Doing Business 2008: Môi trường kinh doanh của Việt Nam lên hạng
Saturday, March 15, 2008 2:52:55 PM
Theo bài viết của Tùy Phong trên TBKTVN ngày 27/9/2007, Ngân hàng Thế giới (WB) và Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC) vừa công bố Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2008 (Doing Business 2008) đánh giá mức độ thuận lợi môi trường kinh doanh của từng quốc gia dựa trên rà soát những quy định pháp luật. Theo đó, mức độ thuận lợi kinh doanh của Việt Nam ở vị trí 91/178 quốc gia được xếp hạng trong năm nay.
Như vậy, mức độ thân thiện của nền kinh tế Việt Nam với giới đầu tư nước ngoài đã được cải thiện so với năm ngoái khi đứng ở vị trí 104/175 quốc gia được xếp hạng, năm trước đó là vị trí 98/155.
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, mức độ thuận lợi môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn, như Singapore tiếp tục đứng vị trí thứ nhất trong năm nay, Thái Lan ở vị trí 15, Malaysia 24, Trung Quốc 83, song Việt Nam cũng xếp hạng cao hơn Indonesia 123, Philippines 133 và Campuchia 145.
Trong 10 chỉ số ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh mà Báo cáo xem xét thì so với năm ngoái, Việt Nam có 5 chỉ số tăng, 1 chỉ số giữ nguyên và 4 chỉ số giảm. Trong đó, 2 hai lĩnh vực quan trọng là Bảo vệ nhà đầu tư và Tiếp cận tín dụng của Việt Nam đã được báo cáo ghi nhận là cải cách nhanh khi ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật chứng khoán, trong đó quy định những hoạt động chính của các công ty phải có sự tham gia của nhà đầu tư, đặc biệt là thông tin về giao dịch của các bên có liên quan.
business08.jpgDoing Business 2008 cũng nhận xét Việt Nam đã tạo thuận lợi hơn trong lĩnh vực tiếp cận tín dụng thông qua việc mở rộng phạm vi tài sản có thể sử dụng để thấp chấp được quy định trong Bộ Luật Dân sự 2005 và Nghị định 163/2006 về Giao dịch bảo đảm cho phép doanh nghiệp sử dụng tài sản hiện có và sẽ có trong tương lai, hữu hình và vô hình để làm vật thế chấp.
Bên cạnh những đánh giá tiến bộ, nhóm nghiên cứu cũng thông báo thêm, Báo cáo chỉ đánh giá mức độ cải cách trong mỗi lĩnh vực chứ không phải hiện trạng của lĩnh vực đó. Đơn cử, Việt nam vẫn xếp hạng 165/178 về Bảo vệ nhà đầu tư nhưng do trong giai đoạn 2006 - 2007, Việt Nam đã ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán với hàng loạt cải cách so với năm ngoái, nên Việt Nam vẫn nằm trong danh sách những quốc gia cải cách trong lĩnh vực này.
Một số các chỉ số khác của Việt Nam trong báo cáo năm nay vẫn chưa có những chuyển biến mạnh, như Giải thể doanh nghiệp 121/178, Đóng thuế 128/178. Điều đó cho thấy, Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh của Việt Nam, chuyên gia của IFC góp ý.
Theo đại diện của WB, xếp hạng về mức độ thuận lợi trong kinh doanh không phản ánh bức tranh tổng thể của một quốc gia, bởi các chỉ số chỉ giới hạn trong một phạm vi và không tính đến các yếu tố khác (vị trí địa lý gần với các thị trường lớn, chất lượng dịch vụ hạ tầng, mức độ bảo toàn tài sản khỏi nạn trộm cướp, tính minh bạch trong mua sắm của chính phủ, điều kiện kinh tế vĩ mô hay mức độ vững vàng của các thể chế).
Tuy nhiên, WB cũng cho rằng quốc gia nào xếp hạng cao về mức độ thuận lợi cũng có nghĩa là Chính phủ đó đã xây dựng được môi trường thể chế thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh.
