Sunday, May 27, 2012 8:19:17 AM
"Tam động, tam tĩnh, tam đạm, tam lạc".
Tam động là vận động trí não, tay và chân;
Tam tĩnh là tĩnh tâm, tĩnh khí, tĩnh hành;
Tam đạm là xem nhẹ quyền lực, xem nhẹ tiền tài, xem nhẹ tuổi tác;
Tam lạc là vui giúp đỡ người, vui biết thường đủ, vui với chính mình.
Friday, May 4, 2012 4:19:35 AM
Sống không giận,không hờn,không oán trách
Sống mỉm cười với thử thách,chông gai
Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai
(Sống vươn lên theo nhịp thức tâm linh)
Sống chan hòa với những người chung sống
Sống là "Động"-nhưng lòng luôn bất động
Sống là "Thương"-nhưng lòng chẳng vấn vương
Sống "Yên vui"-danh lợi mãi coi thường
(Sống "hiên ngang"-danh lợi mãi coi thường)
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.
(Sa môn Thích Hạnh Hải)
Wednesday, April 25, 2012 4:04:06 AM
1.- Nghèo khổ bố thí là khó
2.- Giàu sang học đạo là khó
3.- Bỏ thân mạng vì lẽ phải là khó
4.- Hiểu được kinh Phật là khó
5.- Sinh thời Phật, gặp Phật là khó
6.- Nhẫn được các dục là khó
7.- Thấy đẹp không ham cầu là khó
8.- Bị nhục không oán là khó
9.- Có thế lực không cậy uy là khó
10.- Đối cảnh vô tâm là khó
11.- Học rộng, nghiên cứu nhiều là khó
12.- Trừ diệt ngã mạn là khó
13.- Không khinh người chưa học là khó
14.- Thực hành tâm bình đẳng là khó
15.- Chẳng nói thị phi là khó
16.- Gặp được thiện tri thức là khó
17.- Kiến tánh, học đạo là khó
18.- Tùy duyên hóa độ là khó
19.- Thấy cảnh không động tâm là khó
20.- Khéo biết phương tiện là khó.
Sunday, April 22, 2012 11:30:21 AM
Nghịch lý trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài tại Việt Nam
Trần Văn Tùng
Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
Giáo dục từ xưa đến nay được thừa nhận là một cơ chế hiệu quả để lựa chọn nhân tài. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã áp dụng cơ chế này thông qua thi cử, lựa chọn ra các vị quan lại trong triều. Ở Việt Nam nhiều năm qua đã không như thế, nhiều người học giỏi không chắc có việc làm theo đúng chuyên môn đào tạo và sở trường của mình do đó, một bộ phận tài năng sau một quá trình được đào tạo tìm kiếm công việc ở nước ngoài. Không riêng gì ở Việt Nam, tình trạng này đã xảy ra ở nhiều nước lớn, thí dụ Liên Xô và Đông Âu trong thời kỳ chuyên chính vô sản, hoặc sau khi hệ thống XHCN sụp đổ; Trung Quốc và Ấn Độ trong nhiều thập kỷ qua. Nguồn nhân lực tài năng chỉ có thể phát huy được khả năng trong điều kiện công nghệ luôn thay đổi, thể chế chính trị kinh tế dân chủ và mở cửa, cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ hiện đại. So sánh với một số nước trên thế giới, tất cả các khâu từ tuyển chọn, bồi dưỡng đào tạo và sử dụng nhân tài ở Việt Nam đều có những vấn đề cần phải thay đổi.
1. Phát hiện và tuyển chọn
Có thể khẳng định việc phát hiện học sinh năng khiếu ở bậc phổ thông được thực hiện tương đối tốt. Điều đó được chứng minh qua kết quả của các cuộc thi quốc gia, Olympic quốc tế về khoa học tự nhiên. Một câu hỏi đặt ra là liệu những học sinh này có thể trở thành tài năng trong lĩnh vực mà bản thân mình nhận được thành tích cao trong thi cử?
Để trả lời câu hỏi này ta hãy tìm hiểu xem những học sinh được giải quốc gia và Olympic quốc tế sau khi được giải họ tiếp tục học tập ở đâu và đang làm gì? Hầu hết những người học sinh đó, thời kỳ đầu đều được chọn sang Đại học quốc gia Maxcơva học tập, sau này do Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác với các nước tư bản, học sinh xuất sắc được cử sang Pháp, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Australia... để đào tạo. Một số nghịch lý đã xảy ra:
Thứ nhất, phần đông các học sinh được giải về khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hoá, Sinh và Tin học chọn ngành quản trị kinh doanh và thương mại để tiếp tục sự nghiệp của mình. Như vậy nhiều tri thức học được trước đây là bỏ phí. Người ta chọn những ngành này bởi vì dễ kiếm việc làm trong thời kỳ Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường. Toán, Lý, Hoá là những lĩnh vực hoạt động khó khăn, đòi hỏi sáng tạo, biên chế các cơ quan này không mở rộng, lương bổng thấp. Hậu quả là chúng ta thiếu đội ngũ các nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực khoa học cơ bản, bởi vì tại các viện nghiên cứu, hầu hết gồm những người già. Việt Nam đã từng được đánh giá là một trung tâm toán học mạnh của châu Á vào thập kỷ 1960- 1970, nhưng theo F. Phạm, một nhà Toán học Pháp (bố người Việt) thì số nhà Toán học của Việt Nam trong thế kỷ XXI coi như bằng không. Coi nhẹ, bỏ rơi các ngành khoa học cơ bản là một chính sách thiển cận mà hậu quả của nó sẽ thấy rõ trong các ngành khoa học khác.
Nghịch lý thứ hai, trong số những học sinh được giải quốc gia và Olympic quốc tế được đào tạo tại Đại học quốc gia Maxcơva về Toán, Lý không có sinh viên Việt Nam nào được lọt vào danh sách 10 học sinh đứng đầu của khoá học. Những người đứng đầu khoá học là các sinh viên Nga và một số nước cộng hoà khác. Trong số những người được giải Olympic quốc tế về Toán, chỉ có Phạm Hữu Tiệp có một số công trình về nhóm Lee; Lê Tự Quốc Thắng, Đàm Thanh Sơn đang giảng dạy ở Mỹ; Ngô Bảo Châu được giải thưởng Field còn được nhắc tới, những tên tuổi khác may mắn được giảng dạy ở một số trường đại học hoặc nghiên cứu tại các Viện khoa học trong nước. Rất nhiều người đã bị lãng quên, không ai hiểu thân phận và nghề nghiệp của họ nữa. Vậy là cách tuyển chọn và bồi dưỡng năng khiếu xảy ra nhiều điều khiếm khuyết. Nhiều người cho rằng cách đào tạo bồi dưỡng học sinh của Việt Nam nặng về thủ thuật. Thủ thuật chỉ giúp cho học sinh giải được một số bài toán cụ thể, những bài toán nhỏ và thiết thực hơn là phục vụ cho mục đích thi cử. Trong khoa học cơ bản, tìm ra một hướng nghiên cứu mới là điều quan trọng.
Nghịch lý thứ ba, trong khi nước ta đang cần những nhân tài kinh doanh, tại sao trước đây lại không tổ chức những cuộc thi tuyển chọn loại tài năng này? Cuộc thi Thắp sáng tài năng kinh doanh chỉ mới được tổ chức một vài năm gần đây là một hoạt động tốt. Bởi vì đất nước muốn giầu có phải nhờ vào lực lượng doanh nhân. Tuy nhiên nó chỉ được thực hiện ở một vài nơi, không có tính chuyên nghiệp và không liên tục.
Có người nói tiêu chuẩn chọn lựa là dựa vào các tiêu chuẩn của Mỹ. Mỹ là nước có trình độ kinh doanh tiên tiến, áp dụng nguyên xi sao được khi Việt nam mới chuyển sang kinh tế thị trường, đặc biệt một số thị trường không mang đúng ý nghĩa của một thị trường. Ban giám khảo gồm những nhà kinh doanh được cho là thành đạt. Liệu họ có thực sự là những nhà kinh doanh thành đạt hay không? Thật khó tin, ở Việt Nam nhiều doanh nghiệp thành đạt do nhà nước bảo hộ, do độc quyền buôn bán, do buôn lậu trốn thuế. Rất ít có doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh lành mạnh mà lại thành công. Phương Tây coi phẩm chất quan trọng của tài năng kinh doanh là người có ý chí, dám đương đầu trước áp lực cạnh tranh, đưa ra ý tưởng mới và sản phẩm mới, lợi dụng được các cơ hội của thị trường, hiểu tỷ mỷ các điều khoản của luật pháp... Thế nhưng, các câu hỏi của cuộc thi Thắp sáng tài năng kinh doanh Việt Nam lại chỉ là các câu hỏi về thông tin, có tính chất tìm hiểu về hoạt động kinh doanh. Tầm trí tuệ của cuộc thi thấp, thấp hơn nhiều so với cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia. Câu hỏi để đánh giá mức độ thông minh cũng chỉ là giải bài toán tìm cực trị đơn giản trong chương trình toán phổ thông. Nói tóm lại là cuộc thi giống như một cuộc chơi, tương tự như trò chơi âm nhạc, trò chơi đoán giá, bởi vì chỉ cần thuộc những điều trong sách vở là có thể trả lời được các câu hỏi.
Liệu cuộc thi này có chọn ra những tài năng kinh doanh thực sự hay không, họ có là chủ các doanh nghiệp lớn trong tương lai hay không?
Nghịch lý thứ tư, việc chọn người lãnh đạo quản lý. Chưa có một thống kê đầy đủ, nhưng có thể khẳng định những người lãnh đạo, cán bộ quản lý cao cấp trong các cơ quan nhà nước là những học sinh không có thành tích xuất sắc trong quá trình học tập tại các trường phổ thông, các trường đại học. Nếu có thì con số đó là rất ít. Có nhiều tiêu chuẩn đưa ra để chọn lựa tài năng quản lý, có vẻ hợp lý, rất tiếc trong quá trình thực hành lại không tuân thủ các tiêu chuẩn và nguyên tắc này. Muốn trở thành người lãnh đạo, quản lý cấp cao thì người đó phải là đảng viên. Nhiều người đã có thói quen đồng nhất đảng viên với người tốt. Thói quen thừa nhận đó đúng với thời kỳ trước đây, trong hai cuộc kháng chiến gian khổ giành độc lập cho dân tộc, nhiều gương hy sinh chiến đấu là đảng viên tiêu biểu. Bây giờ điều đó không còn đúng nữa, bởi vì không ít đảng viên mất sức chiến đấu, không có lý tưởng, tha hoá về đạo đức, tham nhũng ức hiếp dân chúng. Tiến tới nhà nước pháp quyền, một xã hội dân sự nên xây dựng lại tiêu chuẩn thế nào là một công dân tốt, trước hết đó là công dân tuân thủ luật pháp. Vì cho rằng đảng viên là người tốt, có năng lực, do đó khi cất nhắc đề bạt cán bộ phải chọn xem người đó có là đảng viên hay không? Một số cơ quan của nhà nước từ trung ương tới địa phương hoạt động kém hiệu quả, cán bộ vi phạm pháp luật, thiếu cán bộ có năng lực có ý kiến cho rằng do không chịu sử dụng, đề bạt những người ngoài đảng có năng lực nhận trọng trách. Bộ máy chính quyền đầu tiên sau khi giành được độc lập, Hồ Chủ tịch đã mạnh dạn tin dùng những người không phải là đảng viên của đảng Cộng sản, trong số đó có Huỳnh Thúc Kháng, một chí sĩ yêu nước và một số tri thức có tên tuổi khác như Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Huyên, Phan Anh…, đặc biệt dùng người trong chính quyền cũ giữ chức vụ cao như Phan Kế Toại. Người ngoài đảng không phải là người xấu, vì một lý do nào đó cơ sở đảng không kết nạp họ, hoặc họ đủ tiêu chuẩn nhưng lại không muốn vào đảng.
Không chỉ có việc bổ nhiệm đề bạt cán bộ mà ngay trong quy định về thi tuyển công chức từ bậc thấp lên bậc cao đòi hỏi có chứng chỉ chính trị cấp cao. Muốn có chứng chỉ đó, phải là đảng viên mới được theo học. Đã có một số nghiên cứu viên ở một số viện nghiên cứu đầu ngành, có năng lực, hưởng bậc lương nghiên cứu viên chính hơn 10 năm, được nhà nước phong chức danh PGS, nhưng không có chứng chỉ chính trị cao cấp vì không phải là đảng viên đã không được thi tuyển lên bậc nghiên cứu viên cao cấp. Trong khi đó một số người năng lực kém là đảng viên lại được thi và trở thành nghiên cứu viên cao cấp. Đó là điều phi lý đang tồn tại, lương bổng là chế độ đãi ngộ của nhà nước đối với công chức chứ đâu phân biệt là đảng viên hay không đảng viên?
