Mô hình quản trị trong công ty đại chúng
Friday, March 14, 2008 1:53:59 PM
“Quản trị công ty” ở ta có nội dung khác với “mangagement” của thế giới
Bài viết của LS. Nguyễn Ngọc Bích.
Trong bối cảnh của ta, khi bàn về đề tài trên thì có câu hỏi là: quản trị nào? Sở dĩ vậy là vì danh từ quản trị dùng ở ta. Các văn bản chính thức quy định “Quản trị công ty” là “corporate governance” và dành cho các công ty niêm yết; trong khi “management” - dẫu không được dịch chính thức - cũng là “quản trị”. Xin cùng tìm hiểu.
Quản trị công ty tại các nước phát triển
Tại các nước này, khi nói đến việc điều khiển công ty thì có ba lĩnh vực:
1. Luật công ty ấn định cơ cấu quyền lực trong công ty. Đó là trách nhiệm và quyền hạn của đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc và ban kiểm soát. Dựa theo đó các công ty lập ra bản điều lệ cho công ty mình.
2. Quản trị công ty (management) hay quản trị kinh doanh, là việc ấn định tổ chức chi tiết của công ty (phòng ban), các vị trí nhân sự khác nhau dành cho người lao động; mối tương quan về công việc giữa các phòng ban và nhân viên để thực hiện các quyết định của các trung tâm quyền lực. Quản trị công ty gồm có: lập kế hoạch, tổ chức, tìm tài nguyên, lãnh đạo, chỉ huy cùng kiểm soát công ty. Tìm tài nguyên bao gồm việc bố trí và điều khiển nguồn nhân lực, tài chính, tài nguyên về kỹ thuật và thiên nhiên.
Quản trị theo nghĩa trên liên quan đến nội bộ công ty. Người ta ấn định các cấp quản trị viên khác nhau: cao cấp, trung cấp và sơ cấp. Mỗi cấp có quyền hạn khác nhau.
Trong quá trình phát triển, quản trị công ty có bốn cấp độ:
- Thuận tiện: có từ khi một doanh nghiệp đầu tiên xuất hiện cho đến bây giờ;
- Khoa học: bắt đầu khoảng năm 1910 trở đi và hoàn tất vào cuối những năm 1960. Nó có thể như thế mãi hay đi lên cấp độ cao hơn;
- Tiên tiến: có từ năm 1987 đến nay, thường gọi là ISO, hoặc quản lý chất lượng;
- Hiện đại: bắt đầu năm 1990 đến nay.
Các cấp độ này sống chung với nhau tùy theo doanh nghiệp sử dụng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có hàng trăm, hàng ngàn nhân viên thì không thể áp dụng thuận tiện mà bắt buộc phải là khoa học và cao hơn.
Quản trị thuận tiện dựa trên sự tin tưởng từng người, không có thể thức điều hành chung nên không có văn bản gọi là cẩm nang. Quản trị khoa học dựa trên các thủ tục, thể thức điều hành và được viết ra thành cẩm nang; nhờ đó có thể đem sang dùng tại các cơ sở khác.
3. Corporate governance: mới có từ khoảng 1985 đến nay. Nó là một quá trình (process) hay thủ tục về giám sát (supervision) và kiểm soát (control) được thực hiện để bảo đảm cho việc thực thi quản trị công ty (management) phù hợp với lợi ích của các cổ đông (Parkinson 1994).
Ở Mỹ người ta nghiên cứu về quy chế này và thấy các khuôn mẫu (model) của “corporate governance’’ ở các nước không khác nhau nhiều; không có một khuôn mẫu của Mỹ so với khuôn mẫu của một nước châu Á, hay châu Âu; mà phần lớn được quyết định theo cơ cấu sở hữu của công ty, bất kể đến vị trí địa lý của chúng trên thế giới.
Luật công ty của mỗi nước sẽ làm cho các điểm đặc thù về “corporate governance’’ khác nhau; nhưng tất cả có một khuynh hướng là quy tập về những tiêu chuẩn chung dựa trên các nguyên tắc tổng quát sau:
- Sự độc lập của các thành viên hội đồng quản trị và việc giám sát hữu hiệu của họ;
Theo VnEconomy
Bài viết của LS. Nguyễn Ngọc Bích.
