My Opera is closing 3rd of March

Nguyen Phuong

Subscribe to RSS feed

No title

VĂN HỌC VIỆT NAM MƯỜI NĂM CUỐI THẾ KỶ

Ở ta, nền kinh tế thị trường được xác lập muộn. Tuy thế, nó đã diễn ra đúng như quy luật của bất cứ thể chế nào cần phải trải qua quá trình này. Phần khảo sát này chỉ xem xét những tác động cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường đối với hoạt động văn hóa nghệ thuật và chỉ với văn hóa nghệ thuật.
Trước hết là sự xoá bỏ bao cấp đối với các sản phẩm văn hoá.
Tiếp đến là đặt các hoạt động sáng tạo vào quan hệ thị trường. Sản phẩm văn hoá nghệ thuật cũng là một hàng hoá, nó cần và phải được mua – bán tuỳ theo giá trị. Điều này cũng có nghĩa là nghệ thuật được đặt đúng vào mảnh đất nuôi sống nó, tức là công chúng. Công chúng đã và đang trở thành đối tác chủ yếu và đồng thời là lực lượng quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của các hoạt động văn hoá nói chung và sáng tạo văn học nghệ thuật nói riêng.
Nền kinh tế thị trường, tự nó, hình thành một bối cảnh mang tính tất yếu đó là sự cạnh tranh, như người ta thường nói, hết sức khốc liệt giữa những người hoạt động văn hoá.
Có thể xảy ra, và tất yếu sẽ xảy ra tình trạng người tham gia hoạt động văn hoá không từ một thủ đoạn nào để thu hút công chúng vào sản phẩm của mình, tạo một sức mua khả dĩ cho sản phẩm bằng nhiều chiêu thức như tiếp thị, quảng cáo và cả gây scandal... nhằm lancer các sản phẩm văn hoá. Nhưng nền kinh tế thị trường, trên thực tế, chính là một môi trường vô cùng thuận lợi cho việc xây dựng một nền văn hoá nói chung và văn học học nghệ thuật nói riêng thực sự có giá trị đủ để cho nền văn nghệ dân tộc ta có đủ tiềm lực và năng lực gia nhập vào cộng đồng văn học nghệ thuật thế giới.

I. Bối cảnh nền kinh tế thị trường và sự chi phối của nó với văn học:
1. Nền kinh tế thị trường đóng vai trò như một yếu tố chi phối và xếp đặt lại các giá trị.
- Thương mại hóa – tại sao không?
Nhìn một cách sơ lược, đời sống văn hoá đương đại có vẻ như đang nhiễu loạn và càng ngày càng khó kiểm soát và thị trường dường như bị coi là thủ phạm của hiện tượng đó. Đúng là có hiện tượng thương mại hoá các sản phẩm văn hoá ( sách, phim, mỹ thuật, âm nhạc...).Trên các phương tiện truyền thông, chúng ta đã được nghe những lời chỉ trích, phê phán đủ các cung bậc về cái gọi là tình trạng “ thương mại hoá” văn hoá và nghệ thuật. Bất chấp những lời chỉ trích, tình trạng này chẳng những không chấm dứt mà ngược lại, có vẻ như càng ngày càng bành trướng một cách mạnh mẽ hơn. Thực tế là người ta đã chẳng làm thế nào được, khi, các nguồn tài trợ theo kiểu bao cấp đã bị cắt đi. Những người hoạt động về lĩnh vực văn hoá nói chung cũng như những người sáng tạo văn học nghệ thuật nói riêng đều phải bỏ tiền ra và chỉ còn một thứ phao cứu sinh đó là hướng tới công chúng. Sản phẩm văn hoá nghệ thuật cũng như bất cứ sản phẩm nào khác, sinh ra trong nền kinh tế thị trường đếu phải chịu sự tác động khắc nghiệt của quy luật cung - cầu. Tình hình này là của tất cả những quốc gia có nền kinh tế thị trường, không riêng gì nước ta.
Thực tế là, khi tìm hiểu sâu hơn, ta sẽ thấy nền kinh tế thị trường đang dần dần uốn nắn lại và tác động mạnh mẽ vào việc xác định các lộ trình mới cho sáng tạo văn học nghệ thuật. Rõ ràng, trong bối cảnh mới này, sản phẩm nào được công chúng đón nhận, hưởng ứng, tán thưởng thì sẽ tồn tại và ngược lại. Cũng cần phải nói thêm cho rõ là khái niệm công chúng ở đây nhất thiết phải được nhận thức một cách đầy đủ với một quan niệm thoáng đãng, cởi mở và hiện đại.
Trước đây, trong nền kinh tế tập trung – bao cấp, chúng ta dù muốn hay không, cũng đã tạo ra một nền văn học mang tính bao cấp. Mọi sáng tạo đều nhất loạt được chỉ đạo bởi tính định hướng. Kết quả là chủ nghĩa duy ý chí của giai đoạn văn học đã qua với đặc tính nhất thể hóa của nó đã tạo ra một công chúng văn học vì nó và cho nó, nói cụ thể hơn, đó là một thứ công chúng “ thuần chủng”, hết sức thụ động và hoàn toàn phiến diện về nhu cầu thẩm mĩ.
Giờ đây, tình hình đã rất khác. Sẽ bị loại khỏi “ cuộc chơi” những ai không chịu hiểu rằng, sáng tạo văn học nghệ thuật bây giờ là vì công chúng và cho công chúng. Và công chúng giờ đây cũng không còn thuần nhất như trước mà đa dạng, đủ mọi tầng lớp, với nhiều “gout” thẩm mĩ hết sức khác nhau. Người sáng tạo văn học nghệ thuật liệu có thể nào cứ giữ mãi một thái độ quan liêu đối với công chúng như trước?
2. Thương mại hóa có giết chết nghệ thuật đích thực?
Câu trả lời là : không.
Điều quan trọng cần phải nhận thức ở đây là, nền kinh tế thị trường với những đặc trưng riêng của nó, đã mở ra một khung cảnh đầy tính thách thức nhưng cũng rất ngoạn mục để nhà văn có điều kiện được đối diện với một thế giới đa giá trị. Tri giác hiện đại trước thế giới ấy khiến người ta tỉnh mộng trước những bảng giá trị cũ. Và dù, không có được điều đó, không ai có thể cứ an tâm với nhận thức cũ, lối viết cũ mà tồn tại được trong nền kinh tế thị trường. Như thế, cũng có thể nói, nền kinh tế thị trường trên thực tế đóng vai trò xếp lại bảng giá trị. Bảng giá trị này đương nhiên là do những người sáng tạo văn học nghệ thuật tạo ra, nhưng nó được tạo ra trong sự tương tác sâu sắc với nhu cầu tinh thần của công chúng. Công chúng, dù có dễ dãi đến mấy, chắc cũng không sẵn sàng bỏ ra những đồng tiền kiếm được một cách khá khó khăn của mình để chỉ mua về những sản phẩm thứ cấp. Và, cũng như tất cả những sáng tác sinh ra trong các nền kinh tế khác, văn học nghệ thuật trong nền kinh tế thị trường cũng sẽ chấp nhận một sự sàng lọc khắt khe hơn của thời gian nữa. Thời gian một khi là quá trình tất yếu cho sự trưởng thành về nhận thức và thẩm mĩ thì thời gian cũng sẽ đặt định các giá trị đúng với vị trí của nó.

