Ngày đầu tiên viết blog

Subscribe to RSS feed

GOOD NEWS for myself

National Cheng Kung University
Spring Semester 2010: Admission Roster of Accepted International Degree Students
# 院別 College 系所別 Department/ Institute 學位 Degree 姓 名 中文姓名 國籍 Nationality 錄取結果
79 管理學院 College of
Management
國際經營管理研究

Inst. of International
Management
博士 Doctorat
e
DangMy Chau 越南 Vietnam 錄取
80 管理學院 College of
Management
國際經營管理研究

Inst. of International
Management
博士 Doctorat
e
Kitifu Kitti 泰國 Thailand 錄取
81 管理學院 College of
Management
國際經營管理研究

Inst. of International
Management
博士 Doctorat
e
Ung Monirainsey 柬埔寨 Cambodia 錄取
82 醫學院 College of
Medicine
物理治療學系 Dept. of Physical
Therapy
碩士 Master's Nguyen Thi Hoang Yen 越南 Vietnam 錄取
83 醫學院 College of
Medicine
細胞生物與解剖學
研究所
Dept. of Cell Biology
&Anatomy
碩士 Master's Sampilvanjil Ariunaa 蒙古 Mongolia 錄取
84
社會科學

College of Social
Sciences
政治經濟研究所 Inst. of Political
Economy
博士 Doctorat
e
Ho Huu Loc 胡有祿 越南 Vietnam 錄取
85 生科學院 College of
Bioscience and
Biotechnology
生命科學系 Dept. of Life Sciences 碩士 Master's Pham Phu Tran Vinh 越南 Vietnam錄取
Cll f
86 生科學院
College of
Bioscience and
Biotechnology
生命科學系 Dept. of Life Sciences 博士 Doctorat
e
Quynh Nguyen Thi Thuy 越南 Vietnam 錄取
87 生科學院
College of
Bioscience and
Biotechnology
熱帶植物科學研究

Inst. of Tropical Plant
Sciences
碩士 Master's Nguyen Thanh Tung 越南 Vietnam 錄取

Lấy chồng mải chơi, như nuôi thêm con mọn (Mai Hoa)

Việc lớn việc nhỏ trong nhà đều do mình lo cả. Lấy chồng đến nay đã được 6 năm có lẻ, vậy mà mình chưa bao giờ được hưởng sự giúp đỡ nào từ chồng. Người ta bảo có người đàn ông trong nhà là chỗ dựa vững chắc nhất, là cây tùng cây bách trong nhà nhưng với hoàn cảnh gia đình mình thì hoàn toàn ngược lại. Mình là phụ nữ trong nhà nhưng lại là trụ cột chính.

Hai vợ chồng đều là công viên chức, lương cũng khá, lại có thêm bố mẹ chồng thường xuyên phụ giúp. Lấy nhau, có nhà ra ở riêng luôn, tưởng thế là xướng rồi, mấy ai mới lấy mà có được cuộc sống như thế.

Nhưng khi ở riêng, mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều do một tay mình lo hết. Kinh tế trong nhà, mua sắm hay cần chi tiêu khoản gì đều từ lương của mình, có kêu thiếu thì chồng bảo để gọi bố mẹ mang sang, chưa bao giờ thấy anh đưa một đồng lương nào cho mình. Có hỏi thì anh bảo cần chi phí nhiều ở ngoài (theo mình thì chỉ để chi cho các cuộc gặp mặt, nhậu nhẹt thôi, chứ chi phí lớn nhỏ trong nhà có bao giờ anh bỏ ra một đồng nào đâu).

Có lần mình đang tắm, chị thu tiền điện đến, anh lại réo gọi mình… lại quấn khăn ra đưa tiền cho anh đóng (rút kinh nghiệm, có lần nhờ anh mở tủ, đóng tiền hộ anh lại lấy thêm một ít nữa). Đấy là một ví dụ nhỏ để mọi người thấy, chồng mình không bao giờ bỏ tiền túi ra cho một khoản chi nhỏ nào trong nhà cả. Lương anh chỉ để lo cho nhu cầu bản thân còn không đủ.

Thôi thì lương ít, lương nhiều không đóng góp với vợ nhưng cũng phải biết giúp vợ việc này việc kia trong nhà ngoài ngõ nhưng anh cũng phó mặc cho mình hết. Chắc lấy nhau lâu nay, việc anh giúp mình chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vợ có vắng nhà, thì may ra cho con ăn, rửa cái bát. Còn quần áo thì để đó, vợ về giặt sau. Như thế mà mẹ chồng mình sang đã khen con trai nức nở, nào là có tiến bộ, ở nhà có bao giờ hộ bố mẹ gì đâu. Mình lại cười ngượng theo mọi người, đúng là có tiến bộ, chứ có lần con khóc đói mà anh ngủ ngon lành…

Trong nhà hỏng điện, hỏng nước… mình có giục mỏi mồm, hết ngày nào qua ngày khác anh mới chịu đem đi sửa (tự sửa như một số đàn ông khác là không bao giờ có). Khi nào cần gấp, thì mình lại tự phải gọi thợ. Buồn nhất là có lần bóng điện lên cầu thang bị cháy, giục mãi anh không thay, con gái lớn của mình đã bị ngã cầu thang… vợ chồng cãi nhau to. Có lẽ chồng mình chỉ được cái khéo mồm, mồm miệng đỡ chân tay nên không giận anh lâu được. Có lẽ số mình khổ…

Chuyện lớn nhỏ trong nhà do mình lo, anh không phụ giúp gì nhưng lại còn làm cho mình thêm khổ. Một tuần anh ăn ở ngoài mấy tối, cả ngày đã ở công sở buổi tối để vợ chồng con cái quây quần ăn bữa cơm thì anh cũng rất ít về.

Có lúc cơm nước xong hết rồi, mẹ con ngồi đợi mãi không thấy anh về, gọi điện mới quấy quá xin lỗi rồi báo đang ăn ở ngoài… lại đang ngồi nhậu với bạn. Nửa đêm, tối muộn mới chịu về, người lại nồng nặc bia rượu. Có nói thì hứa hẹn, và lần sau lại tiếp tục như thế. Thích ăn thì về, không thì cũng rất ít khi báo về nhà một câu. Nhìn bữa ăn chuẩn bị cho cả gia đình thừa ra đấy, mình thật ấm ức. Chẳng nhẽ hôm nào cũng gọi điện hỏi xem có về nhà không, mà hỏi thế rồi cũng không chắc, chỉ cần một người bạn gọi đi là anh quên hết.

Chồng mình chẳng có chí tiến thủ gì cả, bạn bè học cùng anh người cũng lên trưởng nhóm, trưởng phòng… còn anh vẫn thế, mà thấy vẫn vui vẻ. Không bao giờ nghĩ ra làm thêm cái gì, chỉ nghĩ đi làm công ăn lương là đủ. Thích có tiền nhưng không chịu làm ăn, mà chỉ nhăm nhăm thi thoảng đánh con lô, con đề. Không đến nỗi quá ham hố nhưng tiền bỏ vào mấy trò đó cũng không ít, có lần cắm xe, cắm cả điện thoại. Nói mãi thì bảo chơi văn nghệ thôi, nhìn anh bỏ mấy trăm mua chục tờ vé số là mình sót cả ruột. Nói nặng nói nhẹ mãi, chẳng ăn thua, giờ mình đâm chán, mặc kệ.

Sau khi sinh thêm bé thứ 2, mình bị stress nặng. Mọi người động viên, có thêm đứa nữa để giữ chân chồng ở nhà nhưng chỉ là mua thêm việc thôi. Có thêm bé nữa thì mọi việc vẫn là mình lo, anh vẫn vậy, sống vô trách nhiệm. Nhà của mình mà chẳng khác gì nhà trọ, chỉ về ăn, tắm rửa, ngủ… sáng hôm sau lại đi.

Mệt mỏi, chán nản mình muốn bỏ đi đâu đó mấy ngày cũng không được. Nghĩ bụng đi ra ngoài rồi, ở nhà ai lo cho các con, đứa lớn đứa nhỏ nheo nhóc… trông chờ vào chồng thì con mình chỉ có chết đói.

Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng. Bạn bè, họ hàng ai có việc thì anh nhanh lắm. Ma chay, cưới hỏi dù ở xa hay gần, có khi ở tận quê đi lại mấy ngày anh cũng phải có mặt để tham gia. Chi phí lại lấy từ vợ, nói thì lại bảo mình quan hệ kém. Toàn anh em, bạn bè tốt không đi không được.

