Culture of Dialogue

"The Truth will make you free” - Jn 8: 32 (Copyright by Dominic Tran)

Subscribe to RSS feed

CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN C ĐIỀU KIỆN TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ Lc 14, 25-35

,

CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN C

ĐIỀU KIỆN TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ



Lc 14, 25-35

1- Tháo gỡ những ràng buộc tình cảm: “ghét” cha mẹ, vợ con, anh chị em…; “ghét” mạng sống mình;

2- Vác thập giá và bước theo Thầy;

3- Không dính bén vật chất: “từ bỏ mọi sự”!



Nhà Phật có kể một câu truyện. Có một đệ tử theo thầy tu luyện. Khi thấy anh đã trưởng thành, thầy cho anh tự lập. Anh dựng một cái chòi ở giũa đồng hoang, ngày ngày đi hành khất vừa đủ sống và dành thời giờ còn lại để chuyên chăm tụng kinh gõ mõ, thiền tịnh, tu hành. Anh chỉ có độc một chiếc áo. Hằng đêm, có một con chuột nhắt bò ra cắn chiếc áo. Sáng thức dậy, anh lại lấy kim chỉ vá lại. Nhưng sau mấy ngày, anh sợ chiếc áo sẽ rách nát, nên bèn xin một con mèo về nuôi. Con mèo lớn nhanh, ăn khỏe, khiến anh phải trồng ruộng để có thêm thức ăn. Công việc nặng nhọc quá, nên anh nuôi thêm một con bò để giúp anh cầy cấy. Công việc nuôi bò, trồng cấy vất vả đến nỗi không còn giờ tụng kinh thiền nguyện, nên có một thiếu nữ trong làng tình nguyện đến giúp anh. Vụ mùa bội thu nên anh phải dựng thêm nhà cửa để chứa thóc lúa. Chẳng bao lâu anh trở thành ông chủ trang trại với người vợ trẻ và đàn con. Ít lâu sau, thầy anh quay lại thăm anh thấy vậy hỏi: “Tất cả những thứ này, tại sao thế?”. Anh trả lời: “Tất cả cũng là vì con muốn giữ chiếc áo để không bị con chuột nhắt cắn mà thôi!”.

Câu chuyện thật thấm thía, nếu chúng ta không biết canh chừng và không biết sống từ bỏ, một con chuột nhắt có thể “gặm nhấm” lý tưởng của ta! Có biết bao linh mục, tu sĩ rời bỏ hang ngũ chỉ vì những con chuột nhắt nho nhỏ mà sao lãng cầu nguyện, hy sinh, tu luyện? Có biết bao tín hữu đức tin nguội lạnh hoặc mất đức tin chỉ vì những miếng mồi nho nhỏ làm sao lãng bỏ bê bổn phận cầu nguyện, hy sinh, bác ái của mình.

Lời Chúa hôm nay cho thấy việc quan trọng của việc sống đạo, trở thành môn đệ đích thực của Chúa. Nó quan trọng như việc xây tháp, xây đền, không thể xem thường được; nó nghiêm túc như việc đem quân ra trận, không thể đùa dỡn được. Vậy đâu là những điều kiện để trở thành môn đệ chân chính. Chúa Giêsu đưa ra 3 điều kiện: (1) “ghét” cha mẹ, vợ con, anh em… (2) “vác thập giá” và (3) từ bỏ mọi sự.



1- “Ghét” cha mẹ, vợ con, anh chị em …và chính bản thân?

Câu này dễ gây chói tai! Điều răn thứ bốn chẳng dạy ta “thảo kính cha mẹ” đó sao? Ngài cũng từng dạy chúng ta phải yêu anh em “như chính mình” là gì? Phải hiểu cho đúng từ “ghét” ở đây. Trong ngôn ngữ Sêmít, “ghét” (miseo) không có nghĩa là “thù ghét”, “giận ghét” hay “ghét bỏ”. “Miseo” chỉ có nghĩa là “yêu ít hơn”, “không yêu bằng”, “không quyến luyến”… Khi Chúa đặt điều kiện cho những người muốn làm môn đệ phải “ghét” gia đình và bản thân, Chúa muốn nói rằng đừng quý trọng, đừng ưu tư điều chi hơn Chúa. Nói khác đi, phải yêu mến Ngài trên hết mọi sự, trên cả tình yêu dành cho cha mẹ, vợ con, anh chị em và cho chính bản thân mình. Theo Chúa thì phải đặt Ngài trên hết, hay nói đúng hơn, phải yêu Ngài và yêu mọi sự trong Ngài, vì Ngài, nhờ Ngài. Nếu trong trường hợp có xung đột, cần phải chọn lựa một trong hai, thì cần sẵn sang hy sinh từ bỏ mọi sự mà chọn lựa Ngài. Chọn lựa Chúa phải là một chọn lựa duy nhất, cao nhất, dứt khoát, dứt điểm, bền vững, không vì bất cứ một lý do nào mà có thể thay đổi, kể cả phải mất đi những mối liên hệ thiêng liêng cao đẹp (gia đình, hôn nhân, bạn hữu…) và cả sự sống của mình nếu cần. Không có nhiệm vụ nào có thể trổi vượt hơn là việc gắn bó với Chúa Giêsu và trở thành môn đệ của Ngài. Không giá trị nào có thể so sánh với Đấng là tuyệt đối và ơn cứu độ cao quý Ngài ban tặng cho ta.



2- Vác Thập Giá và bước theo Thầy

Chúa Giêsu không lừa dối các môn đệ. Ngài cho thấy trước những gian khó, lao nhọc và hệ lụy của việc theo Ngài. Trở thành môn đệ là chấp nhận “vác thập giá”, chấp nhận khổ đau, bắt bớ, chấp nhận lội ngược dòng, chấp nhận cả việc đỏ máu nữa vì Tin Mừng Nước Trời. Thập giá tự nó không có giá trị, thậm chí còn là một hình phạt kinh hoàng, nhục nhã, ghê tởm. Thập giá chỉ trở thành thánh giá khi nó được mang vác vì tình yêu, do tình yêu, với tình yêu. Thánh giá là dấu chỉ của tình yêu, vì Đấng yêu thương đã tự nguyện treo mình lên đó, hiến thân sự sống để cây khổ nhục trở thành cây trường sinh mang lại hoa trái cứu độ cho muôn người. Người môn đệ chấp nhận “vác thập giá” theo gương Thầy mình. Vác thập giá không phải vì thích cái khổ, cái chết, không phải vì oán hận hoặc ươn hèn, nhưng vì yêu thương, vì muốn nên giống Thầy, vì muốn tham phần vào sự thương khó của Thầy. Người môn đệ chấp nhận thập giá của mình, của người khác, để cho ơn cứu độ trổ sinh, đơm hoa kết trái. Hy sinh là dung dịch để thử cho biết một tình yêu chân thật hay giả dối! Không hy sinh hay thập giá nào dễ dàng, nhưng ta không lo, vì Chúa đã vác trước ta và đang cùng vác với ta hôm nay.



3- Từ bỏ mọi sở hữu

Chọn lựa luôn bao hàm có từ bỏ. Sự từ bỏ có thể là một phần, có thể là tất cả. Chọn lựa càng cao thì sự từ bỏ càng lớn. Chọn Chúa thì sự từ bỏ là tất cả. Tại sao thế? Tại vì trước tình yêu của Chúa, mọi sự đều là bé nhỏ, bất xứng và cần có sự đáp trả trọn vẹn, tuyệt đối. Chúng ta biết rằng “của cải ngươi ở đâu thì lòng ngươi ở đó”. Còn vướng bận gì, còn quyến luyến gì, còn tơ vương gì, thì lòng dạ còn đa đoan, chia xẻ, không thể nào một lòng chọn Chúa và dấn thân cho sứ vụ của Ngài được. Chúa Giêsu đã từng nói “anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vùa làm tôi tiền bạc” được!