II. Nhận diện một vài đặc điểm của văn học trong nền kinh tế thị trường:

Ngay cả khi nền kinh tế thị trường được xác lập ngày càng toàn diện và sâu sắc thì dòng chủ lưu của nền văn học ta vẫn là một dòng văn học có định hướng, tập trung thực hiện những nhiệm vụ quan trọng mà xã hội giao phó. Điều đáng lưu ý ở đây là chính ngay trong dòng chủ lưu, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, tự nó cũng đã phải xoá bỏ những quan niệm, cách nhìn không còn phù hợp để có thể đáp ứng những nhu cầu ngày một khắt khe hơn của xã hội.
Tuy nhiên, do bối cảnh của nền kinh tế thị trường mà nền văn học đã và đang nảy sinh một số xu hướng mới và, theo chúng tôi đây là những xu hướng cần được quan tâm và suy ngẫm. Trong tầm quan sát của mình, chúng tôi, tạm gọi tên một số xu hướng sau đây:

1.Xu hướng giải ảo, giải thiêng

Nhìn một cách sơ lược, có thể thấy chặng đường mười năm sau chiến tranh là giai đoạn tương tranh, xung đột giữa một bên là những yêu cầu bình thường hóa đời sống con người và một bên là ý chí phát triển kinh tế bằng sự duy trì, tăng cường và áp đặt bằng được mô hình “ chủ nghĩa xã hội nhà nước”. Hậu quả là, một sự rạn vỡ trên nhiều bình diện khiến xã hội Việt Nam lâm vào trạng thái khủng hoảng nặng nề và sâu sắc. Trong đó, một thực tế khá cay đắng bày ra trước mắt những người quan sát và nghiên cứu : những giá trị cũ đã và đang mất chỗ đứng và ảnh hưởng, trong khi, những giá trị mới thì chưa kịp hình thành. Bức tranh kinh tế cũng như bộ mặt tinh thần của xã hội Việt Nam lúc đó cũng như những năm về sau sẽ rất u ám nếu không có sự kiện Đại hội Đổi Mới của Đảng cộng sản ( 15/12/1986 ) với quyết sách : xóa bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, mở cửa tạo điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường.
Trên thực tế, Đổi Mới là một quá trình vừa học vừa sửa và cố gắng cân bằng ổn định với phát triển.
Thành công lớn nhất của Đổi Mới được thể hiện rõ trong sự tăng trưởng kinh tế và biến đổi cơ cấu xã hội.
Quan trọng hơn có lẽ là một không khí thoáng hơn về xã hội và cả chính trị, tạo đà cho người dân Việt Nam tự làm chủ cuộc sống của mình, không bị trói buộc vào cơ chế bao cấp và một thực tiễn kinh tế ngày càng thị trường hóa, với trao đổi hàng hóa, tiền bạc ngày càng lớn.
Về mặt con người, Đổi Mới đã làm sản sinh một thế hệ trẻ Việt Nam khác hẳn trước, năng động trong cuộc sống kinh tế, văn hóa và xã hội dù vẫn bị hệ thống giáo dục trói chân.
Điều đáng lưu ý ở đây là biết bao các giá trị vốn từng trở thành niềm tin vững chắc của công chúng trong một khoảng thời gian dài giờ đây buộc phải đứng trước những thử thách, bị lung lay dữ dội. Thậm chí, chính những giá trị đó tự thấy phải thay đổi hoặc bị đào thải vì đang cản trở sức sống của Việt Nam mà chính Đổi Mới đã mở đường.
Việt Nam, dù không thực thi trực tiếp những quá trình glasnost và perestroika như Liên Xô trước đây nhưng cũng đã thận trọng và âm thầm tìm những phương sách cần thiết để giải quyết sự khủng hoảng kinh tế.
Chịu sự tác động của những điều kiện chính trị - kinh tế vừa kể trên, văn học Việt Nam từ sau 1986 cũng như trong mười năm cuối thế kỷ, tự đổi mới một cách mạnh mẽ để phù hợp và cũng là để đáp ứng nhu cầu của công chúng trong bối cảnh mới.
Biểu hiện trước hết là ở sự thay đổi về nhận thức và quan niệm về các hệ giá trị. Cái thiêng liêng, cao cả, cái lý tưởng vẫn còn sức hấp dẫn nhưng không phải là đối tượng duy nhất mà người sáng tác văn học bắt buộc phải hướng tới như trước.
Điều này thực ra không có gì lạ. Đất nước trở lại đời sống hòa bình, con người, theo lẽ thông thường của quy luật, trở về với cuộc sống hàng ngày thì, lẽ cố nhiên, cái cao cả, cái lý tưởng sẽ dần dần nhường chỗ cho cái đời thường. Tức là có một sự thay thế dần dần từ phía văn học về mối quan tâm chính yếu của nó đối với các vấn đề quan trọng trong đời sống. Cho đến những năm cuối thế kỉ, cùng với sự thâm nhập ngày càng toàn diện của nền kinh tế thị trường, sự tác động ngày càng mạnh mẽ của quá trình hội nhập với quốc tế là sự thay đổi ngày càng mạnh mẽ của nhận thức công chúng về thời đại. Trong đó, quá trình đổi thay nhận thức này trước hết diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc ở tầng lớp tinh hoa.
Chúng ta có thể thấy biểu hiện đầu tiên của nó diễn ra ngay ở các đề tài quan trọng của văn học như đề tài chiến tranh, đề tài lịch sử cùng các đề tài “ nóng” của đời sống đương đại…
Cái nhìn mang tính ảo hóa theo dạng “ ta là ta mà vẫn cứ mê ta” hay “ đường ra trận mùa này đẹp lắm” đã nhường chỗ cho cái nhìn tỉnh táo, duy thực đầy can đảm của các nhà văn về chiến tranh là cội nguồn nảy sinh sự xuất hiện của các tác phẩm gây hiệu ứng mạnh mẽ trong công chúng vào những năm đầu thập kỉ 90. Chẳng hạn, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập, Những linh hồn bị hành quyết của Ông Văn Tùng, Người đàn bà quỳ của Lê Văn Ba…
Ý thức ấy ở người cầm bút được thể hiện trong nỗ lực diễn đạt những sự thật từng bị che khuất bởi những chi phối của lịch sử và thời cuộc. Bởi trong nền kinh tế thị trường, bùng nổ về thông tin và cách mạng về thông tin sẽ là một tất yếu và cũng là một tất yếu, sự thật ( thậm chí cả sự thật trần trụi, đời thường ) tự nó có một sức hấp dẫn và sức mạnh riêng.
Không ngẫu nhiên, thể loại hồi ký, tự truyện và tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thế thượng phong trong giai đoạn này. Công chúng giành một sự quan tâm khá đặc biệt với một số tiểu thuyết tự truyện và hồi ký xuất hiện trong giai đoạn này như Cát bụi chân ai ( 1992 ) và Chiều chiều ( 1999 ) của Tô Hoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…
Nhiều sự kiện và vấn đề lịch sử cũng được nhìn nhận lại bằng tầm nhìn đương đại.
Một số truyện ngắn từng gây xôn xao dư luận, từng là tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận văn học như Trương Chi, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, của Nguyễn Huy Thiệp, Sự tích ngày đẹp trời của Hòa Vang…theo cách nhìn nào đó, có thể xếp vào hiện tượng giải ảo, giải thiêng trong tư duy nghệ thuật mười năm cuối thế kỉ.
Cũng cần phải nói thêm, hiện tượng giải ảo, giải thiêng trong đời sống văn học những năm cuối thế kỉ không thể chỉ phán quyết một cách giản đơn là phủ nhận các giá trị truyền thống hay phủ nhận văn học cách mạng như một số người vội vàng kết luận. Nhìn ở khía cạnh tích cực, đây là một hiện tượng cần được nghiên cứu và cũng rất đáng suy ngẫm.
2.Xu hướng thế tục hóa:

