Skip navigation.

No Promises

To do more to speak.

STICKY POST

Message...!

Trung Quốc không rước đuốc Olympic 2008 ra Hoàng Sa !(không hiểu gì hết)

Hoàng Sa là của Việt Nam mà..mọi người Việt Nam đều nghĩ vậy..thế mà bọn TQ nó dám...


Phía Trung Quốc đã chính thức khẳng định với phía Việt Nam rằng Trung Quốc không có kế hoạch tổ chức rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 ra quần đảo Hoàng Sa.



Ngày 21/3, bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM, Trưởng ban tổ chức lễ rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 tại TP. HCM nêu rõ: Olympic Bắc Kinh 2008 là sự kiện thể thao lớn của thế giới do Trung Quốc đăng cai tổ chức. Mục đích cao cả của hoạt động Olympic là mở rộng giao lưu và tăng cường hợp tác hữu nghị giữa các nước, vì hòa bình và tiến bộ trên thế giới. Việt Nam ủng hộ việc tổ chức thành công Olympic Bắc Kinh và đang tích cực chuẩn bị tham gia sự kiện này.

Lễ rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 tại TP. HCM là sự kiện thể thao, văn hóa lớn hướng tới Olympic Bắc Kinh 2008.

Ban Tổ chức đã bày tỏ với phía Trung Quốc mối quan tâm sâu sắc trước các thông tin trên một số mạng nói Trung Quốc có kế hoạch rước đuốc Olympic 2008 ra quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và đã được thông tin, qua các tiếp xúc ngoại giao giữa hai nước. Phía Trung Quốc chính thức khẳng định các thông tin trên mạng Internet nói Trung Quốc có kế hoạch rước đuốc ra quần đảo Hoàng Sa là không chính xác.
(Theo VietNamNet)

Read more...

Khoa học Việt Nam đang đứng ở đâu trên Thế Giới..!?

Đánh giá dân trí của một quốc gia, ngoài các chỉ tiêu liên quan đến học vấn và văn hóa, số lượng bài báo khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế được xem là chỉ tiêu quan trọng vào hàng số 1.
Năm 2007, Bộ Khoa học và công nghệ hoàn lại cho ngân sách nhà nước 125 tỉ đồng vì không phân phối hết cho các đề án nghiên cứu. Năm trước đó, con số được Bộ KH-CN hoàn trả lên đến 321 tỉ đồng.

Trung bình mỗi giáo sư và phó giáo sư nước ta công bố 0,58 bài báo trong vòng 10 năm qua!




Các công trình nghiên cứu được công bố trên các tập san này thường trải qua quá trình bình duyệt nghiêm chỉnh về ý tưởng và phương pháp thực hiện. Đó là tiêu chuẩn số 1 để đề bạt các chức vụ giáo sư trong đại học, và phản ánh năng suất khoa học của một nước.

Các công trình nghiên cứu khoa học thường do các nghiên cứu sinh cấp thạc sĩ hay tiến sĩ, các giáo sư hay phó giáo sư thực hiện. Theo sách Khoa học và công nghệ Việt Nam, tính đến cuối năm 2003, nước ta có 2 triệu người có trình độ đại học và cao đẳng, trong đó có 14.000 tiến sĩ và 20.000 thạc sĩ. Theo một thống kê chưa đầy đủ, nước ta có khoảng 6.000 người mang chức danh giáo sư và phó giáo sư, đó là một lực lượng khoa bảng khá lớn so với các nước trong vùng.

Với một lực lượng khoa học như thế, câu hỏi đặt ra là năng suất khoa học của nước ta so với các nước trong vùng thời gian qua như thế nào? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể tham khảo các dữ liệu của Viện Thông tin khoa học (Institute of Scientific Information) về các ấn phẩm khoa học từ Việt Nam.



Ấn phẩm khoa học từ Việt Nam trong 10 năm qua
Trong thời gian 10 năm (từ 1996-2005), các nhà khoa học nước ta công bố 3.456 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế.

Đặt mối tương quan giữa con số này với số lượng giáo sư và phó giáo sư (những người đáng lẽ phải nghiên cứu khoa học), trung bình mỗi giáo sư và phó giáo sư nước ta công bố 0,58 bài báo trong vòng 10 năm qua!

Nói cách khác, cứ hai giáo sư mới có khoảng một công bố quốc tế trong vòng 10 năm. Các nước trong vùng như Thái Lan, Malaysia và Singapore, các đại học đặt ra tiêu chuẩn hay khuyến khích mỗi giáo sư cần có ít nhất một công bố quốc tế trong vòng hai năm. Ở các nước tiên tiến hơn, mỗi giáo sư phải có ít nhất một công bố quốc tế trong thời gian đó, nếu không thì chức vụ giáo sư có thể lung lay.

Con số ấn phẩm khoa học từ nước ta đã ít, so với các nước khác trong vùng thì thuộc vào hàng thấp nhất. Thật vậy, số lượng công bố quốc tế của các nhà khoa học nước ta chỉ bằng 1/5 số lượng từ Thái Lan (14.594 bài trong cùng thời gian), 1/3 Malaysia (9.742 bài), 1/14 Singapore (45.633 bài). Ngay cả so với Indonesia (4.389 bài) và Philippines (3.901 bài), con số công bố quốc tế nước ta cũng thấp hơn.

Lĩnh vực nghiên cứu nào mạnh và yếu của nước ta? Khoảng 1/5 các công trình nghiên cứu khoa học từ Việt Nam liên quan đến các ngành y sinh học. Con số này ở Thái Lan là 43%. Các công trình nghiên cứu khác có thể thuộc vào lĩnh vực yếu của Việt Nam là: môi trường (chiếm 4% tổng số công bố quốc tế), kinh tế (2,5%), công nghệ sinh học (1,3%) và nhân văn - xã hội học (1,6%).

Tuy nhiên, số lượng công trình liên quan đến ngành toán và vật lý từ Việt Nam chiếm gần 1/4 tổng số bài báo khoa học và đây là lĩnh vực mạnh của nước ta so với các nước trong vùng như Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines, con số này chỉ dao động từ 0,5 - 4%.

Trong điều kiện còn thiếu thốn về cơ sở vật chất nghiên cứu và thiếu thốn chuyên gia, phần lớn (khoảng 80%) các nghiên cứu khoa học ở nước ta đều phải hợp tác với nước ngoài. Chỉ có 20% các công trình nghiên cứu từ Việt Nam là do nội lực (tức hoàn toàn do người Việt thực hiện).

Tuy nhiên, tỉ lệ nội lực dao động rất lớn giữa các ngành; chẳng hạn như trong ngành y sinh học, chỉ có 3% là do nội lực, phần còn lại nhờ hợp tác với nước ngoài. Riêng ngành công nghệ sinh học, 100% các công bố quốc tế là do hợp tác với nước ngoài. Tuy nhiên, các ngành có tỉ lệ nội lực cao là toán (66%), kỹ thuật (gần 40%) và kinh tế học (41%).

Về chất lượng nghiên cứu khoa học cũng rất đáng quan tâm. Một công trình nghiên cứu khoa học có giá trị thường được đồng nghiệp trên thế giới trích dẫn. Do đó, một cách khác để gián tiếp đánh giá chất lượng là xem xét tỉ lệ các bài báo được trích dẫn.

Tính chung, khoảng 1/5 các bài báo khoa học từ Việt Nam chưa bao giờ được trích dẫn sau năm năm công bố. Đây cũng là tình trạng chung ở các nước trong vùng, với tỉ lệ chưa bao giờ trích dẫn (trong vòng 5 năm) được ghi nhận tại Thái Lan (15%), Malaysia (19%), Indonesia (19%), Philippines (13%) và Singapore (17%).

Phân tích chi tiết cho thấy các công trình nội lực thường có chất lượng thấp hơn các công trình hợp tác với nước ngoài. Tính trung bình mỗi công trình nội lực được trích dẫn 3,2 lần, trong khi đó công trình hợp tác có chỉ số trích dẫn trung bình là 11,6 lần.


Cần cải cách trong quản lý nghiên cứu khoa học


Các phân tích trên cho thấy “sản lượng” khoa học của nước ta vẫn còn rất khiêm tốn so với các nước trong vùng (chứ chưa nói đến thế giới). Nếu (xin nhấn mạnh “nếu”) mức độ tăng trưởng số bài báo khoa học của Việt Nam là 41 bài/năm (như ước tính từ phân tích này) và chúng ta bắt đầu với 202 bài năm 1996, thì phải cần đến 60 năm sau chúng ta mới bắt kịp số lượng bài báo của Thái Lan vào năm 2005!

Các nghiên cứu khoa học ở nước ta vẫn chủ yếu tập trung vào các ngành mang tính lý thuyết (như toán học và vật lý lý thuyết) và còn rất yếu trong các lĩnh vực ứng dụng như khoa học đời sống và môi trường.

Trong quá trình phát triển kinh tế, chúng ta cần nhiều nghiên cứu ứng dụng hơn là lý thuyết. Điều này đặt ra định hướng và chính sách về nghiên cứu khoa học trong tương lai phải tập trung vào các lĩnh vực phục vụ sức khỏe và kinh tế của Việt Nam.

Một điều rất đáng quan tâm là nền khoa học nước ta hiện nay còn lệ thuộc quá lớn vào các đồng nghiệp nước ngoài. Trong ngành y sinh học, một ngành tương đối mạnh ở nước ta, chỉ có 2% trong số các công trình được công bố trên các tập san quốc tế là do nội lực, 98% còn lại là do hợp tác hay đứng tên chung cùng các nhà khoa học nước ngoài.

Thật ra, hợp tác quốc tế trong nghiên cứu là một điều tốt trong hoạt động khoa học hiện đại, nhưng hợp tác như thế nào để thành quả và tri thức khoa học dựa trên chất liệu của Việt Nam vẫn là của người Việt Nam mới là vấn đề mà chúng tôi đã nêu ra gần đây.

Nhất là hiện tượng “hợp tác khoa học theo kiểu nhảy dù”, trong đó các tác giả Việt Nam chỉ là “lính đánh bộ” và sở hữu tri thức vẫn là tác giả nước ngoài, dù chất liệu nghiên cứu là từ Việt Nam và của người Việt Nam!

Đầu tư cho khoa học và công nghệ (KHCN) ở nước ta còn rất khiêm tốn so với các nước trong vùng. Trong năm 2006, nước ta đầu tư 428 triệu USD cho KHCN, chiếm khoảng 0,17% GDP toàn quốc.

Theo số liệu của UNESCO, Singapore là nước (trong vùng) có đầu tư cho KHCN cao nhất với 2,2% GDP (tương đương 3,01 tỉ USD), kế đến là Malaysia (0,5% GDP hay 1,54 tỉ USD), Thái Lan (0,3% GDP hay 1,79 tỉ USD). Tuy nhiên, tính trên GDP, đầu tư cho KHCN ở nước ta vẫn còn cao hơn Indonesia (0,05% GDP) và Philippines (0,12% GDP).

Nhưng ở nước ta đang có một nghịch lý rất đáng quan tâm: trong khi nhiều đề án nghiên cứu thiếu kinh phí thực hiện thì ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học lại không phân phối hết.

Hai sự thật trên đặt ra vấn đề phân phối ngân sách nghiên cứu khoa học sao cho công bằng và hợp lý. Đã có nhiều ý kiến cho rằng mô hình quản lý khoa học như hiện nay chưa đem lại hiệu quả như mong muốn, vì những bất cập trong việc quản lý và phân phối ngân sách.

Có thể nhìn cách phân phối kinh phí hiện nay ở nước ta như là một cuộc đấu thầu xây dựng, và các đề tài nghiên cứu đôi khi không phải xuất phát từ nhu cầu thực tế cũng như không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế. Cần đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong vấn đề xét duyệt đề tài nghiên cứu. Cũng cần nên xem lại qui trình nghiệm thu đề tài vốn không giống bất cứ nước nào trên thế giới.

Cần phải xem công bố quốc tế là tiêu chuẩn số 1 để đề bạt chức vụ (chứ không phải chức danh) giáo sư. Hệ thống đề bạt giáo sư ở nước ta vẫn dựa vào các tiêu chuẩn “nội địa” mà không mấy quan tâm đúng mức đến chuẩn mực quốc tế. Đại đa số tiến sĩ nước ta không hay chưa bao giờ có các bài báo trên các tập san khoa học quốc tế.

Ngoài ra, theo thống kê, hiện nay chúng ta có đến 70% tiến sĩ không làm nghiên cứu mà chỉ làm các chức vụ hành chính và quản lý. Hệ quả là tuy trên giấy tờ nước ta có đến 14.000 tiến sĩ và 6.000 giáo sư, nhưng năng suất khoa học thì quá thấp để có thể so sánh với các nước trong vùng.

