Ðà-Nẵng-Xưa bài viết của Ðặng Luỹ
Tuesday, December 16, 2008 3:39:08 AM
Khi cánh phi cơ chao nghiêng để giảm cao độ thì giòng sông Cẩm Lệ đã hiện ra lờ mờ ở dưới làn mây mỏng. Xa hơn về phía phải là cụm núi Ngũ Hành Sơn và giải sông Hàn mở ra mù mịt về phía biển đông. Đà Nẵng, thành phố sống động bậc nhất của miền Trung hiện rõ dần theo đà xuống thấp của chiếc Airbus 320 Sài Gòn – Đà Nẵng.
Từ chỗ đợi để nhận hành lý, Thư đã thấy những bàn tay vẫy chào của những người thân đàng sau dãy cửa kính, lố nhố những người đi đón. Ai đó hình như có cả Kiều An, cô bạn trẻ ngày xưa. Lục đục một hồi với mấy cái xách hành lý và mấy ông kiểm tra ở phi cảng, cuối cùng Thư cũng lọt ra được cái cánh cửa cuối cùng của những sự phiền hà không cần thiết. Chị Hà, anh Vượng, bé Khánh Vân lăng xăng tíu tít với nỗi mừng vui gặp gỡ. Cạnh đó là thấp thoáng ngập ngừng của một khoảng cách vừa xa vừa gần, khuôn mặt của ngày xưa nay hơi lạ đi với ánh mắt chấp chới những nỗi buồn rầu không rõ nét. Kiều An đang im lặng nhìn ngắm cái hạnh phúc ồn ào, òa vỡ không phải của mình.
- Kiều An đi đón anh đó sao? Thư hỏi với giọng vừa ngạc nhiên lẫn xúc động.
- Vâng, anh Thư đi đường có mệt lắm không? Buổi sáng qua nhà chị Hà chơi thấy chị đang chuẩn bị đi đón anh và rủ em cùng đi. Câu nói như có lời phân trần, giải thích cho sự có mặt của mình.
- Cám ơn Kiều An, nảy thì có hơi mệt nhưng giờ thì đã khỏe lắm rồi. Đà Nẵng bây giờ trông lạ quá nhĩ?
- Rồi cậu sẽ thấy, chị Hà nhanh nhẩu tiếp lời. Đà nẵng bây giờ đã khác xưa toàn bộ.
- Cười cười chị nói tiếp nếu cậu muốn tìm lại chốn xưa thì e rằng phải đi mua bản đồ chỉ dẫn của thành phố thì mới tìm ra được nơi mình muốn đến.
- Em sẽ nhắm mắt lại và đi theo tiếng gọi của hồi ức thì sẽ đến đúng nơi.
- Chỉ sợ đi theo lối đó thì anh sẽ đến bệnh viện trước khi anh đến nơi mà mình muốn đến.
Kiều An khúc khích, tưởng anh sống ở Mỹ bao lâu thì đã thực tế đi nhiều lắm rồi chứ.
- Đàn ông có những bản năng linh thiêng để tìm về, trong giọt máu có sắc tố nguồn cội và lời gọi thiết tha, chỉ nghe và thấy được khi mình nhắm mắt lại phải thế không Thư. Anh Vượng từ băng ghế trên tham gia. chị Hà bỉu môi xì một tiếng:
- Làm như đàn ông các anh hay lắm vậy.
- Không phải sao? Anh Vượng cười ha hả khoái chí.
Đang giữa trưa, con đường từ phi trường về nhộn nhịp, ồn ào tiếng còi xe. Những cô gái trên chiếc xe hai bánh khuôn mặt bịt kín với những chiếc khăn màu, chỉ chừa hai con mắt. Bụi mù mịt từ lòng đường phủ lên hai hàng cây bên đường làm cho những chiếc lá như nặng đi, héo úa và rủ xuống đến tội nghiệp. Đà Nẵng của Thư những năm cũ không có hàng hoa sữa dọc đường và những cô gái bịt mặt. Bấy giờ chỉ có những gốc cây kiền kiền tỏa bóng và những đứa học trò ngồi tán dóc với nhau thoải mái trên những khúc rể xù xì. Con đường Quang Trung vời vợi bóng cây, tiếng sóng vỗ vào kè đá dọc bờ sông mênh mang lười biếng, và những giàn hoa giấy bên kia bờ Nại Hiên rực rỡ những ngày hè.
- Kiều An có bịt mặt như mấy cô gái kia không?
- Có chứ anh, nếu không thì em đã trở thành cô mọi đen Phi châu mất rồi. Phải không chị Hà? Ai ở đây bây giờ cũng trở thành hiệp sĩ thời trung cỗ. Như vậy cũng tiện, nhỡ có làm điều gì sai trái đi ra đường cũng đỡ ngượng.
- Nhưng nếu quen nhau thì làm sao mà nhận nhau?
- Không nên nhìn người quen ở ngoài đường phố anh ạ. Mỗi một con người ở đây chia ra làm hai, nửa ở nhà là nửa thật của mình với những cảm xúc chua xót và những giọt nước mắt mất mát, nửa kia ở ngoài đường với những lạnh tanh của tính toán làm ăn nên phải che lại để lừa dối nhau cho tiện việc.
