Lượm lặt

Tích góp những bài học cuộc sống, lãnh đạo và quản lý

Subscribe to RSS feed

Posts tagged with "Quản trị nguồn nhân lực"

Học cách chấp nhận cấp dưới

, , ,

Các nhà quản lý cần hiểu rằng nhân viên không giống mình về khả năng, động lực làm việc và cả khí chất. Mỗi người đều có cá tính riêng và lãnh đạo phải căn cứ vào những đặc điểm cơ bản khi làm việc với họ.




Nhiều người cho rằng việc "Đối xử với người khác theo cách bạn muốn họ làm cho mình" là một nguyên tắc quản lý phù hợp. Tuy nhiên, bạn khám phá ra rằng mọi người lại không hề muốn được đối xử như nhau. Tệ hơn, điều mà một nhân viên cấp dưới đề cao thì một người khác lại phủ nhận hoàn toàn.

Nói cách khác, các nhà quản lý đã nhận ra rằng họ sẽ phải đối xử với mỗi nhân viên cấp dưới như từng cá nhân riêng biệt. Quan niệm "nên đối xử với mọi người theo những cách khác nhau" đang mâu thuẫn với quan niệm "nên cư xử với mọi người một cách công bằng" – điều mà bạn hằng tin là đúng. Tuy nhiên, về thực chất, việc "cư xử công bằng" có nghĩa là "đối xử với họ theo cách khác nhau" – theo triết lý công bằng, không phải cào bằng.

Khi bắt đầu đảm nhiệm vị trí, hầu hết các nhà quản lý mới đều thấy thoải mái hơn khi làm việc với những nhân viên cấp dưới ít kinh nghiệm. Bạn tin rằng mình hiểu nhu cầu của cấp dưới và tự nhủ rằng trình độ chuyên môn của mình có thừa để chia sẻ với nhân viên. Lúc này, bạn cảm thấy mình thật giống một ông sếp và luôn giữ vai trò kiểm soát.

Ngay từ đầu, các nhà quản lý mới cần ý thức rằng nhân viên cấp dưới thiếu kinh nghiệm rất cần sự hỗ trợ, cần hướng dẫn và cần giúp đỡ để phát triển, cần được truyền đạt kiến thức chuyên môn và nâng cao kỹ năng hoạt động. Bạn có thể dành nhiều thời gian để gặp riêng từng người, tổ chức nhiều buổi sinh hoạt theo nhóm dưới hình thức những buổi đào tạo hàng tuần về cách thăm dò quan điểm khách hàng, tiến hành cuộc gọi hay đến tận nhà khách hàng để bán hàng, và cách giữ quan hệ với khách hàng...

Đa số các nhà quản lý nhận ra rằng trong khoảng thời gian ba tháng đầu, các nhân viên cấp dưới cần được chỉ dẫn không những về đường đi nước bước, mà còn về cách tư duy về những điều mà họ hy vọng đạt được trong tương lai. Điều đó dẫn đến sai lầm phổ biến nhất của các nhà quản lý là "giám sát quá chặt chẽ", và "tự mua dây buộc mình".

Mặc dù các nhà quản lý đã nhận ra sai lầm trong cách làm việc của mình, nhưng trong suốt một thời gian dài, nhiều người vẫn chưa thể từ bỏ thói quen ôm đồm các vấn đề của nhân viên cấp dưới. Bạn cần sớm nhận ra rằng cách cư xử đó là không thể chấp nhận và bắt đầu cố gắng hạn chế những lần can thiệp không cần thiết.

Muốn giúp đỡ nhân viên phát triển năng lực, bạn phải cho phép nhân viên mắc sai lầm và tự rút ra bài học từ những sai lầm đó. Trách nhiệm của các nhà quản lý là hạn chế những rủi ro tổng thể của tổ chức và giúp nhân viên cấp dưới khỏi mắc những sai lầm tai hại. Vai trò của nhà quản lý không phải là mang hộ gánh nặng rắc rối của những cấp dưới ít kinh nghiệm, mà là hướng dẫn hay cung cấp cho họ các nguồn lực và để họ tự giải quyết vấn đề.

Một thử thách mà các nhà quản lý mới phải đối mặt là quản lý nhân viên cấp dưới nhiều kinh nghiệm hơn. Điều này được mô tả là rất khó khăn và đòi hỏi sự khéo léo.

Ở đây có nhiều nguyên nhân. Các nhà quản lý mới thường thiếu tự tin khi điều hành cấp dưới là những người nhiều kinh nghiệm làm việc hơn mình, đặc biệt là những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trớ trêu thay, những người đạt kết quả kinh doanh cao lại là đối tượng mà bạn khó quản lý nhất.

So với một số nhân viên cấp dưới đã có nhiều năm kinh nghiệm, các nhà quản lý thường trẻ tuổi và ít kinh nghiệm hơn trong vai trò người tạo ra kết quả, và cũng không chắc liệu ai có năng lực chuyên môn cao hơn. Bạn lúng túng khi thấy nguồn động lực chính – tiền thưởng – tỏ ra ít hiệu quả đối với những người này. Họ đã được nếm mùi thử thách, họ có thể đưa ra đề nghị, có thể không đồng tình, và hay thắc mắc về những quyết định của nhà quản lý. Vậy các nhà quản lý cần cố gắng xác định vai trò của mình đối với những nhân viên cấp dưới quan trọng này.

Ngay cả những người hiểu biết nhất cũng phải bỏ khá nhiều thời gian để thích nghi với việc có một vị sếp trẻ hơn hay "bảo cho bạn biết nên làm gì". Và tất nhiên, các nhà quản lý sẽ hành động theo phong cách độc đoán của họ. Hầu hết các nhà quản lý thường có cảm giác bị đe dọa và phản ứng theo kiểu phòng thủ. Tệ nhất là khi bạn có thái độ "tôi sẽ cho anh biết ai là sếp ở đây". Điều đó chỉ tạo ra một vòng xung đột lẩn quẩn.

Bên cạnh đó, những người có thâm niên làm việc thường có hai lời phàn nàn chủ yếu về các nhà quản lý: một là ít tôn trọng cấp dưới và không cho cấp dưới quyền tự quyết, hai là ít quan tâm hay quan tâm không đúng cách đến cấp dưới. Những nhân viên cấp dưới nhiều kinh nghiệm cũng thường phàn nàn rằng các nhà quản lý mới "trói" họ quá chặt. Nguyên nhân của sự phẫn nộ là các nhà quản lý chưa biết điều chỉnh phong cách giao tiếp cho phù hợp với năng lực và kinh nghiệm của cấp dưới.