Trong bối cảnh của ta, khi bàn về đề tài trên thì có câu hỏi là: quản trị nào? Sở dĩ vậy là vì danh từ quản trị dùng ở ta. Các văn bản chính thức quy định “Quản trị công ty” là “corporate governance” và dành cho các công ty niêm yết; trong khi “management” - dẫu không được dịch chính thức - cũng là “quản trị”. Xin cùng tìm hiểu.
Quản trị công ty tại các nước phát triển
Tại các nước này, khi nói đến việc điều khiển công ty thì có ba lĩnh vực:
1. Luật công ty ấn định cơ cấu quyền lực trong công ty. Đó là trách nhiệm và quyền hạn của đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc và ban kiểm soát. Dựa theo đó các công ty lập ra bản điều lệ cho công ty mình.
2. Quản trị công ty (management) hay quản trị kinh doanh, là việc ấn định tổ chức chi tiết của công ty (phòng ban), các vị trí nhân sự khác nhau dành cho người lao động; mối tương quan về công việc giữa các phòng ban và nhân viên để thực hiện các quyết định của các trung tâm quyền lực. Quản trị công ty gồm có: lập kế hoạch, tổ chức, tìm tài nguyên, lãnh đạo, chỉ huy cùng kiểm soát công ty. Tìm tài nguyên bao gồm việc bố trí và điều khiển nguồn nhân lực, tài chính, tài nguyên về kỹ thuật và thiên nhiên.
Quản trị theo nghĩa trên liên quan đến nội bộ công ty. Người ta ấn định các cấp quản trị viên khác nhau: cao cấp, trung cấp và sơ cấp. Mỗi cấp có quyền hạn khác nhau.
Trong quá trình phát triển, quản trị công ty có bốn cấp độ:
- Thuận tiện: có từ khi một doanh nghiệp đầu tiên xuất hiện cho đến bây giờ;
- Khoa học: bắt đầu khoảng năm 1910 trở đi và hoàn tất vào cuối những năm 1960. Nó có thể như thế mãi hay đi lên cấp độ cao hơn;
- Tiên tiến: có từ năm 1987 đến nay, thường gọi là ISO, hoặc quản lý chất lượng;
- Hiện đại: bắt đầu năm 1990 đến nay.
Các cấp độ này sống chung với nhau tùy theo doanh nghiệp sử dụng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có hàng trăm, hàng ngàn nhân viên thì không thể áp dụng thuận tiện mà bắt buộc phải là khoa học và cao hơn.
Quản trị thuận tiện dựa trên sự tin tưởng từng người, không có thể thức điều hành chung nên không có văn bản gọi là cẩm nang. Quản trị khoa học dựa trên các thủ tục, thể thức điều hành và được viết ra thành cẩm nang; nhờ đó có thể đem sang dùng tại các cơ sở khác.
3. Corporate governance: mới có từ khoảng 1985 đến nay. Nó là một quá trình (process) hay thủ tục về giám sát (supervision) và kiểm soát (control) được thực hiện để bảo đảm cho việc thực thi quản trị công ty (management) phù hợp với lợi ích của các cổ đông (Parkinson 1994).
Ở Mỹ người ta nghiên cứu về quy chế này và thấy các khuôn mẫu (model) của “corporate governance’’ ở các nước không khác nhau nhiều; không có một khuôn mẫu của Mỹ so với khuôn mẫu của một nước châu Á, hay châu Âu; mà phần lớn được quyết định theo cơ cấu sở hữu của công ty, bất kể đến vị trí địa lý của chúng trên thế giới.
Luật công ty của mỗi nước sẽ làm cho các điểm đặc thù về “corporate governance’’ khác nhau; nhưng tất cả có một khuynh hướng là quy tập về những tiêu chuẩn chung dựa trên các nguyên tắc tổng quát sau:
- Sự độc lập của các thành viên hội đồng quản trị và việc giám sát hữu hiệu của họ;
Theo VnEconomy