Có thể nói hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta đang tụt hậu so với sự phát triển kinh tế; do đó để nâng cao hiệu suất khoa học, Nhà nước cần phải cải cách hệ thống quản lý khoa học ngay từ bây giờ chứ không nên đợi đến vài năm nữa, khi các nước trong vùng ngày càng bỏ xa ta.


(NGUYỄN VĂN TUẤN)

Read more...

12 điều nhỏ bé để làm cho Tổ quốc



12 điều nhỏ bé để làm cho Tổ quốc

Hãy tuân thủ luật giao thông. Hãy tuân thủ luật pháp
TTCT - Cách đây hai tháng, một người bạn Philippines đã gửi cho tôi cuốn sách mỏng với lời đề tặng: “Mặc dù cuốn sách này được viết cho Philippines, nhưng những gợi ý trong đó cũng có thể giúp ích cho đất nước bạn rất nhiều. Cầu chúc mọi điều tốt lành sẽ đến với Tổ quốc Việt Nam của bạn!”.

Tôi mở ra và nhìn thấy tựa đề “12 điều nhỏ bé mỗi người Philippines có thể thực hiện để giúp ích tổ quốc” (12 little things every Filipino can do to help our country). Tác giả - luật sư Alexander L. Lacson - chỉ là một thường dân, nhưng cuốn sách đã được khá nhiều nhân vật nổi tiếng của thế kỷ 20 quan tâm và giới thiệu. Một website (www.12littlethings.com) cũng được mở ra để mời gọi công chúng Philippines ủng hộ.

1. Hãy tuân thủ luật giao thông. Hãy tuân thủ luật pháp.

2. Khi mua sắm, hãy yêu cầu có hóa đơn chính thức.

3. Đừng dùng hàng nhập lậu. Hãy mua hàng sản xuất tại đất nước mình.

4. Hãy nói tốt và tích cực về đất nước và dân tộc.

5. Hãy tôn trọng cảnh sát giao thông, công an và nhân viên thi hành dịch vụ công.

6. Đừng xả rác bừa bãi. Hãy bỏ rác thải đúng nơi qui định. Hãy phân loại, tái chế rác thải và bảo vệ môi trường.

7. Hãy ủng hộ các quĩ cứu trợ, bảo trợ. Hãy làm việc từ thiện.

8. Hãy tôn trọng và hoàn thành nghĩa vụ bầu cử thật nghiêm túc.

9. Hãy trả lương cho nhân viên một cách công bằng.

10. Hãy đóng thuế.

11. Hãy nhận tài trợ cho một quĩ học bổng hoặc nhận nuôi một đứa trẻ mồ côi.

12. Hãy thực hiện công việc làm cha làm mẹ thật tốt. Hãy dạy con cái biết cách tuân thủ luật pháp và yêu nước.

Đích thân cựu tổng thống Philippines Corazon C. Aquino - người phụ nữ đầu tiên làm tổng thống ở châu Á, được báo Time bình chọn là “nhân vật nữ của năm 1986” - đã viết lời giới thiệu cho cuốn sách như sau: “... nếu như trước đây, sức mạnh của nhân dân dùng để lật đổ kẻ độc tài và làm nên những cuộc cách mạng, thì nay vẫn cần phải được tận dụng để tạo ra công ăn việc làm và lợi ích sinh nhai, phân phát dịch vụ công, mang lại hòa bình và trật tự, cũng như cải thiện cuộc sống mọi người dân... Mỗi người Philippines chúng ta hãy tự hỏi chính bản thân - Tôi đã làm được điều gì cho tổ quốc?”.

Ông Manuel V. Pangilinan là chủ tịch điều hành của First Pacific (một trong những tập đoàn viễn thông hàng đầu nằm trong top Forbes 50 của châu Á), chủ tịch hội đồng quản trị và CEO của PLTD (Công ty Viễn thông Philippines), người được BusinessWeek công nhận là khuôn mẫu cho “các nhà quản trị châu Á thế hệ mới”, được AsiaWeek bình chọn vào top power 50 (50 người có sức ảnh hưởng nhất) của châu Á. Ông đã viết một thông điệp như sau về cuốn sách này:

“Nếu tất cả chúng ta, mọi người dân bình thường, chỉ đơn giản thực hiện được những gì mà Lacson đã viết, chúng ta có thể kiến tạo một Philippines mạnh mẽ, một quốc gia tốt đẹp hơn. Bởi vì nếu chúng ta không làm thì ai sẽ làm đây?”.

Đọc cuốn sách này, tôi thật sự bị thu hút vì những điều đơn giản mà tác giả đã trình bày và biện giải. Những điều đơn giản ấy có thể làm thay đổi ý thức, cách ứng xử và hành động của mỗi thành viên trong xã hội, của mỗi công dân trong một quốc gia.

Hãy tuân thủ luật giao thông. Hãy tuân thủ luật pháp

Bạn có thể thắc mắc vì sao trong tất cả 12 điều nhỏ bé này, việc tuân thủ luật giao thông lại được đặt lên hàng đầu?

Câu trả lời thật đơn giản. Luật giao thông là những nguyên tắc giản đơn nhất trong nền pháp luật của một đất nước. Nhưng khi thực thi được, nó cho thấy đất nước đó có một nền tảng luật pháp vững mạnh. Học cách tuân thủ luật này chính là hình thức căn bản để mọi công dân cùng xây dựng những chuẩn mực cho cộng đồng và xã hội.

Việc làm nhỏ bé này hoàn toàn không làm chúng ta tốn công và tốn tiền, hoàn toàn dễ dàng thực hiện cho mọi người. Đó là vì luật giao thông hiện diện trong mọi mặt sinh hoạt của cuộc sống thường nhật, khi người dân phải ra đường. Chúng ta đối mặt với khoản luật này hằng ngày từ sáng đến tối. Do đó, quyết định tuân thủ hay không tuân thủ luật giao thông chính là điều kiện để tạo ra một môi trường liên tục cho mọi người cố gắng và nỗ lực trong từng ngày. Nếu chúng ta quyết tâm giữ luật giao thông vào hôm nay, chúng ta cũng có thể làm được điều đó vào ngày mai, vào ngày mốt và trong tương lai.

Một ngày nào đó, việc tuân thủ luật giao thông của chúng ta sẽ có thể trở thành một thói quen, và dĩ nhiên, đó là thói quen tuân thủ chuẩn mực của quốc gia.

Một ngày nào đó, việc tuân thủ luật giao thông làm cho chúng ta dễ tuân theo những điều luật phức tạp, khó khăn và quan trọng hơn trong luật pháp nhà nước.

Một ngày nào đó, quyết tâm này có thể xây dựng một thói quen văn hóa biết tôn trọng luật pháp của bất cứ công dân nào trong một đất nước văn minh.

Đó là vì trật tự cũng giống như những bậc thang. Trước khi leo lên được bậc cao nhất, hãy bắt đầu bằng nấc thang thấp nhất, bởi lẽ “cuộc hành trình ngàn dặm nào cũng phải bắt đầu bằng một bước đi nhỏ bé đầu tiên” (trích châm ngôn của Lão Tử).

Tất cả mọi điều vĩ đại trên thế giới này đều bắt đầu từ những thứ nhỏ bé ở đâu đó, ở một khoảnh khắc nào đó trong quá khứ. Tất cả đều bắt đầu bằng một ý thức. Ý thức thật quan trọng, vì chúng sẽ trở thành hành động. Và hành động có thể trở thành thói quen. Và thói quen có thể trở thành một nếp sống. Và nếp sống có thể trở thành định mệnh cho một quốc gia, một dân tộc.

Hãy tôn trọng cảnh sát giao thông, công an và nhân viên thi hành dịch vụ công

Đây là câu chuyện của một người dân ở Manila (Philippines): “Một lần nọ, khi đang lái xe ở Manila, tôi đã bị cảnh sát thổi vì không để ý tấm bảng hiệu giao thông cấm quẹo nhỏ xíu đặt ở góc đường, khuất sau hàng cây. Có bốn tài xế trước tôi cũng bị phạt. Tôi nghe họ đang cãi vã làm viên cảnh sát nổi nóng. Cả bốn người đều bị tịch thu bằng lái. Khi đến phiên mình, tôi lịch sự chào viên cảnh sát: “Good afternoon”. Ông ta thoáng ngạc nhiên, xem tôi có ý định giễu cợt hay không. Tôi đã gọi ông ta là “officer” như cách gọi trân trọng của người Mỹ hoặc người Anh đối với viên chức nhà nước, rồi tôi cũng giải thích một cách lịch sự rằng tôi rất tôn trọng luật pháp và vì bảng hiệu giao thông vừa rồi quá nhỏ nên tôi không để ý. Tôi sẵn lòng chịu phạt, nhưng cũng đề xuất với ông ấy rằng nên thay một bảng báo hiệu lớn hơn để người lái xe dễ nhận thấy từ xa.

Thật đáng ngạc nhiên. Viên cảnh sát không hề phạt tôi hay tịch thu bằng lái. Ông ấy còn gọi tôi là “sir” một vài lần, rồi khuyên tôi lần sau nên đi cẩn trọng hơn. Ngày hôm sau, tôi đã thấy chiếc biển báo giao thông được thay”.

Câu chuyện trên cho thấy sức mạnh của sự tôn trọng phẩm giá con người. Một con người được người khác đối xử đúng với vị trí và trách nhiệm của mình sẽ cảm thấy giá trị được nâng cao. Đó chính là giáo dục cộng đồng sâu sắc.

Hãy suy nghĩ về thói quen mà chúng ta - những người đi đường và bị phạt - thường hối lộ cảnh sát giao thông. Qua hàng loạt bài báo về nạn mãi lộ trên đường, chúng ta thường nghĩ rằng giới cảnh sát phần lớn đều “ăn bẩn”. Tuy nhiên, hãy xem cách mà chúng ta đã làm cho họ bị biến chất như thế nào. Họ đã học thói xấu đó từ chính những người đi đường như chúng ta khi đối xử với họ bằng tiền bạc, chứ không phải bằng thái độ tôn trọng nhân vị.

Các chuyên gia tâm lý đều nhất trí rằng được tôn trọng là một trong những nhu cầu căn bản nhất của con người. Mọi người đều muốn mình được tôn trọng. Mọi người đều muốn mình được công nhận. Mọi người đều muốn được đối xử một cách chân thực.

Vậy, chúng ta hãy đối xử với các công chức nhà nước đúng với trách nhiệm và phẩm giá của họ. Bởi vì khi chúng ta công nhận giá trị của họ, họ sẽ nhận ra giá trị của chính họ, cũng như giá trị của những bổn phận mà họ đang đóng góp cho tổ quốc. Sự tôn trọng đích thực có tầm quan trọng không thể nhận ra ngay được. Bởi vì những gì là thật sự quan trọng, chúng ta không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy bằng trái tim, theo nhà văn Hoàng tử Bé Antoine de St. Exupéry.

NGUYỄN ĐẠT ÂN

Read more...

"Apologize" is very a song







Apologize_Timbaland - Feat_ One Republic

I'm holding on your rope
Got me ten feet off the ground
And I'm hearing what you say
But I just can't make a sound
You tell me that you need me
Then you go and cut me down
But wait...
You tell me that you're sorry
Didn't think I'd turn around and say..

That it's too late to apologize, it's too late
I said it's too late to apologize, it's too late

I'd take another chance, take a fall, take a shot for you
And I need you like a heart needs a beat
(But that's nothing new)
Yeah yeah

I loved you with a fire red, now it's turning blue
And you say
Sorry like the Angel Heaven let me think was you,
But I'm afraid

It's too late to apologize, it's too late
I said it's too late to apologize, it's too late
Woahooo woah

It's too late to apologize, it's too late
I said it's too late to apologize, it's too late
I said it's too late to apologize, yeah yeah
I said it's too late to apologize, a yeah

I'm holding on your rope
Got me ten feet off the ground...

Read more...

Yêu có cần sự dũng cảm?



Yêu ư? Yêu chẳng cần dũng cảm gì cả. Chỉ cần lòng kiên trì, sự galăng, một chút tài lẻ, khéo ăn khéo nói và có cái ví dày dày chứ tuyệt nhiên không cần dũng cảm đâu. Khi yêu, bạn chỉ cần mua hoa đến tặng người mình thích. Và nếu nàng không nhận, lúc ấy tính kiên trì của bạn phát huy tác dụng.






Bạn có thể cầm hoa đứng trước hiên nhà nàng hàng giờ đồng hồ, bật tắt cái bóng điện trước ngõ để làm tín hiệu đến khi nào nó cháy rụi. Với sự kiên trì như vậy không cô gái nào có thể cầm lòng được. Rồi bạn sẽ phải dùng đến khả năng ăn nói và hàng tấn lời vàng ý ngọc để mời được cô ấy đi chơi, đi ăn tối, đi xem phim. Khi nàng e ấp gật đầu thì bạn lại phải lẩm nhẩm trong đầu rằng liệu mình có mang đủ tiền không?