Trong trường hợp này, các nhà quản lý mới cần hiểu hơn về nguyên tắc ẩn phía sau việc thi hành quyền hạn để bắt đầu tiếp nhận một phương pháp ít mang tính mệnh lệnh hơn, đồng thời yêu cầu cấp dưới phát biểu quan điểm của mình. Theo cách đó, mối quan hệ của bạn với các nhân viên cấp dưới có thâm niên làm việc, nếu không nằm ngoài khả năng chỉnh đốn, nói chung sẽ được cải thiện đáng kể.

Khi được hỏi về những căng thẳng trong công việc, hầu hết các nhà quản lý mới đều trả lời không chút do dự rằng đó là lúc họ phải đối diện với những nhân viên cấp dưới hay gây rắc rối. Tuy làm việc với nhân viên hay gây rắc rối thường căng thẳng và đôi khi bực mình, nhưng các nhà quản lý mới cần phải dành rất ít thời gian và sức lực, trí tuệ và cảm xúc để quản lý số nhân viên này.

Cụ thể là phải học cách lường trước những rắc rối liên quan đến hiệu suất hoạt động, cách tiếp xúc với các nhân viên hay gây rắc rối, cách quyết định và áp dụng những biện pháp cần thiết để cải thiện hiệu suất làm việc của họ hay điều chuyển họ sang vị trí công việc mới. Hơn nữa, vì các nhà quản lý mới hay mất bình tĩnh trước những nhân viên khó bảo nên một phần quan trọng trong công tác quản lý của họ là học cách chế ngự cảm xúc cá nhân.

Cuối cùng, các nhà quản lý lại lúng túng khi nhận thấy có khả năng chính bản thân mình mới là ngọn nguồn của vấn đề: Có thể bạn đã đặt chỉ tiêu không thực tế cho nhân viên cấp dưới (do kinh nghiệm hạn chế trong việc lên kế hoạch), hay đã vô tình thưởng phạt nhân viên một cách thiếu công bằng, hoặc không giúp đỡ họ khi cần thiết…

Các nhà quản lý mới nên nhận ra rằng việc thiếu kỹ năng lắng nghe đã cản trở khả năng phản hồi của nhân viên cấp dưới. Ý kiến phản hồi phải là một sự trao đổi qua lại, không phải là “chỉ bảo, chỉ bảo, và chỉ bảo”. Vì thế, học cách phản hồi về hiệu suất hoạt động là một kỹ năng quan trọng để quản lý các nhân viên cấp dưới, đặc biệt là số nhân viên hay gây rắc rối. Khi bạn nêu ý kiến phản hồi nghĩa là bạn phải chuẩn bị đối mặt và giải quyết xung đột. Hầu hết mọi người đều muốn né tránh xung đột nên họ che giấu thông tin quá lâu, khiến nhân viên cấp dưới không có cơ hội học hỏi và cải thiện hiệu suất hoạt động.

Sau một năm làm việc, bạn có thể sẽ phải kỷ luật hoặc xử phạt ít nhất một nhân viên cấp dưới, ít nhất cũng phải hạ bậc hoặc sa thải một nhân viên. Nhưng bạn thấy khó khăn khi phải kiên quyết xử lý nhân viên của mình, đôi lúc không cảm thấy tự tin về các quyết định trước đó. Bạn bối rối vì buộc phải sa thải nhân viên. Vậy thì bạn phải tiến hành việc này bằng thái độ xây dựng, tức là chỉ đề cập đến những vấn đề quan trọng, bởi nhân viên không muốn bạn lôi ra tất cả lỗi lầm của họ, và dù trong trường hợp nào, bạn cũng nên giữ cho họ chút lòng tự trọng. Đừng nhẫn tâm không cần thiết. Việc sa thải cũng cần đến kỹ năng.

Các nhà quản lý kinh nghiệm nói rằng việc sa thải nhân viên cấp dưới dạy họ rằng phải cẩn thận hơn trong khâu tuyển dụng, bởi nhà quản lý nào cũng cảm thấy thật khó khăn khi sa thải một người mà chính mình đã nhận vào làm. Do đó, nhà quản lý cần xem tuyển dụng như một kỹ năng quản lý quan trọng. Bạn cần dành một khoảng thời gian và công sức đáng kể cho việc tuyển dụng và phỏng vấn, phát triển cách tiếp cận có hệ thống đối với từng ứng viên và cả nhân viên. Có khi bạn đã phải trưng cầu ý kiến tập thể để quyết định có nên cho thôi việc người đó hay không.

Nguồn: kynanggiaotiep

Làm thế nào để nhận ra nhân tài và lãnh đạo họ?

, ,

Trong nhiều năm vừa qua, các doanh nghiệp vẫn bị ám ảnh bởi việc làm thế nào để nhận diện và sử dụng các nhân tài phục vụ mình hiệu quả nhất.



Khi chúng tôi suy ngẫm về việc những nhà kinh tế phương Tây làm thế nào để có thể tìm ra cách giúp họ thoát khỏi cuộc khủng hoảng, thì thấy rằng họ đã có sự giúp đỡ của những nhân tài đặc biệt.

Các ngân hàng đầu tư là trái tim của cuộc khủng hoảng hiện nay mặc dù họ có rất nhiều nhân tài. Vậy tại sao lại có sự nghịch lý này? Phải chăng chúng ta vẫn chưa biết cách phải lãnh đạo họ như thế nào?

Sự thật là mọi công ty đều cần phải có những nhân viên kiểu như này, những người có xu hướng đổi mới trong tư duy làm việc và thậm chí là dám chỉ trích những đường lối chưa đúng đắn của lãnh đạo.

Để phát triển đội ngũ này, lãnh đạo doanh nghiệp phải trở thành những thỏi nam châm có sức hút với những người có thể cùng chung vai sát cánh trong quá trình đổi mới một cách lâu dài.

Làm thế nào để nhận ra họ? Đầu tiên chúng ta không thể chỉ đánh giá dựa vào những bài test IQ hóc búa hay những tấm bằng có giá trị cao (mặc dù rất nhiều người trong số họ hội tủ đủ những yếu tố này). Những buổi đối thoại của chúng ta và sự quan sát phải có ý nghĩa như sau:

Những người kỳ tài là những người có năng khiếu, tài năng nổi trội, có tiềm năng sáng tạo trong công việc và có thể là giá trị cốt lõi để một công ty tồn tại được nếu như sở hữu họ.

