Tuesday, May 8, 2012 1:39:55 AM
Q&A
Không chồng mà chửa mới ngoa
Rất cám ơn lời góp ý của Bác Phò – CLB thơ nhà giáo Quận 3 – về câu “Không chồng mà chửa mới ngoan” trong dân gian đã bị cháu sửa lại là “ngoa” thay vì “ngoan”. Lý giải cho điều này, cháu xin phép kể Bác nghe mẩu chuyện sau:
Một ngày đẹp trời, khi cháu đang dạo bước trước cổng trường Lê Quý Đôn thì lời đối đáp của nhóm học sinh níu chân con lại:
Con Loan với thằng Chiến quả thật là xứng đôi!
Ừ! Trai tài gái sắc mà!
Hai bạn Loan và Chiến mà tụi em nhắc đến đó như thế nào mà được khen dữ vậy? – Cháu tò mò cất tiếng hỏi.
Chị không biết đâu. Con Loan đẹp … mê hồn. Còn thắng Chiến thì … giàu … phát khiếp!
Bọn con trai nghèo như tụi em … đâu có dám cạnh tranh …
Con đã chưng hửng với lối giải thích của chúng. Nếu như cha ông ta, với tài cầm quân giết giặc đem lại bình yên cho nhân dân, tài trị quốc giúp muôn dân hạnh phúc, tài cầm, kỳ, thi, họa … làm ngưỡng mộ bao thế hệ và vì thế mà đã có những Kiều Nguyệt Nga chung thủy với Lục Vân Tiên dù chưa một thề nguyền hẹn ước vì ngưỡng mộ tài năng đức độ chàng lúc nàng bị cướp cản lối thì chữ tài ấy ngày nay đã bị biến dạng thành sự giàu sang. Nếu như sự sắc sảo của phụ nữ và tài năng của đàn ông xưa đã tạo ra sức hút giữa hai giới để từ đó cả hai phía đều cố gắng hoàn thiện bản thân để được “đẹp” trong mắt đối phương ngay cả khi họ đã là vợ chồng, để gia đình họ được “đẹp” trong mắt xã hội thì cái “đẹp” ấy ngày nay đâu rồi khi mà sự hiểu lệch lạc thâm ý của cha ông lại xuất hiện như thế.
Cháu đã sợ và tự hỏi liệu hàm ý châm biếm loại phụ nữ hư thân mất nết không biết giữ gìn phẩm hạnh của ông cha trong câu “Không chồng mà chửa mới ngoan” có bị chúng hiểu là muốn làm con ngoan thì nên có chửa mà không cần lấy chồng không? Do đó, cháu đã thay vì nói bóng, nói gió thì cháu đã phải nói huỵch toẹt, mắng ngay loại phụ nữ ấy là “ngoa” (cũng ám chỉ sự mất nết) cho dễ hiểu và ai cũng hiểu bất kể trình độ tri thức mà không gây bất cứ sự nhầm lẫn nào.
Cám ơn Bác đã nhắc cháu không cần bỏ trong ngoặc kép nếu câu nói là của cháu. Cháu sẽ sửa lỗi này.
Chúc Bác sức khỏe!
Friday, April 27, 2012 3:34:03 AM
Solutions submitted to parliament
Xin ý kiến đóng góp cho đầu sách đang xin phép xuất bản: Giải pháp kiến nghị thưc trạng Việt Nam 3.2011 dưới góc nhìn một ứng viên ĐBQH
Lời ngỏ
Tôi xin ứng cử làm thành viên
Quốc hội ngôi nhà của tổ tiên
Góp sức dựng xây kinh tế mạnh
Kề vai gánh vác vững miền biên
Nhân tài tình nguyện vì dân Việt
Giáo dục cách tân chọn đức hiền
Này hỡi! Cùng nhau hò kéo lưới!
Thành công thu hoạch: Sử ghi liền!
Friday, April 27, 2012 3:30:55 AM
Solutions submitted to parliament
Kính gởi: ỦY BAN BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TP.HCM.
Tôi, với tư cách là một công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với nguyện vọng đóng góp sức mình vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, xin ứng cử Đại biểu Quốc hội.
Quý vị có thể sẽ hỏi tôi: “Sức mình mà tôi có là gì?”.
Dĩ nhiên, một người con gái chân yếu tay mềm phải tự mưu sinh và không có nhiều tiền để đi đây đi đó học hỏi nên không có điều kiện có được những tấm bằng tiến sĩ hay thạc sĩ lận lưng thì lấy đâu ra cái gọi là “sức mình” để mà cống với chả hiến! Đúng! Quý vị nghĩ đúng. Xưa, Nguyễn Trường Tộ, để có thể có được “Chương trình phát triển canh tân” đã phải trải qua một quá trình kinh nghiệm bản thân: Đỗ đầu kỳ thi khảo thí tại quê nhà năm 27 tuổi; Làm thông ngôn cho Pháp năm 31 tuổi và đến năm 32 tuổi thì bắt tay viết điều trần cải cách đất nước. Một Đặng Huy Trứ của cửa Khổng sân Trình đã từng đi giao thương ở Hồng Kông; Năm 42 tuổi, ông được triều đình cử đi Áo Môn tìm hiểu tình hình thế giới và mua vũ khí; Năm 43 tuổi, ông ở Trung Quốc tìm hiểu về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và viết kế sách tự cường, tự lập, tự trị, ... Cao hơn nữa là một Phạm Phú Thứ giữ chức Tả Tham tri Bộ Lại và là phó sứ của Phan Thanh Giản trong phái đoàn đi Pháp thương thuyết chuộc đất 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ khi bước vào tuổi 42 và bắt đầu viết về văn minh phương Tây. Còn tôi, người phụ nữ 38 tuổi không có gì cả ngoài 2 tấm bằng đại học của một Việt Nam trong giai đoạn vừa mới được Mỹ bỏ cấm vận cấp, Liên Xô tan rã và vài năm kinh nghiệm làm việc cho vài công ty nước ngoài nhưng lại ở mãi vị trí ban đầu của một người làm công ăn lương: Nhân viên.
Thế thì, dựa vào đâu mà tôi dám tự tin ứng cử Đại biểu Quốc Hội?
Ông bà ta có câu: “Học thầy không tày học bạn”. Vì tôi không có khả năng tài chính để học thầy nên tôi phải chịu khó học bạn. Bạn của tôi là ai? Đó là những sách vở mà tôi đã được đọc và học trong quá trình còn là học sinh, sinh viên; Là cuộc sống của những người làm công ăn lương như tôi; Là lối sống và suy nghĩ của những người lao động chung quanh tôi; Là những người lãnh đạo ở những công ty nước ngoài thuê tôi làm việc; Là những cách mà họ quản lý nhân sự; Là những bài học ứng xử của ông cha suốt 4000 năm lịch sử Việt Nam cùng một số kiến thức nho học, phật học; Là những triết lý của Lê Nin, của Hồ Chí Minh; Là bất cứ sự vật và hiện tượng mà tôi có dịp tiếp xúc với phương châm: Học, học nữa, học mãi!
Quý vị sẽ lại hỏi tôi: “Phụ nữ! Biết gì về quốc gia đại sự mà đòi tham gia?”. Tôi không biết rằng mình đã trang bị kiến thức đủ chưa nhưng tôi cũng mạn phép đưa ra một số ý kiến đối với tình hình đất nước ta trong giai đoạn hiện nay như sau:
Friday, April 27, 2012 3:30:04 AM
Solutions submitted to parliament
I. Lạm phát:
Nhân có dịp tình cờ đọc hàng chữ trên tấm băng-rol treo trên cột điện “Dùng hàng Việt là yêu nước”, tôi thắc mắc: Vậy ra ai không dùng hàng Việt là không yêu nước sao?
Tôi vẫn thường mua sữa Cô gái Hà Lan uống chứ không mua sữa Vinamilk vì chất lượng như nhau mà giá thành lại rẻ hơn. Hành vi tiêu dùng đó của tôi không xuất phát từ việc tôi có yêu nước hay không mà là do bản năng sinh tồn: Tôi phải sống. Yêu nước nhưng nếu chỉ uống nước thì không sống nổi trong khi muốn yêu nước thì trước tiên anh phải sống. Chết rồi thì chỉ là cái xác vô tri vô giác thì làm gì biết đến cuộc sống chứ đừng nói là yêu nước.
Thế nên tôi không đồng ý với việc: “uống nước” mà “yêu nước”. Điều kiện đầu tiên để có thể yêu nước là phải có một cơ thể sống và một trí óc lành mạnh chứ không phải là hành vi “dùng hàng Việt”. Xin tặng lại chủ nhân của slogan trên vế đối sau: “Bán giá hời mới quý dân”. Bởi lẽ “nước không dân khác chi vùng đất trước khi Columbus khám phá ra”! Bởi lẽ “dân đi trước làng nước đi sau”(a) mà. Dân là những người xuất hiện trước, nhiều dân tập hợp lại thành đồng bào. Người tài đức đứng ra phân xử những tranh chấp trên phạm vi trong và ngoài lãnh thổ được nhân dân kính phục và vâng lời gọi là vua. Nhiều người tài đức cùng được nhân dân kính phục tập hợp lại thành Cơ quan nhà nước. Vậy nước là gì? Phải chăng là tên gọi cho một cộng đồng người trên phạm vi một lãnh thổ nhất định cũng giống như khái niệm gia đình xác định những con người cùng sống dưới một mái nhà. Một mái nhà không có người sống trong đó được gọi là nhà hoang và nước không dân sẽ bị gọi là vùng đất hoang chứ không gọi là nước nữa. Vậy, nước quan trọng hay dân quan trọng? Câu trả lời là dân:
Dân là những người có trí tuệ bình thường. Chính vì họ có trí tuệ bình thường nên họ mới là dân và họ cần lắm những người lãnh đạo giúp họ có một cuộc sống ấm no, bình đẳng, hòa bình, hạnh phúc: Phải ăn no, mặc ấm mới có sức khỏe, trí óc mới minh mẫn mà cư xử chan hòa, bình đẳng. Sự bình đẳng sẽ đem lại hòa bình vì “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”(b). Tất cả những điều đó là nền tảng cơ bản để đạt đến hạnh phúc. Thật là khó lắm, khó lắm trên cương vị người lãnh đạo. Nhiệm vụ của người lãnh đạo rất nặng nề. Đó là lý do tại sao người bình thường chỉ có thể là dân và cơ quan nhà nước là nơi dành cho những người thông thái. “Nhà dân” thì nhiều nhưng “nhà nước” chỉ có một mà thôi.
Dân thì chẳng biết làm gì khác ngoài việc đọc báo để có thông tin về quốc gia mình đang sống. Báo đăng lời phát biểu của một vị lãnh đạo: Giá cả là vấn đề nan giải.
Yếu tố nào quyết định giá cả nếu không là tư tưởng của con người?
Hẳn các vị sẽ cho rằng tôi ngớ ngẩn. Giá thành là vấn đề kinh tế, dính dáng gì đế tư tưởng? Xin thưa:
- Chi phí mà các nhà sản xuất sản xuất ra sản phẩm là 1 VNĐ nhưng họ chắc chắn sẽ bán với giá 10 VNĐ. Vì sao vậy? Vì họ bỏ vốn sản xuất nhiều nên họ phải bán giá cao để nhanh thu hồi vốn. Thời gian thu hồi vốn càng nhanh thì rủi ro trong kinh doanh của họ càng thấp. Khi rủi ro bằng không tức họ bắt đầu có lời nghĩa là họ đã thu hồi được số tiền bằng với số tiền mà họ bỏ ra ban đầu để đầu tư vào việc tạo ra sản phẩm. Nhà sản xuất lúc này sẽ lựa chọn: Giảm giá thành, quảng bá thương hiệu, lập quỹ dự phòng, tăng lương ... Các động tác này phải chăng được quyết định bởi tư tưởng của họ mà tư tưởng của họ lại có khuynh hướng đi theo số đông và tình hình thực tế. Thực tế cho thấy, thị trường Việt Nam là một thị trường đang phát triển và dân số đang ở mức mà các chuyên gia gọi là “dân số vàng”. Đặc điểm của dân số vàng là gì? Đó là thế hệ trẻ. Sức trẻ sáng tạo, mạnh mẽ, năng động, dám nghĩ dám làm nhưng đồng thời cũng ăn nhiều, xài nhiều, bồng bột, hiếu thắng, nông nỗi, bạo lực và “khó dạy” nếu như không uốn nắn kịp thời. Từ thực tiễn đó, những nhà sản xuất sẽ có được sức mua hàng mạnh mẽ mà quyết định không giảm giá thành. Họ sẽ thông qua các hoạt động từ thiện mà quảng bá thương hiệu bởi lẽ tư tưởng của con người ta là một khi đã thỏa mãn các điều kiện ăn, mặc, ở thì người ta sẽ muốn được tự khẳng định, được xã hội thừa nhận, được mọi người tôn vinh. Họ sẽ lập quỹ dự phòng do xuất phát từ tư tưởng lo xa: Bây giờ còn làm ăn được phải lo xa nhỡ đâu sau này làm ăn khó khăn hay thất bại thì vẫn có của mà sống. Họ sẽ không tăng lương nếu không có sức ép từ người lao động hoặc chính phủ. Điều này cũng xuất phát từ tư tưởng: phần mình lo chưa xong hơi sức đâu lo chuyện người khác. Họ sẽ đầu tư vào những hạng mục khác ...
- Để xác định giá thành, các nhà sản xuất sẽ so sánh sản phẩm của mình với những sản phẩm khác cùng loại trên thế giới về mặt giá cả, chất lượng, mẫu mã. Hàng trong nước sử dụng sản phẩm trong nước (một đất nước mới khởi động phát triển) trong hoàn cảnh tận dụng mặt bằng sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào, lao động rẻ, ... thì giá vốn thấp hơn là đương nhiên. Thế nhưng các sản phẩm trên thế giới lại được tính bằng ngoại tệ trong khi VNĐ lại mất giá. Điều đó làm cho giá vốn trở nên quá rẻ và giá bán lại quá lời. Sở dĩ ta không gọi giá ấy là giá cao mà gọi là giá lời vì tại mức giá đó, nhà sản xuất rất có lời. Họ sẽ không mất thời gian tính toán “thật thà” mà làm gì bởi “thật thà là thua thiệt” (a) trong khi giá bán đã có sẵn trên thị trường thế giới rồi. Họ chỉ cần bán theo giá thấp hơn giá thị trường thế giới một chút và lấy từ điểm giá mốc ấy mà tính ngược lại chi phí thỏa điều kiện lợi nhuận càng thấp càng tốt hòng tối thiểu hóa tiền thuế phải đóng cho nhà nước. Điều này cũng lại xuất phát từ tư tưởng hơi đâu đóng thuế cho nhà nước. Tại sao dân chúng lại có khuynh hướng đối chọi với nhà nước như thế?
Quay ngược về quá khứ một chút: Trong mắt của người dân thì mấy ông Cách mạng xưa mới nhếch nhác, nghèo nàn và tội nghiệp làm sao! Yêu nước như mấy ông ấy có mà đói, ăn bám vợ! Tại sao người dân họ chóng thay đổi quá vậy? Trong thời chiến, toàn dân yêu nước đấu tranh mạnh mẽ là thế mà bây giờ lòng yêu nước của họ đâu rồi?
Hãy đặt mình vào vị trí người dân xem. Trong chiến tranh, cái mà người dân cần là sự sống. Họ không có con đường nào khác là đi theo Cách mạng để đấu tranh giành quyền được sống bởi lẽ nếu họ không đánh giặc thì họ cũng sẽ bị giặc đánh. Thực tế đó đã bị nhiều người ngộ nhận ở họ lòng yêu nước. Chỉ có những người lãnh đạo mới thực sự yêu nước, họ trăn trở vì những phận người bị áp bức bóc lột, vì những bất công trong xã hội nên họ mới nỗ lực tìm mọi cách thức tỉnh, giác ngộ những người đau khổ đó ý thức yêu nước, ý thức dân tộc mà cùng nhau đấu tranh cho sự sống. Ngược lại, trong thời bình, vì họ đã có sự sống rồi nên nhu cầu của họ sẽ tăng lên là sống cho ra sống tức sống trong sự ngưỡng mộ của người khác và thoải mái cho bản thân. Tùy theo tư tưởng, quan niệm của từng người mà họ đặt ra tiêu chuẩn vật chất hay tinh thần để thu hút sự ngưỡng mộ của người khác và tiêu chuẩn dễ đạt nhất là vật chất hay sự giàu có vì đa số họ là những người dân thì làm sao họ có được tinh thần sáng suốt như những nhà thông thái nên để đạt được sự ngưỡng mộ từ người khác dựa vào trí tuệ là điều không tưởng.
Ví dụ: Có hai gia đình A và B nhưng chỉ có gia đình A có xe hơi. Người ta sẽ ngưỡng mộ gia đình A vì cho rằng gia đình A giỏi vì nếu không giỏi thì làm sao kiếm ra tiền mà mua xe hơi.
Lý luận này nghe có vẻ hoàn toàn logic như ai đó đã phát biểu “Tiền là thước đo của sự thành công”. Thế nhưng tôi xin được sửa lại đôi chút “Tiền là thước đo hữu hình của sự thành công trong một thời gian giới hạn” bởi tiền có thể sờ mó được nên nó hữu hình và nếu tiền đó không chân chính thì nó sẽ sớm ra đi và thậm chí quay ngược trở lại làm nhân chứng cho sự thất bại. Hoặc giả đó là tiền chân chính thì tiền ấy cũng chỉ “theo” anh ta đến hết đời là cùng và khi những người biết về anh ta cũng chết đi thì sẽ chẳng ai còn nhớ đến một người đã từng có chiếc xe hơi ở nơi ấy vì dần dà ai mà chả có xe hơi. Người ta chỉ ngưỡng mộ anh ta trong một giai đoạn của sự giàu có mà thôi.
Lý luận khác lại được đưa ra: “Trí tuệ là thước đo vô hình của sự thành công vô hạn” và Hồ Chí Minh chính là nhân chứng của sự thành công trí tuệ. Một trí tuệ mà không ai có thể sờ mó hay nhìn thấy được nhưng nó lại đem lợi ích cho rất nhiều người và tồn tại vĩnh cữu.
Vậy, thành công hay thất bại do tư tưởng con người quyết định.
Quay lại ví dụ trên ta sẽ thấy người bình thường sẽ ngay lập tức ngưỡng mộ gia đình A trong khi người thông thái chỉ nhìn vào gia đình A thôi mà không xếp họ vào loại người thành đạt vì họ đâu có biết tiền ấy từ đâu mà có. Thế nhưng người bình thường trên thế gian này thì nhiều hơn người thông thái rất nhiều hay nói đúng hơn là rất hiếm có người thông thái. Nên gia đình A chỉ cần người bình thường ngưỡng mộ họ là họ mãn nguyện rồi. Họ sẽ chẳng quan tâm người thông thái nghĩ gì trong giới hạn phạm vi tư tưởng của họ “đa số thắng thiểu số” (a). Ngược lại, người thông thái đạt được sự ngưỡng mộ hay thành công thì cả những người thông thái khác và những người bình thường sẽ thừa nhận sự thành công ấy ngay tức thì không chút đắn đo. Thế mới thấy tinh thần luôn cao hơn vật chất một bậc.
Lại nói về những nhà Cách mạng xưa bị những người bình thường chê bai nghèo nàn, lạc hậu, ... và bị xếp vào dạng thất bại. Số người Cách mạng này sẽ nảy sinh hai luồng tư tưởng:
1. Tiếp tục kiên định với mục tiêu đạt đến sự thành công bằng trí tuệ hay nói theo ngôn ngữ Cách mạng là “vì nhân dân phục vụ”. Còn nghèo ư? Như thế nào là nghèo? Họ có cơm ăn, có áo mặc, có nhà ở, có thu nhập hàng tháng từ công việc mà xã hội thừa nhận và quan trọng là họ cảm thấy hạnh phúc. Đi xe hơi máy lạnh đôi khi bị cảm bệnh mà bệnh thì đâu còn gọi là sung sướng. Ở nhà lầu leo cầu thang mỏi chân, đau nhức đâu còn gọi là sung sướng. Ăn nhiều thức ăn dư thừa sẽ sinh béo phì, cao huyết áp, bệnh hoạn sẽ mệt mỏi sao gọi là sung sướng. Bù khú với bạn bè thức đêm thức hôm hay há miệng cười trên sự đau khổ của người khác thật đáng khinh sao gọi là cuộc sống ý nghĩa. Bài bạc tốn hao tiền của do cực khổ kiếm được vậy thì kiếm tiền để làm chi, ... “Vì nhân dân phục vụ” sẽ làm được điều mà người khác không làm được tức họ mới là người chiến thắng. Để có thể phục vụ tốt, họ sẽ điều chỉnh mức lương cao hơn phục vụ cuộc sống đủ và có sức khỏe của họ. Họ xây dựng chế độ nhà ở cho các quan chức chính phủ tốt hơn, tiện nghi hơn nhằm tạo điều kiện làm việc tốt hơn. Thật không công bằng nếu như họ dành chính sách đãi ngộ cho nhân tài nhưng bản thân họ là những bậc đức độ (cao hơn nhân tài một bậc) thì lại không được đãi ngộ. Thế nên, họ phải có điều kiện sống tốt hơn người bình thường vì nhân dân được hạnh phúc là có phần đóng góp của họ. Họ biết điều đó và những kẻ chê bai họ mới tội nghiệp làm sao! Trong khi họ nở nụ cười mãn nguyện tươi như hoa thì những kẻ tầm thường lại méo môi trề ra chê bai mới xấu xí làm sao!
2. Thay đổi tư tưởng sống: Những người này sẽ đặt ra mục tiêu sống là phải có tiền, phải giàu có để khỏi bị chê bai. Điều này đồng nghĩa với việc họ tự hạ thấp bản thân mình cho bằng với những người bình thường vì anh đang là nhà Cách mạng sống và làm việc trong hàng ngũ lãnh đạo một quốc gia với tư cách là một trong những nhà thông thái mà. Một khi anh quyết định con đường thành công bằng vật chất là anh đã chọn đi con đường của của số đông, của những người bình thường trong khi nhà thông thái thì có đông bao giờ đâu. Trong số khoảng 86 triệu dân Việt Nam thì có được bao nhiêu người là thành viên của quốc hội? Thế cho nên số người thông thái đóng vai trò là thành viên của đại biểu quốc hội so với số dân Việt Nam là một con số vô cùng ít ỏi. Những người tự hạ thấp bản thân này để có thể giàu có họ bắt đầu thực hiện những hành vi mang tên “tham ô, tham nhũng”. Tư tưởng họ bắt đầu bị lệch lạc. Họ cho rằng lý tưởng mà bấy lâu nay họ đang theo đuổi là không tưởng, là hão huyền, là đang bất công với chính họ. Họ không được bằng bạn bằng bè đồng trang lứa đang hòa mình vào vòng xoáy tiền, vàng, đô la, đất đai và tự họ ngược lại lại đi ngưỡng mộ những người có của cải vật chất nhiều hơn họ. Thế là, họ “nổi loạn”. Họ tự đứng lên giành lấy sự công bằng theo quan điểm của họ. Suốt quãng đời còn lại của mình, họ cố gắng vơ vét của cải của nhà nước dựa trên chính cái quyền mà nhà nước tin tưởng giao cho họ mà không cân nhắc rằng đó là hành vi sai trái, là sự bất công cho người khác. Cái công bằng theo quan niệm của họ có được từ sự tước đoạt của người khác, từ sự tạo ra sự không công bằng của xã hội. Mọi người trong xã hội cùng góp sức tạo ra từng ấy của cải mà họ lại giành lấy làm của riêng mình hoặc giả sử dụng cái quyền mà họ nắm trong tay để thao túng người khác làm điều bất công hòng nhận được khoản “chia chác” để nâng cao đời sống vật chất cho bản thân, để hãnh diện với đời. Họ cho rằng đó mới chính là sự công bằng mà nhà nước phải trả cho họ trong suốt quãng thời gian họ đã cống hiến khi đi làm Cách mạng. Trong khi, sự thật mãi là sự thật và không ai có thể chối bỏ nó: Công bằng chỉ có thể có được khi và chỉ khi bất công bị đạp đổ chứ không bao giờ công bằng có được từ sự tước đoạt một công bằng khác. Một công bằng bị sụp đổ sẽ là tiền đề cho một bất công mới xuất hiện. Đã gọi là bất công thì không bao giờ tồn tại được lâu mà ngay lập tức nó sẽ bị công bằng đập tan. Chân lý ấy đã được chứng minh khi những chứng cứ tham ô, tham nhũng bị phơi bày trước pháp luật. Bao nhiêu năm gìn giữ tư cách đạo đức Cách mạng giờ đây đã hoàn toàn sụp đổ chỉ vì sự sai lệch tư tưởng. Công luận lên tiếng. Nhân dân nhìn vào và phán: “Cách mạng đấy! Cán bộ Cách mạng mà giàu có như thế thì chỉ có nước tham ô, tham nhũng thôi chứ làm sao mà trong sạch chứ”. Vô hình chung tất cả những cán bộ giàu có nhờ tiết kiệm, chắt bóp và tự sản xuất cũng bị vạ lây.
Chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng Sản vừa thành công vang dội, nhân dân nô nức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội từ sự đánh đổ 1000 năm phong kiến, 100 năm xiềng gông của thực dân, đế quốc bỗng trở nên bỡ ngỡ, bất ngờ trước sự tha hóa, xuống dốc, suy đồi đạo đức quá nhanh của đội ngũ lãnh đạo khiến họ ít nhiều bị mất đi sự tín nhiệm từ quần chúng. Họ mất sự tín nhiệm từ quần chúng cũng đúng bởi chính những nhà thông thái mà quần chúng từng tôn sùng mà còn mất niềm tin, còn bị mất “phép màu thông thái” thì hỏi sao những dân thường vì có “bộ não bình thường” nên mới phải làm dân kia không bị mất niềm tin cơ chứ. Ngay cả báo chí, phương tiện truyền thông của nhà nước (báo đầu tư số ra đầu năm 2011) cũng đã có mục viết “tiền thuế” là tiền phạt hợp pháp. Thế đấy, đã làm người ai lại muốn mình bị phạt bao giờ. Thay vì đóng thuế để nuôi “mấy thằng cha tham ô, tham nhũng” hay bị mang tiếng nộp phạt thì các nhà sản xuất cố gắng trốn thuế càng nhiều càng tốt và để dành tiền ấy làm từ thiện thì ít ra họ cũng được tiếng thơm. Quý vị thấy đấy, lại một lần nữa tư tưởng quyết định hành vi đối với nhà nước.
- Giá thành còn bị tác động bởi tỷ giá hối đoái.
Là tiền tệ, là giá cả đồng tiền giữa nước này với nước khác thì có liên quan gì đến giá cả? Có chứ:
1. Như đã trình bày ở phần trên, những nhà sản xuất trong nước xác định giá trên cơ sở so sánh cùng mặt hàng, chủng loại với giá thế giới mà giá thế giới lại được ấn định bởi ngoại tệ thì việc ngoại tệ tăng hay giảm dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng đến giá thành.
2. Nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hóa của Việt Nam cũng có nguồn gốc của nước ngoài hay nói đúng hơn là hàng nhập khẩu. Muốn kinh doanh xuất nhập khẩu thì phải có ngoại tệ cũng như đồng tiền ấn định giá nguyên vật liệu là ngoại tệ. Do vậy, ngoại tệ tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành.
3. Máy móc, thiết bị để sản xuất ra hàng hóa hầu hết cũng là do nhập khẩu mà có bởi công nghiệp nặng Việt Nam chưa phát triển. Việc mua máy móc thiết bị ngốn của Việt Nam một lượng ngoại tệ không nhỏ và máy móc thiết bị là phần cơ bản trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá thành như đã trình bày ngay từ đầu.
4. Hàng hóa sản xuất ra để tiêu thụ chủ yếu tại thị trường nội địa và xuất khẩu. Do đó, nếu thực hiện phép cân đối cơ bản nhất giữa cung ngoại tệ có được từ xuất khẩu và cầu ngoại tệ do nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết bị thì quả là Việt Nam đang thiếu ngoại tệ trầm trọng chưa kể việc Việt Nam còn phải nhập cả các loại hàng hóa khác phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân và phục vụ các lĩnh vực khác ngoài sản xuất trong nước, phục vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và thượng tầng cấu trúc. Trong khi nguyên lý cơ bản của quy luật cung cầu là gì? Nếu nhu cầu càng tăng thì giá bán càng tăng tức giá ngoại tệ sẽ còn tăng cho đến khi nào dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đạt mức bằng hay vượt cầu ngoại tệ.
5. Tư tưởng bi quan về sự mất giá của đồng tiền Việt Nam: Khi lạm phát gia tăng, dưới tác động của tỷ giá hối đoái, người dân bị đẩy đến khuynh hướng bị tác động và có niềm tin rằng tỷ giá sẽ ngày càng gia tăng, đồng Việt Nam sẽ ngày càng mất giá. Để “lo xa”, họ sẽ tập trung vốn vào tích trữ, đầu tư ngoại tệ. Những kẻ đầu cơ cũng nhân cơ hội tích trữ ngoại tệ nhằm mục đích kinh doanh trục lợi. Điều này làm cho ngoại tệ ở Việt Nam đã thiếu càng trở nên khan hiếm và vô tình nhân dân đã đóng vai trò tác động làm gia tăng lạm phát và Việt Nam trở thành nơi giữ tiền của nước ngoài. Tuy nhiên, nghĩ đi thì cũng nên nghĩ lại. Nhân dân có tư tưởng như thế cũng đúng thôi bởi lẽ thực tế cho thấy cho đến tận ngày nay chưa bao giờ chính phủ Việt Nam kiểm soát được tỷ giá thì làm sao chính phủ Việt Nam có thể đòi hỏi nhân dân đặt trọn niềm tin vào khả năng điều tiết của chính phủ. Có chăng, đó chỉ là sự kìm hãm làm chậm lại tiến trình tăng tỷ giá mà thôi. Và việc kiểm soát tỷ giá quả thật là vấn đề nan giải.
Như vậy, để chống lạm phát, ta phải giải quyết được 3 vấn đề cốt lõi về giá thành trên. Ta hãy cùng nhau tháo gỡ từng vấn đề:
- Vấn đề thứ 1:
Tỷ giá hay làm sao cho đồng tiền Việt Nam có giá. Đây là vấn đề mấu chốt có tính chất quyết định.
Học tập kinh nghiệm từ Trung Quốc. Sở dĩ Trung Quốc dám áp dụng tỷ giá mà giới chuyên môn thế giới phân tích gọi là sự áp đặt tỷ giá thấp hơn giá trị thực vì Trung Quốc có dự trữ USD (ngoại tệ mạnh đứng hàng nhất nhì trên thế giới) bên cạnh sự phát triển quân sự, công nghệ và khoa học kỹ thuật đáng nể nên một cường quốc như Mỹ mà cũng khó lòng gây sức ép buộc Trung Quốc thay đổi chiến lược của mình. Thật ra, Trung Quốc đã làm đúng. Làm sao có thể bắt một người mua một món hàng với giá cao trong khi người đó đã có sẵn món hàng đó ở nhà chẳng những đủ mà còn dư để sử dụng trong tương lai. Thế nên việc Trung Quốc mua USD với giá thấp là đương nhiên. Và vì lẽ đó, cần xem lại việc giới chuyên môn cho rằng tỷ giá phải được ấn định bởi một công thức nhất định tuân theo quy luật kinh tế và chỉ có tỷ giá đó mới được cho là giá trị thực của tỷ giá và quy cho Trung Quốc “tội danh” ấn định tỷ giá USD thấp hơn giá trị thực là một ý kiến đúng đắn? Tôi thì không nghĩ vậy bởi lẽ quy luật tự nhiên là có sẵn do con người phát hiện ra trong khi quy luật xã hội là không có sẵn và do con người sáng tạo ra. Ví dụ như quy luật hàng đổi hàng trước đây. Từ thuở sơ khai, khi một người tạo ra sản phẩm dư thừa không sử dụng hết trong khi một người khác lại tạo ra một sản phẩm dư thừa khác cũng không dùng hết. Hai người này gặp nhau và đã đồng thời cùng phát sinh tư tưởng mong muốn sử dụng sản phẩm của người kia. Tư tưởng họ đã quyết định hành động của họ và thế là quy luật H – H (hàng đổi hàng) ra đời. Nếu như cứ đem hàng đi đổi hàng như thế, người muốn đổi hàng bắt buộc phải vận chuyển hàng của mình đi mới đổi được. Việc vận chuyển này sẽ trở nên vô cùng khó khăn và bất tiện với một số lượng hàng hóa lớn. Để giải quyết vấn đề này, một thứ kim loại quý, hiếm được mọi người công nhận giá trị đã được sử dụng làm vật thay thế cho hàng hóa làm chuẩn mực chung cho mọi hành vi trao đổi. Bất kỳ ai có nó trong tay đều có thể trao đổi được bất cứ sản phẩm nào họ muốn, họ ưa thích. Kim loại đó được gọi là tiền (tiền vàng, tiền đồng, tiền kẽm ...) và cuối cùng để tiện dụng hơn nữa thì tiền giấy xuất hiện. Thế là quy luật H – T – H (hàng – tiền – hàng) ra đời thay thế cho quy luật H – H. Vậy chẳng phải là quy luật không tự nhiên được đúc kết từ quá trình thực tiễn và do tư tưởng con người tạo ra là gì? Thế thì, tại sao chúng ta cứ mãi chạy theo quy luật cũ mà không tạo ra quy luật mới phù hợp hơn với điều kiện thực tế hiện nay? Điều đó chứng minh không có tỷ giá nào là tỷ giá thực và cũng không có tỷ giá nào là không thực cả. Có chăng chỉ là tỷ giá được xác định theo lý thuyết có sẵn hay tỷ giá được ấn định xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của từng quốc gia mà thôi. Đối với Trung Quốc, họ đã tự tạo ra quy luật tỷ giá mới dựa trên mối quan hệ cung cầu ngoại tệ. Muốn nhập khẩu hàng hóa, họ phải có ngoại tệ tức cầu ngoại tệ xuất hiện trong khi họ lại có thừa USD trong kho dự trữ nên nhu cầu ngoại tệ đó lập tức được giải quyết mà không phải làm động tác mua ngoại tệ. Điều này đồng nghĩa với cầu ngoại tệ giảm kéo theo giá mua ngoại tệ giảm theo. Trong khi đó, Việt Nam ta lại không có lợi thế này bởi Việt Nam đang trong tình trạng thiếu USD tức cầu ngoại tệ tăng nên giá mua USD tăng mang tính tất yếu và ta chỉ có thể làm được điều mà Trung Quốc đang làm khi dự trữ ngoại tệ của ta tăng. Nỗ lực của chúng ta có thể cứu vãn tình trạng này trong sự đồng thuận của các điều kiện của quy chế WTO thỏa mãn tiêu chí an ninh quốc gia vì nếu lạm phát kéo dài sẽ dẫn thất nghiệp, đói nghèo và đỉnh điểm trong giai đoạn hiện nay là “hội chứng hoa lài” gây mất ổn định xã hội. Dựa trên tiêu chí: Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền riêng, có đồng tiền riêng thì không có lý do nào lại phải sử dụng bất cứ một loại tiền nào khác trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Vì thế, chúng ta cần làm các công việc sau:
1. Tất cả mọi người, các công ty, xí nghiệp và ngân hàng, ... trong và ngoài quốc doanh phải bán lại ngoại tệ cho ngân hàng trung ương trong vòng 48 giờ đồng hồ và sẽ được mua lại khi có nhu cầu phát sinh. Người dân có thể bán lại ngoại tệ cho ngân hàng địa phương và ngân hàng địa phương sẽ bán lại cho ngân hàng trung ương trong vòng 48 tiếng đồng hồ.
2. Cấm mọi hoạt động kinh doanh, mua bán ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam ngoài phạm vi ngân hàng. Điều này sẽ đưa tình trạng 2 tỷ giá như hiện nay về 1 tỷ giá do nhà nước ấn định.
Một khi chúng ta đã có được một lượng USD nhất định dự trữ thì tỷ giá có thể nói tương đối ổn định trước mắt chứ chưa thể gọi là lâu dài vì những động tác trên chỉ mang tính tạm thời hay chỉ gọi là giải quyết phần nổi của vấn đề. Tuy nhiên, điều này sẽ có tác dụng kìm hãm hay làm giảm tỷ giá trong một thời gian và mang ý nghĩa củng cố lòng tin trong nhân dân mặc dù ban đầu dĩ nhiên họ sẽ có phản ứng vì nghĩ rằng quyền lợi của họ bị ảnh hưởng. Để xoa dịu tình hình, ta có thể dùng công cụ báo chí và công tác tuyên truyền với phương châm: “Toàn dân chung tay chống lạm phát vì một Việt Nam ổn định lâu dài” trong đó vạch rõ: Trước đây, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã tròng sợi dây thòng lọng đô hộ Việt Nam bằng cách bắt dân ta sử dụng đồng tiền của chúng. Nay, chúng ta đã giành được độc lập rồi, đã có đồng tiền riêng khẳng định chủ quyền của Việt Nam rồi thì không lý nào ta lại tự mình tròng vào cổ mình sợi dây lệ thuộc và tự xiết cổ mình dâng cho nước ngoài? Nếu vậy thì, Việt Nam ta phát hành đồng tiền của riêng ta để làm gì mà chúng ta lại đang muốn chối bỏ nó? Có như thế nhân dân mới hiểu ra là họ đang cùng một con thuyền với nhà nước Việt Nam và họ sẽ tự nguyện đồng lòng với nhà nước mà dẹp bỏ lợi ích cá nhân.
