Skip navigation.

GonVanNguyen

Welcome to you!

Ý kiến của Thiếu tướng Lê Văn Cương về dự án khai thác bô-xít

Lê Văn Cương
Viện Chiến lược và Khoa học Công an
Hà Nội, ngày 03 tháng 3 năm 2009
VỀ DỰ ÁN KHAI THÁC CHẾ BIẾN BAUXITE
Ở DAK NÔNG VÀ LÂM ĐỒNG CỦA TKV
Sau khi dự các cuộc hội thảo khoa học do VUSTA và Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức
và khảo sát các cơ sở khai thác, chế biến Bauxite ở Dak Nông, Lâm Đồng, tôi có một số ý kiến (bước đầu) như sau:
1. Dự án khai thác, chế biến Bauxite ở Tây Nguyên do TKV làm chủ đầu tư là không hiệu quả về kinh tế, bởi lẽ:
Trong dự án TKV trình Thủ tướng Chính phủ có mấy vấn đề:
1. Một là, TKV chưa tính đến, hoặc tính chưa hết, chưa đủ các chi phí chắc chắn sẽ phát sinh như: vấn đề vận chuyển quặng, bán thành phẩm, hóa chất phục vụ khai thác, chế biến và xuất khẩu (trên quãng đường khoảng 250km), chi phí sử dụng điện, nước….
2. Hai là, Trung Quốc sẽ chuyển công nghệ lạc hậu sang Việt Nam (Trung Quốc có công nghệ tiên tiến hoặc có thể mua công nghệ tiên tiến của các nước phát triển, nhưng họ không chuyển cho Việt Nam).
3. Ba là, việc TKV chọn Trung Quốc là đối tác duy nhất bao tiêu sản phẩm là hết sức rủi ro, nguy hiểm.
Tôi không rõ TKV không biết, hay biết mà cố tình không báo cáo đầy đủ ? Tôi tin là có cả hai.
Còn nhiều vấn đề khác, nhưng với 3 vấn đề trên có thể đưa ra dự báo: chỉ riêng về mặt kinh tế, dự án khai thác, chế biến Bauxite của TKV ở Tây Nguyên chắc chắn không có hiệu quả, thậm chí có thể lổ lớn.
2. Dự án khai thác, chế biến Bauxite ở Tây Nguyên của TKV về lâu dài, sẽ gây ra thảm họa về môi trường, sinh thái.
- Một là, các hồ chứa bùn đỏ ở Dak Nông và Lâm Đồng có thể an toàn trong khoảng 10 - 15 năm tới, ngoài 20 năm không ai có thể yên tâm. Mùa mưa Tây Nguyên kéo dài nhiều tháng; có những trận mưa lớn kéo dài tới 5 -7 ngày, thậm chí đến 10 ngàỵ. Trong điều kiện đó các hồ chứa bùn đỏ trên cao nguyên rất có thể xảy ra sự cố (tràn hồ, lún sụt, vỡ đập, rạn nứt đáy hồ…).
- Hai là, nơi khai thác, chế biến Bauxite ở Dak Nông và Lâm Đồng nằm ở thượng nguồn sông Đồng Nai và sông Sê-rê-Pôk (chảy sang đất Campuchia và sông Mê Kông). Không ai có thể bảo đảm là khai thác, chế biến Bauxite sẽ không làm ô nhiễm (nhiễm bẩn, nhiễm độc) nguồn nước của hai con sông này. Có khoảng 15 triệu người sử dụng nước của hệ thống sông Đồng Nai (nước sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ, sản xuất…). Tập đoàn TKV hoàn toàn không có khả năng (về tài chánh, công nghệ…) khắc phục, xử lý ô nhiểm đối với sông Đồng Nai và sông Sê-rê-Pôk.
Chi phí để khắc phục thảm họa môi trường sẽ lên đến hàng chục tỷ đôla, sẽ lớn hơn hàng chục lần lợi ích thu được từ khai thác, chế biến Bauxite.
3. Dự án khai thác, chế biến Bauxite ở Tây Nguyên sẽ xâm phạm nghiêm trọng an ninh quốc gia
Các đe dọa đối với an ninh quốc gia không diễn ra nhanh chóng và dễ nhận thấy như hiệu quả kinh tế và tai biến môi trường. An ninh quốc gia bị suy yếu nghiêm trọng do:
- Một là, dự án không có hiệu quả về kinh tế, thậm chí thua lỗ, từ đó tác động lớn đến chính trị - xã hội của đất nước, dân mất lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước.
- Hai là, thảm họa về môi trường sinh thái sẽ tác động to lớn đến ổn định chính trị- xã hội. Hàng chục triệu người sẽ phải chịu hậu quả nặng nề về môi trường sống mà không thể khắc phục được trong thời gian ngắn.
- Ba là, Trung Quốc vào Tây Nguyên là họ đã có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiện nay Trung Quốc đã thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri - sát biên giới tỉnh Dak Nông với thời gian 99 năm, và Trung Quốc đã làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-Ta-Pu - tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại ngã ba Đông Dương). Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia.
Không rõ những người quyết định cho Trung Quốc vào Tây Nguyên có biết điều này không?
4. Kiến nghị
4.1. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ trực tiếp nghe ý kiến của các nhà khoa học về dự án khai thác, chế biến Bauxite ở Tây Nguyên.
4.2. Cho làm thử với quy mô nhỏ (khoảng 300 ngày tấn alunune/năm), sau 5-10 năm sẽ quyết định quy mô lớn.
NGƯỜI BÁO CÁO
Thiếu tướng, PGS TS Lê Văn Cương.

Lao Động “Chui”- Huy Đức

Blog Osin- Lao Động “Chui”
Ô Sin // August 03 2009
Con số lao động “chui” người Trung Quốc không chỉ là hàng trăm như báo chí rụt rè lên tiếng mấy tháng trước đây mà lên tới 35.000, theo công bố của Bộ Công an. Tuy rằng, đây vẫn là một “thống kê chưa đầy đủ”. Một quan chức của Bộ, Thiếu tướng Đặng Thái Giáp, cho biết: “Một số doanh nghiệp Trung Quốc đưa người lao động vào cả khu vực biên giới…”. Theo ông Giáp, tình trạng này “tiềm ẩn các phức tạp về an ninh trật tự”.
Mặc dù những thông tin mà Bộ Công an công bố là rất đáng lo ngại nhưng, liền sau đó, bà Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhanh chóng trấn an: “Chúng tôi chưa thể đưa số lao động này về nước trong ngày một, ngày hai. Chúng tôi phải làm việc với các doanh nghiệp… giải thích cho họ biết”. Hồi tháng 6-2009, bà Kim Ngân đã tránh các chất vấn ở Quốc hội bằng những câu trả lời khéo léo của mình. Tuy nhiên, trước những cảnh báo của Bộ Công an về tình trạng lao động chui, pháp luật cần phải được thực thi ngay chứ không chỉ là ăn nói sao cho mềm mỏng.
Trong năm 2008, Trung Quốc có đội quân thất nghiệp lên tới hơn 20 triệu người. Không có gì ngạc nhiên khi “đội quân” này được tạo điều kiện tối đa đi sang Việt Nam. Theo thiếu tướng Đặng Thái Giáp: “Nhiều người không đủ tiêu chuẩn lao động, có người chỉ là lao động phổ thông nhưng phía Trung Quốc vẫn cấp hộ chiếu công vụ”. Khi đã nhập cảnh Việt Nam bằng visa 3 tháng thì, đúng như lời bà Ngân, những người này có thể đi vào bất kỳ nơi đâu.
Bà Ngân nói điều đó để giải thích với Quốc hội rằng, vấn đề “lao động chui người nước ngoài” không chỉ có Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm mà phải cả Công an, Ngoại giao, Biên phòng. Đúng là trách nhiệm không chỉ “đổ” cho Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Nhưng, việc Công an, Biên phòng cho phép một người có visa hợp pháp nhập cảnh và đi lại trên lãnh thổ Việt Nam và việc những người ấy sử dụng visa du lịch rồi ở lại làm việc là hai vấn đề hoàn toàn khác.
Luật pháp là luật pháp, thật ngạc nhiên khi, trước làn sóng người Trung Quốc vào Việt Nam bằng visa du lịch rồi ở lại làm việc cho các nhà thầu, mà Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân vẫn có thể phát biểu trên diễn đàn Quốc hội: “Tuy bất hợp pháp nhưng họ cũng đã có đóng góp lớn vào tiến độ công trình, đặc biệt, khi nhiều nhà thầu không tuyển được lao động Việt Nam”. Là người hoạch định chính sách lao động cho nước nhà, nếu bà Bộ trưởng nhận thấy, việc các nhà thầu nước ngoài phải đưa lao động phổ thông từ nước họ sang là cần cho “tiến độ công trình” thì bà hoàn toàn có thể báo cáo ra Quốc hội xin sửa luật. Về mọi phương diện, trước một hiện tượng đã được coi là “bất hợp pháp” thì không ai có quyền du di, một bộ trưởng lại càng không thể ngập ngừng cho dù chỉ trong những lời tuyên bố.
Khi người Anh, người Nhật, người Hàn Quốc cho trục xuất hàng ngàn lao động Việt Nam không phải họ không đánh giá hết tính tích cực của lực lượng này. Tháng 3-2009, khi trả lời phỏng vấn chúng tôi, ông Peter Jones, Phó giám đốc cơ quan nhập cư của Anh thừa nhận, phần lớn những người lao động Việt Nam sắp bị trục xuất là những người lương thiện, cần mẫn và đang có những đóng góp tốt cho nền kinh tế Anh, nhưng họ đã nhập cư bất hợp pháp thì họ không thể nào được chấp nhận.
Thái độ của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là vô cùng quan trọng và sẽ là chuẩn mực cho dù việc thực thi pháp luật chỉ cần bắt đầu từ các địa phương. Sở dĩ số người Trung Quốc ở Tân Rai ban đầu chỉ có khoảng 100, về sau lên tới 570 “lao động phổ thông”, theo ông Lê Thanh Phong, Phó Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng, vì Tỉnh ít quan tâm và khi quan tâm thì “chính quyền muốn trục xuất cũng không dễ vì quan hệ hữu nghị, và vì Tỉnh cũng không có quyền làm việc trực tiếp với nhà thầu”.
Có thể, quan niệm về “tình hữu nghị” như ông Lê Thanh Phong là khá phổ biến mà vụ hàng trăm công nhân Trung Quốc dùng gậy gộc đập phá, gây náo loạn nhà dân ở khu vực công trường xây dựng nhà máy Nghi Sơn, Thanh Hóa, “cơ quan chức năng” Việt Nam nắm rõ, có cả băng hình quay lại diễn tiến vụ việc từ cuối năm 2008, tới nay vẫn không xử lý được “lao động Trung Quốc gây rối” nào. Không riêng Nghi Sơn, hiện tượng tương tự xảy ra khá phổ biến trên các công trường của các nhà thầu Trung Quốc.
Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền, dù các nhà thầu là Mỹ, Trung Quốc hay Hàn Quốc… đã hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam thì phải tuân thủ luật pháp Việt Nam. Chỉ cần một cảnh sát khu vực cũng có quyền kiểm tra giấy tờ khi trên địa bàn xuất hiện một vài lao động lạ.
Đúng như Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân nhận xét, lao động phổ thông Trung Quốc có “đóng góp lớn vào tiến độ công trình”. Phải thừa nhận là họ đôi khi tỏ ra có kỷ luật hơn. Tuy nhiên, nếu quan sát cách sử dụng lao động của các nhà thầu Trung Quốc sẽ thấy, hầu như những lao động đến “bất hợp pháp” này thường bị các nhà thầu giữ trong các trại “kín cổng cao tường” và phải lao động nhiều giờ mỗi ngày. Việt Nam không nên là nơi cho các ông chủ nước ngoài lựa chọn như một địa bàn quá dễ dàng để bóc lột người lao động.
Cho dù thế giới đã và đang hội nhập, việc chuyển dịch lao động là điều có thể xảy ra giữa các quốc gia. Thì, ngay cả những nước phát triển vẫn phải hết sức khắt khe khi cấp visa cho người nước ngoài vào làm việc. Rất hiếm có quốc gia nào có thể trục xuất hết lượng lao động nước ngoài nhập cư bất hợp pháp. Bởi những lao động này thường lén lút làm việc rải rác ở khắp nơi. Không như ở Việt Nam, lao động bất hợp pháp Trung Quốc lại tập trung công khai thành từng trại.
Không có thống kê chính xác để biết con số lao động Việt Nam mất việc từ các công trình trong thành phố, tay trắng trở về quê. Nhưng, càng ngày càng có nhiều thêm các công trình rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc. Điều đó chỉ nên được coi là bình thường nếu như “sử dụng lao động bất hợp pháp” không trở thành một yếu tố để các nhà thầu lạ hạ giá và trở thành một thế cạnh tranh.
Huy Đức.