Các Kitô hữu đầu tiên đã bỏ mọi sự làm của chung (Cv 2, 44; 4,32), nhờ đó họ đã có thể sống tình yêu thương huynh đệ Kitô (agape), tương thân tương ái tới mức lý tưởng. Động từ “từ bỏ” (apotassomai) nguyên nghĩa là “say farewell to” (nói lời vĩnh biệt) hoặc “to take leave of” (rời bỏ). Nó có nghĩa là không còn dính bén, không bị níu kéo, không bị lệ thuộc nữa.

Từ bỏ như thế để trở nên tự do mà thanh thản theo Chúa, để có thể dấn thân không cần tính toán, không cần so đo, không hề tiếc rẻ… Một sự dấn thân trọn vẹn, toàn tâm, toàn ý cho Chúa và chương trình của Ngài.

Môn đệ thực sự, chân chính là môn đệ biết đặt Thiên Chúa lên trên hết, biết vác thập giá và dám từ bỏ mọi sự. Đó là những đòi hỏi của một tình yêu thuần khiết. Đó là cái giá cần phải trả cho danh hiệu “môn đệ Chúa Kitô”. Cái giá đó cũng còn được trao gửi cho chúng ta, và mỗi người cần phải trả bằng những “đồng tiền” túi của mình. “Đồng tiền” đó có thể là việc định hướng lại, sắp xếp lại thời giờ, công việc; có thể là thay đổi lại các mối liên hệ, thay đổi ơn gọi, thay đổi cách chi tiêu, thay đổi nơi ăn chốn ở, điều chỉnh lại đời sống cầu nguyện, bác ái, tông đồ… Chúng ta có đang đặt Chúa lên trên hết không? Chúng ta có đang dành ưu tiên cho việc cầu nguyện, tham dự Thánh Lễ, học giáo lý, đọc suy niệm Lời Chúa, từ thiện bác ái, phục vụ cộng đoàn không? Mối bận tâm lớn nhất của ta hiện nay là gì, có phải là đời sống đức tin cho mình, cho gia đình, cho cộng đoàn không?

DT.

CN 12 TN - TIN LÀ BIẾT GẮN BÓ VÀ DẤN THÂN...

,

TIN HAY KHÔNG TIN LÀ CHẤP NHẬN HAY TỪ CHỐI …

Lc 9, 18-24



Có hai bạn trẻ đang trên bước đường hôn nhân, yêu nhau và tìm hiểu nhau. Sau một thời gian khá lâu tìm hiểu nhau, một hôm, người thanh niên hỏi cô thiếu nữ:

- Sau một thời gian chúng mình tìm hiểu nhau, em thấy anh thế nào?

- Mọi người cho anh là một người có tài năng, có học thức và … điển trai. – Cô gái trả lời.

- Chỉ có thế thôi sao? – Chàng trai “tấn công” tiếp.

- Hm… Nói chung mọi người cho rằng anh là một người có nghề nghiệp ổn định và kinh tế khá giả, có thể bảo đảm cho một tương lai ổn định. – Cô gái tiếp tục vòng vo.

- Ý anh là, dưới con mắt của em, anh là người như thế nào? – Chàng trai mạnh dạn hơn.

- Đối với em, anh là chọn lựa của em, là tất cả của em. – Cô gái nhìn vào mắt chàng trai và chậm rãi nói.

Chàng trai cảm động nói:

- Anh chờ mong câu nói này đã lâu. Anh cũng nghĩ như vậy, chúng ta được sinh ra là để tìm đến nhau và cho nhau.

Vâng, tình yêu đòi hỏi một chọn lựa dứt khoát, không phải chỉ dựa trên những cái hời hợt, tạm bợ, hào nhoángnhư tài năng, sắc đẹp, gia cảnh… mà là một quyết định dựa trên một tình yêu dấn thân, một cam kết gắn bó, một giao ước bền vững giữa hai trái tim, giữa hai nhân vị, giữa hai con người.

*******

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su đưa ra hai câu hỏi, để dần dần đưa các môn đệ đến một câu trả lời có tính cách quyết định cho đức tin của các ông: lựa chọn dấn thân theo Chúa Giê-su trên con đường yêu thương phục vụ và hy sinh.

1. “Người ta bảo Thầy là ai?”



Đây là câu hỏi bên lề, giúp các môn đệ “nhìn người mà nghĩ đến ta”! Câu hỏi này không chỉ giúp các ông “ôn lại kiến thức” và “trí nhớ” của các ông, xem dân chúng thật sự coi Thầy mình là ai, mà còn giúp các ông nhìn lại đức tin của mình qua việc so sánh, đối chiếu, giữa cái nghe biết và cái thực biết, giữa dư luận quần chúng bên ngoài và xác tín bản thân bên trong.

Câu hỏi này cũng quan trọng, vì nó giúp các môn đệ nhận định đánh giá tình hình của dư luận, để đào sâu đức tin và mối liên hệ của mình với Chúa một cách sâu sắc hơn, sát sườn hơn, bản thân hơn. Các ông sẽ có dịp nhận định và bình phẩm ý kiến dân chúng, để rồi có thể tách bạch giữa cái dân nghĩ với cái mình nghĩ, hầu tiến tới một đức tin chín chắn và trưởng thành hơn, chứ không phải là “tấp tểnh người tin ta cũng tin” (họa theo thơ Tú Xương).

Quả thực, “miệng dân sóng bể”, dư luận thì đa dạng phức tạp, trăm người trăm ý, họ đưa ra những câu trả lời rất khác nhau. Những câu trả lời hầu như dựa trên suy đoán, nghe biết hoặc a dua theo đám đông, không cho thấy trong đó mối liên hệ sâu xa với Chúa Giê-su. Tóm lại, đó là những câu trả lời phiến diện, hời hợt và lý thuyết, dựa nhiều trên kiến thức, quan sát, nghe ngóng, chứ không dựa trên tiếp xúc, cảm nghiệm, yêu mến.

Có lẽ các môn đệ đã tế nhị không liệt kê ra đây nhữn câu trả lời tiêu cực nữa, như chúng ta tìm thấy ở một số nơi khác, rằng “ông ta chỉ là con bác thợ mộc”, rằng một tên xuất thân từ Nazareth “thì nào có gì hay”, thậm chí hắn là tên “dùng quyền tướng quỷ”, hoặc “bị mất trí”…



2. “Anh em bảo Thầy là ai?”





Tuy nhiên, câu hỏi trên đây xem ra chỉ có tính chất dẫn nhập. Điều Chúa Giê-su quan tâm là muốn các môn đệ của mình đưa ra một câu trả lời có tính cách bản thân, tức là một câu trả lời xuất phát từ con tim khối óc và niềm xác tín sâu xa của mình. Họ là những người đã theo sát Chúa, sống với Chúa, gần gũi Chúa, chứng kiến những lời rao giảng, những phép lạ Chúa làm, những quyền năng Ngài tỏ hiện, và vì thế, họ cần có một câu trả lời khác, xác tín hơn và sâu xa hơn về căn tính của Chúa Giê-su.