Mỗi lần chồng đi vắng, 3 mẹ con ở nhà sao thấy nhẹ nhõm thế. Cảm giác tự do, 3 mẹ con chăm sóc nhau, không phải đợi cửa đêm anh ấy về, không phải dọn dẹp đống hỗn độn cho anh… Mệt mỏi, nói anh mãi không được mình muốn ly dị để cuộc sống của 3 mẹ con thoải mái hơn. Vì có anh hay không cũng đều một mình lo gia đình hết.

Lo cho 2 con nhỏ không mệt bằng lo cho chồng, nói ra thì bố mẹ chồng không thông cảm, nhất là mẹ chồng bênh con trai quá. Lúc nào cũng dặn mình, thằng Hải thích cái này, cái kia… con liệu mà chiều nó, làm mình có cảm giác mình đang nuôi thêm một đứa con lớn đầu nữa.

Bốn thói xấu của người Việt đương đại (by Thang Sac)

Nói “của rất nhiều người Việt ” là để dễ lọt tai, thật sự cầu thị thì phải nói là Một số thói xấu của người Việt thời nay bởi vì những thói xấu này đang rất thịnh hành và phổ biến. Nói “người Việt hiện nay” là để giới hạn thời gian trong một số những thập kỷ gần đây, có thể người Việt xa xưa và người Việt trong tương lai không mắc những thói xấu này.


Thói gian lận

Nhiều thủ thuật gian lận cước taxi.

Từ điển Tiếng Việt 1994 định nghĩa gian lận là “có hành vi dối trả, mánh khóe, lừa lọc”. Dẫn từ điển cho chắc ăn thôi chứ nhắm mắt vào cũng thấy rõ người ta gian lận, dối trá thế nào, có khi còn thấy rõ hơn.

Trong buôn bán, từ nửa lạng cà chua, dăm ba quả táo đến hàng tấn cá ba sa, hàng tấn xi măng sắt thép đều có thể bị cân điêu, chỉ cần gian lận lấy nửa lạng là người ta đem nhét thật nhiều bánh đúc vào cái diều con gà, nếu gian lận được nửa yến thì sẵn sàng bơm thuốc phọt cho gà lợn rau quả mau tăng trọng, bất chấp những tai hại khôn lường, đồ xấu đánh tráo vào với đồ tốt rồi tính thành tiền đồ tốt, hàng ôi thiu thối rữa kém chất lượng đem tẩy rửa mông má lại để bán ra thành hàng tươi ngon…

Trong sản xuất thì bớt xén nguyên vật liệu, rút ruột công trình, làm hàng giả hàng nhái, gian lận giấy tờ sổ sách kế toán để moi tiền dự án bất chấp là dự án ODA hay dự án quốc gia, rút được tiền chia chác thì làm, không thì bỏ, bất kể chất lượng tốt xấu…Lại còn cái kiểu hùa nhau bỏ thầu thật thấp, chộp giật, cứ thắng thầu cái đã, làm nửa chừng thì bỏ đấy, một bên hết vốn, bên kia muốn hoàn thành kế hoạch lấy thành tích thi đua thì xin mời bỏ tiền vào…

Trong giáo dục thì trường trường lớp lớp đua nhau cho điểm vống lên, học sinh lên lớp hết để lấy thành tích, cán bộ cỡ muốn có bằng thì có người đi học thay, dân tứ chiếng muốn có bằng thì mua, điểm thi thì tẩy xóa xin xỏ, giấy báo kết quả thì mạo điểm mạo danh, vào thi thì mang theo phao, cấm đoán thế nào cũng không xuể, cha mẹ thì chạy trường chạy lớp phờ cả người, nghĩ mà kinh…

Về mặt xã hội thì kể không biết bao nhiêu thí dụ cho xuể, này nhé: lên phường lên xã vào bệnh viện thì bị xoay đủ kiểu nhưng cứ có ít “ngan nằm” là được việc, ra đường gặp đủ cách gian lận giao thông, kể từ bằng lái rởm đến xe rởm, kể từ người đi bộ, đi xe máy đến công-tơ-nơ siêu trường siêu trọng, hễ gian lận được đường là gian lận, có mắc mớ thì kẹp “nó” vào giấy tờ rồi nhờ nộp hộ vào kho, em vội phải đi không cần lấy hóa đơn, thế là xong.

Tiền của chính phủ cho người nghèo ăn tết, tiền từ thiện cũng bị ăn chặn ăn bớt. Trộm đạo tứ tung, trộm to như tham nhũng, man trá thuế khóa, nhập lậu xuất lậu …đến nhỏ như trộm cái đinh bù loong, cái thanh tà vẹt, con gà con cá… (trộm cá bằng kích điện là phổ biến từ Nam chí Bắc !). Người dân xây nhà hễ gian lận được dù chỉ một vài mét đất công là lấn tới, người dân buôn bán hễ làm luật được là chiếm luôn vỉa hè…

Trong văn hóa tư tưởng thì đạo văn đạo nhạc, đạo thơ đạo họa đủ cả, cũng chạy giải thưởng cho có danh, đánh bóng mạ kền cho sáng tên tuổi…Một phần không ít thanh niên học hành làm việc thì lười mà chỉ muốn có tiền nhanh, chỉ muốn tiêu xài xì tin, váy cộc chân dài tóc bờm dựng ngược, nay vũ trường mai nhà nghỉ…

Có những cuộc vận động hoặc thi tìm hiểu mà ai cũng biết có phần không phải, ai cũng có phần không phải nhưng vẫn bất chấp, vẫn bỏ tiền bỏ của bỏ thời gian lao vào làm. Khủng khiếp nữa là gian lận giữa ý nghĩ với lời nói, người ta sẵn sàng nói cái điều mà người ta không nghĩ thế, từ đấy dẫn đến gian lận giữa lời nói và việc làm, tôi có thể rao giảng anh đừng vào nhà nghỉ khi tôi vừa từ nhà nghỉ bước ra…

Gian lận dối trá giằng chéo đan xen ngang dọc trên dưới lớn bé to nhỏ trong suốt một thời gian rõ dài đã vượt quá một cái nếp xấu, một thói quen xấu để trở thành một thói xấu của tôi của anh của chúng ta nếu bạn không muốn nói là của người Việt bây giờ.

Thói vô trách nhiệm

Lại dẫn từ điển tiếng việt 1994: Trách nhiệm: 1-phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả. 2- Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai thì phải gánh chịu phần hậu quả.

Cứ theo như định nghĩa trên, cho tới bây giờ, hầu hết những kết quả không tốt đều chưa có đâu phải gánh chịu. Như thế là thói vô trách nhiệm.

Nếu như trách nhiệm của mình chưa ba năm rõ mười thì ai ai cũng nghĩ rằng đó là trách nhiệm của người khác, của ngành khác, của cơ quan khác. Phủi tay.

Ngày trước, người ta bảo vệ cây ven đường bằng cách quét vôi quanh gốc. Lúc đầu người công nhân quét rất cẩn thận, nước vôi trắng vừa đủ, vôi không rớt xuống chung quanh. Càng về sau, nước vôi càng loãng, vôi tung tóe ra đường, cho tới một lúc thấy họ chỉ gạch chéo vào gốc cây mấy cái, coi thế là xong.

Quần áo loại dành cho người ít tiền mua về thì đường chỉ xiêu vẹo, chưa mặc đã tụt khuy, xe máy đem đi bảo dưỡng thì người ta mở ra lau qua rồi lại lắp vào như thế gọi là bảo dưỡng, nhiều công trình bị rút ruột dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, nhà bị đổ, cầu bị sập…

Người dân lên xã phường quận huyện hoặc những cơ quan công quyền khác thường bao giờ cũng phải dăm lần bảy lượt, nhẹ nhàng cũng là người có trách nhiệm đi tập huấn, cô chú cứ chờ. Đầy đủ cả rồi mà không thích thì hỏi tại sao cái đơn lại viết thế này, chữ như chữ bác sĩ ai mà đọc được, về viết lại rồi đem lên đây…

Cả con đường mới làm to đẹp như thế tự nhiên chình ình ra một phần cái nhà, rõ là phải giải phóng ngay từ đầu mà vẫn không đi không dỡ không phá. Lại còn cái việc đổ trộm vật liệu phế thải ra đường nữa chứ, cứ đêm đến đổ ra ngồn ngộn, nói xin lỗi chẳng khác gì cái việc ị ra đường hàng đống tướng. Những gì là của công, của cộng đồng thì việc giữ gìn bảo quản thật khó, chặt phá xâm lấn vẽ bậy bỏ bẩn một cách hết sức hồn nhiên. Ra đường thấy kẻ cắp móc túi mà không hô hoán, gặp người bị nạn thì rất đông người xúm lại để…xem nhưng vẫn dửng dưng.