Tới khi nàng đã yêu bạn rồi, bạn chỉ việc mua hoa đến tặng nàng vào mỗi tối thứ bảy, nhắn tin hằng ngày, gọi điện hỏi thăm, viết thư điện tử cho nàng, đưa nàng đi shopping, đi party... Tóm lại: yêu không cần sự dũng cảm!

Nhầm to! Yêu cần dũng cảm, thậm chí là cực kỳ dũng cảm ấy chứ. Khi bạn thích một cô gái thật lòng, bạn thường ngượng ngùng lúc đứng trước cô ấy, bạn gãi đầu gãi tai, mồ hôi chảy ra như tắm, tim đập thình thịch, còn miệng ấp a ấp úng.

Lúc đấy chẳng mấy anh chàng dám đứng hiên ngang nói chuyện chứ đừng nói là thốt được ra ba từ vô cùng đơn giản nhưng đầy ý nghĩa là: "Anh yêu em" hoặc "Tớ thích cậu". Vì thế bạn phải rất dũng cảm để vượt qua chính mình trong một buổi tối đẹp trời trăng sao đầy đủ cả để thốt lên ba từ thiêng liêng ấy. Giây phút ấy, với chính bạn, chiến thắng còn vẻ vang hơn cả việc một anh hùng ôm bộc phá lao vào đồn giặc chẳng hạn!

Nếu hoàn cảnh hai bạn éo le giống… phim Hàn Quốc - không môn đăng hộ đối, bị thầy bói gièm pha, lòng dũng cảm của bạn lại được thể hiện khi gia đình một trong hai bên ngăn cấm mối tình hai người. Đa số những người trong hoàn cảnh này thường bỏ cuộc vì sợ bố mẹ, điều tiếng họ hàng và thiếu lòng dũng cảm. Chính lúc này tình yêu rất cần lòng dũng cảm để đối mặt với thế lực gia đình, để cùng nhau bảo vệ tình yêu mà đối với các bạn là chân chính. Trong "cuộc chiến" này, bạn phải đấu tranh với chữ hiếu, với tình thương yêu của cha mẹ… Đau đớn đến buốt lòng. Ai bảo tình yêu không cần sự dũng cảm?

Và bạn cũng thật sự dũng cảm trong tình yêu khi dám đối mặt với định kiến. Khi bạn yêu một cô gái và biết rõ cô ấy có quá khứ lỡ lầm. Yêu mà không phải bịt tai, bịt mắt, thu mình lại và vờ vịt lờ tịt dư luận đang xầm xì vo ve về người yêu của mình. Yêu bằng trái tim dũng cảm chứ không phải bằng trái tim từ bi hỉ xả của những người làm từ thiện. Vì cô ấy đang rất cần sự dũng cảm của bạn để làm vũ khí chống lại bóng đen của quá khứ. Bởi thế, tình yêu rất cần sự dũng cảm để vượt qua miệng lưỡi cay độc của người đời và làm người mình yêu trở nên mạnh mẽ hơn.

Chỉ cần một vài ví dụ nhỏ đã thấy rằng: ai cũng rất cần dũng cảm trong tình yêu và thời nào cũng thế! Sự dũng cảm của bạn không cần cơ bắp để đánh nhau, không cần túi tiền nặng để chứng tỏ tài chính, càng không cần vẻ điển trai để hỗ trợ kỹ thuật...

Chỉ cần bạn biết yêu và hiểu thấu đáo được rằng: "Yêu là không bao giờ phải nói lời ân hận". Đừng để nỗi ân hận vò xé mình suốt phần đời còn lại vì đã không dũng cảm bảo vệ được một trái tim, và vì không vượt qua được những yếu đuối của chính mình!


Mỹ bịa đặt sự kiện Vịnh Bắc Bộ 1964

Hơn 30 năm sau khi cuộc chiến tại Việt Nam kết thúc, một tài liệu mới giải mật của Mỹ khẳng định Việt Nam không hề tấn công tàu chiến Mỹ ở Vịnh Bắc Bộ hồi tháng 8 năm 1964, sự kiện đã khiến Tổng thống Lyndon Johnson quyết định leo thang cuộc chiến.

Theo AFP, tài liệu này, vừa được Ủy ban An ninh Quốc gia công bố, kết luận hải quân Việt Nam không hề tấn công khiêu khích tàu chiến Mỹ ở Vịnh Bắc Bộ đêm 2/8/1964 như chính quyền ông Johnson đã dựng lên để lấy cớ phát động chiến tranh chống phá miền Bắc Việt Nam.

Trước đó, hồi tháng 12/2005, Cục An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) cũng từng giải mật tư liệu cho thấy tình báo Mỹ đã làm sai lệch thông tin để hậu thuẫn cho lời cáo buộc Việt Nam tấn công tàu khu trục Mỹ ở Vịnh Bắc Bộ năm 1964.


Việc giải mật các tài liệu trên đã được Ủy ban An ninh Quốc gia - Cơ quan phụ trách việc phá mật mã và các cuộc nghe trộm điện thoại của Mỹ - tiến hành sau khi có đề nghị liên quan tới những thông tin buộc phải giải mật.

Không hề có

Bản báo cáo Spartans in Darkness (tạm dịch là Biệt kích trong Bóng tối) dài 500 trang của Hiệp hội Khoa học Mỹ nêu rõ: "Thông tin giải mật cho thấy không những không đúng như Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara tuyên bố với Quốc hội Mỹ rằng bằng chứng của vụ tấn công là không thể luận cứ, mà trái lại các thông tin tình báo chứng minh rằng không có vụ tấn công nào trong đêm đó".

Hãng tin AFP dẫn thêm lời ông Steven Aftergood, Giám đốc Dự án về Bí mật chính phủ của hiệp hội này, rằng điều mà "nghiên cứu này cho thấy là những thông tin tình báo có được chứng tỏ không hề có vụ tấn công nào. Đây là sự đảo ngược hoàn toàn các chi tiết lịch sử".

"Trước đây, đã có những dấu hiệu về chuyện này, nhưng đây là lần đầu tiên chúng ta có một nghiên cứu đầy đủ", ông Aftergood nhấn mạnh.

Mỹ cũng từng cáo buộc Việt Nam đã tấn công tàu chiến Mỹ lần hai vào ngày 4/8/1964 nhưng lâu nay, người ta khẳng định rằng đây chỉ là sự "thêu dệt".


Máy bay B52 của Mỹ đánh bom miền Nam Việt Nam. Ảnh AFP.

Cũng theo tài liệu trên, các đơn vị tình báo của quân đội Việt Nam đã thành công trong việc thâm nhập hệ thống liên lạc của Mỹ và họ có thể theo dõi hoạt động truyền các thông điệp trong phạm vi nội bộ của đối thủ. Không những thế, trong một số trường hợp, quân đội Việt Nam còn sử dụng mạng lưới phát thanh để tạo ra các cú điện thoại giả, gọi lực lượng pháo binh và không quân Mỹ tấn công vào chính căn cứ quân sự của mình.

"Đó là điều tôi chưa từng nghe thấy trước đó", ông Aftergood thừa nhận.

Sau những tuyên bố của chính quyền Johnson thời bấy giờ về các vụ tấn công của miền Bắc Việt Nam, Quốc hội Mỹ đã thông qua Nghị quyết Đông Nam Á, cơ sở để Nhà Trắng quyết định đưa thêm quân vào Việt Nam.

Hơn 58.000 lính Mỹ sau đó đã thiệt mạng và cuộc chiến kéo dài cho tới năm 1973 khi Mỹ rút quân theo Hiệp định Paris.

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ và hồ sơ về vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq gần đây đã làm dấy lên làn sóng kêu gọi các nhà báo Mỹ đặt câu hỏi nhiều hơn về những thông tin mà giới chức trong chính phủ nước này đưa ra.
(Theo VNN)

VN có bao nhiêu GS, PGS trình độ quốc tế?


GS Hoàng Tụy sinh ngày 17/12/1927 tại Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng Nam. Ông là một trong những GS Toán học nổi tiếng của nước ta.

Ngày 12/1, Bộ GD-ĐT sẽ tổ chức lễ công nhận chức danh cho 54 giáo sư mới phong năm 2007. Trong khi các nước rất cẩn trọng trong công tác này thì chúng ta lại có cách làm... chẳng giống ai. GS Hoàng Tụy đã nói về vấn đề phong GS, PGS hiện nay của nước ta.

Năm 2007, Việt Nam có thêm 54 người được phong hàm GS và 445 người được phong PGS. Tính cả số mới được công nhận, đến nay cả nước đã có gần 6.600 GS, PGS.

Có 613 ứng viên trong đợt xét công nhận chức danh GS, PGS đợt này. Trong đó có 80 ứng viên cho chức danh GS, 533 ứng viên cho chức danh PGS. Số ứng viên tập trung đông nhất vẫn là ngành Y và Kinh tế.

Khoảng trên 60% ứng viên cho chức danh GS, PGS đang giảng dạy trực tiếp tại các trường ĐH, CĐ, gần 30% làm việc tại các viện nghiện cứu, chỉ có 10% đảm nhiệm công việc quản lý và các việc khác.



20% GS, PGS xứng đáng với chức vụ này

Từ 1976, Nhà nước đã có chủ trương tiến hành phong GS, PGS để tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo chức đại học, nhưng mãi đến 1980 mới có đợt phong đầu tiên. Trong đợt này, phần lớn những người xứng đáng đã được phong, nhưng điều không hay là có khá nhiều quan chức mà công tác và trình độ rất xa lạ với chức danh GS cũng được phong dù.

Nguyên nhân là do ngay từ đầu cái từ “học hàm” đã làm cho nhiều người xem GS, PGS là một phẩm hàm, một danh vị, chứ không phải một chức vụ cụ thể. Quan niệm sai lầm này tồn tại dai dẳng cho đến ngày nay vẫn chưa dứt.

Năm 1995, để trấn an dư luận sau một đợt phong GS. PGS nhiều tai tiếng, lãnh đạo Bộ GD-ĐT lúc bấy giờ đã dõng dạc tuyên bố GS, PGS đã được phong hoàn toàn ngang trình độ quốc tế.

Sự huênh hoang ấy đã bị vạch trần ngay vì ai cũng thấy rõ đại bộ phận các vị ngồi trong Hội đồng xét phong GS, PGS đều chưa đủ trình độ quốc tế thì làm sao có thể đánh giá nổi GS, PGS ngang trình độ quốc tế.

Đấy là chưa kể nhiều người được phong không phải căn cứ trên trình độ, năng lực mà chỉ vì có chức vụ cao, như thứ, bộ trưởng. Kết quả là chức danh GS , PGS ở VN ngày càng mất giá trị. Có người nói lạm phát cũng không quá đáng.

Đánh giá nghiêm túc theo chuẩn mực quốc tế, có lẽ chỉ 15-20% số GS, PGS của ta có trình độ thật sự tương xứng với chức vụ đó, theo sự thú nhận của chính ông Tổng Thư Ký Hội đồng Chức danh GS Nhà Nước. Còn lại không chỉ thấp mà có đến hơn 1/3 rất thấp.

Hệ quả là rất nhiều tiến sĩ của ta trình độ không hơn gì cử nhân ở các nước, rất đông PGS của ta không so sánh nổi với trợ giảng mới ra của họ.

Liệu nhận định đó có quá đáng không? Tôi nghĩ làm giáo dục, làm khoa học, nhất là trong thời toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, mà không tuân thủ các chuẩn mực quốc tế thì chỉ chuốc thât bại khi hội nhập. Không phải chỉ thất bại về văn hóa, khoa học mà thất bại về kinh tế trước hết.

Chính vì thế mà mấy năm qua việc xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế mới trở thành đề tài sôi nổi và Nhà Nước cũng phải quan tâm. Mà đẳng cấp của một đại học phụ thuộc trước hết ở chất lượng, trình độ khoa học của đội ngũ GS, PGS của đại học đó, chứ không phải, như có người ngụy biện, phụ thuộc chủ yếu chương trình đào tạo.

Đơn giản vì nếu chỉ cần có chương trình đào tạo tiên tiến là đủ thì chỉ cần du nhập các chương trình đó là hàng chục đại học của ta sẽ lập tức lên đẳng cấp quốc tế ngay.

Chính những quan niệm kỳ lạ, ấu trĩ như trên là một trong những nguyên nhân sâu xa khiến cho đến nay tuy đã hai mươi năm đổi mới mà đại học ta vẫn còn quang cảnh vô cùng nhếch nhác từ việc tuyển chọn GS, PGS cho đến mọi hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học.


Cơ chế tuyển chọn đang loại chính những người giỏi


Điều này thật đáng tiếc, vì trong sự nhếch nhác chung đó vẫn nổi lên những điểm sáng và trong đội ngũ xô bồ giáo chức đại học của ta không thiếu những vị dù theo chuẩn mực nào trên quốc tế cũng rất xứng đáng.