MỘT LỜI KHUYÊN CHÂN TÌNH- Châu Diên

Một lời khuyên chân tình
CHÂU DIÊN Cập nhật: 15/06/2009 19:42 liên quan đến việc bắt giữ luật sư Lê Công Định
Đây là lời khuyên liên quan đến việc bắt giữ Luật sư Lê Công Định.
Không rõ bạn Lê Công Định có nằm trong danh sách những người ký tên vào Kiến nghị yêu cầu dừng khai thác bauxite hoặc nếu khai thác thì phải tiến hành hợp pháp (thông qua Quốc hội), việc này trang mạng Bauxite Việt Nam kiểm tra danh sách ký kiến nghị chẳng mấy khó khăn, làm được ngay thôi, nhưng điều quan trọng không nằm ở chỗ đó.
Điều quan trọng ở ba điểm sau. Một, qua báo Tuổi Trẻ từ cách đây 2 năm, và qua những bài viết chững chạc của anh, mọi người được biết Lê Công Định là một người trẻ tuổi hiếu học và học giỏi (hoàn toàn khác với hình ảnh những kẻ mang tiền đi du học song lại tạo ra những hình ảnh làm xấu mặt cả trong đời thường lẫn trên mạng). Hai, cũng qua báo Tuổi Trẻ, ta được thấy lúc Lê Công Định bị bắt đi, đó là hình ảnh một người đàng hoàng, điềm đạm, dễ mến (hoàn toàn khác với bọn tham nhũng dù tội phạm đã từ con số triệu đô được hạ xuống còn vài ba chục nghìn, song vẫn lộ vẻ mặt đê tiện trơ trẽn của bọn người không được một ai rủ lòng mến thương). Ba, lý do bắt giữ khá co giãn, chỉ thấy nói liên quan đến hoạt động “chống phá Nhà nước xã hội chủ nghĩa” Việt Nam, chẳng biết có nặng bằng tội trốn thuế của ai khác không.
Nói tới ba điều như vừa rồi cũng đã đủ để bạn đọc xa gần hiểu quan điểm của bài viết này. Nhưng từ ba điều đó, ta nên chưng cất ra một lý lẽ, tưởng cũng cần thiết.
Một người trẻ tuổi như Lê Công Định có bao nhiêu sức vóc để “chống phá” nhỉ ? Mà lại chống phá cái Nhà nước tuyệt đối mạnh– mạnh cả về phương diện “trí tuệ của thời đại”, mạnh cả về phương diện vẫn nói đi nói lại hằng ngày như là “sức mạnh toàn diện”, và lại mạnh vì được “toàn dân nhất trí ủng hộ”. Thế thì một cá nhân mũm mĩm như Lê Công Định có âm mưu gì đáng sợ nhỉ? Nhưng nghĩ kỹ, hóa ra Lê Công Định có chỗ đáng sợ thật. Và là đáng gờm nhất nên mới phải chủ trương bắt bớ chàng trí thức trẻ trung đó. Chắc là Lê Công Định đủ sức thách thức cái trí tuệ kia, cái sức mạnh toàn diện kia và cái khối ủng hộ to lớn kia. Nhưng thách thức về phương diện gì?
Thách thức như một sự so sánh– nó là cái cân tiểu ly của tinh thần luật pháp để dư luận đối chiếu với những nhà lập pháp và hành pháp đi tù vì tham nhũng, với những đương kim nghị sĩ đăng đàn mà quanh co dối trá và sở dĩ thoát thân là vì được những ai cùng hội cùng thuyền chống đỡ đằng sau, vậy thôi.
Thách thức như một biểu đồ về thời gian– sự trẻ trung của Lê Công Định là một tuyên bố khiêm nhường: chúng tôi không già cỗi đi trong “cơ cấu”, chúng tôi có tuổi trẻ, và chúng tôi có tất cả trước mặt. Cả chục năm tù đày đi nữa thì khi ra tù vẫn cứ trẻ như một Võ Thị Sáu, một Lý Tự Trọng, và chắc chắn còn trẻ hơn một Andrei Sakharov hoặc một Vaclav Havel cùng biết bao nhiêu nhân vật từng có một thời trẻ trung. Một sự so sánh như thế hẳn sẽ có sức vẫy gọi rất lớn đối với bạn trẻ, kể cả những bạn trẻ còn nhút nhát.
Và cuối cùng, thách thức như một sự giễu cợt– biết bao nhiêu là trí tuệ mà việc gì đến nỗi phải cư xử theo lối một mất một còn như thế với một người dưới tuổi mình và trong các bài viết anh ta vẫn tỏ ra tôn trọng mình ? Dĩ nhiên, việc bắt giữ người thì chắc chắn là phải có cái lý của bên hành pháp. Nhưng vẫn cứ là một sự buồn cười khi vô số tội phạm lại nhơn nhơn mãi rồi mới tìm được cái cớ cỏn con để truy tố. Nhưng rồi coi, bắt thì dễ, thả lại khó. Vì sao? Cứ ngẫm nghĩ một chút khắc biết. Ừ thì giữa thời buổi tư pháp, lập pháp, hành pháp nhập nhằng, người ta muốn làm gì không được, tuy thế, bắt một người khác chính kiến song chưa có hành vi nào chứng tỏ nguy hại đến mất còn của đất nước, trong khi an ninh quốc gia đang thường xuyên bị đe dọa thì lại không có kế sách gì đối phó ngoài việc khuyên nhủ người dân đừng ra khơi xa, “đành lòng vậy cầm lòng vậy”, và hùng hồn trong độc nhất mấy lời phát ngôn dẻo như bún. Bắt một người lại đổ cho tội anh ta lợi dụng việc phê phán dự án bauxite, một mục tiêu quang minh chính đại đang được cả ngàn vạn con người ngày đêm quan tâm với nỗi lo lắng không hề nguôi – gần hai tháng sau khi ra đời, trang mạng này đã có trên một triệu rưỡi lượt bạn đọc– phải chăng ở đây có ý đồ gì nữa ? Và bắt một người có học trong khi bọn vô học đang thả sức xâm chiếm từ ngoài vào trong và từ trong ra ngoài.
Bạn đọc đừng chê câu cuối cùng vừa rồi tối nghĩa. Một bài tiểu luận dù nghiêm trang đến đâu thì vẫn đòi cho mình cái quyền được giận dữ bằng những lời lẽ để độc giả còn bàn đi bàn lại nhiều lần. Bàn cho tới khi Lê Công Định được tự do. Bàn cho tới khi Lý trí thắng, để ở trong nước thì hòa hợp hòa giải, và ra ngoài nước thì ngẩng được cao đầu, chứ chẳng lẽ lại chỉ quen “giao thiệp” khúm núm với những kẻ hống hách ngoại bang?
Xin nhắn gửi lời chào bạn Lê Công Định, người tôi chưa hề gặp.
Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2009
CHÂU DIÊN

Tàu Thì Lạ Sự Hèn Hạ Thì Quen

Ô Sin // July 18 2009 // Đảo & Biên Giới
Như vậy là lại thêm một vụ “Tàu lạ” đâm vào tàu đánh cá của ngư dân mà không được kịp thời phát hiện. Ủy ban An Ninh Quốc Phòng nên tổ chức nghe điều trần ngay, để nếu xét thấy cần thiết thì phê chuẩn kinh phí, tăng cường nhân lực, khí tài cho các lực lượng bảo vệ dân trên Biển. Có lẽ không nên chậm trễ việc quyết định bố trí “Hạm đồn Biên phòng Hoàng Sa”.
Tuy nhiên, “Tàu” thì lạ nhưng sự hèn hạ thì rất quen. Ngay cả khi “xác định chủ quyền” trước các cơ quan quốc tế, theo ông Scott Marciel, đại sứ Hoa Kỳ ở ASEAN: “Cách làm của Trung Quốc rất mù mờ và khó hiểu”. Lẽ ra, từ vụ “Tàu lạ” lần trước, đã nên tổ chức họp báo quốc tế ngay. Việt Nam cũng không nên mặc cảm khi phải nói với thế giới rằng, ngay trong lãnh hải của mình, ngư dân đang phải kinh hoàng vì những vụ đâm tàu như hải tặc. Người ta cũng hiểu Việt Nam đang sống với một láng giềng thế nào. Và, nên tính ngay những giải pháp quốc tế cho vấn đề chống những hành vi giết người như thế.
ASEAN là một định chế, nhưng, như ông Scott Marciel nhận xét: “Vì ASEAN làm việc với nguyên tắc phải đồng thuận cả 10 nước, (nên) đã không có được một đường lối chung trong vấn đề Trung Quốc tranh giành lãnh hải”. Nhưng, cũng ở trong ASEAN, có những nước có thể “đồng thuận” với nhau trong một số vấn đề Biển Đông, nhất là việc chống lại hải tặc thời “văn minh Tàu lạ”. Cảnh sát biển của Việt Nam, Philippines, Indonesia, nhân lúc này có thể nâng tầm hợp tác, thiết lập một lực lượng tuần tra chung để bảo vệ ngư dân. Nhưng, cho dù là “nước xa”, tình thế chắc hẳn sẽ khác hơn nếu “tàu cứu hộ của Mỹ” có thể xuất hiện trên vùng biển có nhiều “Tàu lạ”.
Việc “Trung Quốc bắt giữ các ngư phủ Việt Nam ở gần Hoàng Sa và sự hăm dọa công khai đối với các công ty Mỹ thăm dò dầu khí” đã khiến cho, hôm 15-7-2009, Tiểu ban Đông Á- Thái Bình Dương, Thượng viện Mỹ, đã có một buổi điều trần. Nghị sĩ James Webb nói với hai viên chức cao cấp của bộ quốc phòng và bộ ngoại giao: “Phản ứng của Hoa Kỳ chưa tương xứng trước chiến luợc bành trướng lãnh hải của người Trung Quốc”.
Ông Webb có vợ là một luật sư người Việt và từng có trợ lý thân tín nhất là một người đàn ông sinh ra ở Tuy Hòa. Tuy nhiên, ông Webb tổ chức cuộc điều trần ấy không phải vì số phận của các ngư phủ thỉnh thoảng lại bị “tàu lạ” đâm mà chủ yếu để giải quyết những vấn đề thuộc về quyền lợi Mỹ. Thượng nghị sỹ James Webb nói: “Hoa Kỳ bị buộc phải làm điều này để duy trì thế quân bình địa dư chính trị trong khu vực”. Theo ông: “Chỉ có Hoa Kỳ mới có đủ tầm vóc và sức mạnh để đối phó với thế bất quân bình do Trung Quốc gây ra”.
Việt Nam rất nhỏ so với Mỹ trong các mối quan hệ song phương, nhưng người Mỹ cũng cần hợp tác với Việt Nam để giải quyết các vấn đề thuộc về quyền lợi trên Biển Đông của họ.
Có láng giềng tốt thì rất tốt nhưng Việt Nam sẽ không phải là “nước chịu nhiều áp lực nhất với Trung Quốc” trong vấn đề biển Đông, như nhận xét của ông Scott Marciel, nếu Việt Nam có những người thực sự là bạn bè hơn nữa. Nhân chuyện mở rộng quan hệ để giải quyết vấn đề “Tàu lạ”, không thể không liên hệ đến chuyện Hồ Tỏa Cẩm. Một viên tham tán thương mại như Cẩm không thể “uốn lưỡi cú diều” trước đại diện Bộ Thông tin và báo chí như vừa qua nếu Cẩm không “đi guốc”: 700 tờ báo nhiều khi đang nói rất hăng vẫn có thể tự nhiên im bặt chỉ vì nhận được đôi ba dòng tin nhắn. Đành rằng báo chí vẫn là “công cụ”, nhưng cũng nên “phân cấp”, những “tin nhắn” như vậy chỉ nên tới Nhân Dân, SGGP, Hà Nội Mới… thôi, còn những tờ “đoàn thể” thì nên cho tranh thủ nói được chút ít tiếng nói của nhân dân: “Tàu lạ” thì kêu; “Tàu xấu” thì phê phán…
Chỉ có sự đa dạng trong xã hội, sự đa phương trong mối quan hệ với các quốc gia mới tạo ra, không chỉ sự ổn định ở bên trong, bền vững ở bên ngoài, lãnh thổ giữ được, mà tính mạng của người dân cũng mới bớt đi những nỗi kinh hoàng trước những con “Tàu lạ”.
Huy Đức

