Tôi yêu hoa hồng không phải vì đường cong tuyệt mỹ mà bởi vì hoa hồng là ngôn ngữ của tình yêu!

Subscribe to RSS feed

Sticky post

Sinh nhat 4 tuoi - Khanh Linh

Chiều cao: 107 cm Cân nặng: 20 kg Biết nhận diện 10 chữ số - thuộc được số điện thoại nhà Nội

Sticky post

Bùi Ngọc Khánh Ly

Mẹ vào viện lúc 10h00
Sinh lúc 13h55 ngày 23 tháng 10 năm 2009 (nhằm ngày 06 tháng 09 năm Kỷ Sửu)
Mới sinh: cân nặng 4 kg - chiều cao 53 cm
Đầy tháng: cân nặng 5.3kg - Chiều cao 56 cm
2 tháng: cân nặng 6.2kg - Chiều cao 58 cm. Ngày 28/12/2009: biết lật (2 tháng 5 ngày).
3 tháng: cân nặng 6.7kg - Chiều cao 60 cm
4 tháng: cân nặng 7.2kg - Chiều cao: 64 cm. Đã biết lật 2 mặt (lăn vòng vòng)
Ngày 11/03/2010: bắt đầu ăn bột ngọt - Bà Nội đút
5 tháng: cân nặng 7.7kg
6 tháng: cân nặng 7.8kg - ăn bột mặn
7 tháng: cân nặng 8.2kg - chiều cao: 68 cm. Biết trườn và ngổi nhưng chưa vững. Nổi ban đỏ sau khi chích ngửa cúm lần 2.
8 tháng: cân nặng 8.5kg. Hai răng dưới mới nhú. Bé không sốt, chỉ lười bú vài hôm.
9 tháng: cân nặng 8.7kg _ Chiều cao: 69 cm. Sốt mọc răng, sổ mũi
10 tháng: Đi Phan Thiết 3 ngày 02 đêm với Ông Ngoại, gia đình Cậu hai, gđ Cậu Út, gđ chú Tùng, Bác Trung
11 tháng: cân nặng 9.3kg -
Ngày 04.09 AL - Thôi nôi - Mọc được 6 răng, biết đứng chựng, đi được 01 - 2 bước, biết bye bye, biết ạ người lớn. Trong tiết mục "thử tài" Khánh Ly bốc trúng chiếc nhẫn vàng, sau đó bốc cây viết.
12 tháng: cân nặng 10kg - Chiều cao: 74 cm
14 tháng: cân nặng 11 kg - chiều cao: 76 cm (Mọc 7 răng)

Sticky post

3 tuổi

Khánh Linh 3 tuổi. Cao: 96 cm - Nặng 15.5 kg. Khi bị anh chị chê Linh chụp hình cười xấu quá: "Linh đẹp nhưng cười xấu, kệ Linh"

