào ngày 20 tháng 5 năm 1989 khi AS Cannes tiếp FC Nantes của Didier Deschamps và Marcel Desailly trên sân khách. Lúc đó, Zidane chưa đầy 17 tuổi. Đến ngày 8 tháng 2 năm 1991, anh ghi được bàn thắng đầu tiên và đội bóng “chịu hậu quả” cũng chính là Nantes. Phần thưởng cho bàn thắng đầu tiên là một chiếc ô tô do đích thân chủ tịch đã hứa tặng. Mùa bóng năm đó không thể thành công hơn với đội bóng thành phố biển. Họ được lên chơi ở cúp UEFA.

Tuy nhiên ngay năm sau, Cannes lại bị loại khỏi cúp UEFA, và nghiêm trọng hơn là họ bị xuống hạng.


Zidane luôn là thần tượng tại Pháp


Bước đệm ở Bordeaux

Zidane chuyển đến FC Girondins de Bordeaux vào mùa hè năm 1992 khi vừa tròn 20 tuổi. Anh đã ghi 10 bàn thắng trong mùa bóng đầu tiên và 6 bàn trong 3 mỗi mùa bóng kế tiếp và trở thành linh hồn của đội bóng.

Ở đây, với sự kết hợp của bộ tam hoàn hảo gồm Zidane, Bixente Lizarazu và Christophe Dugarry ở ba tuyến, Bordeaux đã đoạt được cup Intertoto để bước vào đấu trường châu Âu bằng “cửa hậu”.

Bordeaux đã hạ gục A.C. Milan 3-0 sau khi thúc thủ 0-2 ở trận lượt đi nhờ sự toả sáng của Zidane và Dugarry.

Trong trận tứ kết với Real Betis, Zidane sút tung lưới đội bóng TBN này bằng một cú nã đại bác kinh điển từ khoảng cách 40 m. Ở trận bán kết với Slavia Praha, anh trình diện làng bóng đá thế giới cú lừa bóng điệu nghệ theo kiểu xoay người 180 độ (roulettes) khiến cả giới túc cầu phải trầm trồ thán phục và nhiều cầu thủ sau đó đã bắt chước.

Ở trận chung kết lượt đi với “Hùm xám” Bayern München, Zidane bị treo giò. Đội bóng rượu vang không Zidane đã để thua 0-2 và sau đó để mất chiếc cup UEFA năm 1996 vào tay đối thủ.

Ngay năm 1995, đội ĐKVĐ Premiership Blackburn đã có ý định kí hợp đồng với Zidane. Chính HLV Kenny Dalglish công khai bày tỏ mong muốn có được Zidane và Dugarry trong đội hình. Thế mà khi đề nghị mua cầu thủ được đệ trình đến ông chủ của Blackburn là Jack Walker thì ông này tuyên bố một câu xanh rờn: "Việc gì phải kí hợp đồng với Zidane khi đội ta đã có… Tim Sherwood?"


Toả sáng tại Juventus

Nhưng các ông lớn của bóng đá châu Âu không mấy ai ngờ nghệch như Jack Walker cả. Năm 1996, Zidane chuyển đến Ý cho đội bóng ĐKVĐ Champions League Juventus FC với phí chuyển nhượng là 3 triệu bảng Anh. Anh đã cùng đội bóng giành Scudetto mùa 1996-97 và cúp Liên lục địa, nhưng lại thất bại trong trận CK C1 năm với tỉ số 1-3 trước Borussia Dortmund. Anh đã ghi được 7 bàn trong 32 trận để giúp Juventus giữ lại Scudetto mùa tiếp theo nhưng cũng lần thứ hai liên tiếp thúc thủ trong trận CK C1, lần này là trước Real Madrid.


Quả bóng Vàng châu Âu 1998 của ZizouJuventus thi đấu không thành công ở cúp C1 năm 2000 - 2001, còn Zidane thì phải lĩnh chiếc thẻ đỏ khi húc đầu vào Jochen Kientz của Hamburger SV. Chiếc thẻ đỏ này cộng với chiếc thẻ đỏ ở Serie A trước đỏ khiến Zidane mất khá nhiều điểm trong cuộc bầu chọn Quả bóng Vàng năm đó.


Chinh phục châu Âu với Real Madrid

Năm 2001, Zidane đã gia nhập "dải thiên hà" Real Madrid với 76 triệu euro, khoản phí chuyển nhượng tốn kém nhất trong lịch sử bóng đá trong một hợp đồng bốn năm.

Anh đã ghi được bàn thắng quyết định đem về cho Real chiếc cúp C1 thứ 9 và là chiếc cúp C1 đầu tiên của anh trong chiến thắng 2-1 trước Bayer Leverkusen năm 2002. Mùa tiếp theo, Zidane giúp CLB giành chức vô địch La Liga và anh lần thứ ba được FIFA bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới.

Ở Real lúc đó là cả một dải thiên hà với các sao sáng như Luís Figo, Roberto Carlos, David Beckham, Ronaldo, Raúl González… nhưng nhiều tờ báo cho rằng Zidane là khoảng 50 sức mạnh của Real.


Quả bóng Vàng châu Âu 1998 của Zizou

Năm 2004, người hâm mộ bình chọn anh là "Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu" trong vòng 50 năm qua thông qua một cuộc bỏ phiếu trên Internet. Cũng nhân dịp kỉ niệm 100 năm FIFA, anh được bầu chọn trong danh sách 100 cầu thủ tiêu biểu mọi thời đại của làng túc cầu (FIFA 100).

Zidane lập được cú hat-trick đầu tiên ở tuổi 33 trong chiến thắng 4-2 trước Sevilla FC, nhưng mùa bóng cuối cùng của Zidane ở Real đã "trắng tay". Vào ngày 7 tháng 5 năm 2006, Zidane chơi trận cuối cùng cho Kền kền trắng và cũng ghi được bàn thắng cuối cùng ở cấp độ CLB trong trận hoà 3-3 với Villarreal CF. Toàn đội bóng và CĐV đều mặc áo có đề "Zidane 2001-2006" để cảm ơn anh.

Zidane tuyên bố sẽ chính thức giải nghệ sau World Cup 2006.


Linh hồn của ĐT Pháp

Zidane có quốc tịch kép của cả Pháp và Algérie, và do đó có đủ điều kiện để chơi cho đội tuyển quốc gia Algérie, nhưng HLV Abdelhamid Kermali bị nhiều người cáo buộc là đã từ chối gọi Zidane vì ông cảm thấy chàng tiền vệ hói đầu này đá bóng khá… lề mề.

Ngày 17 tháng 8 năm 1994, anh lần đầu tiên được gọi vào ĐTQG khi 22 tuổi trước ĐT CH Czech trên chính sân Parc Lescure của Bordeaux. Anh vào sân ở phút 63 khi Pháp đang bị dẫn 0-2. Nhưng có Zidane trên sân, mọi thứ đã thay đổi. Anh ghi một cú đúp vào lưới đối thủ giúp Pháp có một trận hoà 2-2.

Từ đó, Zidane trở thành một cầu thủ không thể thiếu trong chiến lược trẻ hoá đội tuyển Pháp hướng tới World Cup 1998 của HLV Aimé Jacquet. Bất chấp mọi lời chỉ trích, Jacquet đặt tất cả niềm tin vào Zidane, Djorkaeff… và mạnh tay gạt bỏ những ngôi sao thành danh như Cantona, Ginola…

Euro 1996 là giải đấu quốc tế lớn đầu tiên của anh. Trong vai trò của tiền vệ kiến thiết, Zidane đã đưa ĐT Pháp lọt vào bán kết trước khi thúc thủ trước CH Czech trên chấm phạt đền. Tuy nhiên, đây là giải đấu mà anh và cả ĐT Pháp không để lại nhiều ấn tượng.

Đỉnh cao sự nghiệp của Zidane là chức vô địch thế giới năm 1998 với ĐT Pháp trên sân nhà. Tưởng chừng đó là một World Cup bỏ đi với anh khi ngay trong trận đấu bảng thứ 2, Zidane đã lĩnh thẻ đỏ trực tiếp khi đạp vào chân một hậu vệ của Arap Xêut. Thế nhưng, sau khi Pháp chật vật lọt qua vòng 2 bằng chiến thắng ở phút cuối cùng của hiệp phụ trước Paraguay, Zidane đã trở lại và toả sáng rực rỡ. Đỉnh điểm là hai cú tét đầu thành bàn trong trận CK với Brasil giúp Pháp lần đầu đăng quang. Zidane là ngôi sao của những thời khắc lịch sử.

Zidane tiếp tục thăng tiến với ĐT Pháp bằng chức vô địch Euro 2000. Pháp trở thành đội đầu tiên giữ cả hai chức vô địch thế giới và châu Âu kể từ khi Tây Đức vô địch vào năm 1974. Anh ghi một bàn thắng vào lưới Tây Ban Nha bằng cú sút phạt thần sầu, rồi bàn thắng vàng loại Bồ Đào Nha khỏi bán kết. Zidane được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất của Euro 2000.


Zidane trong màu áo Real Madrid

Trước kì World Cup 2002 diễn ra, Pháp thống lĩnh mọi danh hiệu của làng túc cầu. Và ngay cả những người hoài nghi nhất cũng phải thừa nhận họ là ứng cử viên số 1, là vô đối. Nhưng trước khi WC diễn ra đúng một tuần, Zidane dính chấn thương đùi trong trận giao hữu với Hàn Quốc. Vì thế, Zidane phải ngồi ngoài 2 trận đấu đầu tiên. Vắng anh, Pháp như bị mất hết sức mạnh và nhuệ khí và chịu thua 0-1 trước "đàn em" Sénégal rồi hoà không bàn thắng với Uruguay trong một trận cầu mà Thierry Henry phải lĩnh thẻ đỏ.

Dù chưa lành vết thương nhưng Zidane phải nén đau lết chiếc chân băng bó ra chơi trận đấu quyết định với Đan Mạch nhưng anh cũng không thể giúp gì cho đội Pháp đã rệu rã. Pháp kết thúc WC 2002 trong sự hổ thẹn khi về nước mà không ghi nổi một bàn thắng.

Ngày 12 tháng 6 năm 2004, sau khi Pháp bị Hy Lạp loại khỏi Euro 2004, Zidane tuyên bố từ giã sự nghiệp bóng đá quốc tế. Tuy nhiên, khi thấy đội Pháp quá chật vật với vòng loại World Cup 2006, theo lời mời của HLV Raymond Domenech, Zidane trở lại đội tuyển và ngay lập tức được trao chiếc băng đội trưởng. Với Zidane trở lại, Pháp thi đấu khởi sắc hẳn lên và lọt vào VCK World Cup.

Ngày 27 tháng 5 năm 2006, Zidane đạt được cột mốc 100 lần khoác áo ĐTQG trong chiến thắng 1-0 trước Mexico, trở thành người Pháp thứ tư đạt được điều này sau Marcel Desailly, Didier Deschamps và Lilian Thuram.

Sau khi bị phải ngồi ngoài đúng vào dịp sinh nhật lần thứ 34 trong trận cuối cùng của vòng bảng do đã lĩnh đủ 2 thẻ vàng, Zidane đã kiến tạo Patrick Vieira ghi bàn và tự mình ghi bàn “kết liễu” Tây Ban Nha vào phút 91 trong trận đấu vòng 2. Pháp gặp lại Brasil ở tứ kết. Và lão tướng 34 tuổi này đã làm lu mờ tất cả dàn sao của Brasil gồm cả Ronaldinho, Ronaldo, Robinho, Kaká... bằng những vũ điệu mê hồn để qua mặt các vũ công samba. Từ đường sút phạt của anh, Thierry Henry đã ghi bàn thắng quyết định đem về chiến thắng 1-0. Zidane được bầu chọn là Man of the Match.

Sau khi ghi bàn quyết định giúp Pháp loại BĐN ở bán kết, Zidane lại một lần nữa lập công trong trận CK World Cup bằng cú sút phạt penalty hất bóng kì diệu kiểu panenka. Tuy nhiên, anh đã bị truất quyền thi đấu ở phút thứ 110 của hiệp phụ thứ 2 sau khi húc đầu vào Matterazzi. Thiếu anh, một lần nữa, Pháp thúc thủ, nhưng lần này là trên chấm phạt đền oan nghiệt.

Tuy nhiên, sau đó, Zidane đã được trao giải thưởng “Quả bóng Vàng” World Cup.

Anh và các đồng đội được chào đón ở quê nhà như những người hùng. Chính Tổng thống Jacques Chirac ca ngợi Zidane là một “người đàn ông của nhiệt huyết”.

Tuy nhiên, vị “anh hùng” này vẫn phải chấp nhận hình phạt “lao động công ích” của FIFA trong một số hoạt động từ thiện sau đó, dù anh đã nghỉ hưu.


Những bàn thắng đáng nhớ nhất

Zidane lập cú đúp ngay trong lần đầu ra mắt ĐTQG trước CH Czech trong đó có một cú sút xa từ cự li khoảng 30m năm 1996.

Zidane đã ghi bàn thắng từ một cú vuốt bóng từ khoảng cách 40m (gần nửa sân) trong trận đấu với Betis tại cúp UEFA năm 1996.

Ngày 27/5 năm 1997, Zidane trở thành người ghi bàn thắng đầu tiên trên sân Stade de France.

Zidane lập cú đúp trong chung kết World Cup 1998 bằng hai cú đánh đầu. Anh cũng ghi bàn trong trận CK World Cup 2006. Zidane trở thành cầu thủ thứ tư trong lịch sử World Cup ghi bàn trong 2 trận CK World Cup, cùng với Pelé, Paul Breitner, và Vavá. Anh cũng cùng với Vavá, Pelé và Geoff Hurst là những cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất trong các trận CK World Cup với 3 bàn.

Zidane ghi “bàn thắng vàng” để loại BĐN ở BK Euro 2000.

Zidane đã tung một cú vô lê tuyệt đẹp từ khoảng cách 20 m làm tung lưới Bayer Leverkusen trong trận CK Champions League mùa 2001-2002. Đây được xem là một trong những siêu phẩm kinh điển nhất của làng túc cầu. Điều đáng nói là Zidane đã thực hiện cú sút bằng chân trái, không phải chân thuận của anh.

Zidane đã lập cú đúp vào lưới của ĐT Anh tại vòng CK Euro 2004, giúp Pháp lội ngược dòng thắng 2-1 chỉ trong chưa đầy vài phút bù giờ cuối cùng của trận đấu, trong đó có một cú sút phạt hàng rào mẫu mực ở phút 90 và một quả penalty thành công ở phút 93.


Những điểm đáng chú ý khác

Zidane đã sút hỏng penalty 1 lần duy nhất trong màu áo đội tuyển Pháp. Đó là trận giao hữu với ĐT Trung Quốc vào ngày 7/6/2006 tại St Etienne.
Zidane chưa bao giờ được khoác áo CLB Marseille, quê hương anh dù anh rất khao khát điều này. Anh cũng chưa bao giờ Vô địch nước Pháp cũng như chưa từng lên ngôi vô địch tại các Cúp quốc gia.
Zidane là cầu thủ duy nhất giành được giải thưởng «Cầu thủ xuất sắc nhất » trong cả World Cup (2006) và Euro (2000).

Zidane giữ kỉ lục về giải thưởng « Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới » của FIFA với 3 lần (1998, 2000 và 2003) (Ronaldo cũng có 3 lần)

Zidane đã sưu tập đủ cả Quả bóng Vàng, Bạc và Đồng của tạp chí Francefootball.
Zidane là một cầu thủ rất hiền nhưng khá nóng tính. Tính cả cuộc đời cầu thủ 18 năm, anh phải nhận tất cả 14 thẻ đỏ:
3 thẻ đỏ trong màu áo Bordeaux: ngày 18-9-1993 trong trận OM-Bordeaux, ngày 22-8-1995 trong trận Bordeaux-Karlsruhe, ngày 27-10-1995 trong trận Martigues-Bordeaux.

6 thẻ đỏ với Juventus: ngày 2-9-1996 trong trận Perugia-Juventus, ngày 5-1-1997 trong trận Parma-Juventus, ngày 25-10-1998 trong trận Juventus-Inter Milan, ngày 17-10-1999 trong trận AS Roma-Juventus, ngày 26-9-2000 trong trận Juventus-Deportivo, ngày 24-10-2000 trong trận Juventus-Hamburg.

3 thẻ đỏ với Real Madrid: ngày 11-2-2004 trong trận FC Sévilla-Real Madrid, ngày 1-5-2004 trong trận Deportivo-Real Madrid, ngày 23-5-2005 trong trận Real-Madrid-Villarreal.

2 thẻ đỏ với ĐT Pháp: ngày 18-6-1998 trong trận France-Saudi Arabia, ngày 9-7-2006 trong trận France-Italia. Với 2 chiếc thẻ đỏ trong hai kì World Cup, Zidane là cầu thủ phải nhận nhiều thẻ đỏ nhất trong lịch sử Cup thế giới (cùng Rigobert Song của Camơrun).

Cộng thêm 4 chiếc thẻ vàng trong các kì World Cup, Zidane là cầu thủ lĩnh nhiều thẻ phạt nhất Cúp thế giới (6 thẻ, bằng với Cafu của Brazil).

Zidane là cầu thủ thứ tư bị đuổi trong trận chung kết World Cup.


Cuộc sống cá nhân

Zidane khẳng định mình không theo đạo Hồi. Anh đã gặp ý trung nhân của mình, một vũ công người Pháp gốc Tây Ban Nha tên là Véronique Fernandez, trong khi đang chơi cho Cannes trong mùa 1991-92. Hai người đã có 4 con trai: Enzo, Luca, Théo et Elyaz Enzo và Luca Zidane hiện đang là thành viên của đội bóng thiếu niên Real Madrid Infantil B.

Zidane là một người kín đáo, hiền lành trong cuộc sống, rất tận tâm với gia đình.