10 môi trường kinh doanh
cải thiện tích cực nhất
Ai Cập
Croatia
Ghana
FYR Macedonia
Gruzia
Colombia
Saudi Arabia
Kenya
Trung Quốc
Bulgaria
Doing Business 2008
Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa và sự tác động từ bản báo cáo này đến tâm lý của các nhà đầu tư cũng như toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, tác giả Từ Nguyên- TBKTVN đã có cuộc trao đổi với ông Martin Rama, Chuyên gia Kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam.
Ông có bình luận gì về vị trí của Việt Nam trong bản báo cáo năm nay?
So với năm 2006, vị trí của Việt Nam đã được cải thiện, từ vị trí 104/175 quốc gia vươn lên 91/178 quốc gia. Điều này đã cho thấy, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã ít nhiều được cải thiện, pháp luật kinh doanh đã ngày càng thông thoáng hơn.
Tuy nhiên, nếu so với một số nước khác trong khu vực thì Việt Nam cũng cần phải cải thiện một số lĩnh vực mà hiện nay còn xếp hạng thấp như: bảo vệ nhà đầu tư, giải thể doanh nghiệp và đóng thuế.
Việt Nam hiện nằm trong số những quốc gia bảo vệ nhà đầu tư kém nhất trước sự lạm dụng tài sản doanh nghiệp của giám đốc hay thành viên hội đồng quản trị. Báo cáo chỉ ra rằng, mặc dù Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp mới của Việt Nam đã quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của giám đốc và thành viên hội đồng quản trị nhưng lại chưa đưa ra cơ chế thực thi các nghĩa vụ này.
Vì vậy theo tôi, dù vị trí trên bảng xếp hạng của Việt Nam năm nay có thấp hơn hay cao hơn năm ngoái một chút thì cũng không phải là điều quá quan trọng. Yếu tố quyết định chính là những gì đang diễn ra trong nền kinh tế và những gì mà các đất nước các bạn đã đạt được.
Theo ông, vị trí của Việt Nam trong bản báo cáo có sát với thực tế những gì các ông được chứng kiến?
Bản báo cáo này được hình thành từ nhiều chỉ số với nhiều kết quả khác nhau. Và trên thực tế thì ngay cả những chỉ số quan trọng khác như GDP, GNP… cũng có những độ sai lệch nhất định, nên sẽ rất khó khi so sánh phương pháp luận của chỉ số này với chỉ số khác.
Tuy nhiên, nếu áp dụng phương pháp chung của bản báo cáo thì chúng tôi thấy rằng Việt Nam đang đi đúng hướng. Điều đó có nghĩa là, những con số trong bản báo cáo là tương đối sát với thực tế ở Việt Nam.
Nhưng theo các chuyên gia kinh tế thì báo cáo này sẽ có tác động trực tiếp đến tâm lý và động thái của nhà đầu tư?
Tất nhiên, vì là những con số và những tiêu chí về môi trường kinh doanh nên ít nhiều nó sẽ có những tác động nhất định đến nhà đầu tư. Minh chứng cho việc này là đã có rất nhiều ông chủ của các tập đoàn lớn tìm mua bản báo cáo này.
Nhưng mục đích chính khiến các nhà đầu tư quan tâm đến bản báo cáo không phải là họ muốn biết ở quốc gia này có vị trí tăng hay giảm, mà họ muốn có sự so sánh giữa các quốc gia để làm yếu tố tham vấn cho quyết định đầu tư.
Vì vậy, tôi xin nhấn mạnh rằng, môi trường kinh doanh cũng chỉ là một yếu tố trong rất nhiều yếu tố khác quyết định đến thành công của doanh nghiệp. Chẳng hạn, để biết chính xác một bệnh nhân sốt vì nguyên nhân gì thì chúng ta không thể chỉ căn cứ vào nhiệt độ cơ thể mà còn phải tiến hành nhiều xét nghiệm khác.
Do đó, các doanh nghiệp cũng chỉ nên coi đây là một tham số để từ đó đánh giá các lĩnh vực khác trong chuỗi hoạt động đầu tư, kinh doanh của mình.
Vậy, các chuyên gia kinh tế Việt Nam đã có những phản ứng gì đối với bản báo cáo năm nay, thưa ông?