Khi chúng tôi bắt đầu nghiên cứu về sự thông minh và sức mạnh của những nhân tài, chúng tôi thường chỉ nghĩ ngay đến những người làm trong nghề cố vấn, luật sư, nhà đầu tư ngân hàng và một số ngành nghề khác. Nhưng sự thực là chúng tôi đã phát hiện ra có rất nhiều nhân tài 'ẩn mình' trong nhiều nơi khác như trường học, bệnh viện, các công ty cung cấp hàng tiêu dùng bán nhanh, nhà máy bia... Họ có thể là giáo viên, giảng viên, quản lý bệnh viện, người trông nom bảo tàng. Mặc dù mỗi người mỗi kiểu, nhưng họ đều có khả năng tạo ra những giá trị lớn cho tổ chức.

Nhiều cá nhân tài năng có thể đem về những kết quả có lợi vô cùng bất ngờ cho công ty hay tổ chức mà họ phục vụ. Những 'kỳ nhân dị sĩ' dĩ nhiên bao gồm cả những nghệ sĩ, nhạc công nổi tiếng nhưng họ không phải là đối tượng chúng tôi nói đến ở đây. Chúng tôi đặc biệt chú trọng vào những cá nhân mà một công ty, một doanh nghiệp cần để đạt được những thành tựu lớn nhờ những khả năng tiềm tàng của họ. Những kĩ sư xuất sắc của Cisco cần đến sự chỉ đạo sáng suốt của ban giám đốc và sự kết hợp ăn ý của đồng nghiệp để có thể tìm ra giải pháp cho công cuộc cách mạng hóa công ty. Và họ đã cùng nhau làm việc, học tập vô cùng hiệu quả.

Có một sự thật là những người tài giỏi này thường chứa trong người cả tài năng và những điều làm người khác cảm thấy khó khăn. Vậy tại sao họ lại như vậy? Bởi vì bản chất của họ như sau:

- Họ hiểu giá trị của họ (những kĩ năng của họ không dễ gì tái tạo hay sao chép được).

- Họ có thể trả lời những câu hỏi khó nhất.

- Họ chính là kho kiến thức của công ty.

- Họ không ấn tượng lắm với các cấp bậc trong công ty.

- Họ trông chờ những người ra quyết định có thể tiếp cận họ ngay lập tức.

- Họ kết nối tốt với các tổ chức bên ngoài.

- Niềm đam mê là động lực làm việc của họ chứ họ không làm việc vì riêng một ai.

- Thậm chí nếu bạn lãnh đạo họ tốt, họ vẫn không cảm ơn bạn.

Thường thì các nhân tài thường rất tự tin, ít chịu nghe ý kiến chưa thuyết phục nên dễ khiến người khác không ưa. Ngoài ra với một người quá tự tin, không ngại bày tỏ chính kiến, những người xung quanh thường có khuynh hướng gán cho họ biệt danh chung là kiêu ngạo. Nhân tài cũng là đối tượng bị dòm ngó nhiều nhất.

Bạn sẽ phải sử dụng những nhân tài này như thế nào để thật sự tạo nên sự khác biệt? Trong nhiều năm vừa qua, các doanh nghiệp vẫn bị ám ảnh bởi việc làm thế nào để nhận diện và sử dụng các nhân tài.

Khi đã nhận diện được nhân tài, bạn phải lãnh đạo họ như thế nào? Tiêu chuẩn của sự thông thái là ở chỗ bạn hành động như một thiên thần bảo hộ rộng lượng. Bạn phải tạo ra không gian làm việc thoải mái cho họ, giúp họ nhận ra là tài năng của họ được bạn công nhận. Không chỉ thế, với cương vị lãnh đạo, bạn còn phải bảo vệ họ khỏi những điều tiếng trong công ty, kết nối với những người tài giỏi khác. Điều này là rất cần thiết!

Trong một công ty mạnh, lòng nhân từ phải cân bằng với kỷ luật. Những nhân tài hầu hết đều đem đến thành công vang dội khi họ được đặt trong ranh giới an toàn. Như khi họ cần được tự quản thì họ cũng cần phải biết giới hạn của mình. Tạo ra cho họ không gian làm việc thoải mái nhưng cũng phải vừa đủ ở mức có thể cho phép để phát huy tài năng của họ mà không ảnh hưởng đến cơ cấu công ty. Hãy tập trung vào những gì có thể giúp họ nỗ lực hết sức mà không tách rời khỏi tổ chức - đó là điều tối quan trọng. Thiếu một yếu tố nào đó đều rất nguy hiểm hoặc hạn chế sự phát triển của công ty. Nhân tài là người có thể đến muộn về sớm nhưng bao giờ kết quả công việc của họ cũng luôn đảm bảo. Họ ghét việc đề cao những giá trị ảo, không thích bị ràng buộc bởi các nguyên tắc, hình phạt. Bạn phải hết sức linh hoạt trong cách quản lý họ.

Những người kỳ tài thường phản ứng tích cực với những thách thức lớn và thậm chí là những thử thách mang tầm quốc tế. Một ví dụ điển hình là các kĩ sư và cộng sự của Ove Arup & Partners đã xây dựng nên những công trình vĩ đại của thế giới như bể bơi hình lập phương tại Bắc Kinh và nhát hát Opera ở Sydney.

Dường như những điều có tính chất khả quan hay lạc quan lại không phải là những gì họ thích làm. Những nhân tài đặc biệt thường thích làm những điều ngược lại, những gì bị cho là khó thực hiện nhất. Hãy nói với họ những điều khó hoặc không thể thực hiện và họ sẽ vô cùng hứng thú, tận tụy với nó. Thế giới thực sự cần những con người như thế này!

Nguồn: Kynanggiaotiep

Bất đồng ngôn ngữ: Đánh mất cơ hội kinh doanh

, , , ...

Doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế và giao thương quốc tế thường gặp phải nhiều trở ngại “tuy nhỏ mà lớn”, một trong số đó là sự bất đồng ngôn ngữ.

Đây là một trong những nguyên nhân mà chính bản thân nó đã chứa đựng các rủi ro tiềm ẩn do các bên liên quan không thể hiểu hoặc hiểu không đúng về nhau. Nguyên nhân này dẫn đến hậu quả là công việc bị kéo dài hoặc sai lệch, làm phát sinh, rạn nứt và thậm chí làm trầm trọng hơn các mâu thuẫn... Những lý do này cũng đồng nghĩa với việc đánh mất các cơ hội kinh doanh hoặc làm phức tạp thêm các tình huống.

Một doanh nghiệp dù nhỏ cũng luôn mong muốn mở rộng hoạt động với các đối tác nước ngoài. Trong số những trở ngại ban đầu của hoạt động này có sự trở ngại từ rào cản ngôn ngữ. Tuy nhiên có không nhiều doanh nghiệp Việt Nam coi việc giải quyết sự bất đồng ngôn ngữ là một kế hoạch lớn và cần phải được đầu tư giải quyết từ gốc.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam (nhất là các doanh nghiệp nhỏ) ngại sử dụng phiên dịch của đối tác do lo sợ bị o ép nên đã sử dụng “người nhà”, nhưng trong nhiều trường hợp, “người nhà" không đủ khả năng để đảm nhiệm tốt vai trò của một “cầu nối ngôn ngữ”.