Các đội đã và đang thi đấu

AS Cannes (1988-1992)
Bordeaux (1992-1996)
Juventus (tháng 7, 1996 giá 3 triệu bảng Anh- tháng 7, 2001)
Real Madrid (tháng 7, 2001 giá 47 triệu bảng Anh-2006)
Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp (1994-2004) (2005-2006)


Các danh hiệu

Với đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp
Giải vô địch bóng đá thế giới
Vô địch: 1998
Hạng nhì: 2006
Các lần tham dự khác: 2002
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Vô địch: 2000
Các lần tham dự khác: 1996, 2004

Với câu lạc bộ Juventus
Siêu cúp bóng đá châu Âu: 1996
Cúp bóng đá Liên lục địa: 1996
Vô địch bóng đá Ý: 1996/1997 và 1997/1998
Siêu cúp bóng đá Ý: 1997

Với câu lạc bộ Real Madrid
UEFA Champions League: 2001/2002
Cúp bóng đá Liên lục địa: 2002
Vô địch bóng đá Tây Ban Nha: 2002/2003


Các danh hiệu cá nhân

Huân chương Bắc đẩu Bội tinh (Légion d'honneur), 1998
Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất nước Pháp, 1994
Cầu thủ xuất sắc nhất World Cup 2006 (FIFA Golden Ball Award), 2006
Quả bóng Vàng châu Âu (Ballon d'or) 1998, Quả bóng Bạc 2000, Quả bóng Đồng 1997.
Onze vàng (Onze d'or), 1998, 2000, 2001
Onze bạc (Onze d'argent), 1997, 2002, 2003
Onze đồng (Onze de bronze), 1999
Cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử của châu Âu [do BBC trao tặng]
Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới (Quả bóng Vàng FIFA) 1998, 2000, 2003
Quả bóng bạc FIFA, 2006
Quả bóng Đồng FIFA, 1997, 2002
Cầu thủ xuất sắc nhất giải VĐQG Pháp, 1996
Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất Serie A, 1998, 2001
Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất La Liga, 2005
Cầu thủ xuất sắc nhất Euro 2000
Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết Champions League, 2002
Cầu thủ xuất sắc nhất Champions League, 2001-2002,
Cầu thủ xuất sắc nhất nước Pháp, 1998, 2002
Cầu thủ xuất sắc nhất của UEFA, 2002
Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu trong vòng 50 năm qua do UEFA trao tặng, thành viên của 100 huyền thoại sống vĩ đại nhất của bóng đá (FIFA100) , 2004
Vận động viên tiêu biểu nhất của nước Pháp do L'Équipe trao tặng, 1998
Cầu thủ xuất sắc nhất của World Soccer, 1998
Cầu thủ của năm của RSS, 1998
Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu do tạp chí El Pais (TBN) trao tặng , 1998, 2001, 2002, 2003
Đứng đầu trong số các nhân vật được yêu thích nhất nước Pháp, 2000, 2007
Cầu thủ thế kỉ của Pháp do L'Équipe bình chọn, 2000
Đại sứ thiện chí của LHQ, 2002
Kỉ niệm chương danh dự của UNFP 2007.










Thư Abraham Lincohn gửi thầy giáo

He will have to learn, I know,
that all men are not just,
all men are not true.
But teach him also that
for every scoundrel there is a hero;
that for every selfish Politician,
there is a dedicated leader...
Teach him for every enemy there is a friend,

Steer him away from envy,
if you can,
teach him the secret of
quiet laughter.

Let him learn early that
the bullies are the easiest to lick...
Teach him, if you can,
the wonder of books...
But also give him quiet time
to ponder the eternal mystery of birds in the sky,
bees in the sun,
and the flowers on a green hillside.

In the school teach him
it is far honourable to fail
than to cheat...
Teach him to have faith
in his own ideas,
even if everyone tells him
they are wrong...
Teach him to be gentle
with gentle people,
and tough with the tough.

Try to give my son
the strength not to follow the crowd
when everyone is getting on the band wagon...
Teach him to listen to all men...
but teach him also to filter
all he hears on a screen of truth,
and take only the good
that comes through.

Teach him if you can,
how to laugh when he is sad...
Teach him there is no shame in tears,
Teach him to scoff at cynics
and to beware of too much sweetness...
Teach him to sell his brawn
and brain to the highest bidders
but never to put a price-tag
on his heart and soul.

Teach him to close his ears
to a howling mob
and to stand and fight
if he thinks he's right.
Treat him gently,
but do not cuddle him,
because only the test
of fire makes fine steel.

Let him have the courage
to be impatient...
let him have the patience to be brave.
Teach him always
to have sublime faith in himself,
because then he will have
sublime faith in mankind.

This is a big order,
but see what you can do...
He is such a fine fellow,
my son!

---------------------------------------------------------------
---------------------------------------------------------------
---------------------------------------------------------------

on tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi một kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một con người chính trực; cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ có một nhà lãnh đạo tận tâm. Xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi một kẻ ghét bỏ ta thì ta lại có một người bạn.

Bài học này sẽ mất nhiều thời gian, tôi biết; nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng một đồng đô la kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với năm đôla nhặt được trên hè phố...
Xin thầy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cháu tránh xa sự đố kỵ.
Xin dạy cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ bị đánh bại nhất...
Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách... nhưng cũng cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ duy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.
Xin thầy dạy cho cháu biết rằng thà bị điểm kém vẫn hơn là gian lận trong thi cử.

Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người xung quanh đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm.
Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng với những người hòa nhã và cứng rắn với những kẻ thô bạo.
Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi biết tất cả mọi người đều chỉ biết chạy theo thời thế.
Xin hãy dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng xin thầy dạy cho cháu biết cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp...
Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã.
Xin hãy dạy cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt.
Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yếm thế và cẩn trọng trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.
Xin hãy dạy cho cháu rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình...
Xin hãy dạy cho cháu ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông đang gào thét... và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng...
Xin hãy đối xử dịu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện được một con người cứng rắn.
Xin hãy giúp cháu có được sự dũng cảm để không dung thứ sự sai trái, và giúp cho cháu có được sự bền chí để là người dũng cảm. Xin hãy dạy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân mình, bởi vì khi đó cháu sẽ luôn có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.
Đây quả là một yêu cầu quá lớn, tôi biết, thưa thầy. Nhưng xin thầy có gắng hết sức mình, nếu được vậy, con trai tôi quả thật là một cậu bé hạnh phúc và may mắn.

10 tổng thống điển trai nhất nước Mỹ


1. John F. Kennedy (1961-1963). Vị tổng thống từng đoạt giải báo chí Pulitzer có nụ cười hút hồn các cô gái trẻ. Ông trông đẹp trai và phong độ nhất ở độ tuổi 44.



2. Millard Fillmore (1850-1853). Vị tổng thống ít ai nhắc đến này gây ấn tượng bởi cặp mắt hút hồn. Ông cũng được ví như tài tử Hollywood Alec Baldwin.



3. Dwight D. Eisenhower (1953-1961). Từng là Chủ tịch trường đại học Columbia, vị tổng thống trẻ này còn gây thiện cảm bởi làm việc không mệt mỏi để chấm dứt căng thẳng trong Chiến tranh Lạnh.



4. Bill Clinton (1993-2001). Chính vẻ điển trai của tổng thống đã đẩy ông vào vụ scandal tình ái gây xôn xao nước Mỹ.



5. Ronald Reagan (1981-1989). Là một diễn viên Hollywood nên tổng thống có vẻ quyến rũ chết người.



6. Franklin Pierce (1853-1857). Dù góp phần đồ thêm dầu vào lửa trong cuộc nội chiến tại nước Mỹ, nhưng tổng thống vẫn chiếm được cảm tình bởi vẻ đẹp thư sinh.



7. Andrew Jackson (1829-1837). Nổi tiếng với sự hung dữ, tổng thống từng giết người trong cuộc đọ súng khi đối thủ nói điều không hay về vợ mình. Ông cũng đưa sự hiếu chiến của mình ra chiến trường và trở thành anh hùng khi đánh bại quân Anh ở New Orleans. Ngoài ra, trông ông còn giống ngôi sao điện ảnh Hugh Grant.



8. Thomas Jefferson (1801-1809). Được miêu tả là cao lêu nghêu và trông kỳ quặc, nhưng mái tóc vàng bồng bềnh cùng những đốm tàn nhang khiến ông trở nên quyến rũ trong mắt nhiều người. Ông còn là một luật sư, kiến trúc sư, nhà văn và là một nhà sáng chế.



9. Abraham Lincoln (1861-1865). Tổng thống nổi tiếng với vẻ trầm mặc bí ẩn, nhưng đằng sau sự buồn bã đó là một thiên tài với những bài thơ quyến rũ.



10. James K. Polk (1845-1849). Là một ngôi sao tỏa sáng tại Đại học North Carolina, tổng thống đã nổi tiếng với vẻ đẹp trai ngay từ thời đi học.

John F. Kennedy

John Fitzgerald Kennedy (29 tháng 5, 1917 – 22 tháng 11, 1963), thường được gọi là Jack Kennedy hay JFK, là tổng thống thứ 35 của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ (1961–1963). Sự kiện Kennedy bị ám sát vào ngày 22 tháng 11 năm 1963 là một bước ngoặt trong dòng lịch sử Hoa Kỳ vào thập niên 1960, khi khắp thế giới thương tiếc ông và các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia đã đi theo quan tài đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng.

Là chính khách trẻ tuổi nhất từng đắc cử tổng thống Hoa Kỳ (Theodore Roosevelt, ở tuổi 42, là chính trị gia trẻ tuổi nhất từng phục vụ trong cương vị tổng thống: vì là phó tổng thống đương chức, Roosevelt kế nhiệm tổng thống William McKinley bị ám sát vào tháng 9 năm 1901), Kennedy cũng là tổng thống trẻ tuổi nhất đã qua đời – ông sống được 46 năm và 177 ngày. Kennedy là tín hữu Công giáo La mã duy nhất trở thành ông chủ toà Bạch ốc, là ứng cử viên cuối cùng thuộc đảng Dân chủ đến từ một tiểu bang miền Bắc giành được thắng lợi trong một cuộc tuyển cử tổng thống, là tổng thống đầu tiên sinh ra trong thế kỷ 20, và cho đến nay ông là tổng thống sau cùng qua đời khi đương chức.

Các sự kiện chính trong nhiệm kỳ tổng thống của Kennedy gồm có: vụ khủng hoảng hỏa tiễn Cuba, xây dựng Bức tường Bá Linh, cuộc chạy đua thám hiểm không gian, giai đoạn đầu của Chiến tranh Việt Nam và Phong trào Dân quyền. Ông được xếp hạng cao trong các cuộc thăm dò về uy tín của các tổng thống, nhưng Kennedy qua đời khi các dự định chính trị của ông đang còn dang dở. Người kế nhiệm, Lyndon B. Johnson, đã hoàn tất tốt các chính sách về dân quyền khởi xướng bởi Kennedy.



Thứ tự Tổng thống thứ 35
Nhiệm kỳ 20 tháng 1, 1961 – 22 tháng 11, 1963
Tiền nhiệm Dwight D. Eisenhower
Kế nhiệm Lyndon B. Johnson
Ngày sinh: 29 tháng 5, 1917
Nơi sinh Brookline, Massachusetts
Ngày mất 22 tháng 11 năm 1963 (46 tuổi)
Nơi mất Dallas, Texas
Phu nhân Jacqueline Lee Bouvier Kennedy
Đảng Dân chủ


Thời thơ ấu và học vấn

Kennedy chào đời ngày 29 tháng 5 năm 1917 tại Brooklin, Massachusetts, con trai của Joseph P. Kennedy, Sr. và Rose Fitzgerald. Kennedy đến học tại trường Choate, một trường tư dành cho giới thượng lưu, tại Connecticus. Từ năm 1929 đến 1931, John gia nhập Phong trào Hướng đạo tại Bronxville để trở thành hướng đạo sinh đầu tiên đảm nhận chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ[1]. Trước khi vào đại học, John dành một năm tại Học Viện Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn (LSE) chuyên ngành kinh tế chính trị. Mùa thu năm 1935, cậu theo học tại Đại học Princeton, nhưng buộc phải nghỉ học suốt mùa Giáng sinh vì mắc bệnh hoàng đản. Mùa thu năm sau, John nhập học tại Đại học Harvard. Trong thời gian theo học tại Harvard, John sang Âu châu hai lần, đến thăm Anh, nơi cha của cậu đang phục vụ trong cương vị đại sứ Hoa Kỳ tại vương quốc đó. Do sai lầm trong điều trị, năm 1937 Kennedy được cho dùng steroid để chữa bệnh viêm thành ruột kết (colitis), nhưng loại dược phẩm này đã làm phát triển căn bệnh loãng xương tại cột sống vùng thắt lưng của Kennedy.

Tại Harvard, học lực của Kennedy được xếp vào hạng trung bình, hầu hết là loại B và C, môn sử năm thứ hai chỉ được điểm D, và chưa hề có điểm A. Kennedy tốt nghiệp với văn bằng chuyên ngành quan hệ quốc tế tháng 6 năm 1940. Luận văn của Kennedy, Why England Slept (Tại sao nước Anh ngủ mê), được xuất bản năm 1940 với sự hỗ trợ từ người cha giàu có và quyền thế, trở thành một trong các sách bán chạy nhất lúc đó (với 30.000 ấn bản được mua và chất đống trên gác xếp tại gia trang của gia đình Kennedy ở Hyannisport)

Quân ngũ

Mùa xuân năm 1941, Kennedy tình nguyện gia nhập Lục quân Hoa Kỳ, nhưng bị từ chối vì những sang chấn ở lưng. Hải quân Hoa Kỳ chấp nhận Kennedy vào tháng 9 năm ấy. Sau khi giữ một vài chức vụ chỉ huy tại chiến trường Thái Bình Dương, Kennedy được phong quân hàm đại uý hải quân và được giao chỉ huy một thuyền tuần tiễu cao tốc có trang bị ngư lôi (chiếc PT-109).

Ngày 2 tháng 8 năm 1943, khi đang tham dự một cuộc tấn công ban đêm gần Quần đảo Solomon, Khu trục hạm Amagiri của quân đội Nhật đâm thủng chiếc PT-109 của Kennedy, cắt nó làm đôi và giết chết hai người trong thủy thủ đoàn. Kennedy bị ném qua khỏi boong tàu, gây chấn thương vùng lưng vốn đã thương tật của ông. Dù vậy, Kennedy vẫn cố xoay xở để giúp một đồng đội đang bị thương, và hướng dẫn những người sống sót bơi ba dặm dài trên biển, đến được một hoang đảo. Tại đó, cuối cùng họ được cứu thoát.

Đầu năm 1945, Kennedy được giải ngũ trong danh dự với các loại huân chương, chỉ vài tháng trước khi Nhật đầu hàng Đồng minh.

Tham Chính

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Kennedy bắt đầu tham gia chính trường (một phần là để thế vào chỗ trống để lại bởi cái chết của người anh, Joseph P. Kennedy, Jr., được cả Gia tộc Kennedy đặt nhiều kỳ vọng). Năm 1946, khi James Michael Curley rời bỏ ghế dân biểu tại một hạt bầu cử có đông cử tri ủng hộ đảng Dân chủ để đảm nhiệm chức vụ thị trưởng thành phố Boston, Kennedy quyết định ra tranh cử và đánh bại đối thủ thuộc Đảng Cộng hòa với kết quả sít sao. Sau đó, ông tái đắc cử hai lần.

Năm 1952, Kennedy ra tranh ghế thượng nghị sĩ với khẩu hiệu "Kennedy sẽ làm nhiều hơn cho Massachusetts." Ông bước vào thượng viện sau khi đánh bại thượng nghị sĩ đương nhiệm thuộc đảng Cộng hòa Henry Cabot Lodge, Jr. với cách biệt 70.000 phiếu. Tại đây, Kennedy khôn khéo né tránh không chỉ trích chiến dịch chống Cộng sản và săn đuổi gián điệp Xô viết trong chính quyền gây nhiều bất bình và tranh cãi của thượng nghị sĩ Joseph McCarthy. Có lẽ vì McCarthy đang được yêu chuộng tại Massachusetts, và vì McCarthy là bạn của ông, của cha ông, đang hẹn hò với các em gái của ông và em trai ông, Robert F. Kennedy, có một thời gian ngắn làm việc cho McCarthy. Mặc dù Kennedy, vì bệnh tật, vắng mặt khi thượng viện biểu quyết 65 – 22 phiếu khiển trách McCarthy, Kennedy vẫn bị chỉ trích bởi những người chống McCarthy như Eleanor Roosevelt "lẽ ra ông (Kennedy) nên tỏ ra can đảm hơn, thay vì chỉ lo bảo toàn sự nghiệp chính trị của mình".

Ngày 12 tháng 9 năm 1953, Kennedy kết hôn với Jacqueline Bouvier. Trong hai năm sau đó, Kennedy phải chịu giải phẫu cột sống vài lần, kề cận với cái chết (suốt cuộc đời mình, ông đã bốn lần chịu lễ xức dầu thánh – thánh lễ dành cho người hấp hối – theo nghi thức Công giáo), và thường xuyên vắng mặt tại thượng viện vì bệnh tật. Trong thời gian này, Kennedy cho xuất bản Profiles in Courage (Gương can đảm nơi Nghị trường), tôn vinh bảy thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đã dám chấp nhận những tổn thất trong sự nghiệp chính trị để bảo vệ niềm tin của mình. Tác phẩm này được trao tặng Giải thưởng Pulitzer năm 1957 cho thể loại tiểu sử.

Năm 1956, Kennedy vận động Đại hội toàn quốc đảng Dân chủ cho vị trí ứng cử viên phó tổng tống, song đại hội chọn thượng nghị sĩ Estes Kefauver từ tiểu bang Tennessee thay vì Kennedy. Dù vậy, những nỗ lực này đã giúp củng cố tiếng tăm của vị thượng nghị sĩ trẻ tuổi trong vòng Đảng Dân chủ.

Tranh cử tổng thống

Năm 1960, Kennedy công bố ý định ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Trong kỳ tuyển cử sơ bộ của đảng Dân chủ, ông đối đầu với các thách thức từ thượng nghị sĩ Hubert H. Humphrey từ Minnesota, thượng nghị sĩ Lyndon B. Johnson từ Texas, và Adlai Stevenson, ứng viên đảng Dân chủ năm 1952 và năm 1956, người không chính thức ra tranh cử nhưng tỏ ra là một ứng viên tiềm năng đang được ưa thích. Kennedy thành công trong các cuộc bầu cử sơ bộ như tại Wisconsin và West Virginia, sau cùng dành được sự đề cử của Đại hội toàn quốc đảng Dân chủ năm 1960.

Bất kể những xung đột xảy ra trong các cuộc bầu cử sơ bộ, Kennedy chọn Johnson cho liên danh của mình, vì ông cần đến ảnh hưởng của Johnson tại miền Nam để có thể chiến thắng trong cuộc bầu cử có kết quả sít sao nhất kể từ năm 1916. Những chủ đề chính trong cuộc tuyển cử này là kế hoạch kích thích nền kinh tế, đức tin Công giáo của Kennedy, Cuba và những tranh cãi liệu xem trong lãnh vực không gian và hỏa tiễn, Xô viết đã vượt qua Hoa Kỳ chưa.

[img]
John và Jackie Kennedy vận động tranh cử tại Appleton, Wisconsin tháng 3, 1960.

Tháng 9 và tháng 10, lần đầu tiên cử tri Mỹ có thể theo dõi trên màn ảnh truyền hình các cuộc tranh luận giữa hai ứng viên tổng thống, Kennedy thuộc đảng Dân chủ và Richard M. Nixon thuộc đảng Cộng hòa. Suốt trong các cuộc tranh luận, Nixon trông có vẻ căng thẳng, toát mồ hôi và không cạo râu, trái với hình ảnh của Kennedy, thanh lịch và điềm tĩnh, khiến nhiều người nghĩ rằng Kennedy là người chiến thắng, mặc dù theo các sử gia, xét về khả năng biện luận, cả hai ngang điểm nhau. Cũng nên biết, những người theo dõi các cuộc tranh luận qua sóng phát thanh cho rằng Nixon tỏ ra có ấn tượng hơn.