- Vấn đề thứ 2:
Giải quyết xong phần nổi, chúng ta tiến hành giải
quyết phần chìm của cuộc chiến chống lạm phát:
1. Tái cấu trúc toàn bộ hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm cân bằng cung cầu trong mối quan hệ tương quan với sự phát triển dân số và khách du lịch (thỏa điều kiện của WTO về an ninh quốc gia).
o Nhập khẩu: Xóa bỏ tình trạng nhập khẩu vô tội vạ bằng cách cấm nhập các mặt hàng có cùng chủng loại với những mặt hàng mà Việt Nam có thể sản xuất được (người dân không có mì sẽ ăn bún nên không cần quan tâm đến nhu cầu có thể thay thế được của người dân) trên tinh thần giác ngộ ý thức dân tộc, ý thức cộng đồng chống lạm phát. Hướng dẫn, gợi ý cho các doanh nghiệp thương mại này chuyển đổi ngành nghề kinh doanh có lợi cho quốc gia: Phát triển trang trại, sản xuất các mặt hàng nguyên vật liệu cung cấp cho các đơn vị sản xuất trong nước. Sử dụng phương tiện thông tin báo chí, truyền hình,... khuyến cáo, so sánh về chất lượng, công dụng, tính hiệu quả, ... của những mặt hàng cùng loại với các sản phẩm ngoại nhập bên cạnh việc giác ngộ ý thức dân tộc để tạo thói quen sử dụng hàng Việt Nam. Nhân sự kiện Trung Quốc can thiệp chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa làm dấy lên phong trào tự phát của quần chúng với khẩu hiệu: “Tất cả vì Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu, vì công bằng nhân loại! Tẩy chay hàng Trung Quốc”. Dĩ nhiên, là quần chúng mà, họ sẽ tẩy chay những mặt hàng nào mà nhà nước “yêu cầu”. Về phần nhà nước thì vẫn giữ quan hệ ngoại giao với Trung Quốc bình thường. Việc tẩy chay ấy là do dân chúng bức xúc mà làm chứ không liên quan gì đến nhà nước trong việc nhập khẩu các mặt hàng của Trung Quốc nằm trong đường lối phát triển của Việt Nam.
o Xuất khẩu: Ưu tiên khuyến khích sản xuất trong nước theo hướng tự lập (nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, ...). Để làm được điều này, chúng ta phải đẩy mạnh đầu tư vào chất xám cho công tác chế tạo, phát minh, ứng dụng, ... Phương pháp phát hiện nhân tài nhanh nhất là đưa ra các đề tài cho sinh viên, học sinh, các nhà khoa học nghiên cứu. Kết quả mỗi đề tài sẽ cho ta đáp án của nhân tài. Ví dụ như ngành năng lượng đang nghiên cứu sản xuất các máy hấp thu năng lượng mặt trời chuyển hóa thành điện sử dụng và họ đã thành công trong việc chế tạo ra chiếc máy này. Vấn đề mà họ đang gặp phải là chi phí cho việc sản xuất máy này quá cao làm hạn chế tính khả thi trong việc đưa điện mặt trời vào đời sống. Vật liệu đắt tiền mà họ nói đến là vật liệu dùng để sản xuất pin quang điện. Để hỗ trợ cho ngành năng lượng, nhà nước ta nên khởi động đưa ra đề án: (vì tôi không có chuyên môn nên tôi không biết vật liệu dùng để sản xuất pin quang điện là gì nên tạm thời tôi xin gọi tên nó là A) “Làm thế nào để tạo ra một chất hay hợp chất có tính năng (hay tính chất hay gì gì đó mà từ chuyên môn ngành điện năng sử dụng) tương tự chất liệu A mà giá thành lại rẻ hơn rất nhiều?”. Ngoài giải thưởng theo quy định, thí sinh đoạt giải sẽ nhận thêm tiền bản quyền nếu như đề tài được đưa vào ứng dụng. Như thế, ta vừa bảo đảm giữ được bí mật quốc gia vừa tiết kiệm thời gian nghiên cứu vừa phát hiện ra nhân tài phục vụ đất nước (lưu ý các cuộc thi robocom của chúng ta, giá thành các con robot của ta luôn thấp hơn rất nhiều so với nhưng con robot của các đối thủ quốc tế mà chúng ta vẫn thắng họ đấy thôi). Khuyến khích sản xuất trong nước trong khuôn khổ hợp lý về mặt giá thành bởi lẽ nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiêu thụ hàng hóa không có nghĩa là tạo điều kiện cho doanh nghiệp tha hồ lợi dụng sự ủng hộ của nhà nước và nhân dân để trục lợi: Cùng một mặt hàng, chất lượng ngang nhau mà hàng trong nước bán giá cao hơn hàng nước ngoài là điều bất hợp lý trong khi hàng trong nước có lợi thế cạnh tranh về nguồn lao động, cự ly phân phối hàng hóa hay còn gọi là chi phí vận chuyển, ... Dĩ nhiên ta cũng phải xét trên cả phương diện thủ đoạn kinh doanh “cá lớn nuốt cá bé” của đối thủ nữa mới có thể xác định hành vi của doanh nghiệp.
o Quản lý và cân đối hàng hóa thông qua kênh phân phối siêu thị và bán lẻ của nhà cung cấp kết hợp xóa bỏ dần hàng trôi nổi. Đây cũng là vấn đề nan giải nhưng ta cũng có thể thực hiện được nếu sử dụng hiệu quả lực lượng dân phòng tại từng địa phương.
o Nâng cao tư tưởng yêu nước trong nhân dân thông qua các hoạt động câu lạc bộ văn hóa, thơ ca cơ sở vì đây là thang thuốc bổ tu dưỡng tinh thần rất tốt. Để thu hút các thế hệ trẻ tham gia, các chủ nhiệm câu lạc bộ nên sinh hoạt theo hướng phân tích, lý luận về mặt nội dung cũng như niêm luật, cách dùng từ đắc địa phù hợp đạo lý của từng bài thơ hay kết hợp phê bình những sở đoản của những bài thơ dở. Có như thế, thế hệ trẻ mới thấy cái hay của văn học để học hỏi, tu rèn ý chí, nâng cao lý tưởng sống có ích, có ý nghĩa, và hợp tác tốt hơn với nhà nước trong công cuộc chống lạm phát. Công tác tuyên truyền này nhẹ nhàng nhưng rất hiệu quả bởi tính chất “mưa dầm thấm lâu”. Một khi lý tưởng được tôi rèn, nhân tài sẽ nở rộ. Đó là lý do tại sao Hồ Chí Minh đã không manh động đánh giặc trước như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh mà rất bình tĩnh đào tạo đội ngũ thấm nhuần tư tưởng Cách mạng trước rồi mới đánh thắng giặc.
o Sửa đổi những khẩu hiệu dài dòng trên đường phố bằng những câu ngắn gọn, xúc tích. Ví dụ như thời đánh Pháp, chúng ta có khẩu hiệu: “Nhật, Pháp đánh nhau và hành động của chúng ta” rất đơn giản nhưng ai cũng hiểu và sôi nổi thực hiện. Nếu có thể được thì thay bằng những câu đối hay câu thơ dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ vừa tạo sự ngưỡng mộ của quần chúng đối với trí tuệ của tầng lớp lãnh đạo vừa thể hiện nét đẹp văn hiến lâu đời của người Việt Nam. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh thì nên dịch sang tiếng Anh để chính những người khách nước ngoài sẽ là người tuyên truyền hữu hiệu nhất về hình ảnh Việt Nam: Điểm đến để du lịch, học hỏi cách sống sao cho có ý nghĩa.
o Xác định mục tiêu của nhà nước: Hạnh phúc nhân dân hay tăng trưởng kinh tế? Liệu tăng trưởng kinh tế có thể cứu nguy cho viễn cảnh của một xã hội đầy rẫy những người thất nghiệp và giá cả tăng vọt như các nước trung đông và Ấn Độ hiện nay? Liệu hội nhập có còn là xu hướng thích hợp? Bạn thấy con thuyền đang chìm, bạn tự tìm cho mình một cái phao hay cứ đứng đó để chết chìm chung với con thuyền? Biện pháp tốt nhất là chuẩn bị cho mình một cái phao thật tốt chứa đựng một nền kinh tế cơ bản độc lập và kinh doanh trên vốn tự có vẫn tốt hơn là phải vay và như thế dù cho tài chính thế giới có ra sao cũng không ảnh hưởng nhiều đến chúng ta.
o Thực trạng ở nhiều vùng nông thôn trong tiến trình đô thị hóa, khi nhận được tiền bồi thường đất của nhà nước, cư dân ở đấy đa phần mua sắm xe cộ, trang trí nội thất, sửa chữa hoặc xây mới nhà cửa. Nhìn từ bên ngoài ta sẽ thấy họ đang giàu lên. Tuy nhiên, đó chỉ là sự giàu có “bong bóng”. Một quả bóng sẽ tự xẹp dần theo thời gian mà không cần đập hay xì hơi bởi người dân chỉ biết mua con cá để ăn chứ không biết mua cần câu để câu cá. Thế nên, trước khi đô thị hóa nông thôn, bước chuẩn bị đầu tiên cũng lại là giáo dục tư tưởng cho họ, dạy họ cách sử dụng đồng tiền sao cho có hiệu quả: Học nghề, gởi tiết kiệm, tạo lập cơ sở kinh doanh riêng, ... Có như thế thì các tầng lớp dân cư mới không bị xáo trộn về mặt cơ bản. Đô thị hóa nông thôn sẽ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp và như thế có ảnh hưởng đến an ninh lương thực không phải chỉ cho Việt Nam mà cho cả thế giới trong bối cảnh của sự gia tăng dân số hay không?
2. Giảm giá thành sản phẩm: Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn đòi hỏi sự tốn kém về thời gian và trí tuệ.
o Trí tuệ: Nâng cấp ý thức giác ngộ tư tưởng cộng đồng sao cho các doanh nghiệp hiểu rằng việc giảm giá thành sẽ tạo điều kiện ổn định xã hội, cuộc sống tinh thần sẽ được nâng cao. Thay vì tốn thời gian và tiền bạc cũng như nhân sự cho việc tổ chức các sự kiện, các chuyến đi từ thiện giúp đỡ người nghèo thì ta sẽ không sàng lọc được đối tượng nghèo do hoàn cảnh hay nghèo do sự ỷ lại, lười lao động, ... và vô hình chung lại tạo ra tư tưởng nghèo sẽ được cứu trợ, không phải lo. Điều này sẽ kìm hãm xã hội nói chung và con người nói riêng.
o Thời gian: Chúng ta không thể thực hiện quy trình giảm giá đồng loạt ngay tức thời mà phải có lộ trình theo phương pháp “hiệu ứng domino”. Tức là giảm giá thành của sản phẩm được sản xuất tại một công ty trước và việc giảm giá này sẽ có tác động dây chuyền đến các sản phẩm khác ở những công ty khác. Vấn đề là lựa chọn bắt đầu giảm giá thành ở công ty nào trước. Dựa trên thực tế là mọi công ty, xí nghiệp muốn vận hành máy móc để sản xuất ra hàng hóa thì phải có điện tức điện là điều kiện tất yếu trong cơ cấu tính giá thành. Thế nhưng, nguồn điện tại Việt Nam lại đang trong giai đoạn thiếu hụt và phải mua lại của Trung Quốc. Nếu như chúng ta tự sản xuất thì nhà nước có thể bù lỗ nhưng nếu cứ bù lỗ thì đấy lại không phải là giải pháp. Dưới sức ép của việc gia tăng dân số cũng như mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu về điện cũng ngày một gia tăng. Chúng ta có thuận lợi là một quốc gia có nhiều sông nên có thể tăng cường các nhà máy thủy điện. Chúng ta cũng có thể xây các bể chứa nước và bơm nước lũ vào bể để dự trữ. Vị trí địa lý của Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới nắng lắm, mưa nhiều nên có thể sản xuất điện mặt trời cũng như điện gió. Trong thời gian chờ đợi nguồn cung điện tự có, chúng ta đành phải chọn giải pháp thắt lưng buộc bụng. Thay vì nhà nước phải bù lỗ thì ta có thể tiết kiệm điện bằng việc cắt giảm điện ở những khu dân cư trong những giờ nhàn rỗi như từ 5:00 sáng đến 10:00 trưa và từ 14:00 đến 17:00 để ưu tiên cho sản xuất. Trong những điều kiện như thế, việc giảm giá bắt đầu từ nguồn điện là không khả thi buộc chúng ta phải lựa chọn đối tượng là các công ty. Các công ty bị nhà nước yêu cầu giảm giá thành sẽ ngay lập tức phản ứng lại vì điều đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ với lý do nổi bật hợp lý nhất mà họ dùng để phản biện lại nhà nước là: Giảm giá sẽ lỗ vốn. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào những số liệu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty họ thì độ tin cậy rất cần phải cân nhắc và nghi vấn:
a. Nếu các công ty làm ăn không có lời thì tiền ở đâu ra để họ có thể khuếch trương công ty, xây dựng mới nhà, xưởng và các tòa nhà văn phòng của các công ty thay phiên nhau nối tiếp mọc lên? Chẳng phải những bước đi đó đã tự tố cáo hành vi báo cáo “lách luật” để giảm tiền thuế phải nộp hoặc họ phải chứng minh tiền ấy không phải được sinh ra từ hoạt động “rửa tiền” trong khi nhà nước chỉ yêu cầu họ giảm giá thành theo lộ trình vẫn nằm trong mức lợi cho phép để đảm bảo đời sống người dân.
b. Công tác kiểm toán trên thị trường chứng khoán cho thấy có rất nhiều doanh nghiệp công bố lợi nhuận trước và sau kiểm toán khác nhau xa. Điển hình như năm 2010, Tasco (Mã chứng khoán – MCK: HUT) chênh lệch tăng 64%, Vinpearland (VPL) chênh lệch tăng 55%, Vincom (VIC) chênh lệch tăng 30% - nguồn từ tạp chí Nhịp cầu đầu tư số 177 tháng 4/2010. Điều đó chứng minh rằng các doanh nghiệp hoàn toàn có thể “phù phép” được lợi nhuận và cũng chứng minh rằng lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp là một con số không nhỏ bởi lẽ nếu đi ngược dòng thời gian về thời điểm ban đầu để làm một phép so sánh về tài sản hữu hình của doanh nghiệp đang tăng lên hàng năm với tỷ lệ xấp xỉ với tỷ lệ tăng trưởng của các công ty tư bản. Các nhà thống kê có số liệu đầy đủ trong tay hãy làm thử phép tính tỷ suất lợi nhuận của các công ty tư bản dưới thời Pháp, Mỹ sẽ thấy rõ điều này và nếu như thế thì liệu người lao động ngày nay có được xem như là đang bị bóc lột một cách vô hình không? Họ có đáng được hưởng nhiều hơn so với đồng lương mà họ đang nhận không? Hoặc giả nhà nước ta đang bị móc túi công khai dưới hình thức sổ sách?
c. Do đó, việc nhà nước yêu cầu doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm là điều có thể thực hiện được. Khi có mức giá mới. Căn cứ trên loại hình sản phẩm ta có sản phẩm tiêu dùng và sản phầm dùng làm nguyên liệu cho những sản phẩm khác. Nếu là sản phẩm dùng làm nguyên liệu cho sản phẩm khác thì ta lại tiếp tục yêu cầu công ty sản xuất ra sản phẩm đó giảm giá thành sản phẩm trên cơ sở đầu vào giảm thì đầu ra cũng giảm. Cứ như thế, dưới tác động của “hiệu ứng domino” giảm phát sẽ được thực hiện. Một khi điều này xảy ra, chắc chắn sẽ nảy sinh vấn đề: Giá thành cho sản phẩm xuất khẩu bởi lẽ ta không thể xuất khẩu hàng với mức giá thấp trong khi sản phẩm xuất khẩu có thể bán với giá cao hơn và mức giá đó đã được thị trường thế giới chấp nhận đồng thời luật chống bán phá giá cũng là yếu tố quyết định việc giữ nguyên giá xuất khẩu cho phù hợp với thị trường thế giới. Tình huống này buộc chúng ta phải chấp nhận chính sách hai giá: Giá xuất khẩu và giá nội địa. Hệ quả của việc hình thành 2 giá này sẽ nảy sinh hiện tượng tư thương gom hàng nội địa bán sang nước ngoài. Vì nhà sản xuất tuy giảm giá nhưng giá ấy vẫn nằm trong biên độ lợi nhuận cho phép nên dù tư thương có làm động tác gom hàng đi chăng nữa thì nhà sản xuất cũng có lợi vì chẳng những họ bán được hàng mà còn có cơ hội mở rộng thị trường nước ngoài mà không phải quản lý nhân viên. Một vấn đề khác cũng sẽ có khuynh hướng nảy sinh đó là: Người nước ngoài muốn nhập cư sinh sống tại Việt Nam do điều kiện giá cả sinh hoạt cũng như an ninh cuộc sống tốt hơn. Điều này cũng sẽ có lợi cho chúng ta vì họ trước tiên muốn sống tại Việt Nam phải đem theo một lượng tiền lớn để đầu tư kinh doanh. Do đó, để tận dụng lợi thế này, chúng ta cũng phải dự trù các điều kiện khác, đặc biệt là nhà ở. Nếu cứ đô thị hóa nông thôn không khéo an ninh lương thực của chúng ta sẽ bị đe dọa trong khi đất nông nghiệp chuyển thành đất xây dựng thì dễ nhưng đất xây dựng mà muốn chuyển thành đất nông nghiệp là cả một vấn đề. Nên chăng chúng ta xây dựng mô hình nhà nổi trên 2 bên bờ sông hay ở những con sông có ít sự lưu thông? Các nhà chuyên môn có thể xem xét lại vấn đề này trên cơ sở cân nhắc lợi hại xem liệu có khả thi? Song song với tiến trình này là sự xuất hiện những tiêu cực về những loại hình tội phạm mới nảy sinh.
* Xung quanh vấn đề lạm phát, dư luận có những ý kiến khác nhau:
1. Các ngân hàng giảm lãi suất huy động đồng thời hạ lãi suất cho vay. Động tác này sẽ được các doanh nghiệp hoan nghênh. Họ sẽ tự động giảm giá thành (đầu vào lãi suất đi vay để kinh doanh giảm buộc họ phải giảm giá thành theo logic) và tiêu dùng xem như được kích thích. Thế nhưng với đà tăng của tỷ giá thì liệu họ cầm cự mức giá giảm này được bao lâu? Việc giá thành sẽ tăng trở lại lại mang tính tất yếu. Người tiêu dùng, để đối phó với tình trạng lạm phát bắt buộc họ phải thay đổi hành vi tiêu dùng theo hướng “buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện”. Cho nên, dù lãi suất huy động có giảm họ cũng vẫn gởi tiết kiệm nếu số tiền của họ ít. Nếu có nhiều tiền, họ sẽ chuyển hướng đầu tư sang vàng hoặc đô la và như thế việc kích thích tiêu dùng xem ra không có hiệu quả. Điều đó chứng minh rằng: hành vi tiêu dùng không được quyết định bởi lãi suất huy động mà là chịu ảnh hưởng của tình hình kinh tế, thu nhập và trào lưu xã hội. Việc tăng hay giảm lãi suất chỉ tác động đến quyết định đầu tư mà thôi. Nếu lãi suất huy động tăng, họ sẽ chuyển sang đầu tư tiền nhàn rỗi vào ngân hàng. Nếu lãi suất huy động giảm, họ sẽ đầu tư vào các hoạt động khác như vàng, nhà đất hay bung ra làm ăn ... Tiền trong lưu thông vẫn cứ chạy vòng vòng trong lưu thông.
2. Nhà nước cấm bán vàng miếng và dần dần loại bỏ vàng miếng thì chỉ làm phức tạp thêm vấn đề và người thêm bận rộn với việc kiểm soát là công an hay quản lý thị trường bởi lẽ trước đây, khi vàng miếng chưa thịnh hành như bây giờ, người dân vẫn cất giữ vàng dưới dạng vàng khoen 24K được đánh thành từng chỉ tùy nhu cầu của khách hàng. Việc cấm đoán này chỉ làm cho tiệm vàng mất thêm thời gian lách luật mà thôi. Nếu như đồng tiền Việt Nam có giá thì thay vì giữ vàng, người dân sẽ chuyển sang tiền để gởi tiết kiệm sinh lợi. Đừng cố công dã tràng thay đổi thói quen giữ vàng trong nhân dân vì một lẽ đơn giản là tiền không bao giờ có thể cạnh tranh được với vàng. Tại sao?
- Tính chất của vàng là quý.
- Đứng trên giác độ thời gian: Cho dù bất cứ thời kỳ hay giai
đoạn lịch sử nào thì vàng cũng đều được xem là quý như nhau. Người ta có thể cất giấu vàng muôn đời và một khi có vàng thì sẽ không sợ chết đói vì ở bất cứ thời điểm nào trong lịch sử cũng có thể sử dụng vàng. Một người có vàng có thể dùng nó để đổi lấy bất cứ cái gì để mưu sinh cho dù anh ta đang sống dưới chế độ phong kiến hay thực dân hay chủ nghĩa xã hội ngày nay. Thế nhưng tiền thì chỉ có giá trị sử dụng trong một giai đoạn thời gian nhất định hay một chế độ nhất định mà thôi. Một người có cả đống tiền “thái bình thông bảo” – loại tiền được phát hành đầu tiên dưới thời nhà Đinh (Đinh Tiên Hoàng) chỉ có thể dùng chúng trong thời kỳ lịch sử của chế độ phong kiến bắt đầu từ những năm 972 trở về sau và dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ngày nay, đống tiền ấy chỉ để bán ve chai hoặc cất làm đồ cổ, đồ lưu niệm ... để ... nhìn mà thôi.
- Về khía cạnh không gian: Vàng có thể dùng ở bất cứ nơi đâu trên thế giới nhưng tiền thì không (trừ những ngoại tệ mạnh có tính thanh khoản cao. Nhưng những ngoại tệ mạnh này cũng bị chi phối bởi yếu tố thời gian khi quốc gia đó trở nên yếu đi).
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao vàng lại quý như thế? Đơn giản vì vàng là do tự nhiên mà có. Vàng là kim loại mang giá trị thẩm mỹ có sẵn trong lòng đất do con người tìm ra. Con người chỉ có thể tìm ra vàng chứ không làm ra vàng. Sự tồn tại của vàng không lệ thuộc bất cứ yếu tố nào và nó xuất hiện ở đâu là do sự “nhào nặn” của trái đất khi hình thành mà không bị chi phối hay tác động bởi con người nên giá trị của vàng hầu như tuyệt đối. Tiền thì khác. Tiền được tạo ra bởi con người dưới một chế độ xã hội nhất định, ở một giai đoạn lịch sử nhất định và trong phạm vi một lãnh thổ nhất định. Nhiều chế độ xã hội khác nhau sẽ tạo ra nhiều loại tiền khác nhau. Do đó, tiền có giá trị tương đối và hầu như chỉ có giá trị trong một chế độ xã hội hay một giai đoạn của chế độ xã hội mà thôi. Sự tồn tại của tiền phụ thuộc vào người đứng đầu hay tổ chức đứng đầu quốc gia. Tiền có giá trị cao hay thấp đối với quốc gia khác còn phản ánh vị thế của quốc gia sở hữu đồng tiền trên thế giới. Một quốc gia có giá trị đồng tiền cao chắc chắn là một quốc gia mạnh không những về kinh tế mà cả về chính trị bởi tư tưởng chính trị có sáng suốt, lành mạnh mới có thể điều khiển, vận hành nền kinh tế phát triển và kinh tế có phát triển thì đồng tiền mới mạnh lên được. Chính yếu tố này đã làm cho đồng tiền trở thành một loại hàng hóa đặc biệt và bởi loại hàng hóa này do con người tạo ra như những hàng hóa khác nên nó tuân theo quy luật không tự nhiên cũng do con người tạo ra. Vì lẽ đó, việc con người hay nói đúng hơn là chính phủ điều phối sao cho đồng tiền trở nên mạnh hơn hay có giá trị hơn là việc có thể làm được.
Hiểu rõ bản chất giá trị của vàng và tiền chúng ta sẽ hiểu mà chấp nhận sự tồn tại cũng như sự ưu tiên cất vàng hơn tiền của nhân dân là một tất yếu không bao giờ thay đổi, như số 1 luôn phải đứng trước số 2 trong chuổi số tuân theo quy luật tự nhiên do con người tìm ra. Có ít tiền, người ta giữ tiền nhưng nếu có nhiều tiền thì ngay lập tức người ta sẽ chuyển sang giữ vàng. Đó là điều chắc chắn cũng giống như trái cây khi rụng sẽ rơi xuống đất chứ không bao giờ bay ngược lên trời. Ngay cả khi USD có giá, người ta cũng chỉ giữ USD với tư cách đầu tư sinh lợi chứ không bao giờ họ giữ USD với tư cách giữ làm của. Thế nên, chúng ta chỉ nên nỗ lực làm cho đồng tiền có giá chứ đừng phí sức thay đổi quy luật tự nhiên. Một khi VND có giá thì tự nhiên giá vàng sẽ hạ với tư cách là một mặt hàng lưu thông trên thị trường. Thế nhưng, với tư cách là một mặt hàng luôn ở trạng thái cầu nhiều hơn cung nên vàng sẽ luôn có khuynh hướng tăng giá cũng giống như đất đai vậy. Đất đai cũng có mặt trên thị trường với tư cách là một mặt hàng luôn ở trạng thái cầu nhiều hơn cung dưới tác động của quá trình gia tăng dân số nên đất đai cũng sẽ luôn có khuynh hướng tăng giá. Và vì đất nhà ở có được là do quá trình tạo lập của con người tìm ra, khai hóa và cư ngụ chứ con người không thể làm tăng thêm diện tích bề mặt trái đất và đất có thể sử dụng bất chấp thời gian ở giai đoạn lịch sử trước hay sau. Nên đất cũng được xếp vào mặt hàng quý. Người ta chỉ có thể làm tăng giá trị của đất bằng cách xây thêm nhà ở gắn liền với đất cũng như người ta chỉ có thể làm tăng khối lượng vàng bằng cách làm biến đổi về chất của nó hay nói nôm na là pha thêm kim loại khác vào và khi ấy giá trị vàng sẽ bị giảm. Đó là lý do tại sao có sự phân biệt giữa vàng 24K và vàng 18K cho từng giá trị vàng khác nhau. Thế nên sẽ mất thời gian nếu ta cố gắng làm giảm giá trị của đất cũng như thói quen đầu tư vào đất nếu có đủ điều kiện về tài chính. Việc sử dụng vàng hay USD trong thanh toán chẳng qua là hành vi tự nhiên tự phát nhằm duy trì mức độ an toàn và thuận tiện trong quá trình vận chuyển mà thôi. Cũng giống như việc người ta dùng tiền làm vật trung gian trong giai đoạn chuyển tiếp từ trao đổi H – H sang trao đổi H – T – H. Tiền trong buổi đầu sơ khai chưa mang ý nghĩa chính trị của một quốc gia trong khi vàng lại chiếm vị trí độc tôn trong quan hệ trao đổi giữa các nước với nhau (đất chưa được xem là quý vì lúc đó yếu tố dân số chưa ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống con người). Việc sử dụng vàng hay USD trong đầu cơ hay cất giữ cũng xuất phát từ hành vi muốn cho vốn của người chủ sở hữu được bảo toàn mà thôi. Do vậy, để bảo vệ VND – vật tượng trưng cho sức mạnh của quốc gia chúng ta chỉ có thể cấm giao dịch USD – vật tượng trưng cho sức mạnh của quốc khác chứ không thể cấm người ta sử dụng vàng – một trong những hàng hóa đang được lưu hành trên thị trường và việc cấm dùng vàng miếng càng là một điều hết sức vô lý.
3. Chấp nhận mặt bằng giá mới để ổn định kinh tế: Như thế nào gọi là mặt bằng giá mới? Nên nhớ rằng giá thành là một đại lượng đặc trưng cho hàng hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố và giá của các mặt hàng đều có tác dụng tương hỗ nhau. Trong khi ta chưa thể kiểm soát được các yếu tố làm thay đổi giá thành thì giá thành luôn trong trạng thái biến động chứ không nằm im. Mà đã không nằm im thì làm sao đạt được trạng thái cân bằng để có thể hình thành nên một mặt bằng giá chứ. Việc mong đợi một mặt bằng giá trong giai đoạn hiện nay là một điều tưởng tượng. Ta chỉ có thể có được mặt bằng giá khi và chỉ khi ta kiểm soát được lạm phát. Một khi kiểm soát được lạm phát thì nền kinh tế tất yếu sẽ ổn định. Do đó, ta chỉ có thể chấp nhận giá mới của từng mặt hàng mà thôi và việc chấp nhận như vậy chẳng khác nào lạm phát đến đâu, ta chấp nhận đến đó. Nếu như thế thì vai trò của nhà nước trở nên vô dụng. Hồ Chí Minh đã dặn: “Lấy dân làm gốc”. Chẳng phải trong giai đoạn hiện nay, dân đóng vai trò là chủ đầu tư và nhà nước là giám đốc được dân thuê về làm công việc giải quyết mọi vấn đề phát sinh sao cho “công ty” được vận hành ổn định, có hiệu quả, đảm bảo đời sống cho người lao động đó sao? Nếu như người lao động sản xuất ra sản phẩm nào, công ty chấp nhận sản phẩm ấy và thị trường chấp nhận sản phẩm ấy như thế nào và trả giá bao nhiêu ta chấp nhận bán bấy nhiêu thì chẳng khác nào công ty ấy đang tự vận hành theo kiểu nền kinh tế tự do của Mỹ giai đoạn những năm 1819, 1837, 1857 mà đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 là kết quả của lối kinh doanh tự do không có sự điều tiết của chính phủ Mỹ. Vậy ra ông giám đốc của nhân dân ta chỉ ngồi đó hưởng lương mà không làm gì cả và mặc kệ, đến đâu hay đến đấy miễn sao vẫn có hàng bán, vẫn thu tiền về không cần biết lãi lỗ, hay máy móc khi nào sẽ hư hỏng hoặc giả công ty sẽ tồn tại được bao lâu nữa. Vậy nhân dân có cần thuê người giám đốc như thế?
4. Thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt để ngăn chặn lạm phát: Quan niệm này đúng hay sai? Chúng ta hãy tưởng tượng một người giàu có, rất giàu có. Mỗi khi bước chân ra đường là ông ta dùng xe hơi hay máy bay nhưng khi bước vào nhà thì ông ta vẫn phải đi bộ. Thế thì việc thanh toán không dùng tiền liệu có khả thi khi mà mọi nhu cầu của người dân luôn phát sinh bất chợt. Nếu như những thập niên trước ta phải đối đầu với những cuộc chiến tranh giành đất đai, lãnh thổ thì ngày nay họ phải đối đầu với cuộc chiến chống đói nghèo, thiên tai và bệnh tật phát sinh từ hệ quả của sự gia tăng dân số, của cuộc phát triển khoa học công nghệ ảnh hưởng đến môi trường. Càng đối phó với đói nghèo người ta càng phải tiết kiệm. Khi đó, việc kiếm tiền trở nên khó khăn thì lấy đâu ra tiền để bỏ vào ngân hàng mà thanh toán bằng thẻ tín dụng (lấy những nước Trung đông làm ví dụ). Ngoài ra, tiền mặt còn mang tính chất riêng tư phục vụ mục đích của người tham gia thanh toán: họ không bị lệ thuộc ngân hàng đối với những sự cố lập trình máy tính, máy móc hỏng hóc và khi cần số lượng tiền lớn vào những ngày thứ 7 hay chủ nhật hay ban đêm lại phải đợi đến khi ngân hàng làm việc (chưa kể những thủ tục hành chính làm mất thời gian của họ). Điều quan trọng nhất trong thanh toán là lòng tin. Khi không đạt được niềm tin thì tiền mặt là đáp án duy nhất giải bài toán của phương thức thanh toán. Do vậy, việc không dùng tiền mặt là điều không thể có.
Friday, April 27, 2012 3:28:24 AM
Solutions submitted to parliament
II. Nhân sự của quốc gia:
Bản tin số 17 tháng 12/2010 do Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TP. HCM phát hành có đề cập đến vấn đề: “nên dành ghế quốc hội cho kiều bào” và “nghị quyết 36 của bộ chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” với “đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước, coi kiều bào là bộ phận không thể tách rời dân tộc”. Thiết nghĩ, muốn “coi kiều bào là bộ phận không thể tách rời dân tộc” thì trước hết cả hai bên phải có thiện chí. Nhà nước Việt Nam dĩ nhiên là đã thể hiện thiện chí trong nghị quyết 36 này rồi. Vấn đề là những người thực hiện sẽ tiếp nhận những kiều bào với tư cách là “bộ phận không thể tách rời dân tộc” này như thế nào. Thực tế đã chứng minh thiện chí của nhà nước Việt Nam qua hàng loạt các chính sách, các luật có liên quan đế nghị quyết 36 như: “luật quốc tịch, đất đai, nhà cửa, đầu tư, doanh nhiệp, pháp lệnh về ngoại hối, những quy định miễn thị thực xuất nhập cảnh cho người Việt Nam ở nước ngoài hồi hương, cư trú ... theo hướng ngày càng thuận lợi cho kiều bào đã được ban hành”. Vậy thì vấn đề cần phải giải quyết là các kiều bào này có muốn trở thành “bộ phận không thể tách rời dân tộc” hay không? Để có thể hiểu được thiện chí của các kiều bào như thế nào, ta hãy đặt mình vào vị trí của họ xem họ nghĩ gì và thực tế là có phát sinh mâu thuẫn để phải ‘hòa giải dân tộc”, là “Việt Nam thu hút chất xám” theo như những gì mà nguyên bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Dy Niên đặt lên hàng đầu trong việc thực hiện nghị quyết 36?
1. Câu hỏi được đặt ra cho thế hệ kiều bào của “những người ở nước ngoài bỏ chạy mang hận thù ...” rời khỏi quê hương là: “Họ là ai?” và “Tại sao họ phải bỏ chạy?”. Ngược dòng quá khứ khi thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ rút quân ra khỏi hoàn toàn miền Nam mang theo những người Việt Nam hoặc thân Pháp, Mỹ hoặc làm việc cho Pháp, Mỹ. Pháp – kẻ ngang nhiên nã pháo vào Việt Nam đang sống trong hòa bình. Một Việt Nam mà ở đó người dân đang có cơm ăn, áo mặc trong một trạng thái tinh thần vui vẻ, hạnh phúc. Một Việt Nam mà người dân không cần bất cứ một lực lượng hay thế lực nào can thiệp vào cuộc sống của họ. Nếu như họ bị áp bức phải chịu đựng sự bất công hay khinh bỉ kẻ đứng đầu quốc gia là một kẻ bạo tàn giết vua cướp ngôi như Hồ Quý Ly thì nhà Minh của Trung Quốc với tư cách của người bảo vệ lẽ phải đánh đổ sự bạo tàn thì nhân dân sẽ hoan nghênh mặc dù sau đó họ phát hiện ra mình bị lừa. Thế nên cuộc xâm lăng của Pháp là hành vi phi nghĩa và không ngoài mục đích vơ vét của cải, tài nguyên thiên nhiên và bóc lột nhân dân Việt Nam. Còn Mỹ - kẻ đổ tiền vào miền Nam hòng ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Trong lúc toàn dân đang đổ bao máu xương giành lại sự công bằng, sự sống cho ra sống thì những kiều bào ấy họ đã làm gì? Tinh thần dân tộc của họ ở đâu? Lòng nhân ái và tình đồng loại của họ đâu rồi mà lại không biết phân biệt thị phi, không biết đau lòng trước cảnh đồng bào mình bị đày đọa?
Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng, khi về bủng beo(a)
Sai lầm trong tư tưởng họ là ở chỗ đó. Họ ra đi để an phận mình, để mưu cầu một cuộc sống sung sướng xứ trời Tây và nếu như họ thực sự sung sướng thì có đâu họ lại “hận thù”. Điều đó cho thấy mặc dù ra đi nhưng họ không hạnh phúc. Làm sao mà họ có thể có được hạnh phúc tại một đất nước đem lại sự bất hạnh cho đất nước họ! Chính vì không hạnh phúc nên họ nuối tiếc khoảng thời gian ở Việt Nam họ đã có được sự “sung sướng” từ những hành động “làm việc cho thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ”. Họ đã có được sự “sung sướng” từ sự bất hạnh của đồng bào họ. Họ “sung sướng” vì họ được trả công hậu hĩ cho những hành động “làm việc cho thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ ”. Sống nơi xứ lạ, công việc này không còn nữa. Họ bị thất nghiệp và phải lao ra kiếm tiền mưu sinh trên đất khách quê người. Cuộc đời họ bị xáo trộn từ “túi tiền rủng rỉnh” sang “lao động kiếm sống” nên họ oán ghét những người đã đuổi thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ về nước và buộc họ phải đi theo quân cướp nước để phải sống cuộc sống vất vả. Nếu như sai lầm thứ nhất của họ là không ý thức được hành động phi lý của quân cướp nước thì sai lầm thứ hai của họ là không thức thời. Thay vì họ phải đóng góp sức mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc thì họ lại giành toàn tâm toàn ý, tít mắt trước số tiền nhỏ nhoi có được từ việc giúp đỡ quân thù vơ vét của cải của dân tộc và chia cho họ. Ngày nay, khi đất nước được giải phóng, được kiến tạo, người dân được ấm no, xã hội phát triển thì họ chỉ việc đón nhận lòng vị tha của quê hương, của đất nước hay cụ thể là của các nhà lãnh đạo Việt Nam mà trở lại hòa mình vào dòng máu dân tộc, mà trở về với tổ quốc, mà tự giải thoát kiếp “ăn nhờ, ở đậu” xứ trời Tây – nơi không phải là quê hương của mình. Vấn đề là họ có ý thức được điều đó hay không để quay về với cội nguồn dân tộc?