Tìm cách giải quyết các trở ngại về ngôn ngữ là một trong những biểu hiện hướng tới tính chuyên nghiệp của doanh nghiệp và có nhiều cách để thực hiện điều đó. Một trong những cách tạm thời và nhanh nhất là sử dụng các dịch vụ chuyên nghiệp từ bên ngoài. Dịch vụ này được tạm gọi là dịch vụ dịch thuật và người thực hiện được gọi là dịch thuật viên (khái niệm dịch vụ dịch thuật bao gồm hoạt động thông dịch và các hoạt động dịch thuật khác). Để sử dụng dịch vụ này có hiệu quả, doanh nghiệp nên áp dụng các biện pháp sau đây:

Trao đổi trước các nội dung sẽ thảo luận và cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu có liên quan để dịch thuật viên nghiên cứu và chuẩn bị. Nên lặp lại các nội dung cần nhấn mạnh hoặc các điểm chính nếu phía nước ngoài chưa thật sự thấu hiểu hoặc dịch thuật viên chưa truyền đạt đúng. Không nên sử dụng từ ngữ có nhiều nghĩa, từ ngữ quá bóng bẩy, từ ngữ mang tính chuyên môn cao, nếu không thực sự cần thiết. Không nên tự tiện thay đổi dịch thuật viên, đặc biệt khi yêu cầu công việc có tính kế thừa và liên tục. Nên đề nghị dịch thuật viên cung cấp bản tóm tắt hoặc ghi lại kết quả dịch thuật và cùng phía nước ngoài xác nhận vào các kết quả đã trao đổi.

Doanh nghiệp cần xác quyết và nên có kế hoạch đầu tư lâu dài trong việc tạo dựng các “cầu nối ngôn ngữ” cho chính doanh nghiệp mình. Việc đầu tư cho “cầu nối ngôn ngữ” không đơn thuần chỉ là việc đầu tư tiền bạc mà quan trọng hơn hết còn là đầu tư vào nhân sự. Một khi các bất đồng về ngôn ngữ của doanh nghiệp được giải quyết cũng đồng nghĩa với các cánh cửa trong giao thương quốc tế, các cơ hội trong kinh doanh được mở ra.

Xin trích dẫn lời tâm sự của một nhà đầu tư người Nhật để thấy rằng nhịp cầu ngôn ngữ có ý nghĩa như thế nào trong các cơ hội giao thương: “Các bạn (chỉ các doanh nhân Việt Nam) đều là những người rất cởi mở, nồng nhiệt và dễ tiếp xúc. Các tính cách này sẽ tạo cho các bạn rất nhiều cơ hội và đều rất cần thiết cho hoạt động của các thương nhân. Nhưng mặt khác, tôi lại thường thấy một số trong các bạn ít tự tin. Điều này có thể do sự bất đồng ngôn ngữ. Các bạn có thể không thể sử dụng được tiếng Nhật cũng như tôi không thể nói được tiếng Việt nhưng chúng ta cần phải hiểu nhau và vì vậy, cần có nhưng cầu nối cho sự thông hiểu đó”.

Phạm Thu Thủy
Nguồn: Voer

Những ông chủ đặc biệt

, , , ...

Người quản lý tốt nhất có một sự hiểu biết về cơ bản khác nhau về công ty, nơi làm việc, và động lực nhóm. Dưới đây là những gì họ có được quyền. Dưới đây là tám niềm tin cốt lõi.

Một vài năm trở lại, tôi phỏng vấn một số những CEO thành công nhất trên thế giới để khám phá bí mật quản lý của mình. Tôi học được rằng "điều tốt nhất của những điều tốt nhất" có xu hướng hình thành niềm tin cốt lõi sau đây.

1. Kinh doanh là một hệ sinh thái, không phải là một chiến trường.

Ông chủ bình thường kinh doanh như là một cuộc xung đột giữa các công ty, phòng ban và các nhóm. Họ xây dựng quân đội lớn "quân đội" để đặt hàng về, phỉ báng các đối thủ cạnh tranh là "kẻ thù", và đối xử với khách hàng là "lãnh thổ" để được chinh phục.

Ông chủ đặc biệt kinh doanh như là một sự cộng sinh, nơi công ty đa dạng nhất có thể để tồn tại và phát triển. Họ tự nhiên tạo ra các đội thích nghi dễ dàng với thị trường mới và có thể nhanh chóng hình thành quan hệ đối tác với các công ty khác, khách hàng ... và thậm chí cả đối thủ cạnh tranh.

2. Một công ty là một cộng đồng, không phải là một cái máy.

Ông chủ bình thường coi công ty của họ như một cái máy với người lao động như bánh răng. Họ tạo ra các cấu trúc cứng nhắc với những quy tắc cứng nhắc và sau đó cố gắng duy trì kiểm soát bằng cách "kéo đòn bẩy" và "chỉ đạo tàu."

Ông chủ đặc biệt xem công ty của họ như là một bộ sưu tập của cá nhân hy vọng và ước mơ, tất cả các kết nối với một mục đích cao hơn. Họ truyền cảm hứng cho nhân viên hiến thân cho sự thành công của các đồng nghiệp của họ và do đó cộng đồng và công ty lớn mạnh.

3. Quản lý là phục vụ, không kiểm soát.

Ông chủ bình thường muốn nhân viên làm chính xác những gì họ đang nói. Họ là siêu nhận thức được bất cứ điều gì thoáng bất phục tùng và tạo ra môi trường mà ở đó sáng kiến cá nhân bị giẫm nát bởi tâm lý "chờ đợi và xem những gì ông chủ nói gì" .

Ông chủ đặc biệt thiết lập một chỉ đạo chung và sau đó cam kết để có được các nguồn lực nhân viên của họ cần phải có được công việc làm. Họ đẩy các quyết định làm đi xuống, cho phép đội hình thành các quy tắc riêng của họ và can thiệp chỉ trong trường hợp khẩn cấp.

4. Nhân viên của tôi là đồng nghiệp của tôi, không phải là con của tôi.

Ông chủ bình thường nhìn thấy nhân viên yếu kém, non nớt chỉ đơn giản là không thể tin cậy nếu không được giám sát bởi một quản lý gia trưởng. Nhân viên nhận vai của họ với thái độ như thế, tiêu tốn năng lượng vào việc tỏ vẻ bận rộn và che chắn lưng của họ.