Ở Mỹ, trong việc lựa chọn ê kip lãnh đạo, người ta ít quan tâm đến đảng phái chính trị. Trong lịch sử bầu cử Tổng thống Mỹ đã từng xảy ra chuyện Tổng thống là người của đảng Cộng hoà liên danh với người phó của mình là đảng Dân chủ và ngược lại. Người Tổng thống tìm người phó cho mình theo tiêu chuẩn có được nhân dân tín nhiệm không, có bổ sung những nhược điểm của mình không? Chọn ê kip lãnh đạo của Việt Nam không ít trường hợp do thân quen, do áp lực xung quanh hoặc ý kiến cấp cao hơn dội xuống, do dễ sai bảo, do chạy chọt… cho nên không ít lãnh đạo cao cấp không có tài năng. Có thể thấy hiện nay các nhà khoa học chức càng cao khả năng chuyên môn tụt xuống càng nhanh. Quan sát để đưa ra kết luận đó là đúng, nhưng nên đặt lại câu hỏi nó đúng trong thời kỳ nào, tại sao xảy ra tình trạng đó trong thời gian qua? Một phản thí dụ khá điển hình là trước đây, đã có không ít người giữ trọng trách cao đó là Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai... mà tài năng của của họ cứ tiếp tục toả sáng. Lỗ hổng của cơ chế lựa chọn người tài gần đây ở đâu và có đúng những người được lựa chọn lãnh đạo các cơ quan khoa học có thực tài không?
Nghịch lý thứ năm, thi tuyển công chức không công khai, thiếu dân chủ. Hàng năm một số cơ quan nhà nước đều tiến hành thi tuyển công chức, nhưng không thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Mức độ cạnh tranh trong các cuộc thi không cao, do biên chế có hạn, hầu hết người trúng tuyển là con em của những người trong cơ quan, con các vị có chức sắc cấp cao hơn gửi gắm. Cơ quan nhà nước tiếp tục trở thành nơi chứa chấp một số đông cán bộ không có năng lực.
2. Đào tạo và bồi dưỡng
Với phương pháp giáo dục nặng về nhồi nhét, học gạo, học tủ và học lệch đến mụ người như hiện nay các trường đại học của Việt Nam mau chóng thiết lập xu hướng tạo ra những người làm theo, nói theo và thừa hành. Thật đáng lo ngại khi lối học khoa cử, từ chương mà Nguyễn Trường Tộ đã từng lên án hơn 100 năm trước đây trở thành xu hướng phát triển trong xã hội ta. Chính vì lối học đó mà người Việt Nam thường chỉ xuất sắc ở lớp dưới, càng lên cao, đòi hỏi sáng tạo, tưởng tượng phong phú thì càng đuối sức. Thêm vào đó trong quá trình công tác, người tài năng chân chính không được trọng dụng thì dễ từ bỏ khoa học để tìm cơ hội tiến thân theo con đường khác.
Trường đại học muốn trở thành nơi đào tạo tốt phải có một số điều kiện cơ bản: cơ sở vật chất tốt, giáo viên có trình độ chuyên môn tốt, chương trình đào tạo phù hợp với chuẩn mực quốc tế và luôn luôn đổi mới, phương pháp giảng dạy hiện đại.
Việt Nam là nước nghèo, lại có hơn 400 trường đại học cao đẳng, nhưng không hề có một trường đại học nào ngang tầm với các đại học có tiếng tại các nước ASEAN, chưa dám so với các nước châu Á. Ở các trường đại học trên thế giới, trường đại học đồng thời là các trung tâm nghiên cứu chủ lực, sản sinh ra nhiều công nghệ mới. Ở Việt Nam, trường đại học chỉ có chức năng đơn thuần là nhiệm vụ đào tạo; bởi vì không có phòng thí nghiệm, không có thiết bị phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu. Chỉ có một vài trường trọng điểm được nhà nước chú ý đầu tư cho nghiên cứu khoa học thí dụ Đại học quốc gia Hà Nội, Bách khoa Hà Nội, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Số công trình khoa học ở các trường đại học được thương mại hoá là không đáng kể.
Trình độ giáo viên đại học của Việt Nam rất yếu. Số trước đây được đào tạo ở Liên Xô cũ, Đông Âu đã về hưu, hoặc già cả. Nhiều năm chuyển sang kinh tế thị trường do mưu sinh, nhiều sinh viên học giỏi ở bậc phổ thông chọn thi vào các trường đại học kinh tế như Ngoại thương, Kinh tế quốc dân, đại học Luật. Học xong ít người muốn ở lại trường giảng dạy, mà làm việc cho công ty nước ngoài có thu nhập cao hơn. Do đó số giáo viên càng thiếu về số lượng càng yếu về chất lượng. Việt Nam đã kéo dài tình trạng người có trình độ đại học dạy đại học, số giáo viên có bằng thạc sĩ trở lên ở các trường đại học chỉ vào khoảng 15-18%, so với mức trung bình của các trường đại học trong khối ASEAN hiện hơn 30%, đó là chưa kể những trường hợp bằng được cấp cho người không đủ trình độ tương xứng. Rất ít giáo viên đọc được sách nước ngoài, không được cử đi trao đổi, bồi dưỡng ở các nước khác. Hậu quả là những người giáo viên đó truyền lại những kiến thức mà mình tiếp thu được cách đây hơn 20 - 30 năm. Mặc dầu các sinh viên không hài lòng khi tiếp thu những tri thức cũ đó, nhưng lại không được quyền phản đối. Lực lượng giáo viên như vậy thì làm sao nói tới thay đổi phương pháp giảng dạy ở bậc đại học. Ở các trường Đại học phương Tây, nếu giáo viên không thu hút được số đông sinh viên đến nghe giảng, không trả lời được các câu hỏi chất vấn của các sinh viên, giáo viên đó bị loại ra khỏi trường. Thí dụ, Al Gore sau khi thất cử Tổng thống Mỹ, đã được một người bạn giới thiệu tới dạy tại Khoa Báo chí ở Đại học Columbia. Sau một tuần thử thách, ông lập tức bị Ban giám đốc thải hồi. Giáo viên ở các trường Đại học Mỹ được trả lương cao, do đó phải chịu áp lực cạnh tranh rất gay gắt. Giáo viên đại học là lực lượng nòng cốt trong nghiên cứu khoa học. Ở Việt Nam hầu hết các kết quả nghiên cứu là từ các viện không thuộc trường đại học, đó là một thực tế buồn, không nghiên cứu thì không có trí thức mới.
Chương trình giáo dục tại các trường đại học Việt Nam vừa lạc hậu, vừa chắp vá. Trước đây chủ yếu dựa vào khung chương trình và giáo trình của Liên Xô, Đông Âu. Gần đây chuyển sang kinh tế thị trường, tham khảo chương trình của các trường đại học Anh, Mỹ. Chương trình đại học có đổi mới nhưng chưa triệt để. Để so sánh quốc tế về chất lượng giáo dục cần phải dựa vào chuẩn mực quốc tế. Chuẩn mực đó là chương trình và giáo trình mà các trường đại học lớn trên thế giới sử dụng. Tôi nhớ lại Khoa Toán - Cơ Đại học Tổng hợp Hà Nội, nơi tôi từng học trước đây được thừa nhận là có chất lượng. Bởi vì các giáo trình hồi đó là của Khoa Toán - Cơ Đại học Quốc gia Maxcơva, một trường nổi tiếng về khoa học tự nhiên. Các giáo trình kinh tế học đang dùng để giảng dạy cho bậc đại học tại Việt Nam quá sơ sài, đơn giản. Ít thấy các giáo trình đưa vào các phương pháp phân tích kinh tế hiện đại nhờ sử dụng công cụ toán. Toán học dường như vẫn còn xa lạ với các nhà kinh tế và sinh viên kinh tế của Việt Nam. Thay vì việc biên soạn, Bộ Giáo dục - Đào tạo nên đầu tư tài chính cho việc dịch, xuất bản các giáo trình kinh tế của các tác giả nổi tiếng trên thế giới dùng làm tài liệu giảng dạy, tham khảo cho các sinh viên Việt Nam.
Các thống kê cho thấy, số tiết của ba môn học Chính trị Mác Lênin, Giáo dục quốc phòng và Giáo dục thể chất chiếm tới 1/3 chương trình của 4-5 năm học đại học. Có cần giành nhiều thời gian đến mức đó không? Nếu giành chừng ấy thời gian thì việc giảng dạy phải cải tiến đổi mới thế nào cho phù hợp với xu thế chung của giáo dục trên thế giới. Xét riêng trong lĩnh vực kinh tế chính trị học, chủ yếu tập trung vào bộ Tư bản của Mác, trong khi kinh tế học có nhiều học thuyết khác cũng có giá trị. Thí dụ các học thuyết cổ điển của Adam Smith, Ricardo, Keynes, các học thuyết mới gần đây của Paul Romer, R. Lucas nhấn mạnh vai trò của vốn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế. Muốn có nhận thức đúng, đánh giá khách quan về xu thế phát triển của các hiện tượng kinh tế xã hội cần tiếp thu nhiều nguồn tri thức và các phương pháp phân tích hiện đại khác nhau.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là nơi bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ nguồn cao cấp cho cơ quan đảng, nhà nước. Nếu xem vào các tài liệu được sử dụng trong quá trình học tập nghiên cứu thì thấy không khác nhiều so với chương trình đại học, chương trình đào tạo cao học và nghiên cứu sinh. Mặt khác các giáo viên giảng dạy không dám nêu ý kiến của mình, những quan điểm mới của mình. Do vậy không ít cán bộ sau khi đã học qua chương trình đó đã thẳng thắn nêu lên nhận xét là không có cái mới, lý luận không theo kịp với thực tiễn, không theo kịp xu hướng phát triển của thời đại. Bởi vì đó là tri thức cũ, quan điểm cũ. Đã đến lúc phải đánh giá lại toàn bộ trên diện rộng rằng học để mong có chức cao hay là học để tiếp thu tri thức mới. Nếu học mà không tiếp thu được tri thức mới thì việc học đó gây tốn kém tiền của nhà nước và nhân dân. Bồi dưỡng tri thức chính trị, luật pháp quản lý cho cán bộ cao cấp là cần thiết nhưng nội dung, phương pháp đào tạo phải đổi mới.
Đề bạt cán bộ dựa vào bằng cấp khuyến khích ứng viên phải có bằng. Do đó bằng dởm tràn lan, thậm chí thời Liên Xô sụp đổ một số người mải mê buôn bán đã phải thuê viết và dịch luận án tiến sỹ về kinh tế và một số lĩnh vực khác. Vài người trong số đó được phong GS kinh tế.
3. Chính sách sử dụng và đãi ngộ đối với tài năng khoa học
Bảo vệ sinh mệnh chính trị của các tài năng khoa học nói riêng và đội ngũ cán bộ khoa học nói chung là rất quan trọng. Trung Quốc đã có bài học đau đớn từ cách mạng văn hoá. Việt Nam cũng có những bài học trong thời kỳ cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, đối xử bất công với các nhà văn, nhà thơ trong phong trào Nhân văn Giai phẩm, trong khoán nông nghiệp. Ở các nước phương Tây mọi công dân đều được bảo vệ sinh mệnh chính trị nhờ pháp luật, có thể bày tỏ chính kiến độc lập của mình mặc dầu ý kiến cá nhân ngược lại với các ý kiến của Tổng thống, Thủ tướng. Những người có ý kiến độc lập trên tinh thần đổi mới, mở rộng dân chủ đừng vội quy kết, cho họ là phản bội tổ quốc, lật đổ chính quyền. Phải xem ý kiến đó có vi phạm pháp luật Việt Nam hay không? Có tin dùng tri thức thì tri thức mới cống hiến tài năng cho dân tộc cho tổ quốc. Tự do học thuật là môi trường nuôi dưỡng nhân tài, nếu thể chế không mở rộng dân chủ thì có tài năng đến đâu cũng bị vô hiệu hoá.
Cách sử dụng và đãi ngộ hiện nay dễ làm kiệt sức đội ngũ các nhà khoa học. Đồng lương thấp, nhiều người phải hoạt động kiếm sống bằng nghề khác. Trong khi các cán bộ quản lý giữ chức vụ cao hưởng nhiều bổng lộc, có đặc quyền đặc lợi. Cho nên đã có không ít cán bộ khoa học sau khi được đào tạo có học vị cao, cố gắng tìm kiếm vị trí xã hội mới. Điều quan trọng hơn, về mặt tinh thần và vị trí xã hội của người lao động khoa học đang bị cơi rẻ. Bất cứ nước nào trên thế giới kể cả Việt Nam hơn 40 năm trước đây, một chuyên gia giỏi đã phục vụ 20-25 năm, bao giờ cũng được xếp bậc lương trên cùng của thang lương nghề nghiệp. Ở Việt Nam các vị trí cao nhất trong thang lương nghề nghiệp chỉ dành cho người có chức vụ hành chính cao. Nhà khoa học tài năng cống hiến thế nào cũng mặc, nếu không có chức vụ cao thì không được kính trọng, không được xã hội thừa nhận. Do đó mới có chuyện Chủ nhiệm các chương trình đề tài khoa học là các vị quan chức cấp cao, ít khi rơi vào các nhà khoa học đúng chuyên môn đào tạo, đúng lĩnh vực nghiên cứu. Việc giao đề tài theo kiểu bảo kê, chạy chọt, thực hiện đề tài chụp giựt, nghiệm thu đề tài khép kín theo cơ chế gia đình, bầu bạn thân quen. Nhà nước bỏ ra hàng trăm tỷ đồng, nhưng kết quả nghiên cứu chỉ là những kiến nghị chung chung không thể đưa vào ứng dụng, không thể chuyển giao (trừ số ít đề tài khoa học công nghệ). Biết bao nhiêu tài năng khoa học, quản lý lẽ ra có thể làm rạng danh cho đất nước, cho nền khoa học Việt Nam, nhưng chỉ vì chính sách sử dụng ấy mà nửa chừng khô héo, mai một dần, không khí hoạt động cũng không còn hồ hởi nữa. Muốn có tài năng và thành quả khoa học cần phải đầu tư. Giáo dục cùng với khoa học là quốc sách hàng đầu, nhưng tỷ lệ đầu tư trong tổng ngân sách tiêu dùng luôn luôn thấp, rất thấp nếu so với các nước ASEAN. Dù chúng ta cố gắng ca ngợi chế độ ta tốt đẹp, ca ngợi chính sách tuyển chọn bồi dưỡng và sử dụng nhân tài của ta là đúng thì thực tế cơ chế chính sách đó vẫn là thông điệp buồn đáng hoài nghi đối với thế hệ trẻ, đối với hàng ngàn các nhà khoa học, doanh nhân người Việt đang sống ở nước ngoài.