Vào ngày bầu cử, 8 tháng 11 năm 1960, Kennedy thắng hơn Nixon với sự cách biệt rất sít sao, dù có các cáo buộc cho rằng những gian lận phiếu tại Texas và Illinois đã cướp chiếc ghế tổng thống khỏi tay Nixon.

Nhà Trắng

Ngày 20 tháng 1 năm 1961, Kennedy tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ. Trong bài diễn văn nhậm chức, Kennedy kêu gọi người dân Mỹ hãy trở nên những công dân tích cực, "Đừng bao giờ hỏi đất nước có thể làm gì cho chúng ta, nhưng hãy tự hỏi chúng ta có thể làm gì cho đất nước" (Ask not what your country can do for you, ask what you can do for your country). Ông cũng kêu gọi các quốc gia trên thế giới hợp tác với nhau để cùng chiến đấu chống lại điều ông gọi là "những kẻ thù chung của nhân loại ... độc tài, nghèo khổ, bệnh tật và chiến tranh".

Đối Ngoại


Hội kiến với Nikita Khrushchev năm 1961.

Ngày 17 tháng 4 năm 1961, Kennedy ra lệnh tiến hành kế hoạch xâm lăng Cuba. Với sự trợ giúp của CIA, trong cái gọi là cuộc xâm lăng vịnh con heo, 1.500 người tị nạn Cuba được huấn luyện tại Hoa Kỳ thuộc "Lữ đoàn 2506", quay lại đảo quốc với hi vọng sẽ lật đổ Fidel Castro. Nhưng CIA đã thẩm định sai tinh thần đề kháng của người dân Cuba, cùng một số sai lầm trong khi tiến hành cuộc xâm lăng, đã khiến kế hoạch trở thành một thất bại thảm hại. Ngày 19 tháng 4, hầu hết những người đổ bộ lên đảo hoặc bị giết hoặc bị bắt giữ, và Kennedy buộc phải thương thảo để 1189 người được trả tự do. Đây là một vết ố trong chính sách đối ngoại của chính phủ Kennedy, nhưng tổng thống đã nhận hoàn toàn trách nhiệm về phần mình.

Ngày 13 tháng 8 năm 1961, chính quyền Đông Đức bắt đầu cho xây dựng bức tường Berlin phân cách Đông Berlin khỏi khu vực phía tây của thành phố vì cớ sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại khu vực này. Kennedy không tiến hành biện pháp nào để tháo dỡ bức tường và hành động rất ít để đảo ngược hoặc ngăn chặn việc xây dựng kéo dài bức tường đến 155 km.

Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba bắt đầu vào ngày 14 tháng 10 năm 1962 khi máy bay thám thính U-2 của Hoa Kỳ chụp ảnh địa điểm hỏa tiễn đạn đạo tầm trung đang được xây dựng tại Cuba. Kennedy bị đặt vào một tình thế nan giải: nếu Hoa kỳ tấn công địa điểm đặt hỏa tiễn, chiến tranh hạt nhân có thể bùng nổ. Nếu không làm gì để đối phó với hiểm họa vũ khí hạt nhân đang cận kề, và nếu bị tấn công trước, Hoa Kỳ sẽ không có khả năng trả đũa. Một mối lo nữa là ảnh hưởng của Hoa Kỳ đang suy yếu tại Tây Bán Cầu. Nhiều viên chức quân sự và thành viên nội các gây áp lực nhằm tiến hành một cuộc tấn công bằng không lực vào các địa điểm này, nhưng Kennedy ra lệnh mở một cuộc phong tỏa bằng hải quân và bắt đầu đàm phán với Liên Xô. Thay vì từ "phong tỏa", từ "cách ly" được dùng để miêu tả sự việc, vì theo định nghĩa của công pháp quốc tế, phong tỏa là một hành động chiến tranh. Một tuần sau đó, Kennedy và nhà lãnh đạo Xô viết, Thủ tướng Nikita Sergeyevich Khrushchyov, tiến tới một thỏa hiệp, theo đó Khrushchov đồng ý gỡ bỏ các hỏa tiễn nếu Hoa Kỳ cam kết không xâm lăng Cuba, và thỏa thuận ngầm gỡ bỏ hỏa tiễn đạn đạo của Hoa Kỳ tại Thổ Nhĩ Kỳ trong vòng sáu tháng. Biến cố này, đem toàn thế giới đến gần với nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh hạt nhân hơn bao giờ hết, đã giúp Kennedy học biết dè dặt hơn khi đối đầu với Liên bang Xô viết. Và cam kết không bao giờ xâm lăng Cuba vẫn được tôn trọng cho đến ngày nay – năm 2008.

Một trong những nỗ lực nhằm thể hiện niềm tin của Kennedy vào sức mạnh của thiện chí hòa bình với mục đích cải thiện thế giới là việc thành lập Đoàn hòa bình (Peace Corps), một trong những hành động đầu tiên của ông với tư cách tổng thống. Qua chương trình này, vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay, các nhân viên thiện nguyện tìm đến các quốc gia kém phát triển để giúp đỡ người dân tại đó trong các lĩnh vực như giáo dục, nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe và xây dựng.


Kennedy họp với Nội các khi đang xảy ra cuộc Khủng hoảng Hỏa tiển Cuba, 29 tháng 10 năm 1962.

Lo ngại về những hiểm họa lâu dài của tình trạng ô nhiễm phóng xạ và việc phổ biến vũ khí hạt nhân, Kennedy thúc đẩy việc thông qua Thỏa ước cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân bán phần, theo đó các cuộc thử nghiệm trên mặt đất, trong bầu khí quyển, dưới nước bị cấm, nhưng không cấm các vụ thử nghiệm dưới lòng đất. Hoa Kỳ, Anh và Liên bang Xô viết là những nước đầu tiên đặt bút ký thỏa ước này. Kennedy ký ban hành thỏa ước tháng 8 năm 1963. Kennedy tin rằng đây là một trong những thành quả lớn nhất của chính phủ ông

Đối nội

Kennedy sử dụng thuật ngữ "Biên giới mới" (New Frontier) cho chính sách đối nội của mình. Với nhiều tham vọng, chương trình này hứa hẹn cung cấp ngân sách liên bang cho các đề án giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho người già, và chính phủ sẽ can thiệp để kìm hãm đà suy thoái. Kennedy cũng cam kết chấm dứt nạn kỳ thị chủng tộc.

Nỗ lực chấm dứt nạn kỳ thị chủng tộc là một trong những vấn đề thúc bách nhất của chính phủ Kennedy. Năm 1954 Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ ra phán quyết chấm dứt tình trạng phân cách học sinh da trắng và da màu tại các trường công lập. Dù vậy, vẫn còn nhiều trường học, đặc biệt tại các tiểu bang miền Nam không chịu tuân theo phán quyết, cũng tiếp tục diễn ra nhiều hành vi kỳ thị trên xe buýt, trong nhà hàng, rạp chiếu phim và những nơi công cộng khác.

Hàng ngàn người Mỹ thuộc các chủng tộc và thành phần xã hội khác nhau hiệp lại để bày tỏ sự phản kháng đối với tệ nạn này. Kennedy ủng hộ việc hòa hợp chủng tộc và bảo vệ dân quyền. Sự kiện Kennedy gọi điện thoại đến để an ủi và bày tỏ sự cảm thông với bà Coretta Scott King, vợ của Mục sư Martin Luther King, Jr. đang bị giam giữ, trong khi diễn ra chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1960 đã mang đến cho ông sự ủng hộ từ nhiều cử tri. Nhờ sự can thiệp của John và Robert Kennedy mà King sớm được trả tự do. Tuy nhiên, sau khi đắc cử, Kennedy cho rằng phong trào dân quyền chỉ gây ác cảm đối với người da trắng miền Nam, vì vậy tiến trình thông qua luật dân quyền sẽ gặp nhiều khó khăn tại Quốc hội (đang dưới quyền kiểm soát của đảng viên Dân chủ miền Nam), ông xa lánh phong trào, khiến nhiều nhà lãnh đạo phong trào dân quyền tin rằng Kennedy không chịu ủng hộ những nỗ lực của họ.

Tháng 6 năm 1963, Kennedy buộc phải can thiệp khi George Wallace, thống đốc tiểu bang Alabama ngăn cản hai sinh viên da đen, Vivian Malone và James Hood, ghi danh theo học tại Đại học Alabama. Cuối cùng, khi phải đối đầu với vệ binh liên bang, Thứ trưởng bộ Tư pháp Nicholas Katzenbach và vệ binh quốc gia tại Alabama, George Wallace chịu nhượng bộ. Ngay tối hôm đó, Kennedy đọc bài diễn văn nổi tiếng về vấn đề nhân quyền được phát sóng trên các chương trình truyền hình và truyền thanh toàn quốc, đưa ra những phác thảo về sau trở thành Đạo luật Dân quyền năm 1964.

Trong khuôn khổ chính sách đối nội, năm 1963 Kennedy đệ trình dự luật cải cách thuế, bao gồm việc cắt giảm thuế lợi tức, nhưng dự luật này không được thông qua tại quốc hội cho đến năm 1964, sau khi ông bị ám sát. Đây là một trong những đề án cắt giảm thuế lớn nhất trong lịch sử hiện đại Hoa Kỳ, vượt qua cả luật cắt giảm thuế của Ronald Reagan năm 1981.

Chương trình không gian



Tổng thống Kennedy nhìn vào phi thuyền Friendship 7, 23 tháng 2, 1962, Cape Canaveral, Florida.

Kennedy rất tha thiết với mục tiêu đặt Hoa Kỳ vào vị trí dẫn đầu trong cuộc chạy đua chinh phục không gian. Liên bang Xô viết đã dẫn trước Hoa Kỳ trong lãnh vực thám hiểm không gian và Kennedy quyết tâm bám đuổi. Ông đã nói "Không một quốc gia nào muốn lãnh đạo các quốc gia khác lại chịu đứng đằng sau trong cuộc đua chinh phục không gian" và "Chúng ta chọn đi lên Mặt Trăng và tiến hành những chương trình khác không phải vì đây là những việc dễ làm, nhưng bởi vì đây là những sứ mạng khó khăn". Kennedy yêu cầu quốc hội chuẩn chi hơn 22 tỷ đô la cho Đề án Apollo, với mục tiêu đưa người lên Mặt Trăng trước khi chấm dứt thập niên 1960. Năm 1969, sáu năm sau khi Kennedy chết, mục tiêu này được hoàn thành khi Neil Armstrong và Buzz Aldrin trở thành những người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng.

Hình ảnh, đời sống xã hội và gia đình

So sánh với các đệ nhất phu nhân và các tổng thống tiền nhiệm, Kennedy và vợ ông, “Jackie”, còn rất trẻ. Cả hai đều được yêu thích đặc biệt, theo cung cách dành cho các ca sĩ nhạc pop hoặc ngôi sao điện ảnh hơn là cho giới chính khách, làm ảnh hưởng đến các khuynh hướng thời thượng và trở nên mục tiêu săn ảnh của các tạp chí đang đắt hàng.

Gia đình Kennedy đem đến Tòa Bạch Ốc một sức sống mới. Họ tin rằng Tòa Bạch Ốc là địa điểm nên được dùng để tán dương những thành quả của nền văn hóa và lịch sử Hoa Kỳ. Họ mời các họa sĩ, nhà văn, khoa học gia, nhà thơ, nhạc sĩ, diễn viên, những người nhận giải Nobel và các vận động viên đến thăm Tòa Bạch Ốc. Jacqueline Kennedy cũng sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật và trang trí nội thất, dần dần cho trùng tu các phòng ốc trong tòa nhà.


John F. Kennedy với vợ, Jacqueline, và các con, năm 1962.

Với hai con nhỏ, Caroline và John Jr. (thường được gọi là "John John"), gia đình Kennedy biến Tòa Bạch Ốc thành một nơi trẻ trung và vui thú. Bên ngoài, trên sân cỏ của Tòa Bạch Ốc, gia đình Kennedy cho xây dựng một nhà trẻ, một hồ bơi và một ngôi nhà trên cây.

Nhưng bên dưới bề mặt hào nhoáng, rực rỡ là những nỗi đau đến từ các thảm họa cá nhân, đáng kể nhất là cái chết của con trai, Patrick Bouvier Kennedy, vào tháng 8 năm 1963, khi chỉ là một bé sơ sinh.

Sau khi chết, những bí mật về những mối quan hệ ngoài hôn nhân với các nhân viên và khách viếng thăm Tòa Bạch Ốc khi Kennedy còn đương chức dần dần được khơi mở. Vào lúc ấy, những vấn đề như thế được xem là không thích hợp nếu đem phơi bày trước công luận, vì vậy, trong trường hợp của Kennedy, chúng không bao giờ được tiết lộ cho công chúng khi ông còn sống, ngay cả khi có những chỉ dấu công khai về mối quan hệ với Marilyn Monroe, theo như cách người nữ diễn viên rất được yêu thích này hát ca khúc Happy Birthday Mr. President tại tiệc chiêu đãi sinh nhật của Kennedy được truyền hình vào tháng 5 năm 1962. Sau cái chết của Kennedy, nhiều điều được tiết lộ, trong đó có mối quan hệ của ông với Judith Campbell Exner, người phụ nữ này cùng lúc có mối quan hệ với một ông trùm Mafia tại Chicago, Sam Giancana.

Kennedy được chọn vào vị trí thứ ba (sau Martin Luther King, Jr. và Mẹ Teresa) trong danh sách những nhân vật được ngưỡng mộ nhất trong thế kỷ 20 của Gallup.

Bị ám sát


JFK, Jackie, và Connally trên chiếc limousine của tổng thống trước khi xảy ra vụ ám sát.

Ngày 22 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Kennedy bị ám sát tại thành phố Dallas, tiểu bang Texas lúc 12:30 giờ trung tâm (CST) khi đang thăm viếng tiểu bang này. Lee Harvey Oswald, lúc 7:00 bị buộc tội giết một cảnh sát Dallas, lúc 11:30 bị buộc tội giết tổng thống (vào thời ấy không có cáo buộc ám sát tổng thống). Chỉ hai ngày sau, Oswald bị Jack Ruby bắn chết ngay tại đồn cảnh sát Dallas. Năm ngày sau khi Oswald bị giết, tân Tổng thống Lyndon B. Johnson thành lập Ủy hội Warren, dưới sự lãnh đạo của Chánh án Tòa Tối cao Earl Warren, tiến hành điều tra vụ ám sát. Cả Ủy hội Warren và Ủy ban Hạ viện điều tra vụ ám sát đều đưa ra kết luận Oswald là thủ phạm. Dù vậy, những người chỉ trích cho rằng Oswald hoặc không hành động một mình hoặc không dính líu gì hết vào vụ ám sát, Oswald là nạn nhân của một vụ dàn xếp, và vụ ám sát xảy ra theo những âm mưu trái ngược với những kết luận chính thức.

Di sản

"My fellow Americans: ask not what your country can do for you--ask what you can do for your country.

My fellow citizens of the world: ask not what America will do for you, but what together we can do for the freedom of man."


— Lời phát biểu nổi tiếng của JFK nhân ngày lễ nhậm chức 20 tháng 1, 1961 tại thủ đô Washington, D.C.

những người bạn Hoa Kỳ của tôi: đừng hỏi đất nước của bạn sẽ làm gì cho bạn -- hỏi rằng bạn đã làm gì cho đất nước của mình.
Các bạn công dân thế giới của tôi: đừng hỏi nước Mỹ sẽ làm gì cho bạn, mà hỏi chúng ta có thể cùng nhau làm gì cho tự do của nhân loại.

Truyền hình trở nên nguồn thông tin chủ đạo giúp dân chúng theo dõi các diễn biến của vụ ám sát, trong khi báo chí tỏ ra lạc hậu vì không thể cung ứng cho độc giả tin tức cập nhật. Lần đầu tiên mạng lưới truyền hình Hoa Kỳ phát sóng 24 giờ mỗi ngày. Công chúng Hoa kỳ và các nơi khác trên thế giới đã chứng kiến trực tiếp tang lễ Kennedy và diễn biến vụ hạ sát Lee Harvey Oswald. Nhờ những biến cố lịch sử này mà công nghệ truyền hình vươn vai trưởng thành để trở nên nguồn thông tin cạnh tranh với các nhật báo.


Phần mộ của Kennedy tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington.

Ngày 14 tháng 3 năm 1967, thi thể của Kennedy được đưa về an nghỉ vĩnh viễn tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, Adlai Stevenson nói về vụ ám sát "tất cả chúng ta ... sẽ mang nỗi đau vì cái chết của Kennedy cho đến ngày cuối cùng của đời mình". Kennedy an nghỉ cùng với vợ và các con đã chết, còn Robert, em trai ông, thì được chôn gần đó. Mộ của ông được đánh dấu bởi "Ngọn lửa Vĩnh hằng".

Mặc dù thời gian ngắn ngủi của Kennedy tại tòa Bạch ốc, và dù trong nhiệm kỳ tổng thống của ông không có đạo luật quan trọng nào được thông qua, Kennedy vẫn được xem là một trong những tổng thống vĩ đại nhất của Hoa Kỳ.

Hình ảnh của Kennedy được lưu giữ trong nhiều khía cạnh của văn hóa Hoa Kỳ. Ngày 24 tháng 12 năm 1963, Phi trường quốc tế Idlewild tại New York được đổi tên thành Phi trường Quốc tế John F. Kennedy; ngày 30 tháng 4 năm 1964, một hàng không mẫu hạm được đặt tên USS John F. Kennedy. Năm 1979, Thư viện John Fitzgerald Kennedy khánh thành. Đại học John F. Kennedy được khai giảng tại Pleasant Hill, tiểu bang California năm 1964. Chân dung của Kennedy cũng xuất hiện trên đồng tiền mệnh giá nửa đô la.

Phê phán

Dù thuộc trong số các tổng thống được yêu thích nhất tại Hoa Kỳ, những người chỉ trích Kennedy cho rằng tiếng tăm dành cho ông là không xứng đáng. Dù là một tổng thống trẻ tuổi và có sức thu hút lớn, Kennedy không có nhiều cơ hội để đạt được nhiều thành quả trong nhiệm kỳ tổng thống của mình. Theo cách lý luận này, tình cảm lớn lao công chúng dành cho Kennedy xuất phát từ sự kiện nhiệm kỳ ngắn ngủi của ông được đánh dấu bởi sự khởi đầu đầy lạc quan với nhiều chương trình hành động được cho là sẽ mang nhiều lợi ích đến cho nước Mỹ, dân chúng và các vấn đề toàn cầu. Đạo luật dân quyền được trình Quốc hội vào năm 1963, một phần là được hình thành bởi em trai ông, Bộ trưởng Tư pháp Robert F. Kennedy, và được thi hành bởi người kế nhiệm, Tổng thống Lyndon Johnson, năm 1964.