Hơn nữa, trong số này có nhiều người trẻ, đang sung sức, chính họ sẽ làm nên tương lai của nền đại học VN, nhưng thật đáng buồn cho đất nước, họ đang bị “sàng lọc” quái ác bởi cái cơ chế tuyển chọn GS, PGS rất lạc hậu, ấu trĩ, từ hàng chục năm nay không rõ nhằm mục đích gì, nhưng chắc chắn không phải nhằm xây dựng một nền đại học đáp ứng các yêu cầu hội nhập.

Tôi đã nhiều lần phát biểu thẳng thắn về chuyện này. Có lần nhà báo hỏi tôi có nên miễn chức những người đã được phong mà sau một thời gian đã tỏ ra không xứng đáng, hay không? Tôi nghĩ ta khó có thể làm như vậy.

Trước hết với cơ chế hiện nay làm sao biết chính xác ai xứng đáng ai không? Không khéo, như kinh nghiệm trong xã hội ta trong quá khứ, những việc thanh lọc kiểu này rốt cuôc loại ra người ngay thẳng hơn là người không xứng đáng.

Tốt nhất, hãy nên tập trung chấn chỉnh cái tổ chức và cơ chế tuyển chọn GS, PGS cho đúng với các thông lệ quốc tế, để ít ra là những người xứng đáng, nhất là ngưòi trẻ, không bị loại một cách bất công, vô lý như hiện nay.

Có làm được điều đó mới có thể mong chấn hưng giáo dục đại học. Trước mắt, mới mong thực hiện chủ trương đúng đắn của Nhà Nước huy động chất xám người Việt ở nước ngoài về xây dựng quê hương.

Gần đây Bộ GD-ĐT có kế hoạch đào tạo 20 000 tiến sĩ. Trong khi đó, cơ chế tuyển chọn GS, PGS vẫn giữ nguyên xi lạc hậu như cũ (mặc dù lẽ ra, theo quyết định của Thủ Tướng trước đây, đã phải áp dụng cơ chế mới).

Trong đợt phong GS, PGS vừa rồi tôi biết ít ra một trường hợp gây sốc lớn: một nhà toán học trẻ tuổi (36 tuổi) đã được Hội đồng Viện Toán học đánh giá hoàn toàn xứng đáng PGS theo những tiêu chuẩn quốc tế nghiêm túc nhất, nhưng khi đưa lên xét ở Hội đồng TƯ thì bị gạt.

Tôi rất ngạc nhiên khi biêt tin đó, nhất là khi Chủ tịch Hội đồng TƯ không ai khác là chính ông bộ trưởng mà, theo sự hiểu biết của tôi, cũng là người thường không ủng hộ những kiểu tuyển chọn, đào tạo bất chấp chuẩn mực.

Đại học VN chưa có trong bảng xếp hạng




Báo cáo về chất lượng giáo dục đại học (ĐH) VN mới công bố của Bộ Giáo dục - đào tạo cho biết: giáo dục ĐH VN chưa có vị trí trong bảng xếp hạng các trường ĐH hàng đầu thế giới.

*Kết quả xếp hạng "100 trường ĐH hàng đầu khu vực Đông Nam Á" của Webometrics năm 2007 cho thấy: Thái Lan có 41 trường, Myanmar 18 trường, Indonesia 14 trường, Philippines 13 trường, Singapore và VN: bảy trường.

*Còn nếu xét trên phạm vi toàn thế giới thì Webometrics chỉ công nhận bảy trường ĐH của VN với các vị trí xếp hạng như sau: ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM xếp thứ 28 trong ASEAN và thứ 1.920 thế giới; ĐH Công nghệ TP.HCM với vị trí tương ứng là 36 và 2.190; ĐH Cần Thơ: 47 và 2.532; ĐH Quốc gia Hà Nội: 54 và 2.850; ĐH Bách khoa Hà Nội: 62 và 3.156; ĐH Công nghệ: 90 và 4.217; ĐH Quốc gia TP.HCM: 96 và 4.462.

*Trong nhiều bảng xếp hạng giáo dục ĐH của các tổ chức uy tín khác như: tạp chí Times Higher Education Supplement (THES) năm 2007 trong tốp "200 trường ĐH hàng đầu thế giới" thì Nhật Bản có 11 trường, Trung Quốc: sáu trường; Hong Kong: bốn trường, Hàn Quốc: hai trường, Singapore: hai trường, Đài Loan: một trường, VN: chưa có.

Những thiết bị độc đáo của năm 2008


1.Thời của điều khiển bằng cử chỉ

Tiên đoán về một viễn cảnh mà con người điều khiển máy móc bằng giọng nói và đầu ngón tay do Bill Gates đưa ra đã có thật ngay trong CES 2008, khi Sony và JVC đưa đến triển lãm hai sản phẩm điều khiển bằng cử chỉ con người.

Với điện thoại vỏ sò Z555 (ảnh phải) của Sony Ericsson, chỉ một cái khoát tay của người sử dụng, tiếng chuông reo (báo cuộc gọi hoặc báo thức) sẽ ngưng bặt - y chang như trong thế giới phù thủy của Harry Potter. Sở dĩ Z555 làm được như vậy là do nó có gắn một camera.

Tương tự, JVC đưa đến CES 2008 chiếc tivi (ảnh trái) mà bạn sẽ điều khiển nó bằng cách vẫy tay, vỗ tay hay búng ngón tay. Mọi người được chứng kiến việc chiếc tivi đã bật lên khi có người vỗ hay búng ngón tay. Khi tivi đã bật lên, mọi việc khác như chuyển kênh, dò đài, tăng âm lượng cũng đều được thực hiện bằng cử chỉ


2.Loa không dây không thấm nước

Thiết bị gồm loa và bộ truyền tín hiệu ở băng tần 2,4 GHz. Người sử dụng chỉ việc kết nối bộ truyền với các thiết bị chơi nhạc khác qua cổng âm thanh 3,5mm là có thể phát tín hiệu đến hơn 50 loa không dây khác. Loa có công suất 4W cho âm thanh chất lượng stereo. Những người thích đùa có thể thưởng thức âm nhạc dưới nước bằng thiết bị này với giá 40 USD.


3.Màn hình trong kính mát



]



Công ty truyền thông thị giác cá nhân Myvu giới thiệu hai mẫu sản phẩm mới là Crystal 701 và Shades 301 đều có hình dạng kính mát, với giá lần lượt là 300 và 200 USD khi có mặt trên thị trường vào tháng năm tới.

Hai sản phẩm này là một dạng màn hình và khi đeo vào người xem sẽ có một màn hình cine ngay trước mắt trong khi hai tay thoải mái làm việc khác. Với Crystal 701 và Shades 301, người sử dụng có thể xem phim hay nghe nhạc nếu kết nối với các thiết bị cầm tay khác như đầu DVD, điện thoại di động, đầu game...


4.Màn hình cong góc rộng

Hãng Alienware trưng bày tivi màn hình DLP (bộ vi xử lý ánh sáng số) với đèn chiếu OLED (diot phát sáng kết cấu). Tivi này có chiều dài gần 1m và độ phân giải 2.880x900, được xem là ra đời để dành cho các game thủ. Hiện nay công nghệ màn hình DLP với đèn chiếu OLED chỉ đang trong giai đoạn đầu và sẽ còn hoàn thiện trong tương lai.



5.Màn hình plasma lớn nhất thế giới


Hãng Panasonic đem đến hội chợ tivi plasma có màn hình lớn đến 150 inches, tức là đường chéo của màn hình dài đến 3,75m. Để vận chuyển chiếc tivi cao 1,8m, rộng 3,3m và nặng nửa tấn này đến hội chợ, chủ tịch Panasonic Toshihiro Sakamoto cho biết chiếc máy bay duy nhất có thể chứa nó là Boeing 747.




6.Điện thoại phím ảo của Motorola

]
ROKR E8 là điện thoại di động tương thích với Windows Media Player 11, có phím chuyển thẳng sang phần nghe nhạc và thanh trượt để chọn bài nhạc với âm thanh 3D stereo. Khi tắt, màn hình máy đen thui và không còn thấy các phím.

Khi có điện, trên màn hình sẽ hiện ra những phím số ảo. Khi nhấn vào phím ảo của âm nhạc, những phím số sẽ tự động biến mất, thay vào đó là những phím để điều chỉnh nhạc.

Máy có bộ nhớ trong 2GB và có thể sử dụng thêm thẻ nhớ 4GB. Máy sẽ có mặt trên thị trường trong quí 1 năm nay.

Read more...

LỚP 12a3 CÁCH ĐÂY 11 THÁNG..HI

Mai thi CHCSTT...met

Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.



Từ nhiều thế kỷ trước, VN đã có các hải đội Hoàng Sa làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và khai thác quần đảo này. Lớp lớp chiến binh vượt sóng gió biển Đông ghi dấu ấn VN ở đó, và lịch sử đã khắc ghi lòng ái quốc của họ.






Kỳ 1: Đội hùng binh của biển

Người đàn ông xóm chài dẫn tôi men theo con đường lởm chởm sỏi đá quanh năm rì rào sóng vỗ. Ngay tại cửa biển Sa Kỳ, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi này, hiện vẫn còn nhiều người già đang giữ trong ký ức những câu chuyện lưu truyền về hải đội Hoàng Sa.

Vì nước vong thân

Từ đình làng An Vĩnh (đảo Lý Sơn), những người con của Tổ quốc đã đi khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa - Ảnh: Quốc Việt/Tuổi trẻ.
Dõi mắt nhìn ra đại dương xa xăm, ông Nguyễn Văn Tiếu (ngư dân 75 tuổi ở xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh) kể rằng ngày xưa ở vùng biển này có một lăng Hoàng Sa rất trang nghiêm thờ tự những người lính Hoàng Sa ra đi không có ngày về. Đó cũng là nơi mà một phần hải đội Hoàng Sa là trai tráng ở hai làng An Vĩnh, An Hải bên cửa Sa Kỳ thường làm lễ tế trước khi giong buồm xuất quân.

Hàng trăm năm qua, chiến tranh loạn lạc với bao đổi thay thế cuộc đã làm lăng Hoàng Sa ở đây trở thành phế tích. Cổng làng xưa nơi từng tiễn đưa bao đội hùng binh ra biển cũng chỉ còn chút đá vỡ với rêu phong, nhưng con cháu đời sau vẫn không quên công đức tổ tiên mở mang, bảo vệ Tổ quốc. Tiết xuân hằng năm, họ vẫn làm lễ cúng tế ở nơi này để tưởng nhớ linh hồn những hùng binh đã vì nước vong thân.

Tôi lên thuyền ra đảo Lý Sơn. Cùng với vùng cửa biển Sa Kỳ, Lý Sơn chính là rẻo đất giữa đại dương đã từng dâng hiến biết bao trai tráng cho hải đội Hoàng Sa thuở nào. Sử xưa và những gia phả cổ của các tộc họ ở Lý Sơn kể rằng vào khoảng đầu những năm 1600, 15 vị tiền hiền ở vùng cửa biển Sa Kỳ, phủ Bình Sơn cũ đã giong thuyền ra cù lao Ré, tức Lý Sơn ngày nay, để khai khẩn, lập làng.

Bảy vị tiền hiền của các dòng họ Phạm Văn, Phạm Quang, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Võ Xuân, Đặng đã lập làng An Vĩnh. Ở phía đông của đảo, tám dòng họ Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Lê, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn mở làng An Hải. Theo thời gian, các tộc họ này dần sinh sôi đông đúc trên đảo. Rất nhiều trận, họ đã hợp sức chiến đấu anh dũng chống lại nạn cướp bóc của kẻ thù. Rồi khi Tổ quốc cần, họ đã cống hiến những người con ra đi bảo vệ, khai thác biên cương xa xôi trên hải đảo Hoàng Sa.

Ở Lý Sơn, Âm Linh tự thờ tự vong hồn đội hùng binh vẫn còn vững chãi giữa phong ba biển cả. Đình làng Lý Vĩnh, nơi bao lần tế sống tiễn đưa người lính Hoàng Sa ra đi không trở về, đã trở thành phế tích trong chiến tranh đang được phục dựng... Dưới tán bàng đại thụ, cổng làng hướng thẳng ra biển Đông như sẵn sàng đối mặt với quân thù. Hàng cây phong ba làm thành bức tường rào như ý chí kiên cường của đội hùng binh năm xưa.

Ông Lê Hai, 77 tuổi, người chăm sóc hàng cây phong ba và trưởng ban khánh tiết đình làng An Vĩnh, tâm sự rằng từ khi còn nhỏ ông đã nghe ông cố, ông nội nhắn nhủ tâm huyết của tổ tiên bao đời trước: "Con cháu đời sau phải gìn giữ bằng được đình làng cổ này. Bởi đó chính là một trong những nơi từng in dấu chân của các anh hùng trước khi ra biển, hi sinh vì Tổ quốc".

"Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa"

Các cụ già là hậu duệ của những người lính Hoàng Sa rưng rưng đọc lại câu đối ghi nhớ công đức tiền nhân: "Ân đức dựng xây miền đảo Lý. Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa". Những mái tóc đã bạc trắng, những đôi mắt đã mờ nhòa theo thời gian, nhưng không ai kiềm được nỗi xúc động khi nhắc lại chuyện xưa!

Sử liệu cũ trong Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn kể rằng: "Nhà Nguyễn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở An Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa này được cấp mỗi người sáu tháng lương thực. Họ chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển cả ba ngày ba đêm mới đến đảo Hoàng Sa. Họ tha hồ lượm nhặt, tự ý bắt chim, bắt cá làm đồ ăn. Họ nhặt được những đồ như gươm và ngựa bằng đồng, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, ngà voi...

Họ còn lượm những vỏ đồi mồi, những con hải sâm, những con ốc hoa thật nhiều. Đến kỳ tháng tám thì đội Hoàng Sa ấy mới trở về cửa Eo (cửa Thuận An), rồi họ tới thành Phú Xuân trình nạp các vật hạng đã lượm nhặt được. Người ta cân, khám nghiệm và định xong đẳng hạng các sản vật, rồi mới cho đội này bán riêng những con ốc hoa, mai hải ba, hải sâm. Bấy giờ, đội ấy được nhận lãnh bằng cấp về nhà...".

Lần giở lại các sử liệu cũ như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Nam thực lục do các sử thần trong quốc sử quán biên soạn, Việt sử cương giám khảo lược của Nguyễn Thông, Đại Nam nhất thống chí... đều có những trang ghi chép cụ thể về đội Hoàng Sa. Công việc của họ được ghi lại không chỉ là lượm nhặt hải vật, đồ đạc tàu thuyền bị đắm, mà kiêm quản cả đội Bắc Hải cùng làm nhiệm vụ ở Trường Sa và các đảo phía trong Nam. Đặc biệt, đội Hoàng Sa còn làm nhiệm vụ đo đạc thủy trình, canh chừng giặc biển, dựng bia chủ quyền và giữ gìn các hải đảo Hoàng Sa.

Suốt cả buổi tối ngồi đợi trăng lên trên biển Lý Sơn, ông Nguyễn Thanh Tùng, hậu duệ của cai đội Hoàng Sa Nguyễn Tám, cứ miên man tâm sự không dứt với tôi về tiền nhân của mình. Từng là hiệu trưởng trường cấp III trên đảo, rồi làm phó chủ tịch phụ trách văn hóa huyện Lý Sơn, ông đã bỏ rất nhiều công sức sưu tầm, biên soạn tư liệu về những hùng binh trên biển năm xưa.

Theo ông, sở dĩ trai tráng vùng cửa biển Sa Kỳ, mà nhiều nhất là đảo Lý Sơn, được chọn vào hải đội Hoàng Sa vì họ có truyền thống đi biển rất thạo. Ngoài ra, từ đây cũng là nơi có hải trình ngắn nhất để ra quần đảo Hoàng Sa.


Mùa xuân năm 1836, một người VN đã lên thuyền buồm, vượt sóng gió biển Đông, cắm bia chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Tên ông đã được đặt cho chính hòn đảo ông dựng bia.


Trong làn khói hương phảng phất, nấm mộ chiêu hồn của người anh hùng Phạm Hữu Nhật nằm lặng lẽ trên triền đồi Lý Sơn. Cách nay 172 năm, từ chính hòn đảo này, Phạm Hữu Nhật đã giong thuyền ra biển Đông để khẳng định chủ quyền Tổ quốc.


Kỳ 2:Cuộc ra đi hùng tráng

Bia chủ quyền VN ở Hoàng Sa được dựng vào những năm 1930 (ảnh chụp tại phòng lữu trữ tư liệu Hoàng Sa, Đà Nẵng) - Ảnh: V.Hùng chụp lại. Nguồn: TTO
Lần nào ra đảo Lý Sơn, tôi cũng viếng khu mộ gió không hài cốt của những người lính Hoàng Sa thuở nào. Lần này, mộ chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật đã được dời về nằm kế bên khu lăng mộ thủy tổ họ Phạm trông ra biển Đông. Đôi câu đối khắc ghi trên cột đá tưởng nhớ bậc tiền hiền vẫn còn đậm nét: "Tổ tiên khai sáng xây cơ nghiệp. Con cháu đời đời nguyện phát huy". Ngày ngày, người dân Lý Sơn vẫn lên đồi tưới tắm và chăm sóc nơi yên nghỉ của các bậc tiền nhân.

Tôi ngồi lặng nghe các hậu duệ của tộc họ Phạm kể lại chuyện xưa. Trong ký ức truyền lưu từ cha ông họ, Phạm Hữu Nhật vẫn mãi mãi là một anh hùng, dù bây giờ chứng tích hiện vật về ông không còn nhiều nữa. Sử liệu cũ cũng kể rằng năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua chỉ thị cho Bộ Công chuẩn bị việc phái người ra dựng bia chủ quyền ở Hoàng Sa. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 165, đã chép rằng từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tấu vua hằng năm cho cử người ra Hoàng Sa cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền và đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ. Vua Minh Mạng phê trong bản tấu của Bộ Công ngày 12-2-1836 rằng: mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc làm cột mốc...

Phạm Hữu Nhật đã vinh dự được chọn phụng mệnh vua đi khẳng định chủ quyền biển đảo Hoàng Sa. Quyển 6, Đại Nam thực lục chính biên chép: Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo mười bài gỗ làm dấu mốc. Mặt bài khắc chữ: Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh ra Hoàng Sa, xem xét, đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ...

Ngày nay, trong nhiều sử liệu cũ và ký ức của các cụ già ở Lý Sơn vẫn khắc ghi câu chuyện được lưu truyền từ tổ tiên rằng đó là cuộc ra đi hùng tráng. Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật đã dẫn đầu 5-6 chiếc thuyền ra biển Đông. Mỗi thuyền chở khoảng mười người với mười tấm bài gỗ và mang theo lương thực đủ ăn sáu tháng, đi suốt ba ngày ba đêm thì tới bãi Cát Vàng, tức quần đảo Hoàng Sa bây giờ. Cập vào đảo nào, họ cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền ở đảo đó và đo đạc thủy trình, trồng thêm cây cối, thu lượm hải vật, rồi mới về tấu trình hoàn thành nhiệm vụ.

Không ai rõ Phạm Hữu Nhật đã đi bao nhiêu chuyến. Nhưng có một điều chắc chắn rằng lần cuối cùng ông đi mãi không về, nên người xưa ở Lý Sơn đã phải ngậm ngùi an táng ông bằng nấm mộ chiêu hồn không có hài cốt. Tổ quốc cũng khắc ghi công ơn của ông bằng việc đặt tên Hữu Nhật cho một hòn đảo lớn nằm ở phía nam quần đảo Hoàng Sa. Diện tích của đảo rộng khoảng 0,32km2, có nhiều san hô, cây lùm và cỏ tranh. Mỗi năm vào mùa xuân, hạ, con vích biển thường lên đây đẻ trứng, đem lại dấu hiệu sinh tồn cho đảo.

Phạm Hữu Nhật là ai?

Hậu duệ Phạm Thoại Tuyền thắp hương trên mộ anh hùng Phạm Hữu Nhật - Ảnh: Quốc Việt. Nguồn: TTO
Suốt cả buổi chiều, ông Phạm Thoại Tuyền, một trong những hậu duệ đời nay của người anh hùng Phạm Hữu Nhật, dẫn tôi lang thang khắp đảo Lý Sơn để tìm lại dấu tích người xưa.

Thắp nén nhang trên nấm mộ tiền nhân, ông Tuyền xúc động kể rằng ba năm trước đã tình cờ phát hiện tông tích Phạm Hữu Nhật trong chuyến sưu tầm tài liệu để viết hồ sơ di tích đình Bà Roi (Nguyễn Tiên Điều), người được xem như phúc thần của cù lao Ré. Các tài liệu phổ hệ, sắc phong, linh vị... viết bằng chữ Hán Nôm trong nhà thờ của hậu duệ Phạm Văn Đoàn đã nói đến một số người trong tộc họ đi lính Hoàng Sa không về như Phạm Văn Sanh, Phạm Văn Nhiên, Phạm Văn Triều...

Theo ông Tuyền, từ đầu, phổ hệ ghi rõ: Thủy tổ tộc họ Phạm (Văn) tại xã An Vĩnh tên Phạm Văn Tuệ là thế hệ thứ 4 của ông Phạm Văn Nghiêm ở xã Tịnh Kỳ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi có gốc ở Cao Bằng, Bắc bộ. Trong đó, ông Phạm Văn Triều, con của ông Phạm Văn Nhiên và bà Dương Thị Lãng, là thế hệ thứ tư của thủy tổ họ Phạm (Văn) ở cù lao Ré. Và tên Phạm Văn Triều chính là tên húy của Phạm Hữu Nhật. Điều này đã được minh chứng qua linh vị và trên bia mộ cổ có ghi: "Phục vì vong Cao Bình Quận Phạm Hữu Nhật thần hồn chi linh vị sanh Giáp Tý niên 1804, Giáp Dần 1854 tôn điệt phụng tự".

Ngôi nhà xưa nằm khuất trong vườn kiểng của mẹ ông Tuyền là bà Phẩm, một hậu duệ mấy đời của Phạm Hữu Nhật. Năm nay đã 85 tuổi, dòng thời gian làm nhạt nhòa nhiều ký ức, nhưng bà vẫn hào hứng ôn lại công đức tiền nhân. Bà kể khi phát hiện chính xác Phạm Hữu Nhật tức là Phạm Văn Triều, người đã được tộc họ thờ tự lâu nay, bà và các con cháu đã không thể ngủ được vì xúc động. Từ chân núi Hòn Vung, mộ của Phạm Hữu Nhật được di dời về bên lăng mộ thủy tổ họ Phạm (Văn) của mình và cũng gần bên bia tưởng niệm các liệt sĩ Hoàng Sa. Người anh hùng vì quốc vong thân, thi thể trao cho biển cả, nấm mộ chiêu hồn xưa chỉ có đất cát thay người. Buổi lễ đưa vị tiền nhân về nơi an nghỉ, mọi người rưng rưng bốc nắm cát dưới huyệt mộ thay cho hài cốt. Một con thuyền bằng giấy được thả xuống biển ngay trước nấm mộ ông để nhắc mọi người ghi nhớ cuộc ra đi khẳng định chủ quyền Tổ quốc thuở nào.

Không chỉ có tộc họ và chính quyền, người dân trên đảo Lý Sơn, mà nhiều người từ tận những nơi xa xôi trong đất liền cũng lặn lội ra đảo, thắp nén nhang tiễn đưa người anh hùng về nơi yên nghỉ mới. Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã đã cảm khái đề bia trước mộ: "Phạm Hữu Nhật đã đưa binh thuyền đi xem xét, đo đạc, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa. Cũng từ đây trở thành lệ hằng năm.

Sự kiện này là một trong những bằng chứng không thể chối cãi về sự chiếm hữu thật sự của Nhà nước VN tại quần đảo Hoàng Sa! Hoàng Sa đi dễ khó về! Các miếu thờ lính Hoàng Sa cũng như lễ khao lề lính Hoàng Sa hằng năm vào ngày 20-2 âm lịch luôn có linh vị: Phục vì vong Cao Bình Quận Phạm Hữu Nhật thần hồn chi linh vị, là bằng chứng hùng hồn hậu thế khắc ghi công đức Phạm Hữu Nhật cùng các vị vị quốc vong thân để xác lập và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa!".

Trước khi giong thuyền vượt biển Đông, nhiều người lính Hoàng Sa đã quấn vành tang trắng vì biết rằng khó có ngày về. Những người ở nhà cũng làm một lễ tế họ cho trời biển. Họ ngẩng cao đầu ra đi để khẳng định và bảo vệ chủ quyền tổ quốc.

Kỳ 3: Bản hùng ca bất tử


Lớp lớp người đi không về

Mỗi năm ở Lý Sơn đến ngày kỷ niệm hải đội Hoàng Sa ra đi, những chiếc thuyền giấy được thả xuống biển để tưởng nhớ họ - Ảnh: Quốc Việt. Nguồn: TTO
Buổi chiều, ông già ngồi lặng lẽ tưởng nhớ người xưa. Trước mặt ông, nấm mộ gió dài hơn 10m là nơi yên nghỉ của 10 vong hồn người lính Hoàng Sa đã gửi xác thân cho biển cả.

