Skip navigation.

Culture of Dialogue

"The Truth will make you free” - Jn 8: 32

GHVN

Facebook bị ngăn chận ở Việt Nam

,

Facebook bị ngăn chận ở Việt Nam
Việt Hà, phóng viên RFA
2009-11-17
Hơn một tuần nay, các cư dân mạng Việt Nam xôn xao chuyện Facebook đã bị chặn, khiến cho nhiều tín đồ Facebook sống tại Việt Nam khó chịu vì mất liên lạc với bạn bè của mạng xã hội này.


RFA PHOTO

Giao diện Tiếng Việt của trang Facebook.

Mạng xã hội toàn cầu
Đối với rất nhiều dân mạng ở Việt nam, từ lâu Facebook đã trở thành một mạng xã hội quen thuộc nơi họ kết nối bạn bè, chia sẻ thông tin đủ loại. Nhưng đã hơn một tuần nay, các cư dân Facebook ở Việt Nam gặp rất nhiều trở ngại trong việc truy cập website này.

Sáng ngày 17 tháng 11, một cư dân Facebook viết trên Wall của mình như sau: ‘chào các bạn Facebook, có ai gặp vấn đề gì khi truy cập Facebook hay không? Tôi gần như không thể? Có ai có thể giúp tôi với?

Ngay sau đó, một cư dân facebook khác đã trả lời tin nhắn này bằng cách chuyển một đường link cho phép người truy cập sử dụng proxy để vào Facebook.

Theo những người sử dụng Facebook tại Việt nam thì việc truy cập Facebook trong suốt tuần qua luôn trục trặc, lúc được lúc không, có chỗ vào được, có chỗ thì lại không.

Một người sử dụng Facebook ở Hà nội, anh Nguyễn Xuân Đức cho biết: “Ở Việt nam bị block Facebook khoảng 1 tuần rồi. Nó không block toàn bộ, em không hiểu thế nào, ở nhà em vào rất bình thường, ở cơ quan vào rất bình thường nhưng mà có nơi lại không vào được. Nó block theo khu vực, lúc chặn, lúc không.”

“Ở Việt nam bị block Facebook khoảng 1 tuần rồi. Nó không block toàn bộ, em không hiểu thế nào... Nó block theo khu vực, lúc chặn, lúc không.

Nguyễn Xuân Đức
Chiều ngày 17 tháng 11, chị Vũ Phương, một người sử dụng Facebook ở thành phố Hồ Chí Minh nói về những khó khăn khi truy cập Facebook của mình như sau:

“Cách đây hơn 1 tuần thì nghe thấy mọi người đồn đại là Facebook bị làm sao đấy thì đúng là em vào thì thấy khó thật. Vài ngày sau mình vào thì không được. Hôm trước em còn thấy có đứa post kèm theo đường proxy thì vào được Facebook nhưng đến chiều nay thì em không vào được nữa.”

Vì sao phải chận?Theo hãng tin AP những kỹ thuật viên của hai trong số các nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn nhất ở Hà nội nó rằng họ phải trả lời rất nhiều cuộc điện thoại phàn nàn của khách hàng về việc không truy cập được Facebook.

Cũng theo AP thì một kỹ thuật viên được yêu cầu giấu tên ở công ty VDC nói rằng chính phủ đã yêu cầu công ty của anh phải ngăn chặn Facebook và VDC đã bắt đầu thực hiện việc này từ ngày 11 tháng 11.

Trước đó không lâu, các cư dân mạng có truyền nhau một công văn không có dấu đề ngày 27 tháng 8 năm 2009, được cho là từ Tổng Cục An ninh, Bộ Công an Việt nam gửi cho 10 nhà cung cấp dịch vụ Interent ở Việt Nam, yêu cầu ngăn chặn 8 website có nội dung xấu, trong đó có Facebook.

Hiện Việt Nam có khoảng gần 22 triệu người sử dụng internet, chiếm đến hơn 24% dân số. Trong đó lượng người sử dụng Facebook ở Việt Nam là hơn 400,000 người, chiếm gần 2 phần ngàn lượng người sử dụng Facebook trên toàn thế giới.

Chính vì thế, việc truy cập Facebook khó khăn cũng làm cho không ít người Việt Nam cảm thấy khó chịu. Khi được hỏi chị có thấy khó chịu khi không thể truy cập mạng này, chị Vũ Phương nói:

“Có chứ, nó như là một trang web cá nhân của mình vì bạn bè quen biết trên đó, có mấy đứa bạn, nó email, vì mọi người nghĩ đây chỉ là chỗ bình thường thôi nên chả ai nghĩ đến chuyện trao đổi email cá nhân với nhau cả nên bây giờ thôi mất liên lạc.”

Tuy nhiên, cũng có những người thì cho rằng việc Facebook bị khóa cũng không quá quan trọng đối với họ. Anh Nguyễn Xuân Đức ở Hà nội nói: “Có Facebook thôi, chứ có khó khăn gì đâu, ảnh hưởng gì đâu, không có Facebook thì dùng cái khác, ảnh hưởng gì.”


“Chúng tôi là những người nước ngoài sinh sống tại đây và dựa vào Facebook bởi vì chúng tôi sử dụng nó để liên lạc với bạn bè và gia đình ở nước khác. Dó đó điều này khiến tôi cảm thấy khó chịu.

Ô. John Flanagan
Còn đối với những người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam, thì việc không thể truy cập Facebook khiến họ hết sức khó chịu. Ông John Flanagan ở thành phố Hồ Chí Minh nói:

“Tôi không thể truy cập Facebook một cách bình thường từ khoảng hơn 1 tuần nay, mà phải qua proxy. Bạn bè của tôi cũng gặp khó khăn tương tự. Chúng tôi là những người nước ngoài sinh sống tại đây và dựa vào Facebook bởi vì chúng tôi sử dụng nó để liên lạc với bạn bè và gia đình ở nước khác. Dó đó điều này khiến tôi cảm thấy khó chịu.”

Có những lo ngại cho rằng Việt Nam có thể theo chân Trung quốc khóa các mạng bị cho là dùng để tuyên truyền chống phá Đảng và nhà nước bao gồm Facebook, Twitter, và Youtube.

Tuy nhiên tại Việt Nam những người sử dụng internet cho biết đến tối ngày 17 tháng 11 các mạng Twitter và Youtube vẫn có thể truy cập bình thường.


Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved

a

Roma

VU Tan sat Thien an mon, Vet nho lich Su Trung Quoc

Những bài thơ về Mẹ

Những bài thơ về Mẹ
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2009-05-09
Ngày của Mẹ hay Mother's Day năm nay rơi vào Chủ Nhật 10 tháng 5. Mỗi người trong chúng ta không ai là không có mẹ. Tình thương của bà dành cho chúng ta mỗi người mỗi khác nhưng cái chung mà tất cả chúng ta đều thừa hưởng được từ bà là những hy sinh vô bờ bến để nuôi con khôn lớn.


AFP Photo/Ted Aljibe

Tình mẹ thương con vô bờ bến và không bao giờ thay đổi.


Bất kể ở đâu, bất kể hoàn cảnh nào thì tình yêu ấy cũng không bao giờ thay đổi. Chương trình VHNT kỳ này mời quý thính giả chia sẻ những bài thơ về Mẹ do Mặc Lâm tuyển chọn và trình bày với sự góp giọng đọc thơ của anh chị trong ban Việt Ngữ và đặc biệt nữ nghệ sỹ Bạch Yến từ Pháp quốc với giọng ru ba miền...

Có thể nói nhạc phẩm Lòng Mẹ của Y Vân được người Việt biết và thương yêu hơn bất cứ bài hát nào. Tác phẩm Lòng Mẹ năm nay vừa tròn 50 năm ngày ra đời nhưng sức thu hút của nó vẫn như những ngày đầu ra mắt.


Cứ mỗi lần nghe nhạc phẩm này do bất cứ ai hát lên thì người Việt dù ở chân trời góc bể nào cũng dấy lên một niềm xao xuyến khó tả. Bài hát như thay thế người mẹ ầu ơ con trong đêm hè oi bức.