Công giáo Việt Nam tổ chức tọa đàm về biển Đông tại Sài Gòn

Công giáo Việt Nam tổ chức tọa đàm về biển Đông tại Sài Gòn
NV
SÀI GÒN 18-7 (NV) - Khối Công Giáo Việt Nam cũng chú ý tới vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia và cuộc tranh chấp trên biển Ðông khi một cuộc “tọa đàm khoa học về biển Đông” sắp được tổ chức ngay trong Tòa Tổng Giám Mục địa phận Sài Gòn, địa chỉ 180 Nguyễn Ðình Chiểu, quận 3.
“Biển Ðông đang là mối quan tâm lớn của dư luận xã hội và của tất cả người Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Hưởng ứng phong trào toàn dân Việt hướng về biển Ðông, câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, với sự hỗ trợ của nhà xuất bản Tri Thức và tạp chí Xưa & Nay, tổ chức cuộc Tọa Ðàm Khoa Học với chủ đề: ‘Biển Ðông và hải đảo Việt Nam.’”
Một bức thư mời mọi người tới tham dự vừa được phổ biến của ban tổ chức cho hay như vậy và giới thiệu “Tọa Ðàm hân hạnh có sự đóng góp tham luận và tham gia thảo luận của các thành viên CLB Phaolô Nguyễn Văn Bình, NXB Tri Thức, tạp chí Xưa & Nay và một số khách mời đặc biệt về đề tài sau:
Nhà sử học Nguyễn Ðình Ðầu: Sưu tập bản đồ về biển Ðông và hải đảo Việt Nam.
L.S. T.S. Phan Ðăng Thanh: Luật pháp quốc tế về biển Ðông và hải đảo.
Nhà văn Nguyên Ngọc: Nỗi niềm biển Ðông.
Ðức Hồng Y G.B. Phạm Minh Mẫn: Bế mạc.”
Cuộc tọa đàm này được tổ chức vào hai ngày 24 và 25 Tháng Bảy 2009 với sự tham dự tham luận hay thuyết trình của chuyên viên nhiều ngành khác nhau.
Cuộc hội thảo được tổ chức vào lúc đang có nhiều căng thẳng ở biển Ðông. Nhà cầm quyền Trung Quốc ra lệnh cấm đánh cá trên biển Ðông từ giữa Tháng Sáu đến ngày 1 Tháng Tám 2009 nhằm đúng lúc đại mùa của ngư dân Việt Nam. Cái ngang ngược bá quyền nước lớn của Trung Quốc là cấm cả những vùng biển và quần đảo đang tranh chấp chủ quyền với Việt Nam. Không kể những thời gian trước đây, hai tháng qua, nhiều ngư dân Việt Nam đã bị Trung Quốc bắt giữ đòi tiền chuộc, một số tàu bị đâm chìm trong khi báo chí và nhà cầm quyền CSVN không dám nói thẳng và đặt thẳng vấn đề với Bắc Kinh hầu hết mọi trường hợp.
Chế độ Hà Nội yêu cầu Bắc Kinh thả 12 ngư dân và 2 chiếc tàu bị Trung Quốc bắt và kéo về đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa giữa Tháng Sáu nhưng đến nay chỉ thấy họ vẫn đòi tiền chuộc chứ không chịu thả.
Ðức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, tổng giám mục địa phận Sài Gòn.
Hồi đầu tháng trước, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã bày tỏ sự quan tâm của ngài khi viết thư mục tử cho các tu sĩ và giáo dân Công Giáo về khai thác bauxite ở Việt Nam. Ngài cho hay tài nguyên thiên nhiên mà Thiên Chúa ban cho không phải chỉ một lớp người hưởng thụ mà cho các thế hệ nên không được phí phạm và không được gây nguy hại. Mọi người phải có “nhiệm vụ gìn giữ và bảo vệ môi trường”, ngài nhắc nhở.
Ngài khuyến cáo trong bức thư: “Không thể nhân danh phát triển kinh tế và tích lũy lợi nhuận cho một thiểu số mà hủy hoại môi trường của đại đa số nhất là của người nghèo. Trong phát triển kinh tế phải quan tâm đến sự toàn vẹn và chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiên. Các tài nguyên thiên nhiên không phải là nguồn nguyên liệu vô hạn, thậm chí có một số tài nguyên không thể tái tạo được. Trong tiến trình phát triển kinh tế, cần phải quan tâm đến quyền lợi của người dân bản địa...”
Những gì được Hồng Y Mẫn trình bày một cách nhẹ nhàng và giản dị trong thư mục tử không đả kích thẳng nhà cầm quyền CSVN nhưng khi người ta đối chiếu với những gì chế độ Hà Nội đang làm, những gì đang diễn ra, thì thấy ngay ngài nói cái gì.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=98255&z=157

Ngoài hành lang không an toàn

Trả lời câu hỏi trực tuyến, Bộ trưởng Thông tin- Truyền thông Lê Doãn Hợp nhắc lại khái niệm 'đi đúng lề đường' trong quản lý thông tin.
Ông Hợp vừa có cuộc đối thoại trực tuyến trên báo điện tử VietnamNet của bộ này.
Khi được hỏi về công tác quản lý thông tin, nói riêng là quản lý internet và blog, ông nói: "Quản lý là quản có lý, bao gồm cả đạo lý và nguyên lý."
"Đạo lý là ủng hộ người tốt, răn đe người không tốt. Nguyên lý là tạo hành lang cho người ta hành động. Đi ngoài hành lang không được và không an toàn."
Ông bộ trưởng thừa nhận việc internet và blog bắt đầu được phổ cập ở trong nước là 'vấn đề mang tính quy luật' vì theo ông, "khi đổi mới và hội nhập, cái gì thế giới có thì ta cũng sẽ có".
"Vấn đề chỉ là sớm và muộn, nhanh và chậm, không ai đứng ngoài để trở thành ốc đảo."
Ông cũng khẳng định chính phủ "quản lý được" sự phát triển của internet và blog.
Theo thông tin chính thức, VN hiện nay có 1,1 triệu blogger và con số có thể tăng tới 3-5 triệu trong tương lai gần.
Ông Lê Doãn Hợp nói rõ có hai mục tiêu chính trong quản lý blog: hạn chế bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc cá nhân, đặc biệt cá nhân những người đứng trong bộ máy công quyền, người đại diện cho dân; và hạn chế tuyên truyền, vận động chống phá nhà nước, ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc và phát triển kinh tế.
Văn bản pháp luật
Theo ông Lê Doãn Hợp, các quy định chế tài để quản lý internet và blog có thể sẽ được đưa vào thành một chương trong Luật Dân sự.
Gần đây, sự xuất hiện của các trang blog đã đẩy báo chí chính thống vào một cuộc cạnh tranh. Nhiều người dân nay tìm đến các blog cá nhân để tìm thông tin thay vì vào các trang báo mà nội dung nhiều khi giống nhau và không có gì mới.
Khi đổi mới và hội nhập, cái gì thế giới có thì ta cũng sẽ có. Vấn đề chỉ là sớm và muộn, nhanh và chậm, không ai đứng ngoài để trở thành ốc đảo.
Tuy nhiên Việt Nam hiện chưa có quy định rõ ràng và chế tài cụ thể đối với các thông tin trên blog.
Trong cuộc trả lời trực tuyến sáng hôm thứ Tư, ông bộ trưởng cũng đề cập tới một số chủ đề như tư nhân không được thành lập nhà xuất bản hay phát triển truyền hình và báo chí tư nhân, mà ông nói phải 'làm theo luật pháp'.
"Tại thời điểm này, chúng ta chưa có văn bản nào chỉ đạo khác đi so với những gì chúng ta đã làm."
Mới đây giới chức quản lý báo chí một lần nữa khẳng định VN không cho phép báo chí tư nhân.
Ngoài một số câu hỏi liên quan tới báo chí, ông Lê Doãn Hợp cũng trả lời các câu hỏi liên quan tới bưu chính viễn thông, như việc số điện thoại cố định tại Hà Nội và TP HCM sắp tới sẽ tăng từ 7 lên 8 chữ số.
Ông còn cho biết hiện Bộ Thông tin - Truyền thông chưa có nhu cầu bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo như Bộ trưởng, Thứ trưởng nên không đặt ra vấn đề công khai tuyển chọn nhân sự cấp cao.