Ông chủ đặc biệt đối xử với mỗi nhân viên như thể anh ta hoặc cô ấy là người quan trọng nhất trong công ty. Sự xuất sắc được mong đợi ở khắp mọi nơi, từ bến tàu đến phòng họp. Kết quả là, nhân viên ở các cấp phụ trách số phận của mình.

5. Tạo động lực xuất phát từ tầm nhìn, không phải từ sự sợ hãi.

Ông chủ bình thường dựa vào nỗi sợ hãi bị sa thải, chế nhạo, mất đặc quyền như là một cách quan trọng để thúc đẩy mọi người. Kết quả là, nhân viên và quản lý cũng như trở nên tê liệt và không thể đưa ra quyết định mạo hiểm.

Ông chủ đặc biệt truyền cảm hứng cho mọi người nhìn thấy một tương lai tốt đẹp hơn và làm thế nào họ sẽ là một phần của nó. Kết quả là, các nhân viên làm việc chăm chỉ hơn bởi vì họ tin rằng mục tiêu của tổ chức, sự tận hưởng thực sự những gì họ đang làm (tất nhiên) và biết họ sẽ chia sẻ những phần thưởng này.

6. Thay đổi bằng sự tăng trưởng, không đau.

Ông chủ bình thường nhìn nhận thay đổi như là một cái gì đó phức tạp và nguy hiểm đến tính mạng, là điều gì đó chỉ phải chịu đựng khi công ty trong hình dạng tuyệt vọng. Họ họ phá hủy tiềm thức đó chỉ khi ... đã quá muộn.

Ông chủ đặc biệt thấy sự thay đổi như là một phần tất yếu của cuộc sống. Trong khi họ không thay đổi giá trị vì lợi ích riêng của mình, họ biết thành công mà chỉ có thể xảy ra nếu nhân viên và tổ chức đón nhận những ý tưởng mới và cách thức mới để kinh doanh.

7. Công nghệ cung cấp trao quyền, không tự động hóa.

Ông chủ bình thường gắn chặt vào hệ thống IT cũ – coi công nghệ đó là cách căn bản để gia tăng khả năng điều khiển quản lý và tăng cường khả năng dự báo. Họ cài đặt hệ thống máy tính tập trung làm mất đi nhân cách và gây phản tác dụng với nhân viên.

Ông chủ đặc biệt coi công nghệ như là một cách để giải phóng người, giúp họ sáng tạo và xây dựng mối quan hệ tốt hơn. Họ thích ứng với hệ thống back-office của họ để các công cụ, như điện thoại thông minh và máy tính bảng, mà mọi người thực sự muốn sử dụng.

8. Công việc nên được vui vẻ, không phải chỉ là công việc mệt nhọc.

Ông chủ bình thường có khái niệm rằng công việc là tốt nhất, một điều ác cần thiết. Họ hoàn toàn cho rằng nhân viên khó chịu khi phải làm việc, và do đó có xu hướng tiềm thức xác định mình như những kẻ áp bức và nhân viên của họ như là nạn nhân. Thế là tất cả mọi người đều cư xử như thế.

Ông chủ đặc biệt xem công việc như là một cái gì đó có phải là vốn đĩ thú vị và tin tưởng rằng công việc quan trọng nhất của quản lý là, càng nhiều càng tốt, để đưa mọi công việc mà khiến nhân viên của họ thực sự hạnh phúc.

Geoffrey James
Nguồn: mmi.vn

Để nhân viên làm việc hiệu quả

, , , ...

"Lãnh đạo hiệu quả không phải như thực hiện một bài phát biểu, nó được xác định bởi kết quả chứ không phải thái độ" - Peter F. Drucker.

Xây dựng đạo đức và động lực cho nhân viên tại nơi làm việc

Bạn có thể tạo nên hoặc phá hỏng một ngày làm việc của nhân viên. Điều này phụ thuộc vào sự lựa chọn của bạn. Cao hơn cả là những quyết định của từng cá nhân về việc họ có thích công việc của họ không, bạn chính là yếu tố quan trọng nhất đối với vấn đề đạo đức và động lực cho nhân viên tại nơi làm việc. Với lời nói, cử chỉ của mình và cách thể hiện qua nét mặt với tư cách như là một người quản lý, giám sát hay lãnh đạo, bạn cho họ biết quan điểm về giá trị của họ.

Cảm thấy được người quản lý quý trọng tại nơi làm việc là mấu chốt của động lực và đạo đức cao độ của nhân viên. Mọi người cảm thấy được quý trọng qua sự ham thích công việc, mức lương cạnh tranh, cơ hội đào tạo, tiến bộ và cảm giác được hiện diện trong thông tin mới nhất. Xây dựng đạo đức và động lực cho nhân viên là một công việc vừa rất thử thách vừa cực kỳ đơn giản. Nó yêu cầu bạn phải hàng ngày chú ý đến những khía cạnh đầy ý nghĩa sâu sắc mà bạn tác động lên cuộc sống tại nơi làm việc.


Đến chỗ làm là bạn đã khởi đầu nhịp độ một ngày làm việc

Đây là bức hình ngài Gắt Gỏng và Căng Thẳng. Ông ta đến chỗ làm với cái cau mày. Ngôn ngữ, cử chỉ của ông ta cho biết ông ta "làm việc quá tải" và không vui vẻ. Ông ta chuyển động chậm chạp và đối xử với người đầu tiên chạm trán với ông ta một cách xấc xược. Chỉ cần vài phút là cả nơi làm việc hiểu ý ông ta: tránh xa ngài Gắt Gỏng và Căng Thẳng nếu không muốn làm hỏng buổi sáng đẹp trời này.

Việc bạn tới nơi làm việc và cách xử sự của bạn trong vài phút đầu đối với nhân viên có tác động rất lớn lên đạo đức và động lực làm việc tích cực của nhân viên. Hãy bắt đầu một ngày làm việc mới một cách đúng đắn: Mỉm cười. Đi lại tự tin và đĩnh đạc. Đi quanh nơi làm việc và chào mọi người. Hãy chia sẻ mục tiêu và mong muốn trong ngày. Hãy để nhân viên biết rằng hôm nay sẽ là một ngày tốt lành. Ngày đó bắt đầu với bạn. Bạn có thể tạo ra một ngày tốt đẹp cho nhân viên.

Sử dụng những từ đơn giản, có sức mạnh và có tính khích lệ

Một giám sát viên có nhiều kinh nghiệm nói rằng cô được mọi người trong công ty biết đến vì rất nhiều nhân viên muốn làm việc cùng ca với cô. Trả lời câu hỏi tại sao như vậy, cô nói một phần làm nên sự thành công đó là do cô yêu thích và tôn trọng mọi người. Cô sử dụng những từ ngữ đơn giản, có sức mạnh và có tính khích lệ để bầy tỏ rằng cô ấy rất quý trọng mọi người. Cô nói những câu từ như "làm ơn", "cảm ơn" và "bạn đang làm rất tốt đấy".