Trong tận cùng của cảm xúc, người nghe thấy được hình bóng của mẹ mình và hình như những lời hát thăng hoa trở thành chính tiếng mẹ hiền ủi an bên cạnh.

Những sáng tác về tình mẫu tử trong kho tàng văn chương nghệ thuật Việt Nam có lẽ bắt nguồn từ những bài hát ru của người mẹ cả ba miền Nam Trung Bắc. Những đứa trẻ được nuôi dưỡng từ tiếng ầu ơ dịu ngọt này đã thai nghén những bài thơ viết về mẹ sau khi trưởng thành và nhanh chóng được người đời chia sẻ.


Bắt đầu biết thương nhớ mẹ từ sớm, từ khi mới chập chững những bước đầu tiên thế nhưng để trọn vẹn cảm nhận được tình mẹ thì phải đợi đến khi khôn lớn.


Người sinh viên nghèo xa nhà đi học ở thành phố bỗng một hôm thấy nhớ mẹ đến nao lòng. Anh như con trẻ, cảm thấy mẹ mình là một nguồn sức mạnh chở che mà anh không thể tìm nơi đâu khác. Lúc này là lúc mà người ta tự hỏi lòng: Mẹ ơi có nhớ con không?

Lâu nay con trọ học xa nhà

Sống tự lập thiếu thốn nhiều mẹ ạ!

Nhưng một thứ con thiếu nhiều hơn cả

Là vòng tay mẹ âu yếm sớm chiều.

Thiếu một chút muối, mì chính, hạt tiêu

Con có thể chạy vay phòng khác

Nhưng mẹ ơi! Tình mặn nồng ấm áp

Của mẹ hiền nào con biết vay ai??!!



Từ khi nuôi con khôn lớn cho đến khi gả chồng không biết bao nhiêu là cực nhọc. Con về nhà khác cũng mang theo nước mắt mẹ hiền mặc dù ngoài mặt bà vẫn gượng cười cho trọn ngày vui của con. Nhà thơ Nguyễn Bính vẽ lại cảnh tượng bà mẹ đưa con về nhà chồng:

Đưa con ra đến cửa buồng thôi

Mẹ phải xa con, khổ mấy mươi!

Con ạ! đêm nay mình mẹ khóc

Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi.



Nhà thơ Xuân Quỳnh viết về người mẹ của chồng mình mà khi đọc lên sức lôi cuốn của những câu thơ của bà khiến người ta không thể không tự hỏi: phải chăng Xuân Quỳnh đang nhắc cho chúng ta về một người mẹ hiền mà đã quá lâu chúng ta quên bẵng?

Phải đâu mẹ của riêng anh

Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi

Mẹ tuy không đẻ không nuôi

Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong

Ngày xưa má mẹ cũng hồng

Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau

Bây giờ tóc mẹ trắng phau

Để cho mái tóc trên đầu anh đen



Hình ảnh nghèo khó của làng quê Việt Nam với những mái tranh nghèo và những gia đình đôi khi neo đơn đến tội nghiệp đã đi vào văn chương Việt Nam với khả năng gây xao động lòng người. Trong những mái tranh nghèo ấy tình mẹ lại càng tỏa sáng biết bao nhiêu với những thân cò lặn lội.


Người con ao ước mua cho mẹ mình những miếng trầu thơm cay và cứ mỗi khi đi ngang hàng trầu thì niềm ao ước ấy lại càng mãnh liệt. Đến khi có thể mua miếng trầu cho mẹ thì bà đâu còn nữa. Người con gái cũng là nhà thơ Nguyễn Thị Mai kể lại trong nước mắt.

Mẹ ơi?

Thơm cay một miếng trầu xưa

Mà con phải bớt tiền mua vì nghèo

Bây giờ đã bớt gieo neo

Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không?



Từ ngày đưa mẹ ra đồng

Qua hàng trầu vỏ con không dám vào



Có một điểm chung của những bà mẹ Việt Nam là sự khó nhọc nuôi con cùng những hy sinh vô bờ đã khiến bà trở thành biểu tượng của điều thiêng liêng mà chúng ta ai cũng có một.

Thương nhiều lắm dáng mẹ lom khom

Cúi trên ruộng đồng chiều đông buốt giá,

Nặng gánh rau chợ tàn chiều muộn,

Chắt chiu tiền nhàu nát gửi con xa.

Tim thổn thức, nước mắt cứ trào ra

Khi cầm trên tay tờ bạc nhàu cũ nát



và hình ảnh người mẹ của nhà thơ Thanh Vân cho thấy sự vất vả của bà trên cánh đồng như thế nào:

Mẹ tôi bước xuống đồng sâu

Ngọn cỏ ngóc đầu sắc tựa mũi chông

Mẹ tôi ngã quỵ xuống đồng

Cây lúa đòng đòng đỡ mẹ đứng lên



Nhà thơ Vương Trọng khi đến tuổi 70 khi nằm chiêm bao thấy lại mẹ mình với những câu thơ chạnh lòng:

Đã có lần con khóc giữa chiêm bao

Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó

Đồng sau lụt đường đê sụt lở,

Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.

Anh em con chịu đói suốt ngày tròn,

Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa.

Có gì nấu đâu mà nhóm lửa

Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về.



Hình ảnh của mẹ hiền ăn sâu vào tiềm thức của người con xa quê như một vết thương không bao giờ lành. Thao thức nhớ mẹ là tình cảnh chung và nhà thơ Hoàng Phố, sống cách Việt Nam nửa vòng trái đất mượn bạn mình đến nhà để thăm bà trong khi heo hút:

Mày có đi làm ghé chơi thăm má

mua một tô mì cho má giùm tao

nhớ thêm bột nêm vào trong hoành thánh

tánh má từ xưa vẫn thích ngọt ngào



nếu mà hỏi mày làm ăn có khá

cũng ráng mà cười nói được nghe chưa

tính má hay buồn nghe ai thất bại

bốn chục năm rồi má vẫn như xưa



Khi mày ra về cũng nên hẹn lại

sẽ đến thăm khi rảnh rỗi việc nhà

má như trẻ thơ thích ngồi nói mãi

những chuyện ngày xưa hồi còn có ba



Ừ mà tao quên mày đốt cho ba

một nén nhang thơm cho má mát lòng

bởi tao đi rồi là hai hình bóng

nay đã mất tăm vừa con vừa chồng...



Nhà thơ Trần Trung Đạo hạnh phúc hơn khi còn nghe ra giọng nói yêu dấu của mẹ mình:

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi



và rồi nhà thơ thở dài với những cách trở mà ông không hy vọng gì san lấp được. Ông chỉ còn niềm mơ ước duy nhất nhưng chừng như niềm mơ ước này cũng chỉ là thiên thu mà thôi...



Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn

Bên đời gió tạt với mưa tuôn

Con đi góp lá nghìn phương lại

Đốt lửa cho đời tan khói sương



Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói

Biết đến bao giờ trông thấy nhau



Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ

Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ

Đau thương con viết vào trong lá

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ



Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.



Những chiếc bông hồng tượng trưng cho những người còn mẹ là một phong tục đẹp của người Nhật và đi sâu vào lòng chúng ta từ nhiều năm qua. Khi cánh hoa hồng biến thành màu trắng thì nỗi bất hạnh cũng ập xuống cuộc đời. Nhà thơ Trần Kiêu Bạc trở về nhà thẩn thờ sau khi chôn cất mẹ:

Khi nắm đất sau cùng lắp kín mộ sâu

Con trở về nhà một mình trống vắng

Trên ngực con nở đóa hoa hồng trắng

Quỳ trước bàn thờ cam phận mồ côi



Với nhà thơ Thu Nguyệt thì niềm đau có khác nhưng hoa cà na từ đây dưới mắt nhà thơ đã chớm mang một màu tang chế:

Ngày mẹ mất bông cà na rụng trắng

Hoa như mưa nhòe nhoẹt rối tơi bời

Trong nắm đất con lấp từ biệt mẹ

Có rất nhiều những cánh hoa rơi.



Hoa cũng như đời mẹ, mẹ ơi!

Nở lặng lẽ và rơi lặng lẽ

Cô đơn nào hơn những người mẹ trẻ

Con chưa đủ lớn khôn để chia sẻ vui buồn.