An Ninh VN Chống Tham Nhũng

Ô Sin // June 26 2009
Ở Úc, cảnh sát bắt đầu một cuộc điều tra quy mô, liên quan đến cáo buộc “công ty Securency của họ đã chi tiền hoa hồng cho một đại lý ở Việt Nam”.
Trước đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Việt Nam cũng kết luận điều tra, đề nghị truy tố Huỳnh Ngọc Sỹ về hành vi “cho thuê nhà” thay vì “nhận hối lộ”. Như vậy, vụ án của PCI không những chưa kết thúc mà còn đặt ra rất nhiều thách thức.
Huỳnh Ngọc Sỹ là quan chức đầu tiên bị bắt giam và PCI là vụ án đầu tiên được khởi tố kể từ khi có những dấu hiệu tham nhũng liên quan tới các quan chức Việt Nam được cảnh sát nước ngoài phát hiện. Năm 2006, cảnh sát Đức tìm ra dấu hiệu Siemens chuyển hơn 5 tỷ đồng vào một tài khoản ở Singapore của một người được nói là “quan chức Việt Nam”. Năm 2008, 3 Việt Kiều ở Mỹ bị truy tố vì “hối lộ 150 nghìn đô la để bán được các thiết bị cho một dự án ở Vũng Tàu”. Từ đó đến nay, không hề có bất cứ thông tin nào từ cơ quan điều tra Việt Nam về hai vụ án có dấu hiệu liên quan đến tham nhũng ấy.
Rất có thể là cơ quan điều tra đã không thể thu thập đủ chứng cứ “theo pháp luật Việt Nam”. Dân chúng không thể đòi hỏi một “nhà nước pháp quyền” bỏ tù ai đó mà không đảm bảo về bằng chứng. Tuy nhiên, khi có những vụ việc mà cảnh sát nước ngoài có thể tìm được những bằng chứng hiển nhiên mà cảnh sát Việt Nam bó tay thì dân chúng không thể không yêu cầu nhà nước phải làm điều gì đấy.
Tham nhũng không chỉ tạo ra hình ảnh xấu cho quốc gia, tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh cho nền kinh tế mà, tại Hội nghị Trung ương 3, tháng 7-2006, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh còn cho rằng: “Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ”.
Vụ “luật sư Lê Công Định” cho thấy, cơ quan an ninh Việt Nam có đủ năng lực để phát hiện từ trong trứng nước các hành vi được coi là “vi phạm luật pháp Việt Nam”; những hành vi không chỉ xảy ra ở trong nước mà ở bất cứ chỗ nào bên ngoài Biên giới. Lực lượng an ninh, trước “nguy cơ” mà Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh vừa chỉ ra, nên được huy động sức mạnh cho cả mục tiêu chống tham nhũng, trong những lĩnh vực mà cảnh sát không đặt chân tới được. Khi có những thương vụ lớn, sử dụng nguồn ngân sách quốc gia, lực lượng an ninh hoàn toàn có thể nhắm sự “quan tâm đặc biệt” vào các nhân vật có liên quan: các mối liên hệ; những tài khoản cá nhân; những căn nhà họ mua ở nước ngoài; ai trả cho những chuyến du lịch, trước, trong và sau khi hợp đồng được ký…
Tất nhiên, tham nhũng cũng lắm mưu nhiều kế, không phải, cứ quyết tâm là có thể đưa được tay tham nhũng vào còng. Nhưng, nhà nước cứ im lặng khi các thông tin liên quan đến các quan chức Việt Nam dính líu tới những khoản “hoa hồng” thì, tuy có thể giấu được dân, nhưng rất khó giải thích với các quốc gia mà mình đang làm ăn với họ. Đức, Mỹ, Nhật những năm trước hay nước Úc hiện nay, khi khui các vụ án ra không phải là vì họ “thù địch” với Việt Nam mà vì muốn bảo vệ môi trường kinh doanh của họ. Không thể có cạnh tranh minh bạch, điều kiện để một nền kinh tế phát triển vững bền, nếu có những hợp đồng đã bị giành lấy bởi những người dùng tiền hối lộ.
Vụ PCI, vụ Siemens… cho thấy, cho dù chúng ta không bắt được ai nhận “lại quả” thì về phía họ cũng có không ít nhà doanh nghiệp đã phải vào tù. Rủi ro khi làm ăn với một quốc gia hay bị đối tác vòi vĩnh, hóa ra, là rất lớn. Nếu như những nhà kinh doanh làm ăn đàng hoàng đến từ các quốc gia có luật pháp rõ ràng cứ lần lượt quay lưng, thì các hợp đồng của chúng ta cũng sẽ tuần tự rơi vào tay các nhà thầu đến từ các nước sẵn sàng chi hối lộ. Tất nhiên, sẽ có những kẻ giàu thêm, nhưng đất nước và dân chúng thì lại càng kiệt quệ. Hãy biết ơn những phát hiện tham nhũng từ bên ngoài và hãy xác định chống tham nhũng chính là nhu cầu nội tại. (Huy Đức)
NGƯỢC DÒNG 'QUAN CHỨC RA TÒA'
Nhân vụ án PCI và những câu hỏi xung quanh vai trò của ông Huỳnh Ngọc Sĩ chỉ mới được bắt đầu làm rõ, BBC điểm lại các vụ án lớn những năm qua, liên quan đến các quan chức nhà nước tại Việt Nam.
Đường dây Năm Cam
Vụ Năm Cam hồi 2003 đã khiến hai quan chức cao cấp, ông Trần Mai Hạnh, ủy viên trung ương Đảng, và ông Bùi Quốc Huy, thứ trưởng Bộ Công an phải chịu án tù.
Dù bị xử chín năm trong vụ ‘đường dây mafia Năm Cam’ tháng 10/2003 ông Hạnh, được đặc xá hồi 2/9/2005.
Là một trong những nhân vật cao nhất từ trước tới nay bị xử tù hình sự nhưng ông được tha sau khi thụ án chưa tới một phần tư thời gian hình phạt, và cũng chưa đủ tiêu chuẩn xem xét đặc xá, vì còn thiếu tới ba tháng ba ngày.
Nhà chức trách ý thức được việc này nên đã để cho tướng công an Lê Thế Tiệm trả lời rất gọn: “đây là trường hợp đặc biệt”, như “đặc biệt” cải tạo tốt và nộp tiền án phạt.
Người ta cũng chú ý yếu tố khác rằng ông Hạnh từng giữ chức Tổng thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, và “có đóng góp cho cách mạng, được tặng thưởng nhiều huân, huy chương.”
Các vị khác như nguyên Viện phó Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao Phạm Sĩ Chiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an Bùi Quốc Huy cũng được đặc xá cùng đợt.
Mai Văn Dâu và con trai
Nhưng trong thời gian các ông Hạnh và Huy ngồi tù thì Việt Nam đã lại chấn động ngay bởi một vụ án khác, lần này trong ngành thương mại.
Ông Mai Văn Dâu sau đó lại chung buồng giam và thành 'tri kỷ' với ông Lương Quốc Dũng
Hồi tháng 10/2004, Cựu thứ trưởng Bộ Thương mại Mai Vân Dâu bị bắt vì tình nghi nhận hối lộ.
Cũng phải tới tháng 3/2007, Tòa mới xử được ông Dâu 14 năm tù.
Theo cáo trạng được báo chí Việt Nam đưa tin lại, nhà chức trách nói ông Dâu có tội trong việc nhận 6.000 đô la tiền hối lộ từ một số xí nghiệp may để xin quota hàng may xuất sang Mỹ.
Đặc biệt, nếu như vụ ông Trần Mai Hạnh và Bùi Quốc Huy mở màn cho hiện tượng ‘nhà báo và công an làm ăn với xã hội đen’, vụ Mai Văn Dâu có thêm tình tiết thu hút dư luận là vai trò của các cậu ấm con quan trong hệ thống quyền và tiền Việt Nam.
Con trai của ông Dâu, Mai Thanh Hải, nhận năm năm tù giam vì hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và dùng bằng giả.
Cuộc hôn nhân nổi tiếng của Hải với một ‘người đẹp’ cũng là đề tài dư luận bàn thảo sôi nổi.
Cùng thọ án với bố con họ là 12 người nằm trong đường dây chạy quota tại Bộ Thương mại đã nhận các án tù khác nhau.
Cao nhất là Lê Văn Thắng, nguyên Vụ phó Vụ xuất Nhập khẩu, nhận 17 năm tù vì tham nhũng và lạm dụng quyền lực.
Quan thể thao Lương Quốc Dũng
Không chỉ chạy án, chạy quota xuất nhập khẩu, quan chức ở Việt Nam còn bị bắt và xử vì tội liên quan đến hành vi tình dục.
Hồi tháng 10/2004, ông Lương Quốc Dũng nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao Quốc gia Việt Nam (hàm Thứ trưởng), bị ra tòa với tội danh "hiếp dâm trẻ em".
Phiên tòa xử sáng 28/10 ở Hà Nội đã chuyển phần tuyên án đã được dời đến 29/10, khiến dư luận có thêm thời gian bàn thảo.
Ông Lương Quốc Dũng từng giữ chức Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao Quốc gia
Theo các phương tiện thông tin đại chúng, vụ ông Dũng “xâm hại tình dục” một em gái sinh năm 1990, mà vào thời điểm còn ở tuổi thiếu niên, đã khiến cho các vị lãnh đạo Ủy ban Thể dục Thể thao, như Bộ trưởng chủ nhiệm Nguyễn Danh Thái thốt lên là "bất ngờ và sốc".
Một vị lão thành cách mạng ở trong nước thì bức xúc đến nỗi đang ốm cũng phải ngồi dậy viết bài phản đối.
Nhưng ngay khi bị bắt hồi tháng Hai cùng năm, nhiều chi tiết ly kỳ đã được nói đến không chính thức.
Các tin không chính thức cho rằng xâm hại tình dục trẻ em chỉ là một trong nhiều sai phạm lớn của ông Lương Quốc Dũng, người từng giữ chức phó chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục- Thể thao từ năm 1998.
Ông đã nắm quyền phụ trách mảng tài chính và cơ sở vật chất cho Thế Vận hội Đông Nam Á SEA Games 2003.
Người ta cho rằng có cả hiện tượng chạy tội cho ông Dũng.
Sức ép lên cơ quan điều tra và báo chí là rất lớn vì như luật sư Nguyễn Huy Thiệp, Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư Hà Nội nói với BBC:
"Thực ra đây không phải là một vụ khó, nhưng lại có điểm nhạy cảm là nó liên quan tới một quan chức cao cấp”,
"Tất nhiên là có áp lực lên các luật sư bào chữa vụ này, và do vậy, chúng tôi phải thận trọng".
Một điểm nữa được báo chí Việt Nam nhắc tới là chuyện hai ông Lương Quốc Dũng và Mai Văn Dâu, từ cuối 2007 đã "chung buồng giam và trở thành tri kỷ" trong khi chờ đợt đặc xá tháng 1/2009.
Ma trận PMU18
Sang 2007, câu chuyện quan chức vi phạm pháp luật lại bùng lên với vụ xử ông Bùi Tiến Dũng, nguyên tổng giám đốc của dự án xây dựng PMU18.
Vụ án "con bạc triệu đô" Bùi Tiến Dũng thu hút chú ý của dư luận
Hồi tháng 8, ông bị đề nghị mức án sáu đến bảy năm tù giam về tội đánh bạc và 16 đến 18 năm tù giam vì tội hối lộ.
Vụ PMU18 rất ‘ăn khách’ với báo chí quốc tế chính là ở chỗ, lần đầu tiên, một quan chức cao cấp của hệ thống đã dùng cả triệu đô-la tiền công đi cá độ bóng đá trong các trận cầu ở châu Âu.
Bị cáo Dũng cũng bị đề nghị tịch thu hơn hai tỷ đồng tiền bán ngôi nhà mà bị cáo này đem thế chấp vay tiền đánh bạc.
Theo AFP, các phóng viên nước ngoài không được tham dự phiên tòa trong vụ án được dư luận quốc tế cho là bước ngoặt về tham nhũng lớn tại Việt Nam.
Vụ xử cũng có vấn đề là một số luật sư biện hộ đã bỏ về, sau khi cho rằng họ không được phép thoải mái trình bày quan điểm.
Nhưng phiên tòa lần này chỉ xem xét tội danh đánh bạc và đưa hối lộ của các bị cáo mà không xét đến cáo buộc tham nhũng.
Như nhiều vụ án trước, công an cũng có mặt cả ở ghế bị cáo trong vụ PMU18.
Ông Nguyễn Đình Toản, nguyên Phó trưởng Công an phường Ngã Tư Sở, Đống Đa, Hà Nội, bị đề nghị mức án tám đến chín năm tù giam vì tội đưa hối lộ.
Nhưng điều được nói đến nhiều chính là những hình bóng đằng sau vụ PMU18.
Cựu thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Việt Tiến đã bị bắt rồi được thả, được phục hồi đảng tịch nhưng cuối cùng lại bị mất chức và cách hết các chức vụ trong Đảng.
Cựu Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến được tha sau nhiều tháng tạm giam hồi 28/03/2008
Dư luận không chính thức cũng nói đến cả những nhân vật cao cấp hơn và thân nhân có liên quan trong khi giới tài trợ coi vụ này là dấu hiệu tham nhũng công quỹ và tiền viện trợ ODA đã lên tới mức báo động đỏ.
Con đường công danh, tưởng như sẽ tan của tướng công an Cao Ngọc Oánh thế rồi lại phục hồi.
Báo chí cũng 'trúng đạn' trong quá trình điều tra với vụ xử hai nhà báo điều tra và đưa tin về PMU18.
Giữa tháng 10/2008, nhà báo Nguyễn Việt Chiến của tờ Thanh Niên bị kết án hai năm tù giam, còn nhà báo Nguyễn Văn Hải (tờ Tuổi Trẻ) chỉ nhận mức án 24 tháng tù treo.
Nhà báo Nguyễn Việt Chiến được đề cử giải thưởng báo chí của tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) tại Paris hồi tháng 12 cùng năm.
Ông được thả trong dịp đặc xá nhân Tết Kỷ Sửu vừa qua nhưng dư âm của vụ việc và đặc biệt là các nỗ lực "chỉnh đốn báo chi" lại là đề tài tiếp tục dư luận quan tâm tại Việt Nam.
Sợi dây xuyên suốt các vụ án là vai trò của báo chí và phản ứng khác nhau của các nhà lãnh đạo và cơ quan tư pháp.
Có thể coi liên tục có quan chức cao cấp ra tòa là dấu hiệu chính quyền kiên quyết chống tham nhũng và các tệ đoan trong bộ máy.
Nhưng cũng có thể nói đây là dấu hiệu rằng sự tha hóa đa dạng của nhiều quan chức đã trở thành hệ thống ở Việt Nam.

Tướng Võ Nguyên Giáp

Blog Ô-sin, May 07 2009.
Những đoạn (…) là tự ý đục bỏ
Tiếng vỗ tay như vỡ tung Cung Hữu Nghị Việt Xô khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhấn giọng: “Xin chào mừng ĐT Võ Nguyên Giáp, thời đó là Tổng Tư lệnh Chiến dịch Điện Biên Phủ, người đã chấp hành triệt để và sáng tạo quyết định của Chủ tịch HCM và Bộ Chính Trị, cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch, chỉ đạo trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ giành toàn thắng”. Thật khó biết điều gì đang diễn ra trong lòng Tướng Giáp, từ lâu ông đã có một gương mặt rất ít biểu lộ. Nhưng, những giọt nước mắt của những người có mặt hôm ấy thì không thể kềm chế, chúng lăn rất nhanh trên má họ; lăn khi, tiếng vỗ tay vẫn cứ kéo dài. Hôm ấy là ngày 6-5-1994, tại Hà Nội, Nhà nước tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Bài diễn văn dài của Thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ vỏn vẹn có 59 từ nói về Tướng Giáp, lại được viết rất công thức, “rào đón” bằng cả “Bộ Chính Trị” và “Bác Hồ”. Sở dĩ, chúng có thể tạo ra sự rung động đặc biệt đến vậy, là vì đó là lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ, cái tên Võ Nguyên Giáp lại được nhắc đến trong một buổi lễ chính thức. Điện Biên Phủ là một chiến thắng “chấn động”, một chiến thắng đưa Võ Nguyễn Giáp trở thành một bậc tướng huyền thoại. Nhưng, năm 1984, khi chuẩn bị số đặc biệt mừng 30 năm Điện Biên, vào giờ chót, một tờ báo lớn đã phải “bóc” hình Tướng Giáp.