Một vài nhà khoa học thường bày tỏ niềm vinh dự lớn khi được tiếp kiến với các vị lãnh đạo cao cấp Việt Nam. Ở nước ngoài, hiện tượng này xảy ra thường xuyên. Nhân dịp các ngày lễ lớn, các Tổng thống, Thủ tướng đến thăm các nhà khoa học, các tài năng trong những lĩnh vực khác nhau, đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm danh nhân. Thay vì đưa ra lời khuyên bảo, chỉ thị, phải thế này, phải thế kia, họ chăm chú lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học để cùng tháo gỡ các khó khăn. Hành vi ứng xử có văn hoá này hiếm thấy ở Việt Nam.
T.V.T.
Saturday, November 26, 2011 1:17:11 AM
TỪ THIỆN VÀ BIẾT ƠN -VIỆT NAM HAY MỸ ?
Lệ Hoa Wilson
I. VIỆTNAM
Những đống gỗ tràm vót nhọn đầu, những thân tre cứng ngắt vạt xéo được cấp tốc khuân xuống bờ sông và được đóng chặt giữa lòng sông. Dòng sông hiền từ bỗng nhiên trở mặt. Căng thẳng, rình rập, thù hận, giết chóc, bảo vệ. ..Thủy triều đang lên. Đám người rã rời lê những tấm thân đầy thương tích, rách nát, máu me ẩn núp trong đám lau sậy chờ đoàn tàu theo đuổi, chờ cho thủy triều rút xuống.
Những cánh đồng khô cằn đầy rắn rít. Chúng tự do mổ và hút máu những bàn chân chai cứng, những tấm thân gầy guộc. Cọng lúa chen lấn mọc lên. Mồ hôi đầm đìa tưới xuống. Máu và nước mắt của bao nhiêu người, tuy không cùng chung giòng họ, nhưng chung những bước đầu tiên, chung những gian lao, khổ cực, thương đau, chết chóc để đẩy dần những thước đất nhỏ xíu, nghèo nàn thành ra một dãi quê hương gấm vóc.
Đó là những người đã tạo ra chiến sử Bạch Đằng Giang, đã tạo ra những cánh đồng lúa vàng bát ngát, đã tạo ra Việt Nam. Vậy giờ đây những người mang giòng máu đó cần một chút tình người, sao ta có thể làm ngơ?
BỆNH VIỆN UNG BƯỚU GIA ĐỊNH:
Hội Đồng Quản Trị Hội Từ Thiện Phật Giáo Phổ Hiền* có giao cho tôi một số tiền cộng thêm vào số tiền riêng tôi quyên được thành ra một con số khá lớn. Và tôi về quê nhà chia xẻ với đồng bào nghèo nhân dịp tết.
Bạn ơi, nếu có ngày nào bạn giận hờn vì Medicare của bạn không nhận trả tiền một thứ thuốc nào đó, chánh phủ không chấp thuận cho bạn làm một cuộc mổ xẽ không cần thiết khiến bạn kêu rêu, cô y tá săn sóc bạn trong nhà thương hơi chậm trể khi bạn nhấn chuông gọi làm bạn nóng giận , thì tôi xin bạn hãy dẹp bõ mọi giận hờn, bực tức và cùng tôi đi đến bịnh viện ung bướu Gia Định.
Khác với những bệnh viện sạch sẽ, yên tĩnh bên Mỹ, bệnh viện VN rất ồn ào, náo nhiệt. Trước cửa bệnh viện, người nuôi bịnh có, người thăm viếng có, thân nhân có, xe ôm có, cò mồi có, bảo vệ có, ăn xin có, khều móc có, đứng chơi vơ vẫn có, đứng chờ móc túi có
một xã hội của thất vọng, hy vọng, rình rập, chờ mong, nụ cười và nước mắt.
Đi vào những gian phòng cũ kỹ, giường cây, giường tre , giường sắt hàng dọc hàng ngang, những chiếc chiếu trãi rách mép, những chiếc mền sờn chỉ, những thân hình oằn oại đớn đau, những ánh mắt cầu khẩn van xin, những mùi hôi và thuốc chữa đủ loại hoà trộn vào nhau, tôi thật đã ngửi được mùi của đau khổ.
Phải, bạn ơi, mùi đau khổ! Bạn có thể ngửi được mùi nầy qua ánh mắt quầng thâm của bà mẹ có con nhỏ bị ung thư, qua cái đầu cạo sạch tóc của các trẻ em gầy ốm, qua những ống dây vô máu hững hờ, qua ánh mắt nhẫn nhục của người bịnh nằm dưói đất ngẩng lên chẳng thấy trần nhà mà chỉ thấy những thanh gỗ tạp của chiếc giường của người bịnh nằm trên.
Tôi vào một phòng bịnh. Người đàn ông nằm dài, hệ thống dẫn máu truyền vào cánh tay khẳng khiu. Người đàn bà ngồi cạnh gục đầu vào ngực anh. Tôi hỏi nhỏ nhe: cháu có khỏe không? (một câu hỏi quá vô duyên!). Người đàn bà nghe hỏi ngẩng đầu lên. Cô vào khoảng 35 tuổi, vẻ mặt hiền từ, mệt mõi trả lời: Dạ đây là chồng cháu. Ảnh bị ung thư phổi tới thời kỳ cuối rồi. Ảnh chỉ còn được
Cô không nói hết lời, cặp mắt đỏ hoe xoay lại nắm tay chồng. Người chồng cố gắng nghiêng đầu một chút về hướng vợ, ánh mắt thiết tha nhìn vợ như cố an ủi và chia xẻ niềm đau. Bạn ơi, sẽ không có một chút kính trọng nào cho giây phút cuối đời: ngoài cữa phòng vẫn vang dội ồn ào lời xin xỏ rầy la. Sẽ không có một phút riêng tư nào để nói lời vĩnh biệt: trong phòng bịnh tập thể đầy bịnh nhân vẫn rộn ràng với xôn xao bàn tán.Tôi biết được anh đã qua đời vài giờ sau đó. Nước mắt tôi không trào ra nhưng lòng tôi quặn thắt và chợt nhớ đến bốn câu thơ:
Nếu em biết rằng đây là lần cuối
Sẽ ngồi bên chờ anh ngũ thật say
Sẽ nhẹ nhàng tấn chặt tấm mền mây
Sẽ cầu nguyện linh hồn anh bay bổng.
Chúng tôi phát quà qua nhiều phòng, nhiều loại bịnh nhân khác nhau. Không bạn ơi, ung thư không lây. Bạn hãy yên tâm thăm viếng bệnh nhân. Nhưng cái hành lang trước phòng bịnh ngồi chật người nuôi bịnh, các bà mẹ nằm ngổn ngang dưới đất nuôi con, các người ăn mót chạy theo nắm tay bạn, kéo áo bạn, cào cấu bạn để xin chỗ quà dư thừa thì bạn ơi lại không thiếu bất cứ một loại vi trùng nào! Xin bạn hãy nhớ rửa tay và sát trùng thật sạch trước khi ra về.
ĐỒNG BÀO THƯỢNG DARLAC:
Vài ngày sau chúng tôi đi Darlac chia xẻ cùng đồng bào Thượng. Khi chúng tôi tới họ đã sắp hàng trật tự. Các thiện nguyện viên của hội Từ Thiện Phổ Hiền huớng dẫn họ qua từ khâu để lãnh đầy đủ quà, thuốc và tiền. Sau khi phát quà xong, Quốc (một thiện nguyện viên bên VN) yêu cầu tôi nói chuyện với họ. Tôi cầm micro trên tay chỉ lấp bấp nói vài lời rồi rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào không nói được nữa.
Bạn ơi, tôi phải nói gì đây? Nói là ở bên Mỹ tôi thường hay đi chợ mua 5 bó rau, ăn hai bó tươi, một bó héo và bỏ vào thùng rác hai bó dư? Nói là tôi đã từng đổ những thức ăn béo bổ, những hột cơm trắng ngần vào máy xay rác vì con mắt lớn hơn cái bụng, vì mời bạn tới nhà ăn chơi nên phải nấu dư thừa để người ta không chê mình keo kiệt hay để khoe sự giàu sang? Nói là tôi từng giận dỗi cô y tá khi cô chưa kịp thay đổi khăn trải giường lúc tôi nằm bệnh viện? Nói là tôi mơ mộng mua nhà trên bãi biển, trên đồi cao, chỉ toàn Mỹ trắng, không gần Mỹ đen, không bạn Mễ nghèo? Nói là tôi muốn lái xe đời mới, muốn điện thoại iphone, ipad, muốn áo quần có hiệu, muốn nghĩ hè ở ngoại quốc?
Tôi mắc cở không nói được và vì thế tôi nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt. Tôi chỉ muốn nói lời cảm ơn những con người nghèo khổ, áo quần lam lũ, tay chân nứt nẻ, giày dép mốc meo đang ngồi dưới đất hướng đôi mắt biết ơn về phía tôi. Không các bạn ơi. Không phải các bạn cám ơn tôi mà tôi phải cám ơn các bạn.
Cám ơn các bạn đã cho tôi một giây phút ngắn ngũi nhưng huyền diệu khiến tôi biết chắt chiu hơn, biết nhẫn nại hơn, biết tha thứ hơn, biết gần gũi hơn, biết chia xẽ hơn, biết cúi đầu, biết cám ơn
Và tôi làm sao có thể dùng ngôn từ gì để nói cho những con người chất phác kia hiểu được cảm xúc tôi trong lúc đó? Vì thế tôi để cho lỗ mũi cay xè và đôi mắt rưng rưng.
TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI GIÀ THẠNH LỘC:
Các thiện nguyện viên Vietnam đã đi sớm tới trung tâm để nấu bún bò chay đãi khách. Trước bữa trưa, tôi đi vòng quanh thăm viếng. Tôi nhìn các ông bà già ngồi lú lẫn trên giường tre, hoặc nhễu nhão sờ soạng chén cơm, hoặc chen nhau trong căn phòng nóng hầm hập, hoặc lảm nhảm những câu vô nghĩa, lòng tôi chùng xuống. Ở đây không có máy lạnh, không có tủ lạnh, không có những thỏi pho mai vàng rượm, không có những hộp sữa ensure béo bổ, không có bao tôm càng nhập cảng, không có rổ táo hồng tươi, không có tô gà hầm thuốc bắc. Không các bạn ạ. những thứ đó chỉ có cho những ông bà già may mắn kiếp trước có tu, sống thãnh thơi bên Mỹ! . Ở đây tô phở bò ngào ngạt với nước béo hành trần chỉ là mộng tưởng. Ở đây dĩa cơm tấm bì chả sưòn nướng là một điều mơ mộng viễn vông.
Trước khi ra về tôi nói lời cám ơn với các anh chị y tá, trợ tá, lao công giặt giũ v..v..Các anh chị ơi, chúng tôi đem chút ít tiền về tưởng là đã làm được một cuộc từ thiện lớn lao, nhưng so với công sức anh chị bỏ ra để chăm lo, săn sóc cho những người đau khổ kia hằng ngày thì chúng tôi thành bé nhỏ quá. Tôi lại nghẹn ngào chẳng nói hết lời. Bạn sẽ nói là cái chị nầy sao mà mít ướt quá vậy. Đi đâu cũng khóc. Nói gì cũng nghẹn. Bạn ơi, nếu bạn thấy được những dòng nước miếng rơi rãi trên ngực áo họ, nếu bạn thấy những cái quần hôi hám vì nuớc tiểu của họ, nếu bạn thấy những ghẻ lở gớm ghiếc trên thân mình họ thì bạn sẽ hiểu tại sao tôi cúi đầu khâm phục những người phục vụ tại những trung tâm nuôi dưỡng trên.
TRUNG TÂM NHÂN ĐẠO QUÊ HƯƠNG, BÌNH DƯƠNG:
Chúng tôi cùng nhau đi đến trung tâm. Những gói quà được bỏ vào trong những bao ny lông vàng choé làm rộn rã hẳn căn phòng. Các cháu mồ côi đủ mọi lứa tuổi đã ngồi sẵn sàng ở những bàn học. Có một cháu đàn piano điện (cây đờn cũ đến nổi nếu tôi bấm phím mạnh tay thì e rắng nó sẽ bể ra ) và các cháu đồng ca để tặng chúng tôi. Sau màn ca nhạc, chúng tôi đem quà tới tận bàn để phát cho các cháu. Có đứa nhận quà liền mở ra rối rít khoe nhau. Có đứa nồi im, gói quà hững hờ nằm trước mặt. Tôi lại gần cúi xuống hỏi: Sao hai cháu không mở quà? Hai đứa nhỏ nhẹ nói: Tụi con bị mù, không thấy đường mở sọi dây thung
Có ai ngớ ngẩn và vô duyên như tôi không bạn? Tôi cho quà mà không thấy nguời nhận. Tôi chỉ thấy cái NGÃ của tôi nằm rực rở trên gói quà. Tôi thấy tôi cao cả hết sức, nhân từ hết sức. Còn người nhận đang cúi đầu buồn bã, đợi chờ
tôi quả không thấy . Tôi run run bứt đứt sợi dây thung . Tôi vuốt tóc hai em khiếm thị , xin lỗi chúng đã chờ đợi và tuột trên đỉnh cao tự dắc của người cho xuống tận cùng nền nhà khiêm nhượng của người nhận lổi. Nước mắt lại rưng rưng.