Đồng hành cùng xu hướng giải ảo, giải thiêng và dường như là một hệ quả của xu hướng trên là xu hướng thế tục hóa.
Cũng dễ hiểu là, tựa như quy luật, khi thời đại của những cứu cánh lớn trôi qua, sống với đời thường, con người trở về với những toan tính cá nhân muôn thuở. Không phải là một hiện tượng phai nhạt dần những ký ức lịch sử mà trên thực tế, cộng đồng người Việt giờ đây phải đối diện với những vấn đề quan trọng hơn và cũng thực tế hơn với chính nó.
Xu hướng này sở dĩ hiện diện trong đời sống văn học, trước hết, xuất phát từ sự thay đổi quan niệm về sáng tạo. Nếu trước đây, do những chi phối của điều kiện chiến tranh và những đòi hỏi cấp bách của lịch sử, văn học tự nguyện đảm nhận sứ mệnh làm vũ khí đấu tranh trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc thì giờ đây, khi cuộc sống của toàn dân trở lại bình thường và trước nhu cầu muôn mặt của nó, lẽ cố nhiên, quan niệm về vai trò và sứ mệnh của văn chương cũng dần dần thay đổi. Những khái niệm trước đây dùng để chỉ công việc sáng tạo như “ viết văn”, “ làm thơ”- trong nội hàm đã chứa đựng một ý nghĩa nghiêm túc về thái độ đối với văn học và trên góc độ nào đó còn ngầm toát lên một tình cảm ngưỡng mộ hành vi đó trong tính cách thiêng liêng, cao cả hóa nó.
Điều nói trên thực ra cũng dễ hiểu.
Nhưng rồi thực tế mới với nhiều điều chưa biết, chưa từng xảy ra trong kinh nghiệm sống của cả một cộng đồng ồ ạt hiện diện. Bao trầm tích trong đời sống của một dân tộc từng đã phải kiềm nén trong gần ba mươi năm chiến tranh giờ đây, do điều kiện sống thanh bình trở lại và do điều kiện đặc biệt của nền kinh tế thị trường đã “ trổ lá, đơm hoa” trở lại. Hàng loạt thay đổi lớn trong cách sống, cách tư duy của con người hậu chiến. Lẽ cố nhiên, trong muôn vàn đổi thay đó, quan niệm về văn chương và sáng tạo văn chương cũng thay đổi. Văn chương đến gần với thực tế hơn và quan niệm về công việc sáng tạo nghệ thuật nói chung về văn chương nói riêng cũng trở nên thoáng đãng và giản dị hơn.
Giờ đây, đã có người táo bạo gọi sáng tác văn chương như là một “ cuộc chơi”, một “ trò chơi”. Thậm chí, có người còn đi xa hơn, gọi là “ một trò chơi vô tăm tích” để chỉ tính chất vô vụ lợi của công việc sáng tác văn chương. Quan niệm này đã mở đường cho những ứng xử tiếp theo mang tính chất dân chủ và hiện đại – coi sáng tác văn chương cũng là một công việc không những bình thường như biết bao công việc khác trên đời mà có khi còn ít nghiêm túc hơn. Cách lý giải này của chúng tôi nhằm cắt nghĩa vì sao một số người cầm bút trong giới trẻ lại, có vẻ như một sự nổi loạn, tuyên bố : “ chúng tôi không làm thơ”. Không “ làm thơ” thì họ làm gì? Họ “ nghịch thơ”, “ chơi thơ”, “ nhại thơ”, thậm chí “ phá thơ”…
Và ta đã thấy không chỉ trong thơ mà cả trong văn xuôi cùng một số thể loại khác sự du nhập ồ ạt những yếu tố rất đời thường, thông tục và thậm chí cả thô tục nữa. Sự cảnh báo nghiêm khắc của một số nhà phê bình trên các phương tiện truyền thông dường như chẳng có một tác động nào. Trái lại, sự gia tăng liều lượng của những giá trị nhất thời, của sex, các yếu tố mang màu sắc cinique, grotesque…trong văn xuôi; sự hiện diện quá tải hiện tượng “ thơ rác”, “ thơ dơ”, thơ “ bụi”… trong thơ như thể một thách thức!
Thơ được gì, mất gì và nhìn chung, văn chương được gì và mất gì trong sự thay đổi từ quan niệm cho đến “ sáng tạo” như thế?
Nếu cứ một một mực trung thành với quan niệm sáng tác như trước đây thì có thể nói rằng diện mạo văn học Việt Nam trong nền kinh tế thị trường đang có những biến thiên ghê gớm do những quy luật quái đản nào đó mà chúng ta khó và chưa thể kiểm soát được. Nhưng nếu bình tĩnh suy xét thì mọi chuyện cũng giản dị thôi. Văn chương, sau bao thế kỉ được/bị cao cả hóa về sứ mệnh và vai trò giờ đây, trong bối cảnh mới, nó bỗng hòa nhập nhanh chóng và có thể dâng hiến cái phẩm chất tiêu thụ, tiêu dùng vốn có của nó. Tức là chính văn chương phải thay đổi cho phù hợp với những nhu cầu của đời sống thế tục. Nhưng đời sống thế tục trong cơ chế thị trường vốn là một thực thể luôn luôn biến đổi với một tốc độ có thể nói là chóng mặt thì liệu văn chương có lẽ nào cứ khư khư ôm mộng đuổi theo những giá trị vĩnh viễn? Sự vồ vập đón chào, tán thưởng ( vì hiếu kì, tò mò ) cùng sự lãng quên nhanh chóng ngay sau đó của công chúng đối với một số tác phẩm ăn khách, thời thượng nào đó cho thấy : văn chương trong nền kinh tế thị trường cùng chịu chung một thái độ đối xử khá bình đẳng và ngang hàng với các sản phẩm vật chất cũng như tinh thần khác trong sống hiện đại. Như “ mốt” quần áo, điện thoại di động, xe máy, xe hơi. Không hơn.
Tuy nhiên, một môi trường luôn luôn biến động, thay đổi là một môi trường tự nó mang tính sàng lọc, lựa chọn. Đây sẽ là một mảnh đất tốt cho những khai phá, tìm tòi, mở rộng phạm vi và biên độ cho các ý tưởng mới cùng sự đào sâu vào hiện thực. Đồng thời, một luật chơi mới sẽ được hình thành : các giá thị sẽ tồn tại bình đẳng trong một thế giới đa giá trị. Và luôn luôn bị thay thế bởi những giá trị mới. Trong một một bối cảnh như thế, sự tồn tại của các tác phẩm văn chương đích thực sẽ là công việc của thời gian và sự lắng đọng.
Cùng với những thay đổi về nội dung là sự đổi thay rõ rệt về cách thể hiện. Có thể nhận thấy xu hướng nổi trội trong phần lớn các cây bút ở tất cả các thế hệ trong những năm chuẩn bị khép lại thế kỉ là một sự khước từ lặng lẽ những quan niệm cũ về diễn đạt, mạnh dạn từ bỏ lối viết nặng về trang trí, chuộng uyển ngữ của cung cách thẩm mĩ tô hồng một thời để hướng tới một tinh thần dân chủ hóa, đáp ứng nhu cầu hiện đại của công chúng. Biểu hiện quan trọng đầu tiên của xu hướng đổi mới nói trên về diễn đạt là sự chấp nhận toàn bộ ngôn ngữ đời thường, thông tục; táo bạo và đầy can đảm từ việc sử dụng ngôn ngữ thể nghiệm đến những hành vi phóng túng trong việc dùng những hệ lời pha tạp, những tiếng lóng, tiếng mới, những tiếng không ít người chưa quen nghe, thậm chí cả những hệ lời bị kết án là thô kệch, tục tĩu, sản phẩm, như người ta nói, của một thứ “ văn hóa vỉa hè”.
Tuy nhiên, xu hướng nói trên, không ngẫu nhiên lại tập trung ở một số cây bút tài năng. Đó là Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương… trong văn xuôi; Dư Thị Hoàn, Bùi Chí Vinh, Đồng Đức Bốn, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh…trong thơ.
Cũng chưa hẳn là không có lý, đọc các sáng tác của một số cây bút trong danh sách đã nêu trên gợi cho người ta nghĩ tới các tác phẩm của de Sade thời Cách mạng Pháp 1789, ngôn ngữ xã hội đen trong các văn phẩm của Céline và Genêt trong thế kỉ XX cũng ở Pháp, hiện tượng Vương Sóc và các phong trào thơ ở Trung Quốc sau Cách mạng Văn hóa…
Hiện tượng trên trong bối cảnh của Việt Nam, thực ra không có gì quá khó hiểu. Nền kinh tế thị trường, tự nó, áp đặt những định chế của nó vào đời sống xã hội khiến con người ta, không trừ bất cứ ai, phải thay đổi cách nghĩ, lối làm việc, cách thể hiện quan điểm và, trong rất nhiều những đổi thay do nền kinh tế thị trường đem lại, thế tục hóa là một xu hướng không thể khước từ. Nó phải chiếu cái quy luật vô hình của những vận động ngầm trong đời sống xã hội : sự hình thành một xã hội công dân trong đó, văn học từ đây sẽ đảm nhận cái sứ mệnh mới : thiết lập một khu vực bình đẳng, tự do – là sân chơi chung của mọi tầng lớp công chúng, từ người bình dân đến bậc đại trí thức.
Dù thế nào, mặc lòng, nền kinh tế thị trường với tính chất tàn bạo đầy quyến rũ của nó, đã bất chấp mọi thái độ dè dặt, hoài nghi hay hào hứng đón nhận từ phía các giai tầng xã hội, cứ từng bước đặt định và khẳng định những giá trị mang tính muôn thuở của đời sống thế tục như là không thể có cách lựa chọn nào khác. Để rồi đến lượt văn học, như đã nói ở trên, sẽ chấp nhận và nỗ lực diễn đạt về cái bối cảnh vừa thô kệch vừa ngoạn mục do nó tạo ra, cũng không thể có cách lựa chọn nào khác, trong một mối quan hệ mang tính chất định mệnh.