Trước lễ 7-5-1994, khi gặp phỏng vấn ông, tôi đã đặt một câu hỏi mà sau đó, báo Tuổi Trẻ “tự ý đục bỏ”: Thưa Đại tướng, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra, Đại tướng đang là Bộ trưởng Quốc Phòng, Bí thư Quân ủy, Tổng Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang, nhưng tại sao vai trò của Đại tướng rất ít được nhắc tới trong hồi ký Đại Thắng Mùa Xuân của tướng Văn Tiến Dũng? Tướng Giáp đáp: “Nhật ký Tổng Hành Dinh ghi rõ, trong những ngày ấy, tôi lệnh gì, anh Ba (Lê Duẩn) lệnh gì. Tôi nghĩ, các nhà sử học muốn tìm hiểu sự thật nên tiếp cận với các tài liệu chính thức ở Tổng Hành Dinh thay vì thông qua lời tuyên bố của một ai đó”. Khi nói tới “Nhật ký Tổng Hành Dinh” ông quay qua nói với thiếu tướng Lê Phi Long, người cùng có mặt trong buổi phỏng vấn: “Cậu biết rõ điều này, Phi Long”.
Thiếu tướng Lê Phi Long nguyên Cục phó Cục Tác chiến, là người từng có nhiều năm làm việc trong Tổng Hành dinh. Có những giai đoạn như Mậu Thân, tướng Long được giao nhiệm vụ theo dõi chiến trường, mỗi ngày làm 3 báo cáo, sáng (6g), trưa (12g), chiều (6g) cho một số ủy viên Bộ Chính trị. Ông, có thể nói, vừa là một chứng nhân, vừa là một người tạo ra lịch sử. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông Lê Phi Long là Chủ nhiệm “Hướng Tây Nguyên”, ở bên cạnh Tướng Giáp cho đến giai đoạn quyết định, được giao làm Trưởng phòng Tác chiến “Cánh quân Duyên Hải” do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy, “thần tốc” đánh từ Trị Thiên vào thẳng Dinh Độc Lập.

Tướng Giáp kể lại rằng, trong cái ngày 30-4 ấy, sau khi nhận được tin báo Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng. Ông đã rời Tổng Hành Dinh, một mình bước ra phố. Khi đó ông có cái cảm giác của một tướng quân đã đánh xong thành lũy cuối cùng, đã hoàn thành nhiệm vụ. Có lẽ trong giờ phút hạnh phúc đó, Tướng Giáp không thể ngờ những gì sắp xảy ra với mình.
… Tháng 3 năm 1985, Tướng Giáp, lúc này đã không còn chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, vào Huế dự lễ mừng “10 năm giải phóng”. Cùng đi với ông có Tướng Lê Trọng Tấn, lúc bấy giờ là Tổng Tham mưu Trưởng và Tướng Lê Phi Long. Họ được đón tiếp khá nồng hậu và được bố trí nghỉ tại khu nhà nghỉ xưa kia của Ngô Đình Cẩn ở Huế. Tướng Lê Phi Long kể: “Anh Văn gọi tôi tới cùng đi dạo chơi quanh vườn và nói: “Lâu nay các cậu có nghe người ta nói gì về mình không?” Tôi trả lời. Anh bảo: “Sao không thấy nói lại! Trong tình hình phức tạp hiện nay, con người ta có thể bị phân hóa thành 3 thái độ: một là thẳng thắn đấu tranh bảo vệ sự thật, chân lý; hai là trong khi chưa có điều kiện nói ra sự thật thì ngồi yên kiên trì chờ đợi; ba là cơ hội, xuyên tạc, sẵn sàng đổi trắng thay đen, bóp méo sự thật. Các cậu có đủ dũng khí thì theo cách một, chưa có điều kiện thì chọn cách 2, còn cách 3, thì phải tuyệt đối tránh”.
Hôm sau, đoàn của Tướng Giáp vào Đà Nẵng bằng đường bộ. Trên đèo Hải Vân, khác với không khí nồng hậu mà Huế giành cho Đại tướng, Đà Nẵng chỉ cử một tỉnh ủy viên trẻ măng, vô danh ra đón, không có đại diện Quân khu, Tỉnh đội. Tướng Lê Phi Long nhớ lại: “Chúng tôi rất bực mình, nhưng anh Văn vẫn bình thản”. Đêm ấy, Đoàn nghỉ ở nhà khách Mỹ Khê, sáng hôm sau, theo chương trình, đoàn sẽ đến đặt vòng hoa tại đài liệt sỹ trước khi dự lễ mừng chiến thắng. Nhưng đợi mãi, không thấy ai phát thư mời và phù hiệu cho đoàn của “anh Văn”. Các sỹ quan đi cùng hỏi thì được trả lời: “Mời ai đã có chủ định, kế hoạch cả. Ai không có giấy thì coi như không được mời”.
Lễ mừng Chiến thắng Đà Nẵng năm ấy được tổ chức trọng thể vì có Tổng Bí thư Lê Duẩn tới dự. Tướng Lê Phi Long kể, “chúng tôi rất băn khoăn, liền xin ý kiến của anh Tấn và anh Văn”. Trong đoàn có ý kiến, thôi không dự lễ nữa. Tướng Giáp suy nghĩ rất lâu rồi nhẹ nhàng nói: “Chúng ta vào đây không phải vì lễ lạt mà còn để viếng những đồng đội, đồng chí đã ngã xuống trên mảnh đất này. Đã tổ chức viếng thì phải tổ chức trang trọng, chu đáo theo đúng nghi thức quân đội”. Lập tức, Tướng Lê Trọng Tấn ra lệnh cho Bộ Tư lệnh Quân Khu 5 tổ chức một lễ viếng riêng có đủ tiêu binh, quân nhạc và đích thân một vị trong Bộ Tư lệnh phải tháp tùng. Quân Khu 5, đương nhiên phải tuân lệnh. Sáng hôm sau, xung quanh đài liệt sỹ, dân chúng kéo đến rất đông, họ đến không phải được triệu tập. Họ đến để xem mặt vị tướng lừng danh mà họ vô cùng yêu mến.

ĐT Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại thôn An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Tướng Giáp kể: “Ông ngoại tôi vốn là một lãnh binh theo nghĩa quân Cần Vương, mỗi khi Tây về làng bà ngoại lại phải bỏ mẹ tôi vào quang thúng gánh chạy”.
Những năm học ở Trường Quốc học Huế, cậu Giáp học rất xuất sắc, thường tới nhà cụ Phan Bội Châu đàm đạo và được cụ Phan cho mặc sức sử dụng kho sách của mình. Giáp cũng chơi thân với thầy giáo Đặng Thai Mai. Con gái cụ Mai, bà Đặng Bích Hà, sau này là phu nhân đại tướng, kể: “Ba tôi lớn hơn nhà tôi một giáp, nhưng hai người là bạn vong niên, rất thân nhau”.
Năm 1929, 18 tuổi, lần đầu tiên Giáp ra Hà Nội. Một người đồng chí của ông ở Tân Việt, ông Nguyễn Văn Tạo, dẫn ông ra Cửa Bắc, thành Hà Nội để nhìn hai vết đạn đại bác của Pháp đánh dấu thành Hà Nội thất thủ. Tướng giữ thành Hoàng Diệu tự sát. Lúc dạy học ở Thăng Long, ông Giáp thường nói về tinh thần yêu nước và quá khứ anh hùng. Ông vẫn thường dẫn học trò ra đê Giảng Võ coi mộ Francis Garnier; ra Cầu Giấy chỉ cho học sinh mộ Henri Rivière để nung nấu họ tinh thần chống Pháp.
Một trong những học trò của Tướng Giáp, ông Bùi Diễm, một người đã từng là Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa năm 1965, nhớ lại: Khi tôi vào trường Thăng Long, nơi đây đã sôi sục ý chí chống Pháp và những cuộc tranh luận về tương lai cho xã hội Việt Nam. Ban giáo sư gồm những người như ông Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giam, Trần Văn tuyên… Nhưng trong tất cả những nhân vật đáng nhớ, đặc biệt có một người tôi khó quên: đó là ông Võ Nguyên Giáp, người dạy tôi về môn Sử. Dáng người nhỏ nhắn song nhìn vào ông thì thấy cả một bầu nhiệt huyết. Những gì về ông Giáp hồi ấy thật đặc biệt, vì vậy mà hơn nửa thế kỷ sau, tôi vẫn còn nhớ rõ rệt. Phần giảng dạy của ông về Nã Phá Luân (Napoléon) rất ly kỳ. Ông trình bày tường tận chiến thuật và chiến lược của Nã Phá Luân bằng cách tả rõ từng trận đánh nhỏ một. Hình như ông đã in tất cả trong đầu và Sử trở thành một phần trong con người ông. Ông như chìm đắm vào thế giới của mình và ông lôi kéo học trò vào thế giới đó. Trong giờ ông giảng, học sinh thường im lặng như tờ… (Bùi Diễm- Gọng Kìm Lịch Sử, Phạm Quang Khai, 2000, tr. 21,22,23).
Lần ra Hà Nội năm 1929 để bàn với chi bộ Vinh và Hà Nội tổ chức cho Nguyễn Thị Minh Khai đi thoát ly, theo lời kể của chị Hồng Anh, con gái Tướng Giáp: “Cha tôi lần đầu tiên nghe nhắc đến cái tên Nguyễn Thị Quang Thái (cô em gái trẻ, thông minh và rất xinh đẹp của Nguyễn Thị Minh Khai-HĐ). Trong chuyến tàu cha tôi trở lại Huế, tới Vinh thì gặp mẹ tôi (Quang Thái) lên tàu, cùng với một nữ sinh Đồng Khánh. Lúc đó mẹ tôi mặc áo dài, tóc để xõa, da trắng, gương mặt sáng. Nhưng điểm gây ấn tượng với cha tôi nhất là đôi mắt”. Năm 1935, họ cưới nhau.
Năm 1940, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng được tổ chức đưa sang Vân Nam. Giáp chia tay với người vợ trẻ Nguyễn Thị Quang Thái khi họ vừa có Hồng Anh, con gái đầu lòng. Đó là lần chia tay cuối. Sau khi Giáp ra đi, Nguyễn Thị Quang Thái bị Pháp bắt và năm 1944 chết trong nhà tù.
Năm 1946, Võ Nguyên Giáp tới thăm gia đình ông Đặng Thai Mai khi gia đình giáo sư vừa rời Sầm Sơn ra Hà Nội sau khi từ chối một chức bộ trưởng trong chính phủ Trần Trong Kim. Năm ấy, bà Đặng Bích Hà bước sang tuổi 19, đẹp và là “tiểu thư” trong một gia đình danh giá. Mối tình của họ đã đưa bà Đặng Bích Hà lên chiến khu, sinh cho ông thêm hai cô gái, và đúng năm 1954 sinh hạ người con trai thứ nhất, đặt tên là Võ Điện Biên.
Khi phân công trong Đảng, HCM nói: “Việc quân sự giao cho chú Giáp”. Cụ Hồ cũng đã từng cử Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc học quân sự. Nhưng trên đường đi, Chiến tranh Thế giới thứ hai đưa người Pháp ở chính quốc vào thế thua, Hồ Chí Minh thấy thời cơ tới nên gọi ông trở lại. Từ đó ông không có thêm cơ hội để học qua bất cứ một trường lớp nào. Có lẽ, chính những năm dạy sử ở Trường Thăng Long đã hình thành nên tư duy quân sự ấy.
Thiếu tướng Lê Phi Long cho rằng: “Ngoài tài năng còn có một yếu tố quan trọng khác, ông là một người có đầu óc thực tiễn ghê gớm, luôn tổng kết trong thắng, trong bại để tìm ra cách đánh mới”. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng đã quyết định thay đổi từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chậm, thắng chắc”. Một quyết định mà theo GS Phan Huy Lê, trở thành nhân tố làm nên Điện Biên Phủ. Một quyết định mà theo thượng tướng Lê Trọng Tấn, tránh cho toàn bộ lực lượng của ta bị “phơi áo” trong lòng chảo Điện Biên. Nhưng quyết định đó không chỉ là kết quả của “11 ngày đêm trăn trở”. Theo thiếu tướng Lê Phi Long, từ tháng 5-1953 sau trận Nà Sản, Đại tướng đã quyết định thành lập một tổ nghiên cứu 24 người nằm trong rừng lim khu căn cứ Định Hóa để “chuẩn bị lý luận đánh tập đoàn cứ điểm”. Tướng Lê Phi Long là một trong 24 sỹ quan nằm trong “Tổ Nghiên cứu” ấy.
Năm 1975, kết thúc chiến tranh. Năm 1977, ĐT Võ Nguyên Giáp được cho thôi chức Bí thư Quân ủy trung ương, thôi bộ trưởng Bộ Quốc phòng, những chức vụ mà ông được giao kể từ năm 1946. Năm 1982, ông không còn là ủy viên Bộ Chính trị. Năm 1983, ông được giao kiêm nhiệm chức Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về sinh đẻ có kế hoạch. Năm 1983, dân gian làm thơ: “Nhà thơ làm kinh tế/Thống chế đi đặt vòng”. Cũng trong năm 1983 ấy, ông về quê, thảnh thơi đi bộ ra chợ Tréo (huyện Lệ Thủy, Quảng Bình). Chợt hỏi: “Bún chợ Tréo chấm ruốc, giờ có còn ngon không?”. Mấy người dân quê nghe “bún chấm ruốc” từ miệng vị tướng lẫy lừng, không hiểu sao, òa khóc.
(Phần cuối bài này có sử dụng một số chi tiết tôi đã viết trên tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật, tháng 5-2004)
Nguồn: http://www.blogosin.org/?p=881

Trận đánh cuối cùng của tướng Giáp để bảo vệ vùng Cao nguyên VN

Tom Fawthrop
Khởi đăng ngày 27 tháng 5 năm 2009
Tiêu diệt Pháp. Nhục mạ Mỹ. Bây giờ Tướng Giáp của Việt Nam đang đối mặt với trận đánh cuối cùng của đời mình. Hình: The First Post
Năm 1954, tướng Võ Nguyên Giáp đã lập kế hoạch cho thiên anh hùng ca 57 ngày đêm chiến đấu gian khổ dẫn đến thất bại của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương. Chiến thắng này đã đập tan quan niệm vốn có về sự bách chiến bách thắng của phương Tây và cổ võ cho cuộc đấu tranh chống chế độ thuộc địa trên toàn thế giới. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ tướng Giáp lại một lần nữa là Tổng chỉ huy, nhưng lần này ông còn nhận thêm trách nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng của Chính phủ Hồ Chí Minh ở miền Bắc Việt Nam nữa.
Con đường tiếp tế làm người ta phải kinh ngạc kéo dài 2.000 dặm qua rừng rậm và núi cao, gọi là “đường mòn Hồ Chí Minh”, chính là sáng kiến của tướng Giáp. Đấy là con đường bị hứng chịu nhiều bom đạn nhất trong lịch sử chiến tranh. Tướng Giáp cũng là người lập kế hoạch cho cuộc Tổng tấn công Mùa xuân năm 1975.
Tướng Giáp được dư luận rộng rãi công nhận là một trong những nhà chỉ huy quân sự vĩ đại nhất trong thế kỉ XX– đặc biệt hơn nữa là ông vốn xuất thân là một người hoạt động trong lĩnh vực dân sự – những năm đầu đời ông từng là nhà giáo và nhà báo. Sau chiến tranh, những người lãnh đạo cứng rắn kiểm soát Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghen tức với địa vị quốc tế và khả năng trí tuệ của ông, và người anh hùng của cuộc chiến tranh bị đẩy ra khỏi Bộ Chính trị vào năm 1982. Ông nghỉ hưu vào năm 1991 với chức vụ Phó Thủ tướng.
Người lính nổi tiếng nhất của đất nước tiếp tục chiến đấu. Lần này là vì môi trường.
Năm nay ông đã 97 tuổi, sức khoẻ đã giảm sút nhưng tinh thần vẫn rất minh mẫn. Tướng Giáp sống với vợ trong một ngôi nhà cổ xây từ thời thuộc Pháp, ông sống ở đây gần trọn cuộc đời. Ông thường dậy vào lúc năm giờ sáng, ông tập thở rồi mở đài RFI, sau đó mới nghe tin tức trên các đài của Việt Nam.
Ông thường được những người có vai vế, cả trong nước lẫn quốc tế, đến thăm. Hồi năm ngoái ông Lula, Tổng thống Brazil; ông Hugo Chavez, Tổng thống Venezuela và ông Thabo Mbeki, Tổng thống Nam Phi đã đến thăm ông. Rất nhiều chính trị gia Mỹ, trong đó có Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời chiến tranh Việt Nam đã tới thăm ông.
Tuy đã rời bỏ các chức vụ chính thức, ngoại trừ một vài chức vụ có tính danh dự ở các Hội Cựu chiến binh và Hội Sử học, nhưng người lính nổi tiếng nhất vẫn còn tiếp tục chiến đấu. Lần này là cuộc chiến vì môi trường.
Chính phủ Việt Nam vì muốn giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục – vốn đã bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm chậm lại – đã cam kết khai thác 8 triệu tấn bauxite, tức là loại quặng cần thiết cho sản xuất nhôm.
Hai phần ba trữ lượng bauxite của Việt Nam nằm trên cao nguyên Trung phần, một khu vực tuyệt đẹp và phì nhiêu với những rãy núi rậm rạp, những đồn điền cà phê và một số người còn khẳng định rằng có tiềm năng kinh tế du lịch rất lớn. Người ta sợ rằng việc khai thác mỏ lộ thiên sẽ phá hủy diện tích rừng và khu vực canh tác rộng, và để lại một lượng bùn độc hại to lớn.
Mặc dù giữa Trung Quốc và Việt Nam đã có một lịch sử xung đột lâu dài, Công ty Chinalco, một công ty sản xuất nhôm khổng lồ của Trung Quốc, đã được giao hợp đồng của một trong những khu mỏ ở đây. Nhưng tháng Giêng năm nay tướng Giáp đã gửi cho Chính phủ thư ngỏ kêu gọi dừng ngay dự án.
Tướng Giáp đã lập kế hoạch bao vây Điện Biên Phủ, đập tan chủ nghĩa thực dân Pháp và phá tan thời đại bách chiến bách thắng của phương Tây. Hình: The First Post
Tướng Giáp, người anh hùng dân tộc, bạn tâm giao của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong rất ít chính trị gia không có tì vết của Việt Nam, đấy là sự kiện không thể tranh cãi và Chính phủ hiểu rằng không thể coi ông chỉ là một người bất đồng chính kiến. Hơn nữa, khi làm Phó Thủ tướng, hồi những năm 1980, ông đã tích cực giúp đỡ các nhà sinh thái học Việt Nam, thành tích bảo vệ môi trường của tướng Giáp là rất thuyết phục.
Theo khoa học gia Nguyễn Hữu Ninh, một thành viên của nhóm khoa học gia của Liên hiệp quốc được trao giải Nobel Hoà bình vào năm 2007 do có thành tích hoạt động trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, thì tướng Giáp là người hiểu rõ môn sinh thái học. Hơn nữa, “Ông là nhà lãnh đạo thời hậu chiến đầu tiên của chúng tôi chú ý đến vấn đề môi trường”. Năm 1986 có vị Giáo sư đi công tác ở Anh về đã mang biếu ông cuốn sách Nhỏ là đẹp của Schumacher, một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của phong trào bảo vệ môi trường (Green Movement). Biếu ông chiều thứ sáu thì thứ hai ông đã đọc xong và hỏi xin thêm sách về sinh thái học.
Tướng Giáp vẫn được những người có vai vế, trong đó có ông Hugo Chavez, Tổng thống Venezuela tới thăm. Hình: The First Post
Vì vậy mà bức thư của vị “Tuớng xanh”, nói rõ những hậu quả của việc khai thác mỏ liên quan đến thiệt hại về môi trường, tác hại đến đồng bào dân tộc thiểu số và thậm chí an ninh quốc gia nữa, đã tạo ra một phong trào phản đối chưa từng có, đây là sự kiện hiếm hoi trong nhà nước độc đảng này. Nó còn được coi là hiếm trong hệ thống độc đảng vì phong trào phản đối được nói tới trên cả các phương tiện truyền thông của nhà nước nữa. Sự can thiệp của vị Tướng đã thúc đẩy 135 nhà khoa học có tiếng ký Kiến nghị gửi Quốc hội Việt Nam yêu cầu dừng ngay dự án.
Trước làn sóng phản đối, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người đã gọi khai thác bauxite là “chính sách lớn của Đảng và Chính phủ”, cảm thấy không còn lựa chọn nào khác ngoài việc rút lui. Tháng trước, sau một cuộc hội thảo về môi trường được tổ chức một cách vội vã, ông đã phải đồng ý thu hẹp dự án cho đến khi ảnh hưởng đối với môi trường được đánh giá một cách đầy đủ.
Tướng Giáp, người anh hùng dân tộc, bạn chiến đấu của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những chính khách trong sạch hiếm hoi của Việt Nam. Hình: The First Post
Bây giờ, những người phản biện đặt vấn đề về tính khả thi về mặt kinh tế, vì việc luyện bauxite đòi hỏi nhiều nước và điện năng giá rẻ, Việt Nam lại đang phải đối mặt với sự thiếu hụt cả điện lẫn nước. Bên cạnh những lo lắng về môi trường, những người phản đối còn phàn nàn về sự hiện diện của hàng trăm công nhân Trung Quốc trên vùng đất có tính chiến lược ở cao nguyên Trung phần.
Phong trào phản đối đang phát triển rầm rộ, ngay cả Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng tham gia, Thủ tướng Dũng đã cho ngưng một mỏ, nhưng vẫn cho Chinalco tiếp tục khai thác một mỏ khác.
Tướng Giáp có thể không giành thắng lợi hoàn toàn trong trận đánh này, nhưng, cũng như mọi khi, ông đã châm ngòi cho một cuộc chiến đấu vô cùng mãnh liệt.
Phạm Duy Hiển dịch
Bauxite Việt Nam đã được The First Post cho phép chuyển ngữ sang tiếng Việt
Authorized to be translated into Vietnamese by The First Post
Source: http://www.thefirstpost.co.uk/47848,news,general-vo-nguyen-giaps-last-battle-against-bauxite-mining-vietnam-environment
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Trận chiến mới dành cho nhà quân sự lão luyện của Việt Nam
Tom Fawthrop (từ Hà nội)
Nguyên bản tiếng Anh
Cuộc chiến để cứu môi trường có lẽ mới là trận đánh khó khăn nhất trong cuộc đời của Tướng Giáp [Photo: T. Fawthrop]
Thứ Sáu, ngày 8-5-2009
Năm mươi lăm năm sau ngày vạch ra kế hoạch và chỉ huy trận đánh mang lại chiến thắng quân sự và dẫn đến sự cáo chung cho chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương, vị Đại tướng lừng danh của Việt Nam Võ Nguyên Giáp vẫn còn đang chiến đấu.
Bằng lời khuyên thay vì súng đạn, trận chiến mới đây nhất của ông cụ 98 tuổi này là cứu lấy môi trường và “kẻ thù” của ông là việc khai mỏ bauxite.
Trong việc tìm kiếm dành cho công cuộc phát triển kinh tế mau chóng, chính phủ Việt Nam đã cam kết khai thác mỏ bauxite ước tính 5,3 tỉ tấn, thứ quặng chủ yếu trong thành phần của nhôm, mà hầu hết loại quặng nầy được xác định nằm ở tỉnh Đắc Nông thuộc Cao nguyên Trung phần.
Tướng Giáp, người đã chỉ huy trận chiến thắng quân đội Pháp mang tính chất lịch sử tại Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, đã và đang kêu gọi chính phủ Việt Nam hãy dừng những kế hoạch đó lại, ông viện dẫn việc khai mỏ sẽ gây nên sự tổn hại tới môi trường, hủy hoại đời sống những người thuộc dân tộc thiểu số, và về một mối đe doạ tới an ninh quốc gia.
Con người từng lãnh đạo quân đội Bắc Việt Nam chống lại Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam đã viết hai bức thư ngỏ – bức mới đây nhất là ngay trong tháng trước – để phản đối các kế hoạch khai thác bauxite của chính phủ, và lập trường của ông dường như đang có tác dụng khích lệ những người khác.
Trong một biểu hiện của sự phản đối công khai hiếm có tại một quốc gia cộng sản độc đảng, 135 trí thức và nhà khoa học đã ký vào một bản kiến nghị được gửi tới chủ tịch quốc hội tại Hà Nội.
Họ đã kêu gọi chính phủ hãy dừng khai thác những dự án bauxite mới tại Tây Nguyên cho tới khi có một cuộc điều tra thích đáng về tác động tới môi trường được hoàn tất.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gọi việc khai thác bauxite là “một chính sách lớn của đảng và nhà nước” và nói rằng các dự án này sẽ được tiếp tục thực hiện trong khi vấn đề môi trường vẫn được quan tâm.
Thế nhưng theo Giáo sư Võ Quý, một trong những nhà hoạt động môi trường hàng đầu của nước này, thì “sự thiệt hại môi trường sẽ vượt quá xa giá trị của bất cứ những lợi lộc nào về mặt kinh tế”.
“Tôi ủng hộ việc phát triển kinh tế, nhưng không ủng hộ các kế hoạch khai thác bauxite,” ông đã nói với tờ Al Jazeera như vậy, và thêm rằng Tây Nguyên là một “vùng đất có vẻ đẹp mê hồn với tiềm năng du lịch-kinh tế và là một khu vực sản xuất nông nghiệp cho hiệu quả cao”.
Những người phê phán vấn đề Bauxite nói rằng việc khai khoáng sẽ làm huỷ hoại tiềm năng du lịch sinh thái giàu có của vùng cao [EPA]
Những mối lo về chất thải
Quá trình tinh lọc bauxite sẽ thải ra hàng ngàn tấn chất thải độc hại được biết đến như là “bùn đỏ”, theo ông Quý và các chuyên gia khác cho biết.
Các nhà hoạt động về lĩnh vực môi trường đang còn mới mẻ ở Việt Nam lo ngại thứ cặn độc hại có thể đầu độc các dòng sông chảy vào những khu vực tập trung đông dân cư, bao gồm vùng Châu thổ sông Mekong đầy sinh lực ở miền nam – xứ sở của những trang trại nuôi cá và một số vùng sản xuất lúa gạo có năng suất cao nhất của Việt Nam.
Trong những bức thư của mình, tướng Giáp đã kêu gọi các nhà khoa học, các nhà quản lý và hoạt động xã hội hãy “đề xuất với đảng và nhà nước để có một chính sách đúng đắn cho các dự án bauxite tại Tây Nguyên”.
“Đó cũng là quan điểm của tôi rằng chúng ta không nên khai thác bauxite. Việc khai thác sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng tới môi trường, xã hội và quốc phòng,” ông viết.
Vị đại tướng cũng viện dẫn tới bản báo cáo từ những năm 1980 đã cảnh báo chính phủ rằng khai thác bauxite tại khu vực này “sẽ gây tàn phá môi trường, thiệt hại lâu dài về môi sinh, không chỉ thiệt hại cho những cư dân địa phương, mà còn hủy hoại cuộc sống và môi trường của những người dân sống tại vùng đồng bằng phía nam của các tỉnh miền trung này.”
Các nhà môi trường sợ vấn nạn bùn đỏ
Hợp đồng đã được ký
Bất chấp áp lực của vị tướng, chính phủ đã đi tới và ký kết một hợp đồng với một công ty con của tập đoàn nhôm Chinalco của Trung Quốc để khai thác bauxite tại vùng cao nguyên này.
Song họ đã tổ chức một cuộc hội thảo hai ngày tại Hà Nội vào tháng trước dành cho các nhà khoa học để thảo luận về cách thức giảm thiểu sự tổn hại tới môi trường từ việc khai thác bauxite.
Và họ nói rằng dự án bauxite với Trung Quốc sẽ được giảm bớt về quy mô, với những hạn chế được đặt ra về số lượng công nhân Trung Quốc.
Những người chỉ trích (dự án khai thác mỏ bauxite) đã than phiền rằng việc có hàng ngàn công nhân khai mỏ người Trung Quốc tại vùng Tây Nguyên có tính chiến lược là một mối đe doạ về an ninh không thể chấp nhận được, căn cứ vào lịch sử xung đột dài lâu của Việt Nam với người láng giềng phương bắc của mình.
Nguyễn Thiện, một nhà văn Việt Nam nói rằng dự án này “là không hợp lý và thiếu khôn ngoan mà nhiều người dân đang nghi ngờ rằng nó là một phần của một thỏa thuận bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc với những ẩn ý mang tính chiến lược.”
Còn những người khác thì nói rằng việc khai thác bauxite thậm chí không thể đứng vững được về phương diện tính toán thương mại bởi nó đòi hỏi rất nhiều nước và điện năng – những điều kiện thường xuyên bị thiếu thốn ở Việt Nam.
Giáo sư Đào Công Tiến, một cựu hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, thì nói rằng việc khai thác này có khả năng sẽ dẫn tới một tình trạng khan hiếm nước là thứ cần thiết ghê gớm cho những nhà sản xuất nông nghiệp ở Tây Nguyên.
Nguyễn Hữu Ninh, một người giành được Giải Nobel Hòa bình (2007) cho những công trình của mình về biến đổi khí hậu, đã đặt nghi vấn rằng liệu các dự án bauxite có đem lại ích lợi cho quốc gia này hay không.
“Thật không khôn ngoan trong một dự án mà nó lại không đem tới những ích lợi cho người dân trong nước,” ông nói.
Thế nhưng bất chấp những mối nghi ngờ và những phản đối, chính phủ đã tuyên bố rằng dự án bauxite sẽ được tiếp tục.
Đối với ông Giáp, vị đại tướng từng chiến thắng trong những cuộc chiến chống lại người Pháp, và sau đó là quân đội Mỹ, trận chiến để bảo vệ những cánh rừng và các dòng sông của Tây Nguyên thoát khỏi những cuộc xâm lấn về kinh tế của người Trung Quốc chắc có lẽ là trận chiến khó khăn nhất của ông từ xưa đến nay.
Hiệu đính: Trần Hoàng
Nguồn: Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Mao Trạch Đông và Việt Nam

