Skip navigation.

GLV DongXoai Welcome's

GLV Đồng Xoài

chiec khan gio am

Gieo Mam Tin Yeu

<embed

Gieo Mam Tin Yeu
Nhom Lua Hong

Hay tuyệt đỉnh!

Nghe bài này đi hay lắm!

CN21TNA Cho toi hat cung anh em bai hat cu~

Bài ngợi ca Thiên Chúa ở trên trời
Để tôi về cầu nguyện với Ngôi Hai
Cho ta sống một ngày như mấy kiếp.
( dẫn thơ Du Tử Lê )

Sống một ngày hay mấy kiếp, nhà thi sĩ vẫn cứ ca lên bài hát cũ. Bài hát, đầy ắp những ngợi khen Thiên Chúa. Ở trên cao. Ngợi khen, nào khác lời trình thuật của Thánh Mátthêu ghi ở bản Kinh.

Trình thuật hôm nay, gợi nhớ nơi ta, lời Thánh Mátthêu ghi rõ về mối tương quan hài hoà Chúa vẫn có với các môn đệ. Tương quan ấy, chứng tỏ đã có bước tiến đáng kể, trong hiểu biết quyền năng của Đức Chúa. Bẵng đi một dạo, môn đệ Chúa nay mới nhận rõ Đức Giêsu đích thực là Đấng nào.

Trình thuật đây, diễn tả niềm tin của Hội Thánh thời tiên khởi. Không riêng gì Tông Đồ Chúa, vào buổi ấy. Với Tin Mừng Máccô, Thánh nhân nhấn mạnh tầm hiểu biết hạn hẹp của tông đồ Chúa, về Thiên tính. Về giáo huấn của Ngài. Với thánh sử, nhân vật đầu tiên được mô tả, là đã nhận biết Đức Kitô cách trọn vẹn, không ai khác ngoài anh quân nhân đang đứng gác, dưới chân thập tự ( Mc 15, 39 ). Vào buổi ấy, tông đồ Chúa biến đi đâu, không thấy nói.

Trình thuật, nay khởi đầu bằng câu hỏi từ Đức Chúa: “Mọi người bảo Con Người là ai ?” Ở đây, Đức Giêsu mặc khải Ngài chính là “Con-Người”. Ngài qui về Đấng Thiên Sai, có nói trong sách Đanien, thuở trước: “Với mây trời, như thể một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến… Ngài được ban tặng quyền bính, vinh quang, vương triều… Quyền bính của Người sẽ không bị huỷ.” ( Đn 7, 13 ). Đáp lại, các tông đồ đã có lời nhận biết rõ:

*Ngài là Gioan Tẩy Giả, bị Hêrôđê đem đi chém đầu, nay đà hồi hướng trở về. ( Lc 9, 7 )

*Ngài là Êlia được trông ngóng, sẽ về lại mặt đất, có dấu ấn của Đấng Thiên Sai.

*Ngài là Giêrêmia, ngôn sứ bị bách hại và khổ đau, Đấng Thiên Sai chịu bài bác. Tin Mừng Nhất Lãm, chỉ mỗi Thánh Mátthêu là nhắc đến lời ngôn sứ Giêrêmia. Rõ ràng là, dân thường thời ấy coi Đức Giê-su như Vị Ngôn sứ, phát-ngôn-nhân của Thiên Chúa. Và, Ngài đích thực là thế.

Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, câu trả lời của Thánh Phêrô, ở đây, nói lên điểm cao trong quan hệ với Chúa Cha. Trả lời thế, tức là: các tông đồ nhận ra Thầy mình là Đấng Thiên Sai, mọi người trông. Thầy là Vua của người Do Thái, Đấng Được Xức Dầu. Tiếng Hy Lạp, Christos là cụm từ nói về Vị Thiên Sai, Đấng “Được Xức Dầu”. Xem như vậy, các tông đồ nay hiểu rõ vai trò Thiên Sứ của Thầy mình. Qua trình thuật, ta đều thấy các thánh cũng phải mất một thời gian, mới nhận biết Thiên tính của Thầy.