Thắp nén nhang cắm lên đầu mộ, ông tâm sự mình là Phạm Quang Tĩnh, hậu duệ đời thứ sáu của Phạm Quang Ảnh đang yên nghỉ dưới nấm đất nhô cao ở đầu ngôi mộ gió tập thể. Ông là con cháu của Phạm Quang, người đã có công khai lập tộc họ này trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).

Khi mệnh nước cần người hùng dám xông pha đại dương ra quần đảo Hoàng Sa xác lập chủ quyền, Phạm Quang Ảnh được chọn phong làm cai đội lãnh quân ra đi. Rồi đến khi ra khơi, ông cùng hải đội đã đi mãi không về. Con cháu làm nấm mộ chiêu hồn tập thể cho ông cùng 10 người lính của mình.

Đến nay, nấm mộ gió đó vẫn còn được thờ tự nguyên vẹn ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh. Tương truyền ông được phong làm thượng đẳng thần để hộ vệ và ban phúc cho những người vượt sóng gió biển Đông. Một hòn đảo lớn trong nhóm đảo Lưỡi Liềm ở Hoàng Sa cũng được đặt tên Quang Ảnh của ông để ghi nhớ người xưa đã từng đặt chân lên đây khẳng định chủ quyền.

Ông Tĩnh lần giở cho tôi xem các kỷ vật và tài liệu cổ nói về công đức tiền nhân. Trong đó có cả các gia phả, linh vị xưa vẫn còn rõ nét với thời gian. Sử liệu cũ trong Đại Nam thực lục chính biên, đời vua Gia Long, cũng ghi chép rằng: "Tháng giêng năm Ất Hợi (1815), vua Gia Long sai Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình…".

Ngoài cai đội Phạm Quang Ảnh, các tộc họ Phạm ở Lý Sơn còn có nhiều người lần lượt tham gia các hải đội này. Và đa số họ ra đi không về.

Cuối thôn Tây, xã Lý Vĩnh, nấm mộ gió của cai đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết cũng còn nguyên vẹn. Hậu duệ họ Võ dựng cả một nhà thờ người anh hùng xưa. Trong ký ức lưu truyền của các cụ già ở đảo, Võ Văn Khiết được người dân sánh ngang với Phạm Quang Ảnh.

Ông phụng mệnh vua lãnh binh tiến ra Hoàng Sa, không có ngày về. Người đời sau đã thờ cúng ông như một vị thành hoàng đem lại phúc lành cho hòn đảo Lý Sơn. Những dịp ra đảo, ngoài những vị cai đội Hoàng Sa còn lưu đậm chứng tích, tôi được nghe người dân kể nhiều về các bậc anh hùng khác như Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, Phạm Văn Nhiên, Phạm Văn Nguyên...

Trong đó, Phạm Văn Nguyên theo lệnh vua Minh Mạng, vào năm thứ 16 (1835) chở vật liệu ra xây dựng một ngôi miếu chủ quyền trên đảo Hoàng Sa. Quanh miếu, họ còn gieo hạt cây mang theo từ đất liền để đem lại sinh khí cho đảo và dấu hiệu cho tàu thuyền bị nạn biết chỗ vào tránh...

Luật vua ban con trai trưởng được ở nhà thờ tự cha mẹ, các con trai thứ chưa có gia đình đều có thể vào hải đội, việc đó cứ kéo dài nhiều đời vua. Và tộc họ nào ở Lý Sơn cũng nhiều lần quấn vành tang trắng, hiến dâng con cái của mình cho quần đảo ngoài biển xa. Có người cùng chung một hải đội. Có người tiến ra Hoàng Sa trước, người vượt biển Đông sau. Nhưng hầu hết đều giống nhau vì tổ quốc ra đi không về!

Trên đảo Lý Sơn bây giờ, một số trong họ vẫn còn mộ chiêu hồn, linh vị rõ ràng để hậu thế thờ tự, nhưng nhiều người đã phai nhòa dấu vết theo thời cuộc đổi thay. Cả một nghĩa trang mộ gió cũ của những người lính Hoàng Sa nay cũng không còn lại được bao nhiêu dấu vết.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, phó chủ tịch UBND huyện Lý Sơn, kể ngày xưa người Pháp đặt chân lên đây đã ra tay tàn phá rất nhiều, đặc biệt là chứng tích của những anh hùng vị quốc vong thân.

Lưu dấu anh hùng

"Hoàng Sa trời bể mênh mông. Người đi thì có mà không thấy về". Câu thơ tưởng nhớ người xưa vẫn còn truyền miệng ở Lý Sơn đã phần nào nói lên được cảnh tiễn biệt xúc động của những người lính Hoàng Sa thuở nào cũng như hiểm nguy mà họ phải đối mặt.

Phụ nữ VN ở Hoàng Sa. Ảnh chụp trước năm 1940 (ảnh trong album của Pierre Bodin, tuần báo Le Point (Pháp) ngày 4-3-1974).
Sử cũ chép rằng hầu hết hải đội Hoàng Sa đều vượt biển trên những chiếc thuyền câu nhỏ, để tiện luồn lách trong quần đảo có nhiều rạn san hô và bãi đá ngầm hiểm trở.

Đến bây giờ, ngư dân già Võ Hiến Đạt đã gần bước sang tuổi 80 vẫn nhớ mãi lời tổ tiên kể đó là những chiếc ghe bầu được đóng bằng gỗ chò vùng cửa biển Sa Kỳ và ngay trên đảo Lý Sơn mà người xưa hay gọi là tiểu điếu thuyền.

Ghe chỉ rộng khoảng 3m, dài hơn 10m, chở được 10 người. Nương theo chiều gió, ghe căng ba cánh buồm cùng với sức chèo đi khoảng ba ngày ba đêm thì thấy quần đảo Hoàng Sa. Ngoài lương thực, nước uống được mang theo tạm đủ dùng trong sáu tháng, những người lính này còn bắt cá, chim để ăn thêm.

Đặc biệt, từng người lính còn mang theo mình một thẻ bài ghi rõ danh tính, phiên hiệu hải đội, bản quán. Nhưng xúc động nhất là họ chuẩn bị cả chuyện hậu sự cho mình trong chuyến hải trình dài hiểm nguy. Mỗi người một chiếc chiếu, bảy nẹp tre và dây mây để khi chết sẽ bó xác mình, thả xuống biển, mong có ngày trôi dạt về đất quê hương hoặc ghe thuyền nào đó vớt được cũng biết quê quán để chở về.

Buổi chiều dưới bóng Âm Linh tự, nơi đang thờ tự vong hồn những người lính Hoàng Sa xưa, các cụ già trên đảo Lý Sơn đã rưng rưng đọc một đoạn văn tế những người anh hùng vì quốc vong thân: "...Ngoảnh sang đông, ngóng về tây... Tiếng sóng bể Đông trập trùng cuồn cuộn, tưởng niệm dấu thần phương nao mờ mịt. Hồn thiêng xa vời vợi mong được ngày trở về...".

Để yên lòng những hùng binh ra đi khó có ngày về và cho con cháu đời sau không quên công đức tiền nhân, các tộc họ ở Lý Sơn vẫn làm lễ tang, đắp mộ tươm tất cho những người lính gửi xác thân cho biển cả. Dưới nấm mồ, một hình nhân bằng đất sét được chôn thay thi hài người lính. Tấm bia đá cũng được khắc ghi tên tuổi để lưu dấu anh hùng với non sông.

Các hải đội Hoàng Sa giờ không còn nữa, nhưng tinh thần ái quốc của họ cũng như quần đảo Hoàng Sa vẫn mãi mãi khắc ghi trong tim chúng ta.


Kỳ 4: Đời đời không quên
Thời gian đã trôi qua lâu với bao thế cuộc đổi thay, các hải đội Hoàng Sa cũng không còn nữa. Nhưng mỗi năm cứ đến ngày 20-2 âm lịch, người dân ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) vẫn thành kính làm lễ cúng tế để con cháu đời sau mãi mãi không quên những vị hùng binh vị quốc vong thân.


Hiến tế anh linh

Âm Linh tự thờ vong hồn những liệt sĩ Hoàng Sa trầm mặc trong buổi hoàng hôn lộng gió. Tôi theo các cụ già thắp lên bàn thờ nén hương tưởng nhớ người xưa. Hàng trăm năm trước, tại chính ngôi cổ tự này đã từng diễn ra bao buổi lễ tế sống những người lính Hoàng Sa trước khi tiễn họ ra biển. Buổi lễ bi hùng dành cho những người sắp hi sinh vì Tổ quốc đó giờ vẫn đang được tiếp nối.Và hậu duệ đời sau vẫn gìn giữ trang nghiêm những kỷ vật, nghi thức thờ tự người xưa.

Âm Linh tự - nơi thờ vong hồn liệt sĩ Hoàng Sa - Ảnh:Quốc Việt - Tuổi Trẻ
Theo lời kể của tiền nhân còn lưu truyền trong ký ức các cụ già ở đảo Lý Sơn, Âm Linh tự được xây dựng vào thế kỷ 17 tại thôn Tây, xã Lý Vĩnh. Ngôi cổ tự được thiết kế theo hình chữ "công" với nguyên bản lợp bằng ngói âm dương, sau tấm bình phong ngay trước sân vẫn còn tháp thờ khắc bốn chữ "Chiến sĩ trận vong" để tưởng nhớ những người lính đã hi sinh vì Hoàng Sa. Về sau, nơi này còn được phối thờ thêm tiền hiền lục tộc Võ Văn, Võ Xuân, Phạm Văn, Phạm Quang, Lê, Nguyễn đã có công khai phá, gầy dựng tộc họ tại đảo và vong hồn những ngư dân bỏ mình trên biển sau này.

Mỗi năm đến ngày lễ họ ở Âm Linh tự, các lớp hậu duệ ở Lý Sơn vẫn ngâm nga lại những dòng thơ bi hùng truyền miệng về họ:

Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn
Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây...
Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa...

Các cụ già ở Lý Sơn cho biết đó là buổi lễ lớn trang nghiêm và được đông người tham dự nhất ở đây, vì hầu như tộc họ nào trên đảo cũng có nhiều tiền nhân hi sinh vì Hoàng Sa. Thuở xưa, khi cha ông còn giong thuyền đi khẳng định chủ quyền Tổ quốc, buổi lễ này được gọi là khao lề thế lính Hoàng Sa để tế sống họ cho trời biển. Ngày nay, nghi thức lễ vẫn được kính cẩn thực hiện như xưa, nhưng nó đã chuyển sang ý nghĩa tưởng nhớ công đức tiền nhân.

Bắt đầu từ ngày 17-2 âm lịch, nhưng lễ chính diễn ra vào cuối đêm 19 và kéo dài suốt ngày 20-2 âm lịch. Mỗi linh vị cao khoảng 20cm, rộng 7cm ghi tên tuổi những người lính trong tộc họ đã hi sinh. Khi kết lễ, tất cả linh vị này đều được đốt hết và thả tro tàn xuống biển như người lính năm xưa đã bỏ xác thân giữa đại dương.

Trung Quốc đã xâm chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa từ lúc nào?

Năm 1956, lợi dụng tình hình Pháp rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc cho quân đội ra chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa, Đài Loan cho quân đội ra chiếm đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa.

Tháng 1-1974, lợi dụng tình hình Mỹ phải rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc dùng một lực lượng hải quân, không quân quan trọng đánh chiếm nhóm phía tây quần đảo Hoàng Sa khi đó do quân đội của chính quyền Sài Gòn bảo vệ.

Năm 1988, Trung Quốc lại huy động lực lượng không quân, hải quân tấn công chiếm sáu điểm trên quần đảo Trường Sa, từ đó ra sức củng cố các điểm này làm bàn đạp cho những bước tiến mới.

LÊ MINH NGHĨA (cố trưởng Ban biên giới của Chính phủ



Đặc biệt, một con thuyền mã được làm bằng giấy hoặc phên tre, thân chuối cũng được thả xuống biển. Trên thuyền có các hình nhân làm bằng rơm tượng trưng cho người lính. Ngoài ra, trong lòng thuyền còn được đặt một số món như gạo, muối, xôi chè, rượu, nước, củi lửa... là những thứ mà người lính ngày xưa từng mang theo đi làm nhiệm vụ.

Ông Võ Hiến Đạt, người đã tham dự biết bao lễ khao lề thế lính Hoàng Sa trong suốt cuộc đời gần 80 năm của mình, rưng rưng tâm sự rằng buổi lễ không chỉ có ý nghĩa tâm linh. Các hải đội Hoàng Sa đã kết thúc sứ mạng lịch sử của mình lâu lắm rồi, nhưng hằng năm dân đảo Lý Sơn vẫn thực hiện lại buổi lễ này vì muốn con cháu đời sau mãi mãi ghi nhớ hình ảnh tiền nhân đã ra đi và hi sinh vì nước như thế nào.