Sticky post

01 tuổi

Sticky post

BÙI NGỌC KHÁNH LINH

BÙI NGỌC KHÁNH LINH Chào đời: 22h45' ngày 21 tháng 08 năm 2006 (nhằm ngày 28 tháng 07 AL) Cân nặng: 3.85 kg Chiều cao: 51 cm Tháng thứ 01: Cân nặng: 4.5kg - Cao: 53 cm Tháng thứ 02: Cân nặng: 5.4kg - Cao: 55cm Tháng thứ 03: Cân nặng: 6.4kg - Cao: 58 cm Tự lật úp vào ngày 21/11/2006 Tháng thứ 04:Cân nặng: 6.6kg - Cao: 61 cm Ăn bột ngọt Tháng thứ 05:Cân nặng: 7.1kg - Cao: 64 cm Con biết trườn Giữa tháng thứ 05: bắt đầu ăn cháo xay nhuyễn (không gia vị) Tháng thứ 06: Con biết bò Tháng thứ 07: Ngày 20/03/2003( đúng 07 tháng tuổi) mọc răng đầu tiên là răng cửa dưới bên phải (con bị hanh hanh nóng và đi tiêu nhiều hơn bình thường chút xíu thôi, không bị hành nhiều ... hú hồn!) Đám cưới cậu Út (25/03/2007)tại Nhà hàng Hoa Sứ - Khách sạn Đệ Nhất Về Bình Dương ăn đám cưới cậu Út từ 28/03 - 01/04/2007 (Ông Ngoại đãi đám cưới cậu Út tại nhà Ông Ngoại ngày 31/03/2007) Tháng thứ 08: Mọc được 04 chiếc răng rồi. Tự đứng chựng Tháng này có chuyện vui: đám cưới cô Ba (26/04/2007)tại NH Bảo tàng Miền Đông Nam Bộ Đi Vũng Tàu tắm biển với ba mẹ (Khu du lịch Biển Đông 05-06/05/2007) Tháng thứ 09: Mọc thêm chiếc răng thứ 05 (răng cạnh răng cửa trên, bên trái) ngày 25/05/07 tức được 09 tháng 04 ngày. Bước đi đầu tiên vào ngày 05/06/2007 Tháng thứ 10: Tháng thứ 11: Chiều cao: 73 cm - Cân nặng: 9.3kg Bước đi rất rành. Ba đi huấn luyện quân sự hai tuần. Nhớ ba quá...híc..c! Ngày 05/08/07: Con mọc chiếc răng thứ 07 (răng bên trái răng cửa dưới) Tháng thứ 12:[/FONT] Chiều cao: 75 cm - Cân nặng: 9.7kg Tháng thứ 13: Chiều cao: 77 cm - Cân nặng: 10.2 kg Tháng thứ 14: Chiều cao: 77 cm - Cân nặng: 10.5 kg. Tháng này con không tăng cân nhiều, con lại mọc thêm răng hàm (răng đầu tiên bên phải) nên cứ sổ mũi miết. Mẹ đi công tác Đà Nẵng - Hà Nội 5 ngày từ 16-20/10/2007: Khánh Linh ở nhà nhớ mẹ không ngủ được, ba phải chở về nhà thì mới ngủ được 12/11/2007: Mẹ phát hiện thêm răng hàm thứ hai bên tay trái 23/11/07: Bà Nội méc Bé Linh ở nhà bị ông Nội đánh một cái vào đít vì tội nhõng nhẽo, thế là K Linh giận ông Nội luôn, không thèm cho ông Nội ẳm, không thèm nhìn ông Nội, thậm chí đi ị cũng không cho ông Nội rửa đít luôn, ghê thật đấy. Sau một giấc ngủ trưa thì K Linh quên hết, buổi chiều lại tiếp tục nhõng nhẽo, đeo theo ông Nội như sam. 30/11 - 02/12/2007: Lần đầu tiên Khánh Linh được đi máy bay (ATR) ra Côn Đảo cùng ông Ngoại, ba mẹ, Cậu mợ 2 và chị Nhi - Anh Phúc. Lượt đi, bé Linh ngủ khò khò nên không biết cảm giác máy bay gì cả, lượt về thì thức suốt, vào những đoạn không khí loãng, bé Linh cứ dùng ngón tay ngoáy lỗ tai và không hiểu chuyện gì xảy ra cả. Trong suốt chuyến đi chơi, bé Linh mê chơi không chịu ăn uống gì cả. Bé Linh cũng không được tắm biển luôn vì muà này là muà gió chướng, biển rất lạnh và gió rất to. Ngày 03/12/2007, mẹ phát hiện thêm 01 chiếc răng hàm trên bên phải của Bé Linh (đây là chiếc răng thứ 11 của con), không biết nó mọc từ bao giờ vì bé Linh không cho mẹ xem răng. Mẹ phải dụ con "aa...a " thì mới xem được. Còn đối diện là một chiếc răng chuẩn bị mọc hay sao ấy, chổ ấy đang sưng đỏ và mấy hôm nay bé Linh đang nhõng nhẻo nữa, chắc là vậy rồi. Ngày 8-9/12/2007 Bé Linh đi Phan Thiết với Ba mẹ, Cô Út, và gia đình dì Hương (Sea Horse Resort) Ngày 17/12/2007: Bé Linh đi học ngày đầu tiên. Mẹ đưa Linh đến lớp và vào lớp cùng con khoảng 1/2 tiếng để con làm quen với cô Yến, Cô Thanh và các bạn. Sáng ngày thứ hai, mẹ đưa Linh vào lớp và đi về, mẹ vừa bước ra khỏi cửa là bé Linh khóc quá chừng, mẹ xót ruột quá nhưng phải bấm bụng để con đi học, 10h ba vào đón, thấy con bất hợp tác với cô và các bạn, đứng nhìn ra cửa, không thèm chơi với cô và các bạn, và không thèm nói với ba gì hết, chỉ nhắc ba lấy balô của con về thôi "con gấu" Tháng thứ 16: Nặng 10.8 kg - Cao 80 cm - Răng: đang mọc thêm 02 răng nanh trên và thêm 02 răng nanh dưới nữa (Cả rừng răng, cắn đau chết điếng). Bạo lực: Đi học rồi không hiểu sao lại thêm tính bạo lực, tối ngày cứ canh em Hiếu đánh, vào siêu thị gặp bạn cũng đánh. Khánh Linh tập ăn cơm hột Tháng thứ 18: Nặng 11kg Tháng thứ 19: Cũng nặng 11kg - cao 83 cm Ngày 02/04/2008: Con đi học lại. Đây sẽ là lần đi học chính thức đầu tiên vì ba mẹ đã quyết tâm rồi. Con phải quen với môi trường tập thể thôi. Hy vọng con sẽ tiếp tục học được vì có vẽ con thích ngôi trường này là vì mấy chiếc xích đu ngoài sân, phòng họp rộng rãi thoáng mát. Khi đi học cô giáo khen con có vẻ lanh lợi lắm đấy, cô giáo bảo cháu biết nghe lời, biết nói nhiều thứ so với những trẻ cùng lớp. Khi mới vào trường con thấy các bạn đang tập thể dục theo nhạc ngoài sân, con thích lắm nhưng không dám bước chân xuống, cứ đòi mẹ ẵm trên tay thôi, và khi vào lớp thì khóc nhè ... nhưng cô giáo bảo con khóc một chút thôi ... và hoà nhập với các bạn ngay .. không khóc lè nhè khi không có ba mẹ ở đấy. Mẹ cũng an tâm chút rồi. 23-25/05/2008: Đại gia đình (có ông ngoại, cậu mợ 2; anh Phúc, chị Nhi & cậu mợ Út) được đi nghỉ mát tại Đảo ngọc Phú Quốc nhờ vào giá vé máy bay rẻ của Vietnamairlines (950.000 đ cho vé khứ hồi) 21/08/2008: 2 tuổi - Nặng 12 kg - Cao: 86 cm. Đã hiểu biết và ca hát rất nhiều ... 08-09/11/2008: Đi Phan Thiết với gia đình chú Tùng - em Ý. 12 giờ đêm 09/11/2008 (tức 13/10 năm Mậu Tý) nhận được tin bà Cố mất. Vĩnh biệt Bà !!! 10-16/11/2008: Gia đình về Bình Dương chịu tang Bà Cố. Khánh Linh 4 tuổi: Chiều cao: 107 cm Cân nặng: 20 kg Biết nhận diện 10 chữ số - thuộc được số điện thoại nhà Nội [/SIZE][/COLOR]