Phê-rô đã thay lời cho cả nhóm: “Thầy là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa”. Câu trả lời quả thực có sâu sắc hơn, rõ nét hơn. Thầy không phải chỉ là Ê-li-a hoặc một ngôn sứ hoặc Gio-an Tẩy Giả sống lại… Thầy là Đấng Ki-tô, Đấng Cứu Thế mà các tiên tri đã loan báo và muôn dân hằng mong đợi. Thực ra, những gì Chúa Giê-su làm đã ứng nghiệm điều mà các tiên tri loan báo về Đấng Cứu Thế: người điếc được nghe, người mù được thấy, người câm nói được, kẻ què đi được, người chết sống lại và người nghèo được nghe Tin Mừng cứu độ.

Tuy nhiên, dường như vẫn có cái gì lấn cấn trong câu trả lời đó. Chúa Giê-su đã nghiêm giọng cấm các ông không nói điều đó cho dân, vì tâm thức của dân chúng vẫn cho rằng Đấng Ki-tô là Vị Cứu Tinh theo nghĩa nhân loại, chính trị, Ngài sẽ đánh đuổi đế quốc La Mã, thiết lập vương quốc Israel và muôn dân sẽ đến suy phục vương quốc hùng cường của Ngài. Đàng khác, chính các môn đệ của Chúa cũng chưa hiểu về sứ vụ cứu thế của Thầy mình, bằng chứng là giáp ngày thụ nạn, khi Chúa Giê-su loan báo cuộc thương khó lần thứ ba, mà Gioan và Gia-cô-bê vẫn mơ ngồi bên tả bên hữu Thầy và các môn đệ khác vẫn “bực tức” với hai anh em ông khôn lỏi này!

Thế cho nên, câu tuyên xưng đã khá hơn, những nội dung đích thực vẫn chưa chín, cần còn được đào sâu và dấn thân hơn nữa: “Ai muốn theo Tôi phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”. Đức tin không chỉ là lý thuyết, là hiểu biết và chấp nhận bằng đầu óc. Đức tin đòi hỏi cả trái tim và đôi tay nữa. Đúng hơn, đức tin đòi hỏi toàn thân, toàn thể con người, toàn thể cuộc sống. Cần một trí óc để hiểu biết, cần một trái tim để yêu mến, cần một đôi tay để phục vụ, cần một đôi chân để lên đường, cần cả con người và cuộc sống để làm chứng.



3. Tin là gặp gỡ, gắn bó và dấn thân





Như vậy, hai câu hỏi của Chúa Giê-su gọi chúng ta về với thực tại đức tin của chúng ta.

Đức tin của chúng ta có phải là một cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su hay không, hay chỉ là một mớ lý thuyết, một ít công thức, một loạt nghi lễ, kinh kệ để thuộc lòng, để nhớ, để hiểu, để suy luận?

Chúng ta có thực sự gặp gỡ Chúa Giê-su và tiếp xúc bản thân với Ngài, gắn bó với Ngài, sống chết với Ngài. Ngài có thực sự là lẽ sống, là đường đi, là chân lý, là tất cả cho chúng ta, hay Ngài cũng chỉ là một giá trị trong muôn vàn giá trị, tệ hơn là giá trị thứ yếu trong cuộc đời chúng ta?

Đức tin của chúng ta có đi vào cuộc sống hay chỉ gói gọn trong khuôn khổ nhà thờ nhà thánh? Cuộc sống chúng ta có thực sự phản ánh điều chúng ta tin hay không? Cách hành xử của chúng ta hàng ngày nơi gia đình, khu xóm, sở làm, trường học, đường phố… có phản chiếu giá trị Tin Mừng?

Vì thế, câu hỏi của Chúa Giê-su không chỉ là một câu hỏi về kiến thức, về hiểu biết, mà hơn nữa, là một lời chất vấn về lối sống của chúng ta. Thách đố lớn lao cho chúng ta là cần nối kết đức tin và cuộc sống, tin Chúa Ki-tô là gặp gỡ Ngài, gắn bó với Ngài, dấn thân phục vụ và yêu thương theo dấu chân của Ngài. Điều này đòi chúng ta không chỉ nỗ lực học hỏi, học hiểu, mà cần học sống, học yêu, học phục vụ, học hy sinh. Việc học như thế dĩ nhiên đòi hỏi chúng ta phải “bỏ mình” và “vác thập giá”.



*********

Như vậy, sứ điệp của Tin Mừng mời gọi chúng ta thể hiện lòng tin vào Chúa một cách rốt ráo và cụ thể qua việc lập lại trật tự thang giá trị, biết chọn Chúa làm trung tâm, làm tất cả, làm lẽ sống của chúng ta. Đàng khác, chúng ta được mời gjoi thể hiện lòng tin đó một cách triệt để hơn và dấn thân hơn qua việc “bỏ mình” và “vác thập giá”. “Bỏ mình” không có nghĩa hà hạ thấp phẩm giá hay hoang phí sự sống của mình, mà là biết ra khỏi cái tôi ích kỷ, cái tôi tham lam, cái tôi hẹp hòi, để mặc lấy Chúa Ki-tô và để cho sự sống của Ngài tràn đầy, tới mức: “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống mà là Chúa Ki-tô sống trong tôi”.

“Vác thập giá theo Chúa” không có nghĩa là đi tìm và yêu thích cái khổ đau, cái khó khăn, cái thấp kém, mà là học biết hy sinh, quên mình, phục vụ trong khiêm tốn, quảng đại và bác ái.



DT.

CHUA NHAT 11 C - BA LỐI NHÌN CHO MỘT THỰC TẠI…

BA LỐI NHÌN CHO MỘT THỰC TẠI…
Đăng ngày: 17:11 12-06-2010 Thư mục: Tổng hợp




BA LỐI NHÌN CHO MỘT THỰC TẠI…

Hai ông bạn ngồi nhậu. Một lúc sau, người thứ nhất bảo:

- Mới nhậu chút mà đã hết quách nửa chai!

Người thứ hai nhìn chai rượu một lúc rồi nói:

- Còn được những nửa chai nữa!

Một thực tại, hai lối nhìn. Cái nhìn của ngưởi thứ nhất là cái nhìn tiêu cực, bi quan, chỉ thấy cái “mất”, cái “hết”… nên dẫn đến một cuộc sống buồn tẻ và thất vọng. Ngược lại, cái nhìn của người thứ hai là cái nhìn tích cực, lạc quan, tìm ra cái “được”, cái “còn”… nên cuộc sống vui tươi, yêu đời, tràn đầy hy vọng. Đây là lý luận mà người phương Tây gọi là “triết lý của một nửa cái chai”.

Thực vậy, cuộc sống, lối sống, cách sống của chúng ta bị ảnh hưởng rất nhiều bới lối nhìn, tầm nhìn, cách tư duy. Khi đeo cặp kính “râm” lên mặt, thì màu hồng, màu sáng cũng trở thành đen tối, xám xịt cả… Dĩ nhiên, chúng ta không chủ trương “lạc quan tếu”, một thứ lạc quan làm ta sống trong ảo tưởng và ảo vọng. Cần nắm rõ thực tế, cái ta là và cái ta có, nhưng luôn với một tinh thần vừa khách quan, vừa lạc quan. Khách quan để không quá chủ quan và ảo tưởng, nhưng lạc quan để không bị vùi dập và mất nhuệ khí trước những khó khăn, thử thách và giới hạn…

********

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy những lối nhìn khác nhau về thực tại tội lỗi. Những lối nhìn đó xem ra được trình diễn khác nhau do những góc độ nhìn và tầm mức nhìn rất khác nhau. Thực tại chỉ là một: một phụ nữ tội lỗi đến rửa chân, lau chân, hôn chân và xức dầu thơm lên chân Chúa Giê-su. Những phản ứng trước thực tại này lại rất khác nhau:

1. Lối nhìn của hối nhân



Cái nhìn của người phụ nữ là cái nhìn từ góc độ của một hối nhân: đau khổ và yêu mến.