Mức độ thường xuyên mà bạn sử dụng những câu từ như trên khi giao tiếp với nhân viên là thế nào? Bạn có thể tạo cho họ một ngày làm việc với tinh thần thoải mái không?

Phải chắc chắn rằng mọi người đều biết điều bạn đang mong đợi

Trong cuốn sách "Tại sao nhân viên không làm việc mà họ đáng phải làm và phải làm gì với vấn đề đó?", Ferdinand Fournies cho rằng những người giám sát thường gặp thất bại trong việc đưa ra những mong đợi rõ ràng. Họ cho rằng mình đã nói rõ ràng về mục tiêu công việc, các con số cần thiết, thời hạn báo cáo và các yêu cầu, nhưng nhân viên thì lại hiểu khác, hoặc có thể là các yêu cầu thay đổi giữa chừng trong ngày, trong công việc hoặc là trong dự án. Trong khi truyền đạt những mong đợi mới - thường là một cách nghèo nàn - thì lý do cho sự thay đổi hoặc hoàn cảnh cho sự thay đổi đó ít khi được đưa ra thảo luận. Điều này dẫn tới việc các nhân viên nghĩ rằng các lãnh đạo công ty không biết họ đang làm gì. Do đó khó mà có thể tạo dựng được cảm giác tự tin và tinh thần xây dựng.

Đây là tin không tốt cho tinh thần và động lực làm việc của nhân viên. Hãy chắc rằng bạn nhận được phản hồi từ nhân viên để biết rằng nhân viên đó nắm rõ yêu cầu của bạn. Hãy chia sẻ mục tiêu và lý do cho nhiệm vụ hoặc dự án nào đó. Trong các nhà máy, bạn không nên nhấn mạnh đến yêu cầu số lượng nếu muốn có những sản phẩm hoàn thiện một cách nhanh chóng. Nếu như bạn có thay đổi giữa chừng một nhiệm vụ hay dự án thì hãy nói cho họ tất cả những gì bạn biết. Bạn có thể tạo ra một ngày làm việc tốt cho họ.

Luôn luôn đưa ra những phản hồi

Theo các quản trị viên, yếu tố tạo dựng tinh thần và động lực trong công việc cho họ đầu tiên chính là việc hiểu làm công việc của mình như thế nào. Các nhân viên của bạn cũng cần những thông tin tương tự. Họ muốn biết khi nào họ hoàn thành tốt công việc và khi nào bạn không hài lòng với kết quả làm việc của họ. Họ cần thông tin đó càng nhanh càng tốt cùng với từng sự kiện. Họ cần làm việc với bạn để chắc chắn rằng bạn có phản hồi. Bạn sẽ ngạc nhiên về hiệu quả của công cụ này trong việc tạo ra tinh thần và động lực cho nhân viên. Bạn có thể tạo ra một ngày làm việc tốt cho họ.

Mọi người cần những kết quả lạc quan nhưng không phải là quá lạc quan

Hãy luôn cùng nhau có những phản hồi, nhân viên cần được khen thưởng và ghi nhận những đóng góp tích cực của họ. Một công ty đã thực hiện quá trình có tên là "cảm ơn", trong đó các giám sát viên ghi nhận sự đóng góp của từng nhân viên thông qua những lời viết trên card và những món quà nhỏ cho công việc, tất cả đều cho kết quả cao hơn và nằm ngoài sự mong đợi.

Nhân viên cần một hệ thống kỷ luật tiến bộ, có quản lý chặt chẽ khi họ làm việc không hiệu quả

Tinh thần và động lực của những nhân viên có đóng góp nhiều nhất đang lâm nguy. Không gì tác động xấu đến tinh thần và động lực tích cực của nhân viên hơn là những vấn đề không được chỉ ra hoặc chỉ ra một cách không nhất quán. Nếu người giám sát tự ý hành động thì sao - có thể bạn đang suy nghĩ về vần đề này. Hành động đó có thể được chấp nhận nhưng với điều kiện là phải nhất quán. Mọi người cần biết họ có thể mong đợi gì từ bạn. Trong mối quan hệ với nhân viên, bạn nên ghi nhớ câu nói sau: "Nếu bạn lừa tôi một lần thì bạn đáng xấu hổ. Nếu bạn lừa tôi hai lần thì tôi thật đáng xầu hổ". Bạn có thể tạo ra một ngày làm việc tốt cho họ.

Nguồn: Việt báo

Trí thức cần thích nghi để dẫn dắt xã hội

, ,

Trí thức cần tích cực thích nghi với môi trường kinh tế xã hội hiện hữu. Làm được điều này, đòi hỏi trí thức phải có phẩm chất dám làm, dám chịu, dám hy sinh quyền lợi, sinh lực và trí tuệ cho cộng đồng.

Một băn khoăn về tầm quan trọng của đội ngũ trí thức trong xã hội tại Việt Nam và các quốc gia khác đang như thế nào.

Các câu nói có tính xếp hạng hay xếp loại hoặc ngẫu nhiên nào đó cho hợp vần hợp âm, dễ tạo suy nghĩ phân hóa giai cấp như "sĩ nông công thương" hay "nhất sĩ nhì nông" hoặc "hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ" cần được tìm hiểu rõ với thiện chí và tâm thế đoàn kết tình đồng bào dân tộc tương thân tương ái.

Vai trò của đội ngũ trí thức?

Vấn đề giai cấp hay phân công lao động trong xã hội là nhạy cảm và dễ kích thích lòng tự ái hay tính phân biệt đối xử. Tuy nhiên, điều cần thấy ở đây là việc xác định rõ vai trò trách nhiệm xã hội của mỗi công dân trong tầng lớp lao động và sự phân công lao động của xã hội, dù là lao động trí óc hay lao động tay chân, để hiểu và hành xử đúng với các chức năng của công dân.

Chẳng hạn như giáo viên phải dạy ngày càng tốt hơn, học sinh phải học giỏi hơn, công nhân phải có kỷ luật lao động và năng suất lao động cao hơn, nông dân phải siêng năng cần cù làm ra các sản phẩm nông sản ngày một tốt hơn, bác sĩ phải có y đức và hết lòng chăm lo cho bệnh nhân, kỹ sư phải có sự đào luyện óc sáng tạo trong các ngành kỹ nghệ, người lao động chân tay cũng phải có kỷ luật kỷ cương trong môi trường lao động doanh nghiệp và xã hội, người công chức phải thấm thía ý nghĩa "quan vi dân" để hết lòng phụng sự tổ quốc và nhân dân, .v.v..