2. Thế hệ kiều bào là những người dân bình thường không hiểu biết Cách mạng là như thế nào đã hoặc di tản theo phong trào hoặc ra đi vì hoang mang nhưng xét cho cùng thì họ cũng là những người mắc sai lầm trong tư tưởng. Sai lầm của họ là không chịu nhìn và đánh giá tình hình xã hội lúc bấy giờ: Đời sống nhân dân dưới chế độ cai trị của quân cướp nước vô cùng khổ cực. Thế nên mới có hàng vạn người lớp lớp ra đi theo Cách mạng làm cuộc đánh tan áp bức bóc lột. Dẫu rằng họ không biết Cách mạng là ai, Cách mạng làm gì nhưng họ phải thấy một điều là nếu như Cách mạng không tốt thì tại sao có nhiều người đi theo như thế? Nếu như bọn giặc dùng tiền, quyền để mà dụ dỗ những người phản Cách mạng đi theo chúng thì những người đi theo Cách mạng chẳng những dấn thân tự nguyện không một chút tư lợi mà còn hiến sức người, sức của cho Cách mạng. Nếu như Cách mạng không tốt thì tại sao có nhiều người thà bị tra tấn, cưa chân, cưa tay, ... chứ dứt khoát không chịu khai ra đồng đội của mình, chấp nhận hy sinh thân mình chỉ để có thể giết được kẻ thù? Sai lầm của họ là ở chỗ đó. Sai lầm của họ là ở chỗ tin người ngoài hơn người trong nhà mà không cân nhắc xem liệu một kẻ sát hại, bóc lột đồng bào ta như thế có thể được xếp vào loại người tốt và sẽ đối xử tốt với ta hay không? Sai lầm của họ là ham mê cuộc sống giàu vật chất nhưng nghèo nàn tinh thần và danh dự. Sai lầm nối tiếp sai lầm khi họ ra đi mang theo cả nỗi hận thù. Họ hận ai? Hận Cách mạng ư? Hận những người đem lại hạnh phúc cho đồng bào họ ư? Hận những người đánh đuổi bất công của sự chà đạp, gieo rắc đau thương cho dân tộc mình mà hậu quả của chất độc da cam vẫn còn hiển hiện cho đến tận ngày nay ư? Hay hận vì họ đã quyết định bỏ nhà bỏ cửa tại Việt Nam – quê hương của họ để cuốn gói đi theo kẻ thù? Thế nhưng tư tưởng là của họ, quyết định ấy là do họ đưa ra chứ nào có ai bắt họ đi đâu. Họ tự đi đấy chứ! Và việc hận thù lại là bước đi sai lầm mà họ mắc phải. Họ ra đi là tự khép mình vào tội danh “phản bội tổ quốc”. Thời gian trôi đi, quá khứ được khép lại và tương lai mở ra. Các kiều bào ấy vẫn cố bảo thủ quan điểm sai lệch của họ mà có tư tưởng sai lệch trong việc thù địch hoặc có thái độ mặc cảm về những sai lầm đã mắc phải trong quá khứ có vượt qua được chính mình, có nhớ về dân tộc hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào họ mà thôi.
3. Thế hệ kiều bào sinh ra và lớn lên nơi đất khách: Họ không biết gì về quá khứ nhưng chắc chắn một điều là họ biết mình là người có nguồn gốc Việt Nam. Họ chịu ảnh hưởng từ lối suy nghĩ của cha ông họ và họ hoặc có cùng quan điểm với cha ông hoặc họ nếu có tinh thần dân tộc thì sẽ tự đi tìm hiểu về cội nguồn dân tộc. Kết quả tìm hiểu như thế nào thì còn tùy thuộc vào nhận thức của họ.
Chúng ta phân tích kiều bào để thấy rằng mấu chốt của toàn bộ vấn đề xuất phát từ tư tưởng của họ. Bản thân chúng ta, những người Cách mạng đã bỏ qua hết những gì thuộc về quá khứ tức không có mâu thuẫn nội tại. Có chăng chỉ là sự xuất phát một chiều từ phía kiều bào mà thôi. Mâu thuẫn chỉ xảy ra khi có sự xung đột từ hai phía. Thế nên mối quan hệ giữa kiều bào và nhà nước Việt Nam không phải là sự mâu thuẫn mà là sự giác ngộ ý thức kiều bào hướng về dân tộc. Đã không có mâu thuẫn thì tại sao phải làm động tác “hòa giải dân tộc” cho phức tạp thêm vấn đề! Việc lạm dụng từ “hòa giải” ở đây sẽ vô tình sẽ làm cho mọi người Việt Nam trong và ngoài nước và cả bạn bè quốc tế hiểu sai về Cách mạng Việt Nam: Đã phạm sai lầm trong quá khứ nên bây giờ phải sửa sai bằng cách “hòa giải dân tộc”. Thế nhưng thực tế là Cách mạng Việt Nam ta có làm gì sai đâu? Một vị vua Lê Chiêu Thống bám váy nhà Thanh khi thua cuộc đã lìa bỏ quê cha đất tổ mang nhơ danh “cõng rắn cắn gà nhà” muôn đời thì lớp dân kiều bào bỏ chạy theo quân cướp nước bị mang ô danh “phản bội quê hương” là lẽ đương nhiên. Tội danh đó đâu phải chỉ có Cách mạng nhìn nhận mà cả dân tộc và công luận thế giới nhìn nhận kia mà. Như vậy, ta không gọi bằng cái tên “phản bội tổ quốc” thì phải gọi họ là gì cho đúng đây?
Chúng ta phân tích các kiều bào không phải để khơi lại quá khứ hòng
trách cứ họ cũng không phải là để tố cáo hay buộc tội, phỉ báng họ mà là để có thể hiểu họ hơn và từ đó mới có thể quyết định nên làm gì để hoàn thành tốt nghị quyết 36 cũng như Hồ Chí Minh xưa muốn đánh thắng Pháp thì phải sống ở Pháp để hiểu Pháp vậy. Hiểu Pháp rồi cũng chưa thể đánh Pháp được mà phải đào tạo tư tưởng cho đội ngũ Cách mạng trước rồi mới bắt đầu đánh Pháp. Do đó, chúng ta phải hiểu đúng và quán triệt tinh thần của nghị quyết 36:
1. “Coi kiều bào là bộ phận không tách rời dân tộc” chứ không phải muốn “kiều bào là bộ phận không tách rời dân tộc” bởi coi là việc chúng ta thừa nhận và tạo mọi điều kiện cho họ tiếp nhận sự thừa nhận của ta trong khi muốn lại là việc làm phải thỏa mãn điều kiện của họ để chúng ta đạt được ước muốn ấy. Và chính vì hiểu sai như thế nên mới nảy sinh những tiêu chí về quyền lợi “không chỉ các quyền lợi về kinh tế, xã hội, văn hóa ...” Vậy thì, chẳng khác nào việc kiều bào hướng về tổ quốc là vì quyền lợi chứ nào phải đâu vì cái gọi là dân tộc với tư cách là “bộ phận không tách rời dân tộc”! Ý nghĩa thiêng liêng của hai từ dân tộc vô tình đã bị đạp đổ nhường chỗ cho những quyền lợi phục vụ lợi ích cá nhân của những con người ra đi khi đất nước khó khăn và trở về để đòi quyền lợi khi đất nước mới vừa hồi phục. Có quả thật kiều bào là những con người như thế? Theo ông Niên thì “đến lúc này chúng ta phải đề cao truyền thống vị tha ...”. Đúng là chúng ta phải vị tha, “đánh kẻ chạy đi chứ đừng đánh người chạy lại”(a). Thế nhưng, ông Niên lại làm chúng ta chóng mặt khi nói thêm “bà con bận lắm không có thời gian đến với mình...”. Hóa ra nhà nước Việt Nam chúng ta đang làm phiền kiều bào ư? Họ, những người dân lại bận rộn đến nỗi không có thời gian đến với một vị bộ trưởng Bộ ngoại giao ư? Và tự nhiên một người trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam trở thành một kẻ vô công rồi nghề đi làm phiền người khác ư? Hãy bình tĩnh lại thưa ngài nguyên bộ trưởng Bộ ngoại giao. Ngài nên xác định lại mình đang đứng ở đâu, ở vị trí nào và đang làm gì? Chúng ta đang làm việc gắn kết tình dân tộc chứ không phải làm công việc làm phiền người khác. Tình cảm dân tộc là sự tự nguyện chứ không phải có được từ việc nài nỉ hay van xin. Hồ Chí Minh đã nói: Có tài mà không có đức là người vô dụng. Bao nhiêu năm nay chúng ta vẫn sống, vẫn tồn tại và phát triển mà không có sự tiếp sức của kiều bào. Chúng ta cần những người tài đức chứ chúng ta không cần những “kiêu binh”. Những Việt kiều về nước vì tinh thần dân tộc nhưng nếu có cơ hội thì không lý do gì mà họ không phát triển công việc kinh doanh và chúng ta khuyến khích họ. Tuy nhiên, nếu họ “chạm thực tế” trong việc thực hiện các chính sách của nhà nước là “vướng” thì cũng không có gì là lạ bởi lẽ kiều bào thực chất cũng là những con người sống trên một đất nước khác và Việt Nam với tư cách là chủ nhà thì phải đảm bảo tính hiếu khách bên cạnh các yếu tố an ninh quốc gia, ổn định kinh tế xã hội. Do đó, việc “vướng” là đương nhiên và “vướng” đến đâu, ta gỡ đến đấy. Việt Nam trong tư thế đã là thanh viên của WTO hoạt động trên cơ sở luật quốc tế, nếu các kiều bào thật sự có tài năng thì lo gì công việc kinh doanh không hiệu quả, lo gì không đạt được quyền lợi.
2. “Coi kiều bào là bộ phận không tách rời dân tộc” chứ không phải lợi dụng hai từ dân tộc để tìm kiếm nhân tài. Cần xác định mục tiêu chúng ta là dân tộc, vấn đề nhân tài chỉ đứng hàng thứ yếu và với chính sách thu hút và đãi ngộ nhân tài, chúng ta luôn hoan nghênh mọi đối tượng nhân tài bất kể cùng dân tộc, cùng quốc gia hay không.
3. Nên chăng “hướng tới mở rộng quyền lợi về chính trị khi điều kiện thuận lợi như dành cho kiều bào ghế đại biểu trong quốc hội” theo như những gì ông Niên đã nói? Thưa ông, ông hiểu như thế nào về hai từ “quốc hội”? Phải chăng đó là nơi mà những người có trí tuệ và có lập trường vững chắc được nhân dân giao phó vận mệnh đất nước hội họp, bàn bạc về tình hình quốc gia, những khó khăn và phương pháp giải quyết những khó khăn đó? Những người ngồi trên ghế quốc hội đó, họ có quyền gì không? Có! Họ có rất nhiều quyền. Đó là quyền phải tìm ra và phải thấy được mọi vấn đề của đất nước. Có quyền dành toàn tâm toàn trí vào việc lèo lái con tàu Việt Nam phát triển, xây dựng bền vững và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam mà chúng ta được kế thừa từ ngàn xưa. Mục đích vào quốc hội của họ là gì nếu không phải “vì nhân dân phục vụ”? Thật sai lầm khi ông Niên cho rằng vào quốc hội để đạt “quyền lợi về chính trị”. Hóa ra những người này họ vào quốc hội không phải xuất phát từ tấm lòng yêu nước, thương dân, muốn giúp dân trước hết là định hướng lý tưởng sống, kế đến là giúp dân có một cuộc sống đầy đủ và cuối cùng là nhằm đạt được mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là công bằng, bác ái, độc lập, tự do, hạnh phúc hay sao? Phải chăng họ xem quốc hội là bàn đạp để thực hiện tham vọng quyền lực chính trị? Nếu thế thì làm sao muôn dân có thể tin cậy mà giao phó vận mệnh non sông cho họ. Thật là sai lầm, sai lầm nghiêm trọng nếu như có một quan điểm như vậy trong hàng ngũ quốc hội Việt Nam. Ở giai đoạn lịch sử nào cũng vậy, chỉ cần nhìn vào xã hội hay chính xác hơn là nhìn vào đời sống của nhân dân là ta có thể đánh giá được tầng lớp lãnh đạo trong giai đoạn lịch sử đó có đức độ, tài ba, công bằng, bác ái ... hay không! Và như vậy, việc lựa chọn người đứng đầu để kế tục sự nghiệp vì nước, vì dân do Bác Hồ sáng lập có ý nghĩa vô cùng to lớn và vai trò hết sức quan trọng đòi hỏi phải hết sức cân nhắc kỹ lưỡng và điều kiện tiên quyết cho việc đánh giá con người là tư tưởng. Đó là lý do tại sao Hồ Chí Minh khi bắt tay vào công cuộc giải phóng dân tộc trong hoàn cảnh đau thương dầu sôi lửa bỏng của nhân dân, thay vì hô hào mọi người vùng lên đấu tranh ngay, người đã rất bình tĩnh sáng suốt dành thời gian toàn tâm toàn ý cho việc soạn ra các văn kiện, các tác phẩm báo chí trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin phục vụ cho công tác huấn luyện chính trị và người cũng đã rất thận trọng trong việc lựa chọn đối tượng để huấn luyện tư tưởng Cách mạng. Cụ thể là suốt bao nhiêu năm học tập, nâng cao lý luận Cách mạng mà cho đến tháng 6/1925 người chỉ có thể chọn được 9 thanh niên xem như là hạt nhân nòng cốt tham gia thành lập Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Thế mới thấy tầm quan trọng của yếu tố nhân sự. Dưới chế độ phong kiến, người đứng đầu là vua. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa chúng ta ngày nay, người đứng đầu không phải là một mà là toàn thể những người nằm trong quốc hội. Sự hưng vong của một quốc gia sẽ lệ thuộc hoàn toàn vào quốc hội đó có cùng lý tưởng “đạo lý”, có trí tuệ, có trong sạch, đoàn kết hay không. Cho nên, theo ông Niên thì kiều bào “là những người ở nước ngoài bỏ chạy mang theo hận thù”, họ là những người ít nhất một lần bỏ rơi tổ quốc vì tư tưởng bị lệch lạc, vì quan điểm chính trị không vững vàng mà lại cũng theo ông “nên dành ghế quốc hội cho kiều bào” thì quả thật là không hiểu nổi (?). Làm sao họ có đủ tư cách cán đán một công việc đòi hỏi chẳng những tài năng, trí tuệ mà còn phải đức độ, bình tĩnh, tỉnh táo và đặc biệt là lý tưởng cao cả “vì nhân dân” chứ không phải “vì quyền lợi chính trị”. Con thuyền Việt Nam sẽ ra sao nếu giao tay lái cho những người thiếu bản lĩnh điều khiển?
Định hướng đã được vạch ra và chúng ta cứ việc bám sát định hướng ấy mà thực hiện nghị quyết 36. Cụ thể như sau:
- Đối với những người mặc cảm tội lỗi trong quá khứ: Tăng cường tuyên truyền những hoạt động kiều bào đang diễn ra trên phạm vi
toàn thế giới để họ thấy, họ tin và họ tự xóa bỏ mặc cảm ấy mà hòa mình vào với dân tộc.
- Đối với những người bảo thủ thái độ thù địch: Họ sẽ không tin vào bất cứ lời nói nào đâu trừ khi họ tận mắt chứng kiến và tận tai nghe thấy. Thế nên, hãy cho họ thời gian suy ngẫm trong điều kiện tiếp xúc với những người đã từng trở về Việt Nam làm ăn, sinh sống. Hoặc giả cho những người Việt Nam tương đối có tiếng tăm lìa bỏ quê hương rồi lại quay về chẳng những bình an vô sự mà còn được đãi ngộ, được tạo điều kiện phát huy sự nghiệp làm nhân chứng sống cho những gì Việt Nam nói là sự thật thì “nước chảy đá mòn” (a), từ từ những người thù hận này sẽ chuyển sang thái độ dè dặt và tò mò muốn tìm hiểu thực tế. Cứ để họ đi, họ tìm hiểu và họ sẽ là những người giác ngộ những người có tư tưởng giống họ hữu hiệu nhất trong công cuộc gắn kết dân tộc.
- “Ngàn lời giáo huấn không bằng một đời nhân cách”, Việt Nam ta cứ làm đúng theo những gì chúng ta đã công bố, Việt Nam ta cứ là một đất nước tốt, ứng xử trên nền tảng đạo lý thì chẳng mấy chốc kiều bào sẽ tự nguyện quay về mà không cần bất cứ sự đãi ngộ nào hay bất cứ lời kêu gọi nào. Đó mới là sự gắn kết từ gốc. Tương tự với vấn đề chất xám, hãy cho những “chất xám” trên thế giới thấy một hình mẫu về cách mà Việt Nam trọng dụng nhân tài đi rồi tự nhiên những nhân tài sẽ có niềm tin nơi Việt Nam mà tìm đến.
Xung quanh vấn đề nhân sự quốc gia, lại có ý kiến cho rằng nên chăng tuyển chọn các giám đốc doanh nghiệp? Tôi cũng xin mạn phép trình bày sơ đồ mục tiêu ở như sau:
1. Vì sao các doanh nghiệp lại muốn đứng trong hàng ngũ Trung ương?
Với tư cách là một doanh nghiệp đang kinh doanh vì mục tiêu kinh tế hay nói đúng hơn là Lợi nhuận và chân lý Cách mạng là “lệ thuộc kinh tế tất lệ thuộc chính trị”. Một người muốn theo đuổi sự nghiệp chính trị trong khi vẫn còn mối bận tâm kinh tế thì liệu những quyết định chính trị mà anh ta đưa ra có bị yếu tố kinh tế của doanh nghiệp anh nói riêng và ngành kinh doanh anh nói chung chi phối hay không? Câu trả lời chắc chắn là có, không ít thì nhiều. Thế nên, để bước chân vào con đường chính trị, điều kiện tiên quyết là phải từ bỏ mọi quyền lợi kinh tế mà anh đang theo đuổi mới có thể dành hết tâm trí hay công minh cho sự nghiệp chính trị. Nếu anh sẵn lòng làm điều này thì xin anh cho biết hiện anh
đang có những quyền lợi kinh tế gì? Và anh sẽ từ bỏ chúng như thế nào?
2. Để có thể đứng trong hàng ngũ trung ương tức hàng ngũ lãnh đạo quốc gia đòi hỏi anh phải có một tư tưởng bản lĩnh và một lý tưởng đúng đắn với tầm nhìn quốc tế. Vậy anh hãy cho biết lý tưởng mà anh đang theo đuổi là gì? Hãy trình bày quan điểm của anh về những gì anh có thể làm với tư cách là thành viên ban lãnh đạo quốc gia.
Đất nước Việt Nam là một đất nước dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, bác ái nên tất cả mọi người đều có thể đứng trong hàng ngũ lãnh đạo nếu như tự cảm thấy có đức, có tài, có bản lĩnh chính trị và trung ương luôn mong muốn đón nhận những con người như thế vào hàng ngũ của mình. Những ý kiến đóng góp của toàn dân và việc tình nguyện đứng trong hàng ngũ lãnh đạo luôn được hoan nghênh. Tuy nhiên, người tình nguyện có được chọn hay không lại là vấn đề hết sức khó khăn vì nó quyết định vận mệnh quốc gia. Một người dân bình thường có thể làm mọi việc anh ta muốn, thậm chí làm sai thì hậu quả chỉ riêng mình anh ta gánh chịu hay một bộ phận nhỏ của xã hội gánh chịu nhưng với cương vị lãnh đạo quốc gia thì không phải muốn làm gì thì làm mà mỗi một hành động phải luôn cân nhắc đến lợi ích toàn dân vì nếu quyết định sai sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn xã hội không chỉ trong một thời gian ngắn mà thậm chí có hậu quả đến mấy mươi năm sau. Thế mới biết làm lãnh đạo khó lắm, rất khó là đằng khác.
Cho nên, một người chưa thể lướt trên lợi nhuận mà đi và chưa thấu đáo được đạo lý lý tưởng của con người vì mục tiêu hạnh phúc của nhân dân thì chưa thể có đủ tư cách là thành viên của trung ương, của công việc lãnh đạo đầy khó khăn mà nhân dân tin cậy giao phó.
Friday, April 27, 2012 3:27:11 AM
Solutions submitted to parliament
III. Vấn đề giáo dục:
Tôi có viết một đầu sách có tựa đề “Văn chương và đời sống”. Không phải vô tình mà tôi lại xuất bản quyển sách này với nội dung trình bày khái quát “Quá trình lịch sử” của Văn Chương bởi nếu các bạn chú ý, các bạn sẽ thấy rất rõ tầm quan trọng của Văn Chương:
1. Việt Nam, với gần 2000 năm phong kiến đã duy trì và bảo tồn rất tốt nền đạo đức – nền tảng cơ bản nhất duy trì hạnh phúc gia đình, truyền thống quốc gia.
2. Yếu tố tiên quyết quyết định đội ngũ đứng đầu quốc gia luôn là người thấu đáo đạo lý và đã là người thấu đáo đạo lý thì ắt nhiên họ sẽ luôn “hay chữ”.
3. Người đứng đầu quốc gia mà không hành xử theo đạo lý thì chắc chắn quốc gia trong giai đoạn ấy sẽ không tồn tại được lâu: Hoặc bị
ngoại bang xâm lấn, hoặc sẽ bị nội thần phế truất.
4. Chìa khóa để giáo dục đạo đức sống theo đạo lý chính là Văn Chương mang nội dung của đạo lý.
Như vậy, thực tế Việt Nam ta từ sau khi thống nhất đất nước thì sao?
Thật đáng tiếc khi chúng ta đã hiểu sai và đi chệch hướng giáo dục của Bác Hồ mà hậu quả là thế hệ con cháu chúng ta phải gánh chịu. Chúng trở thành những kẻ bần cùng hay nghèo nàn về vốn sống do sự chối bỏ đầu tư vào sự nghiệp trồng người để đến khi sự việc trở nên quá đà, ta mới giật mình tự hỏi tại sao? Tại sao đạo đức lại suy đồi đến thế trong khi chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp lắm cơ mà? Một chủ nghĩa xã hội đánh đổ 1000 năm phong kiến, 100 năm đô hộ giặc Tây cơ mà! Đánh đổ cái cũ để xây dựng cái mới tốt đẹp hơn nhưng sao nó lại trở nên như thế này: Con mắng cha, vợ mắng chồng, anh em mắng nhau, học sinh kéo bè, kéo cánh đánh nhau và đánh cả “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”(a) của chúng. Mọi người đạp đổ nhau vì tiền, quyền lực bất chấp thủ đoạn. Thiếu nữ mà cứ như con trai với quan niệm bình đẳng. Hiểu như thế nào về bình đẳng: Đó là sự công bằng trong ứng xử chứ nào phải đâu là giống nhau. Lại thêm một sự ngộ nhận. Con trai thì cứ như du đãng, ... “Trai tài gái sắc” lại được hiểu là trai cứ có tiền là gái đẹp sẽ theo. Đâu phải vậy! “Tài” là tài năng đức độ. “Sắc” chỉ người phụ nữ có nét đẹp tâm hồn, nét đẹp đức hạnh. Lại là câu hỏi tại sao vậy? Câu hỏi ấy cứ lởn vởn trong đầu của những ai quan tâm thời cuộc khi mà dưới thời phong kiến hay thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đầy rẫy những yểu điệu thục nữ làm cho các trai làng ngẩn ngơ thì ngày nay tìm một “yểu điệu thục nữ” như thế chẳng khác nào mò kim đáy bể. Chỉ mới có 35 năm thôi mà sao thay đổi nhanh quá, nhanh đến mức làm cho ta ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng hơn cả là những “quân tử hảo cầu” giờ đây đã lột xác thành những “sở khanh” với vô vàn thủ đoạn tinh vi. Ta có thể thấy:
1.Dưới chế độ phong kiến: Người đàn ông muốn quan hệ với phụ nữ phải hoặc cưới về làm vợ, làm thiếp hoặc bỏ tiền ra mà vào lầu xanh. Hành động ấy là xấu nhưng dẫu sao cũng được gọi là quang minh, chính đại. Tài chính luôn được sử dụng như một công cụ ngăn cản cái được gọi là một trong những “thói hư tật xấu” của đàn ông. Người phụ nữ luôn được coi trọng bởi giá trị “đức hạnh” truyền thống – điều thiết yếu tạo nên “nét đẹp” của họ và việc trau dồi đức hạnh là việc làm mà họ phải luôn chú tâm rèn luyện mỗi ngày. Chẳng những thế, những người đàn ông dưới chế độ phong kiến lại luôn đóng vai trò là những “cây tùng, cây bách” hay “trụ cột gia đình” bảo vệ những người phụ nữ là vợ, chị, em, người thân hay người yêu của họ. Nếu như một người phụ nữ “không chồng mà chửa mới ngoa” thì lập tức “tác giả của bào thai” phải cưới ngay mà không có cơ hội giở trò “sở khanh” vì mục tiêu bảo vệ “nếp nhà”. Luật lệ không thành văn này cũng có tác dụng ngăn cản cái được gọi là một trong những “thói hư tật xấu” của đàn ông và buộc đàn ông phải sống tốt hơn, phải có trách nhiệm với hành động của mình. Ngược lại, họ sẽ gặp phải sự “dạy dỗ” của những “cây tùng, cây bách” hay “trụ cột” của cô gái và khó bề yên thân trước sự khinh bỉ, rẻ rúng của lệ làng. Nói tóm lại, dưới chế độ phong kiến giá trị đạo đức luôn được coi trọng và điều đó giải thích tại sao “nhân tài nước Việt thời nào cũng có”.
2.Dưới ánh sáng soi đường của Cách mạng Hồ Chí Minh: Việt Nam ta đạp đổ cái xấu của chế độ phong kiến: Chế độ đa thê, lầu xanh. Nam nữ bình đẳng: một vợ, một chồng và nhờ đó trật tự xã hội được thiết lập. Trai lo việc nước, nữ đảm việc nhà. Xã hội ấy mới tốt đẹp làm sao!
3.Chủ nghĩa xã hội ngày nay: “Phụ nữ có quyền được sinh con và nuôi con” trong khi một mình phụ nữ thì không thể có con được. Điều này đồng nghĩa với việc đàn ông tha hồ quan hệ với phụ nữ mà không cần phải cưới cũng không cần phải có tiền để vào quán bia ôm hay nhà nghỉ trá hình mà chỉ cần trang bị một công cụ gọi là “thủ đoạn dụ gái”. Thủ đoạn này vô cùng tinh vi và được gầy dựng hết sức công phu thông qua sự khai thác, lợi dụng những chính sách cải cách hay những yếu tố vô tình của chính phủ:
- Giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên ở tuổi dậy thì: Chúng sẽ kích thích sự tò mò và khơi gợi ham muốn nơi các bé gái bên cạnh sự xuyên tạc việc xem nhẹ giá trị “đức hạnh” và “trinh tiết”.
- Ca ngợi một Thúy Kiều “trèo tường thăm Kim trọng” mà không nhận ra khía cạnh “mê trai” và nhẹ dạ: Mới gặp Kim Trọng một lần đã tương tư. Mới gặp Sở Khanh một lần đã trốn theo. Biết Thúc Sinh đã có vợ mà vẫn cố “giựt chồng” người ta. Lóa mắt trước sự “hối lộ” bằng vật chất của Hồ Tôn Hiến mà tin ngay những gì hắn nói. Lanh chanh tham gia chính sự của Từ Hải trong khi không có chút kinh nghiệm chiến trường...
- Những bộ phim ca ngợi những người phụ nữ “không chồng mà chửa …”(a) và bào chữa cho những hành động của họ là “thương hơn là trách”
- Báo chí đưa tin việc “ăn cơm trước kẻng” chẳng khác gì “không chồng mà chửa hóa ra chuyện thường”
- Chủ đề “sống thử” được đưa ra. Một lối sống mà đàn ông luôn trong tư thế hưởng lợi và không hề bị thiệt thòi trong khi người phụ nữ sống thử là đồng nghĩa với mất trinh, mất đi “đức hạnh”. Nếu như uống thuốc ngừa thai sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, mặt nám ... Nếu như có bầu phải nạo thai thì chẳng những tổn hại sức khỏe ảnh hưởng đến khả năng sinh nở sau này mà còn hứng chịu nhục nhã từ dư luận. Bằng như sinh con thì lại phải lao vào kiếm tiền bằng mọi giá: Lầm đường chất chồng lạc lối. “Sống thử” nếu thành công thì giá trị người phụ nữ cũng bị xem nhẹ và nguy cơ bị chồng bỏ rơi cũng rất cao vì bản chất đàn ông là “tham lam” trong khi “sống thử” là không đăng ký kết hôn lại chẳng mang bất cứ yếu tố nào ràng buộc họ phải chung thủy cho dù pháp luật vẫn quy định một vợ một chồng. Tức họ sẽ có cơ hội có vợ thứ 2 mà không bị pháp luật cấm đoán thì tội gì họ không tận dụng cơ hội ấy mà nền giáo dục của ta dạy đạo lý được bao nhiêu để họ biết sống theo đạo lý chứ. “Sống thử” nếu thất bại thì rất khó cho người phụ nữ có cơ hội làm lại cuộc đời vì tìm đâu ra người đàn ông đủ cao thượng giữa một xã hội hiện đại chỉ xem trọng giá trị vật chất.
Những người đàn ông thừa tiền thiếu đức nếu như chấm cô nào thì hoặc dùng tiền dụ dỗ, hoặc đe dọa, hoặc tinh vi hơn là làm mọi cách cho gia đình cô gái tán gia bại sản rồi mới giở chiêu “anh hùng cứu mỹ nhân” mà Thúy Kiều là hình ảnh hữu hiệu nhất của việc “bán mình chuộc cha” để cô gái vì muốn được ca ngợi như Thúy Kiều mà tự nguyện trở thành người tình hờ.
Vô tình, cách tuyên truyền hiện nay đã xóa bỏ ý thức về sự “đức hạnh” của người phụ nữ. Xã hội trở nên hỗn loạn cảnh “chồng lo chơi gái, vợ lo bạc bài hay vợ lo muộn phiền”. Đối với phụ nữ, chữ trinh không còn quan trọng như trước nữa nhưng đối với đàn ông thì nghịch lý lại xảy ra: Gái còn trinh bao giờ cũng đắt giá hơn gái mất trinh và họ luôn muốn cưới vợ “đức hạnh” trong khi họ lại là thủ phạm làm “hư” phụ nữ. Còn phụ nữ “đức hạnh” thì họ chả bao giờ chấp nhận loại đàn ông phá hoại đức hạnh phụ nữ bởi “Nồi nào úp vung nấy”(a). Thế nên, để thuyết phục những phụ nữ đức hạnh chấp nhận họ, đàn ông “thiếu đức” ấy quay sang ca ngợi lòng “bao dung” của phụ nữ trên cơ sở đánh vào điểm yếu của phụ nữ là thích được khen và “yêu bằng tai”. Thế nhưng, sự “bao dung” ở đây lại đồng nghĩa với “chịu đựng”. Họ chịu đựng sự tức tối, dằn vặt bản thân mỗi khi ngủ bên chồng thì hình ảnh người chồng của mình đang chăn gối với người phụ nữ khác lại xuất hiện. Họ có muốn những hình ảnh đó không xuất hiện cũng không được vì nó nằm trong miền ký ức của họ, nằm trong cảm xúc của họ mà cảm xúc thì có sẵn do con người tìm thấy tuân theo quy luật tự nhiên mà con người không thể tạo ra nó được. Cũng như đàn ông, họ có thể điều khiển bản thân để ngủ với gái điếm nhưng họ không sao ngăn được cảm xúc khinh bỉ gái điếm được. Cho nên đàn ông họ không thể chấp nhận lấy một người phụ nữ mất trinh làm vợ cũng vì lẽ họ sợ những hình ảnh ăn nằm của vợ họ xuất hiện một cách không thể kiểm soát trong đầu họ. Tình yêu càng nồng thắm thì tần số xuất hiện những hình ảnh ấy càng cao. Người đàn ông không chấp nhận nên họ chọn người phụ khác nhưng người phụ nữ không chấp nhận lại dễ bị siêu lòng trước những lời ngon ngọt của đàn ông vì lập trường của phụ nữ thường không vững vàng. Kết quả là họ - những người phụ nữ đã không có được niềm hạnh phúc trọn vẹn. Sức sống của họ bị bào mòn. Họ quay sang sống vì con, vì gia đình. Người chồng thì đương nhiên cảm nhận được sự “thiếu lửa” trong chuyện phòng the (làm sao phụ nữ có thể “nhiệt tình” được một khi tâm lý không thoải mái, bị ức chế bởi những hình ảnh xuất phát từ lối sống buông thả của chồng) và cảm giác chán, trống vắng từ hai phía xuất hiện. Để khỏa lấp, họ đi tìm kiếm sự mới lạ và bắt đầu ăn vụng. Phụ nữ lại rất nhạy bén trong chuyện này nhưng vì hai tiếng “bao dung”, vì gia đình họ lại phải chịu đựng. Vô tình nền giáo dục của chủ xã hội đẩy người phụ nữ đức hạnh thành bất hạnh và rơi vào trạng thái của hạnh phúc giả tạo vì với bản chất đức hạnh họ không thể làm chuyện “ăn nem” được.
Than ôi! Thân phận người phụ nữ ngày nay sao mà tội nghiệp quá. Họ làm vợ chính thì bất hạnh. Họ không được làm vợ cho dù là vợ lẻ như dưới chế độ phong kiến. Họ không có lấy đồng xu dẫu rằng phải trao thân tại nơi không được trang hoàng đẹp như lầu xanh. Gia đình chỉ đạt đến hạnh phúc khi có sự hiện hiện của vợ, chồng và con cái. Nhưng gia đình ấy ngày càng trở nên khó tìm quá.
Xin đừng! Các bạn nữ ơi! Xin đừng nhận cái quyền “được sinh con và nuôi con” ấy vì bạn sẽ phải sống gục đầu suốt quãng đời còn lại trước sự coi thường của xã hội, sự mặc cảm của bản thân không được như những phụ nữ hạnh phúc khác (nhìn bên ngoài) bên chồng con. Nếu bạn cho
rằng xã hội này không còn chuyện khinh bỉ những phụ nữ “không chồng mà chửa mới ngoa”(a) thì bạn đã lầm. Bạn hãy nhìn đi, diễn viên điện ảnh Kim Thư sau khi đóng xong phim Võ Lâm Truyền Kỳ thì bỗng nhiên có bầu và sanh con. Nếu như xã hội không khinh bỉ thì tại sao cô ta lại phải sang Mỹ sanh con để “tránh dư luận” theo như cô phát biểu? Nếu như xã hội không khinh bỉ thì tại sao một ca sĩ, người mẫu Hồ Ngọc Hà phải tốn nhiều giấy mực của báo chí để giải thích tác giả cái bào thai của mình là ai?
Xin đừng! Các bạn nữ ơi! Xin đừng nhận cái quyền “được sinh con và nuôi con” ấy. Chúng ta không chồng, không con thì chúng ta vẫn có thể ngẩng cao đầu mà sống trong niềm hạnh phúc chờ đợi một tình yêu đẹp từ một “hoàng tử Sơn Ca” theo đúng với tên gọi ấy. “Trong tình yêu, đợi chờ là hạnh phúc” mà! Đàn ông thiếu đức nếu không thuyết phục được phụ nữ đức hạnh họ sẽ dần dần nhận ra cái sai của họ mà sống tốt hơn theo gương Hồ Chủ Tịch vĩ đại mà ngày nay Đảng và nhà nước đang phát động phong trào ấy. Tư cách đạo đức của Bác Hồ luôn sáng ngời cả trong việc yêu đương trai gái. Chúng ta bao dung là chấp nhận cái sai, là chấp nhận sự bất công. Không! Chúng ta phải dũng cảm lên! Chúng ta phải đấu tranh vì một chủ nghĩa xã hội tốt đẹp trên mọi phương diện. Phong kiến phương Bắc đặt nền thống trị tại Việt Nam xưa đã mang theo cả chế độ đa thê mà tổ tiên ta chưa hề có từ thời Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh – Mỵ Nương. Hãy lật trang sử vàng của dân tộc ta đi, các bạn sẽ thấy điều đó được chứng minh qua lịch sử không thể chối cãi. Chúng ta không học theo Võ Tắc Thiên đấu tranh cho sự công bằng bằng việc tròng thêm bất công khác vào người mà chúng ta hãy học theo một Triệu Thị Trinh không chịu là tỳ thiếp người. Hãy học theo Trưng Trắc yêu thương một người chồng tốt cùng lý tưởng sống hết mực và học theo một Kiều Nguyệt Nga giữ trọn thủy chung thà liều chết để giữ gìn phẩm giá chứ không hiến thân mình cho bọn giặc Ô-Qua. Đời người, ai chẳng có một lần chết nên không cần thiết phải “bán mình chuộc cha” như Thúy Kiều mà hãy “liều mình theo cha” mới xứng bậc nữ lưu vừa trọn hiếu con ngoan vừa trọn tình chung thủy.
Xin đừng nhận cái quyền “được sinh con và nuôi con” ấy! Vì chúng ta vẫn có thể sống mà không cần có con. Các bạn hãy nhìn xem, có bao bậc cha mẹ giờ đây vẫn phải sống thui thủi một mình dầu cũng đã có con cái đề huề. Chúng có gia đình riêng và muốn sống riêng. Chúng ta hãy dành dụm tiền để phòng thân khi ốm đau để thuê người chăm sóc (dịch vụ này đang phát triển ở Việt Nam). Chúng ta hãy làm việc mà chúng ta yêu thích và sống yêu đời, hài lòng với lối sống mình hiện có, hòa nhập với xã hội, ... Chúng ta sẽ thấy cuộc sống này đẹp biết bao nếu như chúng ta “biết sống”. Hãy cân nhắc xem giữa cuộc sống hôn nhân chịu đựng và cuộc sống độc thân thoải mái, cái nào đang bị trần truồng đau khổ và cái nào đang khoác áo hạnh phúc?