Chị đau khổ vì đã phạm tội, phạm tội rất nhiều. Tội luôn làm cho người ta đau khổ. Tội lỗi không chỉ làm cho Chúa, tha nhân và vũ trụ bị tổn thương đau khổ, mà còn làm cho chính đương sự đau khổ. Hậu quả của tội luôn là sự dằn vặt, khổ tâm, hối tiếc, thậm chị thất vọng, tuyệt vọng về chính mình. Một gánh nặng vô hình đè trên vai, quàng trên cổ, bao trùm cuộc sống của tội nhân. Những dòng nước mắt đầm đìa của người phụ nữ cho thấy chị ta rất đau khổ và hối hận về tội lỗi của mình. Đó là dấu hiệu của một sự ăn năn hối lỗi. Dòng nước mắt ấy thấm vào chân Chúa, xin Ngài thứ tha. Thật là nghịch lý, nước mắt tội nhân lại rửa bàn chân thánh nhân! Không! Bàn chân chí thánh ấy đã muốn “thấm” lấy lòng sám hối ăn năn mà tha thứ, tẩy rửa, thánh hóa.

Những cử chỉ của người phụ nữ chứng tỏ chị ta yêu Chúa thật nhiều. Chị muốn dùng những gì cao quý nhất còn lại để bày tỏ lòng yêu mến đó. Dòng nước mắt sám hối chân thành, cử chỉ phục vụ dành cho một thượng khách: lấy tóc lau, hôn chân, xức dầu thơm… là những nỗ lực để bày tỏ lòng yêu mến chị ta muốn dành cho Chúa, bất chấp những dị nghị, bất chấp những cái nhìn soi mói, những cái môi dè bỉu, những thái độ ghẻ lạnh và khinh miệt của dân chúng. Cảm nghiệm được yêu thương và tha thứ đã khiến chị ta dám “bứt phá” khỏi mọi thứ ràng buộc và tự ái, để đến với Chúa Giê-su và bày tỏ công khai tâm tình yêu mến và sám hối. Có lẽ lần đầu tiên trong đời có một người yêu thương và chấp nhận chị, một người đã yêu mến chị thật lòng, trong sáng và vô vị lợi!

2. Lối nhìn của tội nhân





“Tội nhân” khác với “hối nhân” ở chỗ là có tội mà không hoặc chưa nhận tội, chưa biết ăn năn hối lỗi về tội của mình. Xét như thế, Simon trong Tin Mừng đích thị là một tội nhân, vì không có một dấu hiệu nào cho thấy ông ta hối lỗi!

Lối nhìn của tội nhân là cứng cỏi và loại trừ.

Ông ta cứng cỏi, nên “chẳng thấy tội mình mà chê ghét”! Luôn đặt mình ở vị trí “người công chính vô tội”, có quyền xét xử và kết án người khác! Quả thực, ông ta đã kết án chị phụ nữ là “hạng đàn bà tội lỗi”, một loại người không đáng để tiếp xúc, không đáng được đón tiếp. Đó là một thứ “ô uế” mà ông ta nghĩ mình cần phải lánh xa kẻo bị “nhiễm uế”. Một cách nào đó, ông nghĩ rằng hạng phụ nữ này không đáng vào nhà ông, không đáng để được đón tiếp. Ông còn cứng cỏi hơn khi kết án cả Đức Giê-su vì hoặc không là ngôn sứ, hoặc nếu là ngôn sứ thì đã không giữ tư cách của mình!

Thái độ cứng cỏi và vô cảm đã dẫn đến hậu quả tất yếu là loại trừ. Khi con người tự cho mình là công chính hoàn hảo, họ không những sẽ không nhận biết tội mình, lại tự phong cho mình quyền xét xử và kết án, và hơn nữa, còn cho mình quyền “bỏ tù” và ra vạ “tuyệt thông” người khác. Đối với Simon, hạng phụ nữ trên chỉ đáng vứt bỏ, không có lý do tồn tại chứ đừng nói có lý do để được yêu mến, tôn trọng, đón nhận… Khi con người ta không nhận biết tội, không cảm nghiệm được lòng thương xót của Chúa, thì rất khó mà cảm thương và đối xử bao dung với người khác.



3. Lối nhìn của Thiên Chúa





Chúa Giê-su đã cho thấy lối nhìn của Thiên Chúa: đón nhận, yêu thương và tha thứ.

Chúa Giê-su đã đón nhận người phụ nữ, không xua đuổi, không nói những lời có thể gây tổn thương, tự ái. Ngài đã khéo léo và tinh tế khích lệ tinh thần sám hối trở về của người phụ nữ, đề cao lòng quảng đại, yêu mến của chị ta, nhưng vẫn giúp cho chị ta nhìn nhận đúng thân phận của mình qua câu nói: “Tội của chị ta rất nhiều nhưng đã được tha” và “Tội của con đã được tha rồi”.

Chúa Giê-su đã phân biệt giữa tội và tội nhân. Tội là điều xấu, gây ra đau khổ và chết chóc cho con người, cần phải loại bỏ, cần phải diệt trừ. Nhưng tội nhân thì cần được cứu, miễn là họ biết ăn năn, sám hối và quay đầu trở về. Tội nhân, xét cho cùng cũng là nạn nhân của tội, nô lệ của tội, nên họ cần được cứu thoát, giải phóng, và vì thế chìa ra bàn tay, cần mở một lối thoát cho họ có cơ hội trở về, làm lại cuộc đời mới.

Chúa Giê-su còn cho Simon thấy, chính anh ta cũng cần hoán cải, quay đầu trở về, noi gương chị phụ nữ này. Xét dưới góc nhìn của lòng sám hối và yêu mến xem ra chị ta còn quảng đại hơn ông, và ông cần học hỏi tấm gương trở về ấy. Simon đã học biết rằng, trái tim của Chúa thì không có giới hạn và không có ai bị loại trừ ra khỏi tình yêu ấy. Mức độ của tình yêu Thiên Chúa là yêu không mức độ (Thánh Bê-na-đô). Thiên Chúa là tình yêu, nên không bao giờ Ngài thôi yêu, vì nếu giả như Ngài ngừng yêu thương thì Ngài không còn là Thiên Chúa nữa.



**********

Tóm lại, Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy sự cách biệt lớn lao giữa hai lối nhìn. Một bên là lối nhìn bao dung, từ ái, khoan thứ của Thiên Chúa; một bên là lối nhìn cứng cỏi, hẹp hòi và loại trừ của người phàm. Hai lối nhìn đó thúc dục chúng ta tiến tới một lối nhìn thứ ba mà chúng ta phải có: sám hối và yêu mến.

Sám hối để nhìn nhận thân phận yếu đuối tội lỗi của chúng ta mà biết “nhỏ bé” trước mặt Chúa qua việc ăn năn, hối cải, trở về và “nhỏ bé” trước anh em qua thái độ sống bao dung, cảm thông, liên đới.

Chính khi nhìn nhận đúng thân phận “nhỏ bé” của mình như thế, chúng ta sẽ học biết để yêu mến nhiều hơn mà đáp đền lòng thương xót vô biên mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta là kẻ phàm hèn tội lỗi: yêu mến nhiều vì được tha nhiều!

