Công ty Dệt may Hoàng Dũng

Cung cấp, sản xuất đa dạng các sản phẩm vải phục vụ may đồng phục học sinh, công sở, hàng bảo hộ lao động cao cấp

Subscribe to RSS feed

Cần mua máy dệt thổi khí

, , , ...

Công ty dệt may Hoàng Dũng hoạt động đã lâu năm trong lĩnh vực dệt nhuộm. Với kinh nghiệm đã được xây dựng qua những năm tháng lăn lộn với ngành nghề, công ty đã xây dựng được đội ngũ cán bộ làm việc với tác phong công nghiệp, và hệ thống máy dệt hồ nhuộm hiệu quả, cho năng xuất cao.

Hiện nay, để ngày càng kiện toàn hơn dây truyền máy móc, và đồng thời nhận thức được nhu cầu của thị trường ngày càng cao, đáp ứng được tiêu chuẩn của khách hàng về chất lượng sản phẩm, công ty dệt may Hoàng Dũng đang có nhu cầu đầu tư thêm dàn máy dệt thổi khí. Máy có thể mới hoặc đã qua sử dụng. Nếu là máy đã qua sử dụng, tuổi đời của máy phải không quá 12 năm, tức là từ năm 2000 trở lại đây.

Sau đây là một số yêu cầu chung cho máy dệt thổi khí mà công ty Hoàng Dũng đang cần tìm:

1. Khổ rộng: Khoảng 2m

2. Chủng loại đầu Dobby: Đầu cơ

Mọi chi tiết thêm xin vui lòng liên hệ Mr. Trần Thế Dần tại 0913 299 007 hoặc 03503-670935 – Ext: 11

Mọi sản phẩm hoặc catalogue mẫu xin gửi về theo địa chỉ:

Công ty dệt may Hoàng Dũng: Đường N4 khu CN Hòa Xá thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Mọi sản phẩm hoặc catalogue mẫu xin gửi về theo địa chỉ:

Công ty dệt may Hoàng Dũng

Add Lô C1, đường D4, Khu CN Hòa Xá, TP Nam Định

Tel: +84(350) 3670935 * Fax: +84(350) 3670235

E-mail: info@detmayhoangdung.com.vn

Dồn dập mở rộng hệ thống bán lẻ

, , , ...

Đang là thời điểm được nhiều doanh nghiệp chọn để khai trương đồng loạt các điểm bán lẻ mới.
Khởi đầu rầm rộ nhất, chỉ trong một ngày, nhà bán lẻ hàng điện tử, điện máy Nguyễn Kim đã tạo ấn tượng mạnh khi bỏ ra hơn trăm tỷ đồng mở 5 điểm bán lẻ 4 tỉnh, thành phố lớn gồm TP.HCM, Đà Nẵng, Vũng Tàu và Biên Hòa. Đại diện Nguyễn Kim tiết lộ, doanh nghiệp này sẽ mở 12 điểm bán lẻ mới trong năm 2012, để đến năm 2015, nâng tổng số điểm bán lẻ lên 50 điểm.

Chính thức kinh doanh bán lẻ từ năm 1991, trong suốt 10 năm, Nguyễn Kim chỉ mở được 5 điểm bán lẻ. Thế nhưng, chỉ riêng năm 2011, nhà bán lẻ này đã khai trương thêm 5 điểm bán mới. Đây là sự bứt phá mạnh mẽ của doanh nghiệp với quyết tâm bám chặt, bám sâu thị trường nội địa.

Theo tính toán của Nguyễn Kim, để mở một siêu thị bán lẻ hàng điện máy với diện tích mặt bằng tối thiểu 1.000 m2, doanh nghiệp phải có 15-20 tỷ đồng. Như vậy, để mở khoảng 40 siêu thị trong 4 năm tới, Nguyễn Kim phải đầu tư ít nhất 600 tỷ đồng.

Ông Phan Linh Phương, Phó giám đốc Marketing của Nguyễn Kim cho biết, doanh thu của một số nhóm hàng như điện thoại, ti vi, laptop… tại Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng trong vòng 5-7 năm tới. Đó là lý do khiến Nguyễn Kim dồn sức mở thêm điểm bán lẻ nhằm tận dụng tối đa kinh nghiệm và lợi thế có được sau 10 năm hoạt động.

Không chỉ doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ thuộc nhóm hàng điện tử điện máy chi lớn cho bán lẻ, Vinatex Mart, siêu thị bán lẻ hàng dệt may thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), cũng chớp cơ hội mở liền 5 siêu thị dệt may trong hơn 1 tháng qua tại TP.HCM, Hòa Bình, An Giang, Tây Ninh và Gia Lai. Tổng vốn đầu tư cho 5 điểm bán lẻ mới này là hơn 100 tỷ đồng.

Với mục tiêu đến năm 2015 sẽ phát triển hệ thống lên 200 siêu thị, cửa hàng, Ban lãnh đạo Vinatex Mart đang đẩy mạnh đàm phán thuê mặt bằng tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Bà Nguyễn Thị Hồng Hương, Giám đốc Vinatex Mart cho hay, theo kế hoạch năm 2012, Vinatex sẽ mở thêm 12 điểm bán mới, nâng tổng số siêu thị, cửa hàng thuộc hệ thống lên 75 siêu thị.

Với 9 cửa hàng giới thiệu sản phẩm chính thức, cùng 69 đại lý trên toàn quốc, Tổng công ty cổ phần Dệt may Hà Nội (Hanosimex) đã tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường nội địa. Thế nhưng, với tham vọng mở rộng mạng lưới kinh doanh, Hanosimex vừa khai trương Trung tâm Thương mại Hanosimex tại Bắc Hà, Mỗ Lao, Hà Đông (Hà Nội).