Muốn phát triển, cạnh tranh được với các quốc gia khác cần xây dựng và cải tạo môi trường làm việc cho trí thức (ảnh VTC).

Phải nói rõ, chỉ có những người càng được trang bị kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm nghề nghiệp nhiều nhất trong mỗi lĩnh vực, mới có năng lực tạo ra "sức lao động sản xuất tiên tiến nhất" hay "năng suất lao động cao nhất".

Điều này tạo lợi thế cho trí thức vì chỉ có trí thức mới tiếp cận được nền văn minh khoa học kỹ thuật hiện đại ở các góc độ tiên tiến nhất.

Thực tế cho thấy, năng suất lao động của những quốc gia có hàm lượng chất xám cao thể hiện qua trình độ giáo dục đào tạo, trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, luôn cao hơn nhiều các quốc gia khác dù có cùng hay tương tự về cấu trúc dân số hay diện tích đất đai và tài nguyên thiên nhiên.

Đài Loan và Malaysia có tương tự về dân số và dù Malaysia có nhiều hơn rất nhiều về diện tích đất đai và tài nguyên nhưng năng suất lao động và GDP của Đài Loan vẫn cao hơn, phần nhiều do năng lực khoa học công nghệ và khả năng nghiên cứu và phát triển các ứng dụng của đội ngũ trí thức vào các chế phẩm công nghệ và hàng tiêu dùng xuất khẩu.

Nếu loại trừ các yếu tố chính trị, xã hội do lịch sử để lại, các nước phương Tây có nền khoa học kỹ thuật nói chung phát triển sớm hơn và tạo ra được năng suất lao động nhìn chung cao hơn các nước khu vực châu Á và châu Phi. Tất cả đều có thể liên quan đến một đội ngũ trí thức có năng lực cao của mỗi quốc gia, đây cũng là "nguồn lực chất xám" của quốc gia.

Nói cách khác, nếu một quốc gia muốn nâng cao hiệu suất lao động thì phải có đội ngũ trí thức hiện đại, đạt tầm cao và đủ năng lực tiếp cận các trình độ khoa học công nghệ và kỹ thuật tiên tiến nhất và thực sự đóng vai trò dẫn dắt xã hội tiến lên phía trước.

Phát huy năng lực dẫn dắt

Đội ngũ trí thức còn có năng lực dẫn dắt xã hội về các lĩnh vực khác mà họ tham gia.

Một xã hội biết quý trọng chất xám của trí thức sẽ kích thích và khuyến khích sự đóng góp xã hội lớn hơn về mặt chính trị và xã hội nhân văn của tầng lớp trí thức về các lĩnh vực này.

Để làm được điều này, không gì khác hơn là phải tạo một "môi trường thực sự tự do" cho các trí thức được "xây dựng môi trường làm việc tự do sáng tạo" của chính mình.

Khoa học dù là ngành kỹ thuật, kinh tế hay chính trị xã hội, đã là khoa học đều là "bể học mênh mông" và "không biên giới". Nếu một quốc gia tự dựng lên các rào cản hay chướng ngại trên con đường nghiên cứu khoa học sáng tạo của đội ngũ trí thức thì chẳng khác nào tự khiến mình lạc hậu, chậm tiến so với xung quanh.


Đội ngũ trí thức có năng lực dẫn dắt xã hội về các lĩnh vực khác mà họ tham gia.

Khái niệm "sáng tạo không biên giới" được triệt để áp dụng tại các quốc gia phương Tây như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, v.v. cũng như các tập đoàn và công ty đa quốc gia để rồi gặt hái rất nhiều thành công vang dội là điều ngày nay chúng ta đều thấy rõ.
Càng nhiều "rào cản, chướng ngại hữu hình hay vô hình" hoặc thiếu các "hành lang pháp lý hỗ trợ và bảo vệ" đối với trí thức thì quốc gia càng lạc hậu và chậm tiến.

Lớn mạnh nhờ tập hợp các nguồn lực chất xám

Trước hết cần nhận chân rõ vai trò dẫn dắt của trí thức trong mọi lĩnh vực.

Một kỹ sư Singapore nói rằng ở đất nước nhỏ bé cả về dân số lẫn diện tích đất và tài nguyên thiên nhiên của ông ta, mọi người dân thường có ý kiến rất khác nhau, và thậm chí khác biệt nhiều so với quan điểm của chính phủ Singapore. Các quan điểm khác biệt thậm chí trái ngược trên các diễn dàn, báo chí.

Tuy nhiên, khi cần "trưng cầu dân ý" về các vấn đề hệ trọng của xã hội thì các ý kiến đa số đều ủng hộ quan điểm của chính phủ. Tại sao vậy?

Họ cho rằng chính phủ với những con người trí thức ưu tú, đang là đại diện tốt cho người dân rồi, anh ta nói. Người dân tin rằng chính phủ đã tập hợp được những người "thông minh" nhất để lãnh đạo, do vậy phải tin theo thôi!

Dễ thấy là đất nước nhỏ bé như Singapore, Israel hay Thụy Sĩ nếu không có nguồn lực chất xám cao sẽ không có sự cạnh tranh nào khác. Họ không thể dựa vào đội ngũ lao động đông đảo, giá lao động rẻ, không thể có nhiều đất để nuôi trồng và phát triển nông sản hay hải sản, không có mỏ dầu hay than đá, khoáng sản để khai thác, .v.v. họ chỉ còn cách khai thác chất xám của trí thức, tạo ra các giá trị khác biệt hóa cao nhờ khoa học công nghệ và năng suất lao động cao.

Cần phải làm gì?

Việt Nam muốn phát triển, cạnh tranh được với các quốc gia khác cũng không ngoại lệ và cần xây dựng và cải tạo môi trường làm việc cho trí thức.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đã nhiều lần bày tỏ quan điểm trọng dụng đội ngũ trí thức, tôn trọng và lắng nghe kinh nghiệm và chia sẻ của trí thức.

Đội ngũ trí thức trong bất kỳ thời kỳ nào của lịch sử phát triển kinh tế xã hội đều dễ dàng "sống được", lo được "miếng cơm, manh áo" cho hoàn cảnh bản thân mình và gia đình, nhờ sức lao động sáng tạo của bản thân, kỹ năng nghề nghiệp cao, dù làm việc gì họ luôn được trả lương, trả công thuộc loại cao trong cấu trúc hệ thống lao động của quốc gia.

Vấn đề là khả năng đóng góp cho xã hội của các tầng lớp trí thức đang ở mức độ nào. Làm sao để trí thức có đủ "dũng khí" thoát ra khỏi vỏ bọc "lo toan cho bản thân và gia đình" để góp phần dẫn dắt sự tiến bộ của đất nước.