Hinh moi








frame dep - tao lich

Mau tranh to mau

Cac chi tieu xet nghiem mau

Mỗi lần có kết quả khám sức khỏe là Ace lại một phen xôn xao, xin gửi ACE tài liệu tham khảo dưới đây để biết để có phương án, kế hoạch bảo vệ sức khỏe của bản thân.

Có thể tóm tắt như sau : cứ xem chỉ số giới hạn trong từng chỉ tiêu xét nghiệm, nếu nằm trong giới hạn thì OK, nếu nằm ngoài thì cần tham vấn bác sĩ.



WBC : White Blood Cell count : số lượng bạch cầu, bác sỹ dựa vào chỉ số này để phân biệt xem cơ thể có phản ứng với sự viêm nhiễm của cơ thể.nếu cao hơn bình thường do vi khuẩn gây bệnh
Bạch cầu, hay bạch huyết cầu (nghĩa là "tế bào máu trắng", còn được gọi là tế bào miễn dịch), là một thành phần của máu. Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh viêm nhiễm và các vật thể lạ trong máu. Chúng là một phần của hệ miễn dịch. Ngoài ra, bạch cầu còn được tìm thấy với số lượng lớn trong các hạch, mạch, lách và các mô khác trong cơ thể.
Tuy nhiên Số lượng bạch cầu tăng cao trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, và đặc biệt cao trong các bệnh bạch huyết cấp hoặc mãn tính ( UNG THƯ MÁU)

Neu: Neutrophil: Số lượng tế bào bạch cầu đa nhân trung tính, tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm
Bạch cầu trung tính: là những tế bào trưởng thành ở trong máu tuần hoàn và có một chức năng quan trọng là THỰC BÀO, chúng sẽ tấn công và phá hủy các loại vi khuẩn, virus ngay trong máu tuần hoàn khi các sinh vật này vừa xâm nhập cơ thể. Vì vậy bạch cầu đa nhân trung tính tăng trong các trường hợp nhiễm trùng cấp.