Theo ông Chu Trần Trường, Tổng giám đốc Hanosimex, với lợi thế lọt top 500 sản phẩm - dịch vụ hàng đầu Việt Nam, trong giai đoạn 2011-2020, Hanosimex sẽ đầu tư lớn để mở rộng và tổ chức mạng lưới đại lý và cửa hàng bán lẻ trong nước để khai thác sức mua của thị trường nội địa. Tổng vốn đầu tư cho giai đoạn này là 4.541 tỷ đồng, trong đó một phần dành cho mở rộng mạng lưới kinh doanh nội địa.

Dồn dập mở thêm điểm bán lẻ mới tại nhiều tỉnh, thành phố lớn vừa là mục tiêu chiến lược, vừa là mong muốn chính đáng của doanh nghiệp trong việc làm chủ thị trường trong nước. Tuy nhiên, sự gia tăng chuỗi bán lẻ với độ phủ rộng khắp của doanh nghiệp chưa chắc đã hấp dẫn người tiêu dùng, nếu việc đầu tư chỉ tập trung phát triển trên diện rộng, mà chưa đạt đến độ sâu, tính bền vững.

Đơn cử trong ngành hàng dệt may, sự xuất hiện của 63 siêu thị Vinatex Mart trên cả nước dường như chưa tạo được sức hút bằng Gap, nhà bán lẻ hàng may mặc hàng đầu của Mỹ mới khai trương cửa hàng bán lẻ đầu tiên tại TP.HCM. Gap đã khéo léo thu hút sự vào cuộc của giới trẻ khi mời đội ngũ khách mời là những người nổi tiếng trong làng giải trí tham dự buổi khai trương.

Theo kế hoạch, Gap sẽ tiếp tục mở thêm một số cửa hàng tương tự tại Hà Nội và TP.HCM trong năm 2012. Gap chọn cách tập trung vào một số mặt hàng thuộc những nhãn hiệu thời trang nổi tiếng thế giới. Thêm nữa, Gap chọn đối tượng khách hàng chính là trẻ em, thanh thiếu niên, vốn tiêu thụ nhiều hàng thời trang hơn cả phân khúc khách hàng kinh doanh.
Sự đầu tư bài bản của Gap thực sự là mối đe dọa đối với các doanh nghiệp nội chỉ chú tâm vào phát triển theo chiều rộng. Đây cũng là lời cảnh báo với không chỉ riêng các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ trong ngành hàng may mặc, mà cả các lĩnh vực điện tử, điện máy.

Theo bao dau tu.

Khơi dậy lòng yêu nước trong người tiêu dùng Việt

, , , ...

Bà Nguyễn Thị Hồng Tín, Trưởng ban Thị trường trong nước, Tập đoàn Dệt may Việt Nam cho rằng, sau hơn 2 năm triển khai Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, điều đáng mừng nhất là đã khơi dậy được lòng yêu nước trong người tiêu dùng Việt.

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, bà Hồng Tín cũng cho rằng: hiện nay, hơn 80% người tiêu dùng Việt mong muốn và đã sử dụng hàng Việt Nam (VN).

Phóng viên (PV): Theo bà, Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã thu được những kết quả cụ thể nào?

Bà Nguyễn Thị Hồng Tín: Sau hơn 2 năm hưởng ứng Cuộc vận động, kết quả rõ nét là đã khơi dậy lòng yêu nước trong người tiêu dùng Việt với 80% người tiêu dùng muốn tìm đến sản phẩm được sản xuất bởi các doanh nghiệp Việt Nam để tiêu dùng. Qua đó, cũng đòi hỏi bản thân các DN phải quan tâm thực sự, đầu tư, tìm tòi đưa ra các dòng sản phẩm chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh, đáp ứng thị hiếu tiêu dùng. Nói như vậy, có nghĩa là để có được hiệu quả, cần sự tác động từ cả hai phía. Người dân yêu nước dùng hàng Việt, DN cũng phải đưa ra sản phẩm tốt, giá cả cạnh tranh thì người tiêu dùng trong nước sẽ thường xuyên dùng hàng của DN trong nước. Qua các kỳ hội chợ, trung tâm thương mại, khảo sát nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng, cho thấy: đa số đều mong muốn sử dụng và ưa chuộng hàng của VN sản xuất, những sản phẩm này có mẫu mã chất lượng tốt, có giá trị cạnh tranh với hàng nhập ngoại.

Gần đây, DN dệt may, các nhà thiết kế đã quan tâm đến xu hướng tiêu dùng, tìm tòi đưa dòng sản phẩm phù hợp, có tính chất hội nhập, đáp ứng nhu cầu thời trang trẻ, công sở, qua các lứa tuổi, người tiêu dùng cũng mong muốn các DN thay đổi mẫu mã liên tục, tìm chất liệu phù hợp thời tiết, vùng miền... Tập đoàn Dệt may đã đưa ra thị trường dòng sản phẩm chính với các thương hiệu có uy tín: May 10, Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông... Đa phần người tiêu dùng Việt hiện nay đều tìm đến và sử dụng sản phẩm dệt may “made in Việt Nam”, vì họ nhận thấy chất lượng tốt và mẫu mã bước đầu đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng và giá cả lại cạnh tranh.

PV: Vậy những khó khăn khi triển khai Cuộc vận động này, thưa bà?