Giọng ru buồn len lén hoàng hôn

Ba mươi năm sau đời con mới hiểu

Nỗi cô đơn mẹ âm thầm gánh chịu

Nhiều như bông cỏ dại quê mình.



Nhà thơ Vương Trọng cho chúng ta những khúc hát đẫm nước mắt như trong giấc mơ mà nhà thơ trải qua:

Con lang thang vất vưởng giữa đời thường,

Đâu cũng sống không đâu thành quê được.

Còn quê mẹ cuối chân trời tít tắp,

Con ít về từ ngày mẹ ra đi.

Đêm tha hương con tìm lại những gì

Với đời thực chẳng bao giờ gặp nữa.

Mong hình mẹ lại hiện về giấc ngủ

Dù thêm lần con khóc giữa chiêm bao.




Người mẹ trong tâm thức Việt Nam vẫn luôn sáng lên niềm hy vọng tuyệt đối. Là chỗ nương thân, là bóng mát, là đại dương, hay là gì chăng nữa vẫn không nói hết được tình yêu của bà đối với con thơ. Ngày Mother's Day, nghĩ về mẹ một chút cũng là diễm phúc vì con biết con đã và đang từng có mẹ...

Cánh én báo hiệu Mùa Xuân?

Cánh én báo hiệu Mùa Xuân?
VietCatholic News (08 May 2009 17:42)
CÁNH ÉN BÁO HIỆU MÙA XUÂN?

Tên cháu là Gio-an

Sáng thứ Tư ngày 06-05-2009, vào trang mạng VietCatholic tôi thấy những tựa đề như So sánh báo cáo về nhân quyền tại Việt Nam giữa bộ ngoại giao Việt Nam và Mỹ của Đinh Từ Thức, hay Uỷ ban Tự do Tôn giáo: 13 nước vi phạm tự do tôn giáo trong đó có Việt Nam của đài VOA, hay Bức màn bauxite, âm mưu Tây Nguyên!!! Của tờ “Tự do ngôn luận”… Nhưng tất cả đều bị chìm bên cạnh tấm hình thánh giá rất nổi của một nhà thờ, ở phía dưới là tựa đề của bài viết: Quan điểm Công giáo về trách nhiệm của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội, tác giả là đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Khảm. Tôi cũng để ý đến ngôi sao vàng 5 cánh (có 1/4 bị che khuất) trên nền đỏ, ở phía trên bóng cây thánh giá. Đây là cách lôi kéo sự chú ý của người đọc.

Chỉ mới nhìn tựa đề của bài viết thôi, tôi đã thầm nghĩ: bây giờ là Mùa Phục Sinh, nhưng trong bối cảnh xã hội ngày càng nóng như có thể nổ tung bất cứ giờ nào, thì sau một thời gian dài chờ đợi, đặc biệt của các tín hữu Công Giáo, bài viết của một vị giám mục Việt Nam như đưa ta trở lại Mùa Vọng, sau khi ông Da-ca-ri-a bị câm một thời gian. Đến ngày vợ ông là bà Ê-li-sa-bét sinh hạ, rồi phải đặt tên cho con, và khi họ hàng tính lấy tên cha mà đặt cho đứa bé thì bà mẹ nhất quyết đặt tên cho con là Gio-an. Cuối cùng thì phải nại đến uy quyền của cha đứa bé để giải quyết vấn đề. Ông Da-ca-ri-a ra hiệu xin mang đến cho ông một tấm bảng, rồi ông viết lên đó: “Tên cháu là Gio-an”. Cùng lúc, ông hết câm, ông nói được. Nay sau một thời gian dài chờ đợi một tiếng nói từ phía các giám mục, chợt thấy có bài viết của đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Khảm, tôi có cảm tưởng như đang ngược dòng thời gian, trở về hơn 2000 năm trước, để cùng với bà con chòm xóm vị tư tế Da-ca-ri-a, nghe ông cất tiếng nói: “Tên cháu là Gio-an!”.

Hai ví dụ cụ thể

Bài viết của đức cha Khảm bắt đầu bằng hai ví dụ cụ thể. Ví dụ thứ nhất là việc Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ lên tiếng thúc đẩy việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Ví dụ thứ hai là việc Đức cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II tìm cách thuyết phục Hoa Kỳ đừng tấn công I-rắc. Cả hai ví dụ cụ thể trong phần mở đầu cho thấy Giáo Hội Công Giáo không ở ngoài đời sống chính trị và khi cần thì lên tiếng công khai bày tỏ lập trường.

Tư cách của người viết

Cũng như bất cứ ai có điều gì muốn chia sẻ với người khác, đức cha Khảm viết bài này với tư cách riêng. Tuy nhiên, vì đã từ lâu, các độc giả Công Giáo chờ đợi một tiếng nói có thẩm quyền, nên bài viết của một giám mục lôi kéo sự chú ý của người đọc là chuyện không có gì khó hiểu.

Mục đích của bài viết

Đã được minh định ngay trong phần mở đâu: Đó là nhằm trả lời câu hỏi: Tại sao Giáo Hội lại lên tiếng về các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị? Để trả lời câu hỏi này, tác giả dựa vào mệnh lệnh của Chúa Giê-su (Mt 28,19-20), vào học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo (và học thuyết này được xây dựng trên nền tảng Lời Chúa, Truyền thống của Giáo Hội, đặc biệt là Công Đồng Va-ti-ca-nô II, cũng như giáo huấn của các Đức Giáo Hoàng) để đưa ra những NGUYÊN TẮC hành động.

Đối tượng của bài viết

Vậy thì bài viết nhắm đến ai? Dĩ nhiên đã đưa lên mạng rồi, ai muốn xem thì xem. Thật ra, những ai muốn biết học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo thì đã biết rồi: Sau cuộc hội thảo tại Đồ Sơn cách đây chưa lâu lắm, các bài tham luận đã được in thành sách, chắc chắn đã được gửi đến nhà cầm quyền. Nhưng cứ xem những gì đã diễn ra trên đất nước này, thì có vẻ như cuộc hội thảo khá tốn kém kia đã chẳng có ảnh hưởng gì nhiều đến cách hành xử của nhà cầm quyền Việt Nam. Còn đối với các tín hữu Công Giáo, ít là những ai quan tâm đến vấn đề, thì điều chờ đợi, chẳng phải là lý thuyết trừu tượng, chẳng phải là nguyên tắc phổ quát, nhưng là những hành động cụ thể dựa trên lý thuyết, trên các nguyên tắc đó. Và đây chẳng phải là những chuyện muốn làm thì làm, không làm thì thôi, nhưng là những chuyện bắt buộc phải làm nếu muốn trung thành với giáo huấn của Chúa Giê-su và Hội Thánh của Người. Tác giả đã trích dẫn học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo như sau: Các vấn đề chính trị và xã hội liên quan đến khía cạnh đạo đức là trách nhiệm đặc thù của Giáo Hội, chẳng hạn chiến tranh, tham nhũng, phá thai, gian dối…

Chính quyền nào?

Trong phần II, đề cập đến tương quan giữa Giáo Hội và chính quyền, tác giả đã trích dẫn Hiến chế của Công Đồng Va-ti-ca-nô II về Giáo Hội trong thế giới ngày nay để nhắc lại: Giáo Hội tôn trọng quyền bính hợp pháp và chính đáng của Nhà Nước. Điều không thể nghi ngờ là các nghị phụ của Công Đồng Va-ti-ca-nô II khi khẳng định như thế, đã nghĩ đến các chính quyền của các nước tự do, trong đó những người cầm quyền là những người được dân lựa chọn qua các cuộc bầu cử tự do, nên quyền bính của họ là quyền bính hợp pháp. Còn tại Việt Nam, chế độ hiện nay dựa trên việc “Việt Minh cướp chính quyền” hồi năm 1945, rồi sau đó từ từ triệt hạ tất cả các đảng phái khác cùng đứng chung liên minh với mình, và khư khư giữ cái quyền ăn cướp đó đến hôm nay. Và suốt hơn 60 năm qua (trừ quãng thời gian từ 1955 đến 1975 tại miền Nam) mọi cuộc bầu cử chỉ là những màn trình diễn ngoạn mục để đảng Công Sản Việt Nam tiếp tục giữ cái quyền ăn cướp đó.