- Kiều An có bi thảm hóa sự việc không?
- Đùa với anh cho vui đấy thôi, Đà Nẵng đang trong cơn lốc của kinh tế thị trường, ai cũng chỉ nghĩ tới chuyện mánh mung để làm giàu. Hy vọng một thời gian ngắn nữa sẽ giàu không kém những người giàu ở Mỹ.
Có cái gì đó như một tiếng thở dài ở đàng sau câu nói. Kiều An ngày nào ồn ào sinh động, ngây thơ như một con búp bê Tây phương, bây giờ từng trải, già dặn trong từng câu nói. Không biết cuộc đời đó đã đi qua những ngã rẽ nào trong cuộc sinh tồn khắc nghiệt này. Chiếc xe tắc xi chạy qua đường Thống Nhất cũ, những ngôi nhà hình hộp đủ kiểu, đủ màu cố choàng lấn ra ngoài mặt đường như những bức tranh trừu tượng rối rắm của Picasso trông đến nhức mắt. Cố gắng nhìn mãi Thư cũng vẫn không thấy được con dốc Cầu Vồng mặc dù xe đã qua khỏi ngã tư trường Nữ.
- Ủa mình đã đi qua Cầu Vồng chưa nhỉ?
- Chị đã nói với cậu, Đà Nẵng không còn là Đà Nẵng của ngày xưa đâu, con dốc đó người ta đã ủi đi rồi, cậu không thấy sao? Đường này bây giờ là Lê Duẫn “thênh thang tám thước”.
- Hôm người ta phá sập con dốc, em có đem về mấy viên gạch, gọi là giữ lại một chút Đà Nẵng xưa. Anh có muốn, em tặng anh làm món quà kỷ niệm.
- Muốn thì hẳn là muốn rồi, nhưng chỉ sợ kỷ niệm của Kiều An nặng ký quá, máy bay cất cánh không nổi và như thế anh sẽ ở lại đây mất thôi.
- Quê hương của anh mà, ở lại quê hương của mình thì có gì không phải? Anh không muốn thế sao?
Câu nói không hàm ý nhưng nghe như một lời trách móc. Phải rồi, đây là trường Phan Châu Trinh nơi có tuổi thơ ngọt lịm ly nước đá chanh của giờ ra chơi. Những điếu thuốc lá tập tểnh vào đời, quán cà-phê mờ tối, ý thức về thân phận nhược tiểu, chiến tranh và mùa hè đỏ lửa. Quê hương đó mấy mươi năm đã qua nhưng sao giờ vẫn còn thấy tội tình. Có cái gì đó vẫn nhức nhối, âm ỷ trong cơn đau chợt đến bất ngờ.
- Muốn chứ, muốn lắm chứ, nhưng anh là người bị đuổi đi, một người không có quyền công dân trên đất nước của chính mình, người với bản án muôn đời trong lý lịch “Ngụy”.
- Anh bây giờ là “Việt kiều yêu nước” lo gì.
- Anh chỉ được gọi yêu nước khi còn là Việt kiều, nếu không là thế thì anh vẫn “Ngụy”. Cách mạng lúc nào cũng sáng suốt.
Cuộc đối thoại tắt ngỏm khi chiếc xe đổ lại trước cổng nhà. Kiều An chào Thư và hẹn với chị Hà hôm nào sẽ sang chơi. Đà Nẵng đang vào hè, những cơn gió hiếm hoi từ vịnh Thanh Bình thổi vào không làm dịu đi cái hầm hập, oi bức nóng của vùng trời miền nhiệt đới. Những cô gái vẫn qua lại trên đường, đôi găng tay cuốn cao lên tới nách, và đôi mắt sau chiếc khăn thời trang lạ lùng bí ẩn, Thư lẩm bẩm. Kiều An chồng con gì chưa chị? Thư quay sang chị Hà đang lúi húi thu xếp cái bàn ăn.
- Không quay lại, chi Hà nói một hơi như lời ca quen thuộc
- Tội nghiệp, Chồng nó bị gọi nghĩa vụ, sang Campuchia mất tích sau một cuộc chạm súng gần biên giới Thái Lan, mọi người ở nhà cứ hy vọng nó vượt biên, nhưng bây giờ thì biết chắc là chết. Kiều An trở về nhà sống với mẹ. Bây giờ là chủ của một quán cà-phê gần đường Lê Đình Dương. Quán bán rất khá. Vẫn hỏi thăm em luôn đấy.
Lâu lắm rồi, Thư đã quên cái thú ngồi nhìn từng giọt cà-phê nhỏ xuống chậm, buồn. Từng giọt đen đặc quánh rơi vỡ trong mù mờ của tuổi trẻ. Tội nghiệp cho Thư, cho những thằng bạn vỡ nát lý tưởng trong góc tối quạnh hiu bên lề cuộc đời của những năm bảy mươi. Ngày ngày chỉ còn lại nhúm tình yêu, bè bạn và những liều độc dược. “...Đưa em xuống phố trưa nay, đang còn ngây ngất cơn say”. Cơn say dài đến mấy mươi năm mà vẫn đang còn váng vất.