Đôi khi trong trường hợp nhiễm trùng quá nặng như nhiễm trùng huyết hoặc bệnh nhân suy kiệt, trẻ sơ sinh, lượng bạch cầu này giảm xuống. Nếu giảm quá thấp thì tình trạng bệnh nhân rất nguy hiểm vì sức chống cự vi khuẩn gây bệnh giảm sút nghiêm trọng. Bạch cầu cũng giảm trong những trường hợp nhiễm độc kim loại nặng ( chì, a-sen ), suy tủy, nhiễm một số virus…

Lym: Lymphocyte: Số lượng tế bào bạch cầu lympho, tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm
Đây là những tế bào có khả năng miễn dịch của cơ thể, chúng có thể trở thành những tế bào "nhớ" sau khi tiếp xúc với tác nhân gây bệnh và tồn tại lâu dài cho đến khi tiếp xúc lần nữa với cùng tác nhân ấy, khi ấy chúng sẽ gây ra những phản ứng miễn dịch mạnh mẽ, nhanh và kéo dài hơn so với lần đầu. Lympho bào tăng trong ung thư máu, nhiễm khuẩn máu, nhiễm lao, nhiễm virus như ho gà, sởi... Giảm trong thương hàn nặng, sốt phát ban...
Mono: Monocyte: Số lượng tế bào bạch cầu đơn nhân, tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm
Là dạng chưa trưởng thành của đại thực bào trong máu vì vậy chưa có khả năng thực bào. Đại thực bào là những tế bào có vai trò bảo vệ bằng cách thực bào, khả năng này của nó mạnh hơn của bạch cầu đa nhân trung tính. Chúng sẽ phân bố đến các mô của cơ thể, tồn tại tại đó hàng tháng, hàng năm cho đến khi được huy động đi làm các chức năng bảo vệ. Vì vậy mono bào sẽ tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn mãn tính như lao, viêm vòi trứng mãn...

Eos: Eosinophil: Số lượng tế bào bạch cầu ưa acid, tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm
Khả năng thực bào của loại này yếu, nên không đóng vai trò quan trọng trong các bệnh nhiễm khuẩn thông thường. Bạch cầu này tăng cao trong các trường hợp nhiễm ký sinh trùng, vì bạch cầu này tấn công được ký sinh trùng và giải phóng ra nhiều chất để giết ký sinh trùng. Ngoài ra bạch cầu này còn tăng cao trong các bệnh lý ngoài da như chàm, mẩn đỏ trên da...

Baso: Basophil: Số lượng tế bào bạch cầu ưa ba-dơ (kiềm) , tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm. Đóng vai trò quan trọng trong một số phản ứng dị ứng.

RBC: Red Blood Cell count : Số lượng hồng cầu trong máu
Hồng cầu, hay hồng huyết cầu, là loại tế bào máu có chức năng chính là hô hấp, chuyên chở hemoglobin, qua đó đưa O2 từ phổi đến các mô.
Các trị số của dòng hồng cầu cho những thông tin về tình trạng hồng cầu của máu người được làm xét nghiệm, tất nhiên không đầy đủ, gợi ý phát hiện bệnh lý thiếu máu và nguyên nhân gây thiếu máu.

Hb: Hemoglobin: Nồng độ hemoglobin trong máu
Đây là thành phần protein vô cùng quan trọng trong tế bào máu, chứa trong hồng cầu hoặc hòa trong huyết tương. Nếu ở thể tự do, nó sẽ thảy ra nước tiểu.

Hct: Hematocrit: Tỉ lệ thể tích khối hồng cầu so với thể tích máu toàn phần


MCV: Mean Corpuscular Volume: Thể tích hồng cầu trung bình; cho biết thể tích phần hồng cầu trong một 1 mL máu; đánh giá hồng cầu nhỏ / bỉnh thường / to

MCH: Mean Corpuscular Hemoglobin: Hb hồng cầu trung bình; cho biết nồng độ Hb trong hồng cầu; đánh giá hồng cầu nhược sắc / đẳng sắc / ưu sắc

MCHC: Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration: Nồng độ Hb hồng cầu trung bình; cho biết tỉ lệ giữa nồng độ Hb với Hct; kết hợp với MCH để đánh giá tính chất của hồng cầu



RDW: Red Blood Cell Distribution Width: Đánh giá sự thay đổi về kích thước của hồng cầu (ví dụ, anisocytosis) , nó cho biết độ đồng đều về kích thước của các hồng cầu.

PLT: Platelet: Số lượng tiểu cầu trong máu
Cho biết số lượng tiểu cầu có trong một đơn vị máu. Số lượng tiểu cầu bình thường là 150.000-400.000 tiểu cầu/mm³ máu. Tiểu cầu có vai trò quan trọng trong quá trình đông cầm máu, vì vậy khi số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm³ máu thì nguy cơ xuất huyết tăng lên.

