TÂY NGUYÊN KHÔNG CHỈ LÀ ĐẤT ĐỎ........
Sunday, September 21, 2008 1:26:27 AM
Thoáng chút ngỡ ngàng! “không ngờ trên núi lại có đồng bằng”.
Nằm trên độ cao hơn 1000m, Đăk Lăk được biết đến từ những dải đất Bazan màu mỡ và những vạt cà phê, cao su ngút ngàn. Đã từ lâu không ít người cho rằng "quê tôi" toàn là núi mà trên núi thì làm gì có đồng bằng. Giờ đây lại thêm chút ngỡ ngàng khi có thông tin Đăk Lăk có vựa lúa thứ tám của VIỆT NAM! Quê mình đó.
THỰC TẾ VẬY SAO
Lọt thỏm giữa những dãy núi đồi, cánh đồng Mùng Tám Tháng Tư với diện tích gần 2000ha như làm nền cho bứctranh thuỷ mặc. Trải dài từ hồ Lăk thơ mộng cho tới cuối nguồn của con sông Krông Ana( một nhánh của sông Sêrêpôk ngược dòng), nông trường 8/4 thuộc địa phận huyện Lăk, phần lớn trải trên hai xã Buôn Triết và Buôn Tría. Nơi đây xưa kia vốn là chốn rừng hoang nước độc, lau sậy um tùm, trăn rắn, heo nọc đủ cả. Nhớ hồi cùng gia đình đi khai hoang mở đất (1992), công cụ có được chỉ là con dao phát cỏ, cái quốc, cái cào, phải vạch lau sậy đi theo “đường mòn” của bầy heo, bầy nai đến chỗ có nước khai khẩn đất đai. Nhiều khi lạc giữa đồng phải leo lên ngọn cây quan sát, có khi nghỉ trên cây qua đêm y như những câu chuyện tiền sử vậy. Sau dần bà con kéo đến ngày một đông nhưng cũng phải đến 5-6 năm sau diện tích lau sậy, thùng vũng mới được san lấp, khai khẩn hết. Rồi hệ thống mương máng ngày càng hoàn chỉnh, diện tích canh tác được khai thác triệt để, giọt mồ hôi của những con người cần mẫn cứ lăn dài trên từng thớ đất theo năm tháng. Giờ đây trên cánh đồng thẳng cánh cò bay không lúc nào là ngơi tiếng máy nổ, nhất là khi mùa vụ tiếng máy cày, máy kéo rền vang ngày đêm. Nếu từ trên cao bạn sẽ thấy một màu xanh non đến mát mắt của những ô ruộng phẳng lỳ, kéo dài sát chân núi. cả cánh đồng có đến 2/3 diện tích có thể canh tác 2 vụ/ năm, năng xuất từ 800-1200/1000m2 với đủ chủng loại lúa: Tám Thơm, Nd, Er64, Vnd, Er94, 06…Gạo nơi đây rất thơm, dẻo, hạt gạo trắng, chắc, đều hạt. quê nhà nơi đồnglúa nên bà con đi xa về gần cũng thường dùng hạt lúa, hạt gạo làm quà. Khi thì bao gạo thơm, khi thì chục cân lúa giống. nó tuy giản dị nhưng đượm thắm tình quê, tình người.
VẪN CÒN ĐÓ NHỮNG VẾT CHÂN CHIM!. “MIỀN TÂY TRÊN XỨ NÚI
Lại nói “trên Tây Nguyên cũng có lũ lụt chẳng kém gì Miền Tây” chẳng ai tin nhưng sự thực là thế.
Về mặt địa hình, sông ngòi. Do nơi là khu vực lòng chảo, bao quanh là những dãy đồi núi trùng điệp nên khi có mưa lớn toàn bộ lượng nước trút hết xuống cánh đồng. Bên cạnh đó dòng sông Sêrêpôk lại khác người ở chỗ hướng chảy ngược về Tây, qua Biển Hồ Campuchia rồi đổ vào sông Mêkông trước khi ra biển lớn. Vì vậy lưu lượng nước tiêu đi cho cánh đồng không kịp, thêm vào đó khu vực tây nguyên lại thường xuyên hứng chịu ảnh hưởng của những cơn bão nên mùa mưa nơi đây luôn là nỗi lo thường trực của bà con. Những ?”trận lụt” nơi đây rất thất thường. Giữa tháng tư lúa vụ mưa đương con gái-nước lên, cuối tháng sáu đầu tháng bảy lúa đang mang nòng có nơi đã đông sữa hoặc quay quả-nước lên và nhà nông chỉ còn biết nhìn nước mà than trời. Không chỉ vậy đi theo mỗi trận mưa lũ là những khối đất đá trên đồi cao sạt xuống mang hiểm hoạ cho bao người. Mùa lũ thường kéo dài từ tháng 7 cho đến cuối tháng 10. Ba tháng cuối năm cả cánh đồng trở thành biển nước mênh mông sâu đến 3-4 sải. lúc này người dân lại chuyển sang chài lưới kiếm thêm thu nhập và tận dụng thời gian, mặt nước lại sôi động những tiếng khuơ chèo đập cá, ánh đèn Mangxông rọi sáng đêm đêm. Cá ở đây cũng rất đa dạng cả về loài và số lượng, nhiều nhất là cá chép, mè, trôi, cá quả (cá lóc, cá chuối), rô đồng, rô phi…từ các ao hồ, sông suối đỏ về, có con cả chục kg và các bến cá luôn tấp nập mỗi sớm.
Thiên nhiên ưu đãi là vậy nhưng cũng không kém thử thách. Lũ Tây Nguyên thường không êm ả như Miền Tây, lũ nơi đây thường kèm theo những luồng nước xiết, cùng với gió to tạo nên những đợt sóng rất nguy hiểm. Năm 2006 là năm mà tỉnh Đăk Lăk chịu thiệt hại về người do lũ nhiều nhất, chủ yếu xảy ra trên địa bàn huyện Lăk. Cũng vì vậy mà những năm gần đây công tác chuẩn bị để đối phó với lũ cũng được chuẩn bị kỹ càng, nhiều gia đình còn trang bị thuyền lớn 5-10 tấn phục vụ cho việc di tản người và nông sản. cùng với đó phương án sống chung với lũ cũng không còn xa lạ với nguời dân.
NÔNG TRƯỜNG HÔM NAY VÀ NHỮNG HỨA HẸN
Cùng với người dân, trong chương trình 134, 135 của chính phủ, chú trọng đầu tư vào cánh đồng để phát triển nông nghiệp, công trình đê bao và kênh thoát nước ở cuối nguồn được triển khai từ năm 2003 đã hạn chế được thời gian ngập úng, tiêu nước nhanh để giảm tối đa hậu quả của mưa lũ. Năm 2008 nông trường tiếp tục được đầu tư hệ thống mương dẫn nước từ đập chứa Buôn Triết đảm bảo cung cấp nước tưới cho toàn bộ diện tích. Bên cạnh đó giao thông cũng được chú trọng đầu tư đề hạn chế việc tư thương ép giá nông sản cũng như vật tư do không có đường vận chuyển. Khi những công trình này được đưa vào sử dụng sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho quá trình sản xuát của bà con trên nông trường, bớt đi phần nào cơ cực cho nhà nông.