Công chức ở cơ quan, xin nói thật nhé, chẳng lấy đâu ra chuyện tám giờ vàng ngọc, trừ một vài người làm cật lực còn đâu thì tranh thủ đi chợ, đưa đón con, giặt quần áo khi nhà mất nước, sắc thuốc cho đỡ tốn điện nhà, trà nước, đọc báo buôn chuyện chơi gêm…Đủ cả. Người dân ở đường phố thì vứt rác vứt chuột chết ra đường, thải rác xuống sông xuống cống thoải mái, có khi ngang nhiên đào ống nước ngang qua đường, rửa xe máy thì phun cả nước vào người qua lại, mở cửa hàng bún chả thì cả phố hít khói với mùi thịt nướng, mở cửa hàng sắt thì ngày đêm bốn chung quanh nghe uỳnh uỵch xuống hàng, mở cửa hàng bán vô tuyến thì loa eo éo suốt ngày, bước ra đường thì bụi cát mù trời…

Nhiều người có tiền, bỗng dưng có rất nhiều tiền thì phè phỡn và bất chấp.

Nhiều nhà báo nhúng bút vào sự thật thì bị đe dọa, có trường hợp bọn xấu bắn đạn chì nhà báo lại trượt vào đùi nhà thơ mới bi hài làm sao !

Rất đông thanh niên công khai nói rằng sống trung thực thì chỉ thiệt thòi. Cũng rất đông thanh niên chỉ ham chơi, đua đòi, sống ngày qua ngày không lý tưởng (lý tưởng hiểu theo nghĩa có mục đích tốt để phấn đấu), không có mẫu hình nào để noi theo (như một thời những Nguyễn Văn Trỗi, Lê Mã Lương…)…

Không kể hết được. Chỉ tóm lại một câu hỏi : đâu chịu trách nhiệm về những kết quả không tốt ấy ?

Đã nhiều năm rồi người ta quen vô trách nhiệm, vô trách nhiệm nghề nghiệp, vô trách nhiệm lương tâm, tới mức trở thành dửng dưng, vô cảm, trở thành tín đồ của chủ nghĩa ma-ke-no, một thói xấu của tôi, của anh, của chúng ta nếu như bạn không muốn nói đó là của người Việt bây giờ.

Thói cơ hội chủ nghĩa

Định nghĩa một cách đơn giản nhất theo Từ điển tiếng Việt 1994 là: 1- Quan điểm, chủ trương lợi dụng cơ hội, mưu cầu những lợi ích trước mắt và cục bộ, bất kể việc làm đúng hay sai. 2- Khuynh hướng tư tưởng-chính trị trong phong trào công nhân, chủ trương chính sách tùy thời, thỏa hiệp.

Chủ nghĩa cơ hội đã len lỏi, xâm nhập vào từng cá nhân, trở thành một thói xấu là thói cơ hội chủ nghĩa theo đó người ta bất chấp đúng sai, tùy thời thỏa hiệp, đón gió trở cờ để mưu cầu lợi ích cho riêng mình.

Xu thời nịnh bợ tràn lan, còn quyền thì còn đeo bám bợ đỡ, hết quyền thì lập tức quay lưng nói xấu, xoay ngay sang kẻ khác đang quyền. Những người được nịnh bợ thì đều biết chúng nó nịnh mình, nghe mãi thành quen, nghe điều trái tai thì chịu không được, lại cũng có yêu cầu phải dùng chúng nó, biến chúng nó thành lũ đệ tử em út để mà sai bảo mưu cầu lợi ích riêng, kể từ chuyện nhỏ như con thỏ là đi nhà nghỉ mát-xa đến chuyện lớn là xí phần đất cát, chung cư, dự án…Thế là kẻ xu nịnh và đứa được bợ đỡ hai bên đều cần nhau, xoắn vào nhau, đều tùy thời thỏa hiệp, tạo thành một thể thống nhất, có anh này thì có anh kia, cứ thế luân hồi tưởng như không bao giờ chấm dứt.

Đấy là chưa nói đến những mưu đồ phản trắc, lừa lọc cài bẫy, vu oan giá họa, bơm vá xì tút bóp méo sự thật, xúi bẩy khích bác, a dua….chỉ vì những lợi ích cá nhân. Suy cho cùng, đấy cũng chính là thói cơ hội chủ nghĩa

Lại còn hiện tượng này nữa : những kẻ xấu thì kéo bè kéo cánh, có nịnh bợ trên có đe nẹt dưới, có tham mưu có tư vấn, có liên kết móc nối, còn người tốt thì đơn độc, trơ trọi, không biết dựa vào đâu. Đành ngu ngơ ngậm miệng, nhắm mắt cho qua, bực dọc bức xúc thì về nhà chửi bâng quơ cho bõ tức thế thôi, suy cho cùng cũng là cơ hội chủ nghĩa.

Thói cơ hội chủ nghĩa đang làm biến dạng trái tim và tâm hồn tôi, anh, đang phá hoại niềm tin của chúng ta đối với những giá trị tinh thần cao đẹp.

Thói chí phèo

Đốt xe máy ăn vạ

Không cần phải dẫn định nghĩa, ai cũng hiểu thói chí phèo là gì. Chỉ nói thêm dân gian còn một từ khác để chỉ thói xấu này, đó là từ “bầy hầy”.

Nhìn chung quanh mình thấy không ít những kẻ “cào lưng ăn vạ”. Xin kể ra đây một thí dụ điển hình. Trong một cuộc họp, một cán bộ bị phê bình, tức quá không kìm được bèn rút điện thoại di động ra nói để tôi gọi cho Chủ tịch nước hỏi xem phê bình thế có đúng hay không ! Anh ta thường khoe là quen với Chủ tịch mà. Chí phèo đến thế thật đã hết chỗ bình luận.

Trong mỗi cơ quan thế nào cũng có một vài anh cứ xoay ngang ra, mọi người làm một đường anh ta phát biểu ý kiến một nẻo. Một số người sai toét mà cứ ôm đơn đi kiện, không ăn được thì đạp đổ, bầy hầy hết chỗ nói mà phải chịu đấy. Một số anh về hưu rồi nhưng hàng ngày cứ đến cơ quan, cứ giữ phòng làm việc, cứ góp ý tùm lum hết cả. Trong sinh hoạt dân phố, đốt bếp than tổ ong khói xộc vào nhà người ta hàng ngày, người ta có ý kiến thì quắc mắt thách đứa nào dám động vào bếp của ông. Vứt rác ra đường, có ý kiến thì la lối tao vứt ra đường chứ tao có vứt vào nhà vào mả chúng mày đâu, vác cưa máy mang ô tô đi cưa trộm cây gỗ quý giữa lòng Hà Nội…Khiếp quá !

Tham gia giao thông thì thấy ngay thế nào là chí phèo. Những chuyện bầy hầy như vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, phóng xe trên vỉa hè…chả là cái đinh gì so với chuyện khi phạm luật thì hất cảnh sát giao thông lên nắp ca-pô rồi bỏ chạy mấy chục cây số, bật diêm đốt xe máy giữa đường, ngồi lỳ trên xe máy để cảnh sát phải khiêng cả người cả xe về trạm, gây tai nạn rồi bỏ chạy, mặc xác người bị nạn…

Rủ nhau đi cướp gà toi, khi phóng viên chụp ảnh lại còn giơ mấy con gà dịch lên khoe, đi hội hoa thì chen chúc, dẫm đạp, bẻ cành ngắt hoa, hành khách đi xe thì bị nhốt vào tiệm cơm tù, xe buýt bị chặn lại để cướp khách, ra đường động va chạm một tí là đe chém đe giết, rải đinh ra đường cho xe xịt lốp rồi hành nghề vá xe…..Đúng là có đến một ngàn lẻ một kiểu chí phèo.

Thói chí phèo làm cho người ta nhờn với pháp luật và coi nhẹ một số những giá trị tinh thần, là thói xấu mà tôi, anh và chúng ta bây giờ có thể nhận rõ trong rất nhiều những hành xử hàng ngày. Dân gian gọi những người mắc thói chí phèo là những người bị đứt dây thần kinh xấu hổ, những dân ngụ cư ở phố hàng thớt !

*

Trên đây là một số thói xấu của nhiều người Việt chúng ta trong nhiều thập kỷ vừa qua. Những thói xấu này gắn bó với nhau, liên quan qua lại, có khi cái này là cái kia, trong cái này có cái kia, không khó để nhận biết bởi vì người ta cũng chẳng cần che dấu là mấy.

Chủ đề không mới nhưng vẫn đáng nhắc lại để một lần nữa chúng ta nhìn lại và nhận biết hơn chính chúng ta, với tư cách là một cá nhân, một tập thể, một tổ chức. Nhắc lại với nhau mà cùng biết xấu hổ, đó là điều may, còn nhắm mắt bịt tai, coi như mình đã tốt cả rồi thì đó là bất hạnh.