Mối lo hôm nay đối với người Việt Nam là tham vọng nuốt chửng Việt Nam của Trung quốc. Từng lời nói, từng hành động của các nhà lãnh đạo Trung quốc hiện nay đều nhắm vào hướng này.
Nhưng mộng bành trướng và khống chế Việt Nam của Trung quốc không phải trong thời đại đang vươn mình này của Trung quốc mới có. Đó là giấc mộng ngàn đời, từ thời đại các hoàng đế Trung quốc, qua các triều đại Minh, Nguyên, Thanh. Và gần đây Đặng Tiểu Bình, người được liệt vào bậc anh quân đã có đủ sáng suốt chuyển hướng chính trị đưa Trung quốc ra khỏi trận cuồng phong Mácxít và Maoít cũng là người đã ra lệnh cho hàng chục sư đoàn tiến đánh Việt Nam (2.1979). Và trước đó, Mao Trạch Đông, một nhà đại cách mạng Trung quốc, người được coi là một hoàng đế tân thời của Trung quốc hậu bán thế kỷ 20, người hết lòng giúp đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Pháp giành độc lập cũng- trong mọi hành động của ông- đều có sự tính toán để uy hiếp và tối hậu thôn tính Việt Nam.
Người Trung hoa từ ngàn xưa vẫn xem Việt Nam là một phần đất của Trung quốc. Những khẩu hiệu Trung quốc- Việt Nam “núi liền núi, sông liền sông", “môi hở răng lạnh” chỉ là những khẩu hiệu, và mới nhất là châm ngôn 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai.”cũng chỉ là chiêu bài để che đậy những ý đồ có tính lịch sử của Trung quốc.
Cho nên việc giữ nước lâu dài đòi hỏi các vua chúa Việt Nam hay những nhà lãnh đạo Việt Nam nắm vững yếu tính lịch sử đó để có chính sách phòng ngự thích hợp, dù đó là chính sách kinh tế, xã hội hay quốc phòng.
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập (1930) cho đến năm 1992 nắm vững được yếu tính lịch sử này. Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp giành độc lập (1945-1954), thời kỳ xâm lăng miền nam Việt Nam (1960-1975) cũng như sau khi thống nhất Việt Nam các nhà lãnh đạo tại Hà Nội– dù được Trung quốc viện trợ– vẫn luôn luôn cảnh giác ý đồ của Trung quốc.
Nhưng từ năm 1992, do nhu cầu sống còn trước sự sụp đổ của Đông Âu và Liên bang Xô viết, đảng cộng sản Việt Nam trở nên lệ thuộc hoàn toàn vào Trung quốc và nền an ninh Việt Nam trở nên bị đe dọa. Sự bảo vệ biên giới đất liền, lãnh hải, hải đảo trở nên càng lúc càng yếu ớt.
Trở lại một ít lịch sử bang giao Việt Nam và Trung quốc sau khi Mao Trạch Đông đánh thắng Tưởng Giới Thạch và thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc năm 1949.
Trong cuốn sách mới nhất về Mao Trạch Đông của bà Jung Chang viết chung với ông Jon Halliday nhan đề “Mao: The Unknown Story” (Những Câu Chuyện Chưa Được Tiết Lộ về Mao), bà Jung Chang đã để dành một chương để nói về các ý đồ của Mao đối với Việt Nam (trang 560 -566).
Theo bà Jung Chang, mỗi hành động của Mao đối với Hồ Chí Minh đều có hậu ý. Trung quốc giúp huấn luyện và trang bị quân đội cho ông Hồ trong chiến dịch biên giới (1950) chủ ý là không để cho các thành phần Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch bị tảo thanh tại Trung quốc chạy trốn sang Bắc Việt Nam có điều kiện trở lại tấn công Mao.
Nhưng đến năm 1954, Việt Nam mới thật sự nghi ngờ Trung quốc trước thái độ tráo trở của Bắc Kinh trong cuộc hội đàm tại Geneve năm 1954.
Năm 1954 Mao phát động chương trình canh tân để biến Trung quốc thành một siêu cường (Superpower Program). Trung quốc cần hiểu biết kỹ thuật và trang thiết bị lúc đó đang bị Tây phương cấm vận. Trung quốc tranh thủ viện trợ của Liên bang Xô viết, nhưng Mao biết chưa đủ nên Mao vận động giải tỏa cấm vận từ Pháp vì Pháp là nước giữ được tính độc lập với Hoa Kỳ nhiều nhất.
Lúc đó Pháp đang lúng túng tại Đông Dương. Ý của Mao là giúp Hồ Chí Minh đẩy Pháp vào chân tường rồi sẽ ra tay gỡ kẹt cho Pháp để đổi lấy điều kiện đòi giúp đỡ kỹ thuật. Tháng 5.1953 khi cuộc chiến tranh Triều Tiên sắp chấm dứt, Trung quốc chuyển sĩ quan và cố vấn sang thẳng biên giới Việt Nam chuẩn bị cho chiến trường Đông Dương mà cao điểm là cuộc chiến thắng có tính quyết định ván bài Việt Nam của trận Điện Biên Phủ tháng 5.1954.
Theo tài liệu của bà Jung Chang, trước khi hội nghị Geneve họp (26.4.1954) Mao đã quyết định sẽ giúp Pháp và tìm một giải pháp nhẹ nhàng cho Pháp chứ không để cho đảng Cộng sản Việt Nam nhân cuộc chiến thắng Điện Biên Phủ đòi những điều kiện bất lợi cho Pháp. Thống nhất Việt Nam bằng cách đẩy mạnh các cuộc tấn công quân sự, đuổi Pháp một lèo ra khỏi Đông Dương là một trong những chương trình của đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 7.5.1954 Điện Biên Phủ thất thủ. Ngày 17.5 chính phủ Pháp sụp đổ. Theo kế hoạch của Mao sẽ dùng chiến trường Việt Nam đổi chác với Pháp, ngày 23.5 thủ tướng Chu Ân Lai gặp riêng tân thủ tướng Pháp Mendes France tại Geneve và đưa ra món hàng đổi chát. Phái đoàn đảng Cộng sản Việt Nam do thủ tướng Phạm Văn Đồng cầm đầu hoàn toàn không hay biết sự đối chác này.
Phạm văn Đồng đưa ra một chương trình ở thế mạnh gồm chấm dứt chiến tranh, Pháp rút ra khỏi Đông Dương, thành lập Liên bang Đông Dương Việt Miên Lào, và không đồng ý chia cắt Việt Nam như gợi ý của phái đoàn Chu Ân Lai. Ông Đồng nghĩ rằng quân đội Cộng sản Việt Nam đang làm chủ chiến trường Bắc Việt, và đã kiểm soát một khu rộng lớn tại miền Nam Trung bộ và Nam bộ nên không có lý do gì chấp nhận giải pháp chia cắt. Mặt khác với sự mất tinh thần của quân đội Pháp sau trận Điện Biên Phủ và thời gian hứa hẹn của thủ tướng Mendes France, Hà Nội có thể đẩy mạnh các cuộc tấn công quân sự là đủ buộc đối phương phải nhượng bộ chấp nhận chương trình của Hà Nội.
Tuy nhiên Chu Ân Lai chỉ trích chương trình của Phạm Văn Đồng và vừa áp lực vừa dọa rằng nếu Hà Nội tiếp tục thừa thắng tấn công đẩy Pháp vào chân tường Hoa Kỳ và Liên hiệp quốc có thể nhập cuộc như đã xẩy ra tại Triều Tiên. Chu Ân Lai cho biết nếu Hà Nội không ký một bản hiệp ước tạm thời chia cắt Việt Nam thì đảng Cộng sản Việt Nam sẽ phải tự lực chiến đấu, Trung quốc không có điều kiện để tiếp tục giúp đỡ (4).
Hồ Chí Minh biết không thể làm ngược lại ý của Trung quốc, hơn nữa Hồ Chí Minh cũng không muốn thấy cuộc chiến tranh Việt Nam biến thành một trận chiến tranh Triều Tiên thứ hai nên Hồ Chí Minh ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký Hiệp định hòa bình chấm dứt chiến tranh và chia đôi Việt Nam qua vĩ tuyến 17. Theo các nhân chứng tại Geneve, Phạm Văn Đồng đã khóc mà tuân lệnh Hồ Chí Minh. Chọn vĩ tuyến 17 thay vì vĩ tuyến 16 là một món quà “phụ thêm” của Trung quốc tặng cho Pháp vì quốc lộ số 9 nối liền Lào với biển nằm giữa vĩ tuyến 16 & 17.
Mối nghi ngờ giữa đảng Cộng sản Việt Nam và Trung quốc nẩy mầm từ đó.
Đầu năm 1965, khi Brezhnev bắt đầu chương trình tăng viện trang bi nặng cho đảng Cộng sản Việt Nam như súng phòng không và hỏa tiễn để chống cuộc không tập của không quân Hoa Kỳ vào miền Bắc Việt Nam, Mao thuyết phục Brezhnev nên dành tài nguyên đó để đương đầu phía Âu châu hơn là giúp Việt Nam. Mặt khác Mao thuyết phục Hồ Chí Minh chớ nên quá lệ thuộc vào Mạc Tư Khoa. Chu Ân Lai- suy bụng ta ra bụng người- từng nói với Phạm Văn Đồng rằng: “Các anh không nên nhận viện trợ của Liên bang Xô viết … Liên bang Xô viết giúp các anh chỉ để tạo điều kiện thương thuyết làm hòa với Hoa Kỳ thôi.”
Trong khi đó Mao nỗ lực o bế Hồ Chí Minh. Mao cho đổ vào Việt Nam tiền bạc và hằng ngàn tấn vật liệu và vũ khí nhẹ cùng với 130.000 binh sĩ để giúp điều khiển súng phòng không và bảo trì hệ thống lưu thông chống cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ. Theo bà Jung Chang, Trung quốc còn dùng mỹ nhân kế giới thiệu một thiếu phụ trẻ đẹp làm vợ Hồ Chí Minh, nhưng Hồ từ chối không nhận.