Như tôi nói ban đầu, đây không phải là một bản báo cáo hoàn chỉnh, trọn vẹn. Do đó, các phương pháp, không gian và thời gian tiếp cận cũng khác nhau cho nên sẽ đưa đến những hạn chế nhất định. Điều này tất yếu sẽ gặp phải những phản ứng từ các chuyên gia kinh tế của các nước, trong đó có Việt Nam.
Cũng nhiều ý kiến cho rằng, vị trí 91/178 là không chính xác với Việt Nam. Bởi vào thời điểm họ khảo sát thì khi đó Việt Nam chưa có nhiều văn bản, các quy định ưu đãi cho các nhà đầu tư.
Ngoài ra, các nhà kinh tế Việt Nam cũng cho rằng, việc đưa ra các tiêu chí để bình chọn, đánh giá là không sát thực tế. Chẳng hạn, họ phàn nàn về việc báo cáo chỉ đề cập đến vấn đề đăng ký kinh doanh nhưng lại chỉ bó hẹp trong vấn đề cấp phép xây dựng.
Ngoài ra, họ cũng nghi ngờ về những con số tuyệt đối và phương pháp tiếp cận.
Còn Chính phủ Việt Nam đã có những phản ứng như thế nào sau những bản báo cáo trước đây?
Đến thời điểm này chúng tôi vẫn chưa nhận được những phản ứng chính thức hay những bức thư, văn bản chính thức từ Chính phủ Việt Nam về việc phàn nàn, nhận xét gì với vị trí của Việt Nam cũng như là báo cáo.
Tuy nhiên, trên thực tế, chúng tôi thấy ở Việt Nam đã có những chính sách thay đổi theo hướng tích cực. Và đáng mừng là những thay đổi này có liên quan với những gì đã nêu ra trong các báo cáo trước đây.
Một điểm tích cực khác mà chúng tôi ghi nhận từ Việt Nam đó là việc Chính phủ tự đề ra những cải cách rất mạnh trên nhiều lĩnh vực. Còn nếu nói rằng, vì một bản báo cáo nào đó để Chính phủ phải đưa ra những quyết định cải cách thì sẽ là một việc khó khăn.
Tương tự như vậy, cũng khó có thể nói rằng, nền kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động từ bản báo cáo bởi đây cũng chỉ là một trong số rất nhiều yếu tố để tạo ra một môi trường chung. Chiến lược, quyết sách của chính phủ mới là yếu tố đóng vai trò quyết định cho toàn bộ nền kinh tế.
Như vậy, mức độ thân thiện của nền kinh tế Việt Nam với giới đầu tư nước ngoài đã được cải thiện so với năm ngoái khi đứng ở vị trí 104/175 quốc gia được xếp hạng, năm trước đó là vị trí 98/155.
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, mức độ thuận lợi môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn, như Singapore tiếp tục đứng vị trí thứ nhất trong năm nay, Thái Lan ở vị trí 15, Malaysia 24, Trung Quốc 83, song Việt Nam cũng xếp hạng cao hơn Indonesia 123, Philippines 133 và Campuchia 145.
Trong 10 chỉ số ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh mà Báo cáo xem xét thì so với năm ngoái, Việt Nam có 5 chỉ số tăng, 1 chỉ số giữ nguyên và 4 chỉ số giảm. Trong đó, 2 hai lĩnh vực quan trọng là Bảo vệ nhà đầu tư và Tiếp cận tín dụng của Việt Nam đã được báo cáo ghi nhận là cải cách nhanh khi ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật chứng khoán, trong đó quy định những hoạt động chính của các công ty phải có sự tham gia của nhà đầu tư, đặc biệt là thông tin về giao dịch của các bên có liên quan.
business08.jpgDoing Business 2008 cũng nhận xét Việt Nam đã tạo thuận lợi hơn trong lĩnh vực tiếp cận tín dụng thông qua việc mở rộng phạm vi tài sản có thể sử dụng để thấp chấp được quy định trong Bộ Luật Dân sự 2005 và Nghị định 163/2006 về Giao dịch bảo đảm cho phép doanh nghiệp sử dụng tài sản hiện có và sẽ có trong tương lai, hữu hình và vô hình để làm vật thế chấp.