Đối thoại

Bài viết của đức cha Khảm ở phần cuối có nói đến đối thoại. Đây là nguyên tắc không người bình thường nào mà không chấp nhận. Có điều muốn đối thoại với nhau, phải chấp nhận nhau, kính trọng nhau, thành thực với nhau. Và trong việc đối thoại với chính quyền cộng sản ở mọi cấp, chúng ta đều có ít nhiều kinh nghiệm. Người miền Nam hay nhắc lại lời cố tổng thống Thiệu ngày xưa: “Đừng nghe những gì cộng sản nói”. Đức cha Khảm mới làm giám mục được mấy tháng nên chưa có kinh nghiệm. Nhưng chỉ cần hỏi các bậc cao niên trong hàng giám mục xem suốt 30 năm nay, bao nhiêu kiến nghị được trân trọng gửi đến chính quyền các cấp, được tiếp nhận cách lịch sự rồi cất kỹ trong ngăn kéo, liệu có bao nhiêu phần trăm kiến nghị đã được giải quyết? Sáng nay ngày 08-05-2009 trước khi viết tiếp bài này, đọc tin tức liên quan đến cuộc hành hương của giáo phận Thái Bình đến trung tâm hành hương Đức Mẹ Công Lý ở Thái Hà, rồi nhất là đọc lá thư ngỏ của đức cha Nguyễn Văn Sang, tôi thầm nghĩ: Giờ này ông cụ mới nhận ra khuôn mặt của cộng sản, kể cũng là khá trễ.

Kết luận

Trở lại với bài viết của đức cha Khảm, tôi tự hỏi: Đây là một “terminus a quo” (khởi đầu) hay là một “terminus ad quem” (kết thúc)? Nếu sau bao nhiêu trăn trở, bao lời trách móc, bao nhiêu ước mơ của người tín hữu Công Giáo Việt Nam trước những vấn đề thời sự nóng bỏng như tham nhũng, bất công, bán đất, bán biển, và gần đây nhất là vụ bauxite Tây Nguyên, chẳng khác chi những đám lửa khổng lồ đang đốt cháy tâm can của những ai quan tâm đến sự tồn vong của Dân tộc, và trước những vấn đề nhức nhối đó, bài viết của đức cha Khảm được xem như là câu trả lời dứt khoát, thì cứ tiếp tục trăn trở, cứ việc trách móc, cứ việc ước mơ, vì “gia tài của mẹ” chỉ có bấy nhiêu thôi. Còn nếu bài viết của đức cha Khảm là một khởi đầu cho một giai đoạn mới, là lời tựa cho một cuốn sách dày sắp mở ra, là những nguyên tắc chỉ đạo cho những hành động cụ thể trong những ngày tháng tới như tác giả đã đưa ra ngay đầu bài viết, thì ta có quyền hy vọng: cánh én Nguyễn Văn Khảm đang báo hiệu một mùa xuân trong lòng Giáo Hội, trên đất nước Việt Nam thân yêu.

Sài-gòn, ngày 08 tháng 05 năm 2009

pascaltinh@gmail.com
LM Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm

Quan điểm Công giáo về trách nhiệm của Giáo hội trước các vấn đề xã hội

Quan điểm Công giáo về trách nhiệm của Giáo hội trước các vấn đề xã hội
VietCatholic News (05 May 2009 16:50)
“… khi Giáo Hội lên tiếng về các vấn đề xã hội, Giáo Hội không làm chính trị nhưng muốn hợp tác với Nhà Nước để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Thật vậy, Giáo Hội không có chức năng làm chính trị, cũng không chấp nhận bị đồng hoá với một cộng đoàn chính trị nào, hoặc cấu kết với bất cứ hệ thống chính trị nào. Giáo Hội cũng không muốn cậy nhờ vào những đặc ân của thế quyền…”.

“… có thể nói đến tương quan giữa Giáo Hội và Chính quyền dân sự là tương quan trong đó cả hai bên tôn trọng sự độc lập chính đáng của nhau, đồng thời hợp tác với nhau nhằm phục vụ con người cách tốt đẹp nhất”.

QUAN ĐIỂM CÔNG GIÁO VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA GIÁO HỘI TRƯỚC CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

+ Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn

Tháng 6.1989, Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ công bố tài liệu mang tựa đề A Time for Dialogue and Healing: A Pastoral Reflection on United States – Vietnam Relations (Thời điểm cho đối thoại và chữa lành: Một suy tư mục vụ về mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam), trong đó các giám mục lên tiếng thúc đẩy việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. [1]

Năm 2002, khi Tổng thống Mỹ George W. Bush quyết định tấn công Iraq, một trong những người kiên quyết tìm mọi cách ngăn cản cuộc chiến tranh là Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đến nỗi vào giờ phút chót, ngài vẫn cử một đặc sứ sang tận Washington, D.C., đích thân gặp Tổng thống Mỹ nhằm thuyết phục ông thay đổi quyết định tấn công Iraq.

Nếu theo dõi các tuyên bố của các Hội Đồng Giám Mục Công Giáo tại nhiều quốc gia, sẽ thấy các ngài lên tiếng về hầu hết các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị như chạy đua vũ trang, hoà bình tại Trung Đông, môi sinh… và những vấn đề khác.

Những sự kiện trên khiến nhiều người đặt vấn đề: Tại sao Giáo Hội lại lên tiếng về các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị? Sứ mạng của Giáo Hội lại chẳng phải là sứ mạng thiêng liêng sao? Khi can thiệp vào các vấn đề xã hội như thế, liệu Giáo Hội có thi hành đúng chức năng của mình không? Có gây tranh chấp với chính quyền dân sự không? Phải làm gì để giải quyết?

Bài viết này không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề, chỉ mong trình bày một vài gợi ý và định hướng căn bản, dĩ nhiên là từ quan điểm của Giáo Hội Công giáo. Theo đó, bài viết này sẽ bàn đến (1) mối tương quan giữa sứ mạng của Giáo Hội và trách nhiệm đối với các vấn đề xã hội, và (2) tương quan giữa Giáo Hội và Chính quyền trong những vấn đề xã hội.

I. TƯƠNG QUAN GIỮA SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

Sứ mạng chính yếu của Giáo Hội là loan báo Tin Mừng cho muôn dân, và sứ mạng này có mối liên hệ mật thiết với trách nhiệm xã hội về cả ba mặt: đối tượng, mục đích và nội dung [2].

Đối tượng của việc loan báo Tin Mừng là muôn dân, là những con người cụ thể, cho nên phục vụ con người trở thành con đường quan trọng nhất và căn bản nhất của Giáo Hội[3]. Con người mà Giáo Hội có trách nhiệm phục vụ vừa là một nhân vị độc đáo vừa là hữu thể mang tính xã hội. Một đàng, mỗi con người là một nhân vị độc đáo, không thể thay thế, và vì thế, phải tôn trọng mỗi con người từ khi thụ thai cho đến lúc lìa đời, bất kể sang hèn, trí thức hay bình dân, khoẻ mạnh hay đau yếu. Đàng khác, tự bản chất, con người là hữu thể xã hội, sống trong một mạng lưới phức tạp với vô số quan hệ xã hội, đặc biệt trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay, và con người chỉ có thể sống và phát triển khả năng của mình trong mối liên hệ với người khác. Tất cả những gì diễn ra trong xã hội đều gây âm hưởng trên con người cũng như trên mọi mặt của đời sống; ngược lại, chính con người là chủ thể và tác nhân của đời sống xã hội, xã hội phát triển hay trì trệ đều do chính con người làm nên [4].

Chính vì thế, để phục vụ con người cách hiệu quả, không thể không quan tâm đến chiều kích xã hội này, cũng có nghĩa là phải quan tâm đến các vấn đề xã hội. Hơn thế nữa, các vấn đề chính trị và xã hội lại liên quan đến khía cạnh đạo đức là trách nhiệm đặc thù của Giáo Hội, chẳng hạn chiến tranh, tham nhũng, phá thai, gian dối…, nên Giáo Hội lại càng cần phải quan tâm nhằm làm cho đời sống con người trở nên nhân bản hơn [5]. Xã hội, và cùng với xã hội là chính trị, kinh tế, lao động, luật lệ và văn hoá, tất cả đều hàm chứa trong nó những giá trị đạo đức, và vì thế, không thể xa lạ với sứ mạng loan báo Tin Mừng [6].