“Này Simôn, anh có phúc vì không phải thịt máu đã mặc khải cho anh, mà Cha Thầy” chính niềm tin nơi đây đã giúp Phêrô nhận biết Chúa. Bởi, muốn nhận biết Vua-Cứu Thế, cần có niềm tin vững mạnh, mới xác tín được rằng Vị Ngôn Sứ đang đứng trước mặt mình, khác hẳn ảnh hình mà người Do Thái, đang ngóng chờ. Nhờ có ánh sáng của Thiên Chúa soi rọi, Thánh Phêrô mới nhận biết Ngài.

Dù như thế, Phêrô và các Thánh, đã phải mất nhiều tháng ngày, mới nhận biết Chúa. Về điểm này, có thể nói: Hội Thánh hôm nay cũng cùng vị thế, giống như vậy. Từ lâu, có lẽ ta đều biết rõ Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Chúa của ta. Nhưng phải mất khá lâu, ta mới hiểu thấu đáo Thiên Tính của Ngài. Và, phải mất rất nhiều năm tháng, ta mới dấn bước theo chân Chúa, cách trọn vẹn.

Nay, Chúa khẳng định: Anh là Đá, trên Đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy. Tiếng Hy Lạp “Petros” là Phê-rô và “Petra” là Đá. Trong khi đó, ngôn ngữ Aram là tiếng mà Đức Giê-su và các tông đồ sử dụng, hai từ này được diễn tả bằng cụm từ “kepa”. Chính vì thế, ta thấy ở một số thư của các thánh các ngài sử dụng cụm từ kê-pha để đặt tên cho Thánh Phê-rô ( Ga 2, 11 )

Kêpha hay Phêrô, cũng vẫn là Đá. Tức, đá tảng làm nền cho cộng đoàn Hội Thánh có Danh xưng và quyền uy của Đức Chúa. Với thế giới. Nơi Ngài, có môn đệ và các kẻ tin đồng hành. Đồng hành, và chuyển tải đời sống cũng như thông điệp của Chúa, qua tư cách thành viên cộng đoàn Hội Thánh, “ekklesia”. Ở Tin Mừng Nhất Lãm, cụm từ “cộng đoàn Hội Thánh” ( tức ekklesia ) chỉ thấy có ở đây và duy nhất trong Tin Mừng theo Thánh Mátthêu đoạn 18 câu 17, mà thôi.

“Thầy sẽ xây dựng Hội Thánh của Thầy” là bằng chứng Chúa thiết lập cộng đoàn Hội Thánh ekklesia trên Đá Tảng làm nền, là Kêpha. Thầy còn hứa, phú ban cho cộng đoàn Hội Thánh, sức sống mãnh liệt nhằm chống trả ảnh hưởng của mọi xấu xa sự dữ. Lời hứa này, Chúa vẫn giữ hơn 20 thế kỷ, mãi đến nay. Và, bằng chứng đầy uy lực dũng mãnh, vẫn thấy có từ Sự Thật và Tình Thương, Ngài trao ban. Được Ngài hứa, ta còn sợ gì.

“Thầy trao cho anh chìa khoá Nước Trời”, ở đây có nghĩa: trách nhiệm và cương vị của người cai quản cộng đoàn Hội Thánh, nay quyết trao cho Thánh Phêrô. Giáo Hội Chúa, không đơn giản là Nước Trời, mà thôi. Nhưng Hội Thánh, còn sở hữu chìa khoá, theo nghĩa có đủ quyền lực, đủ tư cách để tiếp cận, ngõ hầu dựng xây Vương Quốc của Đức Chúa, ở trần gian.

Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, thì cũng sẽ cầm buộc như thế, ở trên trời. Với Thánh Mátthêu, “Trời” đây chính là Đức Chúa. Thánh Mátthêu viết Tin Mừng là viết cho cộng đoàn người Do Thái, vốn là những người không muốn Thánh nhân sử dụng cụm từ “Thiên Chúa”, để nói về Chúa. Và, quyền cai quản Nước Trời, là quyền Chúa trao ban cho Hội Thánh, qua Đức Giê-su. Ngài trao ban, trước khi rời cộng đoàn dân con của Ngài, để về cùng Cha.

Từ nay, những gì Hội Thánh quyết đoán dưới sự chỉ đạo của Thánh Phêrô và các Tông Đồ, đều được Chúa chấp thuận. Được như thế, là vì Hội Thánh Chúa được Cha gửi Thần Khí Ngài đến, như Vị Thầy. Và Ngài gửi Đấng Bảo Vệ đến, là để ở với cộng đoàn. Qua Thần Khí, Đức Giê-su sẽ ở lại với Hội Thánh, mọi ngày cho đến giây phút cùng tận, ở dưới đất. Xem như thế, Hội Thánh là Thân Mình Đức Kitô. Bởi thế nên, mỗi khi Hội Thánh phán quyết điều gì, vẫn là phán quyết ấy qua tư cách của Tổng Thể Thân Mình Ngài, tức: Đức Kitô.

Cương vị lãnh đạo của Phêrô Thánh nhân và các vị kế nhiệm, không là áp đặt mang tính cách cưỡng ép. Cũng chẳng là quyền bính chính trị. Nhưng rõ ràng, là mẫu gương phục vụ. Bao lâu, niềm tin yêu và hy vọng vẫn vững mạnh trong cộng đoàn Hội Thánh, thì cương vị này còn tồn tại. Và triển nở. Ở đây, không còn vấn đề đòi ta phải hoàn toàn tuân phục hoặc không được cật vấn, như nghị định ban hành từ cơ chế nào đó, có ở trần gian. Quyền bính và uy lực, nay được ban từ cơ quan tư lệnh đầu não, rất phàm trần. Là quyền uy đích thực, không nghi vấn.

Ngày nay, Đức Giáo Hoàng là vị kế nhiệm đầy quyền bính, của Thánh Phêrô. Đức Thánh cha san sẻ cùng một quyền bính như quà tặng lãnh đạo, do Chúa ban. Lãnh đạo bằng phục vụ. Lãnh đạo trong khiêm tốn. Từ lâu, các Đức Giáo Hoàng vẫn tự gọi là Người tôi mọi của mọi tôi tớ của Đức Chúa. Tức, Đức Giáo Hoàng không là nhà độc tài toàn trị, như đôi lúc đã từng xảy ra, trong quá khứ. Ngài bị hạn chế, do bởi niềm tin của toàn thể Giáo Hội. Ngài không sáng tạo niềm tin. Ngài không xác quyết ta phải tin như thế nào. Đúng ra, ngài là vị đứng đầu, thông truyền niềm tin cho cộng đoàn Hội Thánh. Giáo Hoàng là điểm quy tụ của một kết đoàn đầy niềm tin. Là hiệp thông trong Thánh Thần. Đức Giáo Hoàng là tôi mọi của cộng đoàn nay liên kết với nhau trong niềm tin.

Giáo Hội hôm nay, đang có dấu hiệu xung đột về thần học và tu đức. Chưa bao giờ, Giáo Hội cần đến kết hợp. Tập trung, Giáo Hội không đòi phải đồng dạng cùng một kiểu. Nhưng, cần có sự hiệp nhất các tín hữu. Như Phaolô Thánh nhân đã từng nói: “Chỉ có một thân mình, một Thần Khí... Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người. Qua mọi người. Và, trong mọi người.” ( Ep 4, 4 – 6 ). Đây là điều, mà các người anh người chị bên Anh giáo và giáo phái Luther vẫn bận tâm. Đây còn là, sự quan tâm rất mực, mà các người anh người chị của ta ở Trung quốc, đã từng trải với cách ly. Phân tán.

Đức Giáo Hoàng là điểm đồng qui, của mọi thành phần. Khi tìm sự cảm thông với những gì đem đến cho ta ý nghĩa của người đồ đệ dõi bước theo chân Đức Kitô, ở thế giới không ngừng đổi thay, ta cũng nên tìm đến với Đức Giáo hoàng như nhân vật cần đến với ngài, để hội ý. Ngài là mục tử gìn giữ tình thân giữa các tín hữu, ở khắp nơi. Bởi thế nên, đừng làm tắt ngúm mọi ơn lành của Thánh Thần Chúa đang giúp ta sống Tin Mừng. Sống niềm tin, trong bối cảnh to lớn, đầy khác biệt. Khác lập trường. Nhưng, giống niềm tin.