Thư đến quán Đà-Nẵng-Xưa để thăm Kiều An. Khoảng 1 giờ trưa, quán vắng. Thư cố tình đến vào giờ này. Kiều An đang loay hoay xếp lại bình hoa ở trên quầy. Quán không rộng lắm, chỉ khoảng 15 bàn. Qua cửa sổ là khu vườn nhỏ lủng lẳng phong lan treo trên những cành mận sà thấp ngang đầu. Đàng sau quầy là bức tranh vẽ hình đứa con gái như đang bay lơ lửng trong thời gian của họa sĩ Đinh Cường. Tóc đứa con gái trải dài theo hàng cây khô dưới ánh mặt trời chói rực. Nhạc đang thủ thỉ những lời không tên của Vũ Thành An. Toàn thể không gian trong quán sóng sánh, nổi trôi, lười biếng. “ Mãi về sau, nước mắt khô cạn...” Kiều An quay ra,
- A, anh Thư! anh đang đi tìm Đà Nẵng Xưa? Anh có nhắm mắt mà đi không đấy?
- Có, anh đang lần theo tiếng chuông của Nguyễn Thị Hoàng. Tiếng gọi ai oán của người muôn năm cũ, đồng vọng và đẩy đưa anh đến đây.
- Như thế có nghĩa là anh không đến đây để thăm em? Thế mà em cứ tưởng...bở.
- Kiều An có quyền tưởng... thật, Kiều An cũng là Đà -Nẵng-Xưa mà, ít nhất cũng trong phong cách.
- Cách nào đó thì em cũng cám ơn anh. Bây giờ thì mời anh ngồi, anh uống cà phê nhé?
Kiều An mau mắn:
- Thảo nào, bà chủ như thế này thì chắc chắn phải đông khách. Có lẽ anh phảI trở về để đến đây mỗi hôm.
- Anh ăn nói như ... Mỹ ấy, ở Mỹ có khác. Anh ngồi ở kia, dưới gốc mận ấy,
đợi em một chút. Bờ vai tròn nhỏ theo tiếng nói khuất sau tấm rèm che lối đi xuống bếp. Khoảng không gian vỡ lung linh bởi những sợi mành trúc và ánh đèn chiếu nghiêng từ phía trên, nhìn xa như có những mảng trời chiều dãi về phía tây lay lắt.
Dưới gốc mận sát với bờ tường cao ngăn chia với căn nhà kế cận có sẵn một cái bàn con và hai chiếc ghế có tay dựa. Giò Hồ Điệp thỏng xuống một góc bàn đang nở ra hai nụ hoa tím thẩm. Tiếng xe máy từ ngoài đường vọng vào ở giờ này nghe mơ hồ xa vắng, không hấp tấp, hối hả như buổi sáng mai. Tất cả mọi chuyển động dường như chậm hẳn lại thong thả, nhàn rỗi. Hầu như cái không khí này Thư đã hít thở nhiều lần nhưng đã từ lâu, rất lâu. Thành phố nơi Thư đang là người dân thường trú không có những buổi trưa như thế này. Giờ lunch vội vã, miếng sandwich khô cong, ly nước lạnh nhạt nhẽo. Sau đó chui trở về cái cubical nhỏ hẹp, những hàng text trên terminal xa lạ, vô cảm, máy móc, Thư chợt rùng mình.
Kiều An trở ra với hai ly cà-phê trên tay, khuôn mặt tươi mát không son phấn, những vết nhăn buồn rầu hôm nao giờ tinh anh với những ranh mãnh cố hữu.
- Em biết thế nào anh cũng đến.
- Dĩ nhiên là như thế rồi, anh chẳng còn ai ở đây ngoài chị Hà và...Kiều An.
Hôm qua anh có ghé lại trường Phan Châu Trinh hỏi thăm mấy thầy, cô nhưng chẳng còn ai biết đến. Đi dạo một vòng xuống bờ sông, sự mất mát của chuyến phà ngang đã làm anh đau đớn khá nhiều. Đành rằng đời sống bắt buộc phải có những đổi thay và thời gian đã qua rất lâu nhưng anh vẫn thấy sự hụt hẫng, bở ngỡ như mới hôm qua, hôm nay. Ký ức còn mới như nguyên. Anh thấy anh vẫn là thằng học trò của năm nào ngồi nhìn mỗi chuyến phà qua bập bềnh trên bến sông sóng nước.
- Anh cứ nghĩ anh là người hạnh phúc đi, giọng Kiều An trầm xuống. Thật đấy,
Anh không phải chứng kiến những đổi thay mất mát đau lòng. Anh không phải sống với mỗi ngày đi về với sự đổ vỡ tiệm tiến. Dẫu sao cái chết của một phạm nhân trên máy chém cũng đầy ân sủng hơn một tội phạm đang bị lăng trì. Em không nói quá , sự chai lì với khổ đau nghe bi thảm hơn chính sự khổ đau. Những bạn bè anh xưa ở lại kể cả em đều chấp nhận làm kẻ đồng sàng dị mộng. Cười cợt với những bẩn thỉu của đời mình.