Bà Nguyễn Thị Hồng Tín: Khó khăn lớn nhất là giám sát việc đưa chủ trương, đường lối vào thực tiễn; các cơ quan ban ngành hữu quan: hải quan, ban quản lý thị trường, thuế, các bộ, ngành phối hợp nhịp nhàng để có hiệu quả tốt hơn...



Dệt may Việt Nam đang ngày càng khẳng định thương hiệu và thu hút được sự tin dùng của đông đảo người tiêu dùng trong và ngoài nước (Ảnh: HNV)

Công nghiệp tiêu dùng nói chung và công nghiệp dệt may nói riêng đang gặp khó khăn khi hàng ngoài luồng tràn vào Việt Nam khá nhiều. Qua khảo sát các khu chợ vùng quê cho thấy, thói quen lâu năm “ăn sâu bám rễ” trong người tiêu dùng Việt là dùng hàng rẻ, mẫu mã thay đổi nhanh, màu sắc hợp thị hiếu với bà con nhân dân các vùng miền. Do đó, công tác nghiên cứu thị trường của các DN phải lưu tâm lưu ý đến nhu cầu tiêu dùng của người dân để đưa ra dòng sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng.

Thực tế tham dự các phiên chợ nông thôn, các hội chợ vùng cao tại các địa bàn như: Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh, các tỉnh miền Tây..., cho thấy, các sản phẩm đưa về vùng sâu, vùng xa chủ yếu là bột giặt, mì ăn liền và một số sản phẩm khác. Riêng với sản phẩm dệt may, có khó khăn đặc thù: nguyên phụ liệu phải chủ động được thì mới có tính cạnh tranh trong khi giá bông mà Tập đoàn Dệt may thu mua năm 2011 rất cao thì khó có giá cạnh tranh với hàng kém phẩm chất, hàng thiếu độ an toàn cho sức khỏe khi đưa vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch. Người tiêu dùng khu vực nông thôn có thói quen dùng hàng giá rẻ, màu sắc phù hợp mà không quan tâm, thậm chí không biết chúng có lợi hay hại cho sức khỏe của mình. Vì thế, nếu chọn hàng dệt may để làm mặt hàng chủ lực đưa về nông thôn sẽ có nhiều trở ngại và phải gánh chi phí phụ trội rất cao... Do đó, rất cần hỗ trợ nhiều đối với mặt hàng này (có thể tính thuế nhập cao, kiểm soát chặt nguồn nhập tiểu ngạch, tăng cường nguồn nhập chính ngạch, ngăn ngừa hàng nhập lậu, hàng nhái, hàng giả...).

Bên cạnh đó, cũng phải tăng cường công tác giám sát. Các cơ quan: hải quan, quản lý thị trường phối hợp với các bộ phận hữu quan phát hiện hàng không chính thống nhập lậu vào thị trường. Nếu ngăn chặn tốt thì đây cũng là một việc làm tạo động lực cho DN trong nước tích cực trong sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa.

PV: Theo bà, các DN cần phải làm gì trong việc triển khai Cuộc vận động hiệu quả hơn?

Bà Nguyễn Thị Hồng Tín: Tôi cho rằng, tự doanh nghiệp cần phải ý thức bảo vệ thương hiệu của mình trên thị trường. Trong đó, trước tiên, phải đăng ký bảo hộ với cơ quan sở hữu trí tuệ. Tiếp đó, phối kết hợp với cơ quan quản lý thị trường để giúp người tiêu dùng nhận biết hàng chính thống, hàng thật để lựa chọn, sử dụng. Bên cạnh đó, các DN cũng cần thông qua các cơ quan truyền thông nhằm cung cấp các thông tin chính thống để người tiêu dùng nhận biết, nhận diện hàng hóa và thương hiệu của doanh nghiệp mình. Các DN phải quan tâm đến sản phẩm của mình như "con mình đẻ ra" và nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển thương hiệu của mình.

PV: Xin cảm ơn bà!

THeo bao dien tu dang cong san Viet nam.
Nhan dip nam moi Nham Thim 2012, Hoang Dung xin chuc moi nguoi suc khoe doi dao, lam an tan toi va hanh phuc vo bien.

Sản lượng bông Ấn Độ đạt kỷ lục trong mùa vụ 2011-2012

, , , ...

Theo Hội đồng Bông cao cấp Ấn Độ, nước này tự tin sẽ có sản lượng bông kỷ lục là 34 triệu kiện (170 kg/kiện) trong mùa vụ 2011-2012.

Chủ tịch Hiệp hội Bông Ấn Độ (CAI), ông Dhiren N Sheth cho biết mức tiêu thụ bông năm nay không quá 25 triệu kiện trong khi sản lượng bông đạt được là không dưới 34 triệu kiện. Do đó, nguồn dự trữ cho năm sau là rất lớn.

Ông chỉ ra rằng mưa nhiều ở những vùng trồng bông, nông dân mở rộng diện tích canh tác do được giá mùa trước, cùng với việc tăng cường sử dụng giống bông Bt là các yếu tố thúc đẩy ngành sản xuất bông Ấn Độ mùa này.

Ông nói rõ, điều kiện thời tiết suốt năm 2010-2011 là rất thuận lợi cho sự phát triển của cây bông và nó đóng vai trò như chất xúc tác khuyến khích nông dân mở rộng diện tích canh tác năm nay.

Nông dân cũng trồng thêm bông ở một số vùng vì bông cho thu nhập cao hơn so với những cây trồng khác cùng mùa vụ, ông cho biết thêm.