Kế đến, mục đích mà sứ mạng loan báo Tin Mừng hướng tới là dẫn đưa con người đến Nước Trời, vương quốc của Thiên Chúa như Công đồng Vaticanô II khẳng định: “Mục đích duy nhất của Giáo Hội là làm cho Nước Chúa trị đến và toàn thể nhân loại được cứu rỗi. Mọi lợi ích mà Dân Chúa trong hành trình tại thế có thể đem lại cho gia đình nhân loại đều phát xuất từ sự kiện này: Giáo Hội là bí tích phổ quát của ơn cứu độ, nghĩa là Giáo Hội tỏ bày và đồng thời thực hiện mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa đối với con người” [7]. Thế nhưng Nước Trời mà Giáo Hội loan báo không chỉ là vương quốc thánh thiện và ân sủng trong thế giới mai sau, mà còn là vương quốc của công lý, yêu thương và hoà bình, nghĩa là những giá trị cần được xây đắp và vun trồng trong đời sống xã hội cụ thể, ở đây và lúc này [8]. Đàng khác, Giáo Hội không loan báo Tin Mừng Nước Trời trong cõi thiêng liêng trừu tượng mà là trong bối cảnh cụ thể của lịch sử và thế giới mà con người đang sống, do đó Giáo Hội không thể không quan tâm đến các vấn đề xã hội [9]. Như thế, có mối liên hệ hữu cơ giữa sứ mạng loan báo Tin Mừng và trách nhiệm phục vụ sự thăng tiến con người.

Thiết nghĩ ở đây cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tự nhiên và siêu nhiên. Theo quan điểm công giáo, tự nhiên và siêu nhiên không phải là hai lãnh vực tách biệt nhau, lại càng không phải là hai thực thể đối lập nhau; đúng hơn, đó là hai lãnh vực thấm nhập vào nhau. Vì thế, không nên hiểu siêu nhiên như một thực thể hay một địa điểm bắt đầu từ nơi mà tự nhiên kết thúc, nhưng phải hiểu siêu nhiên như sự nâng đỡ và lôi kéo tự nhiên lên một bình diện cao hơn. Hiểu như thế, không có gì trong thế giới tự nhiên, không có gì là của con người mà lại xa lạ hay bị loại trừ khỏi trật tự siêu nhiên của đức tin và ân sủng; trái lại, tất cả đều có mặt trong trật tự này, đều được đảm nhận và nâng cao [10].

Trung tâm của đức tin Kitô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa làm người và trong mầu nhiệm này, toàn bộ con người xét như hữu thể duy nhất xác-hồn và là một hữu thể xã hội – chứ không chỉ riêng linh hồn hay một hữu thể khép kín trong cá tính riêng của mình – đã được nâng lên một trật tự mới, trật tự siêu nhiên và ân sủng. Như thế, con người toàn diện và cả xã hội loài người đã được đưa vào trong nhiệm cục cứu độ của Tin Mừng. Do đó, loan báo Tin Mừng không chỉ có nghĩa là phục vụ linh hồn mà bỏ quên thân xác, cũng không chỉ quan tâm đến ơn cứu độ cá nhân mà lãng quên những thực tại xã hội. Đúng hơn, sứ mạng loan báo Tin Mừng đòi hỏi Giáo Hội phải làm cho những giá trị của Tin Mừng thấm nhuần đời sống xã hội và phong phú hoá đời sống đó [11].

Như thế, có sự phân biệt giữa hai lãnh vực thiêng liêng và trần thế, nhưng đàng khác, không có tách biệt, lại càng không có đối kháng giữa sứ mạng thiêng liêng của Giáo Hội và mối quan tâm của Giáo Hội về công lý và hoà bình, bởi lẽ siêu nhiên thấm nhập vào tự nhiên và nâng con người lên một bình diện mới: “Trong khi theo đuổi mục đích cứu độ cá biệt của mình, Giáo Hội không chỉ truyền thông sự sống Thiên Chúa cho con người, mà còn chiếu giãi ánh sáng của đời sống ấy cách nào đó trên toàn thế giới. Giáo Hội làm công việc này trước hết bằng cách chữa trị và nâng cao phẩm giá của nhân vị, củng cố cơ cấu của xã hội nhân loại và làm cho hoạt động thường nhật của con người được thấm nhuần một định hướng và ý nghĩa sâu xa hơn” [12].

Ngoài ra, trọng tâm của Tin Mừng mà Giáo Hội có sứ mạng loan báo là tình yêu vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Bác ái là điều răn mới và điều răn trung tâm của Kitô giáo. Nhưng làm sao có thể công bố điều răn đó mà lại không quan tâm đến tình trạng công lý và công bằng cho con người? Ở tự nó, tình yêu đã hàm chứa chiều kích xã hội vì yêu thương luôn luôn là hướng đến một tha thể ở ngoài mình. Chiều kích xã hội này càng mạnh mẽ và khẩn thiết hơn trong một thế giới mà tiến trình xã hội hoá đã vươn đến tầm cao. Bác ái không chỉ còn được nhìn trong tương quan giữa cá nhân với cá nhân mà đòi hỏi phải quan tâm đến các vấn đề xã hội, vì những vấn đề này đụng chạm tới sự sống và hạnh phúc của những con người mà ta yêu thương và phục vụ. Vì thế, phải nói rằng chính điều răn yêu thương – chứ không phải động lực hay tham vọng nào khác – thúc đẩy người Kitô hữu dấn thân cho công lý và hoà bình, làm cho công bằng và bác ái lan tràn trong mỗi dân tộc và giữa các dân tộc [13].

Nói tóm lại, nhìn vào đối tượng, mục đích hay nội dung của sứ mạng loan báo Tin Mừng, ta đều thấy mối liên hệ mật thiết giữa việc loan báo Tin Mừng và việc thăng tiến con người đến nỗi Thượng Hội Đồng các Giám mục thuộc thế giới thứ ba tuyên bố: “Hành động của Giáo Hội nhằm xây dựng công lý và tham gia vào việc biến đổi thế giới nên tốt hơn là một chiều kích cấu thành (a constitutive dimension) trong sứ mạng của Giáo Hội nhằm cứu rỗi nhân loại và giải thoát họ khỏi mọi tình trạng áp bức” [14]. Thực ra, đây không phải là điều gì mới mẻ nhưng là đòi hỏi cắm rễ sâu trong truyền thống lâu đời của Kitô giáo.

Thánh Kinh Cựu ước còn ghi lại những chỉ dẫn cụ thể về Năm sabát, nhất là Năm toàn xá, Năm thánh (x. Lêvi chương 25). Năm thánh là năm thuộc về Chúa là Đấng Thánh, năm tôn vinh Thiên Chúa là chủ của vũ trụ, thế giới và con người, đồng thời là năm tái lập sự công bằng trên trái đất và là năm giải thoát cho cả đất đai: “Trong năm toàn xá, mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình… Không ai trong các ngươi được gây thiệt hại cho đồng bào mình, nhưng các ngươi phải kính sợ Thiên Chúa vì Ta là Chúa, Thiên Chúa của các ngươi… Trong năm đó, các ngươi không được gieo, không được gặt lúa tự nhiên mọc, không được hái trong vườn nho không cắt tỉa, đó sẽ là một năm đất nghỉ” (Đnl 25, 2-17). Như thế, từ rất lâu, những chỉ dẫn về Năm thánh đã phản ánh ý thức cao độ về công bằng xã hội và cả việc bảo vệ môi sinh là những vấn đề mà thế giới hôm nay càng ngày càng ý thức hơn.