Nghĩ lại cuộc sống, chúng ta thấy đã có quá nhiều đau khổ, cũng chỉ vì chúng ta không biết đón nhận nhau, cũng chỉ vì chúng ta khép kín lòng mình. Những vết thương của “cải cách ruộng đất”, “học tập cải tạo”, “đánh tư bản mại sản”… là gì nếu không phải là do thiếu tình thương với đồng bào ruột thịt của mình! Nếu, giá... (một điều rất tiếc đã không xảy ra) là đón nhận, là bao dung, là mở ra một lối thoát… thì có lẽ đã khác, rất khác…

Lịch sử bi thương đó sẽ tiếp tục, nếu mỗi người chúng ta tiếp tục loại trừ và khép kín những cơ hội đổi đời của anh chị em mình…



Trong một lớp học nọ, có hai em học sinh trùng tên: Johnny. Một em ngoan ngoãn, chăm chỉ, nền nếp, được gọi là Johnny NGOAN. Một em ngỗ nghịch, biếng nhác, quậy phá, bị gọi là Johnny HƯ. Một lần kia, cô giáo mời các phụ huynh đến họp, cô thấy một phụ huynh rất tử tế đến sớm, nên bắt chuyện:

- Chị là phụ huynh của em nào?

- Tôi là mẹ của em Johnny. – Người phụ nữ trả lời từ tốn.

Cô giáo nghĩ bụng chắc đây là phụ huynh của Johnny NGOAN, vì chỉ có phụ huynh của những em ngoan thì mới tận tình và trách nhiệm đến thế. Vậy là cô hết lời khen ngợi Johnny, nào là ngoan ngoãn lễ phép, nào là chăm chỉ học giỏi, nào là kỷ luật và có tinh thần giúp đỡ bạn bè…

Sáng hôm sau đến trường, cô giáo ngạc nhiên khi gặp Johnny HƯ, vì hôm nay em đi sớm, lại chào hỏi lễ phép, và hơn nữa, còn ngập ngừng muốn nói với cô điều gì. Cô ráng giữ bình tĩnh hỏi:

- Có chuyện gì thé Johnny?

- Dạ… - Johnny ấp úng – Em muốn cảm ơn cô đã nói tốt về em với mẹ em. Em sẽ cố gắng để được như lời cô nói.

Chẳng bao lâu, người ta thấy Johnny HƯ thay đổi khác thường, cho đến một hôm cả lớp không còn hai Johnny nữa mà chỉ còn một Johnny NGOAN, thế thôi.

Có biết bao Johnny đang đợi chờ đợi chúng ta một bàn tay, một nụ cười, một lời khích lệ?



“Lạy Chúa,

Xin giúp con nhỏ bé trước mặt Chúa

Yêu thương nồng nàn như suối mát

Xin giúp con nhỏ bé trước anh em

Êm đềm như dòng nước trong”

DT.

GHVN

Facebook bị ngăn chận ở Việt Nam

,

Facebook bị ngăn chận ở Việt Nam
Việt Hà, phóng viên RFA
2009-11-17
Hơn một tuần nay, các cư dân mạng Việt Nam xôn xao chuyện Facebook đã bị chặn, khiến cho nhiều tín đồ Facebook sống tại Việt Nam khó chịu vì mất liên lạc với bạn bè của mạng xã hội này.


RFA PHOTO

Giao diện Tiếng Việt của trang Facebook.

Mạng xã hội toàn cầu
Đối với rất nhiều dân mạng ở Việt nam, từ lâu Facebook đã trở thành một mạng xã hội quen thuộc nơi họ kết nối bạn bè, chia sẻ thông tin đủ loại. Nhưng đã hơn một tuần nay, các cư dân Facebook ở Việt Nam gặp rất nhiều trở ngại trong việc truy cập website này.

Sáng ngày 17 tháng 11, một cư dân Facebook viết trên Wall của mình như sau: ‘chào các bạn Facebook, có ai gặp vấn đề gì khi truy cập Facebook hay không? Tôi gần như không thể? Có ai có thể giúp tôi với?

Ngay sau đó, một cư dân facebook khác đã trả lời tin nhắn này bằng cách chuyển một đường link cho phép người truy cập sử dụng proxy để vào Facebook.

Theo những người sử dụng Facebook tại Việt nam thì việc truy cập Facebook trong suốt tuần qua luôn trục trặc, lúc được lúc không, có chỗ vào được, có chỗ thì lại không.

Một người sử dụng Facebook ở Hà nội, anh Nguyễn Xuân Đức cho biết: “Ở Việt nam bị block Facebook khoảng 1 tuần rồi. Nó không block toàn bộ, em không hiểu thế nào, ở nhà em vào rất bình thường, ở cơ quan vào rất bình thường nhưng mà có nơi lại không vào được. Nó block theo khu vực, lúc chặn, lúc không.”

“Ở Việt nam bị block Facebook khoảng 1 tuần rồi. Nó không block toàn bộ, em không hiểu thế nào... Nó block theo khu vực, lúc chặn, lúc không.

Nguyễn Xuân Đức
Chiều ngày 17 tháng 11, chị Vũ Phương, một người sử dụng Facebook ở thành phố Hồ Chí Minh nói về những khó khăn khi truy cập Facebook của mình như sau:

“Cách đây hơn 1 tuần thì nghe thấy mọi người đồn đại là Facebook bị làm sao đấy thì đúng là em vào thì thấy khó thật. Vài ngày sau mình vào thì không được. Hôm trước em còn thấy có đứa post kèm theo đường proxy thì vào được Facebook nhưng đến chiều nay thì em không vào được nữa.”

Vì sao phải chận?Theo hãng tin AP những kỹ thuật viên của hai trong số các nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn nhất ở Hà nội nó rằng họ phải trả lời rất nhiều cuộc điện thoại phàn nàn của khách hàng về việc không truy cập được Facebook.

Cũng theo AP thì một kỹ thuật viên được yêu cầu giấu tên ở công ty VDC nói rằng chính phủ đã yêu cầu công ty của anh phải ngăn chặn Facebook và VDC đã bắt đầu thực hiện việc này từ ngày 11 tháng 11.

Trước đó không lâu, các cư dân mạng có truyền nhau một công văn không có dấu đề ngày 27 tháng 8 năm 2009, được cho là từ Tổng Cục An ninh, Bộ Công an Việt nam gửi cho 10 nhà cung cấp dịch vụ Interent ở Việt Nam, yêu cầu ngăn chặn 8 website có nội dung xấu, trong đó có Facebook.

Hiện Việt Nam có khoảng gần 22 triệu người sử dụng internet, chiếm đến hơn 24% dân số. Trong đó lượng người sử dụng Facebook ở Việt Nam là hơn 400,000 người, chiếm gần 2 phần ngàn lượng người sử dụng Facebook trên toàn thế giới.

Chính vì thế, việc truy cập Facebook khó khăn cũng làm cho không ít người Việt Nam cảm thấy khó chịu. Khi được hỏi chị có thấy khó chịu khi không thể truy cập mạng này, chị Vũ Phương nói:

“Có chứ, nó như là một trang web cá nhân của mình vì bạn bè quen biết trên đó, có mấy đứa bạn, nó email, vì mọi người nghĩ đây chỉ là chỗ bình thường thôi nên chả ai nghĩ đến chuyện trao đổi email cá nhân với nhau cả nên bây giờ thôi mất liên lạc.”

Tuy nhiên, cũng có những người thì cho rằng việc Facebook bị khóa cũng không quá quan trọng đối với họ. Anh Nguyễn Xuân Đức ở Hà nội nói: “Có Facebook thôi, chứ có khó khăn gì đâu, ảnh hưởng gì đâu, không có Facebook thì dùng cái khác, ảnh hưởng gì.”