Cùng với những giao lưu về kinh tế là những tiếp xúc về văn hoá nỗ lực đổi mới trên mọi phương diện của một Việt Nam sau chiến tranh và nhất là trong thập niên cuối của thế kỷ XX đã tạo điều kiện cho Việt Nam xoá dần tình trạng bị cô lập và tự cô lập trước đây để gia nhập vào quá trình chung của thế giới. Trên thực tế, càng ngày càng có sự gia tăng về cường độ cũng như về nội dung trong lĩnh vực giao lưu văn hoá. Những khái niệm như “ quốc tế hoá”, “ toàn cầu hoá” từ lâu đã trở nên quen thuộc với công chúng và dù muốn dù không, đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới những người cầm bút đồng thời hình thành ở họ một tri giác hiện đại về thế giới.
Cũng cần phải nói thêm rằng, trong giao lưu quốc tế, các giá trị tích cực và tiêu cực đều có mặt và ở một mức độ nhất định đã, vừa tạo nên sự khủng hoảng vừa kích thích sự bứt phá trong đời sống tinh thần và tư tưởng.

3.Xu hướng đi tìm cái mới, cái độc đáo, cái độc sáng theo tinh thần hiện đại hoặc hậu hiện đại.

Trong nền kinh tế thị trường, người cầm bút cũng như tất cả những ai tham gia hoạt động văn hoá sớm muộn đều phải hiểu rằng chỉ có thể tạo ra quyền lực cho tên tuổi của chính mình bằng cách dành nhiều năng lực cho công việc sáng tạo. Tuy nhiên, đã qua rồi cái thời người nghệ sĩ coi công việc sáng tạo như một “ nhiệm vụ cách mạng”, “ một công tác cách mạng” chỉ cần hoàn thành nhiệm vụ của một người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa là hoàn thành sứ mệnh của người cầm bút. Cũng đang trở nên lỗi thời cái quan niệm người nghệ sĩ sáng tác theo bản năng, ăn nhờ vào năng lực trời cho. Tính năng động của nền kinh tế thị trường kích thích xã hội vận động với một gia tốc mới, kích thích sự phát triển đa dạng. Tình hình này kéo theo hàng loạt sự thay đổi nhanh chóng trong nhận thức và thẩm mĩ của công chúng. Thực tế cho thấy là ít có sản phẩm văn hóa nghệ thuật nào chiếm vị trí không thể thay thế trong nhu cầu tinh thần liên tục thay đổi của công chúng. Đây đó đã có không ít lời phàn nàn về sự “ chững lại của tiểu thuyết”, sự “ xuống cấp” của thơ, sự “lạc hậu” và “ thiếu chuyên nghiệp” của phê bình! Người ta không giấu diếm những tiếng thở dài đối với tình trạng chung của văn học nghệ thuật đương đại. Có người than vãn về khung cảnh đáng buồn, cạn kiệt nội lực của văn học. Lại có người cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thị trường, khó mà mong chờ ở sự xuất hiện trở lại của một Xuân Diệu hay Huy Cận hoặc một Hàn Mặc Tử hay Nguyễn Bính...trong thơ, một Vũ Trọng Phụng hoặc Nam Cao...trong văn xuôi và một Hoài Thanh, hay Vũ Ngọc Phan trong khảo cứu và phê bình...như trước đây.
Đành rằng, những hoài nghi và âu lo trên không phải là không có cơ sở. Nhưng cũng phải khách quan mà thừa nhận rằng, bất cứ nền văn học nào cũng vậy thôi, đâu phải lúc nào cũng “ tiến lên” theo mong muốn của những người sốt ruột quan sát nó? Và nếu để ý, ta sẽ thấy cái cảm giác về một nền văn học đang “ rối như nồi canh hẹ” chỉ là bề ngoài. Thực chất, nền văn học ta vẫn đang vận hành theo đúng quy luật của nó. Trước 1986 và từ 1990 trở đi trong đời sống xã hội nói chung và đời sống văn học nói riêng, khó mà có được một bối cảnh hoàn toàn mới mẻ, đáng làm cho ta phải ngạc nhiên về những lộ trình mới mà nền văn học đang mở ra. Chẳng hạn sự tiếp cận và thu hẹp khoảng cách với thế giới về quan niệm, tư tưởng; mở rộng và đào sâu khám khá nhiều chiều kích mới của hiện thực; hình thành ý thức mới, hiện đại trong tư duy xã hội và tư duy nghệ thuật; tìm kiếm những hình thức nghệ thuật mới; phát triển nghiên cứu và giảng dạy văn học trên tinh thần hướng tới những giá trị đích thực; làm phong phú sinh hoạt văn chương, cởi mở và thông thoáng trong cơ chế xuất bản…
Một bối cảnh như chúng tôi đã miêu tả chính là cơ hội hiếm có và cũng là thách thức hiếm có cho những người cầm bút có tài năng và đam mê sáng tạo thực sự. Tuy nhiên, sáng tạo trong một bối cảnh như thế còn có nghĩa là phải từng bước khước từ hoặc khước từ triệt để những ngáng trở của cái mà Roland Barthes gọi là “ sự tồn dư ngoan cố của lối viết cũ” để bứt lên, vươn về hiện đại và đương đại. Viết, giờ đây cũng đồng nghĩa với việc sáng tạo ra cái độc đáo, cái độc sáng để một mặt, không lạc hậu với những thành quả nghệ thuật của các nền văn học tiên tiến hơn mà công chúng đang được thụ hưởng qua các sản phẩm dịch và, mặt khác, để tồn tại trong sự chọn lựa vừa vừa phức tạp vừa khắt khe của chính công chúng đó, một đối tượng đã hoàn toàn khác trước, được sinh ra từ nền kinh tế thị trường đã đành, thêm nữa, vốn không mấy mặn mà với các sản phẩm vật chất cũng như tinh thần mang tính nội địa.