Đời tư của Kennedy thu hút sự quan tâm của những người chỉ trích ông. Họ cho rằng những lầm lẫn trong việc thẩm định đời tư sẽ dẫn đến những phán đoán sai lệch về sự nghiệp chính trị của ông. Nhiều chỉ trích bắt nguồn từ những tiết lộ về mức độ gia đình Kennedy che giấu cử tri nước Mỹ những thông tin về các vấn đề cá nhân như tình trạng nghiêm trọng các căn bệnh Kennedy mắc phải (chúng có thể đe dọa tính mạng ông như bệnh Addison), chế độ điều trị với liều lượng cao, những quan hệ ngoài hôn nhân trong thời gian dài, và những nghi vấn về những dính líu đến các nhân vật thuộc các tổ chức tội phạm. Seymour Hersh trong Dark Side of Camelot (Mặt trái của Camelot), 1998, đã đưa ra những lập luận như trên. An Unfinished Life (Cuộc đời dang dở), 2003, của Robert Dallek là một sách tiểu sử với quan điểm quân bình hơn, cũng chứa đựng nhiều chi tiết liên quan đến sức khỏe của Kennedy.

Time 100: Các nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ 20

Những nhà lãnh đạo và những nhà cách mạng

* David Ben-Gurion
* Hồ Chí Minh
* Winston Churchill
* Mohandas Gandhi
* Mikhail Sergeyevich Gorbachyov
* Adolf Hitler
* Martin Luther King
* Ayatullah Ruhollah Khomeini
* Vladimir Ilyich Lenin
* Nelson Mandela
* Giáo hoàng John Paul II
* Ronald Reagan
* Eleanor Roosevelt
* Franklin D. Roosevelt
* Theodore Roosevelt
* Margaret Thatcher
* Unknown Rebel
* Margaret Sanger
* Lech Walesa
* Mao Trạch Đông


Những người nổi tiếng trong thế giới nghệ thuật và giải trí

* Louis Armstrong
* Lucille Ball
* The Beatles
* Marlon Brando
* Coco Chanel
* Charlie Chaplin
* Le Corbusier
* Bob Dylan
* T.S. Eliot
* Aretha Franklin
* Martha Graham
* Jim Henson
* James Joyce
* Pablo Picasso
* Rodgers và Hammerstein
* Bart Simpson
* Frank Sinatra
* Steven Spielberg
* Igor Stravinsky
* Oprah Winfrey


Những nhà xây dựng và những nhà sáng tạo

* Stephen Bechtel
* Leo Burnett
* Willis Carrier
* Walt Disney
* Henry Ford
* Bill Gates
* Amadeo Giannini
* Ray Kroc
* Estée Lauder
* William Levitt
* Lucky Luciano
* Louis B. Mayer
* Charles Merrill
* Morita Akio
* Walter Reuther
* Pete Rozelle
* David Sarnoff
* Juan Trippe
* Sam Walton
* Thomas Watson, Jr.


Những nhà khoa học và những nhà tư tưởng

* Leo Baekeland
* Tim Berners-Lee
* Rachel Carson
* Francis Crick & James Watson
* Albert Einstein
* Philo Farnsworth
* Enrico Fermi
* Alexander Fleming
* Sigmund Freud
* Robert Goddard
* Kurt Gödel
* Edwin Hubble
* John Maynard Keynes
* Louis, Mary & Richard Leakey
* Jean Piaget
* Jonas Salk
* William Shockley
* Alan Turing
* Ludwig Wittgenstein
* Wilbur & Orville Wright


Những người hùng và những thần tượng

* Muhammad Ali
* The American G.I.
* Công nương Diana
* Anne Frank
* Billy Graham
* Che Guevara
* Edmund Hillary & Tenzing Norgay
* Helen Keller
* Gia tộc Kennedy
* Lý Tiểu Long
* Charles Lindbergh
* Harvey Milk
* Marilyn Monroe
* Mẹ Teresa
* Emmeline Pankhurst
* Rosa Parks
* Pelé
* Andrei Dmitrievich Sakharov
* Jackie Robinson
* Bill Wilson



Các dấu hiệu của EQ cao và thấp

Nếu bạn không biết mình cảm thấy như thế nào, thì ai thấy đây?
Liệt kê dưới đây là các đặc điểm chung của những người có thông minh cảm xúc (EQ) cao và EQ thấp. Rõ ràng là có một số sự tổng quát nhưng chúng có thể có ích như các hướng dẫn.
Thông minh cảm xúc (EQ) thấp

Vì các cảm xúc tiêu cực, thiếu xúc cảm, và bày tỏ gián tiếp các cảm xúc tất cả đều dễ truyền từ người này sang người kia, nên nói chung cần phải gay gắt tránh tiêu cực, người có EQ thấp là người có thể tiêm nhiễm cho bạn nhiều cảm xúc, tính cách xấu của họ. Những người này không có niềm vui xung quanh và chắc chắn là không muốn từ bỏ các thói quen xấu. Đây là một tổng kết về loại người mà chúng ta nên nhận ra và tránh xa. Đó là những người:

1. Không chịu trách nhiệm về các cảm xúc của họ
2. Không thể đặt 3 câu cùng nhau bắt đầu với "Tôi cảm thấy…"
3. Không thể kể cho bạn cảm thấy tại sao họ cảm thấy như thế nào. (Đặc biệt khác với những người cho bạn biết điểm chính khi họ giải thích cảm xúc của họ).
4. Công kích bạn, đổ lỗi cho bạn, yêu cầu, chỉ trích và khuyên răn bạn.
5. Ngắt lời và không hiểu bạn.
6. Thuyết giảng bạn
7. Đánh giá bạn
8. Kìm nén, che giấu thông tin về cảm xúc của họ
9. Lừa dối cảm xúc của họ (tự lừa dối mình).
10. Cường điệu hoá hay đánh giá thấp cảm xúc của họ
11. Gom nhiều việc lại rồi thổi phồng chúng lên, hay phản ứng dữ dội với những việc tương đối nhỏ nhặt.
12. Ít liêm chính
13. Mang lòng hận thù
14. Không nói với bạn vị trí thực sự của bạn trong lòng họ.
15. Che đậy thông tin
16. Không thoải mái với xung quanh
17. Hành động trên cảm xúc chứ không nói về các cảm xúc đó.
18. Đùa giỡn với tình cảm
19. Không nhạy cảm với các cảm xúc của bạn.
20. Không biết thông cảm, không có lòng trắc ẩn
21. Có ít cơ hội có sự thân mật về tình cảm.
22. Không xem xét cảm xúc của bạn trước khi hành động
23. Không xem xét cảm xúc tương lai của họ trước khi hành động.
24. Bất an và tự vệ
25. Thường có lòng tự trọng thấp.
26. Nhận thấy khó khăn hay không thể thừa nhận lỗi lầm của họ, nói với bạn khi họ cảm thấy tồi tệ về việc họ đã làm, hay xin lỗi một một cách chân thành.
27. Không có lòng thương xót, sự nuối tiếc.
28. Nhận thấy chính họ là các nạn nhân không được cứu giúp
29. Tránh né trách nhiệm bằng việc nói những câu tương tự như "Tôi phải làm việc đó. Bạn mong đợi tôi làm gì. Tôi bị yêu cầu làm gì? Tôi không có sự lựa chọn."
30. Công kích bạn vì chỉ trích họ
31. Cho rằng thế giới không công bằng.
32. Thường cảm thấy thất vọng, cáu bẩn hay bị hại.
33. Thường cảm thấy không thích đáng, ngu ngốc, hay ngớ ngẩn.
34. Thường xuyên phàn nàn hay làm ra vẻ không việc gì sai cả.
35. Cần sử dụng những lời tục tĩu để thể hiện chính họ
36. Thu mình trong hàng loạt các hành động chống lại nhận biết chung.
37. Tránh né các mối quan hệ cá nhân và tìm kiếm các quan hệ thay thế với mọi thứ từ con vật nuôi yêu thích hay cây trồng tới những sinh vật không có thực.
38. Giữ mãi một cách cứng nhắc niềm tin của họ.
39. Có thể kể cho bạn tất cả chi tiết những việc có liên quan đến người khác, thậm chí những việc xảy ra từ nhiều năm trước đó, nhưng không kể cho bạn biết hiện tại họ đang cảm thấy như thế nào.

Tôi nhận thấy rằng không có cách nào mà tất cả chúng ta đều tránh đối mặt với chính các cảm xúc tiêu cực hay bất hạnh phúc của chúng ta. Một số cách chung nhất người ta thường làm là:

Đánh giá mọi người khác.Gán cho mọi người khác. Hành động theo điều mà mình cho là đúng đắn. Tìm người khác để đổ lỗi. Giấu diếm sự đau khổ của họ đằng sau bằng cấp, cơ quan, địa vị, sự nổi tiếng, v.v.... Đánh giá thấp các cảm xúc tiêu cực và bất hạnh của riêng họ. Phủ nhận sự bất hạnh, cô đơn, trống rỗng, sợ hãi, giận giữ, cáu kỉnh của họ, v.v.... Tìm ai đó xấu hơn chính họ để bàn luận. Cố gắng làm hài lòng mọi người bằng việc kể các câu chuyện cười, cười về mọi việc, và làm ra vẻ rất hạnh phúc. Tự họ làm rối trí thông qua nhiều sự ép buộc, và nghiện ngập như công việc, sở thích, bài tập, thể thao, giải trí, thuốc phiện,v.v.... Phân tích và trí thức hoá. Bày tỏ các suy nghĩ của họ nhưng không bao giờ bày tỏ cảm xúc của họ. Hành động tự mãn hay tự ti. Bề ngoài tự coi mình như các ngôi sao điện ảnh, ngôi sao thể thao, các thành viên trong ban nhạc, các đảng chính trị và các nhóm tôn giáo.
Bởi vì các cảm xúc là dễ lây truyền sang người khác, nên bạn càng tránh được những người có EQ thấp thì các cơ hội hạnh phúc của bạn càng tốt đẹp hơn.

Các dấu hiệu của EQ cao

Bên cạnh không thể hiện các đặc điểm đề cập ở trên, một người có thông minh cảm xúc (EQ) cao:
1. Bày tỏ các cảm xúc của anh ta một cách rõ ràng và trực tiếp
2. Không sợ phải bày tỏ cảm xúc của anh ta
3. Không có các cảm xúc tiêu cực như: Sợ hãi, Lo lắng, Tội lỗi, Xấu hổ, Bối rối, Bổn phận, Thất vọng, Bất hạnh, Không có quyền lực, Phụ thuộc, Sự ngược đãi.
4. Có thể hiểu được thông tin không lời nói
5. Sống thật với các cảm xúc của mình.
6. Thăng bằng cảm xúc với các lý trí và thực tế
7. Cảm thấy có nghị lực
8. Việc anh ta làm vì anh ta thích làm nó.
9. Không làm những việc buộc phải làm
10. Không phụ thuộc vào người khác
11. Luôn có động cơ
12. Không bị thúc đẩy bởi quyền lực, giàu có, địa vị, sự nổi tiếng, hay sự tán thành.
13. Không nản lòng
14. Hy vọng sự thành công
15. Không tự chỉ trích mình
16. Quan tâm đến cảm xúc của người khác
17. Thoải mái nói về cảm xúc của mình
18. Có thể nhận ra các cảm xúc đa dạng

EQ Vs. IQ

Tôi vẫn thường lơ mơ giữa hai khái niệm EQ và IQ, cho đến khi đọc được bài viết này. Nếu bạn đã nghe nói nhiều về IQ và nghe "đâu đấy" có nhắc đến EQ thì hy vọng bài viết dưới đây có thể giúp bạn phân biệt tốt hơn hai khái niệm và tăng cường EQ của mình, vì kết luận quan trọng của bài là 'chính EQ là yếu tố đem đến thành công.'

EQ là thước đo độ thông minh về cảm xúc, hoặc khả năng kết hợp việc sử dụng cả cảm xúc lẫn các kỹ năng xuất phát từ kinh nghiệm trong cuộc sống. Thông minh cảm xúc gồm có nhưng không chỉ giới hạn ở sự thấu cảm, trực giác, sức sáng tạo, sự năng động, kiên cường, khả năng chiến đấu, cân bằng áp lực, khả năng lãnh đạo, tính chính trực, sự xác thực, khả năng suy nghĩ và liên kết con người.

IQ là một chỉ số được sử dụng để diễn tả sự thông minh biểu hiện ra bên ngoài một cách tương đối của một cá nhân. IQ là chỉ số đo năng lực nhận thức, như khả năng học và hiểu hoặc xử lý tình huống; khả năng áp dụng kiến thức vào môi trường thực tế hoặc suy nghĩ phản biện (như được đo trong các bài kiểm tra); sự nhạy bén của đầu óc; kỹ năng logic và phân tích.



So sánh

Con người rèn luyện được EQ thông qua cuộc sống; còn IQ học được ở sách vở và trường lớp
EQ: Thuyết phục người khác bằng lí do và cảm xúc; còn IQ chứng minh bằng số liệu và thực tế.
EQ: Sử dụng cảm xúc và kinh nghiệm để thực hiện chức năng một cách hiệu quả; còn IQ: Chỉ dùng kỹ năng nhận thức.

Ví dụ

Samuel có IQ rất cao. Anh ấy có khả năng lập luận, rất có khả năng phân tích và logic và đặt một mục tiêu "thép" vào công việc. Anh ấy học những thứ mới rất nhanh. Tuy nhiên, anh ta lại không để ý đến việc mình đang nghĩ gì và người khác đang nghĩ gì. Nếu mọi thứ không được như anh ta mong muốn, anh ta sẽ trở nên nóng nảy và chỉ trích người khác. Anh ta không thể gần gũi với những người không thông minh bằng mình và kém đồng cảm. Tất cả những điều này làm cản trở anh ta làm việc hiệu quả trong nhóm mặc dù chỉ số IQ rất cao.

Jose có EQ rất cao. Anh ấy hoà thuận với mọi người, và kiểm soát cảm xúc của mình cũng rất tốt. Điều này giúp anh ta làm việc hiệu quả, mặc dù trong công ty một số người có IQ cao hơn Jose. Jose có khả năng hiểu những thành phần của cảm xúc trong giao tiếp, và sử dụng cả khả năng kinh nghiệm lẫn sự hiểu biết về cảm xúc của mình. Anh ta có thể ảnh hưởng và động viên mọi người bởi vì anh ta hiểu điều gì làm mọi người quan tâm, và là một nhà ngoại giao xuất sắc. Anh ấy rất linh hoạt, sáng tạo khi phải đối mặt với thử thách, và không bao giờ nản lòng khi phải đối mặt với những thất bại trước mắt. Anh ấy rất được yêu mến và kính trọng.



Điểm mấu chốt

EQ quyết định nhiều hơn tới những thành công và hạnh phúc trong cuộc sống của bạn hơn là IQ và điều quan trọng là EQ có thể học được.

Những sự phân biệt khác

Biết như thế nào và tại sao; so với Biết cái gì.
Bết làm thế nào để động viên mọi người; so với Đối xử với mọi người như thể là họ đã không chịu làm theo cách mà nhẽ ra họ nên làm.
Chế ngự cảm xúc và sử dụng cảm xúc để đạt được hiệu quả tốt; so với Để cho cảm xúc chế ngự bởi vì bạn không hiểu chúng hoặc không biết làm thế nào để "làm việc" với chúng.

Lợi ích

Khi bạn phân biệt được sự khác nhau giữa EQ và IQ bạn có thể biết cách để tăng cường EQ của mình. EQ có thể học được nhưng lại thường bị xao nhãng trong nền giáo dục, cả ở nhà và ở trường.

Và bây giờ bạn hãy quan sát những những người xung quanh mình xem ai có EQ cao nhất và thử xem có phải họ đang rất thành công hay không!. Nếu đúng thì những kết luận này thực sự là đáng tin cậy.





ĐỌC XONG THÌ RÕ RỒI NHÁ.....TUI TÔI KO CÓ IQ CAO NHƯNG TÔI BIẾT MÌNH THÀNH CÔNG

I have a dream

Martin Luther King, Jr.
"I Have a Dream"

delivered 28 August 1963, at the Lincoln Memorial, Washington D.C.


I am happy to join with you today in what will go down in history as the greatest demonstration for freedom in the history of our nation.

Five score years ago, a great American, in whose symbolic shadow we stand today, signed the Emancipation Proclamation. This momentous decree came as a great beacon light of hope to millions of Negro slaves who had been seared in the flames of withering injustice. It came as a joyous daybreak to end the long night of their captivity.

But one hundred years later, the Negro still is not free. One hundred years later, the life of the Negro is still sadly crippled by the manacles of segregation and the chains of discrimination. One hundred years later, the Negro lives on a lonely island of poverty in the midst of a vast ocean of material prosperity. One hundred years later, the Negro is still languished in the corners of American society and finds himself an exile in his own land. And so we've come here today to dramatize a shameful condition.

In a sense we've come to our nation's capital to cash a check. When the architects of our republic wrote the magnificent words of the Constitution and the Declaration of Independence, they were signing a promissory note to which every American was to fall heir. This note was a promise that all men, yes, black men as well as white men, would be guaranteed the "unalienable Rights" of "Life, Liberty and the pursuit of Happiness." It is obvious today that America has defaulted on this promissory note, insofar as her citizens of color are concerned. Instead of honoring this sacred obligation, America has given the Negro people a bad check, a check which has come back marked "insufficient funds."

But we refuse to believe that the bank of justice is bankrupt. We refuse to believe that there are insufficient funds in the great vaults of opportunity of this nation. And so, we've come to cash this check, a check that will give us upon demand the riches of freedom and the security of justice.

We have also come to this hallowed spot to remind America of the fierce urgency of Now. This is no time to engage in the luxury of cooling off or to take the tranquilizing drug of gradualism. Now is the time to make real the promises of democracy. Now is the time to rise from the dark and desolate valley of segregation to the sunlit path of racial justice. Now is the time to lift our nation from the quicksands of racial injustice to the solid rock of brotherhood. Now is the time to make justice a reality for all of God's children.

It would be fatal for the nation to overlook the urgency of the moment. This sweltering summer of the Negro's legitimate discontent will not pass until there is an invigorating autumn of freedom and equality. Nineteen sixty-three is not an end, but a beginning. And those who hope that the Negro needed to blow off steam and will now be content will have a rude awakening if the nation returns to business as usual. And there will be neither rest nor tranquility in America until the Negro is granted his citizenship rights. The whirlwinds of revolt will continue to shake the foundations of our nation until the bright day of justice emerges.