Giọt cà-phê rớt xuống đặc quánh, nghe đắng ngắt. Ngọn gió sửng sốt dừng lại. Cơn nóng ngột ngạt tháng bảy làm Thư muốn nghẹt thở. Cái bứt rứt từ lâu ám ảnh trong những cơn mộng dữ là đây, Thư cũng chỉ là những người hèn nhát không hơn, không kém. Mặc cảm trốn chạy lại một lần nữa không thể biện minh.
- Em không cố tình phán xét một ai, đôi khi chúng ta phải sống như một vô lý là không thể chết. “Lâu dần, đời mình cũng qua” phải không anh?.
Thư sửng người nhìn Kiều An. Cái diễu cợt cuối câu nói thoáng qua như một nụ cười nửa miệng bất cần. Qua thật không? Thời gian thì đã lùi ra xa lắc rồi đó, nhưng cái dấu hỏi đúng sai của một quay lưng vẫn còn sừng sững như ngọn núi Sơn Trà khi nhìn lại lần cuối. Chiếc ghe xuôi về biển đông nhập nhòa sóng vỗ, thân phận tỵ nạn lê lết mãi mãi về sau. “ Về sau và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng cũng chưa bao giờ buồn bằng hôm nay” Tiếng nhạc nghe thấp thoáng, chới với trong bao la muôn trùng. Về sau và mãi mãi nhiều đời sau nữa, con người có thể bước qua cái hẩm hiu hèn mọn của một kiếp người?
- Cà-phê đặc biệt em pha cho anh đó, thử xem có ngon không? Em không biết
Anh uống ngọt nhạt thế nào. Anh phải tự cho đường lấy. Kiều An gắp những viên đá có hình khối trong vắt vào cái ly cao và nhắc cái phin xuống chiếc đĩa bên cạnh. Động tác thuần thục ngăn nắp, cô con gái xốc nỗi ngày xưa nay đã là một người đàn bà thành thạo, chín chắn trưởng thành.
- Kiều An vẫn ở vậy?
- Em không có ý định chờ anh đâu. Nàng cười khỏa lấp, bối rối, những người
đàn ông ra đi, phần đông là những kẻ bạc tình. Những ông Việt kiều về nước đã mang tiếng quá đỗi. Nhất Việt gian, nhì Việt kiều anh có nghe người ta nói như vậy không? Kiều An vẫn cười cười trong câu nói.
- Em cho anh một ly cà-phê vừa có cả vị đắng lẫn chua. Kể ra cũng hơi khó uống, nhưng anh sẽ cố cho em tin.
- Tin gì hả anh?
- Tin anh không phải là một việt kiều trong mọi nghĩa của nó. Anh đang ở đây
Cùng trăn trở với em về những dĩ vãng tội tình, những tháng năm phiền muộn đã qua và đang đối mặt với em, một lần dứt khoát trong suy tưởng. Cả một quảng thời gian dài qua, anh đã lạc mất chính mình. Anh lạ lẫm với những buổi sáng mù sương khi hàng phong chuyển màu trước cửa. Anh chới với, ngây ngất giữa những đêm mưa có tiếng côn trùng xa vắng ở vườn sau. Cái sinh động của tâm thức chỉ loáng lên, bùng lên khi nửa đêm tỉnh giấc. Ngày, tháng, năm đã là những con số, không mang lại một dấu ấn hoặc kỷ niệm nào. Anh vẫn là người của năm xưa, của Đà-Nẵng-Xưa.
Kiều An xoay xoay ly cà-phê trong tay, khuôn mặt nàng cúi xuống, những sợi tóc hững hờ lay động nhẹ thoáng như mây. Giọt nước lạnh đọng lại ngoài thành ly rớt xuống thành một vệt dài mờ ảo. Lúc lâu, nàng ngẩng đầu lên.
- Anh có biết không? Tụi mình đã già lắm rồi.
Thư hẹn với Kiều An về một buổi tối sẽ đi vòng quanh hết mọi nơi trong thành phố. Chị Hà đồng ý sẽ trông chừng giùm chuyện bán buôn. Ngồi đàng sau chiếc xe Honda của nàng Thư nói to:
- Như thế này trông mất mặt anh quá nhỉ?
- Nếu anh không muốn công an làm rắc rối. Họ sẽ rất vui khi chộp được một anh Việt kiều phạm luật. Mình bắt đầu từ ngã ba Cai Lang anh nhé, cái cửa ngõ đi vào thành phố.
- Thư gật đầu.
Trời đã chập choạng tối. Gió thổi ngược những sợi tóc của Kiều An lất phất bên vai chàng, Đà Nẵng buổi tối tấp nập ồn ào tiếng xe máy. Chợ Cồn, Ngã Năm, Độc Lập, Bạch Đằng gió từ bờ sông thốc lên làm những sợi tóc nàng bay loạn xạ, có những sợi dính bết vào miệng chàng, mùi Hương Xưa thoáng xa, thoáng gần ngây ngất. Thư nghĩ đến người con gái trong bức tranh của Đinh Cường. Hàng cây khô héo úa là Thư, nhưng còn cái mặt trời chói rực? Hai người đi qua cầu Trịnh Minh Thế và thẳng xuống biển. Họ ngồi xuống sóng vai trên bãi cát, như một đôi tình nhân. Biển đêm mịt mùng thăm thẳm, chỉ có tiếng rì rào của sóng.