Xin đừng nhận cái quyền “được sinh con và nuôi con” ấy! Khi xưa, vua Tự Đức ban lệnh triệt binh trong bối cảnh bị thực dân Pháp xâm lăng. Toàn dân ta có ai chịu nghe đâu. Luật ban ra phải bảo vệ nhân dân, vì quyền lợi của nhân dân chứ không phải luật đưa ra để phục vụ lợi ích của “một số đối tượng xã hội”. Thật nực cười khi “đối tượng xã hội” ấy nếu như trong xã hội phong kiến đường hoàng công khai bao nhiêu thì trong xã hội ngày nay họ lại phải “lén lén lút lút” bấy nhiêu. Họ không dám công khai vì họ sợ đánh rơi mặt nạ của họ trên bước đường “sĩ diện với đời”. Nếu họ là trai chưa vợ thì làm sao họ có được một đức hạnh phu nhân. Nếu họ là trai có vợ thì làm sao họ giữ được “lửa hạnh phúc” để mà hãnh diện với đời trên phương diện gia đình hạnh phúc. Trớ trêu thay, người phải hứng chịu mọi hậu quả đó không ai khác lại là phụ nữ. Một mình phụ nữ không thể nào tự tạo ra mầm sống mới. Thế nhưng đàn ông – kẻ góp phần tạo ra mầm sống mới đã chẳng những không hề bị lên án mà còn được pháp luật gián tiếp thừa nhận và đã ngang nhiên rũ bỏ mầm sống ấy mà không hề cảm thấy lương tâm bị cắn rứt bởi họ đã có lá chắn là đã hành động không sai pháp luật. Mỉa mai thay khi mà cái quyền ấy lại chỉ toàn đem lại cho phụ nữ sự đau đớn khi sinh nở, sự dè bỉu của xã hội, sự vất vả kiếm tiền nuôi con, sự ngu muội tít mắt trước những lời nịnh bợ “thiên chức làm mẹ”, “người mẹ là hiện thân của sự hy sinh và đức bao dung”, ... Đúng là phụ nữ có thiên chức làm mẹ, làm vợ nếu như họ có được người chồng “trai tài” mà họ ngưỡng mộ, tôn thờ. Họ sẽ có được niềm hạnh phúc sinh cho chồng đứa con với tư cách là kết quả tình yêu. Họ sẽ có niềm hạnh phúc chăm sóc nhà cửa, nấu những món ăn ngon mà chồng ưa thích phục vụ chồng. Họ sẽ có niềm hạnh phúc được nhìn ngắm chồng mình ăn những món ăn do mình nấu. Họ sẽ có niềm hạnh phúc hy sinh sự nghiệp riêng mình để vui với sự nghiệp của chồng. Họ sẽ có niềm hạnh phúc bao dung những khi chồng đi làm về trễ vì công việc hay quên ngày sinh nhật của họ, không giành thời gian cho họ, không phụ họ nuôi dạy con cái, ... Họ sẽ có niềm hạnh phúc đứng trước cổng đón chồng về nhà sau những giờ làm việc căng thẳng, ... và họ sẽ có niềm hạnh phúc khi được ôm gọn trong vòng tay yêu thương của chồng. Nhưng, bao dung trong “tình yêu” là đồng nghĩa với giết chết cảm xúc, giết chết tình yêu và giết chết hạnh phúc. “Thiên chức làm mẹ” để phải lủi thủi sống trong xót xa, cô đơn, mệt mỏi thì liệu sống để làm gì? Đúng là trước đây phụ nữ luôn bao dung và hy sinh theo đúng nghĩa của nó. Bạn có biết trước đây họ hy sinh và bao dung cho ai không? Thường thì người vợ luôn yếu đuối nên cách họ thương con là luôn ôm ấp, vỗ về con và khi không bảo được con, họ bảo: Con không nghe lời, mẹ méc ba cho coi! Điều đó nói lên điều gì? Không có cha thì rất khó dạy con bởi người cha luôn cứng rắn, nghiêm nghị: “Chẳng mang sắc giận, đánh roi
Ấy mà thiên hạ nhất lời phục tuân”(c)
Người cha lo việc nước, lo sự nghiệp và đóng vai trò nhạc trưởng trong gia đình góp phần tạo dựng một xã hội lành mạnh, tốt đẹp nên bao dung và hy sinh cho họ là việc chính nghĩa nên làm và phải làm đem lại cho người phụ nữ, người vợ niềm tự hào, hạnh phúc. Ngày nay, bao dung và hy sinh cho lũ đàn ông không phải là chồng chỉ chuyên dùng thủ đoạn để hưởng thụ thì thật là hành động vô cùng ngu ngốc, đáng xấu hổ và vô ích. Chẳng ai khen ngợi một phụ nữ “không chồng mà chửa” để rồi cực khổ nuôi con khôn lớn trong muộn phiền nếu con hư hỏng và nếu như con nên người thì đùng một cái, kẻ lảnh tránh trách nhiệm lẩn trốn bao năm xuất hiện nhận làm cha mà không hề biết đến hai từ “hổ thẹn”. Nói như thế thì những kẻ thừa tiền sẵn sàng ném tiền ra chu cấp việc nuôi con và những kẻ thừa quyền có khả năng ban cho phụ nữ việc làm trên cơ sở lợi dụng chức vụ để phụ nữ có thể kiếm tiền nuôi con lại có cớ biện minh cho hành động đa thê của mình hay sao? Xin thưa rằng không! Vì sao ư? Vì điều đó tạo ra sự bất công trong xã hội, tạo ra những người phụ nữ với tư tưởng “sinh con để sống nhờ con, để kiếm sống” và người con sẽ trở thành vật bị lợi dụng. Phụ nữ có việc làm không dựa trên năng lực thực sự sẽ trở thành sự bất công cho những doanh nghiệp hay nói đúng hơn là họ đang ăn bám doanh nghiệp và như thế thì học làm gì khi mà không cần học, chỉ cần làm gái bao là sẽ có việc làm. Điều này cũng đồng nghĩa với việc xem nhẹ tài năng, xem nhẹ nỗ lực phấn đấu vươn lên hay chính xác hơn là kìm hãm sự phát triển xã hội. Bản thân những phụ nữ này lại tự đẩy lùi họ về giai đoạn mà “phụ nữ bị xem như là những chiếc máy đẻ, những cái máy tiêu khiển của đàn ông” một cách vô thức không hơn không kém.
Thế đấy, có ai nhận quyền mà lại chịu nhiều thiệt thòi như thế? Nhận cái quyền ấy để cho bọn đàn ông là “đối tượng xã hội” ngang nhiên có thêm quyền chiếm đoạt phụ nữ bất chấp thủ đoạn ư?
Thật chua xót khi những phụ nữ vì hoàn cảnh phải từ bỏ mầm sống nhỏ nhoi thì bị lên án nhẫn tâm trong khi những kẻ tạo ra mầm sống ấy lại ung dung tự tại, được xã hội thừa nhận và không hề cảm thấy lương tâm bị cắn rứt tý nào. Điều mà dưới chế độ phong kiến hầu như không có.
Thật nực cười và đạo lý mới công bằng làm sao khi những người đàn ông thuộc “đối tượng xã hội” ấy, những kẻ đã hành xử như thế và luôn tự cho rằng họ khôn ngoan hay nói đúng hơn là họ đã ngu muôi ngộ nhận giữa sự khôn ngoan và thói ích kỷ, lừa phỉnh phụ nữ để thỏa mãn dục vọng thì ngay lập tức đạo lý khép họ vào tội đam mê sắc dục, họ tạo ra mầm sống và bỏ rơi thì đạo lý giành cho họ sự khinh bỉ vì là hiện thân của thói hư tật xấu, của cái ác và chính họ đã tạo cơ hội cho phụ nữ được đạo lý tôn vinh đức hy sinh cao cả của những người làm mẹ. Họ là thành viên trong gia đình nhưng chỉ biết kiếm tiền để thỏa mãn bản thân là sự khẳng định của sự vô trách nhiệm và những người mẹ lại một lần nữa được tôn vinh ở sự đảm đang, chịu thương, chịu khó, đầy tài năng trong việc nuôi dạy con cái trưởng thành. Họ lười lao động và đòi hỏi sự thương yêu, hy sinh của vợ càng làm cho phụ nữ trở nên vĩ đại xuất phát từ một tình yêu đẹp không bờ bến, không so đo tính toán xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ trao tặng “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” và hàng ngàn sự kiện khác ca ngợi phụ nữ: Bảo tàng phụ nữ, quốc tế phụ nữ, phụ nữ Việt Nam, ... hàng triệu lời hay ý đẹp dành cho phụ nữ: phụ nữ là hiện thân của cái đẹp, người giỏi hy sinh nhất trên đời không ai khác ngoài phụ nữ, sự thông minh của phụ nữ nằm trong nét đẹp của họ, không có phụ nữ thì không có sự sáng tạo, ... mà lịch sử lại là vị quan tòa công bằng nhất. Đồng thời, họ - những người đàn ông thuộc “đối tượng xã hội” ấy lại tự vạch mặt bản thân mình là kẻ bất tài vô dụng, vụ lợi và vị trí của họ trong gia đình chẳng khác gì một đồ vật hay một con vật không hơn không kém. Tự ái với sự thật được phơi bày và với bản tính ích kỷ cố hũ, họ đã cố vùng lên đòi hỏi được ngưỡng mộ, được tôn vinh như phụ nữ nhưng họ lại không hiểu ra chân lý là muốn được người khác tôn vinh thì phải biết sống phục vụ cho lợi ích của mọi người (nhà khoa học đưa ra phát minh mới mà nhờ đó mà xã hội phát triển, đời sống con người trở nên tốt hơn, các chính trị gia giúp lãnh đạo xã hội phát triển, đảm bảo đời sống nhân dân, phụ nữ chăm lo cho gia đình, cho chồng con, ...) và để có thể phục vụ thì anh phải nỗ lực làm việc không phải cho bản thân anh mà là cho người khác tức anh phải hy sinh quyền lợi bản thân, phải thậm chí chịu thiệt thòi và bởi vì ích kỷ nên họ - những người đàn ông thuộc “đối tượng xã hội” - lại không chịu thiệt thòi. Thế nên, cuối cùng họ lại cứ loay hoay trong cái vòng lẩn quẩn do chính họ tự vẽ ra, tự đi vào đó để rồi bế tắt. Cuộc sống của họ trở nên vô nghĩa không xác định được đạo lý và họ nổi loạn, họ bạo lực buộc người khác khuất phục. Càng bạo lực họ càng trông giống như những con thú hơn là những con người. Cái họ nhận được không gì khác hơn là sự khinh bỉ. Chất thú ấy lại càng lồng lộn hơn khi họ quay sang lôi kéo đồng loại trong một lối sống vô đạo đức mà ngày nay xã hội ta đang gióng chuông kêu cứu.
Như thế thì vấn đề đạo đức lại được đặt ra khi mà nhan nhản chữ “đức” được viết thư pháp rất đẹp và được bày bán khắp nơi?
Luật được xây dựng trên cơ sở đạo lý. Nếu luật không phù hợp đạo lý thì luật chẳng khác gì một tờ giấy lộn. Vậy thì, các bạn ơi! Đừng để bị bịt mắt, đừng để bị mắc lừa mà hãy tỉnh táo mà nhớ rằng “chữ trinh đáng giá ngàn vàng”(a) và “ăn cơm trước kẻng” là đồng nghĩa với “bất hạnh tương lai”.
Câu hỏi dường như không có lời đáp: “Tại sao vậy?” lại vang lên. Chúng ta hãy cùng nhau xách vũ khí “lịch sử” (tấm gương hiện thực mà không một ai có thể chối cãi) để đi tìm đáp án nhé!
Tôi tình cờ có cơ hội tiếp chuyện với một vị lớn tuổi người miền Trung rất giỏi tiếng Hán và thuộc lớp người xưa. Ông đã bảo tôi rằng: Nền giáo dục của ta đừng nên dạy 5 điều Bác Hồ dạy trong nhà trường vì như thế là dạy cho chúng toàn điều tốt. Sau này lớn lên, chúng vỡ lẽ ra cuộc đời không tốt như chúng tưởng sẽ làm cho chúng có cảm giác bị lừa và chúng sẽ phản ứng lại dữ dội. Năm điều Bác Hồ dạy là:
1. Yêu Tổ quốc! Yêu đồng bào!
2. Học tập tốt! Lao động tốt!
3. Đoàn kết tốt! Kỷ luật tốt!
4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt!
5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm!
Những điều Bác dạy mới hay làm sao! Mới đúng làm sao! Có gì là không đúng, là lừa dối đâu? Những điều Bác dạy dạy chúng ta trở thành người tốt. Nếu sau này gặp người không tốt chúng ta vẫn có niềm tin vào điều tốt đẹp mà dũng cảm đấu tranh vì cái đẹp, cái tốt đồng thời cảm hóa những người không tốt trở thành người tốt. Nếu như mọi người ai cũng ý thức được việc trở thành người tốt thì tự họ sẽ nhận diện người không tốt và giúp nhà nước trong việc giáo dục người không tốt và như thế có gì gọi là bị lừa đâu? Nếu ta cho rằng chúng bị lừa thì hóa ra những điều Bác dạy là không có thật? Hóa ra xã hội đầy rẫy những bất công và để cho trẻ nhỏ không bị lừa thì tốt hơn hết nên dạy chúng là xã hội này xấu lắm, chỉ toàn người xấu thôi và phải biết chấp nhận nó thôi! Liệu có mâu thuẫn không nếu như chúng ta dạy trẻ nhỏ tập chấp nhận cái xấu thì tại sao trước đây chúng ta đánh Pháp, đuổi Mỹ làm gì? Chúng là kẻ xấu, kẻ bất công mà! Sao ta không chấp nhận chúng mà phải đấu tranh “sùng sục” làm gì? Nói chi xa xôi mà ngay trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam ta chẳng hạn, nhà nước ta đang phát động toàn dân đấu tranh chống tham nhũng. Tại sao phải chống tham nhũng? Đó là chúng ta muốn xóa bỏ sự bất công nảy sinh từ việc số tiền của toàn dân đóng góp để phát triển đất nước bị rơi vào túi của một hay nhóm người nào đó tức sức lao động của toàn xã hội đã bị cướp giữa ban ngày. Nếu như chấp nhận cái xấu thì tại sao công an lại bỏ nhiều công sức điều tra và bắt xử lý bọn tham nhũng làm gì mà không chấp nhận nó? Thế đấy, ngay cả một bậc “trưởng lão” mà cũng bị lối suy nghĩ của giới trẻ ngày nay tác động làm sai lệch tư tưởng thì mới thấy tầm quan trọng của giáo dục là như thế nào!
Xã hội hiện thực sẽ được phản ánh trong tấm gương lịch sử và đời sống nhân dân sẽ chứng minh đức độ tài năng của tầng lớp lãnh đạo. Vậy thì, đạo đức trong xã hội chúng ta đang gióng lên hồi chuông kêu cứu là phản ánh sự lãnh đạo của nhà nước chúng ta đang có vấn đề trong giáo dục. Nhà nước Việt Nam ra đời vào năm 1945 với đội ngũ nòng cốt là những người nông dân cầm cày hay những người làm công cho địa chủ, tư sản bị bất công đã chuyển sang cầm súng đấu tranh giành độc lập dân tộc. Những người này từ bé đến lớn chỉ quen bị người khác sai bảo, chỉ quen đi làm thuê kiếm sống trong hoàn cảnh thường xuyên chịu đói khổ. Họ không quen lãnh đạo người khác cũng không biết kinh doanh. Việc duy nhất mà họ thạo là đánh giặc. Khi họ giành được chính quyền, họ sung sướng chen lẫn âu lo. Họ lo là đùng một cái họ phải lãnh nhiệm vụ quản lý và vận hành không phải cái nhà của gia đình họ cũng không phải cái công ty bậc trung, bậc đại mà là một “cái quốc gia” to gấp mấy lần cái nhà của họ mà từ bé đến lớn chật vật lắm họ mới có được từ thời cha ông để lại. Sự kiện này giống như một người quen đi bộ phải ngồi trên buồng lái máy bay chở khách du lịch là nhân dân cũng tương đối giống như họ (ba nhiệm vụ cấp thiết đặt ra trong giai đoạn ấy là chống giặc dốt, giặc đói và giặc ngoại xâm). Cái quốc gia mà những người cộng sản phải nhảy vào vừa trồi sụp vật lộn với sự sống vừa phải học bơi và vừa phải xây hồ bơi ấy đã bị tàn phá gần như đổ nát sau cuộc giành giật từ ngoại bang. Hậu quả của quá trình bị bóc lột là cái đói đe dọa trong khi đồng ruộng bị giày xéo không thể cày cấy bên cạnh thiên tai hoành hành, kho bạc thì gần như rỗng tuếch, dân chúng thì mù chữ (90%) và nền độc lập chưa được quốc tế công nhận.
Khâm phục thay những người cộng sản vì họ đã làm được điều kỳ diệu là chẳng những họ đã tự biết bơi vượt qua những khó khăn đó mà họ còn tái tạo lịch sử của những năm 1287 đánh thắng kẻ thù mạnh nhất thế giới Nguyên Mông trong việc đánh đuổi thành công đế quốc Mỹ - cũng là kẻ mạnh nhất thế giới - thống nhất đất nước năm 1975, cơ bản đẩy lùi giặc ngoại xâm, bắt tay xây dựng và phát triển đất nước. Họ đã làm được điều mà Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết không làm nổi dẫu rằng Liên Xô là cái nôi của Cộng Sản. Chính vì những người cộng sản ấy xuất thân từ tầng lớp vô sản (không có tài sản, tức nghèo) và không được ăn học một cách quy củ: cửa Khổng, sân Trình mà chủ yếu là chỉ được học chủ nghĩa Mác – Lê nin và tự học là chính. Trong quá trình giao thương quốc tế, họ nhìn thấy bạn bè quốc tế mới giàu có làm sao! Cứ tưởng tượng là từ bé đến lớn ta chưa hề bước chân vào nhà lầu với đầy đủ tiện nghi trang trí nội thất thì khi được trải nghiệm, chúng ta có thích không? Quá thích là đằng khác! Tâm lý mà! Thế nên, những người cộng sản, với ý thức tự lập tự cường luôn muốn vươn lên để sánh kịp các nước năm châu đã đặt mục tiêu chẳng những thoát nghèo mà còn phải giàu mạnh là đằng khác. Tiền trở thành mục tiêu chính và dần dần tiền đã đẩy những người cộng sản đi chệch con đường giáo dục đã được định hướng trước đây mà bản thân họ cũng không hề hay biết. Để có tiền thì phải có việc làm. Do đó, họ đã ra sức đào tạo mọi nghề có thể kiếm ra tiền dễ nhất, nhanh nhất và nhiều nhất. Người người kiếm tiền. Nhà nhà kiếm tiền và trở thành nô lệ đồng tiền lúc nào không hay. Đến khi tên chủ nô lệ mang tên “tiền” ấy cư xử quá bất công với những nô lệ của chúng thì những người cộng sản mới chợt giật mình đi tìm nguyên nhân.
Chúng ta phân tích nguyên nhân không phải để quy trách nhiệm cho bất cứ ai mà là để hiểu rõ “kẻ thù” đang gặm nhấm, hủy hoại dần lối sống của xã hội chúng ta. “Muốn đánh thắng địch, trước tiên phải hiểu rõ địch”. Hiểu rồi, chúng ta sẽ cảm thông cho những nhà lãnh đạo của chúng ta bởi “cái khó bó cái khôn” (a). Khi bạn nghèo, bạn sẽ muốn được giàu mà cuộc đời thì đầy rẫy những cạm bẫy. Một khi cái khôn đã bị cái nghèo khó bó lại thì làm sao có thể lường trước được những tác hại có thể xảy đến trong tương lai. Hệ quả này đâu chỉ chỉ xảy ra tại Việt Nam mà là hầu hết các nước khác trên thế giới. Chúng ta hiểu rồi thì chúng ta sẽ và phải hành động. Phải cải tổ lại cơ cấu giảng dạy. Phải đưa văn chương vào giảng dạy cho học sinh, sinh viên. Với từng ấy năm từ học sinh cho đến hết sinh viên (khoảng 23 năm) tôi rèn , thiết nghĩ nền giáo dục của ta đã trao cho con cháu chúng ta tương đối đủ vốn sống để chúng có thể sống tiếp một cuộc sống cũng tương đối tốt và với từng ấy vốn sống chúng cũng có thể “tự bơi” được với bất cứ nghề nào trong xã hội (hãy thử điều tra xem những sinh viên đã tốt nghiệp khoa ngữ văn của các trường đại học của ta xem có phải họ có thể làm bất cứ nghề nào mà không cần phải trải qua một khóa học chính quy hay không?). Một khi ngữ văn trở thành môn học chính ở tất cả các trường học rồi thì việc có hay không khoa ngữ văn tại các trường đại học không còn là việc phải băn khoăn nữa.
Vấn đề đặt ra trong bối cảnh nước ta hiện nay là phải cải tổ lại hệ thống giáo dục. Chúng ta phải xác định giữa dạy nghề và dạy đạo lý làm người, cái nào quan trọng? Và vấn đề cốt lõi ở đây phải làm cho mọi người hiểu đúng việc học. Mẹ tôi thường bảo: “Học cho ấm vào thân”(a). Quả thật vậy, chúng ta học cho có kiến thức để giúp bản thân chúng ta có khả năng đánh giá sự vật hiện tượng và đưa ra quyết định đúng đắn. Nói cách khác là học để trở nên khôn ngoan hơn trên cơ sở của đạo lý. Một người khôn ngoan sẽ phát hiện ra tài năng của mình để từ đó trao dồi và có được sự tiến bộ vượt bậc. Một người không có đạo lý sẽ nhận thức sai sự việc và toàn làm những điều sai trái. Họ sẽ trở nên vô dụng. Thế nên, việc học đạo làm người, rèn luyện ý chí, tư tưởng sống đóng vai trò chủ đạo. Bạn có một đứa con ngoan, lễ phép thì chắc chắn nó sẽ không học dốt bởi lẽ “cần cù bù thông minh” (a). Bạn sẽ có niềm hạnh phúc, niềm hãnh diện với mọi người. Ngược lại, bạn có đứa con học giỏi nhưng ngỗ nghịch và luôn cãi lại bạn sẽ đem đến cho bạn phiền muộn và xấu hổ với những người xung quanh.
Nếu như trước đây chương trình giáo dục của ông bà ta chú trọng đến việc dạy làm người thì ngày nay dường như chúng ta chỉ quan tâm đến việc dạy nghề giúp ích cho việc kiếm tiền của chúng sau này. Kết quả là con cháu chúng ta không nhận thức được đúng ý nghĩa cuộc sống hay nói đúng hơn là chúng không định hướng được “làm người” phải như thế nào? Đôi khi chúng tự hỏi chúng được sinh ra để làm gì? Và hầu hết không quan tâm hay chưa từng biết đến hai từ “đạo lý”.
Nếu là học sinh, chúng đi học hoặc vì cha mẹ bắt chúng phải học hoặc ở nhà chán quá nên đến trường để giết thời gian. Một số khác ngoan hơn thì cho rằng học cho cha mẹ vui lòng. Những đứa trẻ nghèo thì lại cho rằng học để sau này có thể đi làm kiếm nhiều tiền phụ giúp gia đình. Hóa ra là chúng cũng cố gắng đi học để có cái nghề kiếm tiền trong khi xưa kia ông bà ta đi học chủ yếu là để làm quan giúp ích cho xã hội. Muốn làm quan phải là người tài giỏi trong khi muốn có nghề kiếm tiền thì không cần phải tài giỏi. Đó là lý do tại sao ở thời ông bà ta, nhân tài nước Việt xuất chúng nhiều như thế mà nhân tài nước Việt ngày nay có được mấy người là xuất chúng.
Nền giáo dục của ta ngày nay không truyền được cho con cháu lý tưởng sống sao cho có ích cho xã hội. Chúng ta đã không trồng người mà là trồng “tiền” và những cây “tiền” ấy sẽ góp phần tạo ra một xã hội đầy tiền. Đến khi chúng ta cần người tài ra giúp nước thì cứ như mò kim đáy bể. Hãy làm một cuộc thống kê xem có một người nào được gọi là nhân tài mà lại sống một cuộc sống vô vị hay không có ý nghĩa không? Tôi xin thưa với quý vị ngay mà không cần điều tra là: Không! Điều đó nói lên điều gì? Không bao giờ tài năng xuất hiện ở một con người không có lý tưởng. Nói đúng hơn, tài năng chỉ chui vào bộ não của những ai sống có lý tưởng mà thôi. Chúng ta dạy thế hệ trẻ môn toán mà không truyền lý tưởng cho chúng thì chúng ta chỉ gặt hái được những cái máy tính. Học địa lý thì chúng biết được sông, suối, đường xá, địa danh, ... như là một la bàn chứ không tính được khi nào sẽ ngập lụt. Chúng ta dạy chúng vẽ là chúng sẽ biết vẽ nhưng liệu bức tranh chúng vẽ có thổi được cái hồn sống trong đó hay không? ... Nếu như chúng được học “đạo lý” thì chúng sẽ trở nên sống có lý tưởng và sẽ suy nghĩ khác: Học để có kiến thức và một khi hiểu thấu đáo kiến thức rồi mới có thể vận dụng ngược trở lại cuộc sống và trong quá trình vận dụng ngược trở lại cuộc sống ấy sẽ giúp chúng có cái nhìn đúng hơn về hành vi kiếm tiền. Đúng là sống thì phải có tiền nhưng người có lý tưởng sẽ biết kiếm tiền để sống chứ không phải sống để kiếm tiền mà hầu như ngày nay ai cũng sống để kiếm tiền. Họ đặt mục tiêu cuộc sống là kiếm tiền để mua xe SH. Khi có SH, họ lại đặt mục tiêu là xe hơi hay nhà đẹp và họ tiếp tục lao vào cơn lốc tiền như một con thiêu thân. Khi đạt được mục tiêu, họ vui sướng nhưng niềm vui này không kéo dài lâu bởi họ không ngừng ước muốn cho đến khi mệt mỏi ở cái tuổi gần đất xa trời không còn kiếm tiền được nữa vì lý do sức khỏe. Họ bắt đầu có thời gian rảnh rỗi và họ bắt đầu cảm thấy cô đơn vì xung quanh họ ai cũng mải lo kiếm tiền và con cháu họ cũng bước những bước đi giống như họ. Họ là những con người bình thường. Họ lo cho bản thân họ xong là coi như xong.
Ngược lại, đối với những người đang đảm trách nhiệm vụ lèo lái con thuyền quốc gia thì khác. Họ không thể “xong” được. Họ phải có người giúp họ giải quyết những khó khăn nảy sinh. Họ phải tìm thế hệ kế tục. Để thực hiện những điều này, họ - những chính trị gia - phải có những tư tưởng đúng đắn để ra những quyết định đúng đắn. Chúng ta hãy phân tích xem tư tưởng họ đang nghĩ gì?
Điều trước tiên ta hiểu là họ - những chính trị gia của thế hệ Bác Hồ chắc chắn sẽ nghĩ khác những chính trị gia của thế hệ con cháu Bác Hồ. Con cháu các chính trị gia thế hệ con cháu Bác Hồ sẽ không còn đi dép râu hay ở nhà sàn nữa. Thế hệ Bác Hồ đánh giá sự thành công bằng tài đức trong khi thế hệ con cháu Bác Hồ đánh giá thành công bằng tiền. Nhìn vào lịch sử ta sẽ thấy không có Tinh hoa đất Việt nào sáng chói nhờ tiền cả mà toàn là nhờ trí tuệ đấy chứ! Sử sách ca ngợi một Trần Nhân Tông sáng lập phái Thiền chứ không có trang sách nào ghi lại một tên địa chủ giàu có cả. Một người có tiền không hẳn tài năng nhưng người có tài chắc chắn biết kiếm tiền hoặc sẽ được người khác sử dụng tài của họ để kiếm tiền. Đất nước muốn phát triển thì phải có tiền nhưng nếu ta có nhiều nhân tài thì lo gì không hái ra tiền. Điều này cho thấy, nếu chúng ta đặt mục tiêu đào tạo nhân tài thì đồng thời chúng ta sẽ giải quyết được cả vấn đề tài chính. Vậy làm sao đào tạo nhân tài đây?
Hồ Chủ Tịch đã căn dặn: Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không tài thì làm việc gì cũng khó.
Ấy da! Việc đào tạo nhân tài đã khó rồi mà còn phải là người tài có đức nữa thì càng khó hơn.
Theo Khổng Tử thì có 5 yếu tố tạo nên đức: Nhân, trí, lễ, nghĩa, tín. Trong đó, trí chính là trí tuệ, là tài năng của một người thể hiện sự hiểu biết về sự vật và hiện tượng để từ đó có thể phán đoán và quyết định chính xác mọi vấn đề. Như vậy, trí là một trong năm điều kiện cần và đủ để một người được gọi là có đức tức đã là người có đức thì đương nhiên có tài theo sơ đồ sau:
ĐỨC = NHÂN + TRÍ + LỄ + NGHĨA + TÍN
Sơ đồ trên thể hiện: Đức trên tài một bậc.
Tại sao lại có sự khác giữa hai quan điểm về đức vậy? Theo Bác Hồ thì Đức ngang hàng với Tài. Theo Khổng Tử thì Đức trên tài một bậc. Vậy ai đúng? Ai sai đây?
Ví dụ: Một anh A chơi thân với anh B. Anh A được mọi người thương yêu vì anh ta là một người có đức. Anh B bị mọi người khinh khi vì sự vô đạo đức. Anh B cảm thấy không hài lòng và đã cố tình kết thân với anh A, rủ anh A đi chơi và tập cho anh A xài tiền, sống một cuộc sống xa hoa. Anh A: hoặc sẽ trở nên hư hỏng như anh B theo phương châm “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”(a) và dần dần anh A cũng giống như anh B bị mọi người gọi là đồ vô đạo đức nghĩa anh ta không còn được mọi người thừa nhận là người có đức nữa; Trường hợp anh A biết được ý đồ của anh B mà giữ nguyên nếp sống hiện tại nghĩa là anh A vẫn là người có đức. Việc anh A nhận ra ý đồ của anh B chứng tỏ anh A là người có tài vì nếu không có tài làm sao có thể phân tích, phán đoán và ra quyết định chính xác như vậy. Và việc anh A không phát hiện ra ý đồ của anh B chứng tỏ anh ta bất tài nên mới sa vào bẫy của anh B.
Sự việc trên có thể được tóm tắt như sau:
Đức (A) + Tài (A) = Đức (A)
Đức (A) + Không Tài (A) = Không Đức (A)
Vậy, điều kiện cần và đủ của một người có đức là phải có tài. Điều này đồng nghĩa với việc Đức trên Tài một bậc.Nhiệm vụ của chúng ta bây giờ không còn là đào tạo nhân tài nữa rồi mà là đào tạo người có đức. Sở dĩ ta đặt mục tiêu nhiệm vụ như vậy là bởi vì ta đã có sự phân tích đánh giá tác dụng của việc giáo dục đào tạo từ những kinh nghiệm gần 4000 năm lịch sử của ông cha ta và nhờ đó đã duy trì được nền đạo đức gia phong quý báu đáng trân trọng.
1. Định hướng giảng dạy: Xét sơ đồ quy luật sự sống
Sơ đồ trên nói lên điều gì? Chẳng phải khi mới chào đời chúng ta là một sinh vật sống ư? Nhưng tại sao lại bắt đầu là một người tốt chứ không phải là một người xấu? Một kẻ lưu manh luôn thượng cẳng tay, hạ cẳng chân với những người xung quanh. Một hôm, khi đang đi trên đường, với lối hung hăng cố hũ, hắn bắt mọi người phải nhường lối. Khi tay hắn giơ lên định gạt lối đi thì bỗng hình ảnh cụ già lọm khọm đang được cô gái dắt đi đập vào mắt làm hắn khựng lại. Chưa biết xử lý ra sao vì hắn chưa gặp tình huống này bao giờ thì lại bỗng nhiên một kẻ lưu manh không kém xuất hiện và bởi bị tên lưu manh thứ nhất che khuất tầm nhìn nên tên lưu manh thứ hai cứ việc ào tới xô ngã bà lão. Tiện tay đang giơ cao, tên lưu manh thứ nhất túm lấy cổ áo tên lưu manh thứ 2 và bắt hắn phải xin lỗi đồng thời đỡ bà cụ dậy theo phản ứng tự nhiên. Đến khi mọi người xung quanh nhìn hắn với ánh mắt ngưỡng mộ hắn mới phát giác ra là hắn vừa làm một điều tốt. Điều tốt ấy được hắn thực hiện một cách vô thức bởi nó đã tìm ẩn trong bản thân con người từ thuở “nhân chi sơ tính bổn thiện”(a). Cho nên, ta phải bắt đầu bằng sự sống của con người tốt. Thế rồi, qua quá trình sống, cái ác xuất hiện đã chi phối, tác động làm ảnh hưởng và nhiễu tư tưởng con người. Họ không thể nào phân biệt được giữa thiện và ác. Khi đó, “đạo lý” xuất hiện với tư cách như là một cứu cánh đóng vai trò làm nền tảng định hình cho tư tưởng con người trở thành một con người đức độ và thông qua lao động chân tay hay trí óc mà vật chất hay phát minh khoa học được tạo ra. Vật chất sẽ giúp con người duy trì sự sống còn khoa học sẽ phục vụ những con người có đức tiếp tục tạo ra của cải vật chất và khoa học và cứ như thế sự sống được tiếp diễn.
Sơ đồ này có áp dụng cho những nhà lãnh đạo được không? Xin thưa: Nó áp dụng cho mọi đối tượng. Cụ thể như sau: Bản chất của một người bình thường là một người tốt. Tư tưởng của họ được người thầy “đạo lý” tôi rèn để trở thành người đức độ. Bởi vì người đức độ luôn luôn có tài nên họ biết tạo ra vật chất dựa trên tài năng của họ, họ nghĩ ra được những ý tưởng mới trong sự nghiệp chính trị mà khoa học gọi là khoa chính trị học. Những ý tưởng mới này có giá trị như một phát minh khoa học (điển hình như các học thuyết Mác – Anghen hay Lênin). Các phát minh này đóng vai trò như một “trợ lý” đắc lực cho các nhà lãnh đạo đức độ giúp họ phán đoán và đưa ra quyết định giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong xã hội nhằm đạt mục tiêu hạnh phúc cho nhân dân cả về vật chất lẫn tinh thần theo định hướng mà người thầy đạo lý soi rọi.
Một quốc gia hay nhà nước tồn tại hai tầng lớp: Người lãnh đạo và nhân dân. Bản chất của nhân dân là không sáng suốt. Bản chất của nhà lãnh đạo là thông thái. Vì lẽ đó, người không sáng suốt luôn tôn vinh những nhà thông thái thành tầng lớp lãnh đạo. Vì đạo lý là vô hình mà không phải ai cũng có thể nhận biết nên những nhà thông thái trên cương vị lãnh đạo sẽ giúp dân hiểu ra đâu là đạo lý để người dân hoàn thiện tư tưởng của họ và giúp họ cảm nhận được niềm hạnh phúc. Do con người là sinh vật sống tuân theo quy luật sinh ra, lớn lên và chết đi trong khi đất nước thì mãi tồn tại nên một trong những nhiệm vụ của nhà nước là tìm ra thế hệ thông thái kế tiếp để đào tạo cho họ kế thừa và vận hành nhà nước một cách có hiệu quả. Các nhà thông thái tương lai này không phải tự nhiên xuất hiện mà phải trải qua quá trình “tu thân” hay bồi dưỡng đạo lý thì mới có được sự thông thái. Nhà nước, thông qua giáo dục sẽ thúc đẩy quá trình tu thân ấy diễn ra nhanh hơn nhằm bổ sung kịp thời số lượng nhà thông thái mất đi và số lượng gia tăng thêm do những nhu cầu mới nẩy sinh cần có thêm nhân sự để giải quyết trong mối quan hệ của sự gia tăng dân số. Những nhà thông thái tương lai thường bị người ta ngộ nhận là những nhân tài nhưng thực chất những nhân tài chỉ là những người có thể hỗ trợ hay giúp đỡ những nhà thông thái thực hiện nhiệm vụ cao cả của mình chứ họ không thể trở thành những nhà thông thái trừ phi họ là người đức độ, tức họ phải phấn đấu nhiều hơn nữa mới có thể đạt được chữ đức. Khi ấy, họ mới được tin cậy mà giao phó nhiệm vụ của nhà thông thái.
“Đạo lý” là con đường duy nhất đưa ta đến “đức”!
Friday, April 27, 2012 3:24:45 AM
Solutions submitted to parliament
2. Phân bố giảng dạy:
Trước hết cần lưu ý cấm việc dạy thêm vì điều đó sẽ là đầu mối của tiêu cực. Kế đến ta thực hiện các động tác sau:
- Giảm giờ học những môn dạy “nghề”
- Tăng giờ học những môn dạy “đạo lý”:
+ Lịch sử: Những tấm gương đạo đức trong lịch sử.
+ Lời hay ý đẹp.
+ Danh ngôn.
+ Thơ, ca dao, tục ngữ: Có giá trị không kém tứ thư hay ngũ kinh nhưng lại có ý nghĩa nâng cao ý thức dân tộc (Tại sao ta phải dùng hàng ngoại trong khi hàng nội chất lượng không kém?)
+ Bình luận văn học: Giúp các em tăng khả năng nhận thức đúng, sai.
+ Viết văn
+ Nhân cách con người.
+ Lý tưởng sống: Tiền là thước đo của sự thành công hữu hình có giá
trị giới hạn về mặt thời gian. Trí tuệ là thước đo của sự thành công vô hình có giá trị vô hạn về mặt thời gian.
Việc giảng dạy này sẽ giúp các em nâng cao kỹ năng tư duy và sẽ trở nên linh động hơn, sáng tạo hơn, ... Chẳng mấy chốc Việt Nam ta sẽ có đầy nhân tài cho chính phủ tha hồ sử dụng.