But there is something that I must say to my people, who stand on the warm threshold which leads into the palace of justice: In the process of gaining our rightful place, we must not be guilty of wrongful deeds. Let us not seek to satisfy our thirst for freedom by drinking from the cup of bitterness and hatred. We must forever conduct our struggle on the high plane of dignity and discipline. We must not allow our creative protest to degenerate into physical violence. Again and again, we must rise to the majestic heights of meeting physical force with soul force.

The marvelous new militancy which has engulfed the Negro community must not lead us to a distrust of all white people, for many of our white brothers, as evidenced by their presence here today, have come to realize that their destiny is tied up with our destiny. And they have come to realize that their freedom is inextricably bound to our freedom.

We cannot walk alone.

And as we walk, we must make the pledge that we shall always march ahead.

We cannot turn back.

There are those who are asking the devotees of civil rights, "When will you be satisfied?" We can never be satisfied as long as the Negro is the victim of the unspeakable horrors of police brutality. We can never be satisfied as long as our bodies, heavy with the fatigue of travel, cannot gain lodging in the motels of the highways and the hotels of the cities. We cannot be satisfied as long as the negro's basic mobility is from a smaller ghetto to a larger one. We can never be satisfied as long as our children are stripped of their self-hood and robbed of their dignity by signs stating: "For Whites Only." We cannot be satisfied as long as a Negro in Mississippi cannot vote and a Negro in New York believes he has nothing for which to vote. No, no, we are not satisfied, and we will not be satisfied until "justice rolls down like waters, and righteousness like a mighty stream."¹

I am not unmindful that some of you have come here out of great trials and tribulations. Some of you have come fresh from narrow jail cells. And some of you have come from areas where your quest -- quest for freedom left you battered by the storms of persecution and staggered by the winds of police brutality. You have been the veterans of creative suffering. Continue to work with the faith that unearned suffering is redemptive. Go back to Mississippi, go back to Alabama, go back to South Carolina, go back to Georgia, go back to Louisiana, go back to the slums and ghettos of our northern cities, knowing that somehow this situation can and will be changed.

Let us not wallow in the valley of despair, I say to you today, my friends.

And so even though we face the difficulties of today and tomorrow, I still have a dream. It is a dream deeply rooted in the American dream.

I have a dream that one day this nation will rise up and live out the true meaning of its creed: "We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal."

I have a dream that one day on the red hills of Georgia, the sons of former slaves and the sons of former slave owners will be able to sit down together at the table of brotherhood.

I have a dream that one day even the state of Mississippi, a state sweltering with the heat of injustice, sweltering with the heat of oppression, will be transformed into an oasis of freedom and justice.

I have a dream that my four little children will one day live in a nation where they will not be judged by the color of their skin but by the content of their character.

I have a dream today!

I have a dream that one day, down in Alabama, with its vicious racists, with its governor having his lips dripping with the words of "interposition" and "nullification" -- one day right there in Alabama little black boys and black girls will be able to join hands with little white boys and white girls as sisters and brothers.

I have a dream today!

I have a dream that one day every valley shall be exalted, and every hill and mountain shall be made low, the rough places will be made plain, and the crooked places will be made straight; "and the glory of the Lord shall be revealed and all flesh shall see it together."2

This is our hope, and this is the faith that I go back to the South with.

With this faith, we will be able to hew out of the mountain of despair a stone of hope. With this faith, we will be able to transform the jangling discords of our nation into a beautiful symphony of brotherhood. With this faith, we will be able to work together, to pray together, to struggle together, to go to jail together, to stand up for freedom together, knowing that we will be free one day.

And this will be the day -- this will be the day when all of God's children will be able to sing with new meaning:

My country 'tis of thee, sweet land of liberty, of thee I sing.

Land where my fathers died, land of the Pilgrim's pride,

From every mountainside, let freedom ring!


And if America is to be a great nation, this must become true.

And so let freedom ring from the prodigious hilltops of New Hampshire.

Let freedom ring from the mighty mountains of New York.

Let freedom ring from the heightening Alleghenies of Pennsylvania.

Let freedom ring from the snow-capped Rockies of Colorado.

Let freedom ring from the curvaceous slopes of California.

But not only that:

Let freedom ring from Stone Mountain of Georgia.

Let freedom ring from Lookout Mountain of Tennessee.

Let freedom ring from every hill and molehill of Mississippi.

From every mountainside, let freedom ring.


And when this happens, when we allow freedom ring, when we let it ring from every village and every hamlet, from every state and every city, we will be able to speed up that day when all of God's children, black men and white men, Jews and Gentiles, Protestants and Catholics, will be able to join hands and sing in the words of the old Negro spiritual:

Free at last! Free at last!

Thank God Almighty, we are free at last!


--------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------

Hôm nay, tôi sung sướng có mặt ở đây cùng các bạn trong sự kiện sẽ đi vào lịch sử chúng ta như là cuộc tuần hành vì tự do vĩ đại nhất.

Một trăm năm trước đây, một người Mỹ vĩ đại - hôm nay chúng ta đang đứng dưới bóng tượng đài của người - đã ký bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ. Văn kiện trọng đại này đã đến như ánh sáng của ngọn hải đăng dẫn soi niềm hi vọng của hàng triệu người da đen, những con người bị thiêu héo trong ngọn lửa của sự bất công. Nó đã đến như bình minh rộn rã để kết thúc đêm dài tăm tối của kiếp nô lệ.

Nhưng một trăm năm sau, người da đen vẫn chưa được tự do. Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn còn què quặt do gông cùm của lòng kỳ thị và xiềng xích của tinh thần phân biệt. Một trăm năm sau, người da đen vẫn sống trên hoang đảo của nghèo khó ngay giữa lòng đại dương bao la của phồn vinh vật chất. Một trăm năm sau, người da đen vẫn tàn úa trong những xó tối của xã hội Mỹ và nhận ra rằng họ chỉ là những kẻ bị lưu đày ngay trên quê hương mình. Hôm nay, chúng ta có mặt ở đây để phô bày sự ô nhục ấy.

Trong một ý nghĩa nào đó, ngày nay chúng ta gặp nhau tại thủ đô của đất nước để trả một món nợ. Khi những kiến trúc sư của nền cộng hòa viết lên những lời uy vĩ cho bản Hiến pháp và bản Tuyên ngôn Độc lập, họ đã công bố những cam kết mà chúng ta, mọi người Mỹ, là người được thừa hưởng. Lời hứa ấy nói rằng mọi người – vâng, người da đen cũng như người da trắng - cần được bảo đảm để hưởng những "quyền bất khả nhượng" là "quyền được sống, được hưởng tự do, và mưu cầu hạnh phúc"...

Nay là lúc để thực hiện lời hứa dân chủ. Nay là lúc để trỗi dậy từ thung lũng hoang tàn và tối tăm của lòng kỳ thị mà tiến tới con đường chói chang ánh mặt trời của công bằng chủng tộc. Nay là lúc để vực đất nước chúng ta khỏi vũng lầy của bất công chủng tộc mà lập nền trên vầng đá vững chãi của tình huynh đệ. Đã đến lúc biến sự công bằng thành hiện thực cho tất cả con dân của Thiên Chúa...

Hãy đến Mississippi, hãy đến Alabama, hãy đến South Carolina, hãy đến Georgia, hãy đến Louisiana, hãy đến những khu nhà ổ chuột, hãy đến những khu biệt cư tồi tàn ở phố phường phương bắc, để biết rằng chúng ta có thể và sẽ thay đổi chúng.

Tôi muốn nói với các bạn, bằng hữu của tôi. Chớ đắm mình trong thung lũng tuyệt vọng.

Và ngay cả khi phải đối đầu với vô vàn khó khăn hôm nay và ngày mai, tôi vẫn ấp ủ một giấc mơ. Ấy là một giấc mơ bắt nguồn từ giấc mơ Mỹ Quốc.

Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày khi đất nước này trỗi dậy để sống theo ý nghĩa thật của niềm xác tín của chính mình: "Chúng ta tin rằng chân lý này là đầy trọn, ấy là mọi người sinh ra đều bình đẳng".

Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại với nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ.

Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày vùng đất hoang mạc Mississippi, bức bối vì hơi nóng của bất công và áp bức, sẽ chuyển mình để trở nên ốc đảo của tự do và công bằng.

Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày bốn con nhỏ của tôi sẽ sống trong một đất nước mà chúng không còn bị đánh giá bởi màu da, mà bởi tính cách của chúng.

Hôm nay tôi có một giấc mơ...

Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày mọi thung lũng sẽ được nâng cao, mọi đồi núi sẽ bị hạ thấp, chỗ lồi lõm sẽ được ban bằng, chỗ quanh co sẽ thành ngay thẳng, và sự vinh hiển của Thiên Chúa sẽ hiển lộ để mọi loài xác thịt cùng nhau chiêm ngưỡng...

Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ những đỉnh đồi kỳ vĩ của New Hampshire. Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ những rặng núi uy nghi của New York. Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ các đỉnh núi Allegheny của Pennsylvania.

Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ đỉnh Rockies tuyết trắng của Colorado. Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ những sườn đồi của California...

Nguyện tiếng chuông tự do vang lên. Khi chúng vang lên, và khi chúng ta để chúng vang lên – khi chúng ta để chúng vang lên từ mọi ngôi làng, từ mọi thôn xóm, từ mọi tiểu bang và mọi thành phố, chúng ta có thể làm ngày ấy đến nhanh cho mọi con dân của Thiên Chúa - người da đen và người da trắng, người Do Thái và người ngoại bang, người Kháng Cách và người Công giáo - sẽ nắm tay nhau mà cùng hát ca từ này: "Cuối cùng đã có tự do! Cuối cùng đã có tự do! Tạ ơn Thiên Chúa Toàn năng, cuối cùng chúng ta đã được tự do!"

Martin Luther King

Martin Luther King, Jr. (viết tắt MLK; 15 tháng 1 năm 1929 – 4 tháng 4 năm 1968) là mục sư Baptist, nhà hoạt động dân quyền Mỹ gốc Phi, và là người đoạt Giải Nobel Hoà bình năm 1964. Ông là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cũng như lịch sử đương đại của phong trào bất bạo động. King được nhiều người trên khắp thế giới ngưỡng mộ như một anh hùng, nhà kiến tạo hoà bình và thánh tử đạo.

King dẫn dắt cuộc tẩy chay xe buýt diễn ra ở Montgomery (1955-1956), và giúp thành lập Hội nghị Lãnh đạo Cơ Đốc miền Nam (1957), trở thành chủ tịch đầu tiên của tổ chức này. Năm 1963, King tổ chức cuộc tuần hành tại Washington, và đọc bài diễn văn nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ” trước hàng ngàn người tụ tập về đây. Ồng nâng cao nhận thức của công chúng về phong trào dân quyền, và được nhìn nhận là một trong những nhà hùng biện vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Năm 1964, King là nhân vật trẻ tuổi nhất được chọn để nhận Giải Nobel Hòa bình vì những nỗ lực chấm dứt nạn kỳ thị chủng tộc qua biện pháp bất tuân dân sự, và các phương tiện bất bạo động khác.

Ngày 4 tháng 4 năm 1968, King bị ám sát tại Memphis, Tennessee. Năm 1977, Tổng thống Jimmy Carter truy tặng King Huân chương Tự do của Tổng thống. Đến năm 1986, ngày Martin Luther King, Jr. được công nhận là quốc lễ. Năm 2004, ông được truy tặng Huân chương vàng Quốc hội.



Sinh 15 tháng 1 năm 1929(1929-01-15)
Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ
Mất 4 tháng 4 năm 1968 (39 tuổi)Memphis, Tennessee, Hoa Kỳ
Quốc tịch Mỹ
Học vấn Đại học Morehouse, Chủng viện Thần học Crozer, Đại học Boston
Nghề nghiệp Mục sư, Lãnh tụ Phong trào Dân quyền Mỹ
Tôn giáo Baptist
Vợ Coretta Scott King
Con cái Yolanda Denise-King, Martin Luther III, Dexter Scott, Bernice Albertine

Xuất thân

King chào đời tại Alanta, Georgia, là con trai của Mục sư Martin Luther King, Sr. và vợ, Alberta Williams King. Lúc đầu tên của King và thân phụ là "Michael King", sau khi gia đình đến thăm nước Đức trong chuyến du lịch châu Âu năm 1934, ông bố quyết định đổi tên cả hai người thành Martin nhằm vinh danh nhà cải cách người Đức thế kỷ 16 Martin Luther. King có một chị gái, Willie Christine (sinh năm 1927), và em trai Alfred Daniel (1930 – 1969).

Từ khi còn bé, King đã sớm bộc lộ năng khiếu trong thuật hùng biện. King từng đoạt giải Elks với một bài diễn thuyết về chủ đề Người da đen và Hiến pháp. Khi đang học năm thứ hai tại Morehouse, King về hạng nhì trong Cuộc thi Hùng biện Webb. Những bài diễn từ của King chịu ảnh hưởng từ những bài thuyết giáo mỗi chủ nhật của thân phụ đã thấm sâu vào ký ức ông.

Mười lăm tuổi, King vào Đại học Morehouse (dành riêng cho người da đen) sau khi học nhảy lớp ở bậc trung học (từ lớp 9 lên lớp 12). Năm 1948, King tốt nghiệp với văn bằng cử nhân chuyên ngành xã hội học, rồi đến Chester, Pennsylvania để theo học tại Chủng viện Thần học Crozer và tốt nghiệp với học vị Cử nhân Thần học (Bachelor of Divinity) năm 1951. Tháng 9 năm 1951, King bắt đầu nghiên cứu môn thần học hệ thống tại Đại học Boston, và nhận học vị Tiến sĩ ngày 5 tháng 6 năm 1955. Năm 1954, ở tuổi 25, King được mời làm quản nhiệm Nhà thờ Baptist Đại lộ Dexter ở Montgomery, Alabama.

Đời tranh đấu

Năm 1954, King nhận chức quản nhiệm (pastor) Nhà thờ Baptist đại lộ Dexter, tại Montgomery, Alabama. Giáo đoàn qui tụ giới giàu có, trí thức và những người có nhiều ảnh hưởng trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi, nên khi bùng nổ cao trào tẩy chay xe buýt - đột ngột khởi phát sau khi một phụ nữ da đen, Rosa Park, bị bắt giữ vì từ chối nhường chỗ ngồi trên xe buýt cho một người đàn ông da trắng theo qui định của “Luật Jim Crow” – King được xem là một trong số những người thủ giữ vai trò lãnh đạo cuộc tẩy chay. Ngày 30 tháng 1 năm 1956, nhà riêng của King bị đánh bom, một đám đông giận dữ tụ tập trên con đường trước ngôi nhà, tự vũ trang với dao, súng, gậy gộc, đá và chai lọ. Song King nói với họ,


Đừng hốt hoảng, đừng làm bất kỳ điều gì trong sự giận hoảng! Ai có vũ khí, xin hãy đem về, ai không có vũ khí, xin đừng thủ đắc chúng. Chúng ta không thể giải quyết vấn nạn này bằng những vụ bạo động trả đũa... Chúng ta phải yêu thương những người anh em da trắng bất kể họ đã làm gì đối với chúng ta. Chúng ta phải hành động để họ biết rằng chúng ta yêu họ. Giáo huấn của Chúa Giê-xu vẫn còn vang vọng đến hôm nay: "Hãy yêu kẻ thù mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình." Đó là điều chúng ta phải làm. Chúng ta phải lấy tình yêu mà đáp trả lòng thù hận.


Cuộc tẩy chay kéo dài 385 ngày.Trong khi cuộc tẩy chay đang tiến triển, King bị bắt giam cho đến khi phán quyết của Tòa án Liên bang cấp Quận ra lệnh chấm dứt các hành vi phân biệt chủng tộc trên mạng lưới xe buýt ở Montgomery.

Sau cuộc tẩy chay, King tích cực hoạt động cho kế hoạch thành lập Hội nghị Lãnh đạo Cơ Đốc miền Nam (SCLC) năm 1957, với mục đích thiết lập một bộ khung cho tiến trình kiến tạo một thẩm quyền tinh thần, cũng như tổ chức mạng lưới các nhà thờ của người da đen vào Phong trào Phản kháng Bất bạo động nhằm tranh đấu cho sự bình đẳng trong quyền dân sự. King tiếp tục duy trì ảnh hưởng của mình trong tổ chức này cho đến khi ông mất. Nguyên tắc bất bạo động của Hiệp hội bị chỉ trích bởi những người trẻ tuổi cực đoan và bị thách thức bởi Ủy ban Hợp tác Bất bạo động Sinh viên (SNCC), lúc ấy dưới quyền lãnh đạo của James Foreman.

Thành viên của SCLC phần lớn đến từ những cộng đồng da đen có liên hệ với các nhà thờ Baptist. King theo đuổi triết lý bất phục tùng dân sự theo phương pháp bất bạo động được sử dụng thành công tại Ấn Độ bởi Mohandas Gandhi, ông ứng dụng triết lý này vào các cuộc phảng kháng được tổ chức bởi SCLC.

King nhận ra rằng các cuộc phản kháng bất bạo động có tổ chức nhằm chống lại hệ thống kỳ thị tại các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ, được biết với tên Jim Crow, sẽ thu hút sự chú ý rộng rãi của các phương tiện truyền thông. Họ sẽ tìm đến để tường thuật cuộc đấu tranh giành sự bình đẳng và quyền bầu cử cho người da đen. Thật vậy, những bài viết trên các mặt báo cùng những thước phim được chiếu trên truyền hình về cuộc sống thường nhật của người da đen miền Nam, đầy ắp sỉ nhục và luôn bị tước đoạt, cũng như tình trạng bạo động cùng những hành vi quấy nhiễu và ngược đãi do người kỳ thị gây ra cho người biểu tình, dấy lên một làn sóng đồng cảm lan tỏa rộng khắp, là nhân tố quyết định đem Phong trào Dân quyền Mỹ vào điểm tập chú của công luận để trở thành một trong những điểm nóng của nền chính trị Hoa Kỳ trong những năm đầu của thập niên 1960.

King tổ chức và dẫn đầu các cuộc biểu tình tranh đấu cho người da đen quyền bầu cử, quyền được đối xử bình đẳng và các quyền dân sự căn bản khác. Những quyền này đã được ghi trong luật pháp Hoa Kỳ khi Luật về Quyền Dân sự được thông qua năm 1964 và Luật về Quyền Bầu cử được thông qua năm 1965.

Do có những quyết định chính xác khi chọn phương pháp và địa điểm để tổ chức các cuộc phản kháng cùng chiến lược phối hợp tốt, King và SCLC đã ứng dụng thành công các nguyên tắc bất bạo động. Tuy nhiên, đôi khi các cuộc đối đầu lại biến thành những vụ bạo động như những diễn biến xảy ra cho phong trào phản kháng tại Albany từ năm 1961 đến 1962, khi sự chia rẽ bên trong cộng đồng người da đen cùng đối sách cứng rắn và khôn khéo của chính quyền địa phương đã vô hiệu hóa mọi nỗ lực từ phong trào.Điều tương tự cũng xảy ra cho phong trào tại Birmingham vào mùa hè năm 1963,và tại St. Augustine, Florida năm 1964

Tuần hành đến Washington

King, đại diện cho SCLC, có mặt trong số các nhà lãnh đạo đến từ các tổ chức khác nhau giúp tổ chức Cuộc Diễu hành đến Washington vì Việc làm và Tự do năm 1963.