MPV: Mean Platelet Volume: Thể tích tiểu cầu trung bình; đánh giá sự thay đổi về kích thước của tiểu cầu

Glucose (FBS) : Đường trong máu
Glucose là nguồn cung cấp năng lượng chính cho tế bào của cơ thể. Nhiều tế bào (ví dụ tế bào não và tế bào hồng cầu), hoàn toàn phụ thuộc vào glucose máu như là nguồn năng lượng chính. Mặt khác, não đòi hỏi nồng độ glucose trong máu ổn định để duy trì chức năng bình thường của não. Nồng độ glucose trong máu thấp hơn 30 milligram/dl (mg/dL) hoặc trên 300 mg/dL có thể gây ra lú lẫn hoặc hôn mê.

Đường huyết tăng cao hơn mức bình thường có thể gặp trong:
- Bị tiểu đường: Đường máu lớn hơn hoặc bằng 1,26 g/l (hay 7 mmol/l).
- Có nguy cơ bị tiểu đường, cần áp dụng chế độ ăn uống và vệ sinh đặc biệt: đường máu là 1-1,26 g/l (hay 5,55-7 mmol/l).
- To đầu chi (rất hiếm), Hội chứng Cushing"s (hiếm), Cường giáp, Ung thư tuỵ, Viêm tuỵ, U tuỷ thượng thận(rất hiếm), Thiếu insulin , Ăn quá nhiều,

Đường huyết thấp hơn mức bình thường có thể gặp trong:
• Suy tuyến yên, Suy tuyến giáp, U tiết Insulin ( rất hiếm), Chích nhiều insulin, Thiếu ăn.


Cholesterol, Total : Cholesterol toàn phần
Đo hàm lượng cholesterol và triglycerid, trong đó có lượng cholesterol toàn phần, LDL (cholesterol xấu) và HDL (cholesterol tốt). Chẩn đoán tăng cholesterol máu được đặt ra nếu hàm lượng chất này trong máu cao hơn 2,50 g/l.
Cholesterol rất quan trọng và được chú ý vì ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch.

SGOT (AST) & SGPT ( ALT) : Men gan đại khái gồm có nhiều loại, nhưng thường được chú trọng bởi 2 chỉ số này.

Đó là các men alanine amino transferase (ALAT hoặc SGPT) và men aspartate amino transferase (ASAT hoặc SGOT). Những thông số này cho phép chẩn đoán bệnh ở gan (do virus, rượu hoặc ung thư), tuy nhiên nồng độ các men này cũng tăng ở bệnh viêm tuyến tụy hoặc nhồi máu cơ tim.

SGOT, SGPT nằm trong tế bào gan, chỉ xuất hiện trong máu khi tế bào bị hủy hoại với số lượng lớn phóng thích ra ngoài. Nếu các men này tăng trên 200 được coi là có ý nghĩa về mặt lâm sàng chứng tỏ tế bào gan đang bị hủy hoại hàng loạt.

Tế bào nào đã chết thì chết rồi, tất cả những gì Y khoa làm được là ngăn chặn không cho chết thêm --> kiêng rượu và các thức ăn làm cho gan phải hoạt động nhiều (vì gan là cơ quan khử độc của cơ thể có nhiệm vụ chuyển hoá rượu là chất độc thành chất không độc ...).

Cũng cần lưu ý thêm, men SGPT có ý nghĩa hơn là men SGOT (vì men này cũng xuất hiện trong bệnh tim).


HBsAG : Vi-rút viêm gan siêu vi B
Anti HBs : kháng thể viêm gan siêu vi B

Nếu HBsAG dương tính là có mang vi-rút viêm gan siêu vi B, tuy nhiên phải xét thêm chỉ tiêu "Kháng thể" ( Anti HBs ), nếu dương tính, tức là số vi-rút này không nhân lên, hay nói cách khác là đã có chích ngừa hay có kháng thể chống viêm gan siêu vi B.

1.Vì viêm gan B lây qua đường máu mà giới Y khoa thường gọi là lây qua 3 con đường là :
-Truyền máu
_Mẹ cho con
_Quan hệ tình dục
(mà không phải 3 con đường là Lê Hồng Phong, Huyền Trân Công Chúa và Tân Cảng đâu nghen), do đó, nếu bạn không có dính dáng gì đến 3 con đường trên thì không sao. Còn nếu bạn có dính dáng thì chúng ta xét tiếp vấn đề 2.

2. Một người dù chích ngừa đủ 3 mũi thì về mặt nguyên tắc cũng không phải được bảo vệ "chăm phần chăm" vì có một tỷ lệ nhỏ không đáp ứng với vaccine, nói nôm na là không tạo được sự bảo vệ. Do đó, nếu bạn muốn chắc ăn thì phải đi thử máu để biết chắc là mình đã được bảo vệ thì khi đó cứ yên tâm dính dáng đến 3 con đường kia.
Tuy nhiên, một khuyến cáo nhỏ, "dù cho bạn là ai, dù cho bạn làm gì .." thì bạn chỉ được bảo vệ tránh khỏi lây nhiễm viêm gan B mà thôi, trong khi đó, trong thực tế thì viêm gan B hay được khuyến mãi kèm với HIV, chuyện thường thấy ở giới mãi dâm. Chính vì lẽ đó, một nguyên tắc phòng ngừa được khuyến cáo hiện nay là: " Mọi người đều có thể bị nhiễm" thì mới có thể ngừa được.