Bên cạnh lợi nhuận cao hơn, nông dân cũng giảm được chi phí sản xuất khi áp dụng công nghệ Bollgard II. Ngày nay, công nghệ Bollgard I và II được áp dụng cho gần 90% tổng diện tích trồng bông ở Ấn Độ.

Trên thực tế, sự gia tăng nhanh chóng trong ngành sản xuất bông Ấn Độ vài năm gần đây có thể nhờ sự phát triển trong lĩnh vực Công nghệ gen.

Tuy nhiên, chủ tịch CAI cũng cho rằng sự suy giảm kinh tế toàn cầu trong năm 2012 sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu hàng dệt may, và đương nhiên làm giảm nhu cầu mặt hàng bông trên toàn cầu.

Không còn phân tử gây mùi mồ hôi trên vật liệu dệt

, , , ...

Quần áo mà mùi mồ hôi có xu hướng dính chặt và khó giặt sạch là vấn đề đối với người mặc, nhà sản xuất và ngành công nghiệp chất tẩy rửa và sản xuất máy giặt. Các nhà khoa học tại Viện Hohentein (Đức) đã và đang nghiên cứu tại sao những phân tử mùi này lại đặc biệt dính chặt với các vật liệu dệt nào đấy, trong một số trường hợp thậm chí cả sau giặt.

Nhóm nghiên cứu do Giáo sư Dirk Hofer đứng đầu đã phát triển hai phương pháp thử để đo số lượng phân tử mồ hôi bị giữ lại trên vật liệu dệt. Nhờ công trình này, xu hướng của vật liệu dệt hấp thụ mùi mồ hôi có thể được xem xét thậm chí tại công đoạn thiết kế, và sau đó được tác động theo hướng đúng. Giáo sư Hofer nhìn thấy sự cần thiết để cải thiện khía cạnh này không chỉ cho quần áo thể thao và quần áo thông thường, mà còn đặc biệt cho vật liệu dệt dùng bọc ghế ngồi trên phương tiện vận tải công cộng và trong ngành ô tô và hàng không. Tuy nhiên, nhờ các phát triển này của Viện Hohentein, các nhà sản xuất chất tẩy rửa và máy giặt cũng sẽ có thể đảm bảo trong tương lai rằng sản phẩm của họ làm giảm đáng tin cậy mùi mồ hôi trong quá trình giặt, đặc biệt là trong trường hợp các kết hợp mới vật liệu dệt.

Yếu tố chính nghĩa là ngăn ngừa mùi mồ hôi không dễ chịu trong vật liệu dệt và loại bỏ mùi không phải là nhiệm vụ tầm thường mà là thành phần phức tạp của nó, vì nó được làm từ tất cả các loại chất hóa học khác nhau. Trong số các chất này, các axit cacboxylic cụ thể chịu trách nhiệm cho mùi điển hình (không dễ chịu) của mồ hôi. Trong nghiên cứu của nhóm, các nhà khoa học “tiêm” các lượng axit cacboxylic xác định đã được đánh dấu phóng xạ vào vật liệu dệt khác nhau. Để đảm bảo rằng các kết quả là hoàn toàn có thể so sánh được, sử dụng cùng cấu trúc dệt (dệt kim, móc v.v.) và khối lượng trên đơn vị diện tích (g/m2) – chỉ năm loại xơ cơ bản (bông, polyeste v.v.) là khác nhau. Sau thời gian ngấm ướt (ủ) trong 24 giờ, đo số lượng axit cacboxylic được đánh dấu phóng xạ và so sánh.

Trong kịch bản thử nghiệm thứ hai, các chuyên gia sử dụng dung dịch mồ hôi tổng hợp (mô phỏng mùi mồ hôi) có chứa một vài thành phần chính của mùi mồ hôi với các tỷ lệ xác định, và do vậy có thể tái lặp được vào bất kể lúc nào. Các mẫu dệt được tẩm liều định lượng cụ thể mồ hôi tổng hợp và giữ trong cùng điều kiện khí hậu. Vào lúc kết thúc thời gian ủ, cường độ mùi trong vật liệu dệt được đánh giá bằng những nhân viên được đào tạo đặc biệt – được gọi thử nghiệm ban chuyên gia.

Đây là viện duy nhất trên thế giới kết hợp phân tích dụng cụ và thử nghiệm ban chuyên gia theo cách này. Là kết quả của sự hợp tác có kỷ luật với các nhà nghiên cứu từ các lĩnh vực khác nhau, các chuyên gia của Viện Hohenstein đảm bảo rằng họ không chỉ biết được các lý do tại sao mùi lại bám chặt vào vật liệu dệt, mà bằng cách hợp tác với ngành công nghiệp, còn có thể phát triển các giải pháp để loại trừ vấn đề.

Tại sao một số vật liệu dệt bốc mùi mồ hôi mạnh hơn các loại khác?

Mùi mồ hôi trên vật liệu dệt phụ thuộc mạnh trước tiên đến mức nào vào bao nhiêu phân tử mồ hôi mà vật liệu dệt hấp thụ vào và sau đó bao nhiêu phân tử này được giải phóng ra theo thời gian và được cảm nhận là mùi không dễ chịu?

Đo lượng định lượng các phân tử mùi do các nhà khoa học thực hiện đã xác nhận rằng bông liên kết và giữ nhiều phân tử mồ hôi hơn, và giữ lâu dài hơn là polyeste. Các phân tử gây về mùi rõ ràng phân tách từ polyeste dễ dàng hơn. Kết quả này cũng được ban chuyên gia xác nhận khi dùng mồ hôi nhân tạo. Các chuyên gia thử nghiệm đã xác nhận rằng áo T-shirt bông có mùi không mạnh bằng áo T-shirt polyeste.