Những nỗ lực âm thầm của các cây bút như Trần Trung Chính ( Cư trú ), Nguyễn Viện ( Thời của những tiên tri giả ), Tạ Duy Anh ( Đi tìm nhân vật ), Phan Thị Vàng Anh ( Khi người ta trẻ ), Nguyễn Thị Thu Huệ ( Hậu thiên đường ), Bùi Hoàng Vị ( Tầng trệt thiên đường ), Nguyễn Bình Phương ( Trí nhớ suy tàn, Người đi vắng)… trong văn xuôi; của Thi Hoàng ( Gọi nhau qua vách núi ) của Nguyễn Quang Thiều ( Sự mất ngủ của lửa, Những người đàn bà gánh nước sông ), của Trần Anh Thái ( Đổ bóng xuống mặt trời ) của Nguyễn Quốc Chánh ( Khí hậu đồ vật ), Mai Văn Phấn ( Gọi xanh ), Phan Huyền Thư ( Nằm nghiêng ), của Vi Thuỳ Linh( Khát ) cùng nhiều thể nghiệm thơ của Trần Tiến Dũng, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh…trong thơ bên cạnh các cây bút đàn anh không chấp nhận sự xơ cứng trong sáng tạo và luôn luôn muốn làm mới mình như Tô Hoài, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Bùi Ngọc Tấn, Châu Diên… trong văn xuôi và Hoàng Cầm, Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng, Nguyễn Duy, Thanh Thảo… trong thơ đang làm thay đổi diện mạo nền văn học Việt Nam trong chặng đường những năm cuối thế kỉ theo hướng hiện đại hoá và, đây đó, đã xuất hiện manh nha cả những thể nghiệm hậu hiện đại.
Thực tế là lúc đầu, những sáng tác kể trên đã gây một hiệu ứng lớn trong dư luận. Thái độ của công chúng diễn ra theo đúng quy luật : từ phản bác, có khi quyết liệt, gay gắt đến dần dần chấp nhận và cuối cùng là có cả sự cổ vũ tuy còn dè dặt, thăm dò bằng cả hai cách : trực tiếp hoặc gián tiếp.
Cũng khó mà phủ nhận được rằng, trong một thập kỉ trước khi giã từ thế kỉ XX về mặt gia tốc, nền văn học ta chưa tạo được những đột biến lớn với những bước tiến dài ngoạn mục như mong đợi nhưng nó đã trưởng thành lên rất nhiều trong một cuộc chơi mới đơn giản hơn về luật lệ nhưng khắt khe hơn về luật chơi.
Vậy thì, hãy can đảm phó thác vận mệnh văn học nghệ thuật cho cái luật chơi ấy. Văn học nghệ thuật là một sinh thể, nó tất yếu phải tự điều chỉnh để có thể tồn tại. Các nền văn học khác, trong những nền kinh tế thị trường khác đã tồn tại và cũng đã bảo chứng cho sự tồn tại đó bằng nhiều tác phẩm thực sự có giá trị từ trước tới nay trong đời sống văn chương nhân loại, chắc chắn nền văn học ta trong nền kinh tế thị trường cũng sẽ có số phận tương tự.
Tuy nhiên, trước khi kết thúc, vẫn cần nói lại một điều tuy không mới nhưng cần thiết : Kinh tế thị trường, ở bất cứ đâu, chỉ có thể mở ra một không gian sòng phẳng hơn chứ chưa hẳn đã mở ra một không gian trong sạch hơn cho sáng tác và phê bình văn học. Văn học, trước sau vẫn tự nó phải đảm bảo sự tồn tại chính đáng của chính mình bằng sự hóa giải các yêu cầu ngày càng phức tạp và khe khắt hơn của đời sống và của chính nội tại nền văn học.
















TINH THẦN DÂN CHỦ VÀ TƯ DUY ĐỐI THOẠI NHƯ MỘT YẾU TỐ KÍCH THÍCH NĂNG LỰC TÌM TÒI SÁNG TẠO VÀ LÝ GIẢI NGHỆ THUẬT.




Nhìn một cách khái lược, văn học Việt Nam trong thế kỷ XX trải qua ba chặng đường lớn.
Chặng thứ nhất, từ đầu thế kỷ XX đến 1945, nền văn học vận động theo hướng hiện đại hóa.
Chặng thứ hai, từ 1945 đến 1975, nền văn học vận động theo hướng đại chúng hóa và kháng chiến hóa.
Chặng thứ ba, từ sau 1975, đặc biệt là từ sau 1986 và thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, nền văn học vận động theo hướng dân chủ hóa và tinh thần đối thoại.
Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại có thể nói là một trong rất nhiều nguyên nhân thúc đẩy văn học nghệ thuật nước ta đổi mới và phát triển đồng thời được coi là có vai trò hết sức quan trọng, nếu không muốn nhấn mạnh là quan trọng nhất, dường như không thể thiếu trong lĩnh vực hoạt động tinh thần của nền văn học Việt Nam đương đại.



1.Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại, một đặc điểm cơ bản của nền văn học từ sau Đổi Mới...

Cơ sở hình thành và tái xác lập tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại vốn được manh nha từ sau 1975, khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối và cuộc sống trở lại hòa bình. Nhưng hai yếu tố trên chỉ thực sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ kể từ sau Đại hội VI ( 1986 ) của Đảng.
Cùng với văn bản của nghị quyết là những lời kêu gọi đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh sự thật và can đảm nói lên sự thật từ diễn đàn của Đại hội được đăng tải trên các phương tiện truyền thông và nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là những người trí thức, trong đó có những người viết văn.
Có thể xem đó là cơ sở tư tưởng cho xu hướng dân chủ hóa và tinh thần đối thoại trong văn học từ sau 1986 và giai đoạn mười năm cuối thế kỉ.
Tinh thần dân chủ hóa và tư duy đối thoại có sự tác động và kích thích mạnh mẽ đời sống văn học và quan trọng hơn làm thay đổi một cách căn bản về tư duy nghệ thuật từ bình diện ý thức, quan niệm cho đến công việc sáng tác và lý giải nghệ thuật.

2. Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại với việc tìm tòi và sáng tạo

Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại tác động đến người cầm bút trên cả hai bình diện : quan niệm và sáng tạo.
Trước hết, từ bình diện ý thức và quan niệm nghệ thuật. Từ đầu thập kỉ 90 đã có những biến đổi quan trọng theo hướng dân chủ hóa và tư duy đối thoại về vai trò, vị trí và chức năng của văn học, nhà văn và quan niệm về hiện thực.
Về vai trò của văn học, ở giai đoạn trước, do sự chi phối của chiến tranh văn học được nhìn nhận như là vũ khí tư tưởng, tự nguyện coi nhiệm vụ truyên truyền, cổ vũ và khẳng định, ngợi ca cuộc kháng chiến như một sứ mệnh thiêng liêng thì giờ đây, vai trò cơ bản đó vẫn được duy trì, thực hiện nhưng nó được coi trọng hơn ở nhiệm vụ khám phá thực tại, ý thức sâu hơn về sự thật và ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường, cái nhìn về văn học cũng thoáng đãng và cởi mở hơn, còn đóng vai trò của một thứ hàng hoá đặc biệt, công việc viết văn, làm thơ xét cho cùng, cũng bình thường như mọi thứ công việc khác, thậm chí là một thứ “ trò chơi” tinh thần vô vụ lợi, để thưởng thức và cũng là để giải trí.
Quan niệm về kiểu nhà văn vì thế cũng có sự điều chỉnh. Trước đây, do yêu cầu của những nhiệm vụ nặng nề chúng ta đã đề cao các chức năng nhận thức và giáo dục, mỗi nhà văn là một “ chiến sĩ” trên “ mặt trận” văn hóa làm nhiệm vụ diễn đạt tiếng nói chung của dân tộc, thời đại và cộng đồng thì giờ đây ta coi trọng hơn cái khía cạnh văn học như một phát ngôn của người nghệ sĩ và là tiếng nói của cá nhân, là sự can dự của người trí thức vào thời đại mình nhằm làm phong phú và giàu có hơn cho đời sống tinh thần và tư tưởng của xã hội. Không dừng lại ở đó, nếu trước đây hiện thực chiến tranh có thể yêu cầu “ vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy”, thậm chí với một sứ mệnh hệ trọng hơn :
Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô, thổi nghìn nến tắt
Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc
Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh…
( Chế Lan Viên )
thì giờ đây, cuộc sống đòi hỏi mỗi nhà văn cần phải nỗ lực học hỏi và phấn đấu để là một nhà tư tưởng trong công việc sáng tạo. Anh ta đâu chỉ đóng vai trò người “ biết tuốt” để chỉ soi sáng nhận thức, trí tuệ cho công chúng mà còn phải là người tham gia cùng người đọc bàn bạc, đối thoại về mọi vấn đề của thời đại.
Rõ ràng, một bối cảnh mang tính dân chủ đã mở ra trong đời sống tinh thần và những hoạt động sáng tạo thuộc về lĩnh vực tinh thần của người Việt đương đại.
Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại nói trên một khi đã tác động vào ý thức và quan niệm của người cầm bút thì cũng đồng thời cũng tác động mạnh mẽ thậm chí là một yếu tố kích thích mạnh mẽ khiến người cầm bút tự thấy cần thiết phải thay đổi tư duy trên bình diện sáng tác.
Sự thay đổi nói trên nhìn ở bình diện vĩ mô sẽ thấy nền văn học chuyển mạnh từ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn sang khuynh hướng thế sự và đời tư; nhìn ở góc độ vi mô là sự phá vỡ tính đơn giọng cho sự thâm nhập của tính đa giọng, đa thanh; là sự phá vỡ kiểu tư duy độc thoại để nhường chỗ cho kiểu tư duy đối thoại trong ý thức của người sáng tạo.
Có thể minh định điều đó qua các xu hướng sau đây :

2.1. Từ sự mở rộng phạm vi khám phá hiện thực đến việc đào sâu vào những vùng ẩn mật trong đời sống tâm linh của con người…

Sự thay đổi quan niệm về vai trò của văn học lẽ cố nhiên dẫn tới một cái nhìn mới về hiện thực. Đó là ý thức của người cầm bút về sự cần thiết phải mở rộng biên độ phản ánh, hướng tới đời sống hàng ngày với các mối quan hệ thế sự phong phú, đa đoan và phức tạp cùng đời sống cá nhân trong tư cách những số phận, những tính cách cùng chiều sâu bí ẩn và không cùng của thế giới bên trong.
Sự thay đổi quan niệm về vai trò của văn học lẽ cố nhiên dẫn tới quá trình từng bước phá vỡ dần cái quan niệm trước đây vốn chỉ coi hiện thực chỉ là thực tế đấu tranh cách mạng, là các biến cố lịch sử, là đời sống lớn lao của cộng đồng. Cái nhìn về hiện thực của người cầm bút khi mở ra hướng tiếp cận mới này cũng giảm thiểu một cách đáng kể màu sắc chủ quan và thái độ tự tín. Giờ đây, người cầm bút hiểu rằng, thế giới mà họ đang ra sức khám phá là luôn luôn vận động, không thể biết hết, không thể thấu hiểu tường tận và không thể có một “ đáp án” duy nhất đúng cho những câu chuyện về thế giới đó.
Trước hết, đó là sự đổi thay trong sự lựa chọn hệ đề tài. Không phải là do sự cạn kiệt về đề tài. Mà cách quan niệm và hướng khai thác đề tài giờ đây đã thay đổi.
Lấy ví dụ đề tài chiến tranh. Lịch sử Việt Nam là một lịch sử gần như triền miên trong chiến tranh và tranh đấu để chống lại sự xâm lược của các lực lượng ngoại bang. Bởi thế, như một lẽ tất yếu, chiến tranh trở thành một chủ đề thường xuyên và bao trùm khắp văn học Việt Nam. Đội ngũ đảm nhận đề tài này là những người lính hoặc đã từng sẻ chia cuộc sống trận mạc cùng người lính. Trong gần ba mươi năm kháng chiến chống ngoại xâm, đề tài chiến tranh đã góp phần quan trọng tạo nên diện mạo văn học Việt Nam. Sau 1975, đề tài này vẫn còn là một hấp lực đối với nhiều người cầm bút tham gia chiến tranh và cả những người trưởng thành trong thời hậu chiến. Tuy nhiên, đối với công chúng, lối viết “ trượt theo quán tính cũ” ( chữ dùng của Nguyên Ngọc ) không được công chúng hồ hởi đón nhận nữa. Các nhà văn sớm muộn từng người có khác nhau nhưng cuối cùng cũng đã nhận thấy không thể viết như trước được nữa.
Từ đó, để không bị công chúng đối xử với những trang viết đầy tâm huyết của mình bằng một thái độ thờ ơ, các cây bút viết về chiến tranh đều phải nỗ lực đổi mới từ quan niệm đến bút pháp cùng nhiều phương diện khác của công việc sáng tạo.
Hiệu ứng tích cực từ phía công chúng đối với những cuốn tiểu thuyết viết về đề tài này như : Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Thời của những tiên tri giả của Nguyễn Viện…tuy chưa phải là căn cứ duy nhất cho việc thẩm định, đánh giá nhưng cũng đã gián tiếp cho thấy ý thức dân chủ hoá thực sự là một nhân tố đặc biệt kích thích những thể nghiệm, những tìm tòi sáng tạo đối với giới cầm bút.
Mặc dù hiện vẫn còn những nhận định chưa thống nhất nhưng trong khác biệt người ta đều thừa nhận điểm khả thủ của những sáng tác kể trên là đã có một sự thay đổi lớn về quan niệm và bút pháp. Đặc biệt, nhờ việc đào sâu vào thế giới bên trong con người, phiêu lưu vào cái thế giới của tiềm thức và vô thức, những vùng ẩn mật nhất của phạm trù tâm linh thuộc về con người, nhiều cây bút đã diễn đạt cái diện mạo khốc liệt, dữ dội và tàn bạo của chiến tranh một cách sâu sắc hơn chính do họ đã biết tiếp cận hiện thực chiến tranh từ một bình diện khác, bình diện số phận con người.
Ở các đề tài khác cũng diễn ra hiện tượng tương tự. Cũng không ngẫu nhiên đề tài thế sự - đời tư lại trở thành điểm nóng thu hút mọi thể loại trong đời sống văn học mười năm cuối thế kỷ. Vì chính ở đề tài này người cầm bút mới thực sự được tự do phát huy những khám phá cá nhân về đời sống, được bộc lộ cái nhìn và cách nhìn riêng của người nghệ sĩ trên những vấn đề mà mình phát hiện và trong nhiều trường hợp, sự đề xuất của cá nhân những nghệ sĩ đã gợi mở nhiều vấn đề quan trọng mà cũng khá thú vị đối với đời sống xã hội Việt Nam đương đại. Các sáng tác được in và được tái bản của Nguyễn Minh Châu sau khi nhà văn qua đời vì bạo bệnh, tập truyện Trăng soi sân nhỏ của Ma Văn Kháng, Hà Nội trong mắt tôi của Nguyễn Khải, Hậu thiên đường của Nguyễn Thị Thu Huệ, Biển cứu rỗi của Võ Thị Hảo, Tầng trệt thiên đường của Bùi Hoằng Vị, các cuốn tiểu thuyết Hai nhà của Lê Lựu, Trí nhớ suy tàn của Nguyễn Bình Phương, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà…các tập thơ Khát của Vi Thuỳ Linh, Nằm nghiêng của Phan Huyền Thư…cùng nhiều cây bút khác tuy không gây dư luận sôi nổi như chặng đầu của thời kì Đổi Mới nhưng là những đóng góp không thể phủ nhận ít nhất là nó vẫn đã tạo ra một chuyển động mới trong đời sống văn học, chưa kể, nhìn ở một góc độ nào đó những sáng tác trên góp một phần quan trọng cho việc phát huy và khai thác tiềm năng của các thể loại để nền văn học ta giảm thiểu một cách đáng kể tính chất sơ giản của một nền văn học nặng về định hướng, tuyên truyền, đơn âm để xác lập vị thế của một nền văn học vừa mang tầm cao nhân văn, nhân bản vừa thực sự có những đóng góp riêng về mỹ học nghệ thuật.