3. Từ 2 vấn đề trên, chúng ta có thể rút ra được bài học về phòng ngừa như sau:
a. Phòng ngừa cấp 1: chích ngừa đầy đủ theo lịch
b. Phòng ngừa cấp 2: tránh tiếp xúc với 3 con đường
c. Phòng ngừa cấp 3: nếu có phải tiếp xúc thì nên hạn chế tối đa thời gian tiếp xúc.
d. Phòng ngừa cấp "tối ưu": lên núi ở hoặc vô chùa tu, Nam mô A di đà phật


( VIỆT HÒA - tổng hợp từ các thông tin y học)

Cac chi tieu xet nghiem mau

Mỗi lần có kết quả khám sức khỏe là Ace lại một phen xôn xao, xin gửi ACE tài liệu tham khảo dưới đây để biết để có phương án, kế hoạch bảo vệ sức khỏe của bản thân.

Có thể tóm tắt như sau : cứ xem chỉ số giới hạn trong từng chỉ tiêu xét nghiệm, nếu nằm trong giới hạn thì OK, nếu nằm ngoài thì cần tham vấn bác sĩ.



WBC : White Blood Cell count : số lượng bạch cầu, bác sỹ dựa vào chỉ số này để phân biệt xem cơ thể có phản ứng với sự viêm nhiễm của cơ thể.nếu cao hơn bình thường do vi khuẩn gây bệnh
Bạch cầu, hay bạch huyết cầu (nghĩa là "tế bào máu trắng", còn được gọi là tế bào miễn dịch), là một thành phần của máu. Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh viêm nhiễm và các vật thể lạ trong máu. Chúng là một phần của hệ miễn dịch. Ngoài ra, bạch cầu còn được tìm thấy với số lượng lớn trong các hạch, mạch, lách và các mô khác trong cơ thể.
Tuy nhiên Số lượng bạch cầu tăng cao trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, và đặc biệt cao trong các bệnh bạch huyết cấp hoặc mãn tính ( UNG THƯ MÁU)

Neu: Neutrophil: Số lượng tế bào bạch cầu đa nhân trung tính, tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm
Bạch cầu trung tính: là những tế bào trưởng thành ở trong máu tuần hoàn và có một chức năng quan trọng là THỰC BÀO, chúng sẽ tấn công và phá hủy các loại vi khuẩn, virus ngay trong máu tuần hoàn khi các sinh vật này vừa xâm nhập cơ thể. Vì vậy bạch cầu đa nhân trung tính tăng trong các trường hợp nhiễm trùng cấp.

Đôi khi trong trường hợp nhiễm trùng quá nặng như nhiễm trùng huyết hoặc bệnh nhân suy kiệt, trẻ sơ sinh, lượng bạch cầu này giảm xuống. Nếu giảm quá thấp thì tình trạng bệnh nhân rất nguy hiểm vì sức chống cự vi khuẩn gây bệnh giảm sút nghiêm trọng. Bạch cầu cũng giảm trong những trường hợp nhiễm độc kim loại nặng ( chì, a-sen ), suy tủy, nhiễm một số virus…

Lym: Lymphocyte: Số lượng tế bào bạch cầu lympho, tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm
Đây là những tế bào có khả năng miễn dịch của cơ thể, chúng có thể trở thành những tế bào "nhớ" sau khi tiếp xúc với tác nhân gây bệnh và tồn tại lâu dài cho đến khi tiếp xúc lần nữa với cùng tác nhân ấy, khi ấy chúng sẽ gây ra những phản ứng miễn dịch mạnh mẽ, nhanh và kéo dài hơn so với lần đầu. Lympho bào tăng trong ung thư máu, nhiễm khuẩn máu, nhiễm lao, nhiễm virus như ho gà, sởi... Giảm trong thương hàn nặng, sốt phát ban...
Mono: Monocyte: Số lượng tế bào bạch cầu đơn nhân, tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm
Là dạng chưa trưởng thành của đại thực bào trong máu vì vậy chưa có khả năng thực bào. Đại thực bào là những tế bào có vai trò bảo vệ bằng cách thực bào, khả năng này của nó mạnh hơn của bạch cầu đa nhân trung tính. Chúng sẽ phân bố đến các mô của cơ thể, tồn tại tại đó hàng tháng, hàng năm cho đến khi được huy động đi làm các chức năng bảo vệ. Vì vậy mono bào sẽ tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn mãn tính như lao, viêm vòi trứng mãn...