Theo Vinatex

Nam Ðịnh đưa công nghiệp dệt may về nông thôn

, , , ...

Phát huy thế mạnh của địa phương có ngành công nghiệp dệt phát triển khá sớm so cả nước, hơn năm năm qua tỉnh Nam Ðịnh có hướng đi mang tính đột phá khi quyết tâm đưa công nghiệp dệt may về vùng nông thôn. Từ chủ trương cho tới thực tiễn có sự gắn kết và đồng thuận, vì thế đã giải quyết căn bản vấn đề việc làm và ổn định cuộc sống người dân nông thôn.

Từ khi Công ty cổ phần may Nam Ðịnh đầu tư xây dựng bốn xưởng sản xuất lớn trên cụm công nghiệp thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường, cô gái người gốc làng Hành Thiện, Vũ Thị Nga thấm thoát đã có bốn năm gắn bó với công việc mình theo đuổi. Nga kể với chúng tôi, nhà có sáu anh chị em, ba, mẹ quanh năm gắn với mấy sào ruộng. Học xong THPT, cô quyết định lên thành phố học nghề rồi xin vào làm công nhân trong một công ty may nước ngoài ở khu công nghiệp Hòa Xá, ngoại thành Nam Ðịnh. So với các cơ sở dệt may khác trên địa bàn, mức lương Nga nhận hằng tháng gần 2,2 triệu đồng cũng khá cao và ổn định. Nhưng cũng chỉ bám trụ được hơn một năm, cô quyết định bỏ việc, trở về quê. Không phải công ty không có đơn hàng và việc làm cho công nhân, mà thực tế số tiền lương này nếu rải đều chi cho việc thuê nhà trọ, tiền điện, nước sinh hoạt, rồi ăn uống hằng ngày và xăng xe đi lại mỗi khi về nhà cũng làm "hầu bao" mà Nga dành dụm chẳng còn là bao! Bây giờ, có công việc ổn định, chi phí sinh hoạt không phát sinh, được ăn cơm nhà, cho dù mức lương chỉ khoảng 1,8 triệu đồng/tháng, nhưng với người dân thôn quê như Nga, đó là điều mơ ước!

"Ðưa công nghiệp dệt may về nông thôn, đây là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển". - Tôi vẫn còn nhớ câu nói chắc nịch của Phó Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư Hải Ðường, Vũ Ðức Hải. Tháng 12-2010, doanh nghiệp này đầu tư xây dựng nhà máy may công nghiệp quy mô 500 lao động tại xã nông thôn mới Hải Ðường (Hải Hậu). Giải thích vì sao lại đầu tư về địa bàn nông thôn, Phó Giám đốc Hải đưa ra quan điểm: Ðặc điểm của may công nghiệp là sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động nữ. Do vậy, trong các khu công nghiệp hiện nay, các nhà máy có quy mô hàng chục nghìn công nhân đều phải sử dụng lao động di cư từ nông thôn ra thành thị. Một vấn đề lớn đặt ra là đời sống của người lao động khi ra thành phố làm việc gặp rất nhiều khó khăn phát sinh, từ chi phí thuê nhà ở, chi phí sinh hoạt, đi lại tăng cao cộng với nhiều rủi ro khi phụ nữ phải sống xa nhà. Sau một năm làm việc, thu nhập tích lũy của họ không được bao nhiêu. Với những khó khăn như vậy, lao động nông thôn đang có xu hướng muốn quay trở về quê làm việc và họ thật sự có nhu cầu, mong muốn được làm việc trên chính mảnh đất mình sinh ra! Từ thực tiễn đó, những doanh nghiệp dệt may như Công ty Hải Ðường ý thức được rằng, phát triển sản xuất tại nông thôn sẽ giải quyết được cơ bản những khó khăn cho người lao động và cũng giải quyết được nhu cầu thiếu hụt lao động của doanh nghiệp hiện nay.

Theo thống kê, đã có hơn 50 doanh nghiệp dệt may trong, ngoài tỉnh và nước ngoài đầu tư xây dựng nhà xưởng, gắn bó lâu dài với địa bàn nông thôn. Doanh nghiệp nhỏ cũng thu hút từ 300 đến 500 lao động, còn phát triển quy mô lớn như Công ty cổ phần may Sông Hồng đang tạo việc làm cho gần hai nghìn lao động nông thôn huyện Xuân Trường. Trong năm 2012, Công ty này sẽ đưa vào hoạt động khu sản xuất mới tại cụm công nghiệp xã Hải Phương (Hải Hậu). Tổng mức đầu tư gần 300 tỷ đồng và dự kiến thu hút thêm hai nghìn lao động nông thôn nữa! Chủ tịch HÐQT công ty Bùi Ðức Thịnh, cho biết: "Kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng cho nông thôn là đi từ ngoài đồng về làng, còn chúng tôi sẽ đi từ các thành viên trong từng gia đình đến từng làng, xóm, từng cụm dân cư! Chúng tôi đang xây dựng kế hoạch lấy vị trí công ty ở Xuân Trường, Hải Hậu làm tâm điểm trong bán kính 10 km với khoảng mười xã để cung cấp nguồn nhân công chủ yếu cho công ty. Với mức thu nhập hơn 100 tỷ đồng mỗi năm cho lao động nông thôn ở mỗi khu vực, sau mười năm đã có hàng nghìn tỷ đồng tập trung ở các khu dân cư đó, như thế có thể hình dung mức sống vật chất, văn hóa ở từng gia đình nông thôn sẽ được cải thiện và nâng cao như thế nào!".