Tại đây, họ đưa ra những thỉnh cầu như chấm dứt tình trạng kỳ thị chủng tộc tại trường công, ban hành các đạo luật bảo vệ dân quyền, bao gồm luật cấm phân biệt màu da trong tuyển dụng, bảo vệ người đấu tranh cho dân quyền khỏi sự bạo hành của cảnh sát cũng như ấn định mức lương tối thiểu, và quyền tự trị cho Đặc khu Columbia, khi ấy đang ở dưới quyền cai trị của một uỷ ban của Quốc hội.


Martin Luther King, Jr. đọc diễn văn Tôi Có một Giấc mơ tại Cuộc Tuần hành vì Quyền Công dân ở Washington, D.C.

Cuộc diễu hành là một thành công vang dội. Hơn 250 ngàn người thuộc các chủng tộc khác nhau đến tham dự, đám đông trải dài từ những bậc thềm của Đài Tưởng niệm Lincoln đến National Mall và bao kín bờ hồ sóng sánh nước. Cho đến khi ấy, đây là cuộc tụ tập lớn nhất trong suốt lịch sử của thành phố Washington, D.C. Tại đây, King đã dẫn dắt đám đông lên đến các cung bậc cao của cảm xúc khi ông đọc bài diễn văn Tôi có một giấc mơ (I Have a Dream). Cùng với bài Diễn văn Gettysburg của Tổng thống Abraham Lincoln, Tôi có một giấc mơ được xem là một trong những diễn từ được yêu thích nhất và được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông nói,

Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày khi đất nước này trỗi dậy để sống theo ý nghĩa thật của niềm xác tín của chính mình: "Chúng ta tin rằng chân lý này là đầy trọn, ấy là mọi người sinh ra đều bình đẳng". Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại cùng nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ. Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày vùng đất hoang mạc Mississippi, bức bối vì hơi nóng của bất công và áp bức, sẽ chuyển mình để trở thành ốc đảo của tự do và công bằng. Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày bốn con nhỏ của tôi sẽ sống trong một đất nước mà chúng không còn bị đánh giá bằng màu da, mà bằng tính cách của chúng. Hôm nay, tôi có một giấc mơ...

Bài diễn văn đã đi vào lịch sử và làm tên tuổi của King được biết đến trên toàn thế giới.

Suốt những năm tháng đấu tranh, King thường xuyên viết và đi khắp nơi để diễn thuyết, dựa trên kinh nghiệm lâu dài của của một nhà thuyết giáo. Thư viết từ Nhà tù Birmingham năm 1963 là bản tuyên ngôn cảm động về sứ mạng của ông đấu tranh cho sự công chính. Ngày 14 tháng 10 năm 1964, King trở thành nhân vật trẻ tuổi nhất được trao Giải Nobel Hoà bình. Ông được chọn vì những thành quả trong nỗ lực lãnh đạo phong trào phản kháng với mục tiêu đấu tranh nhằm chấm dứt các định kiến về chủng tộc tại Hoa Kỳ.


Martin Luther King hội kiến với Tổng thống Lyndon B. Johnson

King và SCLC, với sự hợp tác của SNCC, tổ chức một cuộc diễu hành từ Selma đến thủ phủ Montgomery vào ngày 25 tháng 3 năm 1965. Một nỗ lực trước đó vào ngày 7 tháng 3 đã thất bại khi bùng nổ bạo động giữa đám đông và cảnh sát với những người biểu tình. Ngày ấy được gọi là ngày Chủ nhật đẫm máu. Chủ nhật đẫm máu là ngả rẽ quan trọng trong nỗ lực giành sự ủng hộ của công chúng cho Phong trào Dân quyền. Sau lần hội kiến với Tổng thống Lyndon B. Johnson, King muốn dời cuộc diễu hành đến ngày 8 tháng 3, nhưng nó vẫn được tiến hành mà không có ông. Những đoạn phim ghi lại hình ảnh tàn bạo của cảnh sát được phát sóng toàn quốc đã giúp dấy lên sự phẫn nộ của công chúng.

Cuối cùng, cuộc diễu hành được ấn định vào ngày 25 tháng 3 với sự đồng ý và ủng hộ của Tổng thống Johnson, từ cuộc diễu hành này mà Willie Ricks đã ghi dấu thuật ngữ "Sức mạnh Da đen" (Black Power) trong lòng công chúng.

Những thách thức khác

Từ năm 1965, King bắt đầu bày tỏ sự nghi ngờ của mình về vai trò của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Ngày 4 tháng 4 năm 1967 – một năm trước khi mất – King phê phán mạnh mẽ vai trò của nước Mỹ trong cuộc chiến. Ông cho rằng cuộc chiến đã làm suy yếu phong trào đấu tranh cho dân quyền và phá hoại các chương trình xã hội trong nước.

King cũng nói về sự cần thiết phải có thay đổi tận gốc rễ đời sống kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ. Càng đến gần những ngày cuối của đời mình, ông càng bày tỏ nhiều hơn quan điểm chống chiến tranh và mong ước được nhìn thấy các nguồn tài nguyên được tái phân phối sao cho giảm thiểu sự bất công trong các lĩnh vực kinh tế và chủng tộc.

Năm 1968, King và SCLC tổ chức “Chiến dịch cho Dân nghèo” với mục tiêu trình bày các vấn đề về công bằng trong kinh tế. Chiến dịch được đẩy lên cao điểm trong một cuộc diễu hành tại Washington, D.C., đòi hỏi trợ giúp về kinh tế cho các cộng đồng nghèo nhất tại Hoa Kỳ.



Ngày 3 tháng 4 năm 1968 khi nói chuyện với một đám đông đang phấn chấn, lời của King như một lời tiên tri:

Tôi không quan tâm điều gì đang xảy ra... người ta đang bàn tán về những lời đe dọa - những người anh em da trắng sẽ làm gì tôi... Giống mọi người, tôi muốn được sống lâu. Trường thọ là điều quí báu, nhưng hiện nay tôi không quan tâm đến nó. Tôi chỉ muốn tuân phục ý Chúa. Ngài cho phép tôi leo lên đỉnh núi, nhìn về phía xa, và tôi đã thấy Đất Hứa. Có thể tôi sẽ không đến đó cùng với anh em. Nhưng đêm nay tôi muốn anh em biết rằng, chúng ta, như là một dân tộc, sẽ tiến vào Đất Hứa. Đêm nay tôi thấy mình hạnh phúc. Tôi không lo lắng gì nữa. Tôi không sợ hãi ai nữa. Mắt tôi đã ngắm xem sự vinh hiển của Chúa.

Nhiều người tin rằng, đêm hôm đó, King đã đọc điếu văn cho chính mình.

Ám sát

ing bị ám sát vào chiều tối hôm sau, ngày 4 tháng 4 năm 1968, vào lúc 6 giờ 01 phút, khi ông đang đứng trên ban công của khách sạn Lorraine tại Memphis, Tennessee, sắp sửa rời khách sạn để dẫn đầu một cuộc tuần hành ủng hộ liên đoàn công nhân vệ sinh của người da đen tại Memphis. Vài người bạn đang ở bên trong, nghe tiếng súng vội chạy ra ban công để thấy King đã bị bắn vào hàm. Jesse Jackson, có mặt vào lúc ấy, thuật lại rằng, King nói lời sau cùng với Ben Branch, một nhạc sĩ được sắp xếp trình diễn trong đêm ấy: “Này Ben, hãy hứa với tôi là đêm nay anh sẽ chơi bài Take My Hand, Precious Lord, và phải chơi thật hay.”

Sau cuộc giải phẫu, Bệnh viện St. Joseph tuyên bố King từ trần lúc 7giờ 5 phút tối cùng ngày. Ngay sau khi King bị ám sát đã bùng nổ những cuộc bạo động lan rộng trên hơn 100 thành phố trên khắp nước Mỹ.

Ngày 7 tháng 4, Tổng thống Johnson công bố một ngày quốc tang để bày tỏ sự tiếc thương cho cái chết của nhà lãnh đạo phong trào dân quyền. Ba trăm ngàn người đã tìm đến để tham dự tang lễ của ông

Theo yêu cầu của bà King, bài thuyết giáo cuối cùng của King tại Nhà thờ Baptist Ebenezer vào ngày 4 tháng 1 năm 1968 được phát lại trong lễ tang. Trong đó, King yêu cầu đừng nhắc đến các giải thưởng mà ông được trao, nhưng hãy nói với mọi người rằng ông đã nỗ lực “cho người đói ăn”, “mặc áo cho người trần truồng”, “hành xử đúng đắn trong vấn đề chiến tranh [Việt Nam]”, cũng như “yêu thương và phục vụ nhân loại”.Bạn thân của King, Mahalia Jackson thể hiện ca khúc ông yêu thích "Take My Hand, Precious Lord".

Theo người viết tiểu sử King, Taylor Branch, cuộc giải phẫu tử thi cho thấy dù chỉ mới ba mươi chín tuổi, quả tim của King đã già cỗi như của người sáu mươi, một chứng cứ về mười ba năm căng thẳng trong cuộc đời của người đã cung hiến mình cho cuộc đấu tranh giành quyền bình đẳng cho các sắc dân thiểu số ở nước Mỹ.

Hai tháng sau, James Earl Ray bị bắt tại Phi trường Heathrow Luân Đôn khi đang tìm cách ra khỏi nước Anh với hộ chiếu giả. Ray bị giải giao về Tennessee, và bị kết án ám sát King. Ngày 10 tháng 3 năm 1969, Ray nhận tội, nhưng ba ngày sau lại phản cung.Theo lời khuyên của luật sư, Ray nhận tội nhằm tránh án tử hình, và lãnh án 99 năm tù. Ngày 10 tháng 6 năm 1977, một thời gian ngắn sau khi làm chứng trước Ủy ban Hạ viện về các vụ ám sát, Ray cho biết mình không bắn King, Ray và 6 tù nhân khác trốn khỏi Nhà tù Tiểu bang Núi Brushy, Tennessee. Song, ngày 13 tháng 6, họ bị bắt và bị đem trở lại nhà tù.

Di sản


Các vị thánh thế kỷ 20 tại Tu viện Westminster, (từ trái) Mẹ Elizabeth của Nga, Mục sư Martin Luther King, Jr., Tổng Giám mục Oscar Romero, và Mục sư Dietrich Bonhoeffer.

Sau khi chết, danh tiếng của King càng tăng cao, trở nên một trong những tên tuổi được kính trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ, và nhiều người bắt đầu ví sánh ông với Abraham Lincoln; theo nhận xét của họ, cả hai đều là những nhà lãnh đạo có công thúc đẩy sự tiến bộ về nhân quyền nhằm chống lại tình trạng nghèo khổ tại một quốc gia đang bị phân hoá vì chính vấn nạn này – và vì vậy, cả hai đều bị ám sát.

Sau cái chết của King, Coretta Scott King tiếp bước chồng để trở thành nhà hoạt động đấu tranh cho dân quyền và công bằng xã hội. Trong năm Martin Luther King bị ám sát, Bà King thiết lập Trung Tâm King nhằm mục đích bảo tồn các di sản của ông và cổ xuý tinh thần bất bạo động trong đấu tranh cũng như lòng khoan dung trên toàn thế giới.

Năm 1980, ngôi nhà thời thơ ấu của King ở Atlanta cùng các tòa nhà lân cận được công bố là Di tích Lịch sử Quốc gia Martin Luther King, Jr. Ngày 2 tháng 11 năm 1983, tại Vườn Hồng Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Ronald Reagan ký sắc lệnh thiết lập ngày lễ liên bang tôn vinh King. Ngày lễ Martin Luther King được cử hành lần đầu tiên ngày 20 tháng 1 năm 1986, vào ngày thứ Hai thứ ba của tháng 1 mỗi năm; như vậy ngày lễ sẽ là những ngày kế cận với ngày sinh của King (15 tháng 2). Ngày 17 tháng 1 năm 2000, lần đầu tiên Ngày lễ Martin Luther King được tổ chức trên toàn thể 50 tiểu bang của nước Mỹ.

Năm 1998, Hội Ái hữu Alpha Phi Alpha được sự ủy thác của Quốc hội Hoa Kỳ thành lập tổ chức gây quỹ thiết kế Đài Tưởng niệm Quốc gia Martin Luther King. King là thành viên danh tiếng của Hội Ái hữu Alpha Phi Alpha (ΑΦΑ), đây là hội ái hữu liên đại học đầu tiên của người Mỹ gốc Phi được đặt tên theo bảng chữ cái Hi văn. King sẽ là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được lập đài tưởng niệm trong khu vực thuộc công viên quốc gia National Mall, và là nhân vật thứ hai không phải là tổng thống Hoa Kỳ được vinh danh theo cách này.

King là một trong mười thánh tử đạo thế kỷ 20 được tạc tượng trên Great West Door của Tu viện Westminster tại Luân Đôn.

Ngoài Giải Nobel Hòa bình năm 1964, King được Ủy ban Do Thái Hoa Kỳ trao tặng Huân chương Tự do Mỹ vì những đóng góp đặc biệt “cho sự thăng tiến các nguyên tắc tự do của con người”.

Đến năm 2006, có hơn 730 thành phố trên khắp nước Mỹ đặt tên ông cho những đường phố của họ. Năm 1986, Quận King, tiểu bang Washington được đặt tên để vinh danh ông. Trung tâm hành chính thủ phủ Harrisburg của bang Pennsylvania là tòa thị chính duy nhất của Hoa Kỳ mang tên ông.

Để tưởng nhớ King, một con đường ở Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh được đặt theo tên ông .

Năm 1977, Tổng thống Jimmy Carter truy tặng King Huân chương Tự do của Tổng thống.

Theo một cuộc thăm dò của Gallup, King đứng thứ hai trong danh sách những nhân vật được ngưỡng mộ nhất trong thế kỷ 20


Phần mộ của Martin Luther King và vợ, Coretta Scott King tại Trung tâm King

Một cuộc thăm dò thực hiện bởi tạp chí TIME cho thấy King được xếp ở vị trí thứ sáu trong danh sách Nhân vật Thế kỷ.

King được chọn vào số Những người Mỹ vĩ đại nhất của mọi thời đại (đứng thứ ba), thực hiện bởi Kênh truyền hình Discovery và AOL.

Hôn nhân và Gia đình
King gặp Coretta Scott tại Boston, mối quan hệ của hai người bắt đầu khi King nói với Coretta trên điện thoại, “Trước vẻ đẹp quyến rũ của cô, tôi chẳng khác gì Napoleon trong trận Waterloo.” Ngày 18 tháng 6 năm 1952, King kết hôn với Coretta Scott. Hôn lễ được cha ông cử hành tại nhà của cha mẹ cô dâu .

Hai người có bốn con:

* Yolanda Denise King (1955 – 2007): Diễn viên, và là nhà hoạt động dân quyền, cô qua đời năm 2007 có lẽ do bệnh tim.
* Martin Luther King III (1957 - ): Người ủng hộ nhân quyền và là nhà hoạt động cộng đồng.
* Dexter Scott (1961 - ): Diễn viên và là nhà sản xuất phim tài liệu.
* Bernice Albertine: (1963 - ): Mục sư Baptist, cùng Martin King III cô hoạt động tích cực nhằm cải tổ Hội nghị Lãnh đạo miền Nam.



Bài phát biểu nhậm chức của tổng thống Barack Obama

Vào lúc khoảng 12h06 (giờ Washington) ngày 20/1, Barack Obama đã chính thức tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 44 của Mỹ, cam kết sẽ bắt đầu lại công việc chấn hưng đất nước. Dưới đây, VietNamNet xin giới thiệu toàn văn bài phát biểu tuyên thệ nhậm chức của ông chủ da màu đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ.


Tân Tổng thống Barack Obama đã đề cập tới "một kỉ nguyên mới của trách nhiệm" trong bài diễn văn tuyên thệ nhậm chức (Ảnh Reuters)


Những người đồng bào của tôi,

Tôi đứng đây ngày hôm nay, nhỏ bé trước trọng trách phía trước chúng ta, biết ơn vì sự tín nhiệm các bạn đã trao tặng, lưu tâm tới những hy sinh của ông cha chúng ta. Tôi đã cảm ơn Tổng thống Bush vì sự cống hiến của ông cho đất nước của chúng ta cũng như sự hào phóng và hợp tác mà ông đã thể hiện trong suốt quá trình chuyển giao (quyền lực) này.

Tính tới thời điểm hiện tại, 44 người Mỹ đã đọc lời tuyên thệ nhậm chức. Các lời lẽ đã được xướng lên trong những đợt thủy triều dâng trào của sự thịnh vượng và mặt nước tĩnh lặng của hoà bình. Tuy nhiên, thường thì lời tuyên thệ nhậm chức được thực hiện trong lúc những đám mây quần tụ và các cơn bão điên cuồng. Vào những giây phút này, nước Mỹ đang tiến bước không chỉ bởi vì kĩ năng và tầm nhìn của những người cầm quyền cao nhất mà vì chúng ta, người dân, vẫn trung thành với các tư tưởng của các bậc tiền bối và tôn trọng các văn bản đã ban hành của chúng ta.

Mọi việc đã diễn ra như vậy. Và chúng sẽ phải như vậy trong thế hệ này của người dân Mỹ.

Hiện ai cũng hiểu rõ việc chúng ta đang ở giữa khủng hoảng. Đất nước chúng ta đang trong cuộc chiến chống một mạng lưới bạo lực và sự hận thù rộng lớn. Nền kinh tế của chúng ta đặc biệt bị suy yếu, một hậu quả của sự tham lam và vô trách nhiệm của một số đối tượng, nhưng cũng là thất bại của toàn thể chúng ta trong việc đưa ra những quyết định khó khăn và chuẩn bị cho đất nước bước vào một thời kỳ mới. Rất nhiều gia đình mất nhà ở; việc làm bị cắt giảm; các doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động. Chăm sóc y tế của chúng ta quá đắt đỏ; các trường học của chúng ta không đáp ứng được mong đợi của nhiều người và mỗi ngày lại xuất hiện thêm những bằng chứng cho thấy các cách thức sử dụng năng lượng của chúng ta đang tăng cường sức mạnh cho các kẻ thù của chúng ta và đe doạ hành tinh này.

Đây là những biểu hiện của khủng hoảng, theo các dữ liệu và con số tính toán. Thiếu tính toán nhưng không thiếu đào sâu suy nghĩ là sự đào bới niềm tin khắp mảnh đất của chúng ta - một nỗi sợ hãi dai dẳng rằng sự suy sụp của nước Mỹ là không thể tránh khỏi và rằng thế hệ tiếp theo sẽ phải hạ thấp các tầm ngắm của họ.