Cũng trong truyền thống đó, các tiên tri là những người hết sức nhạy bén trước nỗi đau của con người, do đó cũng nhạy bén trước những bất công xã hội. Tiếng nói của các ngài vừa là tiếng nói thay cho cơn hấp hối câm lặng của người nghèo vừa vọng lại cơn giận của Thiên Chúa[15]. Hãy thử đọc lại một trong nhiều bài giảng của các tiên tri để cảm nhận sự nhạy bén này:

“Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ
và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ.
Các ngươi thầm nghĩ:
Bao giờ ngày mồng một qua đi cho ta còn bán lúa,
Bao giờ mới hết ngày sabát để ta bày thóc ra?
Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm,
Ta sẽ làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ.
Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần,
đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ,
Cả lúa nát, gạo mục, ta cũng đem ra bán.
Đức Chúa đã lấy thánh danh là niềm hãnh diện của Giacóp mà thề:
Ta sẽ chẳng bao giờ quên hành vi nào của chúng.
Há chẳng phải vì vậy mà đất rung chuyển,
Và toàn thể dân cư lâm cảnh tang tóc đó sao?” (Amos 8,4-8)

Cũng trong truyền thống đó, Đức Giêsu đã bắt đầu sứ vụ của Người với chương trình hành động là “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa” (Lc 4, 18-19).

Như thế, sẽ chẳng có gì khác lạ nếu Giáo Hội ngày nay lên tiếng về các vấn đề xã hội với ước mong góp phần làm cho cuộc sống con người trở thành nhân bản hơn. Giáo Hội chỉ đặt mình trong dòng chảy tự nhiên của truyền thống Kitô giáo và là đòi hỏi nội tại trong chính sứ mạng loan báo Tin Mừng. Tuy nhiên, khi Giáo Hội can thiệp vào các vấn đề xã hội, đâu là tương quan giữa Giáo Hội và chính quyền?

II. TƯƠNG QUAN GIỮA GIÁO HỘI VÀ CHÍNH QUYỀN

Bàn về mối tương quan giữa Giáo Hội và Chính quyền, thiết nghĩ trước hết nên có sự phân biệt giữa xã hội dân sự và cộng đồng chính trị. Xã hội dân sự là “tổng hợp bao gồm các mối quan hệ và các nguồn lực về văn hoá lẫn hiệp hội, và những mối quan hệ cũng như các nguồn lực này độc lập cách tương đối với lãnh vực chính trị và kinh tế” [16]. Từ xã hội dân sự này, phát xuất cộng đồng chính trị là cộng đồng được thiết lập nhằm phục vụ những con người và những tập thể làm nên xã hội dân sự. Do đó, không nên coi xã hội dân sự chỉ như một thành phần của cộng đồng chính trị. Đúng hơn, Nhà Nước cung cấp khung pháp lý thích đáng để điều hoà các mối quan hệ của mình với xã hội dân sự theo nguyên tắc bổ trợ [17].

Theo đó, có thể nói đến tương quan giữa Giáo Hội và Chính quyền dân sự là tương quan trong đó cả hai bên tôn trọng sự độc lập chính đáng của nhau, đồng thời hợp tác với nhau nhằm phục vụ con người cách tốt đẹp nhất.

Giáo Hội tôn trọng quyền bính hợp pháp và chính đáng của Nhà Nước. Sự tôn trọng này phát xuất từ sự nhìn nhận tính độc lập chính đáng của những thực tại trần thế như Công đồng Vaticanô II minh định: “Nếu sự độc lập của các thực tại trần thế được hiểu là các thụ tạo và các xã hội đều có những định luật và giá trị riêng mà con người phải khám phá dần dần, sử dụng và điều hoà, thì đòi hỏi sự độc lập như thế là một việc hoàn toàn chính đáng. Đó là điều không những người đương thời đòi hỏi, mà còn phù hợp với ý muốn của Đấng Tạo hoá” [18]. Cũng vậy, “Giáo Hội tôn trọng sự tự trị chính đáng của trật tự dân chủ và không mang danh nghĩa nào để ủng hộ ưu tiên cho giải pháp này hay giải pháp kia, liên quan đến định chế hay hiến pháp” [19]. Do đó, Giáo Hội không can thiệp vào các vấn đề kỹ thuật, cũng không đề xuất hay thiết lập những hệ thống hoặc những mô hình tổ chức xã hội. Đó không phải là sứ mạng mà Đức Kitô muốn trao cho Giáo Hội. Theo Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, sự phân biệt giữa Nhà Nước và Giáo Hội như thế là thành phần trong cấu trúc nền tảng của Kitô giáo. Giáo Hội tôn trọng và nhìn nhận sự phân biệt và tự trị này, coi đó là tiến bộ lớn của nhân loại và là điều kiện nền tảng cho sự tự do của Giáo Hội cũng như cho việc Giáo Hội chu toàn sứ mạng cứu độ phổ quát giữa các dân tộc [20].

Đồng thời, Giáo Hội cũng mong muốn Nhà Nước tôn trọng sự độc lập chính đáng của Giáo Hội: “Giáo Hội xét như sự biểu lộ xã hội của đức tin Kitô giáo có sự độc lập của mình và dựa trên nền tảng đức tin, sống hình thức cộng đoàn của mình mà Nhà Nước phải tôn trọng” [21]. Cách cụ thể, Chính quyền tôn trọng sự độc lập chính đáng của Giáo Hội khi tôn trọng sự tự do phát biểu, tự do giảng dạy và loan báo Tin Mừng; tự do thờ phượng chung; tự do tổ chức và cai quản trong nội bộ Giáo Hội; tự do tuyển chọn, giáo dục, bổ nhiệm và thuyên chuyển các người thừa hành của mình; tự do xây dựng các cơ sở tôn giáo, tự do tìm kiếm và sở hữu của cải đủ cho hoạt động của mình; và tự do thành lập các hiệp hội không chỉ cho các mục tiêu tôn giáo mà còn cho các mục tiêu giáo dục, văn hoá, y tế và bác ái [22]. Đồng thời, Giáo Hội cũng phải được quyền nói lên nhận định luân lý của mình về cả những vấn đề liên quan đến lãnh vực chính trị khi quyền lợi căn bản của con người hay phần rỗi các linh hồn đòi hỏi [23].

Theo đó, khi Giáo Hội lên tiếng về các vấn đề xã hội, Giáo Hội không làm chính trị nhưng muốn hợp tác với Nhà Nước để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Thật vậy, Giáo Hội không có chức năng làm chính trị, cũng không chấp nhận bị đồng hoá với một cộng đoàn chính trị nào, hoặc cấu kết với bất cứ hệ thống chính trị nào. Giáo Hội cũng không muốn cậy nhờ vào những đặc ân của thế quyền. Hơn thế nữa, “Giáo Hội cũng sẽ từ chối việc sử dụng một số quyền lợi đã được hưởng cách chính đáng khi thấy rằng việc sử dụng những quyền lợi đó làm cho người ta nghi ngờ về lòng thành muốn làm chứng nhân của mình” [24]. Giáo Hội chỉ muốn hợp tác với Nhà Nước trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Và Giáo Hội thực hiện mục đích này bằng cách đào tạo lương tâm các Kitô hữu và thức tỉnh lương tri của mọi người trong xã hội.

Trước hết, Giáo Hội cố gắng đào tạo ý thức xã hội nơi các Kitô hữu, giúp họ ý thức rằng mình có bổn phận phải phục vụ công ích, đồng thời giúp họ có khả năng sống những giá trị Phúc âm trong mọi lãnh vực văn hoá, xã hội, kinh tế và chính trị; hơn nữa, góp phần làm cho các thực tại trần thế mang tính nhân bản và phù hợp với Tin Mừng hơn. Đối với các Kitô hữu dấn thân trong lãnh vực chính trị, Giáo Hội mong muốn giúp họ đào tạo lương tâm chính trị, biết từ bỏ những tiện nghi và lợi lộc vật chất cá nhân để toàn tâm toàn ý lo cho công ích [25].