Theo Phó Giám đốc Sở Công thương Nam Ðịnh Trần Quốc Hùng, việc đưa công nghiệp dệt may về nông thôn có nhiều thuận lợi căn bản. Trước hết, giảm nhẹ gánh nặng xã hội cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, nhất là những doanh nghiệp ngành may phải sử dụng nhiều nhân công nhưng thu nhập thấp. Thứ hai, không phải lo vấn đề nhà ở cho người lao động và cuối cùng là giảm nguy cơ phát sinh tệ nạn xã hội ở địa phương. Ðối với các huyện, xã có cơ sở công nghiệp dệt may đứng chân, chắc chắn sẽ giải quyết triệt để việc làm cho lao động nông thôn, tăng giá trị sản xuất công nghiệp cho địa phương và đồng thời thay đổi diện mạo cả một vùng quê. Suy cho cùng, người dân nông thôn được hưởng lợi nhiều nhất vì được làm gần nhà, có thêm thu nhập và cái được lớn hơn là không thiếu thốn tình cảm gia đình. Cũng theo ông Hùng, những năm qua UBND tỉnh Nam Ðịnh ban hành nhiều cơ chế thông thoáng, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư về địa bàn nông thôn. Theo đó, nếu đầu tư về cụm công nghiệp huyện, doanh nghiệp được hỗ trợ 50% vốn xây dựng hạ tầng kỹ thuật (tương đương bảy tỷ đồng); sau khi hết thời hạn miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định của Nhà nước, còn được ngân sách tỉnh hỗ trợ lại 30% số tiền thuê đất thực nộp vào ngân sách Nhà nước trong bốn năm tiếp theo. Ðối với doanh nghiệp di dời ra khỏi đô thị được miễn thuế hai năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, trong hai năm tiếp theo được giảm 20% số thuế phải nộp. Các doanh nghiệp đầu tư sản xuất ngoài cụm công nghiệp cũng được tỉnh hỗ trợ đào tạo lao động, hỗ trợ làm đường giao thông đến chân hàng rào của doanh nghiệp và hỗ trợ quảng cáo sản phẩm trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.

Với cơ chế "trải thảm đỏ" thu hút đầu tư, trong hơn năm năm qua, Nam Ðịnh đưa công nghiệp dệt may về nông thôn bước đầu giải quyết được bài toán thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, phù hợp chủ trương "ly nông, không ly hương". Nhưng để phát triển hơn nữa các doanh nghiệp dệt may và cả các làng dệt truyền thống ở khu vực nông thôn, trước mắt tỉnh Nam Ðịnh cần xây dựng và cải thiện các điều kiện để phục vụ sản xuất công nghiệp như giao thông, dịch vụ hỗ trợ, vận tải, điện, nước. Nhưng lo lắng hơn cả khi doanh nghiệp đầu tư về nông thôn lại chính là yếu tố con người, vì sản xuất công nghiệp cần một lực lượng công nhân có tay nghề, có tác phong công nghiệp, một đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và trình độ quản lý cao, trong khi lực lượng này ở nông thôn lại rất hiếm! Bên cạnh đó, các doanh nghiệp mong đợi có những cơ chế thông thoáng hơn để có thể phản ứng nhanh trước những thay đổi của thị trường. Ðây chính là những thách thức không nhỏ đối với chính quyền địa phương trong bối cảnh kinh tế trong nước và thị trường thế giới còn nhiều biến động.

Chăm lo đời sống người lao động- yếu tố giúp Vinatex phát triển bền vững

, , , ...


Thực trạng hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang lao đao vì thiếu lao động, sản xuất kinh doanh gặp khó vì biến động lao động thường xuyên. Riêng ở Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex), trên 120 ngàn lao động vẫn yên tâm trụ lại với nghề. Đó là nhờ Tập đoàn đã quán triệt đến các đơn vị thành viên nhiệm vụ phải chăm lo tốt đời sống người lao động.

CôngThương - Mặc dù gặp nhiều khó khăn, song 11 tháng năm 2011, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đã đạt 12,8 tỷ USD, trong tổng số kim ngạch xuất khẩu gần 87,2 tỷ USD của cả nước. Đây là một nỗ lực rất lớn của toàn ngành Dệt may Việt Nam, trong đó có đóng góp đặc biệt lớn của Tập đoàn Dệt May Việt Nam.

Để đạt được kết quả đó, ngành dệt may đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp quan trọng, trong đó, đặc biệt chú trong đến việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. Thực hiện tốt các chế độ chính sách và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và điều kiện làm việc của người lao động là chủ trương xuyên suốt trong toàn hệ thống Tập đoàn Dệt May Việt Nam. Đây là nét văn hoá của các doanh nghiệp trong Tập đoàn. Bà Trương Bạch Mai- Chánh văn phòng Tập đoàn Dệt may Việt Nam- cho biết, trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp trong Tập đoàn Dệt May Việt Nam không có đình công, bãi công hay lãn công vì lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may trong Tập đoàn đã xây dựng nhiều biện pháp góp phần cải thiện đời sống cho người lao động một cách thực tế.