“Chúng tôi là những người nước ngoài sinh sống tại đây và dựa vào Facebook bởi vì chúng tôi sử dụng nó để liên lạc với bạn bè và gia đình ở nước khác. Dó đó điều này khiến tôi cảm thấy khó chịu.

Ô. John Flanagan
Còn đối với những người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam, thì việc không thể truy cập Facebook khiến họ hết sức khó chịu. Ông John Flanagan ở thành phố Hồ Chí Minh nói:

“Tôi không thể truy cập Facebook một cách bình thường từ khoảng hơn 1 tuần nay, mà phải qua proxy. Bạn bè của tôi cũng gặp khó khăn tương tự. Chúng tôi là những người nước ngoài sinh sống tại đây và dựa vào Facebook bởi vì chúng tôi sử dụng nó để liên lạc với bạn bè và gia đình ở nước khác. Dó đó điều này khiến tôi cảm thấy khó chịu.”

Có những lo ngại cho rằng Việt Nam có thể theo chân Trung quốc khóa các mạng bị cho là dùng để tuyên truyền chống phá Đảng và nhà nước bao gồm Facebook, Twitter, và Youtube.

Tuy nhiên tại Việt Nam những người sử dụng internet cho biết đến tối ngày 17 tháng 11 các mạng Twitter và Youtube vẫn có thể truy cập bình thường.


Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved

a

Roma

VU Tan sat Thien an mon, Vet nho lich Su Trung Quoc

Những bài thơ về Mẹ

Những bài thơ về Mẹ
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2009-05-09
Ngày của Mẹ hay Mother's Day năm nay rơi vào Chủ Nhật 10 tháng 5. Mỗi người trong chúng ta không ai là không có mẹ. Tình thương của bà dành cho chúng ta mỗi người mỗi khác nhưng cái chung mà tất cả chúng ta đều thừa hưởng được từ bà là những hy sinh vô bờ bến để nuôi con khôn lớn.


AFP Photo/Ted Aljibe

Tình mẹ thương con vô bờ bến và không bao giờ thay đổi.


Bất kể ở đâu, bất kể hoàn cảnh nào thì tình yêu ấy cũng không bao giờ thay đổi. Chương trình VHNT kỳ này mời quý thính giả chia sẻ những bài thơ về Mẹ do Mặc Lâm tuyển chọn và trình bày với sự góp giọng đọc thơ của anh chị trong ban Việt Ngữ và đặc biệt nữ nghệ sỹ Bạch Yến từ Pháp quốc với giọng ru ba miền...

Có thể nói nhạc phẩm Lòng Mẹ của Y Vân được người Việt biết và thương yêu hơn bất cứ bài hát nào. Tác phẩm Lòng Mẹ năm nay vừa tròn 50 năm ngày ra đời nhưng sức thu hút của nó vẫn như những ngày đầu ra mắt.


Cứ mỗi lần nghe nhạc phẩm này do bất cứ ai hát lên thì người Việt dù ở chân trời góc bể nào cũng dấy lên một niềm xao xuyến khó tả. Bài hát như thay thế người mẹ ầu ơ con trong đêm hè oi bức.


Trong tận cùng của cảm xúc, người nghe thấy được hình bóng của mẹ mình và hình như những lời hát thăng hoa trở thành chính tiếng mẹ hiền ủi an bên cạnh.

Những sáng tác về tình mẫu tử trong kho tàng văn chương nghệ thuật Việt Nam có lẽ bắt nguồn từ những bài hát ru của người mẹ cả ba miền Nam Trung Bắc. Những đứa trẻ được nuôi dưỡng từ tiếng ầu ơ dịu ngọt này đã thai nghén những bài thơ viết về mẹ sau khi trưởng thành và nhanh chóng được người đời chia sẻ.


Bắt đầu biết thương nhớ mẹ từ sớm, từ khi mới chập chững những bước đầu tiên thế nhưng để trọn vẹn cảm nhận được tình mẹ thì phải đợi đến khi khôn lớn.


Người sinh viên nghèo xa nhà đi học ở thành phố bỗng một hôm thấy nhớ mẹ đến nao lòng. Anh như con trẻ, cảm thấy mẹ mình là một nguồn sức mạnh chở che mà anh không thể tìm nơi đâu khác. Lúc này là lúc mà người ta tự hỏi lòng: Mẹ ơi có nhớ con không?

Lâu nay con trọ học xa nhà

Sống tự lập thiếu thốn nhiều mẹ ạ!

Nhưng một thứ con thiếu nhiều hơn cả

Là vòng tay mẹ âu yếm sớm chiều.

Thiếu một chút muối, mì chính, hạt tiêu

Con có thể chạy vay phòng khác

Nhưng mẹ ơi! Tình mặn nồng ấm áp

Của mẹ hiền nào con biết vay ai??!!



Từ khi nuôi con khôn lớn cho đến khi gả chồng không biết bao nhiêu là cực nhọc. Con về nhà khác cũng mang theo nước mắt mẹ hiền mặc dù ngoài mặt bà vẫn gượng cười cho trọn ngày vui của con. Nhà thơ Nguyễn Bính vẽ lại cảnh tượng bà mẹ đưa con về nhà chồng:

Đưa con ra đến cửa buồng thôi

Mẹ phải xa con, khổ mấy mươi!

Con ạ! đêm nay mình mẹ khóc

Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi.



Nhà thơ Xuân Quỳnh viết về người mẹ của chồng mình mà khi đọc lên sức lôi cuốn của những câu thơ của bà khiến người ta không thể không tự hỏi: phải chăng Xuân Quỳnh đang nhắc cho chúng ta về một người mẹ hiền mà đã quá lâu chúng ta quên bẵng?

Phải đâu mẹ của riêng anh

Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi

Mẹ tuy không đẻ không nuôi

Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong

Ngày xưa má mẹ cũng hồng

Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau

Bây giờ tóc mẹ trắng phau

Để cho mái tóc trên đầu anh đen



Hình ảnh nghèo khó của làng quê Việt Nam với những mái tranh nghèo và những gia đình đôi khi neo đơn đến tội nghiệp đã đi vào văn chương Việt Nam với khả năng gây xao động lòng người. Trong những mái tranh nghèo ấy tình mẹ lại càng tỏa sáng biết bao nhiêu với những thân cò lặn lội.


Người con ao ước mua cho mẹ mình những miếng trầu thơm cay và cứ mỗi khi đi ngang hàng trầu thì niềm ao ước ấy lại càng mãnh liệt. Đến khi có thể mua miếng trầu cho mẹ thì bà đâu còn nữa. Người con gái cũng là nhà thơ Nguyễn Thị Mai kể lại trong nước mắt.

Mẹ ơi?

Thơm cay một miếng trầu xưa

Mà con phải bớt tiền mua vì nghèo

Bây giờ đã bớt gieo neo

Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không?



Từ ngày đưa mẹ ra đồng

Qua hàng trầu vỏ con không dám vào



Có một điểm chung của những bà mẹ Việt Nam là sự khó nhọc nuôi con cùng những hy sinh vô bờ đã khiến bà trở thành biểu tượng của điều thiêng liêng mà chúng ta ai cũng có một.

Thương nhiều lắm dáng mẹ lom khom

Cúi trên ruộng đồng chiều đông buốt giá,

Nặng gánh rau chợ tàn chiều muộn,

Chắt chiu tiền nhàu nát gửi con xa.