Thật đấy! Điều này đã được lịch sử chứng minh trong giai đoạn nhà Trần 3 lần chiến thắng Nguyên – Mông, kẻ mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Nhân tài Việt Nam vô số kể như Mạc Đỉnh Chi – trạng nguyên lưỡng quốc, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật – “vua” ngoại ngữ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản, Trần Khắc Chung, Nguyễn Hiền – trạng nguyên 11 tuổi giải thơ đố của nhà Nguyên – Mông, Đoàn Nhữ Hài, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Biểu, ... Có những người giỏi võ, giỏi cả văn như Trần Hưng Đạo với Hịch tướng sĩ. Do đâu mà Việt Nam thời ấy lắm nhân tài thế? Đó là do cách trị quốc sáng suốt của vua Trần: khuyến khích học hành, mở những khoa thi chọn người tài và trọng dụng họ.
Xưa, cách mạng khoa học kỹ thuật chưa bùng nổ nên giáo trình dạy học của quốc gia chỉ là tứ thư, ngũ kinh. Ngày nay, nhiệm vụ của chúng ta nặng nề hơn nên chúng ta không có quyền xem nhẹ khoa học kỹ thuật vì không có khoa học thì không có sự phát triển, thì sẽ lạc hậu. Thế nên, việc giảng dạy những môn tự nhiên cũng rất cần thiết và đòi hỏi tiến hành song song, tức áp dụng “văn”, “võ” với tỷ lệ 50 – 50 không phân biệt lớp chuyên hay không chuyên. Các lớp năng khiếu không nên dạy dàn trải đều cho tất cả các lớp vì đã gọi là năng khiếu thì mọi lứa tuổi đều ngang nhau và số học sinh có năng khiếu (tài năng bẩm sinh) không nhiều nên chỉ cần một hay 2 lớp là đủ cho mỗi môn cho tất cả các em không phân biệt lứa tuổi học chung. Thời gian học của từng môn năng khiếu không nên trùng nhau nhằm tạo điều kiện cho những em có khả năng học nhiều môn năng khiếu một lúc. Việc sắp xếp các lớp năng khiếu như vậy sẽ tiết kiệm được thời gian cho cả thầy cô giảng dạy lẫn học sinh không có năng khiếu sẽ không phải bị ép học. Áp dụng tương tự với các sinh viên đại học. Trong thời gian đầu, các phản ứng chán học sẽ xuất hiện vì đối với học sinh lười vận động trí óc thì việc học như thế mất rất nhiều thời gian nhưng đối với những học sinh ham học, đây là phương pháp học hết sức nhẹ nhàng và lý thú. Trí tuệ của các em sẽ phát triển rất nhanh và dần dần các em sẽ nhận ra giá trị của sự nghiệp 100 năm trồng người này. Đồng thời chúng ta cũng giải quyết được những vấn đề đang trở nên rất bức xúc trong giai đoạn hiện nay. Đó là: Liệu có còn chỗ đứng cho ngành ngữ văn vì hiện nay các khoa ngữ văn của nhiều trường đại học, cao đẳng không tuyển sinh được. Tại sao vậy?
Theo ý kiến của các trường đại học Tổng Hợp, Sư Phạm, Cao Đẳng Sư Phạm, ... là do chất lượng đầu vào ngày càng kém.
Chất lượng kém là đương nhiên, bởi lẽ:
- Khi còn là học sinh, môn học này có được xem trọng đâu.
- Quan niệm của học sinh luôn cho rằng ngữ văn là một nghề: Nghề sư phạm hoặc nghiên cứu. Quan niệm sai lầm đó như đã trình bày ngay từ đầu đã xuyên suốt các thế hệ từ giáo viên cho đến học sinh và cả phụ huynh hay nói chính xác hơn là hầu như toàn xã hội.
Ngược dòng thời gian về thời điểm ban đầu của nền giáo dục Việt Nam đã xem môn văn và môn toán là hai môn học chính. Nhà nước ta trong buổi đầu đã định hướng rất đúng đắn đường lối giáo dục của sự nghiệp trồng người mà Bác Hồ đã dạy. Sự nghiệp này cần một thời gian rất dài đến những 100 năm cho một đời người cơ mà. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chủ Tịch lại chọn con số 100 ấy. Nếu như trước đây “thất thập cổ lai hy” thì ngày nay, với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật con người ta sống đến 100 năm lận. Cái vốn văn ấy có thể theo giúp mỗi người chúng ta suốt cả đời dùng không hết mà vẫn còn “dư” để truyền lại cho con cháu một tấm gương sáng ngời về một đời nhân cách.
3. Nội dung giảng dạy:
a. Lý thuyết:
Nội dung bài giảng được xem như là những viên thuốc trị bệnh “xuống cấp đạo đức” trầm trọng ngày nay. Thế nên, khi chọn thuốc phải phân tích kỹ lưỡng và thật cân nhắc tác động của bài giảng đối với hành vi của người học.
Ví dụ 1: Bài giảng tại nhà trường:
Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều biết đến tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du – một tài hoa trong nền văn học Việt Nam được thể hiện qua bút pháp tả cảnh tài tình mà không một ai có thể phủ nhận.
Với tư cách là một Nguyễn Hầu dưới triều đại Nguyễn Ánh,
ông được cử đi xứ Trung Quốc và nhờ đó ông có dịp biết đến một câu chuyện mô tả cuộc đời “đoạn trường” của một cô gái mang tên Thúy Kiều. Cái “đoạn trường” ấy đã quá thấm sâu vào tư tưởng của ông đến nỗi nó đã được truyền hết ra ngoài thành một “tuyệt tác” dưới ngòi bút của Nguyễn Du.
Nàng Thúy Kiều ấy là ai mà lại làm cho sứ giả nước Nam chú ý đến như thế? Đó là một người con gái có:
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha mùi thi họa, đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đức Hồ Cầm một trương
Có thể nói đó là một người con gái chẳng những đẹp, có tài, thông minh mà còn nết na, đằm thắm, an phận thủ thường nữa:
Êm đềm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm ra về mặc aiMột người con gái như thế hỏi sao Nguyễn Hầu không lưu tâm cho được. Hình tượng Thúy Kiều được mô tả trong truyện Kiều đã trở nên toàn diện và quá hoàn hảo hay nói đúng hơn, cô là đối tượng cho hầu như tất cả các đấng mày râu nói riêng và mọi người nói chung ngưỡng mộ đồng thời cũng là sự đố kỵ của những kẻ nhỏ nhen, ty tiện. Chính vì lẽ Kiều có những tư chất đáng quý hơn người mà ta sẽ chẳng ngạc nhiên khi thấy Thúy Kiều gặp gia biến do sự vu khống của một “thằng bán tơ” đóng vai trò là tai sai của thế lực quan lại thối nát “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”. Bọn chúng nhắm đến việc moi tiền ở gia đình “nhà viên ngoại họ Vương”. Tiền ấy ở đâu ra? Liệu chúng có thể kiếm chác được gì ở một “gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung”? Không đâu! Tiền không có ở gia đình ấy đâu. Bọn đê tiện đã ngửi được món tiền “đáng giá ngàn vàng” tìm ẩn trong người con gái tài sắc có tên gọi Thúy Kiều kia. Bằng thủ đoạn kiếm tiền chuyên nghiệp, chúng đã biết lợi dụng lòng hiếu thảo của cô để mà giăng bẫy. Cái bẫy ấy đã nhanh chóng sập xuống theo đúng sự tiên liệu của chúng mà không gặp bất cứ trở ngại nào: “dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”.
Trong tình huống “tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây” đấy, người con gái chân yếu tay mềm ấy còn biết phải làm gì nữa
một khi đã bị dồn ép đến bước đường cùng?
Tuy nhiên, vấn đề làm chúng ta không khỏi thắc mắc là một người con gái “hoàn hảo” dưới cái nhìn của Nguyễn Du đang bước vào tuổi “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” và đang lâm vào tình cảnh éo le đến nỗi phải bán mình như thế, đã trở thành một sự kiện hay một đề tài nóng hổi ở Bắc Kinh “tin sương đồn đại, xa gần xôn xao” như thế mà lại không có một trang nam tử hán nào theo đúng nghĩa thầm thương trộm nhớ mà tóm lấy cơ hội ngàn vàng này để làm “anh hung cứu mỹ nhân” mà dạm hỏi nàng về làm vợ sao? Một người con gái tốt thật sự thì ắt hẳn phải có người âm thầm chờ đợi đến tuổi “cập kê” để giành lấy, để rước về làm vợ chứ. Chẳng lẽ cả Bắc Kinh đều không có lấy một sĩ phu nào đủ tốt và đủ giàu hay sao? Hoặc giả họ bị mù, bị điếc hết cả rồi nên mới để “xổng” mất một cơ hội ngàn năm có một làm chủ sở hữu một nàng Kiều “tuyệt sắc giai nhân, tài đức vẹn toàn” như thế mà lọt vào tay của bọn lầu xanh! Dĩ nhiên là ta không đề cập đến Kim Trọng vì phải về thọ tang thúc thúc tận trời Liêu xa xôi nên không biết tin. Vậy thì, lật ngược lại vấn đề là liệu Kiều có quả tốt thật sự đúng theo trình tự logic của cốt truyện mà Nguyễn Du đã mô tả?
Thúy Kiều, người con gái nết na “sượng sùng giữ ý rụt rè” khi gặp Kim Trọng ngỏ lời se duyên đã tuân theo lễ giáo gia phong “nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha”. Ấy vậy mà chỉ mới lần đầu tiếp chuyện (lần gặp nhau trong hội đạp thanh, họ chỉ mới nhìn nhau chứ chưa nói với nhau lời nào) Kiều đã “một lời vàng tạc đá vàng thủy chung”. Như vậy thì Kiều có vội vã lắm không? Kiều có nhẹ dạ lắm không? Và Kiều có quả đằm thắm, nhẫn nại, điềm tĩnh không khi mà gia đình Kiều đi dự “sinh nhật ngoại gia” thì Kiều lại “gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường”? Một người con gái “rụt rè” có đâu lại đi “thoăn thoắt” như thế mà chẳng cần chú ý đến cái “hạnh” của người con gái, đặc biệt là Kiều lại sống giữa bối cảnh lịch sử mà chế độ phong kiến vẫn còn đang thịnh trị? Biết rằng yêu làm cho người ta bạo dạn nhưng bạo dạn quá đâm ra mất nết khi mà Kiều đã về nhà rồi thấy “hai thân còn dở tiệc hoa chưa về” thì lại lập tức: Cửa ngoài vội rủ rèm the
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình
Trong cái thời mà đất rộng người thưa và đàn ông luôn cấm phụ nữ ra
đường vì lo cho tiết hạnh của phụ nữ bị xâm phạm thì Kiều lại dám ra khỏi nhà vào ban đêm khuya khoắc như thế thì Kiều quả thật là “can đảm”. Hành động quay trở lại ấy nằm ngoài dự đoán của Kim Trọng nên mới làm cho “Sinh vừa tựa án thiu thiu” phải thức giấc. Hãy cứ tưởng tượng bạn có khách bình thương đến thăm vừa mới về đã vội quay lại ngay với lý do chuyện trò chưa thỏa có làm bạn bất giác nhoẻn miệng mỉm cười hay không? Huống hồ đây là hai người đang yêu nhau mà Kiều lại không biết tự trọng đi tìm trai giữa đêm hôm khuya khoắc khi mà người ta đang thiu thiu ngủ. Thế nên Kim Trọng mới dám:
... gió mát trăng trong
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam
Chày sương chưa nện cầu Lam
Sợ lần khần quá, ra sàm sỡ chăng?
Dẫu rằng đó chỉ là lời nói chứ chưa phải là hành động.
Một người con gái “thông minh vốn sẵn tính trời” mà lại không tự chủ được tình cảm của mình để đến nỗi bị nói như thế mới kịp dùng lý trí mà “đừng điều nguyệt nọ hoa kia”.
Dưới chế độ lễ giáo phong kiến, Kiều lại tìm đến Kim Trọng giữa đêm hôm “ngọn đèn khi tỏ, khi mờ” và lại còn “đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu” thì hỏi làm sao mà Kim Trọng không “có chiều lả lơi” cơ chứ? Không có cảnh thì sao có tình? Tuy nhiên , điều đáng khen ở đây là Kiều cũng đã biết dừng lại “đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu”.
Nếu như ở phần mở đầu, Nguyễn Du đã hết mực tán tụng Kiều thì càng đọc truyện Kiều ta càng thấy chỉ có Kiều yêu Kim Trọng một cách nồng say mà không sao biết được Kim trọng yêu Kiều như thế nào. Chàng không có cái mong mỏi, hăm hở muốn gặp người đẹp, người mình yêu. Chàng chưa một lần đi tìm nàng. Họ gặp nhau chỉ là do tình cờ hay do nàng chủ động mà thôi trong khi nhà họ lại gần như là sát vách nhau. Yêu mà lại như thế ư? Yêu mà sợ “công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!”. Liệu đó có phải là một tình yêu đẹp? Yêu mà tính toán sợ thiệt thòi. Hay là Kim Trọng là một người quá đầm tính, quá thận trọng còn Thúy Kiều là một kẻ quá xốc nổi, dễ dãi, thiếu kiên nhẫn trong khi Kim trọng đã có vật làm tin “xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông” và còn mở lời:
Chút chi gắn bó một hai
Cho đành rồi sẽ liệu bề mối mai
mà Kiều lại “lo xa” cho sự hứa hẹn bằng lời không chắc nên phải “tiên thề cùng thảo một trương”. Kiều muốn dùng văn tự để:
Đinh ninh hai miệng một lời song song
Tóc tơ căn dặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương
Thật nực cười khi Kiều, một tài hoa được khen nức nở mà lại sợ Kim Trọng không giữ lời hứa hay sao mà phải dùng đến văn tự làm bằng chứng chứ? Quả thật là ta không sao hiểu nổi(!).
Trong thời phong kiến, vấn đề trinh tiết luôn được các phụ nữ đặt lên hàng đầu và Kiều cũng không là ngoại lệ trong số họ. Nhưng than ôi! Nàng có ngờ đâu sau khi được gả cho Mã Giám Sinh, nàng mới biết là mình bị lừa. Thế nhưng, xét cho cùng thì cũng chẳng phải là lừa bởi cuộc hôn nhân mà Kiều chấp nhận nào có xuất phát từ tình yêu. Nếu xuất phát từ tình yêu thì Kiều sẽ chọn Kim Trọng chứ có đâu lại chọn kẻ:
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng
Ngắm ra cho kỹ như hình con buôn
Như thế! Kiều chấp nhận hôn nhân đó vì tiền cơ mà! Thế nên đó không phải là hôn nhân mà là mua bán sòng phẳng giữa bên mua lấy người và bên bán lấy tiền:
Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm
Việc kết hôn để lấy tiền mà đòi hỏi người khác đối xử với
mình theo tình là một điều không tưởng huống hồ Mã Giám Sinh lại không phải thuộc típ người ái mộ Thúy Kiều.
Cái “hay” của tư tưởng “đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu” là ở chỗ dẫu rằng không lấy chồng vì tình nhưng đã là gái có chồng thì chỉ có thể thất tiết với chồng – người chính thức được hai họ thừa nhận mà thôi. Cho nên khi Tú Bà bắt nàng “nhập gia phải cứ phép nhà ta đây!” Kiều đã phản kháng, đã đấu tranh kịch liệt cho dù phải chết cũng cam “một dây oan nghiệt đứt dây phong trần!”. Đã gọi là cái “hay” thì chắc chắn phải là lý lẽ của đạo lý mà đạo lý thì luôn luôn đúng. Cho nên trong cuộc chiến này, Kiều là người chiến thắng. Thắng lợi ở đây là Kiều đã giữ được sự “thủ tiết” của một người vợ. Nàng đã giành được ngoại lệ đối với gái lầu xanh là thoát cảnh “ong bướm đãi đằng”, được ở “trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”.
Chúng ta càng hoan hỉ trước thắng lợi của Kiều bao nhiêu thì lại càng
thất vọng bấy nhiêu khi Kiều lại tiếp tục nhẹ dạ cả tin với một người khách lạ chỉ mới gặp lần đầu mang tên Sở Khanh. Một người con trai mới gặp người con gái đẹp lần đầu tại một nơi được gọi là lầu xanh và chưa biết nhân cách nàng ra sao mà đã:
Thuyền quyên ví biết anh hùng
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi!
thì quả là có vấn đề. Vả lại, anh ta làm sao biết được nàng có việc ức lòng mà lại “tức gan riêng giận trời già”. Lúc mới gặp nhau, Kiều nào đã kể cho hắn nghe về gia cảnh của nàng đâu? Nếu như anh hùng cứu mỹ nhân thì phải đường đường chính chính chứ có đâu lại xúi giục Kiều lén lút bỏ trốn như phường ăn trộm thế kia:
Rằng: “Ta có ngựa truy phong
Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi
Thừa cơ lẻn bước ra đi
Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn”
trong khi Kiều đã:
Mảnh tiên kể hết xa gần
Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài
Nếu như Kiều, một người con gái “thông minh vốn sẵn tính trời” thì phải biết lẽ phải, phải hiểu thân phận mình ở lầu xanh là bị bán vào đó chứ phải đâu ăn nhờ ở đậu mà muốn đi lúc nào thì đi. Cho nên muốn ra khỏi lầu xanh thì phải được chuộc ra chứ có đâu lại lén lút trốn đi như phương gian trá thế kia! Kiều bước vào lầu xanh là được rước vào thì khi bước ra cũng phải đường đường chính chính, quang minh chính đại chứ lẽ đâu lại không biết phải quấy nghe lời xúi bảo của người khác là làm ngay mà không biết suy nghĩ xem có hợp đạo lý hay không! Nhân cách Kiều để ở đâu mà không biết khuyên Sở Khanh nếu như thật nghĩa hiệp thì chuộc mình ra khỏi chốn nhơ nhớp để có thể danh chính ngôn thuận mà “kết cỏ ngận vành về sau” chứ! Những lời lẽ sắc bén khi Kiều bảo vệ tiết hạnh trước Kim Trọng đâu rồi, tại sao Kiều lại không đem ra sử dụng trong tình huống này, không phân tích cho Sở Khanh thấy việc cô đến lầu xanh bằng cửa trước mà sao anh ta lại muốn đưa nàng đi khỏi bằng cửa sau? Phải chăng chàng thật là quân tử? Người quân tử đâu có ai lại hành động lén lút như thế! Tại sao Kiều lại không cân nhắc, không nhẫn nại khi mà một kẻ như Tú Bà kia còn biết bảo nàng “khóa buồng xuân để đợi ngày đào non”? Nếu như Kiều thật sự tốt, thật sự đức hạnh thì lo gì không gặp được người hữu duyên? Mặt khác, tuy ở lầu xanh nhưng Kiều vẫn rất đang “an toàn” ở lầu Ngưng Bích kia mà!
Một Thúy Kiều kiên định với bản thân “đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu” đã làm chúng ta thật sự ngưỡng phục khi:
Phòng khi nước đã đến chân
Dao này thì liệu với thân sau này
Nàng liều chết để có thể trung trinh với chồng dẫu rằng đó là một người chồng đê tiện thì cũng quyết thủ tiết đến cùng “đến điều sống đục, sao bằng thác trong”.
Thế nhưng, lại một lần nữa chúng ta thất vọng khi mà sau khi hiểu ra cớ sự bị Sở Khanh bắt tay vớ Tú Bà lừa mình thì nàng lại khuất phục họ. Nàng đã chọn giữ chữ tín với Tú Bà mà đành thất tín với bản thân, với con đường đạo lý mà nàng đã chọn ngay từ đầu “đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu”, với lương tâm của một phụ nữa đức hạnh; mà “chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa” và “lấy thân mà trả nợ đời cho xong”. Tại sao lại như thế? Tại sao lúc đầu bị bắt phải tiếp khách Kiều có dũng khí quyên sinh để giữ lấy cái “trong giá trắng ngần” thì nay hiểu ra cớ sự bị lừa thì cái dũng khí ấy lại biến đi mất rồi? Đáng lẽ ra Kiều phải càng tức tối khi bị lừa chứ. Đời đã thế, Kiều còn sống làm gì mà không quyên sinh lấy tiếng thơm “tiết hạnh khả phong” lưu truyền muôn thuở!
Đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, Thúy Kiều lại tiếp tục trở nên ích kỷ, nhỏ nhen khi chỉ nghĩ đến hạnh phúc bản thân trong việc giành lấy tình yêu của Thúc Sinh mà không nghĩ đến tình cảnh của vợ Thúc Sinh. Có người vợ nào lại muốn chồng mình suốt ngày quấn quít bên người đàn bà khác cơ chứ! Thế nên, ta chẳng ngạc nhiên gì khi Thúy Kiều phải đón nhận một trận ghen ra trò của Hoạn Thư bởi một lẽ đơn giản nếu như Kiều không gieo gió thì có đâu lại gặp bão! Gió thì cũng phải đến lúc lặng, bão cũng có khi yên khi Hoạn Thư với lòng trắc ẩn giữa phụ nữ với nhau mà chấp nhận lời yêu cầu của Thúy Kiều “giữ chùa, tụng kinh”. Ấy vậy mà Kiều lại tiếp tục không an phận. Tu hành gì mà lại vấn vương tình ái:
Xét vì cầm đã bén dây
Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta
Liệu bài mở cửa cho ra
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu
Kiều chẳng những không nhận ra việc dan díu với chồng người là sai trái
mà còn cố níu kéo tình cảm đã chấm dứt ấy để đến nỗi phải nhận lấy sự phủi tay của Thúc Sinh: Liệu mà xa chạy cao bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi
Càng đọc Truyện Kiều ta lại càng nực cười một người con gái đức hạnh mà lại: Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân
Bên mình giắt để hộ thân
Kiều trộm đồ của Hoạn Thư để mà:
Cất mình qua ngọn tường hoa
Lần đường theo bóng trăng tà về Tây
Thế đấy! Một Thúy Kiều được ca tụng mà lại mang hành động của một kẻ cắp. Một Thúy Kiều được “kệ, kinh niệm phật hàng ngày” mà lại đưa tay trộm đồ người khác thì quả là nực cười. Dẫu biết rằng “bần cùng sinh đạo tặc” nhưng Kiều nào đã bần cùng. Kiều có tay, có chân đầy đủ, có sức lao động và có cả cầm, kỳ, thi, họa nữa mà! Kiều là con nhà có giáo dục mà! Cho nên, việc Kiều trở thành kẻ trộm đã khiến cho ta thật tức cười. Kẻ tu hành mà không hiểu đạo lý gieo nhân ắt gặp quả. Và quả thật nàng đã gặp quả báo khi chính những đồ ăn cắp ấy lại ngang nhiên trở thành công cụ cho Bạc Bà dùng để đe dọa:
... muôn dặm lập thân
Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa
Khéo oan gia, của phá gia
Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây?
để dụ dỗ:
Kíp toan kiếm chốn se dây
Khôn dưng chưa dễ mà bay đường trời
Nơi gần thì chẳng tiện nơi
Nơi xa thì chẳng có người nào xa
Nay chàng Bạc Hạnh cháu nhà
Cùng trong thân thích ruột rà chẳng ai
Cửa nhà buôn bán Châu Thai
Thực thà có một đơn sai chẳng hề
Thế nào nàng cũng phải nghe
Thành thân rồi sẽ liệu về Châu Thai
Hậu quả là Thúy Kiều lại trở về chốn lầu xanh.
An ủi cho những sự bực tức bởi sự lầm lạc của Thúy Kiều là sự xuất
hiện nhân vật Từ Hải:
Râu hùm, hàm én, mày ngài
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao
Đường đường một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài
Một Từ Hải đã đưa Kiều lên tột đỉnh vinh hoa:
Đạo trời báo phục chỉn ghê
Khéo thay một mẻ tôm về đầy nơi
Quân trung gươm lớn, giáo dài
Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi
Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân
Trướng hùm mở giữa quân trung
Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi
Từ Hải xuất hiện bên Thúy Kiều như một cứu cánh có giá trị an ủi phần nào những nhọc nhằn mà Kiều đã trải qua:
... ân oán hai bên
Mặc nàng xử quyết, báo đền cho minh
Như thế, sự xuất hiện của Từ Hải đã làm cho độc giả hả dạ đôi chút xem xem khả năng phân xử của Thúy Kiều ra sao. Đầu tiên là Thúc Sinh nhu nhược, phủi tay khi Kiều gặp hoạn nạn ấy vậy mà Kiều vẫn chưa hiểu ra bản chất vấn đề mà lại xem đó là “nghĩa trọng nghìn non”, là ân nhân (Thúc Sinh không hề mất tiền khi đưa Kiều ra khỏi lầu xanh). Thực chất Thúc Sinh là kẻ bất tài vô dụng không biết làm gì ngoài việc chơi ngông nên hắn chẳng dại dột gì phá vỡ hạnh phúc gia đình hắn vì một Thúy Kiều lầu xanh. Và Kiều, bằng sự đa tình của mình khi nghĩ về thời điểm
họ sống bên nhau đã xử cho Thúc Sinh:
Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân
Tạ lòng dẽ xứng báo ân gọi là
Kế tiếp, Kiều xử Hoạn Thư với lời đe:
Vợ chàng quỷ quái tinh ma
Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau
Kiến bò miệng chén chưa lâu
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa
Kiều cho mình là bà già và Hoạn Thư là kẻ cắp mà không hiểu được đạo
lý: Cướp chồng người là sai. Mà đã sai thì lấy gì để làm cơ sở phản biện cái đúng? Thế cho nên bà già Kiều ngay lập tức bị kẻ cắp Hoạn Thư ra một đòn đạo lý chí tử có tác dụng lột mặt nạ Kiều thành kẻ đã từng chịu ân, kẻ đào tẩu, kẻ cắp và kết quả là Kiều ngã gục hoàn toàn:
Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
Nghĩ cho khi các, viết kinh
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo
Lòng riêng, riêng những kính yêu
Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai!
Trót lòng gây việc chông gai
Còn nhờ lượng bể thương bề nào chăng?
Thế mới thấy, đạo lý luôn luôn thắng mọi kẻ thù ở mọi tình huống. Dù cho Kiều ở ngôi cao tột đỉnh mà không có đạo lý thì cũng sẽ phải thất bại trước bất cứ đối thủ nào cho dù họ chỉ là một tù nhân. Và Kiều phải chấp nhận thua cuộc:
Khen cho phật đã nên rằng
Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời
Tha ra thì cũng may đời
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen
Và “truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”.
Thế còn Từ Hải thì sao? Hình tượng Từ Hải thật đẹp nhưng tiếc thay hình tượng đó lại được xây bằng “cát”. Tại sao ta lại nói Từ Hải là một hình tượng “cát”? Đơn giản vì chỉ có hình tượng “cát” mới dễ bị sụp đổ khi bị một “gáo nước lạnh” đổ ập xuống. “Gáo nước lạnh” đó là “hại một người cứu muôn người” ở đoạn sư Tam Hợp dạy truyền Giác Duyên “đóng thuyền, chực bến, kết chài, giăng sông” để tìm, đón, cứu Thúy Kiều. Tam Hợp, người đóng vai trò như một vị thần tiên liệu trước được tương lai mà lại xem việc Từ Hải bị giết là để cứu giúp muôn dân thì quả là đã làm cho chúng ta “té ngửa” khi mà mới đây thôi Từ Hải được mô tả như một “anh hào” thì giờ đây anh hào đã bị lột xác thành một kẻ gây hại cho muôn người. Té ra Từ Hải là một tên giặc chẳng khác chi Hoàng Sào. Hoàng Sào là ai? Đó là vị thủ lĩnh của những người nông dân bị túng quẫn, lang thang vì quá đói nên đã “bần cùng sinh đạo tặc”, đã lật đổ một nhà Đường bất tài vô dụng năm 880 không đem lại cho dân chúng sự ấm no hạnh phúc để mà lập ra nước Đại Tề năm 881. Như vậy, Hoàng Sào có là anh hào không? Có phải là kẻ gây hại cho muôn người không? Dưới ngòn bút của Nguyễn Du, Hồ Tôn Hiến – tên quan hèn hạ lập kế lừa Kiều của triều đình bỗng nhiên trở thành nhân vật đại diện cho chính nghĩa. Chính nghĩa gì mà lại giành chiến thắng dưới váy đàn bà? Và sau khi đạt được thắng lợi rồi lại trở mặt từ “lễ nhiều, nói ngọt” sang:
Bắt nàng thị yến dưới mành
Giở say lại ép vặn đàn nhặt tâu
Chính nghĩa gì mà lại “lạ thay mặt sắc cũng ngây vì tình”. Trơ trẽn hơn nữa với lời đề nghị lúc đêm:
... hương hỏa ba sinh
Dây loan xin nối cầm lành cho ai
thì đến lúc sáng ngày lại thay đổi 180 độ: ... đến lúc rạng ngày nhớ ra
Nghĩ mình phương diện quốc gia
Quan trên nhắm xuống, người ta trông vào
Phải tuồng trăng gió hay sao?
rồi cuối cùng lại phủi tay một cách nhẫn tâm:Lệnh quan, ai dám cãi lời
Ép tình mới gán cho người thổ quan
Một chính nghĩa của những tên quan đến nhà Thúy Kiều với bộ dạng:
Người nách thước, kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi
làm cho gia đình Thúy Kiều rơi vào cảnh:
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh
Rụng rời khung dệt, tan tành gối mai
Đồ tế nhuyễn, của riêng tây
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham
Triều đình của những tên quan “cướp ngày” như thế, của những tên quan xử án lạ đời theo kiểu lúc thì: Một là cứ pháp gia hình
Một là lại cứ lầu xanh phó về
và lúc thì:
Dâu con trong đạo gia đình
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong
Xét đức hạnh của người phụ nữ đã có chồng ở vị trí tột đỉnh vinh quang là Từ Hải ta không khỏi ngỡ ngàng khi mà Kiều của một gia đình có giáo dục với thân phận vừa được giải thoát khỏi lầu xanh trong bối cảnh hơn 300 năm về trước sống dưới chế độ phong kiến hà khắc mà người chồng luôn luôn là người chủ gia đình lại không biết câu “nép mình dưới bóng tùng quân” mà lại tự tiện tiếp kiến và nhận quà Hồ Tôn Hiến thì quả là một chuyện hy hữu. Nếu như Từ Hải có thể để cho Kiều tự do giao du với bất cứ đàn ông nào thì liệu Từ Hải có cất công đón Kiều từ lầu xanh về ở với riêng một mình Từ Hải như là một người vợ chính thức trước ba quân không? Ủa! Vậy té ra Từ Hải là người không hề có chút sĩ diện đàn ông sao?
Kiều, một phụ nữ của đàn, ca, xướng, họa chỉ có kinh nghiệm làm kỹ nữ chứ không hề có chút kinh nghiệm trận mạc hay kiến thức binh pháp lại tày lay dùng giọng điệu của Hồ Tôn Hiến khuyên chồng đầu hàng một triều đình phong kiến thối nát, triều đình của những tên quan mà vì chúng nên Kiều mới phải vào ra chốn thanh lâu.
Gấp trang sách lại, ta không nén nổi nụ cười khẩy dành cho một Thúy Kiều dù đã trải qua biết bao bể dâu mà cho đến phút chót vẫn còn quá ngây thơ, nhẹ dạ, chưa sáng mắt trước bọn quan lại triều đình. Hoặc giả Thúy Kiều bị thiểu trí?
Ngay từ đầu Nguyễn Du đã cố gán ghép sự bạc mệnh vào Kiều:
Nhớ từ năm hãy thơ ngây
Có người tướng sĩ đoán ngay một lời
Anh hoa phát tiết ra ngoài
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa
Thế nhưng trong một chuỗi các sự kiện có liên quan đến những bước ngoặc “đoạn trường” của Kiều, ta lại thấy nguyên nhân đều được xuất phát từ chính nhân cách Kiều. Điều này làm cho Nguyễn Du tự phản biện mình. Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du:
1.Sự nghịch lý hầu như xuất hiện khắp mọi nơi:- Kiều, thiếu nữ vô cùng hoàn hảo về sắc, tài, trí tuệ, đạo đức, ... nhưng:
+ Phải tự tìm đến Kim Trọng để mưu cầu một tình yêu đẹp.
+ Tình yêu đẹp ấy lại phải có sự bảo đảm bằng văn tự.
+ Chẳng những không có khả năng cảm hóa bất kỳ một nhân vật phản diện nào (Sở Khanh, Tú Bà, Thúc Sinh, ...) mà còn bị họ dụ dỗ, thuyết phục, chà đạp.
+ Không có khả năng phân biệt thị phi (Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến)
+ Cướp chồng người.
+ Trộm đồ người.
+ Không có khả năng đánh giá năng lực bản thân dẫn đến việc tày lay tham gia chính sự.
- Từ Hải là một đấng hảo hán, nhưng:
+ Cái chết của anh ta lại là sự giải thoát cho muôn người.
+ Không có lý trí để đến nỗi tiêu tan sự nghiệp vì một phụ nữ chỉ được dạy tiếp khách chứ chưa từng được biết về việc quân, việc nước.
+ Là người đàn ông phong kiến không biết quản vợ.
+ Ngu ngốc (thưởng của cải cho kẻ đã từng ăn nằm với vợ và bỏ rơi vợ lúc hoạn nạn).
- Triều đình lại là chính nghĩa, nhưng lại có những tên quan:
+ Vu oan giá họa cho nhân dân vì tiền.
+ Xử án dựa trên cảm tính.
+ Háo sắc, chà đạp phụ nữ trong cơn hoạn nạn.
+ Không có sự xuất hiện của bất cứ quan lại nào với vai trò chính diện.
2. Quan điểm đạo lý không rõ ràng, lúc khen, lúc chê lẫn lộn.
3. Đầy các sự kiện mang tính mâu thuẫn.
4. Có sự nhầm lẫn về kiến thức địa lý khi cho rằng bóng ngả về tây vào buổi chiều vì mặt trời lặn ở hướng tây thì bóng phải ngả về đông chứ không thể nào ngả về tây được.
Lý do duy nhất, hợp lý có thể giải thích tại sao lại có nhiều hạt sạn trong tác phẩm truyện Kiều đến như vậy là do tư tưởng của Nguyễn Du hay nói chính xác hơn là quan điểm chính trị của ông có vấn đề. Thật vậy, khi Lê Chiêu Thống cùng mẹ “cõng rắn cắn gà nhà” và chuốc lấy thảm hại năm 1789 thì Nguyễn Du đã không nhận thức được đúng sai mà sửa soạn toan theo ngự giá trốn sang đất nhà Thanh nhưng đã bị Lê Chiêu Thống bỏ rơi mà đi trước rồi. Trong khi các quan khác của nhà Lê nhận thức được thời cuộc về phẩm chất đạo đức của Quang Trung - Nguyễn Huệ mà đầu quân tiếp tục tận lực với sự nghiệp của đất nước như Ngô Thì Nhậm, Trần Bá Lãm, Võ Huy Tấn, Phan Huy Ích, ... thì Nguyễn Du lại về quê vợ ở làng Hải An, huyện Quỳnh Côi xứ Sơn Nam (Thái Bình) tập hợp hào mục cùng anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn mưu đồ phục Lê nhưng thất bại. Trở về quê nhà ở Tiên Điền, ông lại tiếp tục tìm đường giúp Nguyễn Ánh nhưng việc cũng bất thành.
Nên chăng trong quá trình giảng dạy truyện Kiều của Nguyễn Du, ta ca ngợi Thúy Kiều trong khi phân tích kỹ ta thấy tư tưởng Thúy Kiều có vấn đề. Ca ngợi Thúy Kiều chẳng khác nào ta dạy bọn trẻ sự mất nết, thiếu lòng kiên nhẫn của thiếu nữ, sự ngại khó dẫn đến trộm cắp, lối suy nghĩ tiêu cực đối với phụ nữ mỗi khi gặp khó khăn là “bán mình” và sự thật là đã có biết bao cô gái Việt Nam “bán mình” với danh nghĩa lấy chồng chỉ để lấy vài trăm đô la để rồi lớp chết, lớp tâm thần, lớp bị hành hạ, ... mấy ai trong số họ có cuộc sống hạnh phúc thật sự? Ca ngợi Thúy Kiều, các em học sinh sẽ bình thường hóa việc quan hệ với những đàn ông đã có vợ, sẽ trở thành những phụ nữ không biết mình “đang ở đâu” với tư cách là một phụ nữ đức hạnh mà bắt chước sự “tày lay” đáng trách, ... Chúng ta nên dạy cho học sinh thấy khía cạnh “bạc mệnh” của Kiều là do xuất phát từ chính những hành vi thiếu suy nghĩ và nhân cách của Kiều chứ không phải do số phận. Số phận của ta sẽ không do ai khác định đoạt ngoài ta.
Và, ta chẳng ngạc nhiên thấy Nguyễn Công Trứ kịch liệt lên án Kiều:
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm
Bán mình trong bấy nhiêu năm
Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai
Nghĩ đời mà ngán cho đời!