Hôm nay, tôi nói với các bạn rằng những thách thức mà chúng ta đang đối mặt là có thực. Chúng rất nghiêm trọng và rất nhiều. Chúng sẽ không dễ gì được giải quyết hoặc kéo dài trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, nước Mỹ nên biết điều này - các thách thức đó sẽ được giải quyết.

Ngày hôm nay, chúng ta có mặt ở đây vì chúng ta đã chọn hy vọng thay vì sợ hãi, thống nhất các mục đích thay vì xung đột và bất hoà.

Ngày hôm nay, chúng ta tới đây để tuyên bố chấm dứt những lời than phiền vụn vặt và những lời cam kết giả dối, các lời buộc tội lẫn nhau và niềm tin rạn nứt và chấm dứt việc đời sống chính trị của chúng ta đã bị bóp nghẹt quá lâu rồi.

Chúng ta vẫn là một đất nước non trẻ, nhưng theo Kinh thánh, thời gian đã tới để loại bỏ những thứ ngây ngô. Thời gian đã tới để tái xác nhận một lần nữa tinh thần nhẫn nại của chúng ta; để lựa chọn cho chúng ta lịch sử tốt đẹp hơn; chuyển giao món quà quý giá đó, ý tưởng đáng khâm phục đó, vốn được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác: Lời cam kết của Chúa rằng tất cả đều bình đẳng, tất cả đều tự do và tất cả đều xứng đáng có cơ hội được theo đuổi tiêu chuẩn toàn diện của họ về hạnh phúc.

Trong khi tái khẳng định sự vĩ đại của đất nước chúng ta, chúng ta hiểu được rằng sự vĩ đại không bao giờ là cái có sẵn. Đó là thứ phải giành được. Cuộc hành trình của chúng ta chưa bao giờ là một trong những chuyến đi rút ngắn hay được định đoạt vì cái kém cỏi hơn. Đó không phải là con đường dành cho những người nhút nhát - cho những ai thích sự nhàn rỗi hơn công việc hay chỉ tìm kiếm niềm vui thích của sự giàu có và nổi tiếng. Nói đúng hơn, đó là con đường dành cho những người chấp nhận mạo hiểm, những người thực hiện, sáng tạo ra mọi thứ - một số người nổi danh nhưng đa phần họ là những người phụ nữ, nam giới vô danh trong công việc của mình, những người đã đưa chúng ta tiến bước trên con đường dài, gập ghềnh để tới sự thịnh vượng và tự do.

Đối với chúng ta, họ đã gói ghém những hành trang trải nghiệm ít ỏi của mình và vượt qua các đại dương để tìm kiếm một cuộc sống mới.

Đối với chúng ta, họ đã làm việc cặm cụi trong các công xưởng bóc lột công nhân tàn tệ và định cư ở phương Tây; chịu đựng đòn roi và cày những mảnh đất cằn cỗi.

Đối với chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh; ở những nơi như Concord và Gettysburg; Normandy...

Thời gian và một lần nữa những người phụ nữ và nam giới này đã đấu tranh, hy sinh và làm việc cho tới khi tay họ chai lại để chúng ta có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Họ đã nhận thấy nước Mỹ to lớn hơn một tập hợp của những tham vọng cá nhân của chúng ta; vĩ đại hơn tất cả những khác biệt về dòng dõi hay của cải hoặc bè phái.

Đây là cuộc hành trình mà chúng ta sẽ tiếp tục ngày hôm nay. Chúng ta vẫn là một cường quốc thịnh vượng và hùng mạnh nhất trên trái đất. Các công nhân của chúng ta không kém năng suất hơn khi cuộc khủng hoảng đã bắt đầu. Đầu óc chúng ta không kém sáng tạo hơn. Nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ của chúng ta không kém hơn tuần trước, tháng trước hay năm trước. Khả năng của chúng ta vẫn chưa bị suy giảm. Tuy nhiên, thời mà chúng ta vẫn khư khư ý kiến bảo vệ các lợi ích hẹp hòi và trì hoãn các quyết định khó khăn chắc hắn đã qua. Bắt đầu từ hôm nay, chúng ta phải vực dậy bản thân, cải thiện mình và bắt đầu lại công việc tái thiết nước Mỹ.

Ở bất cứ đâu mà chúng ta hướng tới sẽ có việc cần phải hoàn thành. Tình trạng kinh tế đòi hỏi hành động, táo bạo và mau lẹ. Và chúng ta phải hành động - không chỉ tạo ra các việc làm mới mà đề ra một cơ sở mới cho sự tăng trưởng. Chúng ta sẽ xây dựng các con đường, các cây cầu, mạng lưới điện và các tuyến dữ liệu mã hoá giúp ích cho nền thương mại của chúng ta và gắn kết chúng ta với nhau. Chúng ta sẽ khôi phục khoa học về đúng chỗ của nó cũng như tận dụng sự kỳ diệu của công nghệ để cải thiện chất lượng chăm sóc y tế và hạ giá thành dịch vụ này. Chúng ta sẽ khai thác mặt trời, gió và đất đai để tiếp nhiên liệu cho các xe hơi của chúng ta và vận hành các nhà máy. Và chúng ta sẽ cải tổ các trường phổ thông, cao đẳng và đại học của chúng ta nhằm đáp ứng những yêu cầu của một thời kỳ mới. Tất cả những điều này chúng ta có thể làm được. Tất cả những điều này chúng ta sẽ làm.

Hiện tại, có một số người đang hoài nghi về mức độ các tham vọng của chúng ta. Họ đề xuất rằng hệ thống của chúng ta sẽ không thể chống chịu được quá nhiều kế hoạch lớn. Khả năng ghi nhớ của họ thật hạn hẹn vì họ đã quên những gì mà đất nước này đã làm được; những gì mà những người phụ nữ và nam giới tự do có thể giành được khi khả năng sáng tạo được hoà hợp vì mục đích chung; và hoàn cảnh bắt buộc phải có dũng khí.

Điều mà những người hoài nghi không hiểu là đất đã chuyển dời dưới chân họ và rằng những luận điểm chính trị cũ rích từng huỷ hoại chúng ta suốt một thời gian dài không còn hiệu quả nữa. Câu hỏi chúng ta đặt ra ngày hôm nay không phải là liệu chính phủ của chúng ta quá lớn hay quá nhỏ mà là liệu nó có hoạt động hiệu quả , liệu nó có thể giúp đỡ các gia đình tìm được việc với thu nhập hợp lí, sự quan tâm mà họ có thể được hưởng và sự nghỉ ngơi đáng đề cao. Nếu câu trả lời là có, thì chúng ta dự định tiến bước. Nếu câu trả lời là không thì mọi chương trình sẽ chấm dứt. Và những ai trong chúng ta, những người nắm quyền quản lý các đồng đô la của công chúng sẽ phải chịu trách nhiệm - chi tiêu khôn ngoan, thay đổi những thói quen xấu và làm công việc của mình trong sự minh bạch - bởi vì chỉ khi đó chúng ta mới có thể khôi phục được sự tin tưởng thiết yếu giữa người dân và chính phủ của họ.

Câu hỏi phía trước chúng ta hiện nay cũng không phải là: liệu thị trường là một lực lượng vĩnh viễn hay tạm thời. Sức mạnh tạo ra của cải và phát triển sự tự do của nó là không thể sánh kịp nhưng cuộc khủng hoảng đã gợi nhắc chúng ta rằng không có một cái nhìn thận trọng thì thị trường có thể vọt ra ngoài tầm kiểm soát - và rằng một đất nước không thể thịnh vượng dài lâu khi họ chỉ chú trọng đến những thuận lợi. Sự thành công của nền kinh tế chúng ta luôn luôn không những phụ thuộc vào quy mô tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mà còn cả phạm vi của sự thịnh vượng; vào khả năng mở rộng cơ hội tới mọi con người quyết tâm - không nằm ngoài lòng nhân hậu mà bởi vì đó là con đường chắc chắn nhất hướng tới sự tốt đẹp chung cho tất cả chúng ta.

Vì lợi ích chung, chúng ta phản đối việc đánh đổi việc giữ gìn sự an toàn với lý tưởng của chúng ta. Ông cha ta đã đối mặt với khó khăn vất vả và hy sinh để thảo nên và giữ gìn những quy định về quyền con người, đã có những chương sử viết bằng máu của biết bao thế hệ. Những lý tưởng đó vẫn soi sáng thế giới hôm nay, và chúng ta không hy sinh chúng. Và xin gửi lời tới nhân dân và chính phủ các nước đang dõi xem buổi lễ hôm nay, từ những thủ đô tráng lệ nhất cho tới những thôn làng nhỏ nhất như nơi cha tôi đã sinh ra, rằng xin hãy biết nước Mỹ là bạn của mỗi quốc gia, mỗi người đàn ông, đàn bà, trẻ thơ đang tìm kiếm hoà bình và danh dự. Và một lần nữa, chúng ta đã sẵn sàng đi đầu trong sự nghiệp chung đó.

Hãy nhớ rằng các thế hệ gần đây đã đối mặt với phát xít...không chỉ bằng tên lửa và xe tăng, mà bằng cả sự đoàn kết keo sơn và bằng những lý lẽ chắc chắn, vững vàng. Những thế hệ tiền bối đó đã hiểu rằng, chúng ta không thể chỉ dùng sức mạnh để bảo vệ mình, hay tự cho phép mình làm như vậy. Thay vào đó, họ đã hiểu rằng sức mạnh của chúng ta phát sinh từ việc sử dụng hợp lý sức mạnh sẵn có một cách phù hợp nhất; an ninh của chúng ta có được từ chính nghĩa, chẳng hạn, từ sự khiêm nhường và kiềm chế thực sự.

Chúng ta là người gìn giữ những huyền thoại đó. Với những nguyên tắc này làm kim chỉ nam, một lần nữa, chúng ta có thể có được sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau tốt hơn từ các quốc gia khác nhau, một khi phải đối mặt với những nguy cơ lớn hơn trong tương lai. Chúng ta sẽ chuyển giao Iraq một cách có trách nhiệm cho nhân dân Iraq, và củng cố nền hoà bình ở Afghanistan.

Xin nói với cả các bạn xưa lẫn những kẻ thù cũ, rằng chúng tôi sẽ phải làm việc không mệt mỏi để có thể giảm thiểu các nguy cơ hạt nhân và đẩy lùi bóng ma của việc ấm lên toàn cầu. Chúng tôi sẽ không xin lỗi về cách sống của mình, cũng như không do dự trong việc bảo vệ cho mình, và với những kẻ muốn thực hiện mưu đồ khủng bổ và giết hại dân thường vô tội, xin cảnh báo rằng tinh thần của chúng tôi giờ thậm chí còn mạnh mẽ hơn và không thể bị phá vỡ, các người sẽ không thể tồn tại lâu và chúng tôi sẽ đánh bại các người.

Và chúng ta hiểu rõ di sản của mình là sức mạnh lớn chứ không phải là điểm yếu. Chúng ta là một đất nước của người Thiên Chúa Giáo cũng như Hồi Giáo, của người Do Thái cũng như người Hindus — và của người không theo đạo. Chúng ta được định hình từ mọi thứ ngôn ngữ và văn hoá, vẽ từ những nét khác nhau từ khắp trái đất này; và vì chúng ta cũng đã nếm trải vị đắng của nội chiến đau thương, và cũng đã nổi lên từ đêm đen đó bằng sức mạnh của tình đoàn kết, chúng ta không thể không tin rằng, những định kiến xưa cũ rồi sẽ biến mất hoàn toàn; những khoảng cách về dòng giống sẽ được giải quyết hoàn toàn; và khi đó thế giới sẽ trở nên gần gũi hơn, nhân quyền của chúng ta sẽ tự sáng lên; và Mỹ phải đóng vai trò thúc đẩy một kỷ nguyên mới của hoà bình.

Và xin gửi lời tới thế giới Hồi Giáo rằng, chúng tôi đang tìm kiếm một hướng đi mới tới phía trước, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau. Xin nói với những nhà lãnh đạo trên trái đất đang kiếm cách gây hiềm khích, hoặc đang đổ lỗi những yếu kém của mình là do phương Tây gây ra, xin hãy biết rằng nhân dân của các vị sẽ phán xét các vị dựa trên những gì các vị đang dựng xây chứ không phải đang phá huỷ. Xin nói với những ai đang leo lên quyền lực bằng con đường tham nhũng và trấn áp sự bất đồng chính kiến, rằng các vị đang đi sai con đường lịch sử, song chúng tôi sẽ dang tay nếu các vị tự giải phóng cho mình đầu tiên.

Và xin gửi lời tới nhân dân các nước nghèo, rằng chúng tôi cam kết sẽ đứng cùng các bạn để giúp mùa màng các bạn bội thu, để khơi thông những dòng nước mát lành, để nuôi dưỡng những cơ thể đang héo hon và để bồi đắp tinh thần cho những con người đang khao khát nhận thức. Và xin nói với những quốc gia giống quốc gia chúng tôi, những quốc gia đang được hưởng thụ khá nhiều, rằng đã đến lúc chúng ta không nên để cho những người dân khác phải sống trong chịu đựng dù ở ngoài biên giới chúng ta, và đã đến lúc chúng ta không thể tiêu thụ tài nguyên của thế giới mà không để ý tới những hậu quả của nó với xung quanh. Để có một thế giới đổi thay, chúng ta phải thay đổi cùng nó.

Trong khi chúng ta đang xem xét cho đoạn đường phía trước, hãy dành những tình cảm biết ơn và kính trọng cho những người Mỹ dũng cảm mà vào giờ phút này đây, đang bồng súng đi tuần trên cát nóng sa mạc hay trên những ngọn núi cao ngoài xa. Họ có nhiều điều để nói với chúng ta hôm nay, hay những người đã nằm xuống trong tiếng nguyện cầu ở Arlington nhiều thế hệ nay. Chúng ta tôn vinh họ không chỉ vì họ là những người gác canh cho tự do của chúng ta, mà còn vì họ là biểu trưng cho tinh thần phục vụ nhân dân, cho sự sẵn sàng cống hiến vì một mục tiêu cao cả hơn cả lo cho bản thân mình. Và điều đó, ngay trong lúc này đây - thời khắc quyết định một thế hệ mới – đó chính là tinh thần mà chúng ta thừa hưởng.

Bất cứ những gì chính phủ có thể làm và buộc phải làm, nhất thiết phải trung thành và kiên định với nhân dân, nền tảng của đất nước này. Lòng tốt sẽ được ghi nhận khi cứu giúp người lạ khi có một con đê bị vỡ. Lòng vị tha sẽ được ghi nhận khi những người công nhân thà giảm giờ làm của mình còn hơn nhìn thấy đồng nghiệp phải mất việc trong những thời khắc khó khăn nhất. Lòng dũng cảm sẽ được ghi nhận khi ngwời lính cứu hoả tìm đường leo lên cầu thang dày đặc khói hay thậm chí chỉ là việc bố mẹ nuôi dưỡng con cái mình. Những đức tính đó tạo nên số phận của chúng ta.

Thách thức của chúng ta có thể sẽ phát sinh mới lạ. Công cụ đi kèm với những thách thức đó mà chúng ta phải đối mặt có thể cũng mới lạ. Song với những giá trị đã giúp tạo nên thành công của chúng ta – siêng năng, trung thực, dũng cảm, fair play, khoan dung, quan tâm chia sẻ, trung thành và ái quốc – thì những thách thức mới lạ ấy rồi cũng sẽ trở thành quá khứ. Những thách thức là có thực. Nó âm thầm xuyên suốt lịch sử của chúng ta. Đòi hỏi của quá khứ là phải tìm ra sự thật. Đòi hỏi của chúng ta ngày nay là một kỷ nguyên mới với đầy đủ trách nhiệm - một sự công nhận, đối với mọi người Mỹ, rằng chúng ta phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, với đất nước và với thế giới, những trách nhiệm mà chúng ta không thể nhận bừa song lại phải đón lấy nó một cách vui vẻ, với lập trường vững chắc rằng không có gì thoả mãn tinh thần hơn, định nghĩa được tính cách chúng ta hơn là xả thân vì những trọng trách như vậy.

Thách thức đó là cái giá của những cam kết về quyền công dân.

Đó là khởi nguồn của niềm tin của chúng ta - niềm tin tưởng rằng Chúa Trời đã gọi tên chúng ta để kiến tạo nên vận mệnh chưa định sẵn.

Đây là ý nghĩa của tự do và hệ tư tưởng của chúng ta, là lý do mà mỗi người đàn ông, đàn bà, trẻ thơ của mọi sắc tộc có thể cùng tham gia hội họp cùng nhau tại địa điểm tráng lệ này, là lý do mà một người đàn ông mà nếu chưa đầy 60 năm trước không thể phục vụ ở một nhà hàng địa phương thì giờ đây lại có thể đang đứng đây để chuẩn bị tuyên thệ nhậm chức.

Vì vậy hãy cùng nhau ghi nhớ ngày này, để biết chúng ta là ai và chúng ta đã tiến xa tới đâu. Vào cái năm nước Mỹ được sinh ra, trong tháng lạnh giá nhất, một nhóm nhỏ những người yêu nước dồn lại trong tình cảnh lửa đang tắt lịm dần bên một dòng sông đã đóng băng. Thủ đô đã bị phong toả. Quân thù đang tiến tới. Tuyết trắng chan hoà cùng máu đỏ. Vào thời khắc mà cuộc cách mạng đang đứng trước thời khắc thử thách nhất, người cha của đất nước ta đã đọc những lời này với mọi người:

"Hãy để hậu thế nói với thế giới tương lai… rằng giữa sâu thẳm của mùa đông, khi mà không còn tồn tại gì ngoài hy vọng và nhân cách... rằng thành phố và đất nước của ta, đang đối mặt với một nguy hiểm chung, hãy tiến lên đối mặt với nó!"

Nước Mỹ, đang đối mặt với một nguy hiểm chung, vào thời khắc mùa đông khó khăn này, chúng ta hãy cùng nhớ lại những từ bất hủ đó. Với hy vọng và nhân cách, một lần nữa, chúng ta hãy dũng cảm đối mặt với tình thế đóng băng hiện nay, và bền gan cho dẫu bão tố nào có tới đi nữa. Hãy để cháu chắt của chúng ta được nghe chuyện rằng, khi chúng ta bị thử thách, chúng ta đã không bỏ dở hành trình, chúng ta không lui bước hay gục ngã; và với đôi mắt nhìn thẳng về chân trời phía trước cùng Chúa trời phù hộ trên cao, chúng ra tiếp tục dành lấy món quà tuyệt vời của tự do và giao nó cho các thế hệ tương lai.