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với các cơ hội hội nhập vào thế giới kinh tế thị trường toàn cầu và các thách thức lớn lao về khả năng cạnh tranh các nguồn lực quốc gia với các nước khác. Nếu chỉ biết dựa vào nguồn lực tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ thì nguy cơ bị lệ thuộc nước ngoài rất lớn.

Các thách thức đang dần biến thành nguy cơ đe dọa thực sự khi các quốc gia láng giềng trong vùng đang lớn mạnh không ngừng. Sự lớn mạnh của láng giềng phương Bắc - Trung Quốc khổng lồ - và các ứng xử bất thường trên Biển Đông đòi hỏi cả dân tộc, trong đó có đội ngũ trí thức, thể hiện vai trò và khả năng "hiệu suất cao" của mình.

Kinh tế tri thức đã thắng thế khắp nơi trên thế giới. Ai cũng biết, cho dù quốc gia nào giành quyền hay có chủ quyền khai thác tài nguyên dầu khí ở Biển Đông cũng đều phải sử dụng công nghệ và chất xám của các công ty dầu khí Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Đức, Nga, .v.v. và đều phải chia sẻ lợi nhuận với các tập đoàn công nghiệp đang sở hữu nhiều bí quyết và công nghệ như Exon Mobil, BP, Shell, Mitsubishi, Total, .v.v. vì rốt cục đều phải mua và sử dụng sản phẩm và dịch vụ của họ.

Về phía người trí thức và tầng lớp trí thức, cũng cần tích cực thích nghi với môi trường kinh tế xã hội hiện hữu. Chấp nhận thực tiễn còn rất nhiều khó khăn thử thách, môi trường làm việc còn nhiều bất cập, chế độ chính sách đãi ngộ nhiều nơi chưa phù hợp, để tự mình phát huy phẩm chất dẫn dắt đi đầu trong các sáng tạo trên mọi lĩnh vực.

Làm được điều này, trí thức được đòi hỏi phải có phẩm chất dám làm, dám chịu, dám hy sinh quyền lợi, sinh lực và trí tuệ cho cộng đồng.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần mạnh dạn và nhanh chóng xóa bỏ các rào cản, chướng ngại trong môi trường làm việc của trí thức. Phải thực sự có một "môi trường sáng tạo không biên giới" cho trí thức Việt Nam. Có vậy, họ mới mạnh dạn phát biểu, mạnh dạn đóng góp kiến thức của mình cho cái chung của xã hội mà không sợ bị "trù dập" hay "chụp mũ".

Chăm lo tốt cho tầng lớp trí thức, tạo điều kiện cho họ toàn tâm toàn ý cống hiến năng lực chất xám vào mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội thì mới có các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, các nghiên cứu chuyên sâu, các sáng tạo mới về kỹ thuật công nghệ cạnh tranh được với các quốc gia khác.

Và chỉ có như vậy, vai trò trí thức mới thực sự là dẫn dắt xã hội trong câu nói "sĩ nông công thương" cho dù là trí thức trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp hay thương mại nào đó.

Một cơ chế trọng dụng nhân tài, đưa được người tài đức vào các vị trí quan trọng trong bộ máy quản lý nhà nước, phụng sự quốc gia là điều sống còn.

Cảnh Thái
Nguồn: VEF.vn

5 dấu hiệu của người sếp tồi

, , ,

Bạn nghĩ mình là người lãnh đạo tốt vì luôn quan tâm, chăm sóc, thấu hiểu nhân viên? Hãy nghĩ lại, nếu có một trong những biểu hiện sau thì cấp dưới đang mong bạn thay đổi để trở thành người “sếp” tuyệt vời hơn.

1. E-mail một chữ

Hầu hết các “sếp” không nhận ra rằng mình tệ thế nào khi trả lời e-mail của nhân viên cộc lốc chỉ bằng một từ “Ừ” hoặc “Không”. Các chuyên gia đánh giá đó là hội chứng thói quen xấu khi dùng di động: giao tiếp ngắn gọn tối đa đến mức bất lịch sự lúc nào không hay. Các “sếp” không nhận thức được rằng chỉ thêm một tiếng “Cám ơn” cũng đủ làm mát lòng mát dạ nhân viên.

Ví dụ trường hợp của chị Christina Marcus. Một lần, chị gửi e-mail trình bày ý tưởng dự án cho cấp trên. Anh này trả lời duy nhất một chữ “Y”. Trong tiếng Anh, Y có thể mang ý nghĩa “Why?”, tại sao. Thế là chị Marcus ngồi 20 phút viết bức e-mail thật dài giải thích ý tưởng. Hóa ra, ý của vị sếp kia là “Yes”, đồng ý. Không lâu sau đó, Marcus rời công ty.

2. “Sếp” hiếm khi nói chuyện trực tiếp với nhân viên

Ngày nay, các “sếp” thường lợi dụng công cụ kỹ thuật số để giao tiếp, và tránh thảo luận trực tiếp với nhân viên về những vấn đề nhạy cảm. Theo các chuyên gia, thì chẳng ai muốn gây xung đột, chạm trán trực diện, tạo mâu thuẫn, nhưng, làm “sếp” thì phải dũng cảm và có khả năng đương đầu khó khăn. Gặp gỡ và đối thoại trực tiếp mới tạo được sự tín nhiệm của nhân viên.

3. Nhân viên thường xin nghỉ ốm

Nhân viên thường giả bệnh để né “sếp”. Nhưng trên thực tế, “sếp” không tuyệt vời cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên. Theo khảo sát của Thụy Điển công bố năm 2008 sau khi nghiên cứu 3.000 người trong 10 năm, thì những người không hài lòng về “sếp” sẽ tăng nguy cơ đau tim hơn bình thường 20% - 40%.

4. Nhân viên làm việc thâu đêm suốt sáng nhưng vẫn không hoàn thành dự án đúng hạn

Đây là lỗi lầm mà hầu hết những vị “sếp” trẻ thường mắc phải. Họ đưa ra những yêu cầu vô lý như: ít người mà nhiều việc, ít thời gian nhiều kế hoạch. Ban đầu, nhân viên làm việc không dưới 15 tiếng một ngày, nhưng rồi dần kiệt sức và tháo chạy khỏi “nhiệm vụ bất khả thi”.

5. “Sếp” sư tử

Theo chuyên gia thì cho dù không gào thét ầm ĩ tức giận mà chỉ hơi lớn tiếng thôi, thì “sếp” cũng làm giảm nhuệ khí, giết chết sức sáng tạo của tập thể. Nhân viên sẽ sợ hãi và lẩn tránh “sếp” nếu có bất cứ sơ sót nhỏ nào.

Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn