IT and Game

Chuc cac ban mot nam moi nhu y

Subscribe to RSS feed

Box chat của Blog tớ



Với hộp chat này các bạn có thể liên hệ với mình bất kì lúc nào.

Alone in the Dark – Một mình trong đêm tối

Khi Alone in the Dark (AitD) xuất hiện lần đầu tiên năm 1992 thì nó đã gây tiếng vang lớn trong thể loại kinh dị sinh tồn, nó là game đầu tiên với nhân vật 3D thực thụ với hệ thống puzzle khôn ngoan cùng với gameplay phức tạp và nhiều thứ khác vượt ra khỏi khuôn khổ của một game thông thường.

Các phiên bản 1994, 1995 và 2001 sau đó đều không thành công như phiên bản đầu. Atari định sẽ phá bỏ điều này trong năm 2008 với sự quay về với cội nguồn của nó bằng cách nâng cao giới hạn kỹ thuật, giải quyết vấn đề lang thang tự do cùng với việc nhét vào đó hệ tư tưởng về chứng sợ hãi hoang tưởng.



Game mở đầu theo đúng cách kinh dị sinh tồn thực sự, nghĩa là bạn thấy mình thức dậy mà không biết mình là ai hay điều gì đang xảy ra. Căn phòng dần dần trở thành mục tiêu của bạn khi tình cờ nghe được một đoạn đối thoại về các hoạt động cúng tế gì đó, và rồi thị giác của bạn mờ dần đi, nhưng lần này chỉ là do nhắm mắt. Điều này cứ tiếp diễn trong một phần nhỏ ban đầu khi ý thức của bạn dần dần phục hồi và bị lôi kéo vào giữa một mớ bòng bong cho tới khi bạn tìm thấy một bệ rửa mặt và một cái gương soi để biết được mình là ai và điều gì đang xảy ra.

Alone in the Dark đã cố gắng phá vỡ những ước lệ truyền thống ngay từ lúc đầu. Ở đây không có menu của kho chứa, không có hiển thị số đạn còn bao nhiêu hay thanh HP ở cả chế độ nhìn từ người thứ nhất hay thứ ba. Bạn có thể dễ dàng chuyển đổi qua lại giữa 2 góc nhìn này. Kho chứa của bạn bị giới hạn trong phạm vi những gì mình có thể mang được trong túi của chiếc áo jacket và bạn có thể "truy cập" vào kho chứa bằng cách nhìn xuống và xem mình có thứ gì trong nhiều chiếc túi khác nhau được khâu trong áo.

Kết hợp các đồ vật với nhau một cách tự do và sáng tạo là một trong những điểm sáng của game và nó không chỉ giới hạn trong những thứ đồ trong túi của bạn. Bạn có thể dùng bất cứ thứ gì tìm thấy miễn là nhặt lên được, từ bàn ghế cho tới bình xịt lửa, chiếc cào cỏ và xe cộ. Như bạn mong đợi từ nhóm phát triển đằng sau Test Drive, xe cộ trong game hứa hẹn nhiều điều, bạn có thể tương tác được với nhiều phần của xe. Bạn có thể di chuyển từ chỗ ngồi này qua chỗ ngồi khác và sử dụng mọi cánh cửa như đối với chiếc xe thật.

Không chỉ có xe cộ hay nhiên liệu, bạn có thể đốt cháy bất cứ thứ gì trông có vẻ cháy được. Điều này rất có lợi trong những nơi tối tăm trong hầm, nơi bạn phải đối mặt với nhiều kẻ thù sợ sáng và khi đã quên không nhặt pin cho chiếc đèn của mình. Bạn có thể dùng bình dập lửa để đập cái bàn gỗ, nhặt lấy cái chân bàn còn dính một phần mặt bàn để làm cây đuốc dã chiến.

Không khí rùng rợn trong game được gia tăng thêm nhờ nhạc giao hưởng và thánh ca được viết dành riêng cho game. Giọng ca chính là một đội hợp xướng chuyên nghiệp của Bulgari với những giai điệu làm sởn da nhè nhẹ cho tới những tiết tấu nhanh khi nhịp điệu game thay đổi.

Nhìn chung Alone in the Dark đang hình thành nên một game hành động sinh tồn không chỉ có giá trị ở mặt kinh dị mà còn ở mặt sáng tạo trong cách phá hủy và giải quyết vấn đề.

Thông tin

Sản xuất: Atari.
Phát triển: Eden Studios.
Hệ máy: PC/X360/PS3.
Thể loại: Phiêu lưu.
Ngày phát hành: 23-6-2008.


Kuja

Thay skin

Nhân dịp ngày khai giảng của các em học sinh mình sẽ thay một skin mới dễ nhìn hơn. Nếu có ý kiến cứ comment nha

Giải pháp đồ họa giá rẻ cho dòng chipset AMD 780G

Ngày nay, việc kết hợp nhiều card màn hình để tăng tốc xử lý đồ họa đã dần trở nên phổ biến. Các công nghệ mới nhất hiện nay có thể sử dụng cùng lúc đến 4 card đồ họa như CrossfireX của ATI hay SLI của nVidia. Tuy nhiên, giải pháp kết hợp này khá đắt tiền bởi phải mua từ 2 card màn hình trở lên và hiệu năng đôi lúc vượt quá nhu cầu của đại đa số của người dùng.



Để đáp ứng nhu cầu một hệ thống đồ họa mạnh nhưng vẫn ở mức giá hợp lí, AMD đã đưa ra giải pháp tăng cường khả năng đồ họa cho hệ thống dựa trên sự kết hợp của chip xử lý đồ họa ATI 3200 trên bo mạch sử dụng chipset 780G và card màn hình dùng chip ATI 24xx hoặc 34xx (cụ thể ở đây được e-CHÍP TestLAB thử nghiệm là card màn hình Sapphire Radeon HD 3450 512MB)

Card màn hình Sapphire Radeon HD 3450 512MB sử dụng chip ATI 3450 thuộc dòng ATI 3400, thuộc phân khúc bình dân, nhắm đến người dùng thông có yêu cầu quá cao về khả năng xử lí đồ họa hoặc game 3D và dĩ nhiên, ở một mức giá tối thiểu. Thiết kế tản nhiệt của Sapphire HD 3450 rất đơn giản với một miếng tản nhiệt nhôm, bên dưới là bộ xử lí đồ họa. Có hai cổng xuất DVI trên card. Với các màn hình chỉ có cổng D-Sub vẫn có thể dùng đầu chuyển DVI sang D-Sub. Điểm mạnh của Sapphire HD 3450 là bộ nhớ 512MB bên trong và khả năng hỗ trợ Unified Video Decoder (UVD) cho Blu-ray và HD DVD full HD 1080p. Tuy nhiên, Sapphire HD 3450 sử dụng bộ nhớ GDDR2 có tốc độ truy xuất 64bit nên tốc độ truy xuất sẽ không nhanh như GDDR3 với tốt độ 128bit trở lên. GPU có tốc độ 600MHz sử dụng công nghệ 55nm và tốc độ của bộ nhớ là 1000MHz, sử dụng chuẩn giao tiếp PCI-Express 2.0. Sapphire HD 3450 hỗ trợ Windows Vista, DirectX 10.1, Shader Model 4.1 mới nhất, trên lí thuyết sẽ cho phép chơi game nhanh và hình ảnh hiển thị đẹp và mượt mà hơn. Ngoài ra Sapphire HD 3450 còn hỗ trợ chuẩn HDMI với khả năng hỗ trợ âm thanh 5.1 và công nghệ cho phép kết hợp nhiều card đồ họa lại với nhau nhằm tăng khả năng xử lí.

Thử nghiệm
e-CHÍP TestLAB sẽ thử nghiệm so sánh xem khi kích hoạt card Sapphire HD 3450 và chip ATI 3200 on-board thì điểm số 3DMark 06 sẽ tăng như thế nào? Cấu hình thử nghiệm như sau: Mainboard J&W RS-780GUVD chip 780G, CPU Phenom X3 2.1GHz, RAM 2G bus 800, VGA Sapphire Radeon HD 3450 512MB, nguồn OCZ Power XStream 600W và sử dụng phần mềm 3DMark 06 chạy trên hệ điều hành Windows Vista.


ATI 3200 onboard
SM2.0 Score 591
HDR/SM3.0 Score 726
CPU Score 2330
3DMarks 06 1845

Sapphire HD 3450
SM2.0 Score 712
HDR/SM3.0 Score 895
CPU Score 2348
3DMarks 06 2182

CrossfireX
SM2.0 Score 1074
HDR/SM3.0 Score 1313
CPU Score 2353
3DMarks 06 3222



Qua bảng kết quả, chúng ta có thể thấy được việc kích hoạt chức năng CrossfireX giữa card màn hình rời và on-board thì điểm số của 3DMark 06 tăng gần khá cao so với khi chỉ sử dụng chip xử lý ATI 3200 on-board hay chỉ dùng card 3450. Bảng kết quả cũng cho thấy được chip ATI 3200 on-board cũng khá mạnh và không thua kém nhiều nếu so sánh với card rời Sapphire HD 3450. Tuy vậy, chức năng CrossfireX được tích hợp sẵn trên bo mạch chủ J&W RS-780GUVD chỉ hỗ trợ một số card màn hình thuộc dòng ATI 34xx và ATI 24xx, chạy trên Vista.

Hệ thống đáp ứng khá tốt các game trên thị trường với độ phân giải vừa phải. Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra lỗi hiển thị hình ảnh trong một số game, điều này cũng dễ hiều do ATI trước nay vẫn chưa là tương thích tốt cho game mà chỉ sử dụng tốt cho các ứng dụng đồ họa. Khi thiết lập Crossfire hiệu suất tăng đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa thật sự có sự khác biệt nhiều. TestLAB có dịp thử nghiệm với chip ATI 2400 và ATI 3470 thì hiệu xuất tăng không đồng điều. cụ thể khi thiết lập CrossfireX với ATI 2400 thì hiệu xuất tăng rõ nhất, nhưng với chip ATI 3470 thì hệ thống tăng không đáng kể, có thể do driver chưa thật sự tương thích. Điểm thú vị nhất trong quá trình thử nghiệm là chip đồ họa tích hợp 3200 tỏ ra khá mạnh mẽ không thua kém với card Sapphire HD 3450, trong một vài phép thử ATI 3200 đã vượt lên trên Sapphire HD 3450 và có số khung hình cao hơn Sapphire HD 3450 trong một vài game. Rõ ràng với nhu cầu cơ bản thì việc “tậu” cho mình một chiếc bo mạch chủ được tích hợp sẵn chip xử lý đồ họa ATI 3200 là một lựa chọn hết sức khả thi.

Tóm lại, việc kết hợp một bo mạch chủ có chip đồ họa ATI 3200 (như J&W RS-780GUVD) với card màn hình rời bình dân ATI 24xx hoặc 34xx có thể nâng khả năng xử lý đồ họa của hệ thống tăng rõ rệt, không thua kém một số card đồ họa rời với mức giá cao hơn.
Góp ý cho GM

WD Scorpio Black 320GB SATA Notebook HDD

Nhà sản xuất ổ cứng nổi tiếng Western Digital vừa cho ra mắt chiếc ổ cứng có dung lượng lớn và tốc độ cao dành cho laptop.



Điểm nổi bật nhất của chiếc đĩa cứng này chính là có tốc độ vòng quay lên đến 7.200 vòng / phút (tương đương các đĩa cứng để bàn) cùng với bộ nhớ đệm 16 MB nên cho khả năng truy xuất dữ liệu nhanh hơn hẳn các ổ cứng nhỏ thông thường. Bên cạnh đó, dung lượng đĩa cứng cũng đạt mức 320GB, cho khả năng chứa nhiều dữ liệu hơn hẳn. Qua thử nghiệm truy xuất dữ liệu bằng laptop tương thích ổ cứng SATA-2, tốc độ đọc & ghi đều hơn hẳn ổ cứng đi kèm của laptop và góp phần nâng điểm số do hệ điều hành Windows Vista chấm cho hệ thống từ 5.4 lên 5.8 điểm. Tuy vậy, trong quá trình thử nghiệm, Scorpio Black hoạt động ồn hơn do tốc độ vòng quay cao hơn nhưng đó cũng sẽ không là vấn đề lớn lắm với người sử dụng.

Đĩa cứng Scorpio Black 320GB với tốc độ nhanh nên rất thích hợp cho người dùng có nhu cầu cao về truy xuất dữ liệu như dựng phim, xem phim chất lượng cao thông qua ổ cứng gắn ngoài. Sản phẩm hiện đang được Công ty Tân Doanh phân phối với mức giá 226 USD (bao gồm VAT), bảo hành 3 năm.

Góp ý cho GM

OCZ StealthXStream 600W

OCZ là cái tên đã khá quen thuộc với dân overclocker. Các bộ nguồn do OCZ cung cấp từ 500W – 1200W có thể đáp ứng cho các hệ thống khác nhau, một trong số đó phải kể đến StealthXStream với các sản phẩm có mức công suất 500W và 600W. Trong bài này, người viết sẽ giới thiệu về sản phẩm OCZ Stealth XStream 600W (OCZ SXS).

Sản phẩm được thiết kế với tông màu đen. Quạt tản nhiệt của OCZ SXS có kích thước lớn (12cm) tông màu đen với các cánh quạt mỏng, khi hoạt động cho phép một lượng gió lớn thổi vào bên trong PSU để làm mát các linh kiện trong PSU. Khả năng tản nhiệt của sản phẩm này hiệu quả là nhờ vào lưới thoát nhiệt hình tổ ong. Toàn bộ các dây cáp đều được bọc lưới chống nhiễu vào, có dây cột gọn để ít chiếm không gian cũng như tăng khả năng thoát nhiệt trong case. Các đầu cắm của OCZ SXS khá đầy đủ, đặc biệt hai đầu cắm 6 pin dành cho PCI có thêm một đầu 2-pin, nên PSU hỗ trợ tốt các card đồ họa yêu cầu 6 và 8 chân cấp nguồn, tương thích với các công nghệ sử dụng 2 card đồ họa của ATI hoặc nVidia.

OCZ Stealth XStream 600W có các chức năng đặc trưng:
- Tương thích tốt với chuẩn ATX2.0 của Intel.
- Multi-GPU Ready - hỗ trợ công nghệ đồ họa sử dụng 2 card VGA của ATI và nVIDIA.
- Hỗ trợ các CPU 64bit mới của AMD.
- Hỗ trợ 2 CPU với chân cấp nguồn 8pin.
- Hợp chuẩn WEEE & RoHS của Châu Âu.
- Công suất trên 85%.
- Công nghệ nâng cao hiệu suất sử dụng.
- Công nghệ giảm tiếng ồn.

Khi thử nghiệm bộ nguồn này với hệ thống: mainboard MSI Platium X48C, CPU Intel Q6600, RAM OCZ PC3 2x1GB bus 1600MHz, HDD Seagate 2 x 250GB, Case Cooler Master Centrurion 590, DVD-RW ASUS & VGA ASUS ATI 8450 512MB cho thấy: Hệ thống chạy tương đối êm với độ ồn khá thấp nhờ vào quạt lớn chạy trên các đệm bi. Tuy nhiên, với những tác vụ đòi hỏi tốc độ xử lí cao thì tiếng ồn có thể nghe thấy; nếu bạn đặt case ở trên bàn thì tiếng ồn sẽ rõ hơn.

OCZ StealthXStream 600W có giá 95 USD, được phân phối bởi Công ty Quang Phát.

Góp ý cho GM

SoundMax B-92 – “Rạp hát” bình dân

Với các thương hiệu nổi tiếng, việc trang bị một bộ loa 5.1 sẽ khiến cho nhiều người “đắn đo” bởi mức giá “kinh khủng” của chúng. Tuy nhiên, với những khách hàng yêu thích âm thanh vòm vẫn có thể trang bị cho mình “rạp hát tại gia” SoundMax B-92 với mức giá dưới 200 USD mà vẫn có được chất lượng âm thanh khá tốt.



Công suất đỉnh của loa đạt mức 225W với một loa siêu trầm tích hợp amply bên trong, bốn loa cột (25W một loa) và một loa trung tâm cũng có công suất 25W. Tất cả các loa đều sử dụng thùng gỗ (tuy chỉ là gỗ tạp để giảm giá thành sản phẩm) nên cho âm thanh và tiếng vang tốt hơn hẳn các loại loa chỉ dùng vỏ nhựa. Trong mỗi loa cột có bốn loa toàn dải với kích thước màng loa là 7cm và một loa treble, loa trung tâm có 2 loa toàn dải còn loa siêu trầm có kích thước màng loa lên đến 25cm. Tuy nhiên, lớp vỏ nhựa ở mặt trước loa siêu trầm không tương xứng lắm với thiết kế toàn bằng gỗ khiến bộ loa bị giảm sút một chút giá trị về sự sang trọng khi đặt trong phòng khách hoặc phòng ngủ. Các nút điều khiển cũng được tối giản, chỉ còn 4 nút (2 nút chỉnh âm lượng, nút nguồn và nút chọn nguồn phát âm thanh – 2 nguồn stereo và 1 nguồn 5.1). Bù lại, các tinh chỉnh đều được đưa lên bộ điều khiển từ xa.

Chất lượng âm thanh của “rạp hát” SoundMax B-92 đạt mức khá, tương xứng với số tiền mà bạn bỏ ra. Âm trung và cao vẫn là thế mạnh của các dàn loa SoundMax khi cho ra chất âm rất rõ ràng, tách bạch. Với các bản giao hưởng hoặc acoustics, âm của các nhạc cụ được tái hiện lại rất tốt, đặc biệt là tiếng piano. Tuy nhiên, nhà sản xuất SoundMax sẽ vẫn còn phải cải tiến nhiều để có thể nâng chất của âm trầm và siêu trầm lên bởi e-CHÍP TestLAB vẫn thấy chuỗi âm này bị đục, không vang xa (tương tự như người tiền nhiệm B-91 đã được giới thiệu trong các số báo trước đây của e-CHÍP). Nhưng, khi cho thử B-92 với một bộ phim hành động chuẩn DVD 5.1, các đoạn cao trào với tiếng súng bắn hoặc bước chân người rất ấn tượng bởi sự sắc và đanh gọn. TestLAB chúng tôi có thể cảm nhận được rất chi tiết những hành động của các nhân vật trong phim. Các thử nghiệm chơi game hành động hoặc dàn trận với B-92 cũng khiến gamer như chìm đắm vào thế giới của các trò chơi này.

Như vậy, dàn loa 5.1 này rất phù hợp cho các bạn yêu thích phim hành động hoặc chơi game chứ không phải để dành cho việc thưởng thức âm nhạc. Sản phẩm hiện đang được bán tại các cửa hàng tin học với giá khoảng 3.100.000đ.

Góp ý cho GM

Bo mạch chủ J&W RS780UVD-AM2+: Đồ họa rời trên nền tảng tích hợp

Đã từ lâu, người dùng đã quen thuộc với suy nghĩ các bo mạch chủ có chip xử lý đồ họa tích hợp (on-board) chỉ có tác dụng xài tạm với sức mạnh và các tính năng hạn chế. Tuy nhiên, điều đó đã thay đổi trong thời gian gần đây khi các nhà sản xuất ưu ái bắt đầu xây dựng những nền tảng đồ họa tích hợp mạnh mẽ.

Là hãng sản xuất bo mạch chủ lớn tại Trung Quốc nhưng chỉ mới bước đầu tham gia thị trường sau một thời gian khá dài chuyên gia công cho các hãng khác, J&W đã định hướng các dòng sản phẩm của mình luôn có mức giá hợp lý nhưng vẫn có được nhiều tính năng. J&W RS780UVD-AM2+ (128MB SP) là một ví dụ cụ thể bởi đây là bo mạch chủ ở mức trung bình nhưng được trang bị “tận răng” những công nghệ mới nhất như SATA2, PCI express 2.0, 10 cổng USB 2.0… Tuy nhiên, điểm nổi bật của bo mạch chủ này là người dùng được “khuyến mãi” hệ thống xử lý đồ họa với các tính năng không thua kém bất cứ card đồ họa rời nào trên thị trường với DirectX 10, Pixel Shader 4.0, OpenGL 2.1, bộ giải mã video HD cao cấp, các cổng xuất hình hỗ trợ DVI, D-Sub và HDMI.