Thế nào cũng có bạn hỏi những thói xấu trên có là thuộc tính, là bản chất bản ngã gì gì đấy của người Việt hay không. Chắc chắn là không. Những nghĩa cử tốt đẹp, những trái tim trung hậu giàu lòng nhân ái, vị tha, đồng cảm còn nhiều lắm và đó mới là bản tính người Việt. Thế thì những thói xấu trên ở đâu quàng vào chúng ta? Nếu thực sự có một câu hỏi như thế thì nó đã vượt quá sức của người viết bài này, bởi vậy phải xin ý kiến của các nhà quản lý xã hội, các nhà nghiên cứu về xã hội, về văn hóa, lịch sử…Và để mọi người cũng có cơ hội bày tỏ ý kiến, nói cho rõ ra đâu là đen đâu là trắng thì phải chăng nên mở mục thăm dò ý kiến rộng rãi về mấy thói xấu trên và nguồn gốc của nó.

CSR important books

1. Corporate Social Responsibility: Doing the Most Good for Your Company and Your Cause by Philip Kotler and Nancy Lee (Hardcover - Dec 13, 2004)
2. The Triple Bottom Line, Does It All Add Up?: Assessing the Sustainability of Business and CSR by Adrian Henriques and Julie Richardson (Paperback - April 2004)
3. CSR in Practice: Delving Deep by Andrew Kakabadse (Hardcover - Feb 6, 2007)
4. The Market for Virtue: The Potential And Limits of Corporate Social Responsibility by David Vogel (Paperback - Aug 1, 2006)
5. The ICCA Handbook of Corporate Social Responsibility by Judith Hennigfeld, Manfred Pohl, and Nick Tolhurst (Hardcover - Nov 17, 2006)
6. Strategic CSR Communication by Suzanne C. Beckmann and Mette Morsing (Paperback - Nov 2006)
7. The A to Z of Corporate Social Responsibility: A Complete Reference Guide to Concepts, Codes and Organisations by Wayne Visser, Dirk Matten, Manfred Pohl, and Nick Tolhurst (Hardcover - Feb 11, 2008)
8. Ethics, CSR, & Sustainability:: An Aristotelian Vision, Mission, And Strategy For The Global Economy And A Sustainable Planet by Christos Papoutsy (Paperback - Feb 24, 2008)
9. Harvard Business Review on Corporate Responsibility (Harvard Business Review Paperback Series) by Harvard Business School Press, C. K. Prahalad, and Michael E. Porter (Paperback - Jul 10, 2003)
10. Corporate Social Responsibility (CSR) as a Public Relations Strategy by Kathrin Bauer (Paperback - Aug 29, 2008)
11. Strategic Corporate Social Responsibility: Stakeholders in a Global Environment by William B. Werther Jr. and David Chandler (Paperback - Nov 11, 2005)
12. Corporate Social Responsibility as an International Strategy (Contributions to Economics) by Christina Keinert (Hardcover - April 14, 2008)
13. Responsible Business: How to Manage a CSR Strategy Successfully by Nick Tolhurst and Manfred Pohl (Hardcover - Feb 19, 2010)
14. CSR Strategies: Corporate Social Responsibility for a Competitive Edge in Emerging Markets by Sri Urip (Hardcover - Mar 1, 2010)
15. Communicating about corporate social responsibility: A comparative study of CSR reporting in Australia and Slovenia [An article from: Public Relations Review] by U. Golob and J.L. Bartlett (Digital - Mar 1, 2007) - HTML
16. Internationalisation and Corporate Social Responsibilty in Europe: CSR and Internationalisation. A research on Corporate Social Responsibility and volunteerism in Europe by Esther Punte (Paperback - Jul 23, 2009)
17. Crisp: Success as a CSR (Crisp Professional Series) by Lloyd C. Finch (Paperback - Nov 30, 1997)
18. CSR - from Risk to Value by Ohrlings PriceWaterhouseCoopers (Paperback - Jan 15, 2008)

Criticisms and concerns of CSR

Critics of CSR as well as proponents debate a number of concerns related to it. These include CSR's relationship to the fundamental purpose and nature of business and questionable motives for engaging in CSR, including concerns about insincerity and hypocrisy.
[edit] CSR and the nature of business

Milton Friedman and others have argued that a corporation's purpose is to maximize returns to its shareholders, and that since (in their view), only people can have social responsibilities, corporations are only responsible to their shareholders and not to society as a whole. Although they accept that corporations should obey the laws of the countries within which they work, they assert that corporations have no other obligation to society. Some people perceive CSR as incongruent with the very nature and purpose of business, and indeed a hindrance to free trade. Those who assert that CSR is incongruent with capitalism and are in favor of neoliberalism argue that improvements in health, longevity and/or infant mortality have been created by economic growth attributed to free enterprise.[12]

Critics of this argument perceive neoliberalism as opposed to the well-being of society and a hindrance to human freedom. They claim that the type of capitalism practiced in many developing countries is a form of economic and cultural imperialism, noting that these countries usually have fewer labor protections, and thus their citizens are at a higher risk of exploitation by multinational corporations.[13]

A wide variety of individuals and organizations operate in between these poles. For example, the REALeadership Alliance asserts that the business of leadership (be it corporate or otherwise) is to change the world for the better.[14] Many religious and cultural traditions hold that the economy exists to serve human beings, so all economic entities have an obligation to society (e.g., cf. Economic Justice for All). Moreover, as discussed above, many CSR proponents point out that CSR can significantly improve long-term corporate profitability because it reduces risks and inefficiencies while offering a host of potential benefits such as enhanced brand reputation and employee engagement.
[edit] CSR and questionable motives

Some critics believe that CSR programs are undertaken by companies such as British American Tobacco (BAT),[15] the petroleum giant BP (well-known for its high-profile advertising campaigns on environmental aspects of its operations), and McDonald's (see below) to distract the public from ethical questions posed by their core operations. They argue that some corporations start CSR programs for the commercial benefit they enjoy through raising their reputation with the public or with government. They suggest that corporations which exist solely to maximize profits are unable to advance the interests of society as a whole.[16]

Another concern is when companies claim to promote CSR and be committed to Sustainable Development whilst simultaneously engaging in harmful business practices. For example, since the 1970s, the McDonald's Corporation's association with Ronald McDonald House has been viewed as CSR and relationship marketing. More recently, as CSR has become mainstream, the company has beefed up its CSR programs related to its labor, environmental and other practices[17] All the same, in McDonald's Restaurants v Morris & Steel, Lord Justices Pill, May and Keane ruled that it was fair comment to say that McDonald's employees worldwide 'do badly in terms of pay and conditions'[18] and true that 'if one eats enough McDonald's food, one's diet may well become high in fat etc., with the very real risk of heart disease.'[19]

Shell has a much-publicised CSR policy and was a pioneer in triple bottom line reporting, but this did not prevent the 2004 scandal concerning its misreporting of oil reserves, which seriously damaged its reputation and led to charges of hypocrisy. Since then, the Shell Foundation has become involved in many projects across the world, including a partnership with Marks and Spencer (UK) in three flower and fruit growing communities across Africa.

Critics concerned with corporate hypocrisy and insincerity generally suggest that better governmental and international regulation and enforcement, rather than voluntary measures, are necessary to ensure that companies behave in a socially responsible manner.
[edit] Motivations

Corporations are motivated to adopt CSR practices by several different factors.[20]
[edit] Ethical consumerism

The rise in popularity of ethical consumerism over the last two decades can be linked to the rise of CSR. As global population increases, so does the pressure on limited natural resources required to meet rising consumer demand (Grace and Cohen 2005, 147). Industrialization in many developing countries is booming as a result of technology and globalization. Consumers are becoming more aware of the environmental and social implications of their day-to-day consumer decisions and are beginning to make purchasing decisions related to their environmental and ethical concerns. However, this practice is far from consistent or universal.
[edit] Globalization and market forces

As corporations pursue growth through globalization, they have encountered new challenges that impose limits to their growth and potential profits. Government regulations, tariffs, environmental restrictions and varying standards of what constitutes labour exploitation are problems that can cost organizations millions of dollars. Some view ethical issues as simply a costly hindrance. Some companies use CSR methodologies as a strategic tactic to gain public support for their presence in global markets, helping them sustain a competitive advantage by using their social contributions to provide a subconscious level of advertising. (Fry, Keim, Meiners 1986, 105) Global competition places particular pressure on multinational corporations to examine not only their own labour practices, but those of their entire supply chain, from a CSR perspective.
[edit] Social awareness and education

The role among corporate stakeholders to work collectively to pressure corporations is changing. Shareholders and investors themselves, through socially responsible investing are exerting pressure on corporations to behave responsibly. Non-governmental organizations are also taking an increasing role, leveraging the power of the media and the Internet to increase their scrutiny and collective activism around corporate behavior. Through education and dialogue, the development of community in holding businesses responsible for their actions is growing (Roux 2007).
[edit] Ethics training

The rise of ethics training inside corporations, some of it required by government regulation, is another driver credited with changing the behaviour and culture of corporations. The aim of such training is to help employees make ethical decisions when the answers are unclear. Tullberg believes that humans are built with the capacity to cheat and manipulate, a view taken from (Trivers 1971, 1985), hence the need for learning normative values and rules in human behaviour (Tullberg 1996). The most direct benefit is reducing the likelihood of "dirty hands" (Grace and Cohen 2005), fines and damaged reputations for breaching laws or moral norms. Organizations also see secondary benefit in increasing employee loyalty and pride in the organization. Caterpillar and Best Buy are examples of organizations that have taken such steps (Thilmany 2007).