Khi tới một phòng học, tôi thấy một em trai đang ngồi đàn. Tôi nổi máu văn nghệ bèn lân la tới hỏi nếu cô hát bản Hãy Yêu Nhau Đi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì con có đàn được không? Cháu nhanh nhẹn đáp: Dạ được. Thế là bổn cũ soạn lại, tôi thánh thót (tôi tưỏng) hát lời đã được tôi sữa lại:
Hãy thương nhau đi cho đời tươi sáng
Hãy tha cho nhau lầm lỗi lẫn si mê
Hãy đưa tay ra cho người nắm lấy
Cùng cảm thông và cùng sống an vui
Sau khi trình bày giống y ca sĩ Khánh Ly bốn câu trên, tôi hỏi nhạc sĩ: Cô hát có hay không cháu?. Tôi chắc mẽm câu trả lời sẽ là: Thưa cô hát hay lắm vì tôi thấy gói quà màu vàng đang nằm sờ sờ trên cây đàn. Nhưng nhạc sĩ đã ngẩng lên và thẳng thắn đáp: Dạ cô hát không được hay lắm! Cả phái đoàn cười ồ lên. Tôi khõ tay lên gói quà và nói: Cô vừa cho con gói quà nầy con có biết không?. Lần nầy thì nhạc sĩ mĩm cười: Dạ biết, nhưng con không thể tự dối lòng! Cả đoàn lại cười ngã nghiêng. Duyên dáng ViệtNam thật là bèo. Tôi bị chê mà vui ơi là vui. Ai nói người nghèo không có nhân cách?
Có gì đâu, trong bao nhiêu tiền kiếp xa xôi có phải chúng ta cũng đã từng vai kề vai lội qua sông Đà Giang đuổi giặc? có khi tổ tiên chúng ta đã là bạn lính đồng sanh tử dưới trướng Lê Lai? Có phải chúng ta đã có lần làm con châu chấu nhỏ nhoi đá nghiêng ngữa cái xe rác rến đó? Vậy thì ai không đau lòng, chúng ta cứ việc đau lòng. Ai không giúp đở chúng ta cứ việc giúp đở. Và biết ơn từng cái xấu xa nghèo nàn của quê hương. Và vui cười với những tình tự bát ngát của dân tộc.
Nhưng hởi ôi, quê hương đó, dân tộc đó hiện chúng ta dã rời xa và hình như chúng ta đã mọc rễ trên một mãnh đất khác , chia xẽ tình tự với một màu da khác. Vậy , ngoài sự thương yêu và biết ơn bốn ngàn năm cũ đó, chúng ta có nên thương yêu, giúp đở và biết ơn hai trăm năm mới nầy không?
II. MỸ
Tôi thà tin rằng trong tiền kiếp tôi đã từng rời bỏ căn nhà ba gian hai chái thoáng mát bên bờ sông hiền hòa đầy dừa nước , miếng vườn trù phú với bao nhiêu là xoài mận mãn cầu để lang thang đổ mồ hôi chăn đàn bò trên những cánh đồng khô cằn miền tây mỹ, dong ngựa tuyệt vọng qua sa mạc nóng cháy để tìm nguồn nước cất nhà, sàn sẩy những rổ sõi đá kiếm chút vàng vụn nuôi thân.
Tôi thà tin rằng trong tiền kiếp tôi đã từng là y tá băng bó vết thương cho những nông dân chất phác bảo vệ miền nam, những người nhiệt tình miền bắc hy vọng giài phóng nô lệ trong cuộc nội chiến đau lòng.
Vì như thế ít ra tôi đã từng cùng họ chia xẽ vinh nhục của đất nước, đã từng cùng họ chịu đựng bảo táp mưa sa, đã từng cùng họ đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt dể tạo dựng xã hội giàu có hôm nay. Và như thế thì lòng tôi mới đở áy náy khi nhận những phúc lợi từ họ.
Tôi đọc đâu đó trong một cuốn sách , một anh chàng hiệp sĩ nói: Tôi nhận đuợc ơn nghĩa bằng một giọt nước nhưng tôi thề sẽ trả lại ơn nghĩa bằng một dòng sông! Quá hay, quá đầy đủ tình người phải không bạn? Tôi nhìn các ông bà già thong thả đi thể dục trong Miles Square Park , tụ họp nhau vui chơi giải trí trong các hội cao niên, giới thiệu nhau từng thang thuốc hay, từng bác sĩ giỏi , từng món ăn bổ dưỡng v..v.. mà tôi thấy giọt nước ơn nghiã kia quá tràn đầy. Tôi đọc báo thấy các nghị sĩ Mỹ tranh đấu cho người dân hưởng các phúc lợi xã hội, tôi chưa từng thấy họ chỉ tranh đấu cho người Mỹ , loại trừ người Việt. Sáu mươi lăm tuổi: lãnh tiền già! Mỹ Việt như nhau. Có con nhỏ không nuôi nổi: lãnh welfare!. Mỹ Việt như nhau. Thương tích, tật nguyền, tâm thần, bịnh hoạn: lãnh tiền bịnh!. Mỹ Việt như nhau. Cha mẹ bịnh, con nuôi: lãnh lương!. Con bịnh, cha mẹ nuôi: lãnh lương! Đây không phải là một giọt nước mà là một dòng sông. Vậy ơn nghĩa phải trả lại bằng biển cả. Sao ta có thể lạnh lùng quay lưng?…
STAND DOWN:
Tôi tham gia nhiều chương trình từ thiện khác nhau tại Mỹ nhưng tôi chọn Stand Down để giới thiệu với các bạn.
Stand Down là một danh từ đặc biệt trong quân đội Mỹ dùng để chỉ sự thuyên chuyển một đơn vị từ nơi chiến đấu về nơi hậu phương an toàn để duỡng quân. Các cuộc chiến khác đã kết thúc khá lâu, hầu hết các cựu chiến binh đã qua đời. Cuộc chiến tranh Iraq chưa tới. Lúc chương trình Stand Down bắt đầu, trọng tâm là để giúp đở cho các cựu chiến binh về từ chiền trường ViệtNam. Những người chiến sĩ nầy đã được rút ra khỏi những làng mạc xa lạ đầy hầm chông, những chiến trường dầu sôi lửa bỏng đầy hận thù, chết chóc để về một quê hương an lành có vợ hiền, có con thơ, có nghề nghiệp, có gia đình.
Nhưng dòng đời có chảy hoài theo con đường ước muốn của mình đâu. Hãng xưởng đóng cửa, gia đình gãy đổ, thân nhân xa lìa, nợ nần chồng chất, những người cựu chiến binh không phơi mình giữa sương gió của chiến trường ViệtNam nhưng lại phải phơi mình giữa một loại gió sương khác không kém phần khốc liệt và tàn nhẫn: gió sương của Kẻ Không Nhà!
Đây là năm thứ năm mà các đoàn thể nhân đạo, các thưong hiệu thúc ăn nổi tiếng (Mac Donald, Burger King, KFC ,Starbucks
), các tổ chức tôn giáo, trường đại học cộng đồng Long Beach v..v
và nhứt là những thiện nguyện viên có một trái tim làm bằng tình yêu vĩnh cửu của Chúa và một tâm hồn đầy từ ái của Phật hợp lại để tổ chức ba ngày thương yêu và chia xẻ cho những kẻ bơ vơ.
Stand Down được tổ chức tại Veteran Long Beach Stadium , ngay sát bên trường đại học cộng đồng Long Beach góc đuờng Carson và Clark. Các lều trại được dựng lên do quân đội Mỹ chiếm cả một góc sân vận động. Trong lều ghế bố nhà binh nằm san sát cạnh nhau. Tất cả các lều chứa khoảng 700 cựu quân nhân Mỹ đã từng phục vụ tại các chiến trường ViệtNam và nay thành Kẻ Không Nhà! Đối diện là sân khấu lộ thiên. Dưới chân sân khấu cắm một hàng cờ của tất cả các binh chủng và cờ của Hội Cựu Chiến Binh. Giữa sân sừng sững ba cột cờ, cờ Mỹ, cờ Cali và cờ của HộiTìm Kiếm Những Chiến Binh Mất Tích. Trên mặt đất dựng đứng một cây súng trường, một nón cối máng vào đầu súng, một ba lô nằm lặng lẽ kế bên
Hởi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt
Bây giờ anh ở đâu?…Dòng nhạc nầy thật làm tim ta rớm máu
Trong ba ngày cuối tuần của tháng sáu, những con người kém may mắn nầy tìm lại được tình thương và nhân vị.. Họ được đối xử với tất cả tận tâm và sốt sắng của những người thiện nguyện(hầu hết là người Mỹ trong hảng Boeing ở Long Beach và tín đồ trong các nhà thờ, hội viên trong các hội từ thiện Mỹ. Rất tiếc là lúc đó cộng đồng VN chưa vững mạnh, đóng góp từ thiện chua được dồi dào nên có rất ít người biết đến chương trình nầy. ). Họ được bác sĩ khám sức khỏe, khám răng, thử máu. Họ được đích thân quan tòa ngồi đó ký tên xóa bỏ giấy phạt. Họ được trường đại học hướng dẫn các lớp học nghề. Họ được nhân viên xã hội ghi danh kiếm việc làm. Họ được các hảng xưởng phỏng vấn để cho việc. Họ được tắm rửa, cạo râu bằng nước nóng. Họ được nằm ngủ yên lành, ấm áp không lo bị rượt đuổi, hoặc bị một nắm đấm vào sườn vì một đôi giày tốt vùa lượm được ban chiều hoặc phải chợt thức giấc nữa đêm vì những giọt mưa lạnh lẽo vô tình. Nhưng có lẻ trái tim của những con người bạc phước nầy bị xúc động nhất là lúc họ được cho ăn. Họ không bị nhìn với ánh mắt khinh bỉ cho họ là đồ làm biếng. Họ không bị ném vào tay những khúc bánh mì thừa thải của kẻ phước dư. Không, họ được đưa dĩa thức ăn tận tay với một nụ cười cỡi mở, một ánh mắt chia xẻ, một tình người ấm áp. Họ ngồi đó nhắc lại những kỷ niệm xưa với một cô gái ViệtNam: ta gạt người, người gạt ta. Họ ngồi đó ôn lại những kinh nghiệm máu xương: ta gục ngã, người đổ máu
Họ ngồi đó với túi quần trống rổng, với dĩ vảng bùn lầy, với tương lai mờ mịt
Năm đầu tiên được người bạn giới thiệu, tôi không biết làm gì hơn là cùng đứa con trai 11 tuổi xung phong vào tổ gói quà và làm chuyện lặt văt trong lều phát quần áo. Năm thứ hai, tôi xin ban tổ chức cho tôi tặng vài trăm cuốn chã giò. Năm thứ ba tôi can đảm xin cho tôi và các bạn (trong đaọ tràng Pháp Hoa ) nấu hẳn một bửa ăn (họ được cho ăn ba bữa sáng, trưa và chiều, tổng cộng chín bữa ) cho 700 người gồm chã giò, cơm rang, mì xào , thịt bò broccoli và bánh ngọt. Năm thứ tư chúng tôi lập lại bửa ăn và kênh thêm một màn văn nghệ trên sân khấu lộ thiên với cả ngàn người xem, gồm thiện nguyện viên và cựu chiến binh, với bản ViệtNam! ViệtNam! Trong đời tôi có nhiều ngày vui, nhưng đây là một ngày vui đáng nhớ. Chúng tôi mặc áo dài, đưa thức ăn bằng hai tay, đưa dĩa bánh với một nụ cười, đi vòng quanh thăm hỏi với thái độ thân thương. Dù phần lớn chúng tôi đều đứng tuổi nhưng khi chúng tôi đi qua đâu đâu cũng vang dội lời chào bằng tiếng Mỹ có, tiếng Việt lọng cọng có, tiếng huýt sáo có. Nhiều người còn hít hà nói: mấy bà, mấy cô ơi, thấy áo dài tôi nhớ người yêu VN của tôi quá. Nầy cô áo vàng, Cô có muốn làm người yêu của tôi không? Tôi quay lại vui vẻ: Không, tôi không xứng làm người yêu của cậu đâu. Tôi xứng làm dì của cậu! Nào hãy gọi tôi một tiếng ‘aunty’ đi , tôi sẽ làm mai cháu tôi cho cậu
Chiều chúa nhựt, ba ngày thần tiên chấm dứt. Lễ hạ cờ bắt đầu. Hai lá cờ Mỹ và cờ của Hội Tìm Kiếm Những Người Chiến Sĩ Mất Tích được xếp lại gọn ghẻ. Hai người cựu chiến binh trân trọng nâng cờ trên tay, di ngang qua sân cỏ, đến dưới lễ đài, kèm theo hai bên bởi hai cựu chiến binh khác. Cờ được trân trọng trao qua tay ban tổ chức với lời nói chân thành: Chúng tôi xin trân trọng trao những lá cờ nầy đến tay các bạn. Xin các bạn đừng quên những người chiến sĩ đã phục vụ tổ quốc và những chiến sĩ hiện còn đang mất tích cũng như những chiến sĩ đã nằm xuống mà hài cốt còn chưa được trở lại quê hương!!!
Rồi tất cả mọi người đứng lên , tay nắm tay làm thành một vòng tròn vĩ đại quanh sân cỏ. Tiếng nhạc trong máy phóng thanh vang dội: Bạn hãy hãnh diện làm người Mỹ, hãy giúp cho những kẻ té quị có một cơ hội đứng lên
Một cảm xúc tràn đầy tình người dâng lên trong tôi. Tôi nắm tay một cựu chiến binh xa lạ, tay kia nắm đứa con trai và các bạn tôi cũng nối vòng tay với ngàn người khác. Cánh tay đưa cao, bàn tay nắm chặt, chúng tôi đong đưa theo tiếng nhạc . Trong không gian của sân cỏ lúc đó không có gái trai, trắng đen, Mỹ Việt, giàu nghèo, sang hèn, hữu phước hay vô phần. Lúc đó chỉ có Tình Người, một tình người thuần túy, lồng lộng, chan hòa. Tôi cố gắng không cho nước mắt trào ra nhưng vô ích. Bài hát chấm dứt, vòng tay đứt đoạn. Bác sĩ Bob Delzell , giám đốc chuơng trình nhìn qua tôi và nói: Bà chắc chưa có kinh nghiệm cho buổi lể chấm dứt 3 ngày Stand Down. Lần sau xin nhớ mang kiếng đen! Nói xong ông và một người phụ nữ Mỹ gần bên gỡ đôi kiếng đen của họ xuống. Mắt của họ đã đẩm nước.
Rồi không một câu từ giã nào nữa, đoàn người đã được ăn no ngủ kỹ trong 3 ngày lặng lẽ xếp thành hàng dài lần lượt rời sân cỏ, nhận gói quà và tiến qua cổng đến bên các xe bus. Họ không cần phải nói lời cám ơn vì thật ra không có lời nào đủ để cảm tạ những trái tim ngát hương nầy. Các chiếc xe bus sẽ đổ họ xuống một nơi nào đó. Từ các nẻo đường gió sương, họ đã tụ tập lại hưởng một chút tình người rồi lại được trả về với cuộc đời sương gió. Tôi mong lại được gặp họ năm sau như một kẻ có công ăn việc làm, như một kẻ thiện nguyện, chớ không phài là Kẻ Không Nhà. Tôi cám ơn các bạn trong đạo tràng, một số bạn khác ở Long Beach đã cùng tôi cố gắng rót một chút nước trả lại dòng sông. Tôi ôm hôn , bắt tay từ giả những người trong ban tổ chức, những người thiện nguyện mà tôi quen biết trong mấy năm qua. Tôi cảm thấy nhỏ nhoi trước măt họ.Nhỏ nhoi vì không phải họ là bác sĩ, là giám đốc, là người Mỹ giàu sang. Nhưng tôi thật là nhỏ nhoi trước trái tim vĩ đại tràn đầy tình thương đồng loại của họ.
Tôi thà tin có Nhân Quả , hưỏng một giọt nước, trả một dòng sông còn hơn là lạnh lùng vô cảm, nhận rất nhiều nhưng trả chẳng bao nhiêu hay chẳng trả gì hết . Nước Mỹ tuy giàu nhưng người giàu cũng khóc phải không bạn? Tôi không bao giờ mơ tưởng được lên cõi Niết Bàn hưởng cảnh cây vàng lá ngọc nhưng tôi cũng không muốn đào thai trở lại làm đứa trẻ châu Phi gầy đói trơ xương. Tôi không ngại ngùng nhận ơn khi tôi cần nhưng tôi cương quyết vươn lên để đền trả lại những ân tình tôi nhận.
Ngày Lễ Tạ Ơn sắp tới. Bạn và tôi, chúng ta hãy giúp đở cho bất cứ nhân loại nào cần đến chúng ta, dù đó chỉ là một dĩa cơm đạm bạc, một câu an ũi chân thành, một phút chăm chú lắng nghe, một lời cám ơn thắm thiết.
Chúng ta nên biết ơn người lính cứu hỏa đã nằm xuống trong lửa đỏ ngất trời cho ta yên vui, xum họp. Người vợ hiền ôm con thơ dòng lệ chứa chan.
Chúng ta nên biết ơn người lính chiến trãi máu xương nơi Iraq khô cằn cho ta an ninh ,dân chủ. Bà mẹ già lòng đau từng khúc, mong con yêu chẳng thấy trở về.
Chúng ta cũng nên cám ơn những người Mễ nghèo nàn còng lưng trên ruộng dâu, luống cải. Vài trăm đô la quí giá vuợt biên giới ngàn trùng xa cách, gia đình quạnh hiu bên buổi cơm chiều.
Bạn ơi, đã có biết bao nhiêu người thức khuya, dậy sớm, phỏng tay chảy máu nơi nhà bếp, mắt mờ lưng mõi nơi văn phòng, lặn lội tỉnh nầy, tiểu bang nọ để làm việc. Họ lái xe hơi, đi xe đạp, bắt xe lửa, trèo máy bay. Họ dùng chân, dùng tay, dùng trí óc, dùng sức khỏe. Họ làm nguyên ngày, nguyên đêm, đầu đêm, nũa đêm về sáng. Họ làm nguyên thời gian, bán thời gian, thời gian phụ trội. Họ làm gần, làm xa
xa tít mù để lại gia đình quạnh quẽ. Họ may mắn được chủ tử tế ân cần. Họ xui xẻo bị chủ rầy la, nhục mạ
Và dù cho khác biệt thế nào chăng nữa thì họ cũng có cùng chung một chuyện phải làm: đó là họ phải đóng thuế! Và có khi ta nhận nhũng giọt nước ân tình.
Vậy dù cho ViệtNam ngàn trùng xa cách với cùng một lịch sữ, một màu da hay là Mỹ gần nhau trong gang tấc với nhũng xẻ chia thắm thiết thì chúng ta hãy mở lòng ra yêu thương tất cả, hãy giang tay ra đón nhận tất cả và cúi đầu nói một tiếng biết ơn.
Happy Thanksgiving, bạn nhé.
Lệ Hoa Wilson
Thursday, November 17, 2011 8:35:55 AM
Thầy giáo có thể làm gì với học trò hư
Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng, tỷ lệ trẻ hư đang tăng lên và tất nhiên là kéo theo tỷ lệ phạm tội tuổi thành niên. Bài viết này cũng hướng tới việc giáo dục trẻ hư chứ không phải là giáo dục nói chung.
Tôi là một độc giả của VnExpress từ đã khá lâu rồi. Tôi đã từng đọc nhiều bài viết đầy tâm huyết của bạn đọc về vấn đề giáo dục. Và cũng trên VnExpress, tôi đã và đang nhận ra sự đi xuống của nhân cách trong giới trẻ Việt Nam. Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng, tỉ lệ trẻ hư đang tăng lên và tất nhiên là kéo theo tỉ lệ phạm tội tuổi thành niên. Tất nhiên tôi hoàn toàn không nói rằng trẻ hư là đa số. Bài viết này cũng hướng tới việc giáo dục trẻ hư chứ không phải là giáo dục nói chung. Những vấn nạn về đạo đức giáo viên tôi cũng xin phép không nhắc tới.
Một lần nữa xin nhắc lại, bài viết này chỉ nói về trẻ hư và giáo dục trẻ hư.
Tôi là một người còn trẻ tuổi và không phải là một nhà giáo. Tuy tôi đã từng đứng trên bục giảng của trường đại học nhưng chưa bao giờ tôi thực sự là một người làm nghề dạy học. Tuy vậy, bà tôi và mẹ tôi đều là giáo viên. Tôi còn có hai người cô, một người chú làm nghề dạy học; một người bác làm trong lĩnh vực giáo dục. Tôi cũng đã thấy được rằng tất cả những người thân này của tôi đều là những giáo viên được kính trọng, được quý mến. Hay ít ra là tôi chưa bao giờ thấy học trò hay phụ huynh của học trò trách móc người thân tôi. Nhưng cũng chính những người thân này của tôi, trong những lần đàm đạo với những nhà giáo khác, than thở rằng: Học trò bây giờ không 'dạy' nổi nữa.
Tôi thực sự muốn hỏi bạn đọc VnExpress rằng: Nhà giáo hiện nay nhận được gì? Có quyền gì? Có chức năng gì?
Tôi xin trả lời theo những gì tôi biết:
Nhà giáo hiện nay nhận được đồng lương ít ỏi, nhận được sự ủy thác một cách vô trách nhiệm của nhiều bậc phụ huynh, nhận được sự chỉ trích của xã hội khi có bất kỳ vấn đề gì xảy ra và nhận được những đứa trẻ được bao bọc quá mức bởi cha mẹ. Họ không có quyền gì ngoài hạ hạnh kiểm và trình bày vấn đề lên ban giám hiệu. Họ có chức năng bơm kiến thức khô khan vào đầu học trò để các em có thể lên lớp và ra trường.
Hình ảnh nhà giáo như vậy có thể khác với những gì các bạn tưởng tượng ra theo khuôn mẫu của một nhà giáo lý tưởng. Nhưng đó là hình ảnh thực sự của đa phần nhà giáo hiện nay. Chuyện lương giáo viên thì ta không cần dẫn chứng gì nhiều. Nó quá rõ ràng và nó hiển hiện ngay trước mắt chúng ta; không ai có thể phủ nhận. Tất nhiên, tiền dạy thêm, tiền làm ngoài giờ có thể khiến thu nhập của họ khá hơn rất nhiều. Thế nhưng "dạy thêm" tức là làm ngoài giờ, tức là ngoài những giờ làm việc chính thức họ phải bỏ thời gian đáng nhẽ dành để nghỉ ngơi ra để mà kiếm thêm nhu nhập. Có ai trong chúng ta muốn làm việc tới 8-10 giờ tối trong khi giờ tan sở là 5 giờ?
Hãy tiếp tục nói về sự ủy thác. Có bao nhiêu bậc phụ huynh ngồi lại cùng giáo viên để bàn bạc cách dạy dỗ con mình? Có bao nhiêu bậc phụ huynh khi nhận ra khuyết điểm của con mình tìm đến giáo viên để cùng tìm đường lối uốn nắn? Hay đa phần các bậc phụ huynh chỉ đem một cái phong bì đến và "trăm sự nhờ cô"? Không biết đã bao nhiêu lần tôi đã thấy mẹ mình khước từ những phong bì như thế. Và cũng chừng ấy lần tôi thấy mẹ tôi mời những vị phụ huynh này ngồi lại để mẹ tôi có thể gợi ý một vài phương thức để họ động viên, dạy dỗ con mình. Có những người chăm chú lắng nghe, có những người rõ ràng là chỉ giả vờ nghe và vô cùng hiếm khi có người chủ động đưa ra ý kiến. Rồi, cứ như lẽ dĩ nhiên, họ lại quay lại học kỳ sau với một kịch bản tương tự. Cái tôi tự hỏi là: Có bao nhiêu trong số những người phụ huynh này thực sự tìm tòi, động não để tìm ra một cách hiệu quả dạy dỗ con em mình? Hay rốt cuộc, họ chỉ quay về với phương thức ít phiền toái nhất: Quát mắng khi con không đạt chỉ tiêu và thưởng hậu hĩnh khi con đạt thành tích.
Sự chỉ trích của xã hội lên giáo viên bắt nguồn từ lăng kính của các ông bố bà mẹ có con em chưa ngoan. Qua lăng kính của họ giáo viên trở thành những người thích tiền, khắt khe, không bao dung, thiếu độ lượng nếu những người giáo viên này có thái độ "quá" nghiêm khắc với con của họ. Ngoại trừ những trường hợp đứa trẻ tỏ ra quá hư tới mức không ai phủ nhận được, các ông bố bà mẹ luôn cảm thấy khó chịu nếu người khác chỉ trích con mình một cách thẳng thừng. Những người giáo viên trẻ muốn có được sự hợp tác của các bậc phụ huynh thường phải tìm những câu từ mang tính giảm nhẹ để nói về sai phạm của học sinh. Những người giáo viên đã già cỗi hay cứng cỏi hơn tuy có thể sẵn sàng viết rõ nhưng đa số trường hợp chỉ nhận được sự "bằng mặt, không bằng lòng" hay đơn giản chỉ là những cái phong bì. Và từ đó cái hình ảnh truyền miệng về giáo viên của đa phần phụ huynh có con em đang trên đà đi xuống trở nên méo mó. Và khi hình ảnh ấy đã hằn vào tâm trí của họ thì khi có vấn đề gì xảy ra, dĩ nhiên trách nhiệm có phần lớn được xem là... không thuộc bản thân họ.
Giờ ta hãy nói về vấn đề nhức nhối nhất đối với giáo viên: Vấn đề quyền hạn. Có bao nhiêu trong số các bạn đọc VnExpress biết rằng: Giáo viên hiện nay còn không có cả quyền đuổi học sinh ra khỏi lớp. Đừng nói là phạt đòn học sinh, quát mắng chúng cũng là việc mà giáo viên phải suy nghĩ rất kỹ trước khi làm. Tất nhiên giáo viên ở những vùng kém phát triển có thể không thực sự tuân thủ điều này. Nhưng ở các thành phố lớn, giáo viên không có bất kỳ quyền hạn trừng phạt nào lên học sinh ngoài "hạ hạnh kiểm". Nhưng hạnh kiểm thì có gì quan trọng đâu. Học sinh chỉ cần hạnh kiểm trung bình để lên lớp. Còn chuyện chuyển tiếp lên cấp cao hơn thì do học lực quyết định. Học trò đang dần hiểu ra là hạnh kiểm chỉ là một thứ mang tính hình thức. Tôi sẽ đưa ra một ví dụ cụ thể dưới đây, một trường hợp điển hình, một câu chuyện có thật:
Một học sinh A gây mất trật tự trong lớp, gây ảnh hưởng tới những bạn xung quanh. Giáo viên đang dạy tiết học bảo học sinh này đứng dậy nhưng A không đứng. Câu trả lời của cậu ta là: "Tại sao em phải đứng?". Giáo viên nói: "Em gây mất trật tự trong lớp, gây ảnh hưởng tới các bạn, cô yêu cầu em đứng dậy.". A trả lời: "Em không thích đứng".