Eos: Eosinophil: Số lượng tế bào bạch cầu ưa acid, tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm
Khả năng thực bào của loại này yếu, nên không đóng vai trò quan trọng trong các bệnh nhiễm khuẩn thông thường. Bạch cầu này tăng cao trong các trường hợp nhiễm ký sinh trùng, vì bạch cầu này tấn công được ký sinh trùng và giải phóng ra nhiều chất để giết ký sinh trùng. Ngoài ra bạch cầu này còn tăng cao trong các bệnh lý ngoài da như chàm, mẩn đỏ trên da...

Baso: Basophil: Số lượng tế bào bạch cầu ưa ba-dơ (kiềm) , tính theo số lượng và tỉ lệ phần trăm. Đóng vai trò quan trọng trong một số phản ứng dị ứng.

RBC: Red Blood Cell count : Số lượng hồng cầu trong máu
Hồng cầu, hay hồng huyết cầu, là loại tế bào máu có chức năng chính là hô hấp, chuyên chở hemoglobin, qua đó đưa O2 từ phổi đến các mô.
Các trị số của dòng hồng cầu cho những thông tin về tình trạng hồng cầu của máu người được làm xét nghiệm, tất nhiên không đầy đủ, gợi ý phát hiện bệnh lý thiếu máu và nguyên nhân gây thiếu máu.

Hb: Hemoglobin: Nồng độ hemoglobin trong máu
Đây là thành phần protein vô cùng quan trọng trong tế bào máu, chứa trong hồng cầu hoặc hòa trong huyết tương. Nếu ở thể tự do, nó sẽ thảy ra nước tiểu.

Hct: Hematocrit: Tỉ lệ thể tích khối hồng cầu so với thể tích máu toàn phần


MCV: Mean Corpuscular Volume: Thể tích hồng cầu trung bình; cho biết thể tích phần hồng cầu trong một 1 mL máu; đánh giá hồng cầu nhỏ / bỉnh thường / to

MCH: Mean Corpuscular Hemoglobin: Hb hồng cầu trung bình; cho biết nồng độ Hb trong hồng cầu; đánh giá hồng cầu nhược sắc / đẳng sắc / ưu sắc

MCHC: Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration: Nồng độ Hb hồng cầu trung bình; cho biết tỉ lệ giữa nồng độ Hb với Hct; kết hợp với MCH để đánh giá tính chất của hồng cầu



RDW: Red Blood Cell Distribution Width: Đánh giá sự thay đổi về kích thước của hồng cầu (ví dụ, anisocytosis) , nó cho biết độ đồng đều về kích thước của các hồng cầu.

PLT: Platelet: Số lượng tiểu cầu trong máu
Cho biết số lượng tiểu cầu có trong một đơn vị máu. Số lượng tiểu cầu bình thường là 150.000-400.000 tiểu cầu/mm³ máu. Tiểu cầu có vai trò quan trọng trong quá trình đông cầm máu, vì vậy khi số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm³ máu thì nguy cơ xuất huyết tăng lên.

MPV: Mean Platelet Volume: Thể tích tiểu cầu trung bình; đánh giá sự thay đổi về kích thước của tiểu cầu

Glucose (FBS) : Đường trong máu
Glucose là nguồn cung cấp năng lượng chính cho tế bào của cơ thể. Nhiều tế bào (ví dụ tế bào não và tế bào hồng cầu), hoàn toàn phụ thuộc vào glucose máu như là nguồn năng lượng chính. Mặt khác, não đòi hỏi nồng độ glucose trong máu ổn định để duy trì chức năng bình thường của não. Nồng độ glucose trong máu thấp hơn 30 milligram/dl (mg/dL) hoặc trên 300 mg/dL có thể gây ra lú lẫn hoặc hôn mê.

Đường huyết tăng cao hơn mức bình thường có thể gặp trong:
- Bị tiểu đường: Đường máu lớn hơn hoặc bằng 1,26 g/l (hay 7 mmol/l).
- Có nguy cơ bị tiểu đường, cần áp dụng chế độ ăn uống và vệ sinh đặc biệt: đường máu là 1-1,26 g/l (hay 5,55-7 mmol/l).
- To đầu chi (rất hiếm), Hội chứng Cushing"s (hiếm), Cường giáp, Ung thư tuỵ, Viêm tuỵ, U tuỷ thượng thận(rất hiếm), Thiếu insulin , Ăn quá nhiều,

Đường huyết thấp hơn mức bình thường có thể gặp trong:
• Suy tuyến yên, Suy tuyến giáp, U tiết Insulin ( rất hiếm), Chích nhiều insulin, Thiếu ăn.