Bên cạnh những đánh giá tiến bộ, nhóm nghiên cứu cũng thông báo thêm, Báo cáo chỉ đánh giá mức độ cải cách trong mỗi lĩnh vực chứ không phải hiện trạng của lĩnh vực đó. Đơn cử, Việt nam vẫn xếp hạng 165/178 về Bảo vệ nhà đầu tư nhưng do trong giai đoạn 2006 - 2007, Việt Nam đã ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán với hàng loạt cải cách so với năm ngoái, nên Việt Nam vẫn nằm trong danh sách những quốc gia cải cách trong lĩnh vực này.
Một số các chỉ số khác của Việt Nam trong báo cáo năm nay vẫn chưa có những chuyển biến mạnh, như Giải thể doanh nghiệp 121/178, Đóng thuế 128/178. Điều đó cho thấy, Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh của Việt Nam, chuyên gia của IFC góp ý.
Theo đại diện của WB, xếp hạng về mức độ thuận lợi trong kinh doanh không phản ánh bức tranh tổng thể của một quốc gia, bởi các chỉ số chỉ giới hạn trong một phạm vi và không tính đến các yếu tố khác (vị trí địa lý gần với các thị trường lớn, chất lượng dịch vụ hạ tầng, mức độ bảo toàn tài sản khỏi nạn trộm cướp, tính minh bạch trong mua sắm của chính phủ, điều kiện kinh tế vĩ mô hay mức độ vững vàng của các thể chế).
Tuy nhiên, WB cũng cho rằng quốc gia nào xếp hạng cao về mức độ thuận lợi cũng có nghĩa là Chính phủ đó đã xây dựng được môi trường thể chế thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh.
10 môi trường kinh doanh
cải thiện tích cực nhất
Ai Cập
Croatia
Ghana
FYR Macedonia
Gruzia
Colombia
Saudi Arabia
Kenya
Trung Quốc
Bulgaria
Doing Business 2008
Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa và sự tác động từ bản báo cáo này đến tâm lý của các nhà đầu tư cũng như toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, tác giả Từ Nguyên- TBKTVN đã có cuộc trao đổi với ông Martin Rama, Chuyên gia Kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam.
Ông có bình luận gì về vị trí của Việt Nam trong bản báo cáo năm nay?
So với năm 2006, vị trí của Việt Nam đã được cải thiện, từ vị trí 104/175 quốc gia vươn lên 91/178 quốc gia. Điều này đã cho thấy, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã ít nhiều được cải thiện, pháp luật kinh doanh đã ngày càng thông thoáng hơn.
Tuy nhiên, nếu so với một số nước khác trong khu vực thì Việt Nam cũng cần phải cải thiện một số lĩnh vực mà hiện nay còn xếp hạng thấp như: bảo vệ nhà đầu tư, giải thể doanh nghiệp và đóng thuế.
Việt Nam hiện nằm trong số những quốc gia bảo vệ nhà đầu tư kém nhất trước sự lạm dụng tài sản doanh nghiệp của giám đốc hay thành viên hội đồng quản trị. Báo cáo chỉ ra rằng, mặc dù Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp mới của Việt Nam đã quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của giám đốc và thành viên hội đồng quản trị nhưng lại chưa đưa ra cơ chế thực thi các nghĩa vụ này.
Vì vậy theo tôi, dù vị trí trên bảng xếp hạng của Việt Nam năm nay có thấp hơn hay cao hơn năm ngoái một chút thì cũng không phải là điều quá quan trọng. Yếu tố quyết định chính là những gì đang diễn ra trong nền kinh tế và những gì mà các đất nước các bạn đã đạt được.
Theo ông, vị trí của Việt Nam trong bản báo cáo có sát với thực tế những gì các ông được chứng kiến?
Bản báo cáo này được hình thành từ nhiều chỉ số với nhiều kết quả khác nhau. Và trên thực tế thì ngay cả những chỉ số quan trọng khác như GDP, GNP… cũng có những độ sai lệch nhất định, nên sẽ rất khó khi so sánh phương pháp luận của chỉ số này với chỉ số khác.
Tuy nhiên, nếu áp dụng phương pháp chung của bản báo cáo thì chúng tôi thấy rằng Việt Nam đang đi đúng hướng. Điều đó có nghĩa là, những con số trong bản báo cáo là tương đối sát với thực tế ở Việt Nam.