Xin hỏi quý độc giả: Bạn sẽ làm gì trong trường hợp này? Hãy giữ câu trả lời cho riêng mình. Còn tôi, tôi sẽ kể tiếp câu chuyện này cho các bạn nghe.
Giáo viên nói: "Đây là kỷ luật của lớp. Em đứng dậy cho cô". A ngồi yên không nhúc nhích. Giáo viên tiếp tục: "Thôi được thế em cứ ngồi đấy, nhưng không được gây mất trật tự nữa". A nói lại: "Em không thích ngồi. Cũng không thích giữ trật tự". (Một lần nữa xin hỏi: Bạn sẽ làm gì?) Đến đây người giáo viên này không thể từ tốn được nữa, cô nói: "Anh có bị điên không?". A: "Cô mới điên. Em không điên". Tới lúc này rồi thì người giáo viên không thể làm gì được nữa. Cô tuyên bố ghi tên A vào sổ đầu bài và sẽ đưa việc này ra buổi họp phụ huynh. Còn A, cậu ta không bao giờ trở nên tiến bộ hơn.
Hiện nay giáo viên vẫn bảo nhau học trò là bất trị. Họ quyết định đến với những phương thức ... vô trách nhiệm hơn. Họ mặc kệ học trò hư. Chúng vi phạm nội quy - họ hạ hạnh kiểm, mời phụ huynh. Chúng tiếp tục vi phạm - họ hạ hạnh kiểm, cảnh cáo toàn trường. Chúng vẫn tiếp tục - họ đưa lên hiệu trưởng, cảnh cáo lần cuối. Và nếu chúng không thay đổi - trường đuổi học. Tương lai của đứa trẻ đó sẽ ra sao chẳng liên quan gì tới họ nữa. Bạn nghĩ tương lai chúng sẽ ra sao? Những đứa trẻ mà đến trường học cũng không chứa chấp nữa sẽ trưởng thành như thế nào? Nhưng liệu giáo viên còn có lựa chọn nào khác?
Tôi xin hỏi quý độc giả thêm một câu nữa, đặc biệt là những độc giả đang có con ở tuổi đi học: Liệu bạn có thể ngẩng cao đầu tuyên bố rằng: bạn có thể dạy bảo con mình khi không sử dụng đòn roi, không dọa cắt tiền tiêu, không dọa cắt một số quyền lợi của chúng? Và bây giờ hãy nghĩ xem cái bạn đang đòi hỏi ở giáo viên là gì. Dạy bảo một lớp hơn 40 học sinh mà không có quyền phạt, quyền mắng thậm chí không có quyền đuổi ra khỏi lớp? Trẻ hư bắt chép phạt. Chúng không chép bạn sẽ làm gì? Chúng chép và vẫn tái phạm bạn sẽ làm gì? Mời phụ huynh đến liệu có giải quyết được vấn đề hay lại là "trăm sự nhờ cô"? Ở cái thời của tôi, hạ hạnh kiểm là thứ gì đó rất kinh khủng. Một đứa trẻ bị hạ hạnh kiểm cảm thấy thật là đáng xấu hổ. Lý do vì sao? Tôi cho rằng có những sự khác biệt rất lớn giữa: "Bị hạnh kiểm kém là một việc đáng xấu hổ" với "Bị hạnh kiểm kém là cha mẹ la mắng". Những đứa trẻ thời nay chỉ biết rằng: "Không thể hiện tốt ở trường lớp (cho dù là học lực hay hạnh kiểm) là không vừa lòng bố mẹ". Chúng hoàn toàn không hiểu rằng: "Không cố gắng ở trường lớp thì tương lai của mình sẽ hoàn toàn khác với những gì mình mong muốn hay mơ ước."
Mâu thuẫn là ở chỗ: 'Vì bạn quá thương con không thể khắt khe với chúng nên bạn mới nhờ tới thầy cô để răn đe. Nhưng khi họ răn đe thì cũng vì quá thương con bạn lại cảm thấy khó chịu với họ'.
Chức năng của nhà giáo không phải là làm cho con bạn lên lớp, không phải là làm cho con bạn được điểm cao, không phải là làm cho chúng vào được trường điểm lại càng không phải là chịu trách nhiệm cho cái hư của trẻ. Chức năng của nhà giáo là hướng con bạn tới những phẩm chất tốt và khơi dậy những tiềm năng của chúng. Còn việc học, việc vươn tới tương lai, việc trở thành những con người có ích cho xã hội là việc của bản thân bọn trẻ. Chúng ta không thể bắt một đứa trẻ trở thành người thành đạt. Chúng ta chỉ có thể làm cho chúng thấy "trở thành người thành đạt là một việc tuyệt vời và con có thể làm được điều đó". Những việc sau đó đứa trẻ sẽ có thể tự làm được. Các bạn đừng cho rằng trẻ con ngờ nghệch. Chúng rất thông minh và nhạy bén. Nếu bạn làm cho chúng thấy thích thú với tương lai, chúng sẽ tự chạy về phía đó với tất cả sức lực chúng có. Khi đó bạn không cần phải "dạy" chúng, thậm chí bạn còn không theo kịp chúng nữa. Còn nếu bạn chỉ vẽ ra một tương lai đẹp đẽ nhưng không hợp với bản thân đứa trẻ thì có cố "gò" đến mấy cũng không đến được đâu. Cuối cùng chỉ ra được một sản phẩm nửa vời không cao không thấp. Hãy cho trẻ em những ước mơ, hãy tôn trọng những ước mơ đó (cho dù chúng viển vông tới đâu) và bạn sẽ thấy chúng mạnh mẽ đến mức nào. Bạn cần hiểu rằng: ước mơ của một đứa trẻ sẽ trưởng thành theo con người của nó. Chỉ cần đứa trẻ biết tập trung sức lực vào ước mơ của mình thì khi lớn hơn chúng sẽ tự biết thay đổi mục tiêu hay sửa đổi ước mơ đó để nó thực tế hơn. Bạn không cần phải nói: "Ước mơ đó là ngớ ngẩn" bởi vì khi lớn dần đứa trẻ sẽ tự hiểu điều này.
Tôi thiết nghĩ, thời kì quan trọng nhất trong hình thành ý thức học tập và ý thức xã hội của trẻ là trước khi dậy thì. Chúng cần một nền tảng vững chắc về các quan điểm giá trị. Những quan điểm mà có thể khi đó chúng chưa hiểu nhưng tương lai chúng sẽ hiểu. Và để chúng có được nền tảng đó, một chút hình phạt không phải là việc không chấp nhận được. Một cái vụt bằng thước kẻ vào tay sẽ khiến chúng nhớ lâu hơn là một vài trang chép phạt.
Tôi không ủng hộ việc làm của một cô giáo gần đây. Thậm chí tôi thấy hành động này là phản giáo dục. Phạt học trò phải có cách và phải tinh tế. Việc làm của cô là hoàn toàn sai. Một, hai cái vụt vào tay không khiến cho trẻ cảm thấy bị nhục mạ. Nhưng bắt chúng nằm lên bàn và thẳng cách quật bằng cán chổi là việc hoàn toàn khác. Tôi ủng hộ việc phạt đòn nhưng phải phạt với lương tâm và tình thương của một nhà giáo.
Tôi chưa có con, còn chưa lập gia đình. Nhưng tương lai, tôi sẽ không cố gắng mà tôi chắc chắn sẽ dành thời gian để quan sát con của mình, dành thời gian để tìm hiểu thế mạnh của nó và dành thời gian vắt óc suy nghĩ cách để hướng con mình vào tương lai. Và chắc chắn tôi sẽ ngồi lại với giáo viên của con tôi để làm việc này khi cần. Cho dù tôi có phải bận bịu đến mấy với cơm áo gạo tiền.
T.D.Q
Monday, October 17, 2011 4:27:31 AM
LỜI TRỐI TRĂN CỦA MẸ
Trần Trung Đạo
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con chỉ dùm căn láng nhỏ bên sông
Nơi Mẹ sống trong chuỗi ngày hiu quạnh
Nặng oằn vai một nỗi nhớ thương chồng
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con chỉ dùm chiếc ghe nhỏ đang neo
Ðời Mẹ đó, kiếp con cò lận đận
Sớm đầu non đêm cuối bể, thân nghèo
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con trao dùm chiếc nhẫn cưới cho Ba
Mẹ vẫn giữ chắt chiu từng kỷ niệm
Trăng vẫn tròn như dạo mới chia xa
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con nhắc chừng Ba dựng bức tường nghiêng
Nhà không vách nên bốn mùa mưa tạt
Thiếu tay Ba đông cũng lạnh hơn nhiều
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con chỉ dùm tảng đá nhỏ trong sân
Nơi Mẹ đứng mỗi chiều thu lá rụng
Mắt trông chờ một bóng dáng quen thân
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con trao dùm chiếc áo dở dang thêu
Tay Mẹ yếu nên đường kim chỉ vụng
Con chim gầy đậu dưới gốc cây xiêu
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con trao dùm mái tóc thuở thanh xuân
Thời con gái Mẹ trăm điều bất hạnh
Vết tủi buồn ngang dọc kín trên lưng
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con chỉ dùm chăn chiếu phủ giường tre
Mẹ ôm ấp chút hơi tàn quen thuộc
Của người đi biền biệt đã quên về
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con chỉ dùm ngôi mộ giữa quê hương
Nơi Mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng
Cánh cửa đời khép lại với đau thương
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại
Con đừng buồn và trách móc chi nhau
Lòng của Mẹ, một tấm lòng đại lượng
Vẫn nghìn năm son sắt chẳng phai màu.
Friday, September 30, 2011 9:25:47 AM
Sau ba tháng du lịch ở Mỹ về, những người quen hỏi tôi điều gì làm tôi tâm đắc nhất. Không chút do dự hay suy nghỉ, tôi trả lời: đó là cái Nursing Home. Họ ngạc nhiên khi thấy tôi không đề cập đến những địa danh nổi tiếng: như Las Vegas, Hollywood, Disney-land, những tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới hoặc những cái Mall rộng lớn đi cả ngày chưa hết, những viện bảo tàng, những đại lộ thênh thang, chồng chéo lên nhau như những sợi mì . . . . . Tôi đã hưởng một chuỗi ngày dài thật tuyệt vời,với biết bao điều mới lạ, hiện đại, tối tân mà từ trước đến giờ tôi chưa hình dung hay tưởng tuợng ra nổi. Thế mà khi trở về Việt Nam, tâm trí tôi chỉ còn lắng đọng một điều làm tôi ưu tư, trăn trở, ray rức: cái Nursing Home mà mẹ chồng tôi đang sống.
Chặng cuối cùng của chuyến du lịch, chúng tôi đã ở Los Angeles mười lăm ngày để thăm viếng mẹ chồng. Hằng ngày, chúng tôi phải chuyển hai chuyến xe bus, đi qua Garden Grove,Westminster, Bolsa và bao nhiêu đại lộ nữa mà tôi không nhớ hết tên, đưa chúng tôi gần trạm cuối cùng của lộ trình. Chúng tôi phải đi bộ khoảng năm trăm mét để đến khu dưỡng lão của một tổ chức tư nhân. Đó là một khoảng đất rộng, nằm khuất sau đại lộ Hungtington hai con đường, cách bờ biển Hungtington chưa tới hai cây số. Một nơi yên tĩnh,vắng vẻ,với hai hàng cây sồi đưa vào cái ngõ cụt. Gồm ba dãy nhà trệt, ghép thành hình chữ U, nó êm dịu với những cánh cửa sơn màu xanh da trời, nổi bật màu sơn trắng của những bức tường, với những khung kính to trong suốt, lịch sự và trang nhã, bằng những tấm màn voan trắng che rũ. Những khóm hoa hồng, cẩm tú cầu được trồng một cách mỹ thuật trước hàng hiên, dưới cửa sổ, tạo cảm giác vui tươi, hưng phấn khi ngồi trên bộ bàn ghế để phơi nắng hoặc hóng mát dưới tàn cây.
Khi vợ chồng tôi đến nơi, kim đồng hồ của phòng trực chỉ 8 giờ 30 phút, bác sĩ và y tá đang đi từng phòng kiểm tra sức khoẻ cho các cụ già. Mẹ chồng tôi tươm tất, sạch sẽ trong bộ quần áo mới thay, nét mặt tươi tỉnh. Họ đã làm vệ sinh cá nhân cho bà từ sáng sớm, trước khi dùng điểm tâm. Mâm thức ăn sáng chưa dọn, còn để trên bàn. Cô y tá người Việt vào kiểm tra huyết áp, đo lượng đường trong máu, rồi rót nuớc, bỏ thuốc vào miệng bà, ân cần thăm hỏi.