Cholesterol, Total : Cholesterol toàn phần
Đo hàm lượng cholesterol và triglycerid, trong đó có lượng cholesterol toàn phần, LDL (cholesterol xấu) và HDL (cholesterol tốt). Chẩn đoán tăng cholesterol máu được đặt ra nếu hàm lượng chất này trong máu cao hơn 2,50 g/l.
Cholesterol rất quan trọng và được chú ý vì ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch.

SGOT (AST) & SGPT ( ALT) : Men gan đại khái gồm có nhiều loại, nhưng thường được chú trọng bởi 2 chỉ số này.

Đó là các men alanine amino transferase (ALAT hoặc SGPT) và men aspartate amino transferase (ASAT hoặc SGOT). Những thông số này cho phép chẩn đoán bệnh ở gan (do virus, rượu hoặc ung thư), tuy nhiên nồng độ các men này cũng tăng ở bệnh viêm tuyến tụy hoặc nhồi máu cơ tim.

SGOT, SGPT nằm trong tế bào gan, chỉ xuất hiện trong máu khi tế bào bị hủy hoại với số lượng lớn phóng thích ra ngoài. Nếu các men này tăng trên 200 được coi là có ý nghĩa về mặt lâm sàng chứng tỏ tế bào gan đang bị hủy hoại hàng loạt.

Tế bào nào đã chết thì chết rồi, tất cả những gì Y khoa làm được là ngăn chặn không cho chết thêm --> kiêng rượu và các thức ăn làm cho gan phải hoạt động nhiều (vì gan là cơ quan khử độc của cơ thể có nhiệm vụ chuyển hoá rượu là chất độc thành chất không độc ...).

Cũng cần lưu ý thêm, men SGPT có ý nghĩa hơn là men SGOT (vì men này cũng xuất hiện trong bệnh tim).


HBsAG : Vi-rút viêm gan siêu vi B
Anti HBs : kháng thể viêm gan siêu vi B

Nếu HBsAG dương tính là có mang vi-rút viêm gan siêu vi B, tuy nhiên phải xét thêm chỉ tiêu "Kháng thể" ( Anti HBs ), nếu dương tính, tức là số vi-rút này không nhân lên, hay nói cách khác là đã có chích ngừa hay có kháng thể chống viêm gan siêu vi B.

1.Vì viêm gan B lây qua đường máu mà giới Y khoa thường gọi là lây qua 3 con đường là :
-Truyền máu
_Mẹ cho con
_Quan hệ tình dục
(mà không phải 3 con đường là Lê Hồng Phong, Huyền Trân Công Chúa và Tân Cảng đâu nghen), do đó, nếu bạn không có dính dáng gì đến 3 con đường trên thì không sao. Còn nếu bạn có dính dáng thì chúng ta xét tiếp vấn đề 2.

2. Một người dù chích ngừa đủ 3 mũi thì về mặt nguyên tắc cũng không phải được bảo vệ "chăm phần chăm" vì có một tỷ lệ nhỏ không đáp ứng với vaccine, nói nôm na là không tạo được sự bảo vệ. Do đó, nếu bạn muốn chắc ăn thì phải đi thử máu để biết chắc là mình đã được bảo vệ thì khi đó cứ yên tâm dính dáng đến 3 con đường kia.
Tuy nhiên, một khuyến cáo nhỏ, "dù cho bạn là ai, dù cho bạn làm gì .." thì bạn chỉ được bảo vệ tránh khỏi lây nhiễm viêm gan B mà thôi, trong khi đó, trong thực tế thì viêm gan B hay được khuyến mãi kèm với HIV, chuyện thường thấy ở giới mãi dâm. Chính vì lẽ đó, một nguyên tắc phòng ngừa được khuyến cáo hiện nay là: " Mọi người đều có thể bị nhiễm" thì mới có thể ngừa được.

3. Từ 2 vấn đề trên, chúng ta có thể rút ra được bài học về phòng ngừa như sau:
a. Phòng ngừa cấp 1: chích ngừa đầy đủ theo lịch
b. Phòng ngừa cấp 2: tránh tiếp xúc với 3 con đường
c. Phòng ngừa cấp 3: nếu có phải tiếp xúc thì nên hạn chế tối đa thời gian tiếp xúc.
d. Phòng ngừa cấp "tối ưu": lên núi ở hoặc vô chùa tu, Nam mô A di đà phật


( VIỆT HÒA - tổng hợp từ các thông tin y học)