Increasingly, companies are becoming interested in processes that can add visibility to their CSR policies and activities. One method that is gaining increasing popularity is the use of well-grounded training programs, where CSR is a major issue, and business simulations can play a part in this.[citation needed]
[edit] Laws and regulation

Another driver of CSR is the role of independent mediators, particularly the government, in ensuring that corporations are prevented from harming the broader social good, including people and the environment. CSR critics such as Robert Reich argue that governments should set the agenda for social responsibility by the way of laws and regulation that will allow a business to conduct themselves responsibly.

The issues surrounding government regulation pose several problems. Regulation in itself is unable to cover every aspect in detail of a corporation's operations. This leads to burdensome legal processes bogged down in interpretations of the law and debatable grey areas (Sacconi 2004). General Electric is an example of a corporation that has failed to clean up the Hudson River after contaminating it with organic pollutants. The company continues to argue via the legal process on assignment of liability, while the cleanup remains stagnant. (Sullivan & Schiafo 2005). The second issue is the financial burden that regulation can place on a nation's economy. This view shared by Bulkeley, who cites the Australian federal government's actions to avoid compliance with the Kyoto Protocol in 1997, on the concerns of economic loss and national interest. The Australian government took the position that signing the Kyoto Pact would have caused more significant economic losses for Australia than for any other OECD nation (Bulkeley 2001, pg 436). Critics of CSR also point out that organisations pay taxes to government to ensure that society and the environment are not adversely affected by business activities.

Denmark made a law on CSR. 16 December 2008, the Danish parliament adopted a bill making it mandatory for the largest Danish companies, investors and state owned companies to include information on corporate social responsibility (CSR) in their annual financial reports. The reporting requirements became effective on 1 January 2009[21].

The information shall include:

* information on the companies’ policies for CSR or socially responsible investments (SRI)
* information on how such policies are implemented in practice and
* information on what results have been obtained so far and managements expectations for the future with regard to CSR/SRI.

CSR/SRI is still voluntary in Denmark, but if a company has no policy on this they must state information to that effect explicitly in their annual financial report.

More on the Danish law on CSRgov.dk
[edit] Crises and their consequences

Often it takes a crisis to precipitate attention to CSR. One of the most active stands against environmental management is the CERES Principles that resulted after the Exxon Valdez incident in Alaska in 1989 (Grace and Cohen 2006). Other examples include the lead poisoning paint used by toy giant Mattel, which required a recall of millions of toys globally and caused the company to initiate new risk management and quality control processes. In another example, Magellan Metals in the West Australian town of Esperance was responsible for lead contamination killing thousands of birds in the area. The company had to cease business immediately and work with independent regulatory bodies to execute a cleanup.
[edit] Stakeholder priorities

Increasingly, corporations are motivated to become more socially responsible because their most important stakeholders expect them to understand and address the social and community issues that are relevant to them. Understanding what causes are important to employees is usually the first priority because of the many interrelated business benefits that can be derived from increased employee engagement (i.e. more loyalty, improved recruitment, increased retention, higher productivity, and so on). Key external stakeholders include customers, consumers, investors (particularly institutional investors, regulators, academics, and the media).


References

* Bansal, P., R. Roth (2000). "Why Companies Go Green: A model of Ecological Responsiveness". The Academy of Management Journal, Vol.43, No.4, pp. 717–736.
* Bulkeley, H. (2001). "Governing Climate Change: The Politics and Risk Society". Transactions of the Institute of British Geographers, New Series, Vol.26, No.4, pp. 430–447.
* Brand Strategy (2007). "10 key things to know about CSR". London. pg.47.
* Catalyst Consortium (2002). "What is Corporate Social Responsibility?"
* CSR Network. "What is CSR?"
* Fialka. J. (2006). "Politics & Economics: Big Businesses Have New Take on Warming; Some Companies Move From Opposition to Offering Proposals on Limiting Emissions". Wall Street Journal. pg.A.4.
* Fields, S. (2002). "Sustainable Business Makes Dollars and Cents". Environmental Health Perspectives, Vol.110, No.3, pp.A142-A145.
* Fry, L. W., G. D. Keim, R. E. Meiners (1982). "Corporate Contributions: Altruistic or for Profit?" The Academy of Management Journal, Vol.25, No.1, pp. 94–106.
* Grace, D., S. Cohen (2005). Business Ethics: Australian Problems and Cases. Oxford University Press. ISBN 0195507940.
* International Court of Justice. "How the Court Works".
* Pitts, C. (ed.), M. Kerr, R. Janda, & C. Pitts (2009) Corporate Social Responsibility: A Legal Analysis (Toronto: LexisNexis). ISBN 9780433451150.
* Roux, M. (2007). "Climate conducive to corporate action: 1 All-round Country Edition". The Australian. Canberra, A.C.T. pg.14. online article
* Sacconi, L. (2004). A Social Contract Account for CSR as Extended Model of Corporate Governance (Part II): Compliance, Reputation and Reciprocity. Journal of Business Ethics, No.11, pp. 77–96.
* Sullivan, N.; R. Schiafo (2005). Talking Green, Acting Dirty (Op-Ed). New York Times, June 12, 2005.
* Thilmany, J. 2007. "Supporting Ethical Employees." HR Magazine, Vol. 52, No.2, September 2007, pp. 105–110.
* Tullberg, S., J. Tullberg (1996). "On Human Altruism: The Discrepancy between Normative and Factual Conclusions". Oikos, Vol.75, No.2, pp. 327–329.
* Visser, W., D. Matten, M. Pohl, N. Tolhurst (eds.) (2008). The A to Z of Corporate Social Responsibility. Wiley. ISBN 978-0-470-72395-1.