Trường tồn cùng Tổ quốc

Lần nào ra Lý Sơn, tôi cũng được người dân địa phương dẫn đi thăm các nơi từng in dấu hải đội Hoàng Sa xưa. Gần đây, nhiều di tích đã được Nhà nước và người dân chung tay sửa sang lại. Trên triền núi Hòn Vung, những người thợ xây đang gấp rút hoàn thành tượng đài liệt sĩ Hoàng Sa kiêm quản hải đội Bắc Hải. Đình làng An Vĩnh trông ra biển Đông tiêu điều trong thời cuộc loạn lạc cũng được trùng tu ngay trên nền đất đã từng in dấu chân bao hùng binh trước khi bước xuống thuyền. Các nhà thờ tộc họ có người đi lính, các nấm mộ chiêu hồn không hài cốt cũng đang được thành kính trùng tu.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, phó chủ tịch UBND huyện, tự hào kể rằng mọi người đều đang cố gắng hết sức để Lý Sơn trở thành đảo cho nhân dân cả nước có thể viếng thăm, ghi nhớ công đức của những người lính trong hải đội Hoàng Sa.

Suốt hàng chục năm qua, ông Phạm Thoại Tuyền - hậu duệ của anh hùng Phạm Hữu Nhật - cứ lặng lẽ đi sưu tập những chứng tích còn lại của đội lính Hoàng Sa. Ông cặm cụi sao lại các gia phả cổ, cắt dán những bài báo cũ, nhặt nhạnh từng viên đá, vốc cát vun đắp lên nấm mộ người xưa. Mỗi khi các nhà nghiên cứu viếng thăm quê hương hải đội Hoàng Sa, ông cũng trở thành người dẫn đường tình nguyện bất kể nắng mưa. Ngồi trước linh vị tiền nhân, người đàn ông có gương mặt chai sạm nắng gió biển Đông nói với tôi rằng mong mỏi lớn nhất của ông là có ngày được đặt chân lên quần đảo Hoàng Sa, thắp nén nhang ngay chính nơi tiền nhân đã hi sinh để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Ông Phạm Thoại Tuyền nói: "Dù mai sau những di tích bằng đất đá này có mòn vỡ theo thời gian, những vị hùng binh năm xưa cùng quần đảo Hoàng Sa vẫn trường tồn trong mỗi trái tim người VN".

Không thể bẻ cong sự thật về Trường Sa - Hoàng Sa!

Nguyên nhân dẫn đến việc thiết lập các cơ quan quản lý các quần đảo Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc (vốn là Hoàng Sa và Trường Sa của VN) bắt nguồn từ việc sử dụng các nguồn sử liệu rất mơ hồ để làm nền tảng, cố tình làm sai lệch ý nghĩa của nội dung ban đầu, phần lớn trách nhiệm này thuộc về một số học giả và chuyên gia nghiên cứu hiện đại Trung Quốc.

Tài liệu lịch sử Trung Quốc: không chính thống

Điều dễ nhận thấy là những sử liệu mà các học giả Trung Quốc như Tề Tân (1974 - Thất thập niên đại nguyệt san), Tô Độc Sử (1992 - Trung Quốc biên cương sử địa nghiên cứu quí san) dựa vào để chứng minh và đi đến kết luận về chủ quyền trên hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa đều là các nguồn tài liệu không phải chính sử, hoặc nếu có rải rác đôi câu thì chúng lại nằm ở phần truyện các nhân vật, như trong Nguyên sử, ở truyện Sử Bật (tuy nhiên chi tiết về quần đảo Tây Sa bị hiểu nhầm sang quần đảo Trung Sa).

Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam đời Lê, theo Thiên Nam lộ đồ vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier, có chữ quốc ngữ). Bãi cát vàng trên bản đồ tức là Hoàng Sa - Ảnh tư liệu. Nguồn: Tuổi Trẻ
Lẽ ra các ghi chép để xác định chủ quyền phải nằm ở các mục Địa lý chí (hoặc tương đương) trong các bộ chính sử. Điều chúng tôi lưu ý là Trung Quốc vốn là nơi có truyền thống sử học lâu đời, các biên chép về lịch sử, địa dư luôn liên tục, nhưng trong Nhị thập tứ sử (bộ chính sử được tất cả các triều đại Trung Quốc thừa nhận) tức từ Sử ký ghi chép từ Thượng cổ đến Tần, Hán, cho đến Minh sử; và Thanh sử cảo soạn thời Dân Quốc, ở các mục Địa lý chí đều không đề cập các hòn đảo ở xa hơn đất Nhai Châu, Quỳnh Châu, tức Hải Nam ngày nay. Trong khi ở VN, mặc dù sử liệu có muộn hơn nhưng hầu hết đều nằm trong các bộ sử chính thống do Quốc sử quán nhận chỉ dụ từ triều đình tổ chức biên soạn, như Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục...

Mặt khác, xem trong Quỳnh Châu phủ chí (tức tương đương Hải Nam tỉnh chí ngày nay) do Quận thú Tiêu Khánh Thực tổ chức biên soạn vào năm Càn Long thứ 39 (1774), trong quyển 3, phần Dư địa chí, mục Cương vực, thấy chép: "... nam tắc Chiêm Thành; tây tắc Chân Lạp, Giao Chỉ; đông tắc Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc tiếp Lôi Châu phủ Từ Văn huyện" (nam là Chiêm Thành; tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc giáp huyện Từ Văn, phủ Lôi Châu). Đoạn văn hành chính về tứ cận này cho thấy Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường (tức Tây Sa và Nam Sa theo cách nghĩ và gọi của Trung Quốc ngày nay) còn là một nơi chưa rõ chủ quyền và ngoài lãnh hải Trung Quốc.

Nên lưu ý rằng ngoài Nhị thập tứ sử, các Thông chí của các tỉnh, phủ, huyện đều là những nguồn tài liệu chính thống và luôn có giá trị tối ưu trong việc trích dẫn và sử dụng đối với các vấn đề lịch sử (sử liệu từ Quỳnh Châu Phủ Chí này, tôi chưa thấy các nhà nghiên cứu Trung Quốc và VN sử dụng).

Địa dư, địa đồ khẳng định Tây Sa, Nam Sa nằm ngoài Trung Quốc

Quân đồn trú Pháp - Việt chào cờ trên đảo Hoàng Sa. Ảnh chụp tại phòng lưu trữ tư liệu Hoàng Sa, Đà Nẵng - Ảnh: V.Hùng chụp lại. Nguồn: Tuổi Trẻ
Theo Cổ kim đồ thư tập thành, bộ bách khoa thư gồm 1 vạn quyển do Thanh triều tổ chức biên soạn, hoàn thành năm Khang Hi thứ 45 (1706), phần Chức Phương điển (sách điển chế về địa đồ các đơn vị hành chính) quyển thứ nhất, các địa đồ số 1, 157, 167 tức Chức Phương tổng bộ đồ, Quảng Đông cương vực đồ, Quỳnh Châu phủ cương vực đồ đều không thấy ghi nhận các quần đảo xa hơn Hải Nam ngày nay.

Mặt khác, xem trong Quảng Đông lịch sử địa đồ tập (Quảng Đông tỉnh, Địa đồ xuất bản xã - 1995) khi trích in lại địa đồ từ sách Quảng Đông thông chí vẽ đời Minh Gia Tĩnh (1522 - 1566) phần hải đảo chỉ đến Quỳnh Châu (tức Hải Nam). Xin lưu ý rằng bức địa đồ này được vẽ sau khi Trịnh Hòa hạ Tây Dương lần cuối cùng (1421) đến 100 năm. Trong 100 năm ấy, Minh triều không đủ thời gian và điều kiện để xác lập chủ quyền (dù chỉ trên bản đồ) đối với các nơi mà họ đã đầu tư thám hiểm ư?

Hầu hết các chi tiết có liên quan đến tên gọi Tây Sa và Nam Sa ngày nay mà địa danh lịch sử được các nhà nghiên cứu Trung Quốc dẫn dụng và qui kết mơ hồ như Thất Châu Dương, Thất Lý Dương, Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường... đều được trích thải từ các sách mà ngay tên sách đã để lộ rõ ý rằng: Sách biên chép về các nước khác, như Giao Chỉ dị vật chí của Dương Phu (Đông Hán); Nam Châu dị vật chí của Vạn Chấn (Tam Quốc); Phù Nam truyện của Khang Thái (Tam Quốc); Chư Phiên chí của Triệu Nhữ Quát (Tống); Hải quốc đồ chí của Ngụy Nguyên (Thanh)...

Các địa đồ hành chính Trung Quốc từ thời Dân Quốc trở về trước không hề có các quần đảo xa hơn Quỳnh Châu (Hải Nam). Vào thời nhà Thanh, các quan lại Trung Quốc dùng câu hải giác thiên nhai (chân trời góc biển) để chỉ trấn Tam Á, huyện Nhai tức là đất cực nam tỉnh Hải Nam ngày nay (theo Địa lý song khẩu - Đương Án xuất bản xã - 1988). Như vậy trong khái niệm của giới cầm quyền địa phương (Quỳnh Châu) và cả trên phương diện pháp lý, các quần đảo mà Trung Quốc nay xác lập chủ quyền thật sự chưa hề có một quá trình lịch sử như các nhà nghiên cứu Trung Quốc gần đây lập luận một cách gượng ép.

Từ việc xử lý sử liệu một cách không trung thực và thiếu khoa học, dẫn đến sự không nhất quán về bối cảnh, thời gian và không gian mà các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đưa Chính phủ nước họ đến tình trạng đặt để tên gọi các quần đảo ở biển Đông rất không trật tự. Quan sát bản đồ Trung Quốc hiện nay có thể đặt một câu hỏi rằng: các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa được xác định dựa trên hệ qui chiếu nào so với lục địa?

Nếu lấy Bắc Kinh làm trung tâm thì Tây Sa phải ở hướng Tân Cương, Tây Tạng hoặc Vân Nam. Nếu lấy tỉnh lỵ Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông làm trung tâm, thì cả Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa đều chỉ dọc về hướng nam, làm sao chính danh được? Còn như muốn lấy Trung Sa làm trung tâm đúng như tên gọi của nó, thì quần đảo Đông Sa phải gọi là Bắc Sa mới phải vì nó nằm ở hướng bắc so với Trung Sa.

Về phương diện sử liệu, các học giả Trung Quốc ngày nay đã để lại quá nhiều tồn nghi do cố tình sử dụng sai phương pháp sử học hiện đại. Sử liệu địa dư, phương chí và địa đồ cổ trong kho tàng văn hiến Trung Quốc tính đến cuối đời Thanh chưa từng thể hiện sự xác nhận chủ quyền đối với các quần đảo trên biển Đông ngoài Hải Nam. Trong khi đó, từ đời nhà Lê của VN, địa đồ chính thống Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư thời Hồng Đức đã xác định sự hiện diện của quần đảo Hoàng Sa. Và Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ khoảng năm 1834 (thời Minh Mệnh) đã ghi nhận các quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa thuộc VN.

Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân (Tuổi Trẻ)

Read more...

Những công nghệ hay nhất của năm 2007



Đó là các công nghệ ảo hoá, chuẩn không dây mới, công nghệ nano, linux, giao tiếp hợp nhất, video hội họp...


1. Ảo hóa

Ảo hóa là động lực thúc đẩy sản lượng và doanh thu của các nhà cung cấp giải pháp. Công nghệ này có thể triển khai cho rất nhiều lĩnh vực, từ máy chủ tới lưu trữ và ứng dụng. Đây cũng được coi là thay đổi công nghệ mới nhất từ thời kỳ bùng nổ “dot.com”.

2. Giải pháp thay thế Microsoft Office

Có rất nhiều các giải pháp thay thế Microsoft Office như Google Apps, Webex Web Office, Zoho, Zimbra, và phiên bản Open Office chạy trên trình duyệt của Ulteo. Đa số các ứng dụng đều miễn phí nhưng lại có rất nhiều tính năng tương tự như Microsoft Office.

3. Chuẩn không dây tốc độ cao 802.11n

Được coi là “siêu nhân” trong tất cả các chuẩn không dây, tốc độ chuẩn 802.11n nhanh hơn bất cứ một chuẩn không dây hiện tại nào. 802.11n giúp mở ra nhiều cơ hội mới cho các nhà cung cấp giải pháp, và mang lại cho khách hàng một giải pháp “tất cả trong một”. Người dùng sẽ có cảm giác như đang sở hữu một đường thuê riêng ISDN.

Các nhà cung cấp giải pháp như Cisco và Menu đã tung ra những sản phẩm tích hợp công nghệ 802.11n. Tốc độ của chúng là một đột phá lớn – dao động từ 100 – 200Mbps, và trong một số trường hợp còn lên tới 600Mbps. Được biết, tốc độ của chuẩn 802.11g cũ chỉ đạt 54Mbps.