Nhưng theo các chuyên gia kinh tế thì báo cáo này sẽ có tác động trực tiếp đến tâm lý và động thái của nhà đầu tư?
Tất nhiên, vì là những con số và những tiêu chí về môi trường kinh doanh nên ít nhiều nó sẽ có những tác động nhất định đến nhà đầu tư. Minh chứng cho việc này là đã có rất nhiều ông chủ của các tập đoàn lớn tìm mua bản báo cáo này.
Nhưng mục đích chính khiến các nhà đầu tư quan tâm đến bản báo cáo không phải là họ muốn biết ở quốc gia này có vị trí tăng hay giảm, mà họ muốn có sự so sánh giữa các quốc gia để làm yếu tố tham vấn cho quyết định đầu tư.
Vì vậy, tôi xin nhấn mạnh rằng, môi trường kinh doanh cũng chỉ là một yếu tố trong rất nhiều yếu tố khác quyết định đến thành công của doanh nghiệp. Chẳng hạn, để biết chính xác một bệnh nhân sốt vì nguyên nhân gì thì chúng ta không thể chỉ căn cứ vào nhiệt độ cơ thể mà còn phải tiến hành nhiều xét nghiệm khác.
Do đó, các doanh nghiệp cũng chỉ nên coi đây là một tham số để từ đó đánh giá các lĩnh vực khác trong chuỗi hoạt động đầu tư, kinh doanh của mình.
Vậy, các chuyên gia kinh tế Việt Nam đã có những phản ứng gì đối với bản báo cáo năm nay, thưa ông?
Như tôi nói ban đầu, đây không phải là một bản báo cáo hoàn chỉnh, trọn vẹn. Do đó, các phương pháp, không gian và thời gian tiếp cận cũng khác nhau cho nên sẽ đưa đến những hạn chế nhất định. Điều này tất yếu sẽ gặp phải những phản ứng từ các chuyên gia kinh tế của các nước, trong đó có Việt Nam.
Cũng nhiều ý kiến cho rằng, vị trí 91/178 là không chính xác với Việt Nam. Bởi vào thời điểm họ khảo sát thì khi đó Việt Nam chưa có nhiều văn bản, các quy định ưu đãi cho các nhà đầu tư.
Ngoài ra, các nhà kinh tế Việt Nam cũng cho rằng, việc đưa ra các tiêu chí để bình chọn, đánh giá là không sát thực tế. Chẳng hạn, họ phàn nàn về việc báo cáo chỉ đề cập đến vấn đề đăng ký kinh doanh nhưng lại chỉ bó hẹp trong vấn đề cấp phép xây dựng.
Ngoài ra, họ cũng nghi ngờ về những con số tuyệt đối và phương pháp tiếp cận.
Còn Chính phủ Việt Nam đã có những phản ứng như thế nào sau những bản báo cáo trước đây?
Đến thời điểm này chúng tôi vẫn chưa nhận được những phản ứng chính thức hay những bức thư, văn bản chính thức từ Chính phủ Việt Nam về việc phàn nàn, nhận xét gì với vị trí của Việt Nam cũng như là báo cáo.
Tuy nhiên, trên thực tế, chúng tôi thấy ở Việt Nam đã có những chính sách thay đổi theo hướng tích cực. Và đáng mừng là những thay đổi này có liên quan với những gì đã nêu ra trong các báo cáo trước đây.
Một điểm tích cực khác mà chúng tôi ghi nhận từ Việt Nam đó là việc Chính phủ tự đề ra những cải cách rất mạnh trên nhiều lĩnh vực. Còn nếu nói rằng, vì một bản báo cáo nào đó để Chính phủ phải đưa ra những quyết định cải cách thì sẽ là một việc khó khăn.
Tương tự như vậy, cũng khó có thể nói rằng, nền kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động từ bản báo cáo bởi đây cũng chỉ là một trong số rất nhiều yếu tố để tạo ra một môi trường chung. Chiến lược, quyết sách của chính phủ mới là yếu tố đóng vai trò quyết định cho toàn bộ nền kinh tế.