Mặc dù khủng hoảng kinh tế và những khó khăn áp lực tác động đến xuất khẩu của ngành dệt may, nhưng lãnh Tập đoàn vẫn chỉ đạo các doanh nghiệp bù đắp thu nhập cho người lao động, thậm chí phải giảm bớt lợi nhuận và làm mọi cách để đời sống người lao động được cải thiện. Nhờ vậy, mức thu nhập bình quân người lao động toàn Tập đoàn đã được nâng cao: năm 2010 là 3,3 triệu đồng người/tháng, thì năm 2011 đạt trên 3,8 triệu đồng/người/tháng. Tại một số doanh nghiệp, người lao động đã có thu nhập bình quân gần 5 triệu đồng/người/tháng như: May Hưng Yên, Dệt Thắng Lợi…

Một số doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, hoạt động SXKD kém hiệu quả, sau khi về với Tập đoàn bắt đầu có lãi, thu nhập bình quân cũng đạt trên 3 triệu đồng/người/tháng. Đặc biệt, Công ty May Sơn Động mới được thành lập cách nay 1 năm theo NQ 30A của Chính phủ, xoá đói giảm nghèo bền vững cho bà con dân tộc ở Sơn Động, Bắc Giang, nhưng thu nhập bình quân cũng đã đạt 2,8 triệu đ/người/tháng.

Ngoài tiền lương, các DN còn có các chế độ tiền thưởng khác như thưởng năng suất, tiết kiệm vật tư, làm việc chuyên cần để khuyến khích người lao động; hỗ trợ tiền tàu xe cho công nhân về nghỉ Tết; thưởng tiền cho các cháu học sinh học giỏi, tặng quà 1/6, Trung thu. Nhiều doanh nghiệp đã làm nhà cho công nhân ở như May Phong Phú, Việt Tiến, Đáp Cầu, Hưng Yên… Một số doanh nghiệp còn có xe ôtô đưa rước công nhân từ nhà đến nơi làm việc như Hanoisimex, Hatexco...

Không chỉ đảm bảo mức thu nhập cho người lao động nhằm giảm bớt khó khăn khi giá sinh hoạt điện nước tăng, lãnh đạo các doanh nghiệp đều lo bữa ăn công nghiệp cho người lao động với mỗi suất ăn 15.000 đồng/bữa (không tính khấu hao đồ quân dụng và lương người phục vụ), đảm bảo ăn ngon đủ chất đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm

Cùng với đó, Tập đoàn rất chú trọng đến cải thiện điều kiện làm việc của người lao động. Hiện nay, tại các doanh nghiệp của Tập đoàn, tất cả các xưởng sản xuất đều có hệ thống điều hoà không khí, nhà vệ sinh sạch sẽ, môi trường làm việc thân thiện với môi trường. Tập đoàn có Bệnh iện Dệt May và Trung Tâm Y tế để chăm sóc điều dưỡng chữa trị bệnh cho người lao động, tại các doanh nghiệm đều có trạm y tế để theo dõi cấp phát thuốc cho người lao động.

Chỉ còn hơn 1 tháng nữa là đến Tết Nhâm Thìn 2012, là ngành sử dụng nhiều lao động, mỗi đơn vị khi cho công nhân về nghỉ Tết phải vào dịp cuối năm lo tiền thưởng Tết cho công nhân, áp lực về tiền là rất lớn, nhưng các doanh nghiệp trong Tập đoàn đều thanh toán đúng hạn cho công nhân.

Trong chiến lược phát triển của ngành Dệt May Việt Nam, lãnh đạo Tập đoàn vẫn chủ trương đưa việc cải thiện đời sống người lao động lên hàng đầu để thu hút lao động, đảm bảo ổn định sản xuất lâu dài và bền vững. Dự kiến từ năm 2013 trở đi người lao động gắn bó làm việc với doanh nghiệp từ 3 năm trở đi thì mức thu nhập sẽ phải nuôi được thêm một suất ăn theo. Lãnh đạo Tập đoàn cho biết, sẽ xây dựng thang bảng lương cơ bản phù hợp với ngành dệt may để khi người lao động nghỉ hưu được hưởng mức trả bảo hiểm xã hội đủ sống và không bị thua thiệt so với người lao động ở một số ngành nghề khác.

Với những giải pháp quyết liệt, chú trọng quan tâm đến người lao động, ngành dệt may Việt Nam tự tin đặt mục tiêu xuất khẩu toàn ngành năm 2012 là 15 tỷ USD, tăng 10%-12% so với năm 2011.

Theo báo công thương.

Trao đổi logo, banner, liên kết lâu dài

, , , ...

Với mục đích hợp tác cùng nhau phát triển và tăng thứ hạng Website. Công ty Dệt may Hoàng Dũng có nhu cầu trao đổi logo, banner, trao đổi liên kết với Quý Công ty, tổ chức, cá nhân có nhu cầu hợp tác để phát triển thương hiệu điện tử.

Website www.detmayhoangdung.com.vn rất mong muốn liên kết với các bạn trong việc đặt banner quảng cáo trên trang chủ của chúng tôi.

Điều kiện trao đổi:

1. Là một website thương mại có nhiều thông tin tiện ích và thường xuyên cập nhật
2. Chỉ số pagerank ít nhất 2/10
3. Không trao đổi link với các site có nội dung không lành mạnh
4. Cam kết trao đổi lâu dài

Cách thức trao đổi:

1. Đặt logo của Công ty Hoàng Dũng lên trang chủ, link đến trang www.detmayhoangdung.com.vn

Link logo: http://i63.photobucket.com/albums/h157/tranthedung/Det%20Hoang%20Dung/logoCty.gif

2. Gửi logo kích thước 150x90 hoặc 165x90 và đường link liên kết vào hòm thư: info@detmayhoangdung.com.vn

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:

Email: info@detmayhoangdung.com.vn
YM!: dungtt_hn

CÔNG TY DỆT MAY HOÀNG DŨNG

Phân tích tiềm năng cổ phiếu ngành dệt may

, , , ...