Bởi, chúng ta đều cùng một Hội Thánh, có Giáo Hội địa phương. Bởi, nơi Hội Thánh của địa phương ta sống, điều cần quan tâm hơn cả chính là sống và lưu lại trong hiệp nhất với người anh em đồ đệ, ở khắp nơi, vượt qua khỏi mọi ranh giới. Cách chia. Đồng thời, cùng sống đời tín hữu theo cách thế có hiệu năng. Có sinh khí. Cách thế hữu hiệu, đầy sinh khí sẽ đem tinh thần Vương Quốc Nước Trời đến với mọi người. Đến, vào buổi nhiễu nhương. Thử thách.

Trong quan tâm bức xúc, ta cứ hân hoan hy vọng. Cứ hát lên lời ca đầy phấn khởi, rằng:

“Rồi mai, có một lần tôi đưa em,
về trên đỉnh yên bình, hiền hoà
một mùa xuân lên cao,
hôn lên làn tóc xoã, theo mây trôi bềnh bồng.”
( Từ Công Phụng – Mùa xuân trên đỉnh bình yêu )

Đỉnh yên bình hiền hoà ấy, luôn có mặt Hội Thánh Chúa. Hội Thánh đa dạng, nhưng hiệp nhất. Vẫn cùng anh cùng chị và cùng em“ ta sẽ hát bài ngợi khen Chúa ở trên cao”. Vẫn “nguyện cầu với Ngôi Hai”. Cầu và nguyện cho sự hiệp nhất. Ở khắp nơi. Trong Chúa.

Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, MAI TÁ diễn dịch

Duc Me La Vang

CN20TNA - “KHI SAY SƯA VỚI LƯỢN SÓNG TRIỀN MIÊN”

khi nhận lấy trong thâm tâm cay nghiệt,
giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng.
Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện,
để nhìn xem sắc mặt với làn da.”
( dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử )

Say sưa lượn sóng. Thâm tâm cay nghiệt, trăm vạn nỗi niềm riêng. Niềm rất riêng, có là nỗi niềm Chúa nhắn nhủ. Ở trình thuật, thánh sử ghi hôm nay.

Trình thuật hôm nay, thánh Mátthêu ghi lại sự kiện Đức Giêsu tiến vào vùng lãnh thổ không thuộc nguời Do Thái. Đây là việc Ngài ít khi làm. Tyre và Xiđôn, là hai thủ phủ nằm cạnh biển dọc bờ duyên Địa Trung Hải. Ngày nay thuộc nước Libăng, Trung Đông. Khác với các thành phố được Tin Mừng ghi, có Chúa ghé, nhưng không còn thấy trên bản đồ, hai thị trấn này vẫn nở rộ.

Thật bất ngờ, khi ta thấy xuất hiện người nữ phụ của xứ Canaan. Bà đến với Chúa trong kêu gào, rất đáng thương. Đáng thương, là vì người Canaan luôn kình chống Do Thái, vẫn bị coi là người ngoài. Ngoài Đạo. Ngoài luồng. Ngoài cả truyền thống gọn gàng, rất lễ nghi. Nhưng, chuyện này không làm cho nữ phụ nọ thêm nao núng. Chí ít, là khi tăm tiếng Thầy được nhận biết, ở khắp nơi.

Lạy Ngài! là Con vua Đavít, xin dủ lòng thương. Con gái tôi bị quỷ ám, thật khốn khổ, ở đây nữa, chẳng biết con gái bà có bị mà thuật ám ảnh, thật hay không. Hoặc, tật đó chỉ là căn bệnh kinh niên, khó chữa. Nhưng, sở dĩ bà kêu cứu vì bà rất lo âu. Hãi sợ. Và, tuyệt vọng. Vì, chẳng còn biết níu kéo những ai để đỡ đần. Ủi an. Nhưng bà vẫn tin tưởng. Như Đức Chúa từng nói vào buổi Tạ từ, chiều hôm ấy: “Không có Thầy, anh em chẳng làm nên chuyện.”