Ngoài ra, khi lên tiếng về các vấn đề xã hội, Giáo Hội không chỉ lên tiếng cho con cái mình mà còn vì ích chung của tất cả mọi người trong xã hội, không phân biệt tôn giáo hay giai tầng xã hội. Những can thiệp này nhằm phục vụ và giúp đỡ việc giáo dục lương tâm trong chính trị, giúp nhận thức rõ ràng những đòi hỏi đích thực của công bằng và chuyển nhận thức đó thành hành động, dù phải hi sinh những lợi ích riêng tư. Thật vậy, mục đích của chính trị là thiết lập công bằng nhưng công bằng không phải là ý tưởng trừu tượng mà là vấn đề của lý trí thực tiễn, đồng thời là thực tại cần phải xây dựng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều đó đòi hỏi lý trí phải hoạt động cách đúng đắn và trong sáng. Trong khi đó, kinh nghiệm lại cho thấy lý trí rất dễ bị chi phối bởi cám dỗ về lợi nhuận cũng như quyền lực. Chính vì thế, lý trí cần được thanh luyện liên tục để thực sự phục vụ sự công bằng [26]. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội lập luận dựa trên lý trí và luật tự nhiên, có nghĩa là những gì phù hợp với bản tính con người. Đây là cơ sở nền tảng để mọi người trong xã hội – dù khác biệt nhau về tôn giáo, quan điểm chính trị, lập trường xã hội – đều có thể dựa vào mà tiến hành cuộc trao đổi thẳng thắn và cởi mở về các vấn đề xã hội.

Hiểu như thế, Chính quyền và Giáo Hội, mỗi bên với lãnh vực riêng của mình, đều độc lập và tự trị. Tuy nhiên, dù dưới danh hiệu khác nhau, cả hai cũng đồng phục vụ cho con người trong sứ mạng cá nhân và xã hội. Tuỳ theo hoàn cảnh và địa phương, nếu cả hai càng duy trì được sự hợp tác lành mạnh, thì càng phục vụ lợi ích của con người cách hữu hiệu hơn [27].

Trong thực tế, để sự hợp tác có thể mang lại kết quả tốt đẹp nhất cho mọi người, cần có đối thoại thẳng thắn và cởi mở giữa Chính quyền và Giáo Hội vì các vấn đề xã hội thường phức tạp và luôn biến chuyển. Hơn thế nữa, không thể phủ nhận rằng nhân sinh quan và thế giới quan của hai bên khác nhau, vì thế cũng nhìn nhận và giải quyết vấn đề cách khác nhau. Ngoài ra, những vấn đề xã hội thường không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế hay chính trị nhưng luôn bao hàm chiều kích nhân văn và đạo đức, vì thế cần sự bổ túc cho nhau nhằm hướng đến một giải đáp mang tính toàn diện. Nhờ đối thoại, Giáo Hội và Nhà nước có thể hiểu biết nhau hơn, xác định những hình thức bền vững và những phương thế thích hợp để bảo đảm cho quan hệ giữa hai bên được hài hoà, ngăn cản và làm giảm bớt các xung đột có thể có giữa Giáo Hội và cộng đồng chính trị, bổ túc cho nhau trong cách giải quyết các vấn đề nhằm mưu cầu ích chung. Đây không chỉ là lý thuyết mà còn là kinh nghiệm lâu đời của Giáo Hội Công giáo vốn hiện diện trong nhiều đất nước với những thể chế chính trị khác nhau.

Kết luận

Là những người Việt Nam và là cộng đoàn các môn đệ của Đức Giêsu, Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam lấy vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của người dân Việt làm vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của chính mình, và không có gì là của con người mà không gieo âm hưởng trong lòng Giáo Hội. Trong những năm qua, ý thức đó đã thúc đẩy Giáo Hội góp phần giải quyết các vấn đề xã hội trong khuôn khổ luật pháp cho phép, và còn muốn góp phần nhiều hơn nữa trong tương lai [28].

Đồng thời Giáo Hội cũng ý thức rằng để góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, Giáo Hội cần tiến hành cuộc đối thoại đa diện: đối thoại với Chính quyền là những người có trách nhiệm tổ chức, ổn định và xây dựng xã hội; đối thoại với các tôn giáo vốn là nền móng những giá trị đạo đức của dân tộc; đối thoại với văn hoá dân tộc là nguồn của những giá trị nhân văn đích thực và ngày nay đang có nguy cơ bị xói mòn; đối thoại với con người, nhất là người nghèo vốn vẫn chiếm đa số trong cộng đồng dân tộc.

Cuộc đối thoại đó đòi hỏi Giáo Hội lắng nghe để có thể hiểu được tâm tư khát vọng của người dân, tâm tư được thể hiện bằng lời và nhiều khi bằng cả sự im lặng! Giáo Hội cũng ý thức rằng đây không phải là cuộc đối thoại dễ dàng do những thành kiến của lịch sử cũng như do sự khác biệt trong cách nhìn và cách giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, Giáo Hội xác tín rằng đó là con đường tốt nhất phải đi để xây dựng sự hợp tác chân thành và đích thực nhằm xây dựng một xã hội mỗi ngày tốt đẹp hơn và xứng với phẩm giá con người hơn.

+ Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Chú thích:
[1] Pastoral Letters and Statements of the United States Catholic Bishops, Volume VI (1989-1997), 72-79.
[2] Sứ mạng này phát xuất từ chính mệnh lệnh của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20).
[3] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Tóm lược Học thuyết xã hội của Giáo Hội Công giáo (HTXH), Nxb. Tôn giáo, 2007, số 62.
[4] Ibid., số 61.
[5] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh khía cạnh luân lý này trong Sứ điệp cho Ngày Hoà bình thế giới 2009. X. Message of His Holiness Pope Benedict XVI for the Celebration of the World Day of Peace, 1 January 2009, số 3-7.
[6] HTXH, số 61.
[7] Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay (MV) số 45.
[8] Ibid., số 39.
[9] HTXH số 60.
[10] Ibid., số 63.
[11] Ibid., số 62.
[12] MV số 40.
[13] MV số 76.
[14] Third World Synod of Bishops, Justitia in mundo, số 6.
[15] Rabbi Abraham Joshua Heschel xem đây là nét nổi bật của các tiên tri trong Cựu Ước đến nỗi có thể dựa vào tiêu chuẩn đó để phân biệt giữa tiên tri thật và tiên tri giả. X. The Prophets, New York: Harper & Row, 1962.
[16] HTXH số 417.
[17] HTXH số 418.
[18] MV số 36.
[19] Gioan Phaolô II, thông điệp Centesimus annus, số 47.
[20] Phát biểu của Đức Bênêđictô XVI khi đến thăm Toà Đại sứ Italia tại Toà Thánh (tháng 12.2008).
[21] Thông điệp Thiên Chúa là Tình yêu, số 28.
[22] HTXH số 426, Dignitatis humanae số 4.
[23] MV số 76.
[24] MV số 76.
[25] HTXH, số 530-532.
[26] Thiên Chúa là Tình Yêu, số 28.
[27] X. MV số 76. Cách riêng về phía Giáo Hội, theo cách diễn tả của Hồng y Roger Mahoney, có hai tiến trình: (1) phi chính trị hoá (depoliticization) tức là không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo Hội, (2) tái hoà nhập xã hội (resocialization) tức là quan tâm đến các vấn đề xã hội, coi đó như thành phần thiết yếu trong sứ mạng của Giáo Hội. (X. Mahoney, As I have done for you, Origins 29/46 (May 4, 2000), p. 748.
[28] Giáo Hội tại Việt Nam đã tích cực góp phần trong những chương trình xoá đói giảm nghèo, giáo dục trẻ đường phố, chăm sóc những người có HIV/AIDS… Giáo Hội còn muốn tham gia tích cực hơn nữa vào lãnh vực y tế và giáo dục học đường; tuy nhiên, cho đến nay, khuôn khổ luật pháp vẫn chưa cho phép Giáo Hội tham gia vào những lãnh vực trên.
+ GM Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Mác-xít & Bô-xít…

Mác-xít & Bô-xít…

Hai câu chuyện xem ra chẳng “ăn nhậu” gì, cứ như là đem bọ xít ra “so găng” với a-xít (acid) vậy! Ấy thế mà cứ nghĩ vẩn vơ thì hình như chúng có họ có hàng đấy.