Từ chỗ đợi để nhận hành lý, Thư đã thấy những bàn tay vẫy chào của những người thân đàng sau dãy cửa kính, lố nhố những người đi đón. Ai đó hình như có cả Kiều An, cô bạn trẻ ngày xưa. Lục đục một hồi với mấy cái xách hành lý và mấy ông kiểm tra ở phi cảng, cuối cùng Thư cũng lọt ra được cái cánh cửa cuối cùng của những sự phiền hà không cần thiết. Chị Hà, anh Vượng, bé Khánh Vân lăng xăng tíu tít với nỗi mừng vui gặp gỡ. Cạnh đó là thấp thoáng ngập ngừng của một khoảng cách vừa xa vừa gần, khuôn mặt của ngày xưa nay hơi lạ đi với ánh mắt chấp chới những nỗi buồn rầu không rõ nét. Kiều An đang im lặng nhìn ngắm cái hạnh phúc ồn ào, òa vỡ không phải của mình.
- Kiều An đi đón anh đó sao? Thư hỏi với giọng vừa ngạc nhiên lẫn xúc động.
- Vâng, anh Thư đi đường có mệt lắm không? Buổi sáng qua nhà chị Hà chơi thấy chị đang chuẩn bị đi đón anh và rủ em cùng đi. Câu nói như có lời phân trần, giải thích cho sự có mặt của mình.
- Cám ơn Kiều An, nảy thì có hơi mệt nhưng giờ thì đã khỏe lắm rồi. Đà Nẵng bây giờ trông lạ quá nhĩ?
- Rồi cậu sẽ thấy, chị Hà nhanh nhẩu tiếp lời. Đà nẵng bây giờ đã khác xưa toàn bộ.
- Cười cười chị nói tiếp nếu cậu muốn tìm lại chốn xưa thì e rằng phải đi mua bản đồ chỉ dẫn của thành phố thì mới tìm ra được nơi mình muốn đến.
- Em sẽ nhắm mắt lại và đi theo tiếng gọi của hồi ức thì sẽ đến đúng nơi.
- Chỉ sợ đi theo lối đó thì anh sẽ đến bệnh viện trước khi anh đến nơi mà mình muốn đến.
Kiều An khúc khích, tưởng anh sống ở Mỹ bao lâu thì đã thực tế đi nhiều lắm rồi chứ.
- Đàn ông có những bản năng linh thiêng để tìm về, trong giọt máu có sắc tố nguồn cội và lời gọi thiết tha, chỉ nghe và thấy được khi mình nhắm mắt lại phải thế không Thư. Anh Vượng từ băng ghế trên tham gia. chị Hà bỉu môi xì một tiếng:
- Làm như đàn ông các anh hay lắm vậy.
- Không phải sao? Anh Vượng cười ha hả khoái chí.
Đang giữa trưa, con đường từ phi trường về nhộn nhịp, ồn ào tiếng còi xe. Những cô gái trên chiếc xe hai bánh khuôn mặt bịt kín với những chiếc khăn màu, chỉ chừa hai con mắt. Bụi mù mịt từ lòng đường phủ lên hai hàng cây bên đường làm cho những chiếc lá như nặng đi, héo úa và rủ xuống đến tội nghiệp. Đà Nẵng của Thư những năm cũ không có hàng hoa sữa dọc đường và những cô gái bịt mặt. Bấy giờ chỉ có những gốc cây kiền kiền tỏa bóng và những đứa học trò ngồi tán dóc với nhau thoải mái trên những khúc rể xù xì. Con đường Quang Trung vời vợi bóng cây, tiếng sóng vỗ vào kè đá dọc bờ sông mênh mang lười biếng, và những giàn hoa giấy bên kia bờ Nại Hiên rực rỡ những ngày hè.
- Kiều An có bịt mặt như mấy cô gái kia không?
- Có chứ anh, nếu không thì em đã trở thành cô mọi đen Phi châu mất rồi. Phải không chị Hà? Ai ở đây bây giờ cũng trở thành hiệp sĩ thời trung cỗ. Như vậy cũng tiện, nhỡ có làm điều gì sai trái đi ra đường cũng đỡ ngượng.
- Nhưng nếu quen nhau thì làm sao mà nhận nhau?
- Không nên nhìn người quen ở ngoài đường phố anh ạ. Mỗi một con người ở đây chia ra làm hai, nửa ở nhà là nửa thật của mình với những cảm xúc chua xót và những giọt nước mắt mất mát, nửa kia ở ngoài đường với những lạnh tanh của tính toán làm ăn nên phải che lại để lừa dối nhau cho tiện việc.
- Kiều An có bi thảm hóa sự việc không?
- Đùa với anh cho vui đấy thôi, Đà Nẵng đang trong cơn lốc của kinh tế thị trường, ai cũng chỉ nghĩ tới chuyện mánh mung để làm giàu. Hy vọng một thời gian ngắn nữa sẽ giàu không kém những người giàu ở Mỹ.