Further reading
* Baker, Mallen. "Arguments against Corporate Social Responsibility". Business Respect. http://www.mallenbaker.net/csr/CSRfiles/against.html. Retrieved 2008-03-07.
* Carroll, A.; A. Buchholtz (2006). Business and Society: Ethics and Stakeholder Management, 6th ed. Mason, OH: Thomson/South-Western. ISBN 0324225814.
* Carroll, A. (1998). "The Four Faces of Corporate Citizenship". Business and Society Review. September, vol. 100, no. 1, pp. 1–7
* Cavett-Goodwin, David (2007-12-03). "Making the Case for Corporate Social Responsibility". Cultural Shifts. http://culturalshifts.com/archives/181. Retrieved 2008-03-07.
* Clarkson, M. (1995). "A stakeholder framework for analyzing and evaluating corporate social performance". Academy of Management Review. Vol.20, pp. 92–117.
* Davis, K.; R. Blomstrom (1975). Business and Society: Environment and Responsibility, New York: McGraw-Hill. ISBN 0070155240.
* Farnham Castle. "Corporate Social Responsibility: New Fad or Necessity". http://www.intercultural-training.co.uk/articles/general/corporate_social_resp.asp. Retrieved 2008-03-07.
* "Ian Davis on business and society". The Economist. 2005-05-26. http://www.economist.com/printedition/displayStory.cfm?Story_ID=4008642. Retrieved 2008-03-07. - advantages and limitations of CSR
* Feltus, C.; Petit, M. (2009). "Building a Responsibility Model Including Accountability, Capability and Commitment", Proceedings of the Fourth International Conference on Availability, Reliability and Security, Institute of Electrical and Electronics Engineers ( IEEE ), Fukuoka, 2009.
* Fombrun, C. (2000). "The value to be found in corporate reputation". Financial Times, December 4, 2000.
* Griffin, J.; J. Mahon (1997). "The Corporate Social Performance and Corporate Financial Performance Debate", Business and Society. Vol. 36. pp. 5–31.
* Holton, Glyn A.. "Investor Suffrage Movement" (PDF). Financial Analysts Journal 62 (6). http://www.contingencyanalysis.com/home/papers/suffrage.pdf. Retrieved 2008-03-07.
* Habisch, A; Jonker, J.; Wagner, M; Schmidpeter, R.(2005): Corporate Social Responsibility Across Europe. Springer. ISBN 3-540-23251-6.
* International Business Report (2008). Corporate Social Responsibility: a necessity not a choice, Grant Thornton.
* Jastram, Sarah (2007). "The Link Between Corporate Social Responsibility and Strategic Management". CIS Papers No.17. Centre of International Studies, Hamburg.
* Lin-Hi, Nick (2008). "Corporate Social Responsibility: An Investment in Social Cooperation for Mutual Advantage", Wittenberg Center for Global Ethics Discussion Paper 2008-6.
* Maignan, I., O. Ferrell, G. Tomas (1999). "Corporate Citizenship: Cultural Antecedents and Business Benefits". Journal of the Academy of Marketing Science. Vol.27, No.4, pp. 455–469.
* Maignan, I., O. Ferrell (2001). "Corporate citizenship as a marketing instrument". European Journal of Marketing. Vol.35, No.3/4, pp. 457–484
* Matten, D., A. Crane, W. Chapple (2003). "Behind the mask: Revealing the true face of corporate citizenship". Journal Business Ethics, Vol.45, No.1, p. 109.
* Menon, A., A. Menon (1997). "Enviropreneurial marketing strategy: the emergence of corporate environmentalism as marketing strategy". Journal of Marketing, Vol.61, pp. 51–67.
* "Millennium Poll on Corporate Responsibility", Environics International Ltd., in cooperation with The Prince of Wales Trust, September 1999.
* Jones, I., M. Pollitt, D. Bek (2006). "Multinationals in their communities: A social capital approach to corporate citizenship projects", University of Cambridge Working Paper 337.
* Manne, Henry G. (2006-11-24). "Milton Friedman Was Right". The Wall Street Journal. http://www.opinionjournal.com/editorial/feature.html?id=110009295. Retrieved 2008-03-07.
* Milchen, Jeff (May, 2000). "Inherent Rules of Corporate Behavior". ReclaimDemocracy.org. http://reclaimdemocracy.org/corporate_accountability/corporations_cannot_be_responsible.html. Retrieved 2008-03-07.
* Norman, Wayne; Chris MacDonald. "Triple Bottom Line: a Critique". http://www.businessethics.ca/3bl. Retrieved 2008-03-07.
* Porter, Michael; Mark Kramer. "The Link Between Competitive Advantage and Corporate Social Responsibility" (PDF). Harvard Business Review. http://harvardbusinessonline.hbsp.harvard.edu/email/pdfs/Porter_Dec_2006.pdf.
* Rowe, James (2005-01-01). "Corporate Social Responsibility as Business Strategy". CGIRS-Reprint-2005-08. Center for Global, International, and Regional Studies, University of California, Santa Cruz. http://repositories.cdlib.org/cgirs/reprint/CGIRS-Reprint-2005-08/. Retrieved 2008-03-07.
* Sen, Sankar, C. B. Bhattacharya and Daniel Korschun (2006). "The Role of Corporate Social Responsibility in Strengthening Multiple Stakeholder Relationships: A Field Experiment." Journal of the Academy of Marketing Science, 34 (2), 158-66.
* SMEs Focus. "Making Europe a Pole of Excellence on Corporate Social Responsibility (CSR)".

* Spence, L.; Habisch, A.; Schmidpeter R. (Editors) (2004). Responsibility and Social Capital. The World of Small and Medium Sized Enterprises. Palgrave. ISBN 0-333-71459-8.

* Visser, Wayne, Dirk Matten, Manfred Pohl, and Nick Tolhurst (Editors) (2007). The A to Z of Corporate Social Responsibility. London, England; New York, NY: Wiley. ISBN 978-0-470-72395-1.

* Waddell, S. (2000). "New institutions for the practice of corporate citizenship: Historical Intersectoral, and Developmental Perspectives". Business and Society Review, Vol.105, pp. 323–345.
* Wartick, S., P. Cochran (1985). "The Evolution of the Corporate Social Performance Model". Academy of Management Review, Vol.10, p. 767.
* Wheeler, David; Maria Sillanpää (1997). The Stakeholder Corporation: a blueprint for maximizing stakeholder value. London: Pitman. ISBN 0273626612.
* Wood, D. (1991). "Corporate Social Performance Revisited". Academy of Management Review, Vol.4, pp. 691–718.
* World Business Council for Sustainable Development (2001), The Business Case for Sustainable Development: Making a difference toward the Johannesburg Summit 2002 and beyond.
* World Business Council for Sustainable Development (2000), Corporate Social Responsibility: Making good business sense.
* World Business Council for Sustainable Development (1999), Corporate Social Responsibility: Meeting changing expectations.

LÁ THƯ CUỐI CÙNG: Chồng ngoại tình không có nghĩa thế giới này sụp đổ

Cam on chi da viet bai viet nay! Doc rat an tuong!

Tôi là một người đồng cảnh ngộ với người vợ trong câu chuyện "Chồng ngoại tình, tôi thấy mình sống mà như chết". Tâm trạng của chị ấy cũng chính là tâm trạng nhiều phụ nữ khác, trong đó có tôi, những người đã trao nhầm tình yêu và niềm tin cho những người đàn ông ích kỷ mà chúng ta gọi là bạn đời.

Tôi từng trách số phận thật bất công… Nhưng hôm nay, ngồi viết những dòng này, tôi lại nhớ đến câu của một vị cao tăng: “số 3, mệnh 7”, tức là số chỉ có 3 phần, còn 7 phần là do cách mình sống và mình ứng xử.

Và chúng ta bất hạnh vì chúng ta tự đặt cho mình cách thể hiện được coi là “chung thủy, hết lòng vì gia đình, chồng con”, vì cách ấy không ổn, theo kiểu mặc định của người phụ nữ sinh ra chỉ để hài lòng chồng. Cách ấy thật sự không ổn, để phần lớn chúng ta, kể cả những người phụ nữ hoàn hảo, chỉ nhận được một đền đáp là sự phản bội của người chồng.

Khi biến cố xảy ra, nhiều người vợ đã phát điên, không ít người muốn được chết đi, để được giải thoát khỏi mọi đau đớn. Thế nhưng ngay cả lúc ở dưới đáy của đau đớn ê chề, những người đàn bà là chúng ta, bị bạc đãi và bị bỏ quên, lại vẫn cố nuốt mọi sự xuống… và hầu hết đều không làm bất cứ điều gì ầm ĩ để chồng mất mặt. Tất cả những chịu đựng, những cố gắng tha thứ ấy cho thấy những người vợ (cả là những người mẹ) thật can đảm, thật phi thường. Nhưng cũng thật đáng thương.

Tôi thấy xót thương cho những người vợ bất hạnh và cho chính mình. Tôi đã nhiều lần tự hỏi lỗi lầm của những người vợ bất hạnh ấy ở đâu? Tại sao chúng ta yêu chồng, thương con và sống trọn vẹn như vậy mà kết cục lại bất công như vậy? Có phải vì những cố gắng ấy vẫn chưa đủ theo quan niệm của người đàn ông. Vì chúng ta chưa chiều chồng đúng cách, chưa sinh được con đúng ý cho chồng, chưa đóng góp đủ mức kinh tế cho gia đình, chưa có đủ hấp dẫn về thể xác đối với chồng, hay không làm cho tổ ấm của mình đủ ấm áp để đến nỗi người chồng phải tìm nguồn an ủi ở bên ngoài?