Ngày 31.3.1968 khi tổng thống Johnson tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ 2 (11.1968) và đề nghị thương thuyết, Trung quốc khuyên Hà Nội đừng nhận lời, nhưng Hà Nội vốn nghi ngờ thiện chí của Trung quốc đã nhất định đi tới và ngày 3.4.68 tuyên bố nhận lời đề nghị của tổng thống Johnson.
Khi cuộc thương thuyết tại Paris bắt đầu. Chu Ân Lai nói với Hà Nội rằng Trung quốc có nhiều kinh nghiệm thương thuyết với Hoa Kỳ nên Hà Nội cần cố vấn của Trung quốc trong phái đoàn thương thuyết, nhưng Hà Nội tư chối. Để trả đũa Trung quốc tìm cớ ngăn cản sự chuyển vận vật liệu chiến tranh cho Bắc Việt (của Trung quốc và của Nga chở qua đường Trung quốc) và cắt đứt các cuộc dàn xếp viện trợ tương lai. Hà Nội được yêu cầu đừng gởi phái đoàn thương thuyết viện trợ dự tính đi Bắc Kinh tháng 10.1968.
Dù bị Trung quốc làm khó khăn Hà Nội vẫn không để cho Trung quốc nắm cuộc thương thuyết tại Paris.
Không dùng viện trợ uy hiếp được Bắc Việt, Mao dùng phương pháp gián tiếp. Mao thành lập một đảng Cộng sản Cambốt lấy tên là Khmer Đỏ do Polpot cầm đầu, vừa chống Sihanouk vừa chống Việt Nam, và năm 1967 Mao định đảo chánh lật đổ Sihanouk để thiết lập một chế độ thân Trung quốc tại đó nhưng không thành.
Cơ hội tới khi Lonol (với sự tổ chức của cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA) đảo chánh lật đổ Sihanouk ngày 18.3.1970. Mao vội vàng đưa Sihanouk sang Bắc Kinh và thuyết phục Việt Nam phối hợp với Sihanouk thành lập một mặt trận Đông Dương chung chống Mỹ (lẽ dĩ nhiên) dưới sự lèo lái của Trung quốc.
Chính sách của Mao đối với Hà Nội thống nhất ở chỗ tạo trở ngại không cho Việt Nam thống nhất và ngăn cản không để Việt Nam tạo ảnh hưởng tại hai nước Miên, Lào. Ngay cả Mặt Trận Giải Phóng miền Nam do Hà Nội nặn ra do nhu cầu chính trị xâm lấn miền Nam, Trung quốc cũng không bỏ lỡ cơ hội ve vuốt, mua chuộc để tách Mặt Trận này ra khỏi ảnh hưởng của Hà Nội. Chính sách trước sau của Trung quốc là không để cho Việt Nam trong bất cứ trường hợp nào trở thành một quốc gia thống nhất và hùng mạnh.
Trong thời kỳ chiến tranh (chống Pháp 1946-1954), và xâm lấn miền Nam (1960-1975) Hà Nội dùng chính sách đi dây giữa Trung quốc và Liên bang Xô viết để bảo đảm nguồn viện trợ quân sự và kinh tế, nhưng sau khi thống nhất Việt Nam (1975), Hà Nội bắt đầu có thái độ độc lập hơn với Trung quốc.
Để giải tỏa gọng kềm của Trung quốc chọc từ phía Cam bốt, tháng 12.1978 Hà Nội tấn công lật đổ chế độ Polpot thân Trung Quốc.Hậu quả là cuộc tấn công trả đũa của Trung quốc qua biên giới phía Bắc tháng 2.1979.
Hà Nội cũng chứng tỏ chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung quốc vẫn thường tuyên bố là thuộc Trung quốc. Khi Hà Nội đẩy mạnh cuộc tấn công trên bộ chiếm miền Nam năm 1975 Hà Nội đã cho các đơn vị hải quân ra trú đóng tại một số đảo quan trọng trong quần đảo Trường Sa để chận trước sự “xí phần” của Trung quốc. Sự hiện điện của quân đội Cộng sản Hà Nội tại các đảo Trường Sa là điều làm cho Trung quốc rất khó chịu và đã dẫn đến cuộc đụng độ tại Trường Sa năm 1988 làm cho hơn 80 chiến sĩ hải quân Việt Nam tử trận.
Các diễn biến trên chứng tỏ rằng cho đến năm 1992 dù bị áp lực nhiều phía của Trung quốc các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn cố gắng thực hiện truyền thống bảo vệ tổ quốc trước cuộc xâm lấn không mệt mỏi của Trung quốc.
Nhưng vào năm 1992 tình hình thế giới chuyển biến đột ngột. Liên bang Xô viết sụp đổ và Hoa Kỳ đã rút ra khỏi vùng Thái Bình Dương trong khi Trung quốc trở nên lớn mạnh về cả hai mặt quân sự và kinh tế. Hà Nội trước sự đe dọa sụp đổ đã phải nhờ cậy vào Trung quốc để sống còn nên mất tư thế của một nước có chủ quyền đối với Trung quốc.
Hình như các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay không đủ bản lãnh để hoạch định một chính sách giữ nước trong những điều kiện mới. Và từ sự thiếu vắng chính sách và nhân sự lãnh đạo vững vàng là một chuổi dài thua thiệt và nhượng bộ.
Hà Nội phải ký hai Hiệp ước đất liền (1999) và biển (2000) với những điều khoản bất lợi cho Việt Nam. Mất thêm đất trong vùng Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, và nhiều chục ngàn hải lý rộng trong vịnh Bắc Việt. Vùng đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vịnh Bắc Việt và ngoài khơi biển Nam Hải bị hạn chế do chính sách “gunboat” của Trung quốc. Ảnh hưởng của Việt Nam đối với hai nước láng giềng Cam Bốt và Lào dần dần bị thu hẹp. Trung quốc đã thả hai gọng kềm hai bên hông Việt Nam, một bên là Lào nay hoàn toàn tùng phục Trung quốc, một bên là căn cứ tàu ngầm tại cực nam đảo Hải Nam. Tương lai của Việt Nam còn lệ thuộc vào nguồn dầu hỏa trên biển Đông thì Việt Nam hiện nay cũng không có điều kiện khai thác. Nỗ lực khai thác qua việc ký giao kèo tìm dầu khí với công ty BP của Anh (2007) và ExxonMobil của Mỹ (2008) không thành trước áp lực của Trung quốc.
Việt Nam hình như đang mất sự tự do tối thiểu của một quốc gia độc lập.
Ngư dân bị tàu Trung quốc bắn chết (1.2005) trong Vịnh Bắc Việt Hà Nội không dám lên tiếng công khai phản đối và đòi bồi thường.
Trung quốc lấy đất của Việt Nam ghép vào quận huyện của Trung quốc (12.2007) Hà Nội không dám để cho nhân dân biểu tình bày tỏ sự phản đối.
Và năm nay, kỷ niệm 30 năm trận chiến bảo vệ biên giới năm 1979, báo chí Hà Nội không được viết lách tự do ca ngợi các chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ tổ quốc. Và làm lễ chào mừng các chiến sĩ đang trú đóng tại Trường Sa mà báo chí và các cơ sở truyền thông do chính phủ kiểm soát không loan tin… Và còn nữa!
Vậy phải làm gì?
Phát huy nội lực và liên kết với đồng minh là sách lược ngàn đời để cứu nước.
Liên kết với ai? Nếu không phải với Hoa Kỳ, Úc châu, Nhật Bản, Ấn Độ, Liên bang Nga, Liên hiệp Âu châu, Hiệp Hội Asean trong đó có trọng lượng nhất là Hoa Kỳ. Nhưng chính Hoa Kỳ cũng đang gặp khó khăn vì cuộc khủng hoảng kinh tế và trong kế hoạch chấn hưng kinh tế Hoa Kỳ cũng đang nhờ sự hợp tác tài chánh của Trung quốc. Trung quốc đã không ngần ngại cho biết thế yếu của Hoa Kỳ và cảnh giác Hoa Kỳ chớ quá nóng vội giúp đỡ Việt Nam.
Bà Hillary Clinton tân bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ trong chuyến công du đầu tiên đến Trung quốc (2.2009) đã lỡ lời “thỉnh cầu” Trung quốc mua trái phiếu quốc gia của Hoa Kỳ để cùng có lợi chung thì liền ngay sau đó Trung quốc cho tàu chiến nghênh tàu của Hoa Kỳ trong biển Đông trong một vùng biển được hiểu là hải phận quốc tế. Để áp lực Hoa Kỳ nhượng bộ trên biển Đông, thủ tướng Ôn Gia Bảo lên tiếng nhắc khéo rằng “không biết trái phiếu Trung quốc đang mua của Hoa Kỳ có bảo đảm không?”
Vậy chỉ còn phát huy nội lực là chính. Và phát huy nội lực đòi hỏi sự đoàn kết của toàn dân sau lưng người cầm quyền. Và toàn dân chỉ đoàn kết sau lưng nhà cầm quyền khi họ có đầy đủ quyền tự do dân chủ.
Chính sách từ Mao, đến Đặng Tiểu Bình, rồi nay đến Hồ Cẩm Đào trước sau vẫn là khống chế Việt Nam. Và trong chiến lược lâu dài đương đầu với Hoa Kỳ để giành quyền bá chủ, Trung quốc sẽ phải chủ động mở con đường về phía nam trước.Bất cứ gì trên con đường tiến ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều phải được thôn tính.
Việt Nam ở ngay trên con đường tiến của Trung quốc. Chừng nào thì những người lãnh đạo tại Hà Nội nhận thức được mối nguy mất nước để đoàn kết quốc dân cùng cứu nước?
Trần Bình Nam.