Tim thổn thức, nước mắt cứ trào ra

Khi cầm trên tay tờ bạc nhàu cũ nát



và hình ảnh người mẹ của nhà thơ Thanh Vân cho thấy sự vất vả của bà trên cánh đồng như thế nào:

Mẹ tôi bước xuống đồng sâu

Ngọn cỏ ngóc đầu sắc tựa mũi chông

Mẹ tôi ngã quỵ xuống đồng

Cây lúa đòng đòng đỡ mẹ đứng lên



Nhà thơ Vương Trọng khi đến tuổi 70 khi nằm chiêm bao thấy lại mẹ mình với những câu thơ chạnh lòng:

Đã có lần con khóc giữa chiêm bao

Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó

Đồng sau lụt đường đê sụt lở,

Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.

Anh em con chịu đói suốt ngày tròn,

Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa.

Có gì nấu đâu mà nhóm lửa

Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về.



Hình ảnh của mẹ hiền ăn sâu vào tiềm thức của người con xa quê như một vết thương không bao giờ lành. Thao thức nhớ mẹ là tình cảnh chung và nhà thơ Hoàng Phố, sống cách Việt Nam nửa vòng trái đất mượn bạn mình đến nhà để thăm bà trong khi heo hút:

Mày có đi làm ghé chơi thăm má

mua một tô mì cho má giùm tao

nhớ thêm bột nêm vào trong hoành thánh

tánh má từ xưa vẫn thích ngọt ngào



nếu mà hỏi mày làm ăn có khá

cũng ráng mà cười nói được nghe chưa

tính má hay buồn nghe ai thất bại

bốn chục năm rồi má vẫn như xưa



Khi mày ra về cũng nên hẹn lại

sẽ đến thăm khi rảnh rỗi việc nhà

má như trẻ thơ thích ngồi nói mãi

những chuyện ngày xưa hồi còn có ba



Ừ mà tao quên mày đốt cho ba

một nén nhang thơm cho má mát lòng

bởi tao đi rồi là hai hình bóng

nay đã mất tăm vừa con vừa chồng...



Nhà thơ Trần Trung Đạo hạnh phúc hơn khi còn nghe ra giọng nói yêu dấu của mẹ mình:

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi



và rồi nhà thơ thở dài với những cách trở mà ông không hy vọng gì san lấp được. Ông chỉ còn niềm mơ ước duy nhất nhưng chừng như niềm mơ ước này cũng chỉ là thiên thu mà thôi...



Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn

Bên đời gió tạt với mưa tuôn

Con đi góp lá nghìn phương lại

Đốt lửa cho đời tan khói sương



Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói

Biết đến bao giờ trông thấy nhau



Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ

Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ

Đau thương con viết vào trong lá

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ



Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.



Những chiếc bông hồng tượng trưng cho những người còn mẹ là một phong tục đẹp của người Nhật và đi sâu vào lòng chúng ta từ nhiều năm qua. Khi cánh hoa hồng biến thành màu trắng thì nỗi bất hạnh cũng ập xuống cuộc đời. Nhà thơ Trần Kiêu Bạc trở về nhà thẩn thờ sau khi chôn cất mẹ:

Khi nắm đất sau cùng lắp kín mộ sâu

Con trở về nhà một mình trống vắng

Trên ngực con nở đóa hoa hồng trắng

Quỳ trước bàn thờ cam phận mồ côi



Với nhà thơ Thu Nguyệt thì niềm đau có khác nhưng hoa cà na từ đây dưới mắt nhà thơ đã chớm mang một màu tang chế:

Ngày mẹ mất bông cà na rụng trắng

Hoa như mưa nhòe nhoẹt rối tơi bời

Trong nắm đất con lấp từ biệt mẹ

Có rất nhiều những cánh hoa rơi.



Hoa cũng như đời mẹ, mẹ ơi!

Nở lặng lẽ và rơi lặng lẽ

Cô đơn nào hơn những người mẹ trẻ

Con chưa đủ lớn khôn để chia sẻ vui buồn.



Giọng ru buồn len lén hoàng hôn

Ba mươi năm sau đời con mới hiểu

Nỗi cô đơn mẹ âm thầm gánh chịu

Nhiều như bông cỏ dại quê mình.



Nhà thơ Vương Trọng cho chúng ta những khúc hát đẫm nước mắt như trong giấc mơ mà nhà thơ trải qua:

Con lang thang vất vưởng giữa đời thường,

Đâu cũng sống không đâu thành quê được.

Còn quê mẹ cuối chân trời tít tắp,

Con ít về từ ngày mẹ ra đi.

Đêm tha hương con tìm lại những gì

Với đời thực chẳng bao giờ gặp nữa.

Mong hình mẹ lại hiện về giấc ngủ

Dù thêm lần con khóc giữa chiêm bao.




Người mẹ trong tâm thức Việt Nam vẫn luôn sáng lên niềm hy vọng tuyệt đối. Là chỗ nương thân, là bóng mát, là đại dương, hay là gì chăng nữa vẫn không nói hết được tình yêu của bà đối với con thơ. Ngày Mother's Day, nghĩ về mẹ một chút cũng là diễm phúc vì con biết con đã và đang từng có mẹ...

Cánh én báo hiệu Mùa Xuân?

Cánh én báo hiệu Mùa Xuân?
VietCatholic News (08 May 2009 17:42)
CÁNH ÉN BÁO HIỆU MÙA XUÂN?

Tên cháu là Gio-an

Sáng thứ Tư ngày 06-05-2009, vào trang mạng VietCatholic tôi thấy những tựa đề như So sánh báo cáo về nhân quyền tại Việt Nam giữa bộ ngoại giao Việt Nam và Mỹ của Đinh Từ Thức, hay Uỷ ban Tự do Tôn giáo: 13 nước vi phạm tự do tôn giáo trong đó có Việt Nam của đài VOA, hay Bức màn bauxite, âm mưu Tây Nguyên!!! Của tờ “Tự do ngôn luận”… Nhưng tất cả đều bị chìm bên cạnh tấm hình thánh giá rất nổi của một nhà thờ, ở phía dưới là tựa đề của bài viết: Quan điểm Công giáo về trách nhiệm của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội, tác giả là đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Khảm. Tôi cũng để ý đến ngôi sao vàng 5 cánh (có 1/4 bị che khuất) trên nền đỏ, ở phía trên bóng cây thánh giá. Đây là cách lôi kéo sự chú ý của người đọc.

Chỉ mới nhìn tựa đề của bài viết thôi, tôi đã thầm nghĩ: bây giờ là Mùa Phục Sinh, nhưng trong bối cảnh xã hội ngày càng nóng như có thể nổ tung bất cứ giờ nào, thì sau một thời gian dài chờ đợi, đặc biệt của các tín hữu Công Giáo, bài viết của một vị giám mục Việt Nam như đưa ta trở lại Mùa Vọng, sau khi ông Da-ca-ri-a bị câm một thời gian. Đến ngày vợ ông là bà Ê-li-sa-bét sinh hạ, rồi phải đặt tên cho con, và khi họ hàng tính lấy tên cha mà đặt cho đứa bé thì bà mẹ nhất quyết đặt tên cho con là Gio-an. Cuối cùng thì phải nại đến uy quyền của cha đứa bé để giải quyết vấn đề. Ông Da-ca-ri-a ra hiệu xin mang đến cho ông một tấm bảng, rồi ông viết lên đó: “Tên cháu là Gio-an”. Cùng lúc, ông hết câm, ông nói được. Nay sau một thời gian dài chờ đợi một tiếng nói từ phía các giám mục, chợt thấy có bài viết của đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Khảm, tôi có cảm tưởng như đang ngược dòng thời gian, trở về hơn 2000 năm trước, để cùng với bà con chòm xóm vị tư tế Da-ca-ri-a, nghe ông cất tiếng nói: “Tên cháu là Gio-an!”.