Mẹ chồng tôi không còn nhiều trí nhớ để trò chuyện. Bà hờ hững trả lời những câu hỏi không chính xác, mạch lạc. Những ngày đằng đẵng ở đây đã làm bà trở nên câm lặng. Trái ngược với thuở sinh thời, bà nổi tiếng là người nói nhiều. Ánh mắt vô hồn, lúc nào cũng nhìn lên trần nhà và tách biệt với cảnh vật chung quanh. Thời gian đầu cách đây mười bảy năm, cô em chồng đã bảo lãnh bà sang Mỹ. Bà đã sống một mình trong một căn phòng mà chính phủ ưu tiên cho nguời già thuê. Ban ngày bà ở đó, chiều đến con cháu thay phiên đón về nhà ăn, ngủ, tắm rửa. Sáng hôm sau lại tiếp tục, như một em bé đi nhà trẻ, đều đặn từ tháng nọ sang năm kia. Gần đây, do tuổi tác quá cao [93 tuổi], bà bị té gãy xương đùi, không thể đi lại đuợc, và không thể tự lo vệ sinh cá nhân, nên cô em chồng sau khi bàn tính với các anh chị đã quyết định đưa bà vào đây. Anh em chúng tôi như bị dồn vào ngõ cụt, tiến thoái đều lưỡng nan. Khó tìm một giải pháp vẹn toàn, con đường nào cũng trắc trở, chông gai. Phải chăng là do số phận, do định mệnh hay do nghiệp lực? Cuối cùng phải tự an ủi và chấp nhận, đó là quy luật đời thường mà xã hội đặt ra để giải quyết.
Lúc chưa sang Mỹ, tôi rất có thành kiến không mấy tốt đẹp và phản đối việc đem gửi cha mẹ vào viện dưỡng lão. Giờ đây tôi mới biết rằng tôi hiểu chưa thấu. Luật pháp ở đây không cho nguời già yếu và trẻ con ở nhà một mình. Thuê người giúp việc thì không có, hoặc rất là đắt đỏ. Con người ở đây chịu rất nhiều áp lực về công việc làm ăn, tiền bạc. Để đáp ứng nhu cầu vật chất gọi là thiên đường của sự hưởng thụ, người ta phải đánh đổi bằng những món nợ khổng lồ, mà người ta truyền miệng nhau: "không mắc nợ không phải là người Mỹ", đánh đổi sự mất mát tình cảm, đổ vỡ hạnh phúc gia đình, có khi luôn cả sinh mạng.
Những tấm gương hiếu thảo của thầy Mẫn Tử Khiên trong Nhị Thập Tứ Hiếu: "thờ cha sớm viếng khuya hầu" sẽ không có chỗ đứng trong thời khóa biểu của các người con ở thời hiện đại này. Chỉ có những viện dưỡng lão mới đáp ứng những lỗ hổng mà người con không thể lấp đầy được. Ở đây, chỉ cần một cái nhấn chuông là có bác sĩ, y tá, điều dưỡng, sẵn sàng đáp ứng, giải quyết điều mình yêu cầu. Mẹ chồng tôi kêu đau bụng, là có ngay hai cô điều dưỡng người Mễ cao to, khỏe mạnh bồng bà đặt lên cái ghế dành cho nguời khuyết tật, đẩy vào nhà vệ sinh. Tiểu tiện thì tự do thãi vào tả lót, đến giờ họ đi thay.
10 giờ sáng và 3giờ 30 phút chiều, các cụ được tập trung ở phòng giải trí. Những chiếc xe lăn được đẩy tới, xếp thứ tự quanh chiếc bàn dài. Họ tham gia những trò chơi đố chữ, chuyền banh, những trò chơi vận động tay chân, nghe nhạc, xem tivi, và kết thúc bằng bánh ngọt hay trái cây với nước giải khát.
11 giờ 30 và 5 giờ chiều các cụ tập trung ở phòng ăn. Những mâm thức ăn dư thừa năng lượng. Ai không thích ngồi tại đây, thì yêu cầu mang vào phòng. Những chiếc xe lăn được đẩy tới, xếp quanh cái bàn tròn. Bàn này có tám nguời, ba người đàn ông và năm người đàn bà. Chỉ có mẹ chồng tôi là người Việt. Ông Mỹ đen trên bốn mươi tuổi, bị tai biến mạch máu não, tay không cử động được, nên người điều dưỡng phải đút cho ông và hai bà kế bên. Tôi đặc biệt chú ý đến một bà Mỹ trắng, tuổi trên độ "thất thập cổ lai hi", nét mặt thanh tú, dáng người thon nhỏ, mãnh mai. Thời con gái chắc bà được xếp vào hàng mỹ nhân. Đôi mắt to và buồn. . . . đôi mắt như biết nói, khi đối diện với một người nào. Ngày đầu tiên, bà nhìn tôi cười và chỉ mẹ chồng tôi hỏi "tôi là gì". Tôi trả lời là “con dâu”. Câu chuyện giữa tôi và bà chỉ dừng lại ở những câu xã giao thông thường. Vốn liếng Anh ngữ nghèo nàn của tôi, không cho phép tôi tìm hiểu sâu hơn nữa. Hoặc nếu bà có tâm sự, tôi cũng không thể hiểu hết được. Một bữa, tôi thấy bà không chịu ăn, bà ngồi trầm ngâm, rồi những giọt nước mắt liên tục tuôn trào trên gò má xanh xao. . . Bà khóc nức nở. Những người bạn cùng bàn an ủi, làm bà càng khóc to hơn. Tôi nắm tay bà, lau nước mắt và đút cho bà ăn. Bà vẫn khóc như một đứa trẻ. Liên tiếp ba ngày như vậy. Tôi được biết qua cô y tá nguời Việt, là lâu rồi con bà không đến thăm. Hình ảnh tôi đút cơm cho mẹ chồng, làm bà nhớ con và chạnh lòng buồn tủi. Những ngày sau cùng, tôi không dám đưa mẹ chồng ra phòng ăn. Tôi không dám nhìn bà khóc thêm nữa. Lòng tôi cũng xao động, nước mắt tôi cũng chảy dài. Bởi tôi là người rất nhạy cảm và dễ xúc động. Tôi rón rén ra nhìn. Bà ngồi đó, đôi mắt xa xăm, tư lự. Chắc chắn bà đang nghĩ về con bà. Biết bao câu hỏi, đang quay cuồng trong tâm trí: sao lâu rồi con không đến, bận rộn hay có sự bất trắc gì đã xảy ra? Bà vừa lo, vừa buồn, rồi giận, rồi thương, nhớ, làm bà không tự chủ, đè nén những cảm xúc của mình. Chắc chắn, không biết bao nhiêu lần, cuốn phim dĩ vãng của một thời vàng son đã lần lượt, thường xuyên quay lại trong ký ức của bà. Bà nhớ đến người chồng quá cố, nhớ những đứa con bà hết lòng thương yêu, nhớ những ngày đầm ấm hạnh phúc, nhớ những lo toan, thăng trầm trong cuộc sống. Giờ này con bà có biết bà đang mỏi mòn trông đợi hay không?
Ở đây, cái viện dưỡng lão này chỉ giúp người già cải thiện, bù đắp những thiếu sót về vật chất, mà con cái không thể hoàn thiện đuợc. Bác sĩ, y tá, thức ăn, thuốc men, máy móc, chỉ giúp họ hết đau đớn về thể xác. Cái tensionmètre chỉ đo đuợc chỉ số huyết áp giao động trong ngày, các máy móc kỹ thuật cao phát hiện những tổn thương sâu trong cơ thể. . . Tất cả những thứ đó không giải quyết, chữa trị được những đau đớn tinh thần, những giao động tâm lý, những khắc khoải triền miên của lòng khát khao yêu thương. Đó là căn bệnh trầm kha mà không máy móc, bác sĩ, y tá nào chữa trị được. Đó là thứ thức ăn linh nghiệm và hiệu quả mà con nguời đã mỏi mòn tìm kiếm và chưa bao giờ thấy no đủ.
Mẹ chồng tôi có sáu người con: bốn trai hai gái. Một mình bà nuôi nấng sáu người con khôn lớn trưởng thành. Giờ đây khi tuổi tác chồng chất, sáu người con không chăm sóc được một mẹ già. Dù rất thương mẹ, dù biết công đức sinh thành dưỡng dục, sâu rộng như trời biển; nhưng không thể nào làm tròn bổn phận, bởi những tất bật, căng thẳng và đa đoan của cuộc sống.
Bên Mỹ có ngày Mother's day và Father's day. Việt Nam có ngày Vu Lan -Bông hồng cài áo. Ai còn cha mẹ thì cài một đoá hoa cẩm chướng đỏ hay hoa hồng đỏ. Ai mất mẹ thì cái một bông cẩm chướng trắng hay hoa hồng trắng. Một hình ảnh biểu trưng, chọn một ngày để nhắc nhở những ai diễm phúc còn có mẹ, để mà yêu thương và trân quý. Với tôi một ngày trong một năm như thế là quá ít ỏi. Chẳng khác nào hạt muối trong đại dương. Mỗi ngày, ít lắm mỗi tuần, tệ lắm mỗi tháng, ta phải tự cài lên áo một hoa hồng đỏ, qua một món quà mà mẹ yêu thích: cái bánh, củ khoai, trái chuối, ly sữa. . . . một lời thăm hỏi ân cần, một câu nói ngọt ngào, một ánh mắt ấm áp chan chứa yêu thương, một cử chỉ âu yếm, quan tâm, lo lắng. Đó là đóa hoa hồng đỏ, đã tự nở trên áo của ta, không đợi đến ngày Vu Lan được mọi người nhắc nhở. Em chồng tôi, đều đặn mỗi ngày ghé thăm mẹ,với những món quà mà bà mẹ Việt Nam yêu thích. Mỗi tuần cô cài đủ bảy hoa hồng đỏ thắm. Bảy ngày hạnh phúc và luôn thầm cảm ơn cái đặc ân còn có mẹ để mà tự nguyện và hiến dâng. Thế mà mẹ chồng tôi vẫn không chịu đựng đuợc sự trống vắng, cô đơn khi không có sự đồng cảm giữa những người xa lạ và ngôn ngữ bất đồng. Lúc nào bà cũng muốn về nhà, khẩn khoản muốn về nhà.
Cùng phòng với mẹ chồng tôi là một bà cụ người Bắc năm 54, mới đưa vào ba hôm. Người con gái lấy chồng lính Mỹ, đã bảo lãnh bà sang đây mười mấy năm về trước. Bà chỉ còn da bọc xương, lưng còng gần 90 độ. Bà nằm co quắp như con tôm luộc chín . Bà không còn đủ sức để ngồi lâu. Bà chỉ ăn cháo và uống sữa.
Buổi trưa, người con gái đem cháo đến đút cho bà, phát hiện đầu bà không ngẩng lên đuợc. Cô ta hốt hoảng la toáng lên: "tại sao bà không ngẩng đầu lên được, tụi nó đã làm gì bà?. Có phải tụi nó giật đầu, giật tóc bà không ? Để tôi đi hỏi cho ra lẽ?".Bà không còn hơi sức mà trả lời. Từ khi bà đến nằm trên cái giường này, tôi chưa nghe bà nói gì ngoài tiếng thều thào yếu ớt:"cho con về nhà, con muốn về nhà". Bà nhìn tôi cầu cứu, tôi nắm bàn tay khô đét, lạnh ngắt và hỏi bà cần gì. Bà chỉ nói một câu đó, lập đi, lập lại không biết bao nhiêu lần. Bà tới đây từ một cái viện dưỡng lão khác, mà cô con gái chê là tệ quá. Cô ta sốt ruột vì thấy mẹ mình suy sụp nhanh chóng. Cô phản ứng lồng lộn. Lòng thương mẹ mù quáng làm cô thốt ra những câu nói không tế nhị. Bác sĩ và xe cấp cứu đến, người ta đưa bà vào bệnh viện lớn để rà soát lại cơ thể. Căn phòng chỉ còn lại một mình mẹ chồng tôi.
“Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mình. . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Sáng khuya trưa tối, nhìn quanh một mình …
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Đời mong manh quá, kể chi chuyện mình”
Đó là những câu hát não nùng, thật chua chát và đắng cay mà nhạc sĩ Lam Phương đã viết cho số phận của mình vào cuối đời, với những dư chứng của bệnh tai biến mạch máu não.
Chúng tôi về lại Việt Nam, với linh tính biết đây là lần cuối cùng chúng tôi còn thấy mẹ. Buổi chia tay đẫm nước mắt và đau buồn trĩu nặng tâm tư. Mười ngày sau, vào một đêm cuối mùa hạ 2006, mẹ chồng tôi đã vĩnh viễn không mở mắt nhìn cái trần nhà, mà mấy tháng ròng rã bà ít khi rời nó. Bà ra đi trong sự an giấc của mọi người, âm thầm lặng lẽ không một ai hay biết. Còn biết bao bà mẹ khác cũng đã và sẽ ra đi trong cô đơn tẻ lạnh như thế này.
Tất cả con cháu ở rải rác nhiều tiểu bang đau đớn khi nhận được tin khủng khiếp này. Cô em chồng tức tưởi vì bà không đợi cô. Chỉ vài tháng nữa cô sẽ nghỉ hưu non, sẽ đem mẹ về nhà phụng duỡng. Cô đã không điều đình được với Thần Chết. Mọi nguời câm lặng chịu đựng. Trong thâm tâm ai cũng trăn trở, ray rứt, xót xa vì biết bao điều chưa thực hiện: "địa ngục chứa đầy những dự định tốt đẹp". Làm sao cân bằng lại tâm lý, tìm lại an bình, một khi lòng cứ khắc khoải bởi những dằn vặt, ăn năn.