Có cái gì đó như một tiếng thở dài ở đàng sau câu nói. Kiều An ngày nào ồn ào sinh động, ngây thơ như một con búp bê Tây phương, bây giờ từng trải, già dặn trong từng câu nói. Không biết cuộc đời đó đã đi qua những ngã rẽ nào trong cuộc sinh tồn khắc nghiệt này. Chiếc xe tắc xi chạy qua đường Thống Nhất cũ, những ngôi nhà hình hộp đủ kiểu, đủ màu cố choàng lấn ra ngoài mặt đường như những bức tranh trừu tượng rối rắm của Picasso trông đến nhức mắt. Cố gắng nhìn mãi Thư cũng vẫn không thấy được con dốc Cầu Vồng mặc dù xe đã qua khỏi ngã tư trường Nữ.
- Ủa mình đã đi qua Cầu Vồng chưa nhỉ?
- Chị đã nói với cậu, Đà Nẵng không còn là Đà Nẵng của ngày xưa đâu, con dốc đó người ta đã ủi đi rồi, cậu không thấy sao? Đường này bây giờ là Lê Duẫn “thênh thang tám thước”.
- Hôm người ta phá sập con dốc, em có đem về mấy viên gạch, gọi là giữ lại một chút Đà Nẵng xưa. Anh có muốn, em tặng anh làm món quà kỷ niệm.
- Muốn thì hẳn là muốn rồi, nhưng chỉ sợ kỷ niệm của Kiều An nặng ký quá, máy bay cất cánh không nổi và như thế anh sẽ ở lại đây mất thôi.
- Quê hương của anh mà, ở lại quê hương của mình thì có gì không phải? Anh không muốn thế sao?
Câu nói không hàm ý nhưng nghe như một lời trách móc. Phải rồi, đây là trường Phan Châu Trinh nơi có tuổi thơ ngọt lịm ly nước đá chanh của giờ ra chơi. Những điếu thuốc lá tập tểnh vào đời, quán cà-phê mờ tối, ý thức về thân phận nhược tiểu, chiến tranh và mùa hè đỏ lửa. Quê hương đó mấy mươi năm đã qua nhưng sao giờ vẫn còn thấy tội tình. Có cái gì đó vẫn nhức nhối, âm ỷ trong cơn đau chợt đến bất ngờ.
- Muốn chứ, muốn lắm chứ, nhưng anh là người bị đuổi đi, một người không có quyền công dân trên đất nước của chính mình, người với bản án muôn đời trong lý lịch “Ngụy”.
- Anh bây giờ là “Việt kiều yêu nước” lo gì.
- Anh chỉ được gọi yêu nước khi còn là Việt kiều, nếu không là thế thì anh vẫn “Ngụy”. Cách mạng lúc nào cũng sáng suốt.
Cuộc đối thoại tắt ngỏm khi chiếc xe đổ lại trước cổng nhà. Kiều An chào Thư và hẹn với chị Hà hôm nào sẽ sang chơi. Đà Nẵng đang vào hè, những cơn gió hiếm hoi từ vịnh Thanh Bình thổi vào không làm dịu đi cái hầm hập, oi bức nóng của vùng trời miền nhiệt đới. Những cô gái vẫn qua lại trên đường, đôi găng tay cuốn cao lên tới nách, và đôi mắt sau chiếc khăn thời trang lạ lùng bí ẩn, Thư lẩm bẩm. Kiều An chồng con gì chưa chị? Thư quay sang chị Hà đang lúi húi thu xếp cái bàn ăn.
- Không quay lại, chi Hà nói một hơi như lời ca quen thuộc
- Tội nghiệp, Chồng nó bị gọi nghĩa vụ, sang Campuchia mất tích sau một cuộc chạm súng gần biên giới Thái Lan, mọi người ở nhà cứ hy vọng nó vượt biên, nhưng bây giờ thì biết chắc là chết. Kiều An trở về nhà sống với mẹ. Bây giờ là chủ của một quán cà-phê gần đường Lê Đình Dương. Quán bán rất khá. Vẫn hỏi thăm em luôn đấy.
Lâu lắm rồi, Thư đã quên cái thú ngồi nhìn từng giọt cà-phê nhỏ xuống chậm, buồn. Từng giọt đen đặc quánh rơi vỡ trong mù mờ của tuổi trẻ. Tội nghiệp cho Thư, cho những thằng bạn vỡ nát lý tưởng trong góc tối quạnh hiu bên lề cuộc đời của những năm bảy mươi. Ngày ngày chỉ còn lại nhúm tình yêu, bè bạn và những liều độc dược. “...Đưa em xuống phố trưa nay, đang còn ngây ngất cơn say”. Cơn say dài đến mấy mươi năm mà vẫn đang còn váng vất.