2.2. Từ cảm hứng viết như là thực hiện một công tác cách mạng nhằm tuyên truyền những chân lý bất khả hoài nghi của dân tộc và thời đại đến viết như một đề xuất những suy tư và trải nghiệm cá nhân…

Bối cảnh mới mà theo chúng tôi, có sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và bầu không khí dân chủ không chỉ kích thích sự tìm tòi, mở rộng không gian khám phá đời sống hiện thực mà còn dẫn đến một sự đổi thay khá quan trọng. Đó là sự thay đổi trong mối quan hệ giữa nhà văn với người đọc.
Nếu trước đây, nhà văn vẫn thường đóng vai một “ tiểu thượng đế” giữ tư cách phán truyền và rất thường khi độc quyền chân lý, ban phát lẽ phải, vì lẽ phải mà nhà văn đề xuất cũng chính là những giá trị tư tưởng cao đẹp của cộng đồng, của thời đại thì giờ đây nhà văn chỉ là người đề xuất một cái nhìn riêng, bộc lộ một tư tưởng của riêng mình bình đẳng với nhiều cái nhìn và tín niệm của bao người khác. Điều này khiến cho các sáng tác trước thì thiên về giọng quyền uy, khẳng định mà giờ đây giọng điệu của người viết trở nên khiêm nhường, nhỏ nhẹ, thiên về tâm sự, chia sẻ, giãi bầy. Nói cách khác, cảm hứng chủ đạo trong sáng tác đã có một đổi thay về cơ bản : nếu như trước đây, viết được coi như là một nhiệm vụ cách mạng, một công tác cách mạng, các nhà văn coi mình như một cán bộ, một “ tuyên truyền viên nhãi nhép” theo như cách nói của Nam Cao nhưng là để truyền đi những chân lý bất khả hoài nghi của một chủ nghĩa, một triết học, truyền đi lẽ sống và niềm tin bất khả lay chuyển của một dân tộc, một cộng đồng thì giờ đây, viết có thể vẫn còn là như thế nhưng bên cạnh đó, viết còn có nghĩa là đề xuất những suy tư và trải nghiệm cá nhân và thiết lập một xác tín mới : rằng kinh nghiệm của mỗi cá nhân cũng hết sức quan trọng và bình đẳng về mặt giá trị với kinh nghiệm của cả cộng đồng. Ngoài ra, về thái độ, người cầm bút giờ đây cũng hiểu rằng những đề xuất của một nhà văn sẽ phải tước bỏ và kiên quyết khước từ tính chất giáo huấn, dạy đời thì sáng tác của anh ta mới có thể có ý nghĩa với cuộc đời, ít nhất trong khía cạnh là một sự tham gia vào quá trình bàn bạc, đối thoại để cùng đi tìm và xác định ý nghĩa và những giá trị mới mẻ của sự sống.
Thái độ nói trên của người viết được bộc lộ qua các sáng tác của Nguyễn Minh Châu ở giai đoạn trước và trong Đổi Mới và được tiếp tục ở Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài cùng nhiều cây bút khác trong chặng từ 1990 trở đi…nhưng có thể nói nó được bộc lộ rõ nhất ở… Nguyễn Khải.
Thật vậy, từ những năm 90 trở đi, Nguyễn Khải bỗng gắn bó với truyện ngắn và đã cho ra đời hàng loạt truyện ngắn đặc sắc.
Thực ra, về truyện ngắn, Nguyễn Khải đã rất nổi tiếng từ ba mươi năm trước với Mùa lạc, Tầm nhìn xa…nhưng sự xuất hiện lần này thật khác. Giọng quyền uy, ban phát chân lý của lối viết đậm chất chính luận trước đây đã nhường chỗ cho giọng tâm tình, tâm sự, chia sẻ, giãi bầy và nghiêng theo hướng triết luận. Chẳng hạn với Nắng chiều, là triết lý mới mang tinh thần dân chủ : nếu được bình đẳng về cơ hội, con người ta, bất kể ai, đều có khả năng toả sáng. Với Một người Hà Nội, là sự thẳng thắn thừa nhận, cái lối sống mà mình vẫn đề cao, rao giảng và tự ngợi ca thực chất là một lối sống xô bồ, tuỳ tiện và phản văn hoá. Lối sống văn hoá và minh triết thực sự chính là lối sống thức thời, đầy chủ động, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn luôn tỉnh táo, biết chia sẻ, chịu đựng cùng với cộng đồng nhưng cũng phải biết không bao giờ được làm mất đi chính bản thân mình của người cô, một người Hà Nội, đại diện đích thực cho đất Kinh kỳ kia. Tinh thần không có chân lý nào duy nhất đúng cũng được thể hiện khá rõ trong Hậu duệ dòng họ Ngô Thời, Người vợ, Hai ông già ở đồng Tháp Mười…
Dừng lại ở sáng tác của Nguyễn Khải chỉ như một đại diện. Thực ra, tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại đã trở thành một đặc điểm bao trùm và được bộc lộ ở hầu khắp các thể loại từ phóng sự, tuỳ bút đến tiểu thuyết và thơ ca. Chẳng hạn, mấy năm trước, người đọc ngỡ ngàng, không ít người bị shock trước lời tuyên bố của Trần Nhuận Minh :
Cái Ác vỗ vai cái Thiện
Cả hai cùng cười, đi về tương lai…
nhưng ở thời điểm sắp giã từ thế kỷ 20, hẳn nhiều người đọc còn bị shock hơn nữa khi nghe Vi Thuỳ Linh thổ lộ :
Khoả thân trong chăn
Thèm chồng, thèm chồng, thèm có anh ở bên…
Thực ra, ý kiến của Trần Nhuận Minh cũng chỉ là một sự phản biện lại cái niềm tin quá đẹp mà ta vẫn dành cho khái niệm tương lai nhằm cảnh báo con người : tương lai chưa hẳn là màu hồng, tương lai có thể vẫn là mái nhà chung ở đó, trú ngụ cả cái Thiện lẫn cái Ác. Và như thế mới là một thái độ trân trọng, không dối lừa người đọc. Lời thổ lộ của Vi Thuỳ Linh cũng vậy, xét kĩ ra, cũng bình thường. Vì có người phụ nữ bình thường nào đến tuổi yêu đương mà không thầm mong có một người chồng? Chỉ có điều, nhà thơ trẻ này mang tinh thần của một Hồ Xuân Hương hiện đại, dám nói ra những khát khao thầm kín mà do tính cả thẹn đã thành cố hữu, nhiều người không dám bộc lộ mà thôi. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là ở chỗ, nếu không có một bầu không khí dân chủ và một môi trường tinh thần để ngỏ cho sự đối thoại, sẽ khó mà có những câu thơ như thế.