Hay như sự châm biếm trong Vịnh Thúy Kiều (12/09/2009):
Khen thay nét bút Nguyễn Du đưa
Giỏi lắm vẻ tranh Kiều nữ tựa
Kim Trọng thư sinh đang đến lứa
Thúy Kiều tài sắc dợm vào xuân
Trí thần hai trẻ dạ bâng khuâng
Rẽ quạt một cành tình chất ngất
Khuê nữ e dè buông bỏ mất
Trâm anh bạo dạn vướng vây tình
Vạch trời chứng giám chữ ba sinh
Chỉ đất thốt thề câu một dạ
Trời già sao nỡ chia đôi ngả
Nguyệt lão lại đành cắt mối tơ
Nỗi tang thúc thúc trước hương thờ
Bề xót gia gia sau khuất án
Hiếu nặng oằn thân mình phải bán
Mệnh buồn bén rễ kiếp đành nhơ
Thương thay nhi nữ quá ngây thơ
Tởm thật Giám Sinh đầy bẩn thỉu
Cứ ngỡ bước chân lên trướng kiệu
Nào ngờ vùi xác chốn buồng hương
Dao ẩn tay toan kết đoạn trường
Nhà trong trí định phần nhường nhịn
Một Tú Bà đòn roi phủ kín
Lắm Kiều nữ thể xác bời rời
Vậy liều thác trốn cảnh xương rơi
Nên được sống lưu nơi các nhã
Sao chẳng chọn đàn ca, xướng họa; nuôi tấm thân thoát đời nghiệt ngã
Lại mau quên đổi chác, cò kè; bán băng trinh sa kiếp tuổi hờn
Cưỡng an phận rước họa vào thân
Chiều lối nước tin lầm ở Sở
Nát thân ngọc mếu dở khóc dở
Cúi mày ngài rằng vâng thưa vâng
Từ nay tiết hạnh cũng bằng không
Dạo đó thờ chồng thôi là hết
Âu cũng bởi tại nàng ngu dốt
Ấy do cớ vì nữ lắm tình
Ví họ Sở thật dạ yêu mình
Như gia quyến ngay lòng quý hắn
Không đường hoàng tính phương chuộc hẳn
Mà lén lút bày kế chuồn nhanh
Chàng Kim Trọng yến yến oanh oanh
Gã Sở Khanh đây đây đó đó
Bày sĩ diện cùng gia đình có
Dấu phong lưu với thân quyến không
Thôi rồi thân cá chậu chim lồng!
Ơi hỡi kẻ giàu sang phú quý!
Hãy xót thương cho nàng một tí!
Mau dun rủi đến kẻ nhiều sầu!
Đón Kiều Thúy kỷ nữ thanh lâu
Đưa Thúc Sinh thư sinh gốc gác
Duyên kỳ ngộ ở nơi khuê các
Nợ lạ thường ngay chốn nhuốc nhơ
Chồng người Kiều lại kết dây tơ
Vợ chính Thúc toan lìa nguyện ước
Hỏi tại sao Kiều thân chẳng phước?
Đáp vì bởi Hoạn tính dầy mưu
Kiều đức hạnh hư thực thực hư?
Gái trơ trẽn khổ buồn buồn khổ
Khoác nâu sòng đứng không yên chỗ
Đội lớp tu ngồi chẳng tịnh tâm
Nực cười Kiều quả quá ngu đần
Phát khóc Hoạn ra là mánh lới
Vốn ghen tuông dở ra đầy gói
Đồ kệ kinh gom lại ít phân
Nhà Hoạn gia chuồn đi tội trần
Quan Âm các cắp đồ tình thế
Chường vật trộm ra đường lép vế
Giáp nhà Hà rẽ lối lầu xanh
Giá đừng tham trọn gái nhà lành
Thì được thảo chung đời cửa phật
Nào há chịu phần số bất nhất
Dễ đâu cam nghịch cảnh vô nghì
Hoạn đã thương trao Phật đón vì
Kiều chưa quyết dứt tình ngăn nợ
Lại than vãn Thúc Sinh can cớ
Cho kể lể Kiều nữ éo le
Phủi tay bảo biến ấy nào dè
Quay mặt nói lìa âu lẽ thế
Gương dòng Sở trốn đi hèn kế
Thói họ Vương chuồn khỏi kém mưu
Được may khi tướng Hải câu lưu
Hết đoạn trường nàng Kiều kỷ nữ
Quyền tột đỉnh giàu sang một chữ
Thân hèn mọn khó khổ bao thời
Thuở oán gia than khóc nóng trời
Ngày hào quang chóng quên hàn đất
Mắt không mở xót dân lay lắt
Môi chẳng há bàn nỗi nhiễu nhương
Đáng khinh thay cả bọn quan phường
Thật nể vì duy Từ Hải đấng
Vương chữ tình cho dòng lệ ngấn
Lụy đường tơ để xác thân rời
Kiều sở đoản, ngu muội tấu lời
Hiến khôn lanh, độc thâm dâng kế
Thương quân tử mắc mưu gian kế
Giận ả Kiều lầm chước ác thần
Hỏi Nguyễn Du Kiều nữ tuệ thông?
Do đó, việc chọn giáo trình giảng dạy trở nên vô cùng quan trọng. Chớ nên “không có chó bắt mèo ăn cứt” thì sẽ dẫn đến những lệch lạc nghiêm trọng khó lường.
Ví dụ 2: Ngoài xã hội
Trong quyển sách “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” do Sơn Nam biên khảo và nhà xuất bản Trẻ phát hành quý IV/2007 có viết: “Từ lâu, các chúa Nguyễn đã biết về vùng đất ở Đồng Nai, Cửu Long nhưng cơ hội chưa thuận lợi để đẩy mạnh cuộc phát triển về phía Nam ...”. Xin hỏi ông Sơn Nam rằng: Ông có sống cùng thời, cùng nhà với các chúa Nguyễn không? Chắc chắn câu trả lời của ông là: Không! Câu hỏi thứ hai: Ông có tiếp xúc, trò chuyện với các chúa Nguyễn không? Chắc chắn câu trả lời của ông cũng là: Không! Vậy thì ông căn cứ vào đâu mà cho rằng các chúa Nguyễn sẽ đẩy mạnh cuộc phát triển về phía Nam nếu như có cơ hội? Việc viết sách như thế hóa ra các chúa Nguyễn của Việt Nam thuộc loại người cơ hội trong quá trình mở đất phương Nam sao? Chúng ta, với tư cách là những người đứng ngoài giai đoạn lịch sử ấy, thiết nghĩ chúng ta nên nhìn vào lịch sử trên phương diện lịch sử của nó chứ đừng nên áp đặt tư tưởng của mình vào người khác. Lịch sử vốn dĩ là bằng chứng của hiện tại. Công an, muốn điều tra tội phạm thì cần phải hỏi cung và dựa vào những cung khai ấy mà truy tìm chứng cứ mới có thể phán xét hành vi một con người tốt hay xấu. Trong khi, nhìn vào lịch sử khẩn hoang của các chúa Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng – người được nhân dân yêu mến gọi “chúa Tiên”. Muốn được gọi là Tiên, người đó phải như thế nào? Từ những năm 1610, Chiêm Thành liên tục quấy rối vùng biên giới nơi Nguyễn Hoàng chiếm đóng nên buộc ông mới tự vệ và đánh trả, trị tội kẻ ngang ngược và để chuộc tội, Chiêm Thành đã cắt đất Phú Yên dâng nạp cho chúa Nguyễn chứ nào phải đâu do chúa ta
tự động cất binh đi xâm chiếm.
Đối với người dân thì việc người đứng đầu là ai, họ không quan trọng. Quan trọng là người đứng đầu ấy có dạy họ sống theo đạo lý và dạy cho họ cách tạo lập một cuộc sống ấm no, hạnh phúc hay không.
Nếu họ bị bất công, bị đói khổ thì tất yếu họ sẽ nổi dậy chống lại vị đứng đầu ấy. Bằng chứng là suốt những năm bị phương Bắc đô hộ, nhân dân Việt Nam vẫn sống chan hòa cho đến khi gặp sự hà khắc của thái thú Tô Định thì Hai Bà Trưng mới khởi nghĩa. Bằng chứng là người dân Chiêm Thành sau khi được sống dưới sự cai quản của chúa Nguyễn đời sống họ được ấm no nên suốt thời gian ấy chẳng những không hề có bất cứ cuộc nổi dậy nào đòi độc lập mà họ còn tuân theo sự hướng dẫn của chúa trong việc thay đổi cách ăn mặc, tập quán, ... để phù hợp và trở thành dân Việt như ngày nay. Bằng chứng là tại sao sau cả ngàn năm đô hộ phương Bắc mà nhân dân ta vẫn giữa nguyên được bản sắc dân tộc Việt và liên tục đấu tranh giành tự do. Xa hơn nữa, ta có bằng chứng là một Liên Xô tan rã do không giữ vững được ổn định chính trị, do không duy trì được cơm no áo ấm cho nhân dân nên các lãnh thổ trong khối liên bang ấy mới đứng lên đòi quyền tự trị. Bẳng chứng là sẽ không có sự ra đời của một nước Mỹ nếu không có chính sách tăng cường vơ vét, bóc lột thuốc địa của nước Anh ở thế kỷ 18 buộc những người bị áp bức phải đấu tranh giành độc lập, lập ra một nước Mỹ thống nhất năm 1783 với 12 bang và dưới sự lãnh đạo tài tình của các đời tổng thống, nước Mỹ đã chẳng những mở rộng lãnh thổ mà còn duy trì trật tự an ninh, đảm bảo cuộc sống người dân phát triển ngày càng thịnh vượng nên mới tạo lập được một nước Mỹ của những người dân chỉ biết chăm chắm làm ăn với 48 bang từ trước 1849. Cho đến những năm thuộc thập kỷ 50 của thế kỷ 19, khi sự bất công nô lệ được hình thành bên cạnh nạn phân biệt sắc tộc mà đỉnh cao là vụ Nat turner năm 1831 với 50 người da trắng bị giết mới bắt đầu manh nha hiện tượng tan rã thông qua lời tuyên bố của miền Nam nước Mỹ: Không cần Liên Bang mà sẽ tự giải quyết vấn đề nô lệ. Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, lại một lần nữa chứng minh năng lực quản lý của mình khi tổng thống Abraham Lincoln đã xuất sắc thủ tiêu chế độ nô lệ, bình được các tiểu bang ở miền Nam để các đời tổng thống sau có thể tiếp tục kế thừa, mở rộng lãnh thổ với đủ 50 bang như ngày nay từ năm 1898 và phát huy một nước Mỹ của “thời đại vua xe hơi Ford” giương cao khẩu hiệu “mỗi gia đình một ô tô” trong những năm thuộc thập kỷ 20 của thế kỷ 20. Hậu quả của một nền kinh tế phát triển tự do bên cạnh yếu tố bùng nổ khoa học kỹ thuật nhưng thiếu sự can thiệp của nhà nước đã dẫn đến việc năng suất lao động được tăng cao không ngờ ở nông thôn làm giá cả nông sản rớt như sung rụng trong khi ở thành thị thì sự giàu có làm cho dân chúng đổ xô mua chứng khoán đã thổi phồng hệ thống tài chính lên như bong bóng thông qua sự tăng giá cổ phần quá cao so với giá trị thực tế năm 1929. Đã gọi là bóng bóng thì tất có ngày bị xẹp và lịch sử lại một lần nữa chứng minh điều đó khi thị trường chứng khoán New York khổng lồ bị phá sản, các doanh nghiệp vỡ nợ, nông dân mất đất và thành thị mất vốn. Mỗi khi đất nước có sự dẫn dắt của đạo lý lâm nguy, nhân tài sẽ xuất hiện. Nhân tài ấy là tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt người thực hiện thành công chính sách New Deal thông qua những giải pháp kinh tế xã hội kiên quyết đã ngăn chặn tai họa, vực lại đất nước và rất sáng suốt không tham chiến chiến tranh thế giới thứ 2 mà giữ vị trí trung lập cho đến khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbour) của quần đảo Hawai ngày 7/2/1941. Rất tiếc khi chủ trương chấm dứt chế độ thực dân và trả chủ quyền độc lập cho các thuộc địa sau chiến tranh thế giới của ông chưa kịp thực hiện thì ông đã phải qua đời.
Tất cả các sự kiện lịch sử đều phản ánh sự cai trị mà ra, phản ánh bản chất của nhân dân: Hiền hòa và yêu chuộng hòa bình. Họ sẽ chẳng bao giờ nổi loạn lật đổ những kẻ tham quyền cố vị nhường chỗ cho những bậc minh quân trừ phi họ bị bất công và đói khổ. Việt Nam chúng ta cũng không là ngoại lệ. Những cái tên đầy “phúc hậu” như chúa Nghĩa, chúa Sãi, chúa Hiền ...ấy ở đâu ra nếu như không xuất phát từ một nhân cách sáng ngời đạo lý của những vị chúa đáng mến của chúng ta? Đất phương Nam của chúng ta có được nào phải đâu do xâm lược mà là do chúng ta tự vệ, do giúp đỡ các nước láng giềng trong việc bảo vệ, giữ gìn an ninh, trật tự dân cư, do cha ông chúng ta vất vả khai hoang, ... Với tinh thần nhân đạo, tiếng tốt của các chúa ta đã vang xa đến nỗi bất kể ai từ bất cứ quốc gia nào mỗi khi bị hiếp đáp, bất mãn chế độ hay đói khổ ... cũng đều tìm đến các chúa ta! Bằng chứng là Dương Ngạn Địch, Lương Nhữ Tài đã đầu quân vì không phục nhà Thanh; là Mạc Cửu cũng chạy sang từ Trung Quốc sang quy thuận chúa ta và còn nhiều, nhiều người dân bình thường khác nữa từ các nước như Chân Lạp, Cao Miên, Xiêm La, ... đến với chúa ta vì nể phục sự đức độ tài năng. Nếu như Minh Mạng xưa xua quân đánh chiếm Nam Vang thì Thiệu Trị kế tục đã trả lại công bằng bằng cách trả lại vùng đất ấy cho Cao Miên bởi lẽ dân Cao Miên không phục cách cai trị của Minh Mạng. Điều đó nói lên điều gì nếu không phải là sự thể hiện truyền thống “đạo lý” của nhân dân ta từ vua quan cho đến dân thường và điều này giải thích tại sao nhân
tài nước Việt đời nào cũng có.
Vậy thì ông Sơn Nam ơi! Lớp trẻ ngày nay biết ít về lịch sử lắm! Làm sao ta có thể truyền lòng tự hào dân tộc, tổ tiên một khi đất nước ta có nhiều những ông vua xấu chứ? Những ông vua có tính cách xấu được khoác những cái tên do nhân dân đặt cho rất đẹp: Tiên, Hiền, Phật, ... sao? Vô tình ta sẽ tạo cho chúng cảm giác bị lừa gạt, lòng tin của chúng về những điều tốt lành sẽ giảm đi và liệu chúng có muốn làm người tốt nữa không? Và vô tình chúng ta lại gây nên sự bất công cho những vị chúa ấy bởi thực chất họ có xấu đâu! Hình ảnh những vị vua cao quý của chúng ta đã bị bóp méo bởi chính ngòi bút của chúng ta đấy chứ!
b. Thực tế:
Đã gọi là giáo dục thì luôn luôn tồn tại hai khía cạnh: Học và hành. Chúng ta đã soạn để dạy học sinh như thế tức đã cho chúng học rồi. Vậy thì chúng sẽ thực hành những điều đã được học ở đâu đây? Xin thưa: Mỗi người chúng ta chính là một nguồn tư liệu sống, một môi trường vô cùng sinh động chẳng những cho thế hệ trẻ mà cả cho tất cả chúng ta học và thực hành.
Friday, April 27, 2012 3:22:50 AM
Solutions submitted to parliament
Ví dụ 1: Trong gia đình
Bà ngoại tôi là người không biết chữ nên bà không được học cách dạy con như thế nào nhưng mỗi khi muốn mắng con là bà lại dùng những câu thơ, những câu ca dao, tục ngữ mà bà đã từng nghe được trong dân gian phù hợp với hoàn cảnh ấy mà đọc lên. Ví dụ như bà bảo má tôi đổ nước mới đun sôi vào chén sành nhưng má tôi lại đổ vào ly thủy tinh và kết quả là ly đã bị vỡ. Bà ngoại đã đọc to:
Cá không ăn muối cá ươn
Con không vâng lời cha mẹ trăm đường con hư
Khi má tôi lấy chồng, bà lại rươm rướm nước mắt đọc câu:
Mẹ cha bú mớm nâng niu
Tội trời đành chịu, không yêu bằng chồng
Đến thời má tôi, những câu thơ, những câu ca dao, tục ngữ đã bị biến mất mà không “nói lời tạm biệt” trong khi má tôi lại học thấp: Lớp 5 trường làng nên bà cũng không biết cách dạy con như thế nào ngoài việc thỉnh thoảng đọc được vài câu thơ, ca dao, tục ngữ thuộc lòng từ tấm bé để dạy chúng tôi. Trong trường hợp bí quá không biết đọc câu nào cho thích hợp với ngữ cảnh thì bà chỉ biết im lặng mà sống tốt, sống hết mình, hy sinh hết mình vì chồng, vì con. Vì thế nên tôi vẫn thường trách mẹ tôi: “Mẹ chẳng bao giờ dạy dỗ con gì cả!”. Chưa bao giờ bà gọi chúng tôi lại giáo huấn trong khi ba tôi thì luôn miệng làu bàu nào là khoa học, nào là thế này, thế kia nhưng chỉ nhận được sự thờ ơ của con cháu và bị mang tiếng nói nhiều.
Giờ đây, khi trưởng thành tôi mới nhận ra những lời dạy mà má tôi dành cho lũ trẻ của bà mới quý báu làm sao! Chắc hẳn quý vị sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng mới cách đây vài dòng chữ tôi đã phàn nàn bà không dạy dỗ gì tôi cả mà bây giờ lại phủ nhận và nói hoàn toàn ngược lại bằng cách thừa nhận sự dạy dỗ của bà là sao? Có mâu thuẫn không? Vâng, có sự khác biệt trong cách diễn tả bằng lời của tôi nhưng những lời đó hoàn toàn không mâu thuẫn tí nào. Sự khác biệt là bởi những lời nói bị ràng buộc bởi yếu tố thời gian. Khi tôi chưa trưởng thành, tôi không sao nhận ra được giá trị của những “lời giáo huấn” không lời: Bà dùng chính cuộc đời của bà để dạy chúng tôi.
Những đứa con chúng tôi đã không được bà dạy lý thuyết bởi giới hạn về trình độ học vấn, về kiến thức nhưng chúng tôi đã được thực hành.
Sự thực hành đó là gì?
- Là sự lao động để có cái ăn và chính nhờ lao động mà bà đã xuất sắc nuôi chúng tôi ăn học nên người như ngày nay.
- Là sự công bằng trong cuộc sống: Ba tôi lìa bỏ sự đầy đủ vật chất của bản thân trong một gia đình khá giả (Nội tôi là võ sư dạy rất nhiều đệ tử) để đeo đuổi lý tưởng cao cả là đạp đổ bất công, đánh giặc cứu dân, giữ nước hòa bình, tăng gia sản xuất chống đói, góp phần xây dựng quê hương, mẹ tôi đảm đang việc nhà, chăm lo con cái (chồng lo việc nước, vợ đảm việc nhà); Thuở nhỏ, tôi học giỏi nhất nhà nên sự công bằng bà dành cho tôi là đã lao động trí óc thì không phải lao động chân tay, người giỏi trí óc phải được ưu tiên về mọi mặt thì trí óc ấy mới có đủ thời gian tôi rèn và thăng hoa, người giỏi trí óc phải được tự do tư tưởng thì mới nghĩ ra được nhiều điều hay, người giỏi trí óc phải được ăn ngon mới có đủ sức khỏe mà tiếp tục học giỏi (vì thế nên tôi dù là con gái nhưng đến lớn mà chuyện bếp núc hầu như chẳng biết gì, chuyện nhà cửa lại càng không biết mặc dù hiện nay đã có tiến bộ rất nhiều và tôi là người bị các anh chị không thèm chơi và ghét bỏ nhiều nhất vì tôi có quá nhiều quyền lợi: Không: quét nhà, nấu cơm, giặt đồ, rửa chén. Tôi không phải làm gì cả ngoài việc học và chơi một mình với những suy nghĩ của riêng tôi. Tôi không biết đến đói và ăn độn là gì vào cái thời điểm mà cả nước phải ăn bo bo nên mãi sau này tôi mới được nhìn thấy hạt bo bo lần đầu tiên trong đời qua ly chè sâm bổ lượng. Cha, mẹ và anh chị tôi luôn dành cho tôi cơm nạc trong khi họ phải ăn cơm cháy ở cái thời điểm mà nồi cơm điện là thứ vật dụng xa xỉ nên người ta phải nấu cơm bằng những cái nồi méo mó như những ngọn lửa méo mó táp lấy thân nồi cho nên mỗi khi được ăn một miếng cơn cháy tôi mới thấy nó ngon làm sao! Cái vị ngon của miếng cơm cháy thuở bé là vị ngon của sự lạ miệng lâu lâu mới được ăn trong khi vị ngon của miếng cơm cháy mà ngày nay tôi được và thích ăn là cả một sự cám ơn dành cho họ, là vị ngon của một chút “mặn nơi đầu lưỡi” dẫu rằng chẳng có ai ăn cơm cháy chấm muối bao giờ. Cuộc đời tôi có thể nói là sung sướng như một “công chúa” (tôi luôn mơ ước mình là công chúa để có thể kết hôn với hoàng tử) và người giỏi trí óc thì không được ... ăn đòn: Mẹ tôi đã bắt chước các vua chúa xưa trong việc đánh người khác thay cho con mình nhưng vì mẹ tôi không thể đánh tôi mà cũng không đủ giàu để thuê người làm nên bà đã thay vì đánh tôi mỗi khi tôi phạm lỗi thì lại đánh các anh chị tôi.
Nghiệm lại, mẹ tôi đã biết làm cái việc mà ngày nay người ta gọi là đãi ngộ nhân tài dẫu rằng tôi chỉ là một nhân tài bé bỏng trong mắt người đàn bà tội nghiệp là mẹ tôi. Nhân tài luôn có một điểm chung là niềm say mê làm việc. Muốn thu hút họ không phải cứ cho tiền mà là phải cho họ làm việc trong điều kiện tốt nhất có thể để đem lại kết quả công việc như quốc gia mong đợi.
Việc bà đánh các anh chị tôi thay cho tôi đã dạy tôi bài học đạo lý: Đạo lý dành cho một người giỏi. Một người giỏi mà phạm lỗi sẽ gây hậu quả cho những người khác phải gánh chịu, sẽ gây ra bất công cho người khác. Chính vì lẽ đó mà tôi rất sợ phạm lỗi dù chẳng bao giờ phải ăn đòn. Sự khác biệt giữa tôi và các anh chị tôi là ở chỗ tôi học giỏi hơn họ nên khi họ phạm lỗi họ sẽ ngay lập tức bị ăn đòn mà không có ai thay thế. Tôi lại có thêm một bài học đạo lý là người bình thường phạm sai lầm thì một mình họ chịu, còn người giỏi phạm lỗi thì chẳng những người giỏi bị dằn vặt mà còn làm tổn hại đến rất nhiều người. Do đó, người bình thường phạm lỗi thì có thể chấp nhận nhưng người giỏi thì không có quyền và không được quyền sai phạm. Trách nhiệm của người giỏi trở nên nặng nề hơn và người giỏi phải ý thức được điều đó.
- Là sự cần, kiệm, tự lập, khiêm tốn, sống tự hào và vì người khác chứ đừng vì bản thân, sống với lòng nhân ái, yêu thương đồng bào: Hình ảnh người mẹ cần cù nhặt nhạnh từng nhánh củi khô trên đường đi (đường làng chưa được tráng nhựa như bây giờ) để tiết kiệm tiền mua củi còn mãi trong tôi. Dù cũng có của ăn của để nhưng mẹ tôi vẫn sống một cuộc sống vừa phải, không tiêu hoang, không quần này áo nọ, ... bà vẫn sống như trước nay từng sống. Bà bảo: Tiền để đó khi nào cần thì có dùng ngay mà không phải chờ hay đi vay mượn người khác. Toàn khu dân cư nơi tôi ở chỉ có mỗi gia đình tôi có ti vi bật cho cả xóm xem. Thuở ấy, nhà tôi lát gạch bông trong khi cả xóm được mấy ai có dép đi, làng xóm toàn đi chân đất. Thế nên, sau khi chương trình ti vi kết thúc mỗi buổi tối là mẹ tôi lại cần mẫn lẳng lặng cầm cây chổi quét nhà mà không chút phàn nàn. Vài ba người ái ngại: Thật làm phiền chị quá! Mẹ tôi đáp: Có chi đâu, lao động cho giãn gân giãn cốt ấy mà! Tôi trố mắt với cái “giãn gân giãn cốt” của mẹ. Mẹ tôi sạo! Mẹ tôi làm việc cả ngày mệt mỏi không hết có đâu giờ lại gọi là “giãn gân giãn cốt”. Chẳng qua mẹ tôi khiêm tốn cho sự chăm chỉ của bà và cố gắng để mọi người có thể vẫn đến nhà tôi xem ti vi giải trí sau những giờ lao động nhọc nhằn, nắm thông tin thời sự, khoa học kỹ thuật, sức khỏe đời sống, ... trong và ngoài nước trong điều kiện không có tiền mua báo đọc. Bà đang nghĩ cho người khác, nghĩ đến cảm giác của người khác đấy chứ!
Kết quả học tập hạng nhất của tôi được cất trong ngăn học nhưng mẹ vẫn biết và thông báo cho bất cứ ai đến nhà chơi. Tôi mắc cỡ cúi mặt và lẩm bẩm: Chỉ được nước khoe khoang! Nhưng nào phải đâu bà khoe khoang. Đó là sự tự hào: Bà hãnh diện vì có đứa con học giỏi mà cả xóm không ai có và điều đó là sự thật được chứng minh qua tờ giấy khen ghi rõ: Hạng nhất! Vậy làm sao phân biệt giữa khoe khoang và tự hào? Tôi học được hạng nhì nhưng mẹ tôi “khoe” là hạng nhất. Đó là khoe khoang! Tôi học được hạng nhất và mẹ tôi “tự hào” với thành quả hạng nhất của tôi. Đó là tự hào. Nghĩa là ta tự hào khi ta có thực lực và thực lực một khi bị phóng đại sẽ trở thành khoe khoang.
- Là nhiều, nhiều nữa những bài học không tên nhưng rất thấm thía mà sau này đúc kết lại tôi gọi chúng bằng một tên chung: Ngàn lời giáo huấn không bằng một đời nhân cách. Tại sao tôi lại so sánh những hành động của chuỗi đời sống của mẹ tôi với những lời giáo huấn? Vâng, đó chính là những lời giáo huấn của Ba tôi – một người cộng sản Cách mạng đấu tranh cho tự do của dân tộc. Tôi ngưỡng mộ và tự hào ông ở chỗ đó! Ba tôi không ham tiền nên mới từ bỏ cuộc sống với Nội đi theo tiếng gọi của lý tưởng thiêng liêng. Những thứ ba tôi có sẽ được Ba tôi tặng, biếu cho tất cả mọi người ngoại trừ ... Má tôi. Nhà nước cấp đất phân phối cho cán bộ công nhân viên, Ba tôi dành hết cho nhân viên chọn những vị trí đẹp nhưng đến phiên ông thì ... hết đất và ông phải sống trên mảnh đất mà Má tôi tích cóp từ những khoản tiền từ Bà ngoại cho má tôi làm của hồi môn trước khi “theo chồng về nơi xứ lạ” đến vay mượn của những người làm chung cơ quan, hàng xóm, ... rồi trả dần theo kiểu “nợ mòn con lớn”. Ba tôi sẵn sàng dùng số tiền lương công chức ít ỏi để trang trải cho công việc, cho những người nghèo mượn “không hoàn lại” nhưng lại “ăn bám” má tôi từng bữa cơm. Ba tôi dạy tôi rất nhiều đạo lý nhưng tôi chẳng nhớ được lấy một đạo lý nào của ông cả ngoài cái lý tưởng duy nhất mà cả đời ông theo đuổi và một sự thật là: Cách mạng đã không nuôi nổi Ba tôi và ông đã phải ăn bám những “bà mẹ Việt Nam anh hùng” trong chiến tranh trước khi lấy vợ rồi lại tiếp tục ăn bám “bà mẹ của những đứa con ông” trong thời bình. Cách mạng đã không đem lại cơm no áo ấm cho gia đình tôi. Chúng tôi, những đứa con của người Cách mạng sống được và trưởng thành là hoàn toàn nhờ vào người mẹ bình thường chẳng có lý tưởng cao cả tí nào ngoài một lý tưởng nhỏ nhoi cũng rất tầm thường như con người của Bà: Sống là phải có cái ăn, cái mặc dù không phải sống để ăn, để mặc và ta chỉ có thể lo cho người khác sau khi ta đã lo cho bản thân mình.
Tôi kể cho quý vị nghe về gia đình tôi không phải để tự hào về người Mẹ tầm thường nhưng vĩ đại của tôi mà chỉ để chứng minh rằng những bài học từ thực tế, từ những người xung quanh quý hơn nhiều, có giá trị hơn nhiều so với những gì được ghi chép trên sách vở. Xin nhớ là tôi nói quý hơn nhiều chứ tôi không nói sách vở không quý. Tức sách vở cũng quý nhưng thực thế thì quý hơn. Quý vị lại hỏi tôi: Tại sao nãy giờ tôi nói nhiều thế! Như vậy có ngược với những gì tôi mới lập luận không? Không một chút nào đâu! Vì tôi không sống chung nhà với quý vị nên quý vị sẽ không nhìn thấy được cuộc sống của tôi, cuộc đời của tôi có đáng là một nhân cách để có thể cho ai đó học không nên tôi phải ghi ra và đó là lý do tại sao người ta phải viết sách.
Quý vị có biết không, tôi đang kể cho quý vị nghe về gia đình tôi đấy nhưng sao mắt tôi cứ như đang nhòa đi theo dòng cảm xúc về sự biết ơn dành cho gia đình tôi. Tôi cám ơn:
- Mẹ tôi: Đã cho tôi một cuộc sống vô cùng sung sướng bên cạnh một giấc mơ hồng của một cô “công chúa” mà mãi đến tận bây giờ tôi mới nhận ra gia đình mình chẳng giàu có gì. Cám ơn Mẹ đã dành cho tôi nhiều ưu đãi như thế để tôi có thời gian làm giàu tâm hồn của mình và chưa bao giờ tôi cảm thấy mình giàu có như lúc này. Trước đây, tôi là “công chúa” của vương quốc vật chất vì tôi hầu như không thiếu thứ gì. Còn bây giờ, tôi lại nhận thêm một diễm phúc là “công chúa” của vương quốc tâm hồn vì tôi cảm nhận được thế giới này mới đẹp làm sao!
Vì tôi luôn được đầy đủ nên vật chất đối với tôi không là thứ làm tôi ham thích. Tôi mặc kệ người ta đi xe đẹp, quần áo đẹp, nhà cao cửa rộng, tiền xài thả cửa, ... Tôi không chọn tiền là thước đo thành công mà là trí tuệ, đức độ, tài năng, đạo lý, nhân cách sống và phải sống như thế nào.
- Ba tôi: Đã cho tôi một đạo lý của lý tưởng sống thiêng liêng, làm việc cho lý tưởng của mình. Nhưng lý tưởng của tôi khác Ba tôi. Tôi sẽ cống hiến cho nhân loại nhưng tôi phải luôn xác định tầm cống hiến. Ba tôi gặp ai công hiến nấy. Một sự cống hiến manh mún. Tôi không lựa chọn con đường đi này của ông. Tôi cống hiến cho quốc hội những ý tưởng của tôi để cải tổ, để xây dựng, bảo vệ, phát triển cho tất cả mọi người ở tầm vĩ mô. Nếu như Lỗ Tấn của Trung Quốc chuyển từ nghề y sang nghề văn thì tôi chọn ngay sự nghiệp viết văn cho mình để có thể giúp mọi người đọc được đạo lý: Nói đạo lý thì người ta chỉ hiểu chung chung thôi nhưng nếu ta diễn giải đạo lý ra thành chữ thì ai cũng có thể hiểu cụ thể mà có thể áp dụng. Tuy nhiên, một nhà văn chỉ có thể dẫn đạo vào đời khi và chỉ khi đạo ấy phải được chứng minh bằng thực tế. Lịch sử là bằng chứng cho hiện tại chứ lịch sử không là kim chỉ nam cho hiện tại. Nên, hiện tại sẽ chỉ được đạo lý hóa khi và chỉ khi những nhà lãnh đạo định hướng đạo lý là người thầy của hành trình phát triển đất nước đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Nhân dân chỉ có thể có hạnh phúc khi có đầy đủ vật chất và tinh thần lành mạnh. Làm sao cho tinh thần nhân dân lành mạnh đây khi mà đạo đức đang ngày càng xuống cấp? Hai từ cuối cùng của 5 năm điều Bác Hồ dạy mà tôi luôn thuộc nằm lòng là “dũng cảm”. Chúng ta phải dũng cảm đấu tranh với cái ác đang từng ngày gặm nhấm tinh thần đồng bào ta. Và tôi, khi viết tập kiến nghị này nộp cho Quốc Hội cho kịp ngày 18/03/2011, tôi hiểu rằng tôi đang và phải dũng cảm trong cuộc chiến này và tôi tin rằng: Tôi sẽ không đơn độc!
- Các anh chị tôi: Đã cho tôi biết được chân lý là cái tốt luôn bị đố kỵ bởi cái xấu và người bản lĩnh là phải biết đạp lên những dư luận sai lệch mà sống, mà đi tiếp con đường mình đã chọn. Để tiêu diệt lòng đố kỵ thì phương pháp tốt nhất là dùng đức trị đối với người tốt (có quan niệm sai lệch) và dùng pháp trị trên cơ sở đạo lý đối với người xấu: Bản chất anh chị tôi là những người tốt nhưng họ không có ý thức về sự đãi ngộ đối với người giỏi của Má tôi nên mới sinh lòng đố kỵ. Để thỏa mãn đố kỵ, họ thường kiếm cớ đánh tôi mỗi khi Má tôi vắng nhà. Đố kỵ sẽ hóa hận thù nếu như tôi dùng pháp trị bằng cách méc Má tôi trừng phạt họ. Đố kỵ sẽ được hóa giải nếu như tôi thể hiện sự cao thượng của mình bằng cách không méc Má tôi trừng phạt họ. Kết quả là họ tự cảm thấy “kỳ” hay còn gọi là xấu hổ mà thôi, không đánh tôi nữa. Thay vào đó, họ tỏ ra chăm sóc tôi hơn. Họ tự dành phần ngon cho tôi, dành những thứ họ không dùng nữa cho tôi vì họ biết tôi thích mọi thứ xung quanh.
Vì tôi thường chơi một mình nên tôi có nhiều thời gian suy ngẫm và kiến
thức trở thành những người bạn luôn luôn trung thành của tôi. Tôi không giao du bạn bè mang tên con người nhiều vì tiêu chuẩn kết bạn của tôi là lý tưởng sống. Đó là lý do tôi không bao giờ cảm thấy cô đơn vì tôi biết cách cảm nhận và “trò chuyện” với những người bạn trung thành của tôi.
- Nhà trường: Đã cho tôi những phần thưởng mà những học sinh khác không có và tôi hiểu rằng phần thưởng là sự tưởng thưởng xứng đáng cho những nỗ lực. Khi tôi không nhận được cái gì tức là tôi chưa xứng đáng có được cái đó. Hiểu ra điều đó, tôi sẽ không bao giờ ganh tỵ với người khác. Tôi không có đầy đủ vật chất bằng bạn bè là vì tôi được sinh ra trong một gia đình không giàu có như bạn bè nên tôi không ganh tỵ với bạn bè về điều đó. Trong mọi hoàn cảnh ta sẽ luôn vững vàng nếu như ta biết xác định ta đang ở đâu? Ta là ai? Ta đang làm gì?
- Bác Hồ: Cả cuộc đời Bác Hồ là vô vàn tấm gương sáng soi đường cho chúng ta noi theo. Thật may mắn cho chúng ta có được người thầy đạo lý và người thầy Bác Hồ “kè kè” hai bên để lý tưởng sống của chúng ta không bị lệch lạc.
Thế nên, muốn học trò giỏi phải có thầy giỏi (còn việc trò hơn thầy là trường hợp ngoại lệ cũng như cũng có người tự học mà vẫn giỏi cũng là trường hợp hy hữu), muốn con ngoan phải có những bậc cha mẹ mẫu mực và muốn có nhân tài hay xã hội tốt thì phải có một tầng lớp lãnh đạo hành động theo đạo lý.
Ví dụ 2: Ngoài xã hội
Một anh công an bắt một tên tội phạm về tra vấn tại sao hắn ta hư hỏng, làm người là phải sống tốt nhưng mở miệng ra là anh ta văng tục, chửi thề bên cạnh các động tác tay chân đập bàn, đá ghế, ... và nếu như không có bộ sắc phục trên người thì không làm sao phân biệt được ai công an, ai tội phạm. Tên tội phạm tự đặt mình ngang hàng với công an cho dù công an là đại diện cho chính nghĩa. Việc tên tội phạm nghĩ như vậy có đúng đạo lý không? Hoàn toàn đúng! Tên tội phạm làm điều sai mới bị gọi là tội phạm và bởi vì “nhân chi sơ tính bổn thiện” nên dù ngu đần cách mấy hắn cũng hiểu được một đạo lý cơ bản: Văng tục, chửi thề là xấu. Khi gặp công an, hắn không biết là đang tiếp chuyện người tốt hay người xấu nhưng hành động văng tục, chửi thề bên cạnh các động tác tay chân đập bàn, đá ghế, ... đã giúp hắn nhận dạng công an là kẻ chẳng ra gì. Người ta chỉ kính phục một người có nhân cách chứ không ai xem trọng một kẻ thiếu nhân cách. Hai người đối thoại:
- Tại sao anh lấy trộm điện thoại của người đang làm việc trong công trình. Anh biết việc đó là sai trái không?
- Tại sao anh chửi thề trong cơ quan nhà nước mà anh lại là người đại diện cho chính nghĩa thực hiện lẽ phải?
- Mày dạy đời tao hả? Mày đi ăn trộm là xấu rồi mà còn không biết lỗi! Đ.M. cứng cổ hả?
Tên tội phạm câng mặt nhìn công an buông tiếng chửi thề mà không đáp. Công an cũng câng mặt nhìn tên tội phạm buông tiếng chửi thề và tiếp:
- Tao hỏi sao mày không trả lời? (Rầm – tiếng đập bàn) Đ. M. Mày đi ăn trộm một mình hay có đồng bọn đi chung? Tụi nó trộm ở địa bàn nào?
Tên tội phạm vẫn câng mặt nhìn công an, nhếch mép cười và không đáp.