Niềm tin tưởng người nữ phụ vẫn có, dù là người ngoài Đạo, đã nói lên thiên tính của Đức Chúa. Ngài đích thực là “Con vua Đavít”. Như thế có nghiã, là: người mẹ hiền khốn khổ kia, đã thấy được nơi Đức Giêsu, Đấng-làm-Người trên mức bình thường. Đấng, tuy là Người, nhưng rất đặc biệt. Và, danh xưng “Con vua Đavít” mà bà tuyên dương hôm ấy, đã hàm ngụ đặc trưng Thiên Sai, của chính Ngài.

Dù đã nghe, nhưng Đức Giêsu chừng như vẫn làm ngơ. Làm như thể, người nữ phụ không có đó. Đây, cũng là cảm giác mà nhiều người lâu nay vẫn có, mỗi khi nguyện cầu cùng Chúa. Nhiều người, vẫn cứ tưởng là Chúa chẳng mấy đoái hoài, đến lời mình kêu. Đây, còn là tâm trạng của các môn đệ Chúa, đã biết lo khi cuồng phong ùn ùn kéo đến; thế mà, Chúa vẫn yên và vẫn ngủ trên thuyền, chẳng động tĩnh. “Không đáp lấy một lời.” ( Mt 15, 23 )

Và, lý do tưởng chừng như Chúa chẳng đoái hoài, đó chính là: “Thầy chỉ được sai đến với các chiên con lạc bước, của Israel mà thôi.” ( Mt 15, 24 ). Thật sự, thì sứ vụ của Chúa hầu như chỉ tập trung cho dân Ngài. Như ta biết, sách Công vụ có đề cập, là: các tông đồ cũng không biết điều đó, ngay từ đầu. Cứ chờ mãi, cho đến khi các thánh nhận ra rằng: ‘người-ở-ngoài’ cũng được phép ứ tràn Thần Linh Chúa. Cũng được mời chào: hãy dấn bước ra đi, theo chân Ngài.

Bài đọc 1, ngôn sứ Isaia có nói trước việc này, khi ông bảo: “Người ngoại bang gắn bó cùng Đức Chúa, hầu phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cũng trở nên tôi tớ Nguời.” ( Is 56, 6 ). Và vì thế, nữ-phụ-ngoài-Đạo nọ vẫn không bỏ cuộc. Bà quyết tâm mon men đến gần Ngài, mà thưa: “Hỡi Ngài, xin thương giúp !” Thêm điều nữa, lời Chúa đáp trả xem ra hơi phũ phàng: “Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho đàn chó nhỏ !” ( Mt 15, 26 ). Cụ thể hơn, ở một đoạn khác Ngài có nói với tông đồ: “Của thánh, đừng đem cho chó; châu ngọc chớ bỏ trước bầy heo.” ( Mt 7, 6 )

“Quăng cho chó”, là cụm từ được người ngoài Đạo, vào thời của Chúa, vẫn thông dụng. Với người Do Thái, “bầy chó nhỏ” vẫn được coi là loài ô uế. Nhớp tạp. Chúng ăn bất cứ thứ gì, ta ném vứt. Gồm trong đó, có heo là loài hôi tanh. Là, giống thịt thà, chỉ đáng bỏ. Với người Do Thái, người-ngoài-Đạo cũng chẳng sạch hơn loài chó. Nhưng, vấn đề ở đây còn tuỳ âm giọng, của người nói. Có thể, đây là lời cao ngạo, đầy miệt thị. Là, kẻ cả. Trịch thượng. Nhưng, qua những gì ta biết về Đức Chúa, nghĩa bóng Ngài nói ở đây, hàm ngụ tư tưởng hoàn toàn khác hẳn. Có thể, đây chỉ để xét nghiệm niềm tin tưởng của người nữ phụ, về những gì bà nghe biết, mà thôi.

Và, từ lời ứng đáp đầy tin tưởng của người nữ ấy, đã chinh phục được lòng xót thương của Chúa: “Này bà, lòng tin của bà thật lớn.” ( Mt 15, 28 ). Và, vì lòng gan dạ sắt của bà, nên Chúa đã đáp lại một cách tích cực: “Bà muốn sao, sẽ được vậy.”