Thư đến quán Đà-Nẵng-Xưa để thăm Kiều An. Khoảng 1 giờ trưa, quán vắng. Thư cố tình đến vào giờ này. Kiều An đang loay hoay xếp lại bình hoa ở trên quầy. Quán không rộng lắm, chỉ khoảng 15 bàn. Qua cửa sổ là khu vườn nhỏ lủng lẳng phong lan treo trên những cành mận sà thấp ngang đầu. Đàng sau quầy là bức tranh vẽ hình đứa con gái như đang bay lơ lửng trong thời gian của họa sĩ Đinh Cường. Tóc đứa con gái trải dài theo hàng cây khô dưới ánh mặt trời chói rực. Nhạc đang thủ thỉ những lời không tên của Vũ Thành An. Toàn thể không gian trong quán sóng sánh, nổi trôi, lười biếng. “ Mãi về sau, nước mắt khô cạn...” Kiều An quay ra,
- A, anh Thư! anh đang đi tìm Đà Nẵng Xưa? Anh có nhắm mắt mà đi không đấy?
- Có, anh đang lần theo tiếng chuông của Nguyễn Thị Hoàng. Tiếng gọi ai oán của người muôn năm cũ, đồng vọng và đẩy đưa anh đến đây.
- Như thế có nghĩa là anh không đến đây để thăm em? Thế mà em cứ tưởng...bở.
- Kiều An có quyền tưởng... thật, Kiều An cũng là Đà -Nẵng-Xưa mà, ít nhất cũng trong phong cách.
- Cách nào đó thì em cũng cám ơn anh. Bây giờ thì mời anh ngồi, anh uống cà phê nhé?
Kiều An mau mắn:
- Thảo nào, bà chủ như thế này thì chắc chắn phải đông khách. Có lẽ anh phảI trở về để đến đây mỗi hôm.
- Anh ăn nói như ... Mỹ ấy, ở Mỹ có khác. Anh ngồi ở kia, dưới gốc mận ấy,
đợi em một chút. Bờ vai tròn nhỏ theo tiếng nói khuất sau tấm rèm che lối đi xuống bếp. Khoảng không gian vỡ lung linh bởi những sợi mành trúc và ánh đèn chiếu nghiêng từ phía trên, nhìn xa như có những mảng trời chiều dãi về phía tây lay lắt.
Dưới gốc mận sát với bờ tường cao ngăn chia với căn nhà kế cận có sẵn một cái bàn con và hai chiếc ghế có tay dựa. Giò Hồ Điệp thỏng xuống một góc bàn đang nở ra hai nụ hoa tím thẩm. Tiếng xe máy từ ngoài đường vọng vào ở giờ này nghe mơ hồ xa vắng, không hấp tấp, hối hả như buổi sáng mai. Tất cả mọi chuyển động dường như chậm hẳn lại thong thả, nhàn rỗi. Hầu như cái không khí này Thư đã hít thở nhiều lần nhưng đã từ lâu, rất lâu. Thành phố nơi Thư đang là người dân thường trú không có những buổi trưa như thế này. Giờ lunch vội vã, miếng sandwich khô cong, ly nước lạnh nhạt nhẽo. Sau đó chui trở về cái cubical nhỏ hẹp, những hàng text trên terminal xa lạ, vô cảm, máy móc, Thư chợt rùng mình.
Kiều An trở ra với hai ly cà-phê trên tay, khuôn mặt tươi mát không son phấn, những vết nhăn buồn rầu hôm nao giờ tinh anh với những ranh mãnh cố hữu.
- Em biết thế nào anh cũng đến.
- Dĩ nhiên là như thế rồi, anh chẳng còn ai ở đây ngoài chị Hà và...Kiều An.
Hôm qua anh có ghé lại trường Phan Châu Trinh hỏi thăm mấy thầy, cô nhưng chẳng còn ai biết đến. Đi dạo một vòng xuống bờ sông, sự mất mát của chuyến phà ngang đã làm anh đau đớn khá nhiều. Đành rằng đời sống bắt buộc phải có những đổi thay và thời gian đã qua rất lâu nhưng anh vẫn thấy sự hụt hẫng, bở ngỡ như mới hôm qua, hôm nay. Ký ức còn mới như nguyên. Anh thấy anh vẫn là thằng học trò của năm nào ngồi nhìn mỗi chuyến phà qua bập bềnh trên bến sông sóng nước.
- Anh cứ nghĩ anh là người hạnh phúc đi, giọng Kiều An trầm xuống. Thật đấy,
Anh không phải chứng kiến những đổi thay mất mát đau lòng. Anh không phải sống với mỗi ngày đi về với sự đổ vỡ tiệm tiến. Dẫu sao cái chết của một phạm nhân trên máy chém cũng đầy ân sủng hơn một tội phạm đang bị lăng trì. Em không nói quá , sự chai lì với khổ đau nghe bi thảm hơn chính sự khổ đau. Những bạn bè anh xưa ở lại kể cả em đều chấp nhận làm kẻ đồng sàng dị mộng. Cười cợt với những bẩn thỉu của đời mình.
Giọt cà-phê rớt xuống đặc quánh, nghe đắng ngắt. Ngọn gió sửng sốt dừng lại. Cơn nóng ngột ngạt tháng bảy làm Thư muốn nghẹt thở. Cái bứt rứt từ lâu ám ảnh trong những cơn mộng dữ là đây, Thư cũng chỉ là những người hèn nhát không hơn, không kém. Mặc cảm trốn chạy lại một lần nữa không thể biện minh.