Khi ông Mác (Marx) chưa ra đời, thì chưa có Mác-xít (Marxism). Nó như khối bô-xít nằm ẩn sâu trong lòng đất, âm ỉ, chờ được khai thác. Rồi một ngày kia Mác ra đời, Mác suy tư, Mác viết lách, Mác-xít ra lò. Mác-xít được đón nhận, được xào xáo, được/bị “giải phẫu thẩm mỹ”, trở thành những Lê-nin-nít (Leninism), X-ta-li-nít (Stalinism), Mao-ít (Maoism), Hồ-ít (“Tư tưởng HCM”!)… Thế là một vùng “bùn đỏ” xuất hiện, “búa liềm” lên ngôi. Búa thì đập, liềm thì cắt… máu chảy đầu rơi, thế gian biến thành một ao “bùn đỏ”, lênh láng và tanh tưởi, xóa tan màu xanh “luân thường đạo lý”, đất đai khô cằn, lòng người nham nhở, chẳng biết mấy chục năm, mấy trăm năm mới “trồng người” lại được!

Thời buối này, xem ra Mác-xít mất giá, Hồ-ít cũng chẳng đủ đô, người ta tìm kiếm cái “xít” mới. bô-xít (bauxite)!

Bô-xít cũng ủ trong đất, lâu lắm rồi. Có lần nhờ các bác trong khối XHCN thăm dò, nó định chui ra. Nhưng “thời cơ” chưa tiện, vì còn đang “xúm xít” những chuyện khác nặng đô hơn, dễ nuốt hơn, đâu cần đến mấy cái bát nước xít này. Nay đang thời khủng hoảng, “nước xít” cũng cần, cũng ngon! Thế là ông bô-xít nhoi ra, không còn liềm búa, nhưng cũng cờ quạt, cũng là “chủ trương lớn”, “chủ trương nhất quán” của “ta” (và con cháu “Mao-ít”). Một thứ ca-pi-ta-lít (capitalism) đỏ ra đời, xe thì ủi, “quân” thì tiến… Một vũng “bùn đỏ” mới lan ra, tạo thành một thứ phát-xít (fascism) mới, hủy hoại văn hóa và môi sinh, biến Tây Nguyên thành cõi hoang tàn, thành mầm ủ địch, biết bao giờ xanh mầu cà-phê, âm vang chiêng cồng của một nền văn hóa thiêng liêng: Cao Nguyên!

Nếu Mác-xít thổi bùng lên cuộc “đấu tranh giai cấp”, “bị trị” lật “thống trị”, nghèo đánh giàu, cộng sản đánh tư bản, bắc đánh nam… thì “bô-xít” lại gây bùng phát “cuộc chiến đảng-dân”, ý nguyện toàn dân đấu tranh với “chủ trương lớn” của đảng, “dân vi bản” xung khắc với “đảng độc tôn”, lợi ích dân tộc vượt chạm trán lợi nhuận đảng quyền, phát triển lâu dài “so găng” “ăn xổi ở thì”… Những năm đầu của thế kỷ XX, Mác-xít có vẻ thắng to, thắng như trẻ tre… thì những năm cuối thế kỷ nó lại chết vùi, chết dập, chết mà chẳng ai buồn thương, buồn tiếc… Câu chuyện Mác-xít có lặp lại với bô-xít hay không thì còn phải chờ… Hình như nó không “xuôi buồm thuận gió”, còn có chết chui, chết lủi hay không thì hồi sau mới rõ!

Giờ đây, núi rừng Tây Nguyên đang quằn quại và rên xiết, hồn thiêng sống núi đang thét gào, vang vọng… Mát-xít chưa qua, Mao-ít lại đội lốt bô-xít mà đến, nước nhà rồi sẽ ra sao? Cứ nghĩ mà lòng chợt nhớ đến vần thơ của Bà Huyện Thanh Quan năm nào:

“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia!” (Qua Đèo Ngang)

Trời Tây thương nhớ Tây Nguyên 1.5.2009

Ái Việt

Mác-xít & Bô-xít…

,

Mác-xít & Bô-xít…

Hai câu chuyện xem ra chẳng “ăn nhậu” gì, cứ như là đem bọ xít ra “so găng” với a-xít (acid) vậy! Ấy thế mà cứ nghĩ vẩn vơ thì hình như chúng có họ có hàng đấy.

Khi ông Mác (Marx) chưa ra đời, thì chưa có Mác-xít (Marxism). Nó như khối bô-xít nằm ẩn sâu trong lòng đất, âm ỉ, chờ được khai thác. Rồi một ngày kia Mác ra đời, Mác suy tư, Mác viết lách, Mác-xít ra lò. Mác-xít được đón nhận, được xào xáo, được/bị “giải phẫu thẩm mỹ”, trở thành những Lê-nin-nít (Leninism), X-ta-li-nít (Stalinism), Mao-ít (Maoism), Hồ-ít (“Tư tưởng HCM”!)… Thế là một vùng “bùn đỏ” xuất hiện, “búa liềm” lên ngôi. Búa thì đập, liềm thì cắt… máu chảy đầu rơi, thế gian biến thành một ao “bùn đỏ”, lênh láng và tanh tưởi, xóa tan màu xanh “luân thường đạo lý”, đất đai khô cằn, lòng người nham nhở, chẳng biết mấy chục năm, mấy trăm năm mới “trồng người” lại được!

Thời buối này, xem ra Mác-xít mất giá, Hồ-ít cũng chẳng đủ đô, người ta tìm kiếm cái “xít” mới. bô-xít (bauxite)!

Bô-xít cũng ủ trong đất, lâu lắm rồi. Có lần nhờ các bác trong khối XHCN thăm dò, nó định chui ra. Nhưng “thời cơ” chưa tiện, vì còn đang “xúm xít” những chuyện khác nặng đô hơn, dễ nuốt hơn, đâu cần đến mấy cái bát nước xít này. Nay đang thời khủng hoảng, “nước xít” cũng cần, cũng ngon! Thế là ông bô-xít nhoi ra, không còn liềm búa, nhưng cũng cờ quạt, cũng là “chủ trương lớn”, “chủ trương nhất quán” của “ta” (và con cháu “Mao-ít”). Một thứ ca-pi-ta-lít (capitalism) đỏ ra đời, xe thì ủi, “quân” thì tiến… Một vũng “bùn đỏ” mới lan ra, tạo thành một thứ phát-xít (fascism) mới, hủy hoại văn hóa và môi sinh, biến Tây Nguyên thành cõi hoang tàn, thành mầm ủ địch, biết bao giờ xanh mầu cà-phê, âm vang chiêng cồng của một nền văn hóa thiêng liêng: Cao Nguyên!

Nếu Mác-xít thổi bùng lên cuộc “đấu tranh giai cấp”, “bị trị” lật “thống trị”, nghèo đánh giàu, cộng sản đánh tư bản, bắc đánh nam… thì “bô-xít” lại gây bùng phát “cuộc chiến đảng-dân”, ý nguyện toàn dân đấu tranh với “chủ trương lớn” của đảng, “dân vi bản” xung khắc với “đảng độc tôn”, lợi ích dân tộc vượt chạm trán lợi nhuận đảng quyền, phát triển lâu dài “so găng” “ăn xổi ở thì”… Những năm đầu của thế kỷ XX, Mác-xít có vẻ thắng to, thắng như trẻ tre… thì những năm cuối thế kỷ nó lại chết vùi, chết dập, chết mà chẳng ai buồn thương, buồn tiếc… Câu chuyện Mác-xít có lặp lại với bô-xít hay không thì còn phải chờ… Hình như nó không “xuôi buồm thuận gió”, còn có chết chui, chết lủi hay không thì hồi sau mới rõ!

Giờ đây, núi rừng Tây Nguyên đang quằn quại và rên xiết, hồn thiêng sống núi đang thét gào, vang vọng… Mát-xít chưa qua, Mao-ít lại đội lốt bô-xít mà đến, nước nhà rồi sẽ ra sao? Cứ nghĩ mà lòng chợt nhớ đến vần thơ của Bà Huyện Thanh Quan năm nào:

“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia!” (Qua Đèo Ngang)

Trời Tây thương nhớ Tây Nguyên 1.5.2009

Ái Việt
January 2010
M T W T F S S
December 2009February 2010
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31