T.B - H.Q (dịch)

Barack Obama life (photo)


Thượng nghị sĩ Barack Hussein Obama sinh ra tại Honolulu, Hawaii, vào ngày 4/8/1961. Ảnh: Reuters



Cha ông, Barack Obama Sr., sinh ra và lớn lên tại một ngôi làng nhỏ ở Kenya. Ảnh: AP.



Mẹ ông là Ann Dunham, người Wichita, bang Kansas của Mỹ. Ảnh: AP.



Cha mẹ ly thân khi Obama hai tuổi và sau đó ly dị. Mẹ ông đi bước nữa, cả nhà chuyển đến Indonesia vào năm 1967. Trong bức ảnh Obama (phải) ngồi cạnh mẹ, cha dượng và em gái. Ảnh: AP.



Sau này, Obama quay trở lại Mỹ sống cùng ông bà ngoại. Ông theo học ở Đại học Columbia (New York), chuyên ngành khoa học chính trị và tốt nghiệp năm 1983. Ảnh: AP.



Obama tiếp tục theo học luật tại Harvard và tốt nghiệp vào năm 1991. Ảnh: AP.



Ông gặp người vợ tương lai Michelle Robinson vào năm 1988. Hai người tiến tới hôn nhân vào tháng 10/1992. Ảnh: AP.



Hai con gái của Obama, Malia và Sasha, lần lượt ra đời vào năm 1998 và 2001. Ảnh: AP.



Obama được bầu vào thượng viện Mỹ năm 2004. Ông là thượng nghị sĩ Mỹ gốc Phi thứ năm trong lịch sử đất nước. Ảnh: Reuters.



Sau nhiều tháng chạy đua với nữ thượng nghị sĩ Hillary Clinton, hôm qua Obama đã chính thức trở thành ứng viên tổng thống đại diện đảng Dân chủ. Ảnh: Reuters.

Harvard - Giấc mơ Mỹ

Điều hấp dẫn đầu tiên về Harvard là trường đại học này có lịch sử dài hơn cả... lịch sử nước Mỹ: 372 năm. Havard đã đào tạo cho nước Mỹ 6 vị Tổng thống. Nhân vật nổi tiếng gần nhất được trao bằng dù chưa kết thúc thời gian học tập tại đây chính là Bill Gates.


Trường ĐH Harvard.

Giấc mơ của mọi sinh viên

Ông Haji-Ioannou, cựu sinh viên, Chủ tịch hãng Vận tải biển Stelmar Tankers nói: “Tôi cho rằng mình đã đi trên đôi chân thật vững vàng, và tôi cảm ơn Harvard, vì trường và các giảng viên đã cho tôi không chỉ kiến thức, mà còn cho tôi nhiều hơn thế. Đó là lòng tự tin!”.

Một sức hấp dẫn lớn nhất nữa ở Harvard là: không phải chỉ vì có điểm cao chót vót bạn mới được nhận vào trường đại học danh tiếng này, mặc dù theo thống kê thậm chí những học sinh có số điểm trung bình là 97,27 cũng bị trường Havard trả về.


Còn gì đẹp hơn ước mơ được cắp sách ở Cambridge và trở thành một “con người quốc tế” ở Harvard?

Một sinh viên, con trai của đại sứ Mỹ tại Trung Quốc từng tâm sự: “Kết quả học tập hồi trung học của tôi cũng không phải thật xuất sắc, nhưng sau cuộc phỏng vấn tôi đã được nhận vào. Lúc ấy vị giám khảo đã nói: “Chúng tôi quan tâm đến việc anh sẽ đạt được những gì trong tương lai, chứ không phải là những việc mà anh đã đạt được trong quá khứ”.

Trường Harvard cho rằng, giáo dục đại học không phải là đào tạo ra một loạt những con mọt sách làm việc máy móc, mà là chỉ dẫn cho sinh viên biết cách làm thế nào để đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau. Bản thân thương hiệu này cần những “Con người quốc tế”. Đó chính là những người có tầm nhìn mang tính quốc tế.


Trường Hành chính công thuộc hệ thống Harvard

Với bất cứ sinh viên nào, còn gì đẹp hơn ước mơ được cắp sách ở Cambridge và trở thành một “con người quốc tế” ở Harvard?

Thương hiệu người giảng dạy

Những giáo sư, tiến sĩ siêu nhất, hay những người nổi tiếng ở một lĩnh vực nào đó thường là đích nhắm của các trường đại học. Riêng với Harvard, tiền chưa bao giờ là vấn đề, vì thế họ luôn có những giảng viên giỏi nhất, thậm chí là theo yêu cầu của sinh viên.



Cửa hàng sách của trường Harvard

Ví dụ như trường hợp của Giáo sư sử học người Anh Niall Ferguson, được coi là người giảng lịch sử hay nhất thế giới. Lúc đầu, Đại học Oxford chèo kéo ông, sau ông quay sang Đại học New York, để rồi cuối cùng Harvard xuất hiện và đề nghị ông với một mức lương gấp... 6 lần hai trường kia.

Hiện nay, Harvard có hơn 100 giảng viên đến từ gần 20 quốc gia khác nhau, trong đó 47 giáo sư đã từng đoạt giải Nobel. Những “ngôi sao” giáo sư, tiến sĩ này là nền tảng tạo cho Harvard một thương hiệu khó trường nào sánh được.

Môn học Learning style

Harvard rất đa dạng về các khoa nghiên cứu: Cổ Sinh học, Hoá học... và nhất là Kinh tế học. Là cái nôi đào tạo những giáo sư, tiến sĩ cho nước Mỹ. Trong tất cả các khoa của trường, một trong những môn học được coi là trọng tâm là “Learning style”, chuyên nghiên cứu về cách học cho mỗi sinh viên.




Thư viện

Nhiệm vụ của giảng viên trong môn học này là ngồi nói chuyện với càng nhiều sinh viên càng tốt. Qua đó, họ cảm nhận được tâm lý, trình độ, tính cách của mỗi người, rồi đưa ra những cách học hiệu quả nhất cho sinh viên. Đây cũng là môn học được đa số sinh viên yêu thích, bởi qua mỗi tiết học, họ lại có thể hiểu rõ hơn về chính mình mà lại được giao lưu với bạn bè, thầy cô giáo.

Phần lớn, sinh viên đều có thể tự đưa ra những phương pháp thích hợp cho mình, chính vì vậy, sinh viên của Harvard có khả năng tự học cực tốt. Harvard còn có một loại học bổng dành cho những phương pháp tự học được ứng dụng tốt nhất.

Harvard trả tiền để bạn… đi học

Do học phí quá cao (nhất nước Mỹ), không phải ai cũng có thể theo học ở đây. Nhưng có lẽ trên thế giới, không trường đại học nào có nhiều chế độ ưu đãi như ở Harvard. Đã từng bị coi là trường đại học cao cấp chỉ dành cho tầng lớp thượng lưu da trắng của Mỹ nhưng nhiều năm trở lại đây, Harvard đã có những thay đổi tích cực về vấn đề nhạy cảm này. Sinh viên có hoàn cảnh khó khăn (thu nhập gia đình dưới 40.000 USD/năm) đặc biệt là những sinh viên da màu được hỗ trợ từ 50 đến 80% học phí + giảm các khoản đóng góp.


Nhà xuất bản ĐH Harvard

Cụ thể, nếu gia đình bạn chỉ có mức thu nhập là 80.000 USD/ năm, thì mỗi năm bạn chỉ phải đóng 15.000 USD, Harvard sẽ trợ cấp cho bạn 21.000 USD. Hiện 2/3 số sinh viên trường đang nhận ít nhất một loại trợ cấp tài chính nào đó.

Về học bổng, ngay tại Harvard cũng đã có đến mấy chục loại học bổng. Ngoài ra, chương trình học bổng của Harvard còn mở rộng khắp thế giới, đặc biệt ưu đãi với những nước đang phát triển, nơi có mỏ chất xám dồi dào chưa được khai thác hết vì thiếu tiền.

Harvard đã trao học bổng cho hoa hậu Mỹ năm 2002, Erika Harold ngay khi được biết cô có mong muốn trở thành luật sư.

Ký túc xá kiểu... Harvard



Trường ĐH Harvard

Harvard giờ đây không chỉ được biết đến như là một trường đại học, mà thực ra là cả một khu downtown với rất nhiều tòa nhà, hệ thống giao thông, nhà sách và các trung tâmmua sắm.

Tất cả các tòa nhà ở đây đều có đặc điểm là được xây bằng gạch đỏ với lối kiến trúc cổ xưa mang đậm chất hàn lâm. Những con phố nhỏ và ngắn tạo nên một cảm giác yên tĩnh và rất thanh bình. Phương tiện đi lại chủ yếu của sinh viên là xe đạp.

Ở phía gần cổng có một chỗ để xe đạp vì phía sâu bên trong chỉ cho phép đi bộ mà thôi. Có thể dễ dàng nhận thấy là ở đây hầu như không có chuyện giữ xe như ở Việt Nam, chỉ có một bảng báo hiệu cho biết chỗ này là khu vực để xe và mọi người cứ xếp xe vào đó thôi, có khóa lại nhưng nhìn chung tất cả đều rất ý thức và nhẹ nhàng.


Tượng John Harvard

Khung cảnh Harvard thực sự rất thơ mộng và cổ kính, các tòa nhà, giảng đường và thư viện được bố trí trong một khuôn viên rất rộng. Những bộ phim trước đây nói về trường Harvard (ví như Chuyện tình Harvard chẳng hạn) thực ra chưa bao giờ được quay ở Harvard thực cả, bởi người ta không cho phép quay phim trong này.

Ở đây có bức tượng nổi tiếng của John Harvard, người sáng lập ra trường đại học Harvard - thường được khách du lịch đến đây và... sờ vào giày của tượng vì cho rằng điều đó sẽ đem lại kiến thức và học vấn cho mình. Sân chơi cùng một sân bóng chày khổng lồ với sức chứa 40.000 người. Ngoài ra, thư viện của Harvard có 15 triệu đầu sách và là thư viện trường học lớn nhất thế giới.

Harvard Profile



1. Họ tên: Harvard University.



2. Năm sinh: 8/9/1636.



3. Quê quán: Thành phố Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ.



4. Fact: Harvard hiện có 9 trường lớn là Nghệ thuật và Khoa học, Y Khoa, Thần học, Luật, Kinh doanh, Quản lý nhà nước...



Homepage: http://www.harvard.edu




Crush On Obama





Obama Girl (kool)

I think he's a very handsome man. He attracts not only children but also girl

A PERFECT MAN



















A song I like and Why?

Listen the song while you read the things I've written. plz!!! smile coffee

A song I like

That is 'Yes We Can' song (Barack Obama Music)




May be I love this song because it is composed for my idol Barack Obama. bigsmile
When I listened it at the first time. It was not a pure song. And I thought: 'might be it was a Rap song of a Negro Artist.'

And I thought about the reason why they sang this song for him, Obama. I have asked that question for a long time. .........long time

...............................................
...and now I know answers. idea
I am not an American but I bring a thought of American. And of course, my mind is: I'm not a reactionary country.
I'm the rhythm to the time !!!!

I love this song 'cause it is a 'Phenomenon of America'. And may be it is always remind me to remember that "Yes, We Can".
It was a very long time and I thought about 'my huge dreams'. The things that they will never exist in my life, in my nation. May be? confused

A normal student with a huge dream: HARVARD UNIVERSITY. cool
.............................................................................................
First heard this song you may think it is political. But it is an encouraging to me.
I have been finding myself for a long time. When I found it, also I wanted to hide it away. 'Cause it very big. Like Obama, I want to change, not for me but for all people, for my nation. yah!!!! No, You can't.
I can't! But why?............'cause I think that I can't.
One day, a normal day, when I was listenning my favorite song 'Yes We Can'. I aksed "Why I heard this song?", "Why I like Obama?"............and
I found the answers.
.............................................................................................
I am understand clearly, right now!
I liked a hard to understad melody. Why?.........'cause It is Obama song. A song contains all of his aspirations.
I have learned from him - from this song.
That:
I must believe about myself
I must never give up
I must always try my best
and...
I will make my dreams to become the truth, a day not far.
and..
If I was exhausted....
If I was dispirited...
If i wanted to give up the dreams
so..
Let's listen this song again.........I tell myself that "YES WE CAN"

................................********................................

THANKS OBAMA!!!! THANKS FOR ALL THINGS
THANKS GIRL!!!!


THE END OF MY FIRST EXERCISE




Chủ Đề xuyên suốt CyraxTC'blog

CyraxTC sẽ post chủ đề xuyên suốt blog mình về các dạng nghiên cứu Kinh Tế học, Khoa Học đời sống, thường thức xã hội, các mục IT

bên cạnh đó là các vấn đề về giáo dục, tư tưởng



bài đầu tiên.

Pascal-Món quà cay độc của Bộ GDĐT

Một trong những món quà cay độc nhất mà Bộ GD ĐT dành cho giới trẻ, giới sinh viên học sinh trong lĩnh vực CNTT không phải cái gì khác, chính là ngôn ngữ lập trình Pascal. Một thứ ngôn ngữ mà hiện nay chỉ để dùng cho chơi, nghịch và chẳng làm nên một phần mềm nào ra hồn cả. eek

Pascal chạy trên hệ điều hành DOS, hệ điều hành mà chính Microsoft đã dùng nó làm bước đệm để xây dựng và phát triển thêm hệ điều hành Windows sau này. Các phiên bản Pascal trước đây đã bị phê phán rộng rãi vì không phù hợp cho việc sử dụng trong thực tế, ngoài việc dạy học và để cho trẻ con nghịch. Brian Kernighan, người truyền bá C, đã đưa ra những phê phán lớn nhất về Pascal trong đầu những năm 1980, bằng tác phẩm Why Pascal Is Not My Favorite Programming Language (Tại sao Pascal không phải là ngôn ngữ lập trình tôi ưa thích).

Ngày nay, các ngôn ngữ lập trình ngày càng đổi mới và phát triển thậm chí cả hệ điều hành đã thay lề thói làm việc mới, ngoại trừ Pascal, vẫn được bộ GD và ĐT VN cho học lại từ thuở cách đây 20 năm, thứ ngôn ngữ mà đời cha tôi học nay vẫn không hề thay đổi. Vẫn Pascal 7.1 và nó đã xung đột với hệ điều hành Windows XP, điều này muốn và sử dụng được nó, bạn phải cài và cài những cái gì mô tê vào khi mới bỡ ngỡ bước chân vào thế giới tin học. Không biết gì thì nộp tiền để người ta cài cho bạn chức năng hỗ trợ, cho máy của bạn chạy chương trình cũ hơn, chậm hơn và xấu hơn các ngôn ngữ có sẵn trong Windows của Microsoft.

Thừa biết là Microsoft có ý tiêu diệt Pascal từ lâu, họ đưa ra ngôn ngữ VB và hầu như mọi ứng dụng chạy trong Windows đều hỗ trợ lập trình VB. Microsoft đã từng mua Foxpro để .... chẳng làm gì cả, để cho nó chết , nhằm cho những người sử dụng chúng ta dùng sang ngôn ngữ và cách thức làm việc mới mà ông Microsoft hỗ trợ. Microsoft chắc nghe được tin quân nhà ta cứ cố học lấy cái Pascal mà hãng Borlan đã chết (Bị giải tán và hãng khác mua), các nhà lập trình học Borlan sẽ phải cảm ơn VN vì đã giúp cho ngôn ngữ này sống lâu đến vậy.

Pascal có gì đặc sắc? Chẳng có gì gọi là đặc sắc cả. Tôi khốn khổ tốn bao thời gian học tập nghiên cứu về Pascal, về đồ họa Graphic, về Overlay về UNIT của nó để rùi, chẳng làm được cái mô tê gì, mãi mới viết ra được mấy cái chương trình con con, chữ Việt thì đánh không dấu , đồ họa thì xấu mù, lỗi tràng giang... vì quá tin lời các thầy bảo Pascal là một ngôn ngữ lập trình trong sáng.

Nghiên cứu các ngôn ngữ lập trình khác, tôi có thể khẳng định ngôn ngữ Pascal không có gì nói là trong sáng hơn các ngôn ngữ khác. Câu nói trong sáng, chẳng qua là câu nói biện hộ các thầy giáo dạy Pascal, chính các thầy rất ít được tiếp xúc với các ngôn ngữ mới, cách thức làm việc mới, như kiểu đối tượng, thuộc tính và phương thức vậy. 20 năm qua,các thầy chỉ biết có một mình Pascal và tung hê Pascal lên tận trời xanh. Khiến cho cả một thế hệ trẻ lầm tưởng Pascal là ngôn ngữ tuyệt vời.

Người ta nói Pascal trong sáng ở chỗ nó là ngôn ngữ rõ ràng,minh bạch và ... quá rườm rà nữa. Hàng đống BEGIN, ENDchen chúc nhau, lẫn lộn với những dấu chấm phảy đầy rác rưởi. Cái đó lằu việt của Pascal ư? Không đời nào, chẳng lẽ người ta đã có cái khung IF THEN tại sao không phải là END IF như Basic, mà nó lại cứ phải BEGIN,END để người ta nhầm lẫn. Học Pascal, giống như cách học đóng gói, gói và gói khiến học sinh quá mệt mỏi với những vụ tìm chỗ sai thiếu thừa chấm phảy, thiếu thừa với END, BEGIN

Các ngôn ngữ khác lập trình, có lẽ gọn hơn, hay hơn và phù hợp hơn, nhưng lại không được đào tạo ở trường. Ví dụ như Visual Basic, cũng có các vòng lặp FOR NEXT, DO WHILE, cũng có IF và CASE... nói chung cũng có các cách phânh nhánh và lặp, các đối tượng như Pascal, tại sao không được học? Có lẽ cái ông quyết định học ngôn ngữ lập trình Pascal hoặc là chỉ biết đến vậy, hoặc là nhận phong bì của hay tương tự .


Pascal học để cho vui, học nó như là sử dụng cái xe thồ đi trên con đường CNTT trước kia. Ngày nay CNTT đã trở thành đại lộ,học sinh lẽ ra phải được tiếp cận ngay với các ngôn ngữ lập trình thông dụng , mạnh với nhiều hỗ trợ, như những chiếc xe hiện đại. Đằng này lại đâm đầu học cái ngôn ngữ xa xưa, cổ như đồ hơi nước. Mất thời gian mà chẳng làm được điều gì cả.

Ôi, cái sự học hành, đời ta đã trả giá. Đời sau vẫn phải trả giá vì mấy cái lập luận cổ hủ kia. Và lý thuyết suông vẫn là lý thuyết suông trong trường học Việt Nam không biết đến bao giờ?

Bài viết của MT.

nguồn www.khkt.net

Khai trương

hi hi

Hum nay ngày 2-6 (xém 1-6 ) tớ khai trương blog của tớ hehe . Mong bà con cô bác vô tham gia ủng hộ em cái nha:yes: . lol lol
Nào chúng ta cùng năng ly khánh thành nào no yes yes (zô zô zô 100%)



wizard king queen party bigsmile