Trong 10 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may tiếp tục tăng trưởng cao (gần 30% so với cùng kỳ năm 2010). Riêng trong tháng 9/2011, giá các mặt hàng dệt may xuất khẩu tăng 0,4% so với tháng 8/2011 và tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong năm 2011, ngành dệt may hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 13 - 13,5 tỷ USD và đã thu về gần 11,7 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2011. Như vậy, trong 2 tháng cuối năm, ngành dệt may phải đạt kim ngạch 650-900 triệu USD/tháng, những con số có thể thực hiện được đối với ngành trong điều kiện hiện tại.

Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may đi 54 thị trường trên toàn thế giới. Trong đó, các khách hàng lớn nhất của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada và Đài Loan. 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đến các thị trường này chiếm gần 89,5% tổng kim ngạch.

Tính chung cả ngành dệt may, Việt Nam là nước xuất khẩu ròng. Tuy nhiên, do ngành dệt may chủ yếu hiện nay đang sản xuất theo hình thức gia công theo đơn hàng, hình thức sản xuất cấp thấp nhất và đang hướng đến nâng cấp sản xuất theo hình thức OEM và OBM và năng lực sản xuất các loại nguyên liệu và phụ liệu của ngành còn hạn chế, nên giá trị kim ngạch nhập khẩu đầu vào cho ngành rất lớn, chiếm bình quân khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu từ năm 2007 đến hết tháng 10/2011.

Theo một báo cáo của Viện Nghiên cứu kinh tế Đài Loan, Việt Nam là nước nhập siêu tương đối lớn đối với các mặt hàng vải trong những năm qua, do chất lượng và chủng loại các sản phẩm dệt của Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp dệt may trong nước. Ngoài ra, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu là gia công xuất khẩu, nên phải sử dụng các nguyên liệu do khách hàng chỉ định từ các nguồn cung cấp bên ngoài. Ngược lại, kim ngạch xuất nhập khẩu của ngành may luôn có giá trị dương đáng kể trong nhiều năm trở lại đây. Điều này cũng phản ánh một phần chính sách hạn chế nhập khẩu các sản phẩm may vào Việt Nam và các biện pháp ưu đãi xuất khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc. Tuy nhiên, các số liệu trên không bao gồm khối lượng lớn các mặt hàng may mặc của Trung Quốc được đưa vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch

Trong những tháng đầu năm 2011, giá bình quân xuất khẩu có xu hướng tăng nhưng giá đầu vào nhập khẩu tăng mạnh hơn. Theo Bộ Công thương, trong tháng 9/2011, giá các mặt hàng dệt may xuất khẩu tiếp tục tăng (0,4%) so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2010; giá nguyên liệu nhập khẩu cho ngành dệt may cũng tăng mạnh trong 8 tháng đầu năm. Cụ thể, giá bông nhập khẩu đã tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá sợi nhập khẩu tăng khoảng 38%.

Những con số này cho thấy, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam lớn và tăng trưởng cao chưa hẳn là tín hiệu tích cực về lợi ích cho doanh nghiệp trong ngành khi còn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên, phụ liệu nhập khẩu trong điều kiện giá đầu vào tăng cao và khả năng đàm phán tăng giá đầu ra hạn chế.

Hiện mới chỉ có 5 doanh nghiệp dệt may đang niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam là TCM, TET, TNG, GMC và NPS, với tỷ trọng đóng góp vào tổng vốn hóa thị trường còn rất nhỏ (khoảng 0,2%). Trong những quý đầu năm 2011, các doanh nghiệp này đều có doanh thu tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ năm trước, nhưng tỷ lệ lợi nhuận gộp và lợi nhuận ròng không tăng trưởng tương ứng, phần nào phản ánh những điểm yếu, cũng như khó khăn của ngành.

Đến ngày đầu tháng 11/2011, TCM vẫn chưa công bố báo cáo tài chính quý III/2011. Doanh thu quý II và quý III của TET chỉ tương đương cùng kỳ năm 2010, song tỷ lệ lợi nhuận gộp tăng từ 38,5% lên trên 43,6%, là nguyên nhân chính giúp lợi nhuận ròng tăng 21% so với cùng kỳ năm 2010.

Doanh thu 3 quý đầu năm 2011 của các công ty khác trong ngành (TNG, GMC và NPS) đều có sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước (gần 100% đối với TNG và trên 55% với 2 công ty còn lại). Tuy nhiên, tỷ lệ lợi nhuận gộp của TNG và NPS giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước, do đó, tỷ lệ lợi nhuận ròng giảm từ 4,3% xuống còn 2,8% với TNG và gần như không đổi với NPS dù có sự tiết kiệm chi phí. Trong khi đó, tỷ lệ lợi nhuận gộp cải thiện tại GMC từ 19,65% lên gần 21,8% và cắt giảm nhẹ chi phí bán hàng vừa đủ bù đắp sự gia tăng chi phí quản lý doanh nghiệp. Do đó, tỷ lệ lợi nhuận ròng/doanh thu của GMC không có sự cải thiện so với cùng kỳ năm 2010.
May 2012
M T W T F S S
April 2012June 2012
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31