Thời gian trôi theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Người ta đa chế tạo ra nhiều thứ. . . . kể cả nguời máy, nhưng có một thứ họ không chế tạo được là trái tim người mẹ. Con người vẫn ăn ngủ, làm việc, theo cái đà tiến hóa. Không biết đủ, không vừa lòng, họ có thể bị con lốc cuốn trôi theo cái thảm họa đua đòi vật chất. Nếu không cảnh giác không dừng lại đúng lúc, họ sẽ là một thứ nô lệ mà suốt cuộc đời họ không hề biết hạnh phúc đích thực là gì. Quên bản thân, quên quyến thuộc, quên luôn cả tử thần đang rình rập, chờ đợi, bất cứ lúc nào cũng có thể cướp đi sinh mạng vốn đã mong manh trong từng hơi thở. Tại ai? Tại con người? Tại xã hội hay tại ta sinh lầm thế kỷ?
Nguyên Thúy
Tuesday, September 20, 2011 2:12:39 AM
"Ngày ta chào Mẹ ta đi.
Mẹ ta thì khóc.
Ta đi ta cười,
10 năm rồi lại thêm 10...
Ta về ta khóc,
Mẹ cười lạ không!
"Ông là ai thế? Tôi chào ông."
Mẹ ta trí nhớ trả hư không rồi.
Mẹ thành đứa trẻ ngồi chơi.
Ta thành ông lão đứng cười hu hu...
Từ blog của Phan Vu Minh Hiền
Thursday, September 15, 2011 1:34:38 AM
Câu chuyện về người thương phế binh Phan Thế Duyệt
Địa Chỉ: 09B/17 KP2, Thị Trấn Châu Thành Tây Ninh, ViệtNam Điện Thoại: 66-3-878-246
Nhận email của chị Diệu Thu mình mới biết được chuyện này. Có clip về BS Liên Hương về VN gặp anh Duyệt ở Tây Ninh.
Written by Nguyễn Liên Hương
Monday, 21 June 2010 12:10
Vào năm 2003 trong một chương trình giới thiệu hoạt động của hội “compassion” tại San Jose, California USA, ngay sau khi phát thanh lần thứ nhất, nhiều thính giả đã gọi vào thể hiện tâm tình họ dành cho câu chuyện thật đặc biệt, câu chuyện về một thương phế binh VNCH đang sống trong hoàn cảnh hết sức cô đơn tại một làng quê xa cách chốn phồn hoa đô hội… Câu chuyện có chút đau thương nhưng cũng lại có nhiều thơ mộng và đẹp của tình người.
Anh là một thiếu úy xuất thân từ trường Võ Bị QGVN và cũng đã từng mơ về một tương lai tươi sáng với những chiến công, những vòng hoa chiến thắng được choàng vào cổ từ tay của một nữ sinh sinh đẹp nào đó. Nhưng viên đạn AK47 ác nghiệp đã xuyên qua lưng anh ngay trong trận chiến đầu đời của một tân sĩ quan… Mọi giấc mơ tan vỡ, tương lai trở nên mịt mù và anh đã phải trải qua biết bao nhiêu đau thương sau đó.
Vết thương chưa lành hẳn thì biến cố 30 tháng 4 úp xuống, anh bị đẩy ra khỏi Quân Y Viện khi viết thương còn rỉ máu, anh được cha mẹ gìa đưa về sống tại Tây Ninh, chẳng bao lâu sau đó anh đã phải cắt bỏ đôi chân vì ung thối để cứu mạng, thế rồi cha mẹ anh cũng lần lượt qua đời, còn lại một mình trong căn nhà nhỏ, anh đã sống 30 năm dài trong nỗi cô đơn tận cùng của kiếp người.
Đối với những người thương binh VNCH khác, hoàn cảnh của anh có lẽ chưa phải là tận cùng bằng số (?) Anh biết rõ điều này, nên không than van, chỉ vì buồn muốn viết thư đi khắp nơi để tìm người tâm sự và không kêu nài trợ giúp, lá thư gởi ra Hải Ngoại đi lang thang và được ai đó đưa lên internet, một cô gái ký tên “H” gởi về anh $50.00 Mỹ kim, anh viết thư cảm ơn…
Một người ở Paris đọc được lá thư anh gởi cho người con gái có tên “H” tưởng là bạn mình nên chuyển qua cho cô BS Hương (Liên Hương) thành viên của “Hội Huynh Đệ Chi Binh” cô BS cảm động vì lá thư lạ đã viết trả lời anh, lá thư cũng đầy tình cảm chan chứa, tường chừng như ở thời còn chinh chiến của một người em gái hậu phương gởi cho anh chiến sĩ nơi chiến trường, lá thư tỏ lòng ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho một anh hùng. Anh chính là một “anh hùng” trong mắt cô Liên Hương ở Hoa Kỳ. Thư trao đổi giữa anh và cô BS trẻ với những lời chân tình đã làm nhiều người rơi lệ.
Giao Chỉ
Tây Ninh ……………. 1999
Cô H. thân mến,
Khi cầm bút viết thư này tới cô, tôi rất cảm động vì lần đầu tiên nhận được 1 thiệp chúc Noel và 50 USD. Bao đêm nằm suy nghĩ moi óc tìm về quá khứ xem có quen ai là H. không. Rồi kết luận tôi và cô rất xa lạ chưa 1 lần đối diện. Thế nhưng giữa khoảng không gian xa cách nghìn trùng, giữa lúc bận rộn với cuộc sinh nhai nơi đất khách quê người, mà cô còn có thời giờ hướng về quê nhà, nơi đó có những người nghèo khổ, tàn tật, đang âm thầm trên giường bệnh như tôi. Ngoài ý nghĩa về vật chất, món quà của cô còn có 1giá trị tinh thần rất to lớn, nó an ủi tôi trong những ngày Đông giá để chuẩn bị đón Xuân về. Nghĩa cử cao đẹp của cô chắc chắn sẽ được Thượng Đế đền bù.
Đây là những ngày đầu Xuân. Sau vài ngày Tết tạm quên đi những âu lo phiền muộn thì bây giờ lại suy nghĩ, tính toán cho năm rộng tháng dài. Tôi đã bị loại ra khỏi vòng chiến vào một buổi chiều mây giăng tím ngắt cách nay gần 27 năm dài (bị liệt và cưa 2 chân!).
Trong vòng 27 năm đó, cuộc sống của tôi âm thầm như những đêm không trăng sao. Bốn mùa cứ lần lượt trôi qua, bao đứa trẻ thơ đã trưởng thành, còn tôi đã thấy thấp thoáng con đường tới nghĩa trang!!! Ngày ngày chỉ nằm trên giường ngắm mây bay qua khung cửa sổ, và chiều chiều nghe tiếng chuông giáo đường buồn bã. Rồi đôi khi âu lo khi số tiền trong túi cạn dần.
Chưa bao giờ tôi đủ can đảm ngắm mình qua gương. Tuổi trẻ, tình yêu đã vượt khỏi tầm tay. Đôi khi kỷ niệm hiện về hỗn độn, quay cuồng, tan vỡ như những mảnh thủy tinh sắc nhọn. Tủi thân, phiền muộn là căn bệnh trầm kha kéo dài từ ngày nầy đến ngày khác! Đầu năm chỉ duy nhất một mình trong căn nhà bầu bạn với chiếc tivi, dò hết đài nầy đến đài khác, rồi mệt mỏi lăn ra ngủ. Những lúc đau nặng, bao nguy cơ rình rập, chỉ biết phó mặt cho bàn tay Thượng Đế.
Đã lâu lắm rồi không có cơ hội viết thư nên trong hồi báo này từ đầu đến giờ lẩn thẩn quá phải không cô H? Nếu có gì sơ suất xin cô bỏ qua sự thiếu sót đó. Trước thềm năm mới, tôi chúc cô và gia đình hưởng một mùa Xuân vui vẻ, một năm mới An khang thịnh vượng.
Tôi xin dừng bút nơi đây. Chào cô.
Ký tên: Duyệt
P T D
______________________________________________________
San Jose ngày 1 tháng 8, 2003
Anh Duyệt thân mến,
Có lẽ anh sẽ ngạc nhiên lắm khi nhận được lá thư này. Do một sự tình cờ hay sắp xếp nào đó của Thượng Đế, nếu chúng ta còn tin có Thượng Đế hiện hữu trong cuộc đời này, lá thư của anh đã vượt ngàn dặm hải lý và thời gian phủ bụi mờ để đến tay tôi. Một người bạn của tôi ở Pháp, trong lúc đi sưu tầm trên những trang điện toán đã tìm thấy lá thư này, và chuyển đến tôi. Chỉ vì một sự trùng hợp ở vần tên với một cô gái nào đó mà anh đã viết thư cám ơn 3 năm trước đây.
Lá thư của anh không giống như bất cứ lá thư nào tôi đã đọc trong gần 10 năm qua. Tôi cũng chưa bao giờ trả lời riêng như tôi đang làm ngày hôm nay. Đây cũng là lần đầu tiên tôi dùng tên thật của mình để viết cho một người chưa biết mặt. Tôi viết như thế để anh hiểu cái ấn tượng sâu đậm, và một phần nào là nỗi xúc động lá thư của anh đã để lại trong tôi.
Trong tuần lễ qua, tôi đã gọi điện thoại về Việt Nam một vài lần theo số anh ghi trong thư, nhưng đáng tiếc vẫn không liên lạc được vì đường giây luôn luôn bận. Cũng có thể vì tôi gọi không đúng cách, một lần nữa lại cho anh biết rằng đây là 1 điều tôi không thường hay làm lắm đâu.
Lá thư của anh đã vô tình nhắc nhở cho tôi về quá khứ, những năm tháng chiến tranh điêu linh của đất nước mà tất cả chúng ta đều muốn quên. Anh không kể nhiều trong thư, nhưng tôi đoán anh chắc phải là 1 người đã có kiến thức của 1 vài năm Đại học, hay ít nhất cũng đã đỗ Tú Tài trước khi đăng lính vào quân đội. Bởi vì 1 người bình thường ít may mắn được đến trường hơn, đã không thể viết một lá thư vừa lắng đọng, vừa lãng mạn dạt dào tình cảm như vậy.
Sự gắn bó của tôi với những người lính cũ có lẽ bắt nguồn từ gia đình tôi vốn đã có rất nhiều người xuất thân từ quân đội miền Nam trước đây. Cha tôi ngày xưa là 1 bác sĩ quân y ở Chẩn Y Viện Trung Ương, và cậu tôi cũng đã từng là 1 bác sĩ giải phẫu chữa phỏng và chấn thương tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, nơi tôi vẫn thường xuyên lui đến những ngày còn nhỏ vì căn bệnh riêng của mình. Hình ảnh của những nguời thương bệnh binh quấn khăn băng trắng thẫm máu đỏ hàng ngày được chở về từ mặt trận với tôi vì thế đã không xa lạ lắm. Một trong những người bạn thân nhất của tôi ở đây hôm nay là 1 cựu phi công từng đóng quân ở Phù Cát (Qui Nhơn)…
Tôi viết thư cho anh hôm nay, không phải như 1 người Việt kiều xa xứ được ưu đãi trong 1 đời sống an lành, và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần, đang nghiêng mình xuống viết cho 1 người đồng loại bất hạnh của mình. Nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái nhỏ năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Saigon, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hàng đêm vẫn vọng về từ 1 chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả 1 thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó, vẫn có bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng, chiến đấu đơn độc vào những giờ phút chót để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi, tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.
Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh, cho các bạn của anh những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần 30 năm qua. Để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí, hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ có thể bị xóa nhòa.
Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết 1 phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, còn những người Việt tỵ nạn như tôi cũng mất cả 1 nơi chốn dung thân để phải tha hương, lưu lạc khắp mọi phương trời. Có 1 điều ngày hôm nay, tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi, và cô độc. Tôi không là 1 bà tiên có đôi đũa thần nhiệm màu để có thể hóa phép trả lại anh thân thể nguyên vẹn. Nhưng tôi có thể trao tặng anh 1 tình bạn, và hy vọng những giòng chữ của mình có thể xoa dịu được những vết thương vẫn còn nhỏ máu trong tâm hồn anh từ 30 năm qua.
Khi nhận được lá thư này, xin anh gửi cho tôi hồ sơ + 1 tấm ảnh hồi đáp qua địa chỉ 1 người thân của tôi ở Saigon, để rồi sẽ có người đem thư về Mỹ lại cho tôi:
Nguyễn Liên Hương
c/o Phạm Thục Tuyết Xuân
tel:
Tôi muốn biết địa chỉ chính xác của anh, để gửi đến anh 1 món quà nhỏ, mà tôi ước mong sẽ đem lại 1 vài tia nắng ấm trong gian nhà lạnh vắng, hiu quạnh của anh hôm nay.
Cũng xin anh đừng phổ biến tên tuổi hay địa chỉ của tôi, vì điều tế nhị thỉnh thoảng tôi vẫn còn trở về Việt Nam trong những công tác xã hội. Thêm nữa, tôi hiểu khả năng giới hạn của mình trong những điều có thể làm. Thật sự sẽ là một điều tàn nhẫn để gieo mầm cho những ảo tưởng, hy vọng không có cơ may được thành tựu.
Cuối cùng, dù tôi không thể gửi nguyên 1 bài hát về, cũng xin cho tôi được gửi tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát, “You are my hero”. Bởi vì cuối cùng, trong cuộc đời này, không có điều gì anh hùng, và cao thượng hơn là hy sinh bản thân mình cho những người khác được quyền sống. Trong mắt tôi, mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những người trai anh hùng một thời đã chọn cho mình con đường đi và sống đích thực có ý nghĩa nhất.
Thân ái chào anh, và cầu chúc anh những ngày tháng cuối an lành trong niềm vinh dự và tự hào.
LH
1 2 3 4 5 ... 10 Next »