2.3. Từ việc vượt qua giới hạn của cái nhìn thiên về phân biệt chiến tuyến đến thái độ cởi mở trong tiếp nhận và vận dụng những kỹ thuật trần thuật hiện đại như sử dụng kỹ thuật dòng ý thức, bút pháp tượng trưng, bút pháp huyền thoại…

Tinh thần dân chủ cũng là yếu tố tháo gỡ dần những chế định khắt khe trong quan niệm của người cầm bút về sáng tạo nghệ thuật. Một cái nhìn mới về hiện thực bao giờ cũng đòi hỏi cần phải có những cách diễn đạt mới. Cũng dễ thấy là trong thập kỉ vừa qua, các cây bút thuộc thế hệ trẻ đã khá cởi mở trong việc tiếp nhận và vận dụng những kỹ thuật trần thuật hiện đại như kỹ thuật dòng ý thức, bút pháp tượng trưng, bút pháp huyền thoại…
Tiêu biểu nhất trong số các tác phẩm mang xu hướng đổi mới về cách tiếp cận hiện thực cũng như bút pháp sau 1990 chắc chắn phải là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Hiện thực cuộc chiến trong cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh tương phản gay gắt với những hình ảnh thắng lợi khải hoàn ta thường bắt gặp đẫy rẫy trong văn học Việt Nam. Lối viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong các tác phẩm viết về chiến tranh trước Bảo Ninh khiến người cầm bút thường nhấn mạnh đến tài thao lược của các nhà lãnh đạo và khí thế nhân dân tham gia cuộc chiến đấu giải phóng Tổ Quốc. Đến lượt mình, Bảo Ninh đã chọn một hướng tiếp cận khác, ông vượt qua các chiến thuật và chiến dịch; ông quan tâm đến con người.
Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh được coi là “ một trong những bản kết toán chiến tranh xúc động nhất được viết bằng tiếng Việt từ trước đến nay” ( Dana Healy ). Trong bản kết toán đó, nhà văn khước từ sự tụng ca chiến tranh và cố gắng chiếu dọi một thứ ánh sáng mới để có thể nhìn sâu vào hiện thực cùng những vết thương không thể lành trong tâm hồn của con người bởi sự tàn phá của chiến tranh. Không ít trang của cuốn tiểu thuyết đã được nhà tiểu thuyết sử dụng kỹ thuật dòng ý thức và một lối miêu tả đời sống bên trong của nhân vật theo hình thức nội soi. Trong tầm mức mới của cái nhìn này, bao góc khuất, bao bí mật của tiềm thức và vô thức trong tâm tư của người lính đã từng đi qua chiến tranh, phải nói chính xác hơn là của người lính sống sót sau cuộc chiến bỗng được phơi bày và làm cho người đọc kinh hoàng. Rõ ràng không có người thắng kẻ bại và cũng chẳng vinh quang gì cái việc giết chóc và đau khổ. Cuốn tiểu thuyết trở thành sách bán chạy. Năm 1991 nó được giải thưởng Hội Nhà Văn và nổi tiếng ở nước ngoài.
Thực tế là trong xu hướng đổi mới bút pháp và tích cực vận dụng kỹ thuật trần thuật hiện đại Bảo Ninh không đơn độc. Tiếp nối Bảo Ninh là Phạm Thị Hoài với bút pháp huyền thoại trong Thiên sứ, là Nguyễn Bình Phương với những thể nghiệm tượng trưng pha lẫn siêu thực trong Trí nhớ suy tàn là Nguyễn Việt Hà với những ám ảnh hiện sinh trong Cơ hội của Chúa hay Tạ Duy Anh với những hoài nghi, tự vấn trong Đi tìm nhân vật, hoặc Bùi Hoằng Vị với lối viết giả tưởng trong Tầng trệt thiên đường…
3. Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại với việc lý giải nghệ thuật...

Tinh thần dân chủ và tư duy đối thoại cũng đóng một vai trò quan trọng đối với việc lý giải nghệ thuật.
Biểu hiện rõ rệt nhất của nó trong lĩnh vực lý giải nghệ thuật là ở các khía cạnh sau đây :
1/ Vẫn coi trọng phản ánh luận và mỹ học hiện thực XHCN nhưng đó không còn là thước đo duy nhất những sản phẩm sáng tạo.
2/ Tiếp nhận và vận dụng các thành tựu nghiên cứu lý thuyết của nhân loại trên tinh thần chủ động, sáng tạo song hành với thái độ chống sùng ngoại, học đòi và dập khuôn, bắt chước.
3/ Bênh vực những tìm tòi táo bạo, mới mẻ tôn trọng những khác biệt và chống bệnh độc quyền chân lý trong thẩm định.
Ba xu hướng nói trên đã đem lại một khởi sắc mới trong lĩnh vực lý luận và phê bình văn học và trên thực tế đã và đang xóa bỏ dần tính công thức đã trở nên xơ xứng, đơn điệu trong lĩnh vực lý giải nghệ thuật.
Những tranh cãi sôi nổi xung quanh cuốn Lý luận và phê bình nghệ thuật của Lê Ngọc Trà, Ngày văn học lên ngôi của Đỗ Minh Tuấn, sự tán thưởng của giới lý luận và phê bình về cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc, Con mắt thơ của Đỗ Lai Thuý hay cuộc đối thoại của nhiều người viết phê bình, lý luận đương đại với các cuốn Thơ phản thơ, Phê bình phản phê bình của Trần Mạnh Hảo, Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa…cho thấy, thực chất đời sống phê bình và lý luận khá sôi động chứ không phải “ tẻ nhạt”, “ tiêu điều” như một số người nhận định.
Tuy nhiên, nền học thuật ở ta nhìn chung vẫn còn thấp, thiếu một bệ đỡ chắc chắn của văn hoá và triết học. Những người làm lý luận và phê bình ở ta, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan còn thiếu tính chuyên nghiệp. Do đó, việc lý giải nghệ thuật ở ta tuy có khởi sắc nhưng nhìn một cách khách quan là còn mang tính tiểu nông. Biểu hiện thấy rõ nhất là sự manh mún, thiếu tính đồng bộ, thiếu sự trang bị một cách đầy đủ và sâu sắc về phương diện lý thuyết mà cũng thiếu cả một tinh thần tham khảo, học hỏi kỹ lưỡng các lý thuyết. Nhận xét của ai đó rằng, ngay cả một số nhà lý luận, phê bình nổi danh ở ta, trên thực tế, vẫn chỉ đóng vai trò là đại lý cho những trường phái và chủ nghĩa ở Tây âu nào đó mà thôi không phải là không đáng để suy ngẫm.
February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28