Công an báo cáo lên cấp trên: Tội phạm lúc này rất gian manh, xảo quyệt, ngoan cố, ...
Người sếp công an xuất hiện hỏi tên tội phạm tại sao lại trở nên hư hỏng như thế. Tên tội phạm trả lời là do bị bạn bè lôi kéo ăn chơi, túng tiền lại nghe chúng xúi đi lấy trộm điện thoại để giải quyết khó khăn nên đã làm liều mà không lường trước hậu quả. Người sếp nạt vào mặt tên tội phạm là ăn nói vô lý vì anh ta đã trên 18 tuổi, đã có thể tự chịu trách nhiệm trước những hành vi của bản thân, đã có thể ý thức được việc mình làm rồi, sao lại đổ thừa cho bạn bè lôi kéo.
Văn phòng đã có sự xuất hiện hai chị em đi trình cớ mất dùm người khác: Tại sao xã hội ta lúc này toàn là “không chồng mà chửa”.
Sau khi nghe cuộc đối thoại trên, người em hỏi người chị:
- Tại sao công an không nhân cơ hội gặp tội phạm mà giáo huấn họ?
- Ấy da! Công việc dạy dỗ là của Bộ giáo dục chứ đâu phải của công an! Công an chỉ có bắt người làm sai thôi!
Không có đạo lý ở đây là gì?
o Chuyện ai nấy làm:
Công an có nhiệm vụ bắt người nên không cần quan tâm đến bất cứ chuyện gì khác ngoài việc tìm ra tội phạm, bắt, phạt hay chuyển sang viện kiểm soát truy tố. Đó là quan niệm sai lầm về 2 từ “giáo dục”. Công an là người trực tiếp tiếp xúc với tội phạm, nếu công an không tận dụng cơ hội này để giáo dục họ thì ai sẽ giáo dục họ theo đúng phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” đây? Không giáo dục thì làm sao họ thấy sai mà sửa đây? Mà tại sao tội phạm lại không thể học ở công an chứ? Đâu phải giáo dục là phải ở trong một lớp học và được lên lớp bài bản. Công an đâu nhất thiết thực hiện hành vi giáo dục là phải học thuộc lòng những lời giáo huấn rồi nói thao thao bất tuyệt không cần biết tội phạm có chịu nghe hay không. Công an chỉ cần biểu hiện là một người có nhân cách (không văng tục, chửi thề bên cạnh các động tác tay chân đập bàn, đá ghế, ...) là đã đạt được 50% nội dung của việc giáo dục rồi. Công an tốt sẽ làm cho tội phạm nể, phục và nghe lời và đi theo hướng thiện. Với tư cách của người trên, tại sao công an không áp dụng:
Chẳng mang sắc giận, đánh roi
Ấy mà thiên hạ nhất lời phục, tuân (c)
Tên ăn trộm thực hiện hành vi ăn trộm là vì hắn muốn có tiền dẫu biết rằng sai trái. Khung hình phạt dành cho hắn cũng đã được quy định rồi. Dù có chất vấn hay không chất vấn thì hắn cũng vẫn phải chịu tội vì hành động của hắn đã bị bắt quả tang. Nên, cần xác định cuộc nói chuyện với hắn là nhằm mục đích gì nếu không phải là để cảm hóa hắn trở thành người tốt.
Nếu công an có thái độ đối kháng với hắn thì theo phản xạ tự nhiên hắn cũng sẽ đối kháng với công an. Sau khi thi hành hình phạt của pháp luật, tình trạng đối kháng này tiếp tục duy trì. Nếu muốn có tiền xài, hắn lại tiếp tục phạm pháp với quan niệm: Liều thôi, hên xui!
Nếu công an thực hiện động tác giả với tư cách của một người bao dung mà đứng về phía hắn, tiếp chuyện thân mật và thân thiện với thái độ nghiêm trang, lịch sự:
- Anh tên gì, nhà ở đâu? Sao lại bị bắt vào đây?
Vì có cảm giác được thông cảm, hắn sẽ biện minh cho hành vi ăn cắp và cố chứng minh mình vẫn còn là người tốt. Cụ thể là tên tội phạm khi gặp người sếp công an đã thay vì có thái độ bất hợp tác như đối với anh công an “lính” thì đã cố gắng biện minh cho tội lỗi của hắn. Điều đó chứng tỏ điều gì? Đó là: cho dù đó là những lời nói dối đi chăng nữa nhưng khoa học đã chứng minh lời nói là sự diễn tả của suy nghĩ tức hắn ta có suy nghĩ ra, nhận ra hành vi của hắn là do bạn bè xúi dục (bởi tư tưởng của những con người bình thường luôn luôn không vững vàng mà điển hình là trong thời chiến, Bác Hồ ta đã phải soạn ra những luận cương, lý luận cách mạng để giác ngộ cán bộ cách mạng và những cán bộ cách mạng này lại phải giác ngộ quần chúng đi theo cách mạng. Nhờ vậy mà lực lượng cách mạng mới ngày càng tăng thêm theo cấp số nhân và đến ngày nay, tòa nhà Giác Ngộ vẫn sừng sững tọa lạc tại số 85 Nguyễn Đình Chiểu, phường 6, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh đấy thôi) hoặc thậm chí do hắn tự làm sai chăng nữa thì cũng chắc chắn nguyên nhân chính vẫn là hắn đã không đủ bản lĩnh để chế ngự lòng tham của mình nên mới hành động sai trái. Phạt thì chắc chắn chúng ta đã phạt rồi. Thế thì mất gì lời nói mà không cho hắn cơ hội làm người tốt. Phàm làm người, ai lại không có thể diện. Hãy làm bạn với hắn để khi ra khỏi đồn công an, hắn sẽ có cảm giác như mình có bạn ở đây vậy và người bạn này ít ra vẫn xem hắn là người tốt. Thế là lần sau, khi muốn phạm tội, ít ra hắn cũng ngại ra tay khu vực này vì như thế sẽ mất mặt với “người bạn” đã từng tin hắn. Tất cả công an đều là “bạn” của tội phạm thì đi đâu chúng cũng có “bạn” và như thế chúng sẽ phải nghĩ đến chuyện kiếm tiền chân chính để không phải gặp lại “bạn” tại nơi mà hắn sẽ bị mất mặt với bạn bè. Đừng đẩy người ta vào con đường cùng và đừng buộc người ta phải phạm tội. Hãy chừa cho họ ít nhất một con đường lùi.
o Bảo vệ mình bằng cách chỉ tội người khác:
Tội phạm sai khi cố lý sự với công an. Thế nhưng công an càng sai hơn khi không phát hiện ra là tuy hắn ta là tội phạm nhưng hắn phê bình công an như thế là đúng, tức tên tội phạm này vẫn còn biết phân biệt phải trái. Công an càng sai hơn khi dùng quyền của kẻ bắt người mà uy hiếp hắn.
Xưa, nhà nước ta đưa ra phong trào hợp tác xã ruộng đất nhưng thất bại. Điều đó chứng minh là quyết định về hợp tác xã là sai. Sau đó, nhà nước chuyển sang hình thức khoán ruộng đất sản xuất. Năng suất tăng lên tức quyết định đúng. Nếu như nhân dân cũng giống như công an chỉ ra cái sai của nhà nước, không thực hiện theo cái đúng thì liệu có sự phát triển?
“Hôm qua anh tốt, chưa chắc hôm nay anh tốt và ngược lại, hôm qua anh xấu, chưa chắc hôm nay anh xấu”. Quá khứ là lịch sử. Lịch sử là chứng cứ để chứng minh cho hiện tại chứ lịch sử không là kim chỉ nam cho hiện tại. Tên tội phạm dùng hành vi văng tục, chửi thề bên cạnh các động tác tay chân đập bàn, đá ghế, ... do công an đã làm để chứng minh công an không tốt nhưng hắn vẫn phải chấp hành những hình phạt đúng do công an đưa ra ở hiện tại nhằm khuyên hắn thôi không ăn trộm nữa bất kể quá khứ công an có làm sai. Ngược lại, quá khứ của tên tội phạm là hành vi ăn trộm nhưng việc hắn nhận xét công an làm những hành vi văng tục, chửi thề bên cạnh các động tác tay chân đập bàn, đá ghế, ... là hành vi sai trái là đúng ở hiện tại thì công an phải chấp hành việc hắn khuyên là thôi không văng tục, chửi thề bên cạnh các động tác tay chân đập bàn, đá ghế, ...nữa. Có như thế hai bên mới đạt được đạo lý. Chúng ta sai thì chúng ta sửa sai là lẽ đương nhiên bởi chúng ta là những con người. Đừng vì sĩ diện mà bảo vệ mình bằng cách lôi cái sai của người khác ra để phản biện thì cái sai sẽ tiếp nối cái sai và không có sự hoàn thiện bản thân để trở thành người tốt. Không cần biết người đó là ai, làm gì nhưng một khi anh ta nói đúng thì chúng ta phải biết nghe. Đó mới là đạo lý. Một người khuyên bảo người khác nhưng bản thân không thực hiện được lời mình nói thì sẽ không làm cho người nghe phục chứ không thể phủ nhận những gì người đó nói vì nói được là đã tốt rồi, đã chứng minh là anh ta đã nghĩ đúng rồi trong khi có những người ngay cả nói mà còn không làm được thì còn làm được cái gì? Chẳng hạn như một người nuôi cá, mỗi khi cho cá ăn anh ta lại đánh trống. Ban đầu, nghe tiếng trống con cá không nổi lên để đớp mồi. Nhưng khi con cá đã quen rồi thì con cá sẽ nổi lên mỗi khi nghe tiếng trống mà không cần biết là có mồi hay không. Và tiếng trống trong trường hợp này đóng vai trò là những lời khuyên, khi người ta chưa quen thì làm sao mà người ta có thể thực hiện được những lời tốt đẹp chứ. Cho nên, hãy bình tĩnh mà cho họ thời gian cũng như con cá cần có thời gian để quen với tiếng trống vậy. Đừng để tên tội phạm chẳng những xem thường công an mà còn khinh dễ nhà nước Việt Nam không có đạo lý.
“Trọng thầy mới được làm thầy”. Tên tội phạm không xem trọng người công an thì làm sao hắn có thể học tốt được và trong trường hợp này lại thích hợp với câu “không nên đố mày làm thầy”.(d)
Friday, April 27, 2012 3:17:05 AM
Solutions submitted to parliament
IV. Vụ án Nông trường Sông Hậu:
“… Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho ta mà ta hãy tự hỏi ta đã làm gì cho tổ quốc thân yêu …”(trích từ một bài hát). “Tổ quốc”, hai từ ấy sao mà thiêng liêng quá! Thế nhưng, tổ quốc là gì? Tổ quốc phải chăng là quê hương, là bãi mía, vườn rau, …, là đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam? Thật chua xót khi ta đọc bài viết “Vụ án Nông trường Sông Hậu (NTSH) – Cần đặt lên bàn cân công lý: Công hay tội?” của đại tá Bùi Văn Bồng đăng trên “Hồn Việt” số 30 tháng 12/2009.
Nước chẳng dân khác chi vùng đất trước khi Columbus khám phá
Dân chưa nước lo phỏng quê cha sau này bậc đức độ khai sinh
1. Bảy ngàn (7000) ha đất của nông trường Sông Hậu được khởi đầu là vùng hoang lầy, ngập phèn với những lung, đìa, bưng, trấp từ những năm 1979 đã trở thành trung tâm sản xuất nông nghiệp tập trung công nghệ cao với trên 3.200 hộ dân và 15.000 nhân khẩu.
NTSH không được nhà nước cấp vốn mà phải vay 100% từ ngân hàng và sau 7 năm mới được xét duyệt cấp số vốn ít ỏi khoảng 8%.
NTSH đã 2 lần được nhà nước phong tặng “Anh hùng lao động, huân chương độc lập hạng 3 và nhiều huân chương cao quý” khác.
Cựu giám đốc Trần Ngọc Hoằng (Năm Hoằng) và nguyên giám đốc Trần Ngọc Sương (Ba Sương – con gái ông Hoằng) cũng là những anh hùng lao động do nhà nước phong tặng danh hiệu.
Ngày 19/11/2009, Trần Ngọc Sương bị tuyên phạt 8 năm tù giam và phải bồi thường 4,3 tỷ đồng với tội danh “lập quỹ trái phép” – một cái quỹ mà bà Nguyễn Thị Bình – nguyên phó chủ tịch nước đã phát biểu “Đây không phải là quỹ đen mà phải gọi đúng tên là Quỹ đời sống”
11/04/2010, hủy 2 bản án (sơ thẩm, phúc thẩm) để điều tra lại.
2. Bà Sương có “lập quỹ trái phép” hay không? Xin hãy nhìn vào chính cuộc đời của bà:
- Người phụ nữ không chồng, không con, không một căn nhà để ở.
- Người phụ nữ đoạt danh hiệu “Người phụ nữ ấn tượng khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương” trong lĩnh vực kinh doanh năm 2002.
- Người phụ nữ mà ngay khi bị tuyên án đã có ngay 110 nông trường viên xin được ở tù thay vì họ hiểu “tội của bà là tội lo cho mọi người”.
- Người phụ nữ đã giúp cho NTSH tạo ra những mặt hàng mà ông Gary Place – chủ tịch USFI đã nói: “Hàng của sohafarm, chúng tôi rất ưa chuộng. Tập đoàn USFI đang cung cấp ra thị trường thế giới khoảng 1500 mặt hàng thực phẩm cao cấp và an toàn vệ sinh thực phẩm. Ở VN có NTSH là đơn vị sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu trên. Do đó, USFI mới chọn NTSH làm đối tác của mình”.
- Người phụ nữ lãnh đạo NTSH đi lên “đổi mới và hội nhập với thị trường trong và ngoài nước” với hơn 50 mặt hàng nông sản và thực phẩm chế biến”.
- Người phụ nữ đem về cho VN danh hiệu “vương miện tài năng” trao tặng cho 15 phụ nữ xuất sắc chọn lọc từ 11 quốc gia và số tiền thưởng USD 10.000 (190.000.000 VND) này lại được Người phụ nữ này dùng để tặng lại cho phụ nữ và trẻ em nghèo Cần Thơ.
Tội nghiệp thay chị ấy
Hạnh phúc hỡi là chi?
Sóng lòng dân nổi dậy
Nụ cười sao chẳng thấy?
3. Trần Ngọc Sương có tội hay bị “hại”? Động cơ để bà bị gây “hại” từ đâu? Phải chăng đó là:
- NTSH kinh doanh theo mô hình khép kín: Sản xuất – chế biến – cung cấp ra thị trường với 14 cơ sở chế biến nông sản thực phẩm; 3 trung tâm: TT sản xuất giống bị sữa và bị thịt, TT sản xuất giống thương phẩm sạch và trung tâm sản xuất giống gỗ rừng trồng bằng phương pháp mô, hom. Gạo của NTSH cũng đã nhiều năm xuất khẩu sang các nước ASEAN, Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ. Thực phẩm đông lạnh xuất khẩu sang Nhật, EU, Mỹ. Hàng nông sản sang Nga, Nhật, Mỹ. Lâm sản chế biến sang các nước Châu Á, Châu Mỹ, Châu Úc, … Phải chăng sự phát triển vượt bậc của NTSH đã trở thành miếng mồi ngon cho những kẻ muốn nhảy vào “kiếm chác”? bởi lẽ GS – TS Võ Tòng Xuân, hiệu trưởng trường ĐH An Giang đã phát biểu trong một hội thảo khoa học có chủ đề “Sông Hậu – mô hình phát triển theo định hướng XHCN” như sau: “Trong thời buổi nông nghiệp, cả nước ta đang tiến quá chậm, lợi ích của người nông dân tăng quá ít vì vướng vào tình trạng khâu tiêu thụ nông sản hàng hóa, nhất là thị trường đầu ra, NTSH đã nổi lên thành mô hình khép kín từ khâu tổ chức sản xuất đời sống đến chế biến, tiêu thụ nông sản hàng hóa – quả là một tổng công ty lớn đi lên từ đất đai và lao động ở nông thôn. Đây cũng là hình mẫu khoán sản phẩm trong nông nghiệp đi trước cả nước, là nơi xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả chất lượng cao”.
- Nhà sử học Dương Trung Quốc lại “chú ý đến chi tiết chưa được kiểm chứng là đằng sau vụ án này có yếu tố đất đai” khi có những thông tin “Thành phố Cần Thơ muốn lấy đất NTSH làm khu đô thị”. Thời gian sẽ chứng minh và nếu như quả thật như thế thì thật là chua xót. Xin hãy đặt lên bàn cân xem “một khu đô thị” và “một nông trường”, cái nào quan trọng hơn. Muốn xây dựng một khu đô thị, ta chỉ cần có tiền mua cát, đá, xi măng, sức lao động, … là ngay tắp lự khu đô thị sẽ được mọc lên nhưng nếu muốn có một nông trường như NTSH thì phải mất gần 30 năm mới có được (trồng người, trồng cây). Ta có thể bốc khu đô thị đang nằm trên dự án từ nơi này sang nơi khác nhưng ta không bao giờ có thể bốc một nông trường ra khỏi mảnh đất cha ông.
- Giữa 11/2010, tôi đi thực tế NTSH: 1) Vào thời điểm đầu, Nông trường rót vốn đầu tư cho dân trong việc mua thóc giống, phân bón, thuê nhân công … để sau khi thu hoạch, bán lại thành phẩm cho NTSH. Nhưng, không ít hộ dân lấy lý do bán sản phẩm cho Nông trường thủ tục rườm rà mà bán ngoài. Chuyện sẽ không đáng nói nếu họ hoàn vốn Nông trường. Lòng tham đã làm những khoản nợ “truyền từ đời này sang đời khác” và nếu cộng lại thì đây không là khoản nhỏ. 2) Nhà nước ra chính sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất áp dụng cho những người cư trú và sử dụng đất trong thời gian trên 10 năm sẽ có quyền hợp pháp đứng tên trên GCNQSD đất. Đất của NTSH thì nhiều vô số kể và nếu như thông tin này là chính xác (tôi không là thám tử và càng không là chuyên viên điều tra) thì liệu đây là mấu chốt vấn đề, là động cơ của vụ án: Tư hữu hóa đất quốc doanh?
- Đảng CSVN có vấn đề không khi cố thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng phải viết thư cho thường vụ thành ủy thành phố Cần Thơ trong đó có đoạn viết: “Tôi được biết, cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án xuất phát từ thông báo kết luận của phó bí thư thường trực thành ủy tại cuộc họp ngày 18/03/2008 trong đó có chỉ đạo trực tiếp việc khởi tố vụ án đồng thời cũng nêu rõ tội danh làm cơ sở khởi tố. Tôi không lầm thì thông thường việc này phải do cơ quan điều tra hay Viện kiểm soát tiến hành. Tôi không rõ có những lý do gì bên trong để các đồng chí giải thích cho việc này: Cơ quan Đảng chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố án”. Phải chăng với lối kinh doanh khép kín, NTSH có thể hoàn toàn độc lập và “không có cửa” cho bất cứ sự thao túng nào đã cản trở tham vọng quyền lực nào đó và đạo đức bất phục, kiên trì với lý tưởng cách mạng cao cả của bà Sương đã đẩy NTSH đến chỗ bị “triệt”?
Thơ viếng Bác Võ Văn Kiệt
(8/4/2012)
Bác nằm đó! Linh cữu tựa thủy tinh
Như lòng Bác sáng lung linh bất diệt
Như tên Bác – một trang tuấn Kiệt
Giỏi song toàn cả Võ lẫn Văn
Vì non sông tấc dạ trở trăn
Phải làm sao chặn đà suy thoái
Dẫu đồng tiền giúp dân thoát đói
Nhưng bào mòn nhân cách con người
Lễ truy điệu: Con nhòa lệ … Hỡi ôi!
Sao mắt Bác u uất, chẳng tươi?
Khuôn mặt Bác ngỡ ngàng nỗi gì rồi?
Mà bàn tay cung vào như nắm đấm?
Bác ra đi! Còn chi chưa gởi gắm?
Hay là vì ông trời đâu có gọi
Bác cãi lệnh nên cơn giận ổng nổi?
Hoặc bởi lẽ bọn diêm vương, quỷ sứ
Ép Bác đi nên quyết tâm chống cự?
Mây trên cao dạt bay đâu mất?
Nắng cau mày tỏ bày gay gắt?
Trận cuồng phong đang ẩn mình dồn sức
Việt Nam ơi! Cuộc chiến vì chữ “Đức”
Chống bất công, uất ức! Vượt qua?
4. Hình hài của “quỹ đen”:
Đen: một danh từ chỉ màu sắc, màu của chết chóc, ảm đạm, u tối, lầm đường lạc lối, ... Phàm những cái gì thuộc về khía cạnh trái đạo lý thì thường được dùng màu đen để diễn đạt. Bọn xã hội đen là những kẻ hoạt động “trong bóng tối” với những hành vi trái pháp luật và luôn phải trá hình, che dấu. Vì là đen, xấu xí nên chúng phải trốn chui, trốn nhủi. Còn cái “quỹ đen” đang được nhắc đến của NTSH thì sao? Một cái được gọi là “quỹ đen” mà sao ai ai cũng biết thế? Chẳng những bà con ở NTSH biết mà nó còn thổi đến cả tai bà Nguyễn Thị Bình – nguyên phó chủ tịch nước biết và đặt cho nó cái tên là “quỹ đời sống” từ rất lâu mà ngày nay bỗng nhiên bị đổi tên như thế. Hóa ra đời sống của người dân đã trở nên đen tối rồi ư? Hay là ai đó đang nhuộm đen đời sống của người dân kể từ khi có từ “quỹ đen” xuất hiện?
Quan quẳng xuống hồ, quan bảo: Bơi!
Biết bơi? Dân chẳng! Hỏi ông trời!
Bớ này quan hỡi! Đâu nơi chốn!
Lạ nhỉ! Thằng kia! Biết sự đời?
Chúng ta hãy điểm qua cuộc sống người dân nơi đây xem sao nhé:
Khu đất hoang đầy “đường đất, cầu tre lắt lẻo” được thay bằng “đường nhựa và cầu bê tông” với “Hơn 13 ngôi trường từ mầm non tới Trung học phổ thông và trạm Y tế…” “được xây dựng bằng tiền của Nông trường, chứ không phải ngân sách Nhà nước” và “hàng trăm cán bộ - bác sĩ - giáo viên làm việc trong các cơ sở y tế - giáo dục đó đều được trả lương và phụ cấp rất cao (trung bình gấp từ 1,5 - 2 lần bên ngoài) từ nguồn quỹ tự cân đối của Nông trường (mà chủ yếu là từ “Quỹ trái phép” ấy)”. “Tất cả con em đến lớp đều được miễn học phí; khám bệnh miễn phí và chỉ trả tiền mua thuốc... Con em học giỏi, Nông trường còn phát gạo hàng tháng, tặng quần áo, tập sách và cấp học bổng. Thậm chí tất cả con em vào đại học đều được Nông trường cấp học bổng hàng tháng để giảm bớt gánh nặng cho gia đình Nông trường viên… Nhiều em sau đó đã trở lại Nông trường làm việc và cống hiến bằng cả nhiệt huyết và lòng tri ân.”
5. Liệu ai có còn muốn phấn đấu trở thành anh hùng lao động cho một Việt Nam như thế?
Xin hãy đừng đi theo vết lăn của bánh xe lịch sử của một Nguyễn Trãi đã phải trải qua bao thế hệ mới được truy tôn tấm lòng ức trai. Xin hãy cứu lấy một “ức trai” trên NTSH khi mà bà ta vẫn còn sống.
Ngài bộ trưởng bộ Công an của chúng ta cũng đã lên tiếng: “Khi dư luận có nhiều ý kiến trái chiều thì bộ sẽ xem xét lại quá trình điều tra của cấp dưới” và ông cũng đã “yêu cầu công an thành phố Cần Thơ báo cáo toàn bộ quá trình điều tra lên cho ông.
Thách thức sự bức xúc của mọi người, cuối tháng 02/2011, cơ quan điều tra đã công bố số tiền sai phạm của quỹ đen tăng thêm 1 tỷ bất chấp sai phạm của lần điều tra trước đã bị viện KSND “điểm danh”:
- Một số khoản thu đưa vào quỹ chưa đủ cơ sở để xác định là trái phép:
+ Khoản thu hơn 2,6 tỉ đồng (làm tròn số) là tiền bán 4 lô đất do ông Trần Ngọc Hoằng (bố bà Trần Ngọc Sương, nguyên Giám đốc Nông trường Sông Hậu - PV) mua.
+ Khoản tiền hơn 2,2 tỉ đồng là tiền vay các cá nhân bị coi là khoản thu đưa vào quỹ trái phép.
- Một số khoản chi chưa đủ cơ sở để xác định là thiệt hại và buộc các bị cáo phải bồi thường:
+ Khoản chi công tác phí trong nước và nước ngoài hơn 2,2 tỉ đồng có chữ ký xác nhận của bà Trần Ngọc Sương.
+ Khoản chi bồi dưỡng cho đoàn Kiểm toán Nhà nước năm 2004 là 233 triệu đồng.
+ Khoản chi lấp âm quỹ ngân sách hơn 1 tỉ đồng.
+ Các khoản chi mua quà, lương kiêm nhiệm hơn 620 triệu đồng.
+ Các khoản chi biếu tặng cá nhân, ban, ngành địa phương và Trung ương hơn 678 triệu đồng.
Vấn đề được đặt ra là “cơ quan Đảng chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố án”. Liệu đây có phải là điểm tựa vô hình mà ông Huỳnh Văn Tiếp - phó đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ đã vô tâm phát biểu thẳng thừng vào dư luận là “sẽ làm việc với đoàn thanh tra thành phố, làm việc với công an, với tòa án xem kết luận cái đó thế nào rồi sẽ rà lại coi khởi tố đã hết tội chưa …”. Ngài bộ trưởng bộ công an của chúng ta đã trả lời trước công luận là sẽ xem xét xem “nếu như cấp dưới có sai phạm”. Liệu một vụ án đang được sự quan tâm của Thủ tướng chính phủ, của phó chủ tịch nước, … thì cấp dưới của ông dám sai phạm mà không rụt rè hỏi xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên? Lật trang lịch sử của Hiệp định Paris 1973 về điều khoản ngừng bắn, tự do dân chủ, …, Mỹ rút quân về nước nhưng tay sai ngụy vẫn ngang nhiên phá hoại và trang sử dạy các thế hệ cháu con ta đã viết rằng “… Mỹ dung túng cho ngụy …” Nhìn ra thế giới của những ngày đầu Mỹ tấn công Irắc. Công luận cả thế giới đều lên tiếng thế nhưng Mỹ vẫn đánh Irắc. Có lẽ công luận sẽ chẳng còn tác dụng nữa rồi khi mà công luận không có quân đội, không có vũ khí hạt nhân, ... Thật nực cười khi ta đòi hỏi người nước ngoài công bằng trong vụ kiện chất độc màu da cam, khi ta đòi hỏi Trung Quốc tôn trọng chủ quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay tại đất nước ta sự bất công, sự chà đạp tình người lại đang diễn ra.
6. Mỗi khi viết đơn tường trình cơ quan nhà nước, chúng ta thường viết Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, độc lập – tự do – hạnh phúc. Một đất nước được quản lý trên khuôn khổ pháp luật và căn cứ trên pháp luật để làm cho nhân dân cảm nhận được nền độc lập, tự do, hạnh phúc. Pháp luật được đặt ra để làm chuẩn cho mọi người noi theo, cho mọi người dựa vào đó mà hành xử sao cho tất cả đều “hạnh phúc” chứ đâu phải pháp luật đặt ra cho những kẻ cơ hội có dã tâm lợi dụng, sử dụng làm công cụ giết chết tình người, gây căm phẫn trong nhân dân. Xưa vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072) xử án một chàng trai trẻ phạm tội chỉ vì không hiểu luật, ngài đã răn đe, giáo huấn và cuối cùng là tha bổng cho anh ta. Nay, một chị Sương, người kế tục một quỹ đời sống không đúng luật nhưng tất cả các cơ quan chức năng đều đã biết đến và làm ngơ hay chính xác hơn là không cho đó là hành vi tham nhũng mà chẳng qua là không đúng quy trình cũng giống như làm một bài toán chăm lo hạnh phúc cho nhân dân nhưng không theo phương pháp giảng dạy của nhà trường mà theo phương pháp do học sinh tự nghĩ ra. Nếu đã gọi là sai phạm sao lại làm ngơ. Xin hỏi ngài bộ trưởng bộ công an, ngài đang truy nã một tội phạm nhưng đến khi tìm ra hắn đang ngủ khì trong nhà một người nào đó, ngài hỏi người đó rằng: Có biết hắn ta là tội phạm truy nã không? Người đó trả lời: Có! Ngài có bắt họ chịu tội vì có hành vi che dấu không? Tất nhiên là có chứ! Thế nhưng người chủ nhà lại nói rằng: Tôi biết nhưng tôi làm ngơ. Ngài sẽ trở nên vô cùng ngây thơ tin họ ngay lập tức và sẽ tha bổng cho họ ngay lập tức hay ngài quy cho họ thêm một tội nữa mang tên: Ngoan cố? Và nếu quả thật là họ ngoan cố thì ngài ơi! Ngài cần xem lại xem ngài đang làm việc cho một đất nước mà ở đó người dân biết rằng tên tội phạm truy nã sờ sờ ở đó lại không màng đến việc trình báo hoặc cố tình che dấu bất chấp sự liên lụy thì liệu đất nước đó có đang bất công với nhân dân của họ như trong giai đoạn mà những nhà Cách mạng Việt Nam được bà con che chở từ sự truy lùng của chế độ cũ bất chấp nguy hiểm đến tính mạng không? Nếu như đó thật sự là sai phạm thì có lý đâu cả những người nằm trong quốc hội – những nhà thông thái được nhân dân tin tưởng giao phó vận mạng non sông cho họ - cũng không nhận ra? Nếu đó là sai phạm thì làm sao với tư cách là một bộ trưởng bộ công an mà ngài lại để cho nó tồn tại những gần 30 năm – khoảng thời gian gần bằng thời gian được sống trong hòa bình êm ấm kể từ năm 1975 của nhân dân ta? Vậy té ra ngài tự nhận mình là kẻ bất tài vô dụng đến đỗi đã để cho “phạm nhân” chẳng những không thèm dấu diếm chứng cứ “tội ác”, đem “tội ác” ấy đi khoe khắp nơi mà bản thân cha con “kẻ tội phạm ấy” còn phè phỡn ngoài vòng pháp luật, thay mặt nhân dân dự hết hội nghị này đến hội nghị khác, rồi còn để cho đất nước Việt Nam cử “tội phạm ấy” đi dự các chương trình quốc tế và nực cười hơn tên “tội phạm ấy” lại được nhận danh hiệu “Người phụ nữ ấn tượng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” trong lĩnh vực kinh doanh năm 2002 và danh hiệu “vương miện tài năng”? Vậy té ra ngài lại tự bội nhọ một Việt Nam không sáng suốt đã trao tặng cho gần như cả nhà “tên tội phạm” danh hiệu cao quý “Anh hùng lao động” khi mà từ bé tôi đã được học là Việt Nam ta toàn những người lãnh đạo tuyệt vời lèo lái con thuyền Cách mạng vượt bao phong ba bão táp, vân vân và vân vân ... là bịp bợm hết sao? Quả thật là từ bé đến lớn tôi đã đọc lịch sử của biết bao quốc gia nhưng chưa hề thấy nơi nào có một tên tội phạm lạ lùng như “tên tội phạm” này! À! Mà có chứ! Đó là một tội phạm bị Tưởng Giới Thạch bắt giữ, được các nhà nghĩa khí cứu giúp thoát khỏi nhà tù, trở thành vị lãnh tụ đầu tiên đọc tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Công Hòa và cho đến nay mọi người vẫn tôn thờ ông như một vị thánh: Hồ Chí Minh. Nếu như ngài bảo rằng suốt thời gian qua ngài không bắt “tên tội phạm” ấy là việc làm sai trái và cả nước đã vô tình để xổng mất “tên tội phạm” ấy nên bây giờ ngài sửa sai bằng cách bắt “tên tội phạm” ấy. Vậy thì ngài lại không công bằng rồi! Ngài và cả nước của ngài có quyền sai và có quyền sửa sai còn “tên tội phạm” lỡ lập cái quỹ mà ngài gọi là trái phép ấy, gọi là hành vi sai trái ấy thì ngài lại không cho “hắn” cơ hội sửa sai sao trong khi ngài lại đang giữ vị trí cao hơn “hắn”. Tôi thì ngu muội, chỉ nghe người ta nói rằng làm dân mà làm sai thì chỉ mình dân chịu. Làm quan mà làm sai thì sẽ ảnh hưởng đến biết bao người. Quan mà làm sai tội sẽ lớn gấp mấy lần dân ấy! Không biết họ nói vậy có đúng không hở ngài? Tôi lại còn đọc ở bản tin số 17 tháng 12 năm 2010 của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TP. HCM là “ngôi nhà của những nhà thông thái của Việt Nam” vừa ra một cái nghị quyết 36 gì đó là “coi kiều bào là bộ phận không thể tách rời của dân tộc”, là “đến lúc này chúng ta phải đề cao truyền thống vị tha ...”. Các ngài thật sáng suốt khi vị tha cho những kiều bào, những người đã từng “bỏ chạy mang theo hận thù” hay nói đúng hơn là những kẻ “phản bội tổ quốc”. Thế đấy, té ra “cái tội” của tên tội phạm này còn nguy hiểm hơn là tội “phản bội tổ quốc” cơ đấy! Nếu không nguy hiểm hơn sao cái bọn “phản bội tổ quốc” được đãi ngộ nhiều thế: vị tha, coi như bộ phận không tách rời dân tộc, không hề bị xử, ... còn tên tội phạm này có muốn “sửa sai” cũng không được. Ngài lại bảo tôi: Cái con nhỏ này, sao mà cứ nhắm vào ngài mà nói thế, bao nhiêu người cùng buộc tội bà “tội phạm ấy” chứ nào có phải chỉ do mình ông quyết định đâu mà cứ lẽo đẽo lải nhải suốt như thế? Ôi! Thế thì đứa con gái ngu muội này xin lỗi ông vậy! Nhưng mà tại tôi thấy sao mà ông cứ nhắm vào cái bà Sương ấy mà sao không nhắm vào những người khác ấy. Họ cũng “chung thuyền” với bà ấy cơ mà! Và người thành lập ra cái “quỹ” bị nhuộm “đen” ấy là ông Hoằng mà chứ có phải đâu bà Sương đâu. Có bắt thì phải bắt người chủ mưu chứ có đâu lại bắt người làm việc theo lệ cũ thế kia? Hay tại ông Hoằng chẳng may qua đời nên bắt con ông ấy chịu tội thay. Nếu như có thể chịu thay thì sau này bất cứ ai hễ phạm tội chỉ việc kiếm người thay là xong hết. Giữa cái thời buổi này thì thiếu gì người sẵn sàng làm “Lê Lai cứu chúa” để có tiền.
7. Ngài Bộ trưởng ơi! Ngài cứ nhìn đi, trước mắt ngài là một cơ ngơi trị giá hàng trăm tỷ mà “tên tội phạm” đã gầy dựng và biếu không cho tổ quốc trong khi tổ quốc chả đưa cho bà tí vốn lận lưng nào thế mà giờ đây lại đòi bà số tiền mà nó lại là số tiền nằm trong khoản tiền do bà ta tạo ra. Đạo lý này quả thật tôi cũng mới nghe lần đầu tiên! Cho phép tôi được hỏi ngài một việc nữa nhé! Một người thuê mặt bằng để kinh doanh, hàng tháng trả tiền thuê nhà đầy đủ. Khi người ấy ra đi và trả mặt bằng lại cho chủ nhà, người chủ nhà có quyền bắt người thuê trả thêm số tiền lời phát sinh từ hoạt động kinh doanh của người thuê hay không? Người thuê khi ra đi có quyền đem theo hoặc bán những thứ mà người thuê đem lại và trang hoàng trên mặt bằng để trả nợ không hay là chủ nhà cũng sẽ giành lấy hết? Mà đã gọi kinh doanh thì phải có vay, có nợ chứ. Xin hỏi ông chứ nhà nước Việt Nam mình có đang nợ ngân hàng thế giới số tiền lớn gấp mấy lần số nợ của NTSH hay không? Trong khi chỉ tính riêng vốn lưu động của NTSH đã xấp xỉ tổng nợ ngân hàng rồi.
8. Xét trên quan điểm tình người, bà đã sai gì chứ? Cũng được gọi là pháp luật nhưng nếu như luật pháp ấy không có tính người, không đi vào lòng người, không thuận lý thì dần dần liệu có còn có tác dụng? Lại một lần nữa lịch sử đã chứng minh khi vua Tự Đức ban lệnh triệt binh năm 1862, nhân dân có ai thèm nghe đâu?
9. Nhớ khi xưa, các ngoại kiều Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích khẩn hoang đất đai thì được tổ quốc ta vinh danh trên những trang sử oai hùng của dân tộc là một trong những người mở đất phương Nam. Ngày nay, một nữ anh hùng lao động cũng khai hoang, cũng làm giàu cho quê hương, cho đồng bào thì tổ quốc lại chuẩn bị đón tiếp bà ấy bằng căn nhà “đá” để suốt cuộc đời còn lại của bà phải sám hối, ăn năn vì đã làm điều thiện, đã cống hiến, đã hy sinh, ...