Hai ví dụ cụ thể

Bài viết của đức cha Khảm bắt đầu bằng hai ví dụ cụ thể. Ví dụ thứ nhất là việc Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ lên tiếng thúc đẩy việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Ví dụ thứ hai là việc Đức cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II tìm cách thuyết phục Hoa Kỳ đừng tấn công I-rắc. Cả hai ví dụ cụ thể trong phần mở đầu cho thấy Giáo Hội Công Giáo không ở ngoài đời sống chính trị và khi cần thì lên tiếng công khai bày tỏ lập trường.

Tư cách của người viết

Cũng như bất cứ ai có điều gì muốn chia sẻ với người khác, đức cha Khảm viết bài này với tư cách riêng. Tuy nhiên, vì đã từ lâu, các độc giả Công Giáo chờ đợi một tiếng nói có thẩm quyền, nên bài viết của một giám mục lôi kéo sự chú ý của người đọc là chuyện không có gì khó hiểu.

Mục đích của bài viết

Đã được minh định ngay trong phần mở đâu: Đó là nhằm trả lời câu hỏi: Tại sao Giáo Hội lại lên tiếng về các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị? Để trả lời câu hỏi này, tác giả dựa vào mệnh lệnh của Chúa Giê-su (Mt 28,19-20), vào học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo (và học thuyết này được xây dựng trên nền tảng Lời Chúa, Truyền thống của Giáo Hội, đặc biệt là Công Đồng Va-ti-ca-nô II, cũng như giáo huấn của các Đức Giáo Hoàng) để đưa ra những NGUYÊN TẮC hành động.

Đối tượng của bài viết

Vậy thì bài viết nhắm đến ai? Dĩ nhiên đã đưa lên mạng rồi, ai muốn xem thì xem. Thật ra, những ai muốn biết học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo thì đã biết rồi: Sau cuộc hội thảo tại Đồ Sơn cách đây chưa lâu lắm, các bài tham luận đã được in thành sách, chắc chắn đã được gửi đến nhà cầm quyền. Nhưng cứ xem những gì đã diễn ra trên đất nước này, thì có vẻ như cuộc hội thảo khá tốn kém kia đã chẳng có ảnh hưởng gì nhiều đến cách hành xử của nhà cầm quyền Việt Nam. Còn đối với các tín hữu Công Giáo, ít là những ai quan tâm đến vấn đề, thì điều chờ đợi, chẳng phải là lý thuyết trừu tượng, chẳng phải là nguyên tắc phổ quát, nhưng là những hành động cụ thể dựa trên lý thuyết, trên các nguyên tắc đó. Và đây chẳng phải là những chuyện muốn làm thì làm, không làm thì thôi, nhưng là những chuyện bắt buộc phải làm nếu muốn trung thành với giáo huấn của Chúa Giê-su và Hội Thánh của Người. Tác giả đã trích dẫn học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo như sau: Các vấn đề chính trị và xã hội liên quan đến khía cạnh đạo đức là trách nhiệm đặc thù của Giáo Hội, chẳng hạn chiến tranh, tham nhũng, phá thai, gian dối…

Chính quyền nào?

Trong phần II, đề cập đến tương quan giữa Giáo Hội và chính quyền, tác giả đã trích dẫn Hiến chế của Công Đồng Va-ti-ca-nô II về Giáo Hội trong thế giới ngày nay để nhắc lại: Giáo Hội tôn trọng quyền bính hợp pháp và chính đáng của Nhà Nước. Điều không thể nghi ngờ là các nghị phụ của Công Đồng Va-ti-ca-nô II khi khẳng định như thế, đã nghĩ đến các chính quyền của các nước tự do, trong đó những người cầm quyền là những người được dân lựa chọn qua các cuộc bầu cử tự do, nên quyền bính của họ là quyền bính hợp pháp. Còn tại Việt Nam, chế độ hiện nay dựa trên việc “Việt Minh cướp chính quyền” hồi năm 1945, rồi sau đó từ từ triệt hạ tất cả các đảng phái khác cùng đứng chung liên minh với mình, và khư khư giữ cái quyền ăn cướp đó đến hôm nay. Và suốt hơn 60 năm qua (trừ quãng thời gian từ 1955 đến 1975 tại miền Nam) mọi cuộc bầu cử chỉ là những màn trình diễn ngoạn mục để đảng Công Sản Việt Nam tiếp tục giữ cái quyền ăn cướp đó.

Đối thoại

Bài viết của đức cha Khảm ở phần cuối có nói đến đối thoại. Đây là nguyên tắc không người bình thường nào mà không chấp nhận. Có điều muốn đối thoại với nhau, phải chấp nhận nhau, kính trọng nhau, thành thực với nhau. Và trong việc đối thoại với chính quyền cộng sản ở mọi cấp, chúng ta đều có ít nhiều kinh nghiệm. Người miền Nam hay nhắc lại lời cố tổng thống Thiệu ngày xưa: “Đừng nghe những gì cộng sản nói”. Đức cha Khảm mới làm giám mục được mấy tháng nên chưa có kinh nghiệm. Nhưng chỉ cần hỏi các bậc cao niên trong hàng giám mục xem suốt 30 năm nay, bao nhiêu kiến nghị được trân trọng gửi đến chính quyền các cấp, được tiếp nhận cách lịch sự rồi cất kỹ trong ngăn kéo, liệu có bao nhiêu phần trăm kiến nghị đã được giải quyết? Sáng nay ngày 08-05-2009 trước khi viết tiếp bài này, đọc tin tức liên quan đến cuộc hành hương của giáo phận Thái Bình đến trung tâm hành hương Đức Mẹ Công Lý ở Thái Hà, rồi nhất là đọc lá thư ngỏ của đức cha Nguyễn Văn Sang, tôi thầm nghĩ: Giờ này ông cụ mới nhận ra khuôn mặt của cộng sản, kể cũng là khá trễ.

Kết luận

Trở lại với bài viết của đức cha Khảm, tôi tự hỏi: Đây là một “terminus a quo” (khởi đầu) hay là một “terminus ad quem” (kết thúc)? Nếu sau bao nhiêu trăn trở, bao lời trách móc, bao nhiêu ước mơ của người tín hữu Công Giáo Việt Nam trước những vấn đề thời sự nóng bỏng như tham nhũng, bất công, bán đất, bán biển, và gần đây nhất là vụ bauxite Tây Nguyên, chẳng khác chi những đám lửa khổng lồ đang đốt cháy tâm can của những ai quan tâm đến sự tồn vong của Dân tộc, và trước những vấn đề nhức nhối đó, bài viết của đức cha Khảm được xem như là câu trả lời dứt khoát, thì cứ tiếp tục trăn trở, cứ việc trách móc, cứ việc ước mơ, vì “gia tài của mẹ” chỉ có bấy nhiêu thôi. Còn nếu bài viết của đức cha Khảm là một khởi đầu cho một giai đoạn mới, là lời tựa cho một cuốn sách dày sắp mở ra, là những nguyên tắc chỉ đạo cho những hành động cụ thể trong những ngày tháng tới như tác giả đã đưa ra ngay đầu bài viết, thì ta có quyền hy vọng: cánh én Nguyễn Văn Khảm đang báo hiệu một mùa xuân trong lòng Giáo Hội, trên đất nước Việt Nam thân yêu.

Sài-gòn, ngày 08 tháng 05 năm 2009

pascaltinh@gmail.com
LM Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm

May 2012
M T W T F S S
April 2012June 2012
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31