Bảng thông số kỹ thuật:
Hỗ trợ các bộ vi xử lý • Socket AM2+/AM2
• AMD Phenom™FX / AMD Phenom™* / AMD Athlon™ 64 FX / AMD Athlon™ 64 X2 / AMD Athlon™ 64 / AMD Sempron™ processors
Chipset • AMD® 780G + SB700 (Tích hợp sẵn VGA ATI Radeon HD3200 với 128MB DDR2 có sẵn)
• Card mạng tích hợp Marvell® 10/100/1000 Mbps
• Chip I/O Winbond W83627EHG
• Chip âm thanh Realtek ALC 888 HD
HyperTransport™ • HyperTransport™ 3.0/1.0, 5200/2000 MT/s
Chuẩn bộ nhớ hỗ trợ • Dual Channel DDR2 1066/800/667/533 MHz
• Dung lượng tối đa : 8 GB
• Số lượng khe cắm : 4
Các cổng kết nối • Chân cấp nguồn chính 24-pin ATX
• Chân cấp nguồn phụ 8-pin ATX 12V (Có thể chỉ sử dụng 4pin)
• 1 x floppy
• 1 x IDE (tối đa 2 thiết bị)
• 6 x SATA 3Gb/s (hỗ trợ các chế độ RAID 0,1,0+1)
• 1 x CPU fan
• 1 x system fan
• 2 x USB 2.0 (mở rộng ra 4 port USB)
• 1 x loa mini tích hợp
Khe cắm mở rộng • 1 x PCI-E x16
• 2 x PCI
Các cổng kết nối có sẵn • 1 x PS/2 Keyboard
• 1 x HDMI
• 1 x DVI
• 1 x VGA (D-sub)
• 4 x USB 2.0
• 1 x RJ45 GigaLAN
• 3 x Audio ports (Line In / Line Out / MIC In), optional (Rear Speaker Out / Center-Subwoofer Speaker Out / Side Speaker Out)
Kích thước • Micro-ATX
• 225 x 245mm
Chip theo dõi hệ thống • Winbond W83627EHG
• Thông tin về nhiệt độ và các mức điện thế được hiển thị trong bios.
BIOS • Dung lượng chip BIOS : 8Mb
• Phần mềm nền : AMI

Về cơ bản, không có sự thay đổi đáng kể nào so với “người tiền nhiệm” RS780UVD 64MB ngoài chip RAM Side-port được nâng lên thành 128MB DDR2 667MHz. Nhưng, cũng với 128 MB RAM này, người dùng đã có thể so sánh card on-board này với card màn hình rời VGA ATI Radeon HD3450 (dĩ nhiên sự so sánh này cũng chỉ mang tính chất tương đối). Thêm vào đó, các tập lệnh cho BIOS đã được viết lại nhằm khắc phục hầu hết các lỗi phát sinh từ các chipset AMD780G đi trước.

Cấu hình thử nghiệm
Mainboard J&W RS780UVD 64MB SP
J&W RS780UVD 128MB SP
Asus M3H-A HDMI
CPU AMD Phenom X4 9550
Ram OCZ ReaperX 2GB KIT PC8000
HDD 320GB Western Digital SATA2
PSU FSP 1010W

e-CHÍP TestLAB tiến hành thử nghiệm 3DMark 2005 trên RS780UVD (128MB) và so sánh với bo mạch chủ ASUS M3H-A HDMI (không có chip SP) và “người anh em” RS780UVD cùng sử dụng chip SP nhưng chỉ có 64MB RAM. Kết quả thử nghiệm thật sự cũng không gây nhiều ngạc nhiên khi RS780UVD (128MB) vượt trên 20% so với ASUS và hơn 5% nếu so với RS780UVD (64MB).

Với kết quả nêu trên, bo mạch chủ J&W RS780UVD-AM2+ (128MB SP) chắc chắn sẽ là một sự lựa chọn sáng giá cho bạn nếu bạn là người không quá “cầu kì” trong việc xử lý đồ họa, dựng phim hoặc chơi game 3D “hạng nặng”. Thay vì phải đầu tư cho một chiếc card màn hình rời, bạn hãy nâng cấp bộ xử lý và RAM để có được một hệ thống mạnh mẽ, tích hợp nhiều tính năng hiện đại với chiếc bo mạch chủ này.

Góp ý cho GM

Các link của GM

Vì lý do kỹ thuật nên một số link của GM cung cấp sẽ kô hoạt động được nữa. GM sẽ cố gắng khắc phục tình trạng này trong thời gian ngắn.
Góp ý cho GM

Chat Box

Hì hì đã lau kô viết bài. Từ nay mọi người kô phải comment từng bài viết nữa cứ viết vào chatbox là ổn.
Get your own Chat Box! Go Large!
May 2012
M T W T F S S
April 2012June 2012
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31