4. Giao tiếp hợp nhất

Mặc dù từng bị thổi phồng nhưng sự tiết kiệm chi phí và tính hiệu quả không phải là không có. Nortel đã phát triển một số công nghệ dành cho lĩnh vực này. Còn Microsoft thì đã có các động thái rất tích cực. Và Cisco cũng không muốn bỏ lỡ cơ hội này.

Điều này có nghĩa sẽ có rất nhiều sản phẩm lớn dành cho thị trường lớn. Những sản phẩm đó có thể đáp ứng nhu cầu người dùng bất cứ lúc nào: ngày và đêm, 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày một tuần. Sẽ có những cải tiến lớn trong cách thức tổ chức, quản lý cuộc gọi, giúp tạo ra hiệu quả cao nhất.

5. Video hội họp



Mặc dù đã có từ nhiều năm qua nhưng hình thức video hội họp vẫn chưa thực sự phổ biến, một phần là do sự khác biệt về văn hóa. Tuy nhiên, giờ đây công nghệ này đã tốt hơn rất nhiều, và thực tế cho thấy nó giúp khách hàng tiết kiệm khá nhiều thời gian, đặc biệt là những công ty có nhiều trụ sở riêng lẻ ở nhiều nơi khác nhau.

Thực tế thì không phải ai cũng cần tới hệ thống tốn kém chi phí như Star Trek (Cisco), mà có thể là Scotty TelePresence. Nói chung là có rất nhiều lựa chọn dành cho công nghệ này.

6. Công nghệ nano


Bạn đã nghe nhiều về khái niệm này, chẳng hạn như những chiếc máy tính sẽ có kích thước chỉ bằng một chiếc nút bấm. Quả thực các bộ xử lý x86 đang được nhúng vào tất cả những ứng dụng và sản phẩm hàng ngày với một tốc độ chóng mặt. Điển hình cho xu hướng này là Via Technologies, hãng đã phát triển rất nhiều bộ xử lý x86 cho các thiết bị nhúng, sản phẩm di động và phân khúc thị trường điện tử tiêu dùng.

7. Sao lưu dữ liệu

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã đến lúc cần coi trọng giải pháp sao lưu và khắc phục thảm họa. Các ứng dụng backup bằng đĩa cứng cùng phần mềm nhân bản đang rất “hot”. Những phần mềm nén và nhân bản dữ liệu kết hợp trực tiếp với ứng dụng phần mềm backup đã tạo ra cơ hội tuyệt vời cho những nhà cung cấp sản phẩm giá trị gia tăng. Điển hình là sản phẩm của hãng Exagrid.

8. Thời của Linux
Bạn có thể duy trì công việc kinh doanh mà không cần phần mềm Microsoft hay không? Câu trả lời là hoàn toàn có. Ngoài môi trường máy chủ Linux chuyên nghiệp, thì những ứng dụng nguồn mở dựa trên nền tảng Linux cũng có sẵn, chẳng hạn như OpenOffice.org với gói ứng dụng phần mềm văn phòng, có chức năng không thua kém gì Microsoft Office.

Eric Berridge, đồng sáng lập và là CEO của Bluewoft, một trong những hãng tư vấn phần mềm hàng đầu tại Mỹ, cho biết công ty của ông đã sử dụng Google Apps và tiết kiệm được rất nhiều chi phí mà không làm giảm hiệu quả kinh doanh.

9. Chất lượng màn hình được nâng cao
Chất lượng màu của các loại màn hình LCD và LED ngày càng được cải thiện. Những chiếc màn hình LCD truyền thống hiện tại chỉ có thể tái tạo được 70-80% gam màu NTSC, nhưng sang năm 2008 sẽ được cải thiện rất nhiều.

Chẳng hạn, tất cả màn hình LCD của ViewSonic sẽ hỗ trợ tính năng cải thiện chất lượng màu. Dòng màn hình LCD VP của hãng này (dành cho khách hàng doanh nghiệp) có thể tái tạo tới 110% gam màu NTSC. Chưa hết, ViewSonic còn dự kiến giới thiệu một loại màn hình LED mới có thể tái tạo 118% gam màu NTSC.

10. Máy in định dạng lớn

Thực tế cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí nếu sử dụng loại máy in định dạng lớn, chất lượng cao, chẳng hạn như của HP và một số hãng khác.

Read more...

Giáo dục Việt Nam.

GS Nguyễn Lân Dũng:SGK nước mình chẳng giống ai
"Tôi là người gắn bó với giáo dục 51 năm, không có lý gì tôi lại không quan tâm tới giáo dục. Những bức xúc trong giáo dục luôn gắn liền với tôi. Và tôi phát biểu với tinh thần xây dựng, đóng góp cụ thể cho giáo dục. Có quá nhiều bất cập khiến tôi không thể quay lưng lại".


Trong cuộc trò chuyện cuối năm với VTC News, GS Nguyễn Lân Dũng tâm sự, năm 2008, ông dự định vẫn tiếp tục nói để Quốc hội hiểu rằng chương trình và SGK của nước mình... chẳng giống ai.


Chủ tịch Liên đoàn Vi sinh vật học quốc tế chúc mừng GS Nguyễn Lân Dũng khi Việt Nam gia nhập liên đoàn này


GS Nguyễn Lân Dũng là đại biểu quốc hội 3 khóa liền. Ông cũng là một người gắn bó với giáo dục 51 năm. Kỳ họp Quốc hội nào, người ta cũng thấy ông đứng lên chất vấn Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về chương trình và sách giáo khoa (SGK).

Ngồi hàn huyên cuối năm với ông, thấy rằng ông vẫn đau đáu với những bức xúc này. Ông tâm sự: "Đó cũng là hai việc mà tôi đã thất bại trong năm nay. Năm 2008, tôi dự định vẫn tiếp tục nói để Quốc hội hiểu rằng, chương trình và SGK của nước mình chẳng giống ai".

Ý kiến của tôi luôn khác!

* Thời gian vừa qua, đã có rất nhiều biện pháp mạnh tay của Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân nhằm chấn chỉnh lại những bất cập trong ngành giáo dục. Ông có kỳ vọng vào những biện pháp đó?

- Tôi rất thông cảm với đồng chí Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân. Tôi cũng mong đồng chí chia sẻ với những điều tôi nói.

"Tôi là người gắn bó với giáo dục 51 năm, không có lý gì tôi lại không quan tâm tới giáo dục. Những bức xúc trong giáo dục luôn gắn liền với tôi. Và tôi phát biểu với tinh thần xây dựng, đóng góp cụ thể cho giáo dục. Có quá nhiều bất cập khiến tôi không thể quay lưng lại".

Bộ trưởng muốn chống tiêu cực trong giáo dục bằng cách không gian lận trong thi cử. Kết quả là 40 vạn em trượt, gây một hậu quả rất lớn: phanh gấp đổ xe. 40 vạn em này ra đời không mảnh bằng trong tay, phải cấp cứu bằng biện pháp thi lại, vớt hơn ½. Như vậy, chẳng phải là quay trở lại bệnh thành tích?

Lúc đầu, Bộ bảo chỉ cho thi lại một năm thôi, bây giờ lại bảo năm nay cũng thi lại, năm sau cũng thế. Chính chúng ta lại mâu thuẫn: muốn chấn chỉnh nhưng lại sợ khó khăn cho xã hội.

Chủ trương "2 không" rồi đến "4 không" dẫn đến hậu quả học sinh bỏ học rất đông. Chưa bao giờ tôi thấy con số nhập học ở bậc tiểu học, THCS thấp như năm nay. Rất nguy hiểm.

* Ông vẫn đang là đại biểu Quốc hội, ông vẫn có thể góp ý cho Quốc hội, cho Bộ trưởng?

- Còn nhiều vấn đề tôi không đấu tranh được. Cái thứ hai tôi thất bại là chương trình và SGK. Quốc hội nghĩ đơn giản là: một cuốn còn chẳng ra gì nữa là nhiều cuốn. Thế nhưng, nếu tôi không nhầm, không có nước nào có một cuốn SGK.

SGK là chuyện của các nhóm tác giả, của các nhà xuất bản chứ không phải là của nhà nước. Có người lo thế thì loạn. Nhưng tôi xin thưa, làm kem đánh răng phải có các tiêu chuẩn kỹ thuật, do Bộ Y tế ban hành. Làm SGK phải có chương trình. Chương trình mới là cái quan trọng. Còn SGK lúc đó không thành vấn đề. Ai làm SGK tốt, đọc dễ hiểu, dễ nhớ, vui thì người dân học mua.

Chính vì chương trình hiện nay của ta rất bất cập, vừa nặng vừa thiếu kiến thức nên chưa thể làm chỗ dựa cho SGK.

Hiện nay, đang có một cuộc cải cách chương trình lớn trên thế giới. Riêng nước ta, lại theo chương trình của Liên Xô cũ, chỉ cải tiến một chút ít. Chúng ta nhầm là thời đại kỹ thuật số, mọi thông tin đều có thể cập nhật dễ dàng. Không có lý gì chúng ta đi học sản lượng than của Ba Lan, bắt học sinh phải nhớ từng cái tên gọi của xương…

Tôi cảm thấy tôi chưa góp sức làm thay đổi được tình cảnh giáo dục, chưa phản ánh hết được những bức xúc của xã hội về giáo dục. Tôi thấy rất đau lòng, nếu SGK như thế này mà chúng ta tuyên bố ổn định 15 năm.

* Mấy năm vừa qua liên tục đổi sách, nhân dân và Nhà nước đã tốn không ít tiền rồi, bây giờ nếu Bộ trưởng đồng ý với quan điểm của ông, tuyên bố chương trình sai, viết lại SGK hẳn sẽ vấp phải sự phản đối quyết liệt.

- Tôi thông cảm với Bộ trưởng, nhưng kiến nghị của tôi lại khác: Vì thế hệ tương lai, vì ngành giáo dục, phải viết lại chương trình và SGK. Nhưng chúng ta sẽ không bán mà cho mượn SGK. Tôi tin là Chính phủ sẽ giảm rất nhiều tiền của, vì một bộ SGK dùng được nhiều năm.

* Vì sao người ta không làm được một việc tưởng rất dễ dàng như ông nói?

- Vì người ta nghĩ nhiều đến kinh doanh bằng SGK.

Tôi chỉ là người chuyển đơn

* Từ đầu cuộc trò chuyện tới giờ, ông nói khá nhiều về những thất bại của ông trên nghị trường. Chẳng lẽ ông không thu lại được gì, chưa làm được gì cho ngành giáo dục?

- Tôi cũng có làm được một số việc nhưng “dương tính” là ít lắm. Nhưng tôi tự hào nhất là đã thuyết phục được lãnh đạo để thành lập viện nghiên cứu ngay trong các trường đại học. Tôi không thể kéo tất cả vào các viện nghiên cứu vào các trường ĐH mà đã đưa viện của tôi vào trường. Ban đầu tôi chỉ xin 2 triệu USD, nhưng Bộ trưởng bộ Tài chính đã cho hẳn 3 triệu USD.



* Xin chúc mừng ông! Vậy trên cương vị là người đại biểu quốc hội, ông đã làm được gì cho dân?

- Tôi chỉ là người chuyển đơn của người dân đến cơ quan chức năng. Có những đại biểu tỉnh khác cũng đến nhờ tôi. Tôi hỏi tại sao họ không gửi cho đại biểu tỉnh họ mà gửi cho tôi thì họ trả lời: Gặp đại biểu quốc hội tỉnh họ khó lắm.

Tôi cũng rất buồn là nhiều lần tôi gửi thư đi, cơ quan chức năng “nể” tôi, có thư trả lời, kiểu như: Cảm ơn giáo sư đã quan tâm đến công tác pháp luật. Chúng tôi đã xem xét hồ sơ và thấy việc này không đáng để phúc thẩm. Nhưng người dân kiện lại là kiện hồ sơ làm sai, ông xem lại hồ sơ để làm gì, phải xem lại cả vụ án chứ.

* Ông có thấy mình thiếu quyền lực để thực hiện những dự định của mình, nhưng nguyện vọng của dân?

- Tôi chả thấy mình có quyền lực gì, ngoài việc chuyển đơn thư đến nơi có trách nhiệm.

* Năm 2008 đã đến, những dự định đấu tranh cho ngành giáo dục của ông trên nghị trường vẫn tiếp tục chứ?

- Tôi sẽ thuyết phục Quốc hội thay đổi chương trình và đa dạng hóa nhiều bộ SGK. Lần này, tôi đang nhờ tất cả mối quan hệ của mình, để sưu tầm chương trình sinh học của các nước, từ Mỹ, Pháp… đến Nepal để chứng minh cho Quốc hội thấy, chương trình và SGK của mình chẳng giống ai.

* Xin cảm ơn ông và chúc ông thành công!

Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31