- Em không cố tình phán xét một ai, đôi khi chúng ta phải sống như một vô lý là không thể chết. “Lâu dần, đời mình cũng qua” phải không anh?.
Thư sửng người nhìn Kiều An. Cái diễu cợt cuối câu nói thoáng qua như một nụ cười nửa miệng bất cần. Qua thật không? Thời gian thì đã lùi ra xa lắc rồi đó, nhưng cái dấu hỏi đúng sai của một quay lưng vẫn còn sừng sững như ngọn núi Sơn Trà khi nhìn lại lần cuối. Chiếc ghe xuôi về biển đông nhập nhòa sóng vỗ, thân phận tỵ nạn lê lết mãi mãi về sau. “ Về sau và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng cũng chưa bao giờ buồn bằng hôm nay” Tiếng nhạc nghe thấp thoáng, chới với trong bao la muôn trùng. Về sau và mãi mãi nhiều đời sau nữa, con người có thể bước qua cái hẩm hiu hèn mọn của một kiếp người?
- Cà-phê đặc biệt em pha cho anh đó, thử xem có ngon không? Em không biết
Anh uống ngọt nhạt thế nào. Anh phải tự cho đường lấy. Kiều An gắp những viên đá có hình khối trong vắt vào cái ly cao và nhắc cái phin xuống chiếc đĩa bên cạnh. Động tác thuần thục ngăn nắp, cô con gái xốc nỗi ngày xưa nay đã là một người đàn bà thành thạo, chín chắn trưởng thành.
- Kiều An vẫn ở vậy?
- Em không có ý định chờ anh đâu. Nàng cười khỏa lấp, bối rối, những người
đàn ông ra đi, phần đông là những kẻ bạc tình. Những ông Việt kiều về nước đã mang tiếng quá đỗi. Nhất Việt gian, nhì Việt kiều anh có nghe người ta nói như vậy không? Kiều An vẫn cười cười trong câu nói.
- Em cho anh một ly cà-phê vừa có cả vị đắng lẫn chua. Kể ra cũng hơi khó uống, nhưng anh sẽ cố cho em tin.
- Tin gì hả anh?
- Tin anh không phải là một việt kiều trong mọi nghĩa của nó. Anh đang ở đây
Cùng trăn trở với em về những dĩ vãng tội tình, những tháng năm phiền muộn đã qua và đang đối mặt với em, một lần dứt khoát trong suy tưởng. Cả một quảng thời gian dài qua, anh đã lạc mất chính mình. Anh lạ lẫm với những buổi sáng mù sương khi hàng phong chuyển màu trước cửa. Anh chới với, ngây ngất giữa những đêm mưa có tiếng côn trùng xa vắng ở vườn sau. Cái sinh động của tâm thức chỉ loáng lên, bùng lên khi nửa đêm tỉnh giấc. Ngày, tháng, năm đã là những con số, không mang lại một dấu ấn hoặc kỷ niệm nào. Anh vẫn là người của năm xưa, của Đà-Nẵng-Xưa.
Kiều An xoay xoay ly cà-phê trong tay, khuôn mặt nàng cúi xuống, những sợi tóc hững hờ lay động nhẹ thoáng như mây. Giọt nước lạnh đọng lại ngoài thành ly rớt xuống thành một vệt dài mờ ảo. Lúc lâu, nàng ngẩng đầu lên.
- Anh có biết không? Tụi mình đã già lắm rồi.
Thư hẹn với Kiều An về một buổi tối sẽ đi vòng quanh hết mọi nơi trong thành phố. Chị Hà đồng ý sẽ trông chừng giùm chuyện bán buôn. Ngồi đàng sau chiếc xe Honda của nàng Thư nói to:
- Như thế này trông mất mặt anh quá nhỉ?
- Nếu anh không muốn công an làm rắc rối. Họ sẽ rất vui khi chộp được một anh Việt kiều phạm luật. Mình bắt đầu từ ngã ba Cai Lang anh nhé, cái cửa ngõ đi vào thành phố.
- Thư gật đầu.
Trời đã chập choạng tối. Gió thổi ngược những sợi tóc của Kiều An lất phất bên vai chàng, Đà Nẵng buổi tối tấp nập ồn ào tiếng xe máy. Chợ Cồn, Ngã Năm, Độc Lập, Bạch Đằng gió từ bờ sông thốc lên làm những sợi tóc nàng bay loạn xạ, có những sợi dính bết vào miệng chàng, mùi Hương Xưa thoáng xa, thoáng gần ngây ngất. Thư nghĩ đến người con gái trong bức tranh của Đinh Cường. Hàng cây khô héo úa là Thư, nhưng còn cái mặt trời chói rực? Hai người đi qua cầu Trịnh Minh Thế và thẳng xuống biển. Họ ngồi xuống sóng vai trên bãi cát, như một đôi tình nhân. Biển đêm mịt mùng thăm thẳm, chỉ có tiếng rì rào của sóng.