Và tôi đã tìm ra câu trả lời. Lỗi lầm chủ yếu nhất chính là ở chỗ chúng ta đã không biết chọn người tử tế để lấy làm chồng. Tại biết bao diễn đàn, tôi tìm thấy mình qua bao câu chuyện đau lòng…

Các chị, ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh sống đều cho tôi thấy đại đa số họ là những người phụ nữ đứng đắn, có văn hóa, thông minh và tôn trọng các giá trị đạo đức truyền thống. Nhưng mẫu số chung vẫn là sự bất hạnh, mất niềm tin và kéo lê cuộc sống trong vô vọng…

Trong cuộc sống hiện đại, chúng ta, những người phụ nữ, phải phấn đấu còn hơn những người đàn ông tại nơi làm việc, để vượt qua định kiến về giới tính, cũng phải kiếm tiền, cũng phải có địa vị xã hội. Để rồi khi quay về ngôi nhà cùng chồng con, vẫn tiếp tục lao lực với mọi thứ bổn phận. Bên cạnh đó, dù xã hội tiến hóa đến đâu, những người đàn bà thành công còn phải có một nỗ lực khác nữa đó là phải khép mình, nhu mì để tránh cho người đàn ông của mình không mặc cảm…

Dường như mỗi người phụ nữ đều được mặc định phải hy sinh hết, phải chấp nhận hết mọi lỗi lầm của chồng, phải luôn cao thượng, phải “khiêm nhường, đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên” để giữ lửa hôn nhân. Tất cả những cái đấy mặc định đè nặng lên vai của phụ nữ. Thế nhưng chẳng ai trong chúng ta thấy mệt mỏi vì cố gắng ấy, nếu như bạn đời của ta yêu thương đi trọn bên chúng ta trên đường đời…

Nghịch lý là khi đã làm tất cả những thứ được mặc định ấy, chúng ta có giữ được chồng không? Tại sao vẫn có những người phụ nữ đẹp, thành đạt, dịu dàng, được cả chồng và nhà chồng khen ngợi… vẫn tìm đến cái chết vì bế tắc?
Hình như đàn ông ít dằn vặt khi nhìn thấy nỗi đau đớn đến muốn chết của vợ mình.

Tôi từng vô vọng như vậy trong nhiều năm… và bây giờ tôi tự nhủ lòng mình sao lại lãng phí đời mình cho một người đàn ông không yêu thương gì mình? Sao lại phải hy vọng sẽ hàn gắn một khi đã hoàn toàn đổ vỡ niềm tin, hoàn toàn mất đi sự kính trọng và bên nhau chỉ là sự lạnh ngắt cả về thể xác và tâm hồn?

Tôi từng không có ý định bỏ chồng tôi, không vì bản thân tôi mà vì con. Vì con, tôi nuốt nỗi đau vào trong, "vì các con tôi sẵn sàng hy sinh bản thân mình" như tâm sự của nhiều chị.

Ngày hôm nay, tôi đã thoát ra được những chuỗi ngày ảm đạm, tuyệt vọng không lối thoát bên cạnh bố của con tôi. Người đàn ông đó không đáng cho tôi hủy hoại sức khỏe thể chất và tinh thần của mình. Con tôi chỉ có thể hạnh phúc, được chăm lo chu đáo khi tôi khỏe mạnh và có niềm lạc quan vào cuộc sống.

Tôi làm điều bố tôi từng khuyên “phải biết yêu bản thân mình thì mới biết yêu người”. Tôi bắt đầu chiều chuộng bản thân, gặp gỡ người thân, bạn bè, nghe nhạc, xem phim, đọc sách, tập luyện và khẳng định mình trong công việc. Còn nhiều thứ đáng quan tâm hơn, còn nhiều người đáng được yêu quý. Và tôi thấy cuộc đời vẫn rất đẹp, gió vẫn thổi, nắng vẫn tràn đầy, dù đôi khi mưa vẫn tầm tã. Cuộc đời thực sự đã mở ra những cánh cửa khác tốt đẹp hơn cánh cửa mà người chồng bạc bẽo của tôi đã đóng sập lại.

Lúc tuyệt vọng, tôi cũng đã có ý nghĩ giống như của một chị đã viết (sau khi có dịp tiếp xúc với hàng loạt đàn ông là những người “thành đạt, thông thái, trí thức”) là “mất hoàn toàn niềm tin vào thế giới đàn ông, ai cũng có thể sẵn sàng phản bội vợ mình khi có cơ hội. Họ bảo đó là đặc điểm giới”... Nhưng giờ đây, tôi nghĩ vài nghìn, vài vạn người chồng tệ bạc và đáng khinh mà tôi và nhiều chị gặp phải, không đủ tư cách để đại diện cho một nửa của thế giới.

Lỗi của chúng ta, nguyên nhân của nỗi bất hạnh của chúng ta là chọn lầm người và mù quáng thể hiện bổn phận phụ nữ. Người đàn ông đáng chán mà tôi và nhiều chị phải chịu đựng vốn dĩ rất bình thường, với bản lĩnh rất mờ nhạt phải luôn gồng gánh, luôn bị dày vò bởi những ham muốn tầm thường. Anh ta ham muốn và thực dụng. Anh ta thèm muốn sự mới lạ.

Nhưng như một chị nào đó đã nói thật đúng anh ta lại chỉ có thể vênh vang, thể hiện bản thân, thể hiện sự thành đạt, sức hấp dẫn... khi có một gia đình yên ấm với người vợ hiền và những đứa con ngoan. Khi mất đi điều đó, anh ta mất đi hào quang, như cái cây bị bật gốc, anh ta sẽ không còn sinh khí. Chồng bạn, chồng tôi cũng như một phần khá lớn những người chồng khác mục ruỗng từ sâu thẳm nhưng lại tự che giấu để sống hèn mạt và tàn nhẫn.

Nhưng tôi tin vẫn có nhiều người đàn ông khác rất tốt và chân chính như những người cha của chúng ta, như biết bao người đàn ông hằng ngày đang giản dị sống khắp nẻo đường của thế giới.

Bạn và tôi, như mọi người khác vẫn phải sống. Tình yêu vợ chồng không phải là tất cả. Vẫn còn nhiều người thân quan trọng hơn, là cha mẹ, là con cái, là bạn bè, đang chiếm chỗ trong tim ta… Không loại trừ vẫn có một người đàn ông thực sự tốt sẽ đến vào lúc bất ngờ nhất.

Vì thế, bạn và tôi cần sống tích cực, phải sống để không tự thấy xấu hổ vì mình.

LA THU THU 8: KHI CHONG CO BO NHI

Chào các anh chị và các bạn!

Tôi là đứa con - cũng là một trong những nạn nhân của người bố ngoại tình. Tôi năm nay 25 tuổi, đang học thạc sỹ ở nước ngoài và chưa lập gia đình. Trước đây, tôi sống lạc quan, tin yêu cuộc đời. Gia đình tôi có lẽ đã rất yên ấm và hạnh phúc nếu như bố tôi không ngoại tình.

Đọc bài anh Đạt, tôi xin phép kể về cảm xúc của đứa con có người bố ngoại tình.
Tôi đã rất đau khổ, dằn vặt, nhiều tháng mất ngủ và khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng. Niềm tin trong tôi tan vỡ. Tôi đã tuyệt vọng và chán chường biết bao. Nhiều cảm xúc giằng xé giữa yêu thương - ghét bỏ, tin tưởng - nghi ngờ và hi vọng - thất vọng... đan xen nhau.

Tôi không biết chia sẻ và tin tưởng ai khi mà người tôi tôn thờ và hết mực tin yêu, quý trọng lại làm một việc cả xã hội lên án như thế. Mẹ tôi thì hẳn đã chết nửa con người khi cả cuộc đời hết lòng vì chồng con mà lại bị phản bội.

Cảm giác tôn trọng bố tôi ngày nào giờ chỉ còn là con số Zero. Tôi không làm sao để tìm lại niềm tin yêu ấy nữa. Cả ba chị em tôi lớn lên với tâm lý tổn thương sâu sắc. Cho đến giờ, khi đã trưởng thành, điều ấy vẫn ám ảnh tôi không dứt .

Nói về hậu quả, bố tôi từ một con người đáng kính, đáng mến đã dần tự đánh mất chính mình, không thể tự tin mà đứng trước người khác. Bạn bè, đồng nghiệp và hàng xóm dèm pha. Tình nhân của bố cũng không hơn gì chúng tôi. Bố tôi đã tự trói mình trong cái đám rắc rối do mình gây ra. Tất cả chúng tôi ai cũng đau khổ.

Gia đình tôi luôn ngột ngạt với bầu không khí u ám, ai cũng có nỗi đau riêng mà không biết cởi nút thắt như thế nào để ít làm nhau tổn thương nhất. Nhưng chúng tôi không thể, và nếu thoát ra rồi thì ai cũng thương tích đầy mình.

Nếu anh chị còn trẻ, chưa lập gia đình thì có thể chọn lựa, yêu đương thoải mái. Nhưng một khi đã có gia đình thì hãy giữ gìn nó. Các anh chị đã tự quyết định mình gắn bó với người bạn đời thì hãy chăm chút cho tổ ấm ấy, nếu không còn yêu nhau, hãy nói rõ ràng với nhau mà lịch sự chia tay. Con cái đau khổ nhưng nó sẽ tôn trọng bố mẹ vì sự thẳng thắn đó hơn là sống trong một bầu không khí u ám của gia đình không hạnh phúc.