10. Kính thưa ngài Bộ trưởng bộ công an! Kính thưa quý tòa của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam! Tôi được biết là nước Việt Nam ta đã đánh đổ 1000 năm phong kiến để xây dựng trật tự xã hội mới tốt hơn, đẹp hơn. Một xã hội tốt đương nhiên là do sự lãnh đạo tốt của các ngài rồi. Vậy chắc hẳn cái xã hội mà các ngài lập ra phải tốt hơn cái xã hội của thời vua Lê – chúa Trịnh Kiểm rồi. Khi ấy, năm 1585, Trịnh Kiểm đã cho phép Nguyễn Hoàng cai quản Thuận Hóa (Cai quản chứ không phải khẩn hoang à nha!). Cái ông chúa Trịnh Kiểm ấy đã không hề kiểm soát xem thằng em rể Nguyễn Hoàng ấy làm ăn ra sao hay chính xác hơn là quản lý thu chi ra sao. Và cái ông chúa Tiên - Nguyễn Hoàng ấy cũng không có báo cáo gì sất ngoài việc cống nạp hàng năm. Cái sự kiện ấy sao mà giống cái vụ án Nông Trường Sông Hậu quá ta! Cũng giao đất quản lý (À không! Đất khẩn hoang chứ! Đất để quản lý là phát triển sẵn rồi! Cơm nấu sẵn rồi! Chỉ ăn thôi. Đất khẩn hoang là lúa, muốn có cơm ăn là phải xay ra lấy gạo rồi mới thổi cơm ăn được!). Cũng hàng năm chẳng những nộp thuế mà còn phải báo cáo sổ sách nữa chứ. Rồi đùng một cái bắt người ta ra thẩm tra, bắt đền tiền mà tiền ấy lại là của người ta làm ra nữa mới lạ! Ủa? Vậy mấy ông tốt hơn Trịnh Kiểm ở chỗ nào?
11. Năm tháng trôi qua... truyền thuyết kể rằng: Tại một đất nước xa xôi, trong một ngôi nhà nọ có một người cha sống cùng 2 con: một trai, một gái. Người cha cho người con trai cai quản vùng đất huyện đảo, người con gái trông coi vùng sình lầy đồng chua nước đọng.
Một tháng sau, người cha nhận được 1 lá thư từ người anh yêu cầu gởi thêm tiền vì đã tiêu xài hết khoản lộ phí mang theo. Ngay lập tức, người cha sai gia nhân chu cấp số tiền mà anh ta yêu cầu.
Vài ngày sau đó, người cha nhận được một cây lúa từ đứa em gái.
Cứ như thế, người cha đều đặn nhận thư và cây lúa vào mỗi tháng.
Năm thứ nhất trôi qua, người cha vẫn tiếp tục nhận thư từ người anh nhưng lại bắt đầu nhận phong thư tiền từ cô em gái và số tiền ấy cứ ngày càng tăng dần theo thời gian.
30 năm trôi qua, trong một lần về thăm nhà với tâm trạng ngán ngẩm kiếp người thua kém bạn bè, người anh tâm sự với cha:
- Con là con trai một của cha, sau này cha mà mất đi thì con chính là người đội mũ gậy cho cha. Bây giờ cơ ngơi em con nó bề thế quá. Mai kia nó lấy chồng, “nữ sinh ngoại tộc” thì sẽ không lo gì cho cha nữa đâu trong khi đất đai xưa là của cha. Không có đất ấy, liệu nó có làm nên tích sự gì không. Thôi thì cha lấy về cho con để con còn phụng dưỡng cha nữa chứ.
Người cha tức tốc đến chỗ cô con gái và nói:
- Thôi, con thu vén rồi trả đất, trả tiền cho cha rồi đi lấy chồng đi.
- Tiền gì mà trả chứ?
- Tiền mày làm ra từ mảnh đât sình lầy tao giao mày canh giữ ấy.
- Trời, miếng đất do con tạo lập. Ban đầu nó là đất hoang không sinh lợi mà. Ba xem anh Hai ngoài đảo đó, ảnh cũng giữ đất cho Ba mà Ba còn phải chu cấp cho ảnh hàng tháng nữa. Giờ con có công Ba không thưởng thì thôi, sao lại đòi tiền và đuổi con đi?
- Mày trả không? Không trả tao cho mày đi tù bây giờ?
Thế đấy! Ai bảo làm người tốt và có tài chi cho khổ, cứ bất tài, vô dụng mà giỏi hại người có khi lại sướng đấy chứ!
Và đâu đó, “Tiếng hò sông Hậu” lại được cất lên: Hò ... o ... ớ ... ơ ...
Tốt làm chi như chị Ba Sương
Cả đời cống hiến mà vương tội hình(!)
Nước nhà yên ấm hòa bình ...
Lòng dân dậy sóng thình lình thế .... kia!
12. Hiện nay, trong bối cảnh của cuộc chiến tranh chống lạm phát, chống tham nhũng, chống suy đồi đạo đức, bảo vệ và toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta cần, cần lắm những anh hùng. Và các nhà lãnh đạo tài ba ơi! Xin đừng để kẻ thù lợi dụng sự kiện này làm cơ sở tuyên truyền những luận điệu phản động: Trung thành với bọn cộng sản làm gì! Gương anh hùng lao động trước mắt các người không thấy sao! Chỉ có gục mặt với đời! Hãy để chúng tao cai trị! Chúng tao sẽ cho chúng mày cao lương mỹ vị, cho chúng mày cái thời hoàng kim của những người mà trước đây theo chúng tao ấy. Chúng mày thấy không? Người nước ngoài bao giờ cũng lịch lãm, tiền đầy túi, sang trọng, ...
Các nhà lãnh đạo tài ba ơi! Xin đừng để người dân vô cảm với tờ giấy chứng nhận “Anh hùng lao động” của một Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và thiết nghĩ, hình phạt đích đáng nhất dành cho bà không gì khác hơn là: Trắng án!
Friday, April 27, 2012 3:15:12 AM
Solutions submitted to parliament
V. Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa:
1. Thực trạng:
a. Hoàng Sa:
Trung Quốc đã làm chủ đảo Phú Lâm kể từ ngày 21/2/1956 và đã thiết lập được bộ máy chính quyền hoàn chỉnh với các cơ sở hạ tầng trực thuộc như là một thị xã của Trung Quốc gồm 1 sân bay, 2 bến cảng phục vụ cho việc phát triển quốc phòng và kinh tế.
Trung Quốc nắm trọn quyền kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa kể từ ngày 19/1/1974 nhân sự kiện Hải chiến Hoàng Sa.
b. Trường Sa:
Trung Quốc đã chiếm đóng các bãi đá kể từ ngày 14/3/1988 nhân sự kiện Hải chiến Trường Sa.
2. Đánh giá:
2.1. Tài sản: Hải sản, phân chim, đặc biệt là dầu thô và khí đốt có trữ lượng thuộc hàng lớn nhất thế giới.
2.2. Điều kiện sinh sống: Phát triển ngư nghiệp, khai thác khoáng sản, phân chim là chủ yếu. Nghề nông không phát triển lắm.
2.3. Vị trí chiếc lược:
a. Hoàng Sa: Điểm then chốt có thể nắm quyền kiểm soát thủy đạo quan trọng bậc nhất Đông Nam Á và bậc nhì thế giới.
b. Trường Sa: Thuộc vùng có mật độ hàng hải đông nhất thế giới. Giữ vị trí quan trọng trong việc giám sát các hoạt động trên biển đông.
2.4. Cơ sở pháp lý: Ngoài Việt Nam, tất cả các nước khác tuyên bố chủ quyền đều không có đủ cơ sở để chứng minh chủ quyền của họ đối với 2 quần đảo này. Việc họ tuyên bố chủ quyền chẳng qua là lý do chính trị: Đề phòng việc trở thành một quốc gia lệ thuộc Trung Quốc trong tương lai vì họ hiểu rõ tính chất bành trướng của Trung Quốc. Nếu như Việt Nam làm chủ được 2 quần đảo này thì mối lo ấy sẽ không còn. Do đó, nhiệm vụ của Việt Nam là phải làm chủ cho được 2 quần đảo này tức phải hất toàn bộ quân đội Trung Quốc và Đài Loan ra khỏi lãnh thổ của mình. Khi đó, các nước khác sẽ vì công lý mà không tranh giành chủ quyền với Việt Nam nữa.
2.5. Tham vọng của Trung Quốc:
a. Hoàng Sa:
- 26/6/1946: Dựa trên tuyên bố Cairo và tuyên bố Postdam và lấy lý do giải giáp quân Nhật, Trung Quốc đã chiếm đảo Phú Lâm đồng thời tuyên bố chiếm giữ quần đảo Tây Sa tức Hoàng Sa vào 7/1/1947.
- Tháng 4/1950: Trung Quốc bị Pháp đánh bật khỏi quần đảo Hoàng Sa.
- 21/2/1956: Trung Quốc tận dụng thời điểm Pháp bị rút
quân ra khỏi Việt Nam đã tái chiếm Phú Lâm.
- 19/1/1974: Trung Quốc đánh úp quân đội Việt Nam nắm toàn quyền kiểm soát Hoàng Sa.
b. Trường Sa:
- Năm 1945: Trung Quốc đổ bộ vào quần đảo Trường Sa và phá bỏ các cột mốc chủ quyền.
- Năm 1948: Trung Quốc rút khỏi Trường Sa dưới sức ép của Pháp.
- Năm 1958: Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về Trường Sa.
- Năm 1987: Trung Quốc thực hiện các chuyến tuần tra ở quần đảo Trường Sa và thiết lập một căn cứ thường xuyên.
- Năm 1888: Trung Quốc đánh úp quân đội Việt Nam nắm quyền kiểm soát một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
2.6. Quốc tế nghĩ gì?
- Phillipines không tham gia vào việc tranh chấp chủ quyền đối với Hoàng Sa cho đến ngày 10/3/2009, họ đã tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa mặc dầu không có chứng cứ chứng minh cho hành vi này ngoại trừ lý do an ninh quốc gia trước sự yếu kém của Việt Nam trong việc bảo vệ và toàn vẹn lãnh thổ. Liệu họ có dám tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa khi biết rằng cường quốc Trung Quốc đã nắm toàn quyền kiểm soát Hoàng Sa, tức họ dám đối đầu với Trung Quốc nếu họ chưa ký kết hiệp ước phòng thủ tương hỗ với Mỹ ngày 30/8/1951? “Sự yếu kém” của Việt Nam được thể hiện qua việc Việt Nam theo thời gian đã mất dần toàn bộ Hoàng Sa và một phần Trường Sa và sự lấn sân của Trung Quốc vẫn còn tiếp diễn cho đến tận ngày nay bên cạnh các vụ thảm sát và cướp bóc ngư dân Việt Nam cùng những can thiệp khác của Trung Quốc đối với một số hoạt động khai thác dầu mỏ của những quốc gia khác trong khu vực. Trung Quốc đã bộc lộ rõ tham vọng không dấu diếm của họ là đặt Biển đông và an ninh các nước Đông Nam Á dưới sự kiểm soát của Trung Quốc.
- Thật là ngây thơ nếu cho rằng Mỹ không quan tâm đến Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên trở ngại của Mỹ là vừa vấp phải thất bại trong cuộc chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam thì lại bị lên án tại cuộc chiến được coi là Việt Nam thứ 2 mang tên Irak. Thế nhưng, chỉ cần Trung Quốc đụng đến Philiipines là ngay lập tức Mỹ ra tay và nguồn dầu kia sẽ là tham vọng ẩn mà Mỹ cố công dấu diếm. Đó là lý do tại sao Mỹ lại ký kết hiệp ước tương hỗ với Phillipines trong khi biết chắc là người cần hỗ trợ trong hiệp ước này chỉ có thể là Philipines và Mỹ thì chẳng có lợi lộc gì.
- Trung Quốc, kẻ biết rõ nhất mình đang ở đâu. Một khi chưa chắc chắn có đủ khả năng hạ gục Mỹ thì họ sẽ chẳng dại gì mà manh động. Việc đối phó với Việt Nam không phải là vấn đề của họ mà vấn đề là họ đang chờ, chờ cho họ đủ mạnh hay nói đúng hơn là trở nên mạnh nhất thế giới, điều mà họ lạc quan chắc chắn chỉ cần thêm yếu tố thời gian mà thôi. Trung Quốc của ngày nay khác với Trung Quốc của thời Lý Thường Kiệt hay Trần Hưng Đạo. Từng bước đi của họ khôn ngoan hơn. Quân đội của họ mạnh nên việc họ lấy hết Hoàng Sa hay Trường Sa không khó khăn gì. Điều làm họ e ngại là rơi vào tình trạng bị cô lập và tất cả các nước bắt tay nhau đối phó họ thì họ sẽ khó lòng thành công. Thế nên, họ đã từng bước thiết lập mối quan hệ ngoại giao với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Điều tiếp theo nằm ngoài dự đoán của họ là sự phát triển không ngờ của đói nghèo trên phạm vi toàn cầu đã làm chậm lại tham vọng của họ.
2.7. Chúng ta nghĩ gì?
Việt Nam trong giai đoạn lịch sử của một quốc gia vừa mới được giải phóng thống nhất đất nước và đối với 2 quần đảo này chẳng khác gì là đã bị đặt trong hoàn cảnh của một đứa bé mới được mẹ cho một cái bánh chưa kịp ăn đã bị con chó becgiê to lớn chạy lại táp lấy một miếng mở đường cho những con chó khác đến cấu xé được phần nào hay phần nấy. Đứa bé ấy còn biết làm gì ngoài việc ... khóc!
Rõ ràng Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam nhưng vì Việt Nam mãi bị Trung Quốc lấn sân nên các quốc gia láng giềng mới dòm ngó và leo theo các nấc thang mà Trung Quốc đưa ra và hành động ăn theo ấy lại được danh chính ngôn thuận bằng cái gọi là bảo vệ an ninh quốc gia của họ, đề phòng sự bành trướng của Trung Quốc trong khi tham vọng của Trung Quốc lại đủ lớn để có thể che chở cho sự ăn theo ấy.
Xưa, nước Chiêm Thành cướp phá, quấy nhiễu ta liên tục nên buộc lòng đất nước ta mới cất binh chinh phạt và vì vua Chiêm Thành bất tài vô dụng không quản nổi dân họ nên dân chúng Chiêm Thành mới nhờ vua ta bảo hộ và bằng cớ là dân chúng đã được sống một cuộc sống ấm no, hạnh phúc theo đúng nghĩa bảo hộ.
Nay, ta không hề đụng chạm Trung Quốc, chỉ chăm lo xây dựng đất nước và yên vui sống trong hòa bình thì Trung Quốc lại ngang nhiêm xâm chiếm lãnh thổ nước ta hết lần này đến lần khác theo kiểu “tằm ăn lá dâu”. Họ xâm chiếm và bắt bớ, hành hạ, tra tấn ngư dân ta. Hành động đó thật đáng lên án. Nếu chúng ta cứ mãi thụ động đấu tranh chính trị với một kẻ bất chấp đạo lý thì liệu sắp đến đây chúng ta sẽ bị mất đến cái gì? Chúng ta phải làm gì đây khi mà chúng ta đang ở thế “đi” xây dựng đất nước còn Trung Quốc – đối thủ chính của chúng ta – đang “chạy” trên con đường phát triển. Tình hình đặt chúng ta vào thế của những năm 1958 mà Trung Quốc đóng vai trò của một đế quốc Mỹ với những vũ khí tối tân hiện đại. Chúng ta “phải” giải phóng Hoàng Sa, Trường Sa như chúng ta đã từng giải phóng miền Nam vì cuộc chiến của chúng ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa.
3. Giải pháp:
Lỗ Tấn – một công dân Trung Quốc nói: Nếu con chó nó muốn cắn ta, ta phải tìm gậy đập cho nó rớt xuống hồ và ta phải tiếp tục đánh cho đến khi nó không còn khả năng leo lên cắn ta được nữa.
Ông bà ta có câu: Mạnh dùng sức, yếu dùng trí.
Hồ Chí Minh lại bảo: Lấy dân làm gốc.
Lỗ Tấn là người Trung Quốc nên ông hiểu người Trung Quốc hơn ai hết. Lịch sử đấu tranh giữ nước của chúng ta luôn cho thấy Trung Quốc mạnh, ta yếu. Vì yếu nên ta cần trí mà phải là trí của toàn dân chứ không phải của riêng quân đội Việt Nam. “Tằm” đã “ăn lá dâu” thì ta “chăn tằm, dệt lụa” và dùng lụa dẫn “kiến bu đốt tằm”. Trong đó, công tác truyền thanh, báo chí, tuyên truyền đóng vai trò chủ đạo.
Và khâu chuẩn bị thật chu đáo đóng vai trò quyết định:
a. Truyền lý tưởng yêu nước và nâng cao nhiệt huyết Cách mạng:
Nếu như trước đây, lớp lớp người Việt Nam tham gia Cách mạng vì lý tưởng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước thì ngày nay lý tưởng của chúng ta là “toàn vẹn lãnh thổ”.
Thế nhưng, thực trạng đáng buồn của Việt Nam ta là đang ngủ say trong hòa bình. Người dân có thể nói là quá thờ ơ với việc quốc gia. Người dân ngày nay giở tờ báo ra đọc, họ mải miết với những vụ scandal của những ca sĩ, diễn viên điện ảnh, họ kháo nhau về những vụ đâm chém, giết người, họ thán phục những người ăn mặc sang trọng, họ đua chen về nhà cửa, xe cộ, họ bĩu môi trước những quan chức chính phủ, những cán bộ tham nhũng nhưng chẳng ai chạnh lòng hay tiếc rẻ một Việt Nam bị mất quần đảo Hoàng Sa hoặc Trung Quốc ngang nhiên hoành hành phần còn lại của quần đảo Trường Sa. Họ xem đó là việc của nhà nước chứ không phải việc của họ. Liệu có mấy ai xem chương trình thời sự phát trên Ti vi ngoại trừ mấy ông lão hưu trí mà mấy ông lão này xem xong rồi thôi, sắp xuống lỗ rồi, làm gì nữa chứ, chuyện của lũ trẻ để bọn trẻ nó lo trong khi giới trẻ thì: “phim thời sự mà xem cái gì?” và thế là “switch”, chương trình game show xuất hiện, phim Hàn Quốc lâm ly hay những phim hành động của Mỹ đầy phấn khích. Kết quả là: Nhà nước chiếu tin của nhà nước thì nhà nước xem.
Đã đến lúc chúng ta phải thay đổi. Thay đổi bằng cách nào và phải bắt đầu từ đâu? Làm sao nhà nước không phải bơ vơ đi đánh thù trong, giặc ngoài một mình? Làm sao để dân chúng thấy rằng “tổ quốc đang cần, chúng ta phải góp công”? Mấu chốt duy nhất và liều thuốc duy nhất chữa bệnh thờ ơ, ỷ lại ấy của quần chúng chính là tư tưởng. Xưa Việt Nam ta đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng mà việc tuyên truyền tư tưởng cũng phải mất 5 năm mới gầy dựng được Đảng Cộng Sản Việt Nam từ một Cộng Sản Đoàn. Nay ta tuy chưa ở trong cảnh dầu sôi lửa bỏng nhưng chúng ta có lợi thế là đã có sẵn lực lượng Cách mạng, có sẵn Đảng Cộng Sản dẫu rằng có không ít một số đã biến chất nhưng đội ngũ Đảng vẫn được phát triển hàng năm nên việc giáo dục tư tưởng cũng tương đối thuận tiện nếu chúng ta nỗ lực:
- Thường xuyên họp tổ dân phố phổ biến tình hình đất nước đặc biệt là về Trường Sa, Hoàng Sa về quá trình hình thành chứng minh chủ quyền Việt Nam, về thực trạng Hoàng Sa, Trường Sa bên cạnh những diễn biến tình hình Trung đông trong mối lo mất nước vì sự bành trướng của Trung Quốc. Tuyên truyền việc nhà nước cần lắm sự chung tay chống lạm phát đang trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, ổn định kinh tế. Phát động nhân dân hiến kế sách bảo vệ và toàn vẹn Hoàng Sa, Trường Sa (lãnh thổ của tổ tiên để lại). Việc này sẽ tạo không khí sôi nổi đóng góp ý kiến và đem đến cho nhân dân cảm giác làm chủ, cảm nhận được vai trò quan trọng của mình và từ đó nhiệt huyết góp sức mình cho quê hương sẽ dần được hâm nóng.
- Tại các trường học: Các thầy cô là những người tuyên truyền tốt nhất. Mỗi ngày dành ra vài phút tuyên truyền theo hướng các tổ dân phố đã thực hiện. “Mưa dầm thấm lâu”, các học sinh, sinh viên dần dần sẽ biết lo lắng cho vận mệnh non sông.
- Áp dụng tương tự đối với các công ty, xí nghiệp trong đó công đoàn là đội ngũ tuyên truyền hữu hiệu nhất.
- Sử dụng kênh tuyên truyền không chính thức kích động nhân dân dấy lên phong trào tự phát như là hệ quả của tâm lý lây lan từ tình hình Trung đông với khẩu hiệu: “tẩy chay hàng Trung Quốc. Trả Trường Sa, Hoàng Sa cho Việt Nam!”.
b. Hợp thức hóa phong trào đấu tranh:
Đây là nhiệm vụ của những nhà lý luận, những nhà làm luật, những nhà ngoại giao có trách nhiệm tăng cường đốc thúc quốc tế công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa, Hoàng Sa trên cơ sở những chứng cứ đầy tính thuyết phục mà cho đến nay chỉ có sự thừa nhận chứ chưa hề có bất cứ sự phản biện hay phủ nhận về những tư liệu cổ của Việt Nam về việc chứng minh chủ quyền dẫu biết rằng trở ngại duy nhất khiến quốc tế e ngại là Trung Quốc quá mạnh. Chúng ta nói có sách, mách có chứng và chúng ta có lẽ phải nên chúng ta phải được công nhận. Sự thật sẽ mãi là sự thật và chúng ta cần phải nỗ lực hơn nữa. Sự nỗ lực của những nhà ngoại giao sẽ là đề tài cho mọi buổi tuyên truyền trong nhân dân. Nhằm hỗ trợ cho công tác tuyên truyền này, các nhà ngoại giao cần lôi kéo Mỹ vào cuộc (hiện nay, Trung Quốc chỉ kiêng dè Mỹ mà thôi) theo hướng có lợi cho ta. Hãy tạm gác quá khứ trước đây của Mỹ sang một bên, tránh mọi báo chí hay phương tiện truyền thông đề cập đến vấn đề da cam mà hãy tập trung ca ngợi một Obama đang đem đến cho nước Mỹ sự đổi thay, một Obama của công lý đã ban lệnh rút quân ra khỏi Irak, một Obama vừa mới nhận giải Nobel hòa bình và không quên ca ngợi cả bà Clinton vì vai trò của bà ta không phải nhỏ và tốt hơn hết là đừng có đụng chạm hay đối đầu với bà ấy. Nên tranh thủ thời gian khi Obama vẫn còn đang đương nhiệm mà cố gắng ký kết một hiệp ước tương hỗ quân sự như Phillipines đã làm vì như thế sẽ đem lại lợi thế cho ta khi đối đầu với Trung Quốc. Hiệp ước này sẽ có ý nghĩa làm tăng thêm lạc quan cho dân chúng khi bắt đầu cuộc chiến. Tại sao ta chọn Mỹ chứ không phải Nga? Đơn giản vì đất nước ấy là Nga chứ không phải là Liên Xô. Liên Xô xưa hành động vì đạo lý nhưng một Nga nay chỉ hành động vì quyền lực và tham vọng chẳng khác gì Trung Quốc và chỉ có thể làm bạn với Trung Quốc mà thôi. Trong khi Obama thì khác, Obama đi lên từ nghèo khổ nên ít nhiều tính chất nhân đạo vẫn ẩn chứa trong con người ông ta. Thế nên, đối với Obama, ta phải dùng đạo lý mà cư xử và dùng thế của kẻ yếu bị bắt nạt rất cần một con người đầy lòng
nhân ái như ông ấy giúp đỡ.
c. “Chăn tằm, dệt lụa”:
- “Chăn tằm”: Đây là nhiệm vụ của những chiến sĩ hải đảo phải luôn trong tư thế chiến đấu, quan sát, bám sát và theo dõi “tằm” không cho chúng ăn thêm bất cứ “lá dâu” nào nữa cả. Chúng ta chưa vội giết “tằm” vì chưa đủ sức nhưng chúng ta có thể giám sát mọi động tĩnh của chúng để có thể làm tốt nhiệm vụ bảo vệ vùng đảo còn lại.
- “Dệt lụa”: Xây dựng “Thành phố nổi Hoàng Sa, Trường Sa” (Hoàng Sa Floating City and Truong Sa Floating City) trên nền tảng sau:
+ Khí hậu không lạnh lắm vào mùa đông, không nóng lắm vào mùa hè so với những vùng trong lục địa nhờ vị trí nằm giữa biển đông.
+ Mưa qua nhanh, ít có sương mù.
+ Bão: Cũng có bão nhưng trước đây lính cộng hòa sống được và các ngư dân vẫn sống dài ngày lênh đênh trên đảo được thì không có lý gì khách du lịch không lênh đênh ngoạn cảnh hay các nhà đầu tư không lênh đênh kiếm tiền được.
+ Nhà ở: Chế tạo những nhà nổi có khả năng chịu bão cao.
+ Dân cư: Di dời các trung tâm nhân đạo, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, khuyết tật, thiểu năng ra đây kể cả các nhà chùa, các gia đình lang thang cơ nhỡ, những người thất nghiệp, những người gặp khó khăn trong đời sống hay thiên tai, những tù nhân có tư cách tốt, những người làm nghĩa vụ quân sự, công an, lính quân đội, ...
+ Đặc thù kinh tế: Phát triển nghề đánh bắt và nuôi hải sản trên biển. Phát triển những khu vui chơi giải trí bao gồm hệ thống nhà hàng, khách sạn, casino, nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động lễ hội ca múa nhạc. Phát triển thành điểm đến du lịch cho các đối tượng trong và ngoài nước. Thiết lập các nhà bảo tàng trong đó có trưng bày nguồn gốc xuất xứ của Hoàng Sa, Trường Sa khẳng định chủ quyền không thể chối cãi trong đó vạch rõ sự vô chứng cứ của tất cả các quốc gia khác trên thế giới về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Thiết kế các công viên sinh vật biển, xiếc sinh vật biển ...
+ Vị trí thành phố: Càng gần khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa càng tốt và thực hiện lấn sân ra sát đảo bằng cách sử dụng khách du lịch làm lá chắn. Lính Trung Quốc sẽ không do dự tấn công hay nhả đạn vào các ngư dân hay lính quân đội Việt Nam nhưng chúng sẽ chùn tay trước dân cư và khách du lịch quốc tế vì họ sẽ là những nhân chứng sống bất lợi cho Trung Quốc.
+ Đối phó với những hành vi bắt bớ: Thường xuyên cập nhật dân số để khi có bão thì những căn nhà nổi này sẽ tấp vào các đảo để tránh bão. Khi họ bị bắt, lập tức các bộ, ngành có liên quan sẽ làm nhiệm vụ thổi phồng sự việc (chuyện bé xé cho thật to) đồng thời gây sức ép buộc thả người trên tất cả các diễn đàn dân chủ trong ngoài nước.
+ Kinh phí thực hiện: Tạm gác mục tiêu tăng trưởng kinh tế (sau này thành công rồi sẽ khai thác dầu lấy tiền mà tăng trưởng). Hoãn các chương trình xây dựng các dự án khu dân cư hay đô thị hóa nông thôn. Tập trung sản xuất hàng nông sản trong xu thế chống đói thì lương thực trở thành mặt hàng chủ lực mà Việt Nam lại nằm trong lợi thế của một nước nông nghiệp. Kêu gọi đầu tư quốc tế. Kêu gọi đồng bào cả nước chung tay góp sức vì một Việt Nam thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Các tổ chức nhân đạo trong nước tích cực thực hiện công tác quyên góp từ thiện đặc biệt tại các công ty Trung Quốc đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam kèm với những thư ngỏ vạch rõ nguồn gốc xuất xứ quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hài tội những hành động ngang ngược giành chủ quyền với những chứng cứ hết sức phi lý cũng như đánh đập, tra tấn những ngư dân ... làm cho những người Trung Quốc phải hổ thẹn vì là công dân của một cường quốc đang hiếp đáp một quốc gia nhỏ bé nhưng đầy lòng nhân ái và yêu chuộng hòa bình.
d. Khởi động:
- Phát triển lực lượng chiến đấu tại chỗ: Vì đây là “khu ăn chơi” nên việc xuất hiện những băng đảng xã hội đen (do Đảng lãnh đạo) là đương nhiên và chính quyền Việt Nam tỏ ra yếu kém trong việc chế ngự những băng đảng này. Tuy nhiên khách du lịch sẽ rất an toàn khi tham gia du lịch theo những đoàn hướng dẫn viên của các công ty du lịch Việt Nam.
- Khai thác lợi thế chiếc lược: Quân sự há cự dân cư?
Hoàng Sa, Trường Sa sẽ trở thành khu dân cư của Việt Nam trong khi Trung Quốc xem Hoàng Sa, Trường Sa là khu quân sự. Điều này sẽ là một lợi thế cho chúng ta. Trung Quốc sẽ không mạo hiểm di dời dân cư hay phát triển du lịch ra đây vì như thế chúng ta sẽ có cơ hội trà trộn vào hàng ngũ của chúng mà đánh du kích. Trong khi dân cư Việt Nam ngày càng tăng dân số và đến một lúc nào đó bao vây toàn bộ đảo thì cơ hội dọ thám nắm bắt tình hình địch sẽ tăng lên chứ không như trường hợp những “tàu đánh cá” (hay thuyền dọ thám trá hình?) của ta liên tục bị bắt giữ suốt từ khi chúng ta bị mất quyền kiểm soát đến nay. Không phải vô cớ mà các “tàu đánh cá” của ta bị bắt. Chúng ta có quá xem thường đối thủ không? Có ngư dân nào mà lại gan dạ hoặc ngây thơ đến mức vào vùng quân sự của nước khác chứ? Ngư dân là những người bình thường, liệu họ có đủ bản lĩnh để tổ chức một lực lượng tàu đánh cá trên 10 chiếc dàn hàng đến khu vực quân sự của Trung Quốc để “tránh bão”? Ngư dân là những người kiếm sống, họ phải đi riêng lẻ để bắt được nhiều cá. Đi đông, nhiều người đánh bắt thì lấy đâu ra đủ cá cho họ sống? Chẳng phải quân đội Việt Nam dấu đầu hở đuôi sao? Thực hiện kiểu dọ thám như thế chỉ làm các chiến sĩ bị hy sinh vô ích mà không thu lượm được thông tin gì đáng kể vì sau cả ngàn năm thất bại trong cuộc xâm lăng Việt Nam, chúng trở nên vô cùng cảnh giác. Biện pháp tốt nhất để dọ thám tình hình giặc là dùng trẻ em và phụ nữ và để đảm bảo an toàn cho họ thì tốt hơn hết là bản thân họ không biết mình đóng vai trò dọ thám. Nghe có vẻ nghịch lý nhưng thật ra phương pháp này vừa an toàn vừa có hiệu quả. An toàn vì họ không biết mình là dọ thám nên khi bị bắt họ sẽ luôn nói thật. Sự thật thà sẽ chứng minh cho sự đần độn của họ đồng thời cũng là cứu cánh cho họ thoát khỏi sự nghi ngờ của giặc. Hiệu quả là vì bản chất của phụ nữ là nhiều chuyện, ta chỉ cần cho một người phụ nữ khác đến làm quen với người phụ nữ này (gọi là phụ nữ A). Hỏi phụ nữ A những gì ta muốn điều tra. Đối với những gì ta cần biết mà phụ nữ A không biết, ta vờ như vô tình cho họ xem hình ảnh minh họa hay gợi chuyện khéo léo để phụ nữ A hiểu được những gì mình muốn biết. Dĩ nhiên trong cuộc nói chuyện đừng tiết kiệm những lời tán dương để kích thích sự tự thể hiện của phụ nữ A về kiến thức ở vùng giặc. Một khi phụ nữ A đã đến được vùng giặc vài lần thì ta khéo léo gài tình báo nữ (phải có dáng vẻ đần độn) của ta đi với phụ nữ A để thực hiện các bước dọ thám. Đối với trẻ em cũng vậy. Bản chất của trẻ em là thật thà, hiếu động (chúng sẽ đi lung tung) và ngây thơ nên ta cũng có thể khai thác lợi thế đó bằng phương pháp tương tự.
- Chuẩn bị vũ khí tấn công và quan sát từ xa: Bắt liên lạc với Bá Ngữ, Bá Tường – những người đã phát minh ra phương pháp quan sát đối tượng từ xa để đưa phương pháp này ứng dụng tại Việt Nam hòng theo dõi các hoạt động của địch trên đảo mà lựa chọn vũ khí tấn công thích hợp. Khai thác nhân tài đất Việt phục vụ chế tạo vũ khí theo hướng phân tán nhỏ “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”(a) và ngay cả nhân tài cũng không hề biết việc nghiên cứu của mình phục vụ cho mục đích gì. Ví dụ như muốn chế tạo một cây súng thì phải làm ra đạn, nòng, cò, ... Ta đưa đề tài chế tạo đạn bằng cách: Liệu có thể tạo ra một chất nổ nào mà khi thoát khỏi bộ phận gây nổ vẫn giữa nguyên hình dạng chất nổ trong vòng 30 phút? Hay đề tài chế tạo cò súng sẽ được đưa ra: Phương pháp đẩy một vật với vận tốc 300 km/h đòi hỏi những kiều kiện gì? ... Ráp những đề tài lại ta sẽ có một vũ khí của riêng Việt Nam sản xuất mà lại đảm bảo tính bí mật cao đồng thời phát hiện sớm nhân tài để bồi dưỡng cũng như tiết kiệm được chi phí nhân sự nếu chỉ dành riêng cho khoa chế tạo hay khoa gì đó của quốc gia nắm quyền chế tạo. Việc đưa ra hàng loạt các đề tài này còn có ý nghĩa kích thích óc sáng tạo của học sinh, sinh viên và các nhà khoa học trong ngoài nước. Tùy từng loại vũ khí cần phát triển để đánh giặc mà ta có thể đưa ra từng loại đề tài khác nhau phù hợp với công dụng của của từng vũ khí. Sau đó chia nhỏ thành những tiểu mục đề tài nếu cần thiết nhằm phân tán sự chú ý của gián điệp nước ngoài. An toàn hơn nữa là nên kết hợp phổ biến các đề này với các đề tài khác phục vụ đời sống, y khoa, nông nghiệp, ... Điều này sẽ cản trở óc phán đoán của họ đối với những bí mật quốc gia mà chúng ta cần giữ. Kết quả nghiên cứu từng đề tài sẽ được khoa chế tạo tập hợp lại mà lựa chọn giải pháp tối ưu nhất. Để đảm bảo yếu tố bất ngờ, chúng ta cũng nên mua thêm một số vũ khí khác sẽ tạo tâm lý chủ quan, coi thường chúng ta từ phía Trung Quốc.
e. “Kiến bu đốt tằm”:
- Đấu tranh chính trị: Tổ chức hàng loạt các cuộc mít tinh trong và ngoài nước đặc biệt là tại Trung Quốc với khẩu hiệu: “Trung Quốc là kẻ cướp! Hãy trả Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam!”. Đẩy mạnh phong trào tẩy chay hàng Trung Quốc trong nhân dân. Khơi gợi tinh thần đấu tranh của một miền Bắc giải phóng miền Nam xưa và một Việt Nam giải phóng Hoàng Sa, Trường Sa nay.
- Đấu tranh vũ trang: Lực lượng “xã hội đen” trên hai thành phố nổi liên tục tập kích lính trên đảo hàng đêm làm cho chúng mệt mỏi, mất tinh thần chiến đấu. Chặn đường tiếp tế bằng đường hàng không và đường biển. Áp dụng chiến thuật đánh Vương Thông của Lê Lợi và Nguyễn
Trãi kêu gọi đầu hàng.
- Liên tục gây sức ép trên chính trường quốc tế để quốc tế đưa ra phán quyết về chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa trên cơ sở của sự đồng thuận từ Mỹ. Công việc này đòi hỏi công tác tuyên truyền, thông tin truyền thông phải thật mạnh. Các sự kiện có liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa phải hiện diện trên tất cả các mặt báo từ trong nước ra nước ngoài.
- Thúc đẩy mối quan hệ ngoại giao với Mỹ sao cho cả thế giới tin rằng có vẻ như Mỹ sẵn sàng tham chiến hỗ trợ Việt Nam bất cứ lúc nào để “hù” đối phương.
- Lôi kéo các nước trong khu vực Đông Nam Á ủng hộ ta về tinh thần.
- Lôi kéo sự ủng hộ của thế giới về cuộc chiến chính nghĩa.
- Thông tin đầy đủ cho quân đội Việt Nam cũng như toàn dân Việt Nam các diễn biến về Hoàng Sa, Trường Sa nhằm nâng cao nhuệ khí và quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược.
- Tổ chức các chương trình ca múa nhạc hàng đêm tại hai thành phố nổi và đưa tin về cuộc sống chan hòa hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, về sự chiếm đóng phi lý của Trung Quốc trên mảnh đất Việt Nam nhằm tạo cảm giác thèm muốn một cuộc bình thường, giản dị nhưng đầy hạnh phúc của một cuộc đời “không lính” hòng lung lạc tinh thần
binh lính giặc.
- Xác định thời cơ chín mùi tiến hành đánh xa, đánh gần, đánh úp chiếm lại toàn bộ hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Dân tộc Việt Nam ta đã từng đánh bại những kẻ thù mạnh nhất thế giới như Nguyên Mông, như đế quốc Mỹ và nếu như giờ đây chúng ta lại tiếp tục đánh bại một siêu cường Trung Quốc thì điều đó mới tự hào biết bao!
CHÚ THÍCH
(a) : Ca dao, tục ngữ.
(b) : Lời do Hồ Chí Minh phát biểu.
(c) : Trích từ “Việt Nam sử thơ” do Đỗ Thị Thiên Lý sáng tác và NXB Dân Trí phát hành lần III vào quý I/2011.
(d) : Lời do Đỗ Hồng Đạt phát biểu.
« Prev 1 2 3 4 5 6 ... 45 Next »