Bài đọc hôm nay, đem đến cho ta nhiều bài học. Trên hết và trước hết, vẫn là: niềm tin yêu phó thác trọn vẹn vào sự thương yêu – đùm bọc của Chúa. Nhìn từ ngoài, ta cứ tưởng đây như một thất bại. Chán chường. Tuyệt vọng. Bài học hôm nay còn đó, có liên lỉ trong nguyện cầu. Bài học, mà đôi lúc ta vẫn nghĩ: cũng chẳng được như ta trông ngóng. Thật ra, vì tuyệt vọng, ta mới xem Chúa muốn gì ở nơi ta. Chứ đâu cần gì ở nơi Chúa.

Bài học quý giá hôm nay, là: chớ nên trông ngóng những gì ta mong ước. Chỉ nên ao ước những gì mình cần có trong an bình và yên ổn, qua kết hợp với Chúa, rất trọn vẹn. Lòng trông đợi ta cần hơn cả, vẫn là: cầu mong cho được thực hiện những điều Ngài mong muốn. Nói khác đi, ý định của Chúa và ý muốn của ta vẫn phải trở nên một. Thật tương hợp. Rất ăn khớp.

Thêm điều nữa: Tin Mừng hôm nay xác nhận về lòng thương xót của Đức Chúa. Xót thương ấy, nay trải dài cho hết mọi người. Cả, những người biết tin yêu. Biết phó thác nơi Ngài. Chẳng cần hỏi người ấy là ai. Ở trong, hay ở ngoài. Hiện ở đâu. Bên Tây hay bên Tầu. Điều này, ngôn sứ Isaya đã quả quyết, nơi bài đọc: “Những ai giữ ngày sabát mà không vi phạm, và những ai tuân thủ giao ước của Ta, đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. ( Is 56, 6 – 7 ). Lời sấm này, lại do người Do Thái viết cho người-ở-ngoài, được tín hữu Đức Kitô gửi đến với người có thiện tâm. Và hảo ý. Với Chúa. Với muôn người.

Là thành viên cộng đoàn, ta được biết và tiếp cận với tình thương yêu vỗ về, của Đức Chúa. Nhưng kèm theo, vẫn có bổn phận, là: chứng tỏ cho mọi người thấy, cả người-ở-ngoài lẫn người ở trong, về đường lối. Về, cách ta sống. Ăn nói. Và, hành động sao cho phù hợp với tình thương yêu, Chúa khuyên dạy. Nhất nhất, mọi lời nói và sinh hoạt đều nên phản ánh lòng thương xót Chúa, đã chứng tỏ cho mọi người. Ở trong, cũng như ở ngoài. Trong nhà Đạo. Ở ngoài đời.

Dưới mắt Chúa, không ai bị coi là “lũ chó nhỏ” hoặc “heo lợn” yếu kém, ở bên dưới. Và, các mảnh vụn thức ăn rơi từ bàn ngồi của chủ, chính là Lời Chúa. Là, tình thương yêu Ngài ban phát, . Mảnh vụn rơi vãi, không là mẩu bánh dành cho loài chó nhỏ, nhưng là những gì cao quý Chúa dành để, cho mọi người. Không luật trừ. Không ngoại lệ, phân biệt. Không kỳ thị, bỏ rơi.

Trong tinh thần nhận đón Tin Mừng Chúa gửi đến, ta cứ vui lên mà cất lời ca hôm trước:

“Tuôn ra thế giới mịt mù
Ta về bao la, trôi suôi theo dòng tinh tú ( u... ú )
Êm êm người dệt bài thơ
Nâng ta trong lưới mơ hồ
Ta về lòng người bỡ ngỡ
Khóc cười như bé bơ vơ
Ta theo đường mộng còn lưa
Hương đưa vào nẻo ngàn thu
Người về tay ngà thương nhớ
Kêu ta bằng một lời ru”. ( Phạm Duy – Mộng du )

Tuôn ra thế giới mịt mù. Không như một mộng du. Nhưng, là vào nẻo ngàn thu. Ở nơi đó, có người anh người chị đang trông chờ. Trông chờ, ta đem Chúa đến với tất cả. Có lòng xót thương ân cần. Có chữa lành. Thân thương. Đùm bọc. Của Nước Trời.

Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, bản diễn dịch của MAI TÁ
Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31