Còn anh Đạt, anh hãy nhìn vào mất mát của gia đình tôi để quay đầu và thay đổi bản thân khi chưa muộn. Tôi cũng xin gửi đến những người nhân danh "tình yêu ngoài vòng pháp luật" mà nói rằng, anh chị có thể sống hạnh phúc cho mình nhưng không có quyền làm người khác đau khổ, không có quyền chà đạp hay cướp đi hạnh phúc của gia đình khác. Thế giới có bao nhiều tỷ người, anh chị tha hồ lựa chọn, đừng đâm đầu vào một nơi không có lối thoát.

Lời cuối cùng gửi đến anh Đạt và những người làm cha, làm mẹ đáng kính đang chơi trò ái tình mạo hiểm: Hãy dừng lại khi mọi thứ còn có lối thoát, đừng để mình tự giăng bẫy chính mình. Cuộc đời ngắn ngủi lắm, xin đừng làm những người ta thương yêu phải đau khổ!

LA THU THU 7: KHI CHONG CO BO NHI

Khi đọc xong tâm sự của anh Đạt, tôi cảm thấy thật sự đau lòng và hụt hẫng. Tại sao sống trên đời mà lại làm khổ nhau như thế? Tại sao anh lại quan tâm đến cảm giác của bản thân và cô nhân viên (kẻ thứ 3) mà không có chút day dứt và thương xót cho người vợ vừa sinh cho anh một đứa con? Sao không cảm nhận sự dối trá mà anh dành cho vợ?

Yêu vợ à, anh chỉ yêu bản thân anh thì đúng hơn. Bây giờ anh lo người con gái kia không có việc làm, vậy nếu tiếp tục làm việc cùng anh thì người đó có hạnh phúc không? Có được một tình yêu với người lừa dối vợ mình thì hạnh phúc sao?

Thưa các cô đang ở vai trò là người thứ 3! Cái cảm giác các cô đang cảm nhận, đang yêu điên dại đó, chỉ là những tiếp xúc bên ngoài thoáng qua, cái mới mẻ ban đầu thôi, chứ không phải cái mà các cô có được nếu sống với họ mỗi ngày trong nhà. Tôi đã lập gia đình được gần 5 tháng, tôi biết tình cảm trước và sau khi cưới hoàn toàn khác nhau.

Khi còn là tình nhân của nhau, thì cái gì tốt đẹp luôn được thể hiện, những cái xấu, cái bản chất thì chưa bộc lộ hết. Trước khi cưới, cái gì cũng chiều chuộng theo ý mình, nhưng khi cưới về rồi thì lại sống theo ý thích của bản thân các ông nhiều hơn. Chưa tính đến các ông luôn mau chán trong tình cảm lắm. Trước thì lúc nào em cũng đẹp cũng dễ thương trong mắt anh, sau thì nhìn hoài cũng chán. Vì thế, hãy nhìn một người đàn ông đang lừa dối vợ mình và nghĩ sau này người ấy sẽ đối xử với mình cũng như thế thôi.

Trở về vấn đề của anh Đạt, tôi nghĩ anh nên để cô ấy ra đi, để giải phóng cho cô ấy, cho anh và cả lương tâm tội lỗi của anh. Nghĩ đến sự đụng chạm anh và cô ta làm, tôi thấy thật rùng mình anh ạ. Anh hãy sống có ý nghĩa với vợ và con của anh đi, khi chưa làm tròn với gia đình thì đừng lo cho người khác.

Tôi thật sự hoang mang về tính trăng hoa của đàn ông. Tại sao phụ nữ luôn phải gánh chịu sự phản bội. Các ông thích cái đẹp, thích che chở cho người đẹp, còn phụ nữ chúng tôi luôn phải cố gắng giữ chồng, rồi giữ nhan sắc, nội trợ và chu toàn cho gia đình chồng…

Xin hãy thương lấy chúng tôi, đừng làm con tim chúng tôi rỉ máu. Chúng tôi vất vả thế nào cũng được nhưng đừng làm chúng tôi sống trong cái cảnh đói rét của tình cảm, sự tổn thương, sự căm thù. Nếu tình cảm đã mất thì hãy sống vì gia đình, vì tình nghĩa mà chúng tôi hết lòng vì các ông. Nếu không thể chung sống được với nhau thì hãy chia tay sao cho nhẹ nhàng, đừng làm chúng tôi đau lòng vì những điều như thế.

LA THU THU 6: KHI CHONG CO BO NHI!

Tôi từng là nạn nhân của một lúc yếu lòng của chồng tôi và đúng là người trong cuộc mới có thể hiểu hết nỗi bất hạnh của một người vợ (chồng) trong hoàn cảnh đó.

Sao anh không tự đặt mình vào vị trí của vợ? Anh có thể chấp nhận không nếu cô ấy cũng có những mối quan hệ trăng hoa như vậy? Thế mà anh còn có thể nói anh yêu vợ và con sao? Thực tế anh là con người không biết quý trọng giá trị gia đình nên mới coi thường và đùa giỡn với hạnh phúc như vậy.

Trong trường hợp của tôi, bản thân tôi không phải là không có điều kiện để có những mối quan hệ như vậy. Ngược lại, tôi làm việc trong một môi trường đầy cám dỗ (xung quanh chỉ toàn đồng nghiệp và đối tác là nam, người Việt có, người nước ngoài có), và tôi không phải lúc nào cũng có thể dửng dưng trước những lời tán tỉnh của họ, đặc biệt là sự ga lăng, nhũn nhặn của các đối tác nước ngoài. Rồi các chuyến công tác, các buổi tiệc tùng, những kỳ nghỉ xa nhà... vô số những tình huống khiến con người ta có thể sa ngã.

Tôi cũng từng có những phút mơ mộng, xao xuyến... nhưng tôi đã vì gia đình mình mà vượt qua tất cả. Tôi vẫn sống hòa nhập trong môi trường như vậy nhưng vẫn tự hào vì không làm gì có lỗi với chồng con. Vì thế tôi vô cùng oán hận chồng đã không nghĩ đến gia đình mà vượt qua phút yếu lòng đó và thấy những cố gắng của mình như trở nên vô nghĩa. Tôi đã phải rất nỗ lực để vượt qua sự việc đáng tiếc này nhưng nỗi đau trong lòng thì rất khó phai.

Tôi nói như vậy để anh thử hình dung nếu vợ anh biết chuyện hay vợ anh cũng như anh thì liệu anh còn giữ được hạnh phúc hiện tại không? Sẽ chẳng hay ho gì khi để những cuộc phiêu lưu tình cảm làm tan vỡ gia đình mà hậu quả là chỉ khổ cho những đứa con. Nếu con người ta có lương tâm và trách nhiệm thì sẽ không làm thế.

Có thể tôi thuộc tuýp người cổ điển, nhưng trân trọng gia đình mình có lẽ không bao giờ là "lỗi mốt" đúng không anh?

LA THU THU 5: KHI CHONG CO BO NHI!

Anh nghĩ con anh sau này sẽ lớn lên như thế nào? Anh tự đặt địa vị vào con, nếu là anh, anh muốn gì? Anh có nghĩ khi đến tuổi đến trường, con anh và bạn bè nó sẽ nghĩ gì không? Khi nhìn thấy bố mẹ bạn đón con đi chơi, cháu cảm thấy thế nào?

- "Với em, tôi tin em sẽ không đối xử với tôi theo cách đó vì em nhỏ tuổi hơn tôi và ngưỡng mộ tôi." Hình như người anh quen qua internet này là một cô gái còn rất trẻ? Anh cần một người vợ ngưỡng mộ anh hay có thể chia sẻ với anh? Sự ngưỡng mộ đó, theo anh, sẽ kéo dài bao lâu? Anh có dám chắc là sau khi cưới và có con với cô gái mới, mọi việc sẽ không lặp lại như với người vợ hiện tại? Điều gì là đảm bảo cho chuyện đó? Phải chăng là cảm xúc hiện tại của anh, rằng ở cô gái hiện tại anh tìm thấy những cảm xúc khác biệt?

- Dù ở xã hội phương Tây hay phương Đông, làm người, nhất là người trưởng thành phải có trách nhiệm. Anh có biết người phương Tây thậm chí khi bố, mẹ mất họ còn giấu con thời gian đầu và tìm mọi cách để trẻ không cảm thấy bị sốc không? Vậy anh đang sống ở xã hội nào vậy?

- Có thể anh sai lầm khi chưa chín chắn về tình cảm với vợ đã quyết định đi đến hôn nhân, nhưng tôi mong anh dành nhiều thời gian để suy nghĩ và có quyết định sáng suốt. Trong những thứ tình cảm, tình mẫu tử, cha con rất thiêng liêng. Đó là nền tảng của xã hội. Hãy là một người cha đáng kính sẽ tốt hơn nhiều so với một người tình được "ngưỡng mộ".

Có thể giọng điệu của tôi hơi gay gắt nhưng tôi mong anh suy ngẫm.