GonVanNguyen

Welcome to you!

Subscribe to RSS feed

Xe buýt và những cuộc rượt đuổi trên xa lộ

SGTT.VN - Sự việc ba chiếc xe buýt tranh giành đường, đua tốc độ với nhau trên cầu vượt Thủ Đức (TP.HCM) và gây tai nạn cho hai anh em ruột (một bị chết, một bị thương nặng) xảy ra chiều 7.8.2011 mới đây, khiến dư luận từ lo lắng chuyển sang phẫn nộ.
Điều đáng nói, cảnh xe buýt lấn tuyến, đua tốc độ để tranh giành khách như vụ việc trên không phải hiếm gặp nhưng không thấy lực lượng chức năng nào kiểm tra, xử lý.
Bắt khách giữa đường – hình ảnh phổ biến trên xa lộ.
Quốc lộ – đường đua của xe buýt
9 giờ ngày 9.8.2011, trên tuyến quốc lộ 13 (đoạn từ cầu Bình Triệu đến cầu vượt Bình Phước, quận Thủ Đức) đông nghẹt người vì một vụ tai nạn nhỏ của hai xe khách. Lúc này, xuất hiện một chiếc xe buýt mang biển số 53N–4385 (tuyến số 19, hướng từ trung tâm TP.HCM ra) liên tục bấm còi inh ỏi để giành đường, chiếc xe đi ép sát vào phần lề bên phải (vốn được dành cho xe hai bánh), phụ xe nhoài người ra bên ngoài la hét giành đường, khiến không một xe máy nào qua được…
Hai xe buýt dàn hàng ngang “đua tốc độ” trên cầu vượt Sóng Thần. Ảnh cắt từ video clip.
Khi qua khỏi cầu Đúc Nhỏ, dù vẫn còn rất đông người bị ách lại vì vụ tai nạn nhưng tài xế vẫn đạp ga tăng tốc vượt qua rất nhiều xe ôtô, xe khách chạy cùng chiều khác. Khi đến gần cầu vượt Bình Phước, do chạy rất nhanh và chạy trong phần đường dành cho xe hai bánh nên sức gió của xe đã đẩy ngã sấp một cụ già đang đi xe đạp sát lề… xe buýt vẫn đạp ga chạy tiếp. Trong suốt một đoạn đường dài từ cầu Đúc Nhỏ đến trước trường đại học Nông Lâm xe liên tục lạng lách, lúc chạy phần đường dành cho ôtô bốn bánh, lúc chạy phần đường dành cho xe tải, xe máy… chúng tôi cố bám theo nhưng không kịp, vận tốc xe buýt ước đạt 100km/h.
Ngày 10.8.2011, chúng tôi trở lại xa lộ. 9 giờ 15 phút, trước cổng đại học Nông Lâm xuất hiện cùng lúc ba xe buýt (tuyến 19, 33 và 601). Sau khi vừa qua khỏi chốt đèn đỏ, cả ba xe cùng nhau dàn ngang trên đường (trước một điểm dừng trạm) để bắt khách. Sau khi bắt khách xong, cả ba tức tốc rồ ga lao tới. Kể từ đây, cuộc hoán đổi vị trí diễn ra liên tục, có khi xe 33 vượt trước, khi 601 vượt trước, khi “so kè” song song nhau trên đường… Khi đến khu vực cầu vượt Gò Dưa, do lượng xe ùn ứ ở đây nhiều, cả ba đều chạy len lỏi vào phần đường xe hai bánh, phụ xe phía trên liên tục la hét dẹp đường xe đi. Khi đến dưới gầm cầu vượt, các xe buýt này vô tư dừng giữa đường bắt khách (dù ở đây không có trạm). Khi vượt qua khỏi cầu vượt Gò Dưa, cả ba tiếp tục tăng tốc với tốc độ chóng mặt. Đến khi qua khỏi cầu vượt Bình Phước, do các xe này chạy quá nhanh nên chúng tôi đành “mất dấu” cả hai xe tuyến 33 và 601, riêng một xe tuyến 19 rẽ vào quốc lộ 13.
Cảnh sát giao thông cũng chịu thua?
9 giờ 30 phút ngày 9.8.2011, chúng tôi bám theo một xe buýt khác mang biển số 53N–4099 (chạy tuyến 601, hướng từ Suối Tiên đi quận 12). Khi xe đến trước trạm đại học Nông Lâm, đang chạy tốc độ nhanh, thấy có hành khách vẫy tay, tài xế vội đánh tay lái cúp đầu xe vào trạm, ngay lập tức một phụ xe từ trên vội vàng chạy xuống “hộ tống” hai hành khách lên xe và nhanh chóng tăng tốc đi tiếp. Lúc này, có một xe buýt tuyến số 33 chạy phía trước. Và từ đây diễn ra cuộc đua bắt khách trên tuyến quốc lộ 1A, lúc xe tuyến 33 vượt lên, lúc xe 601 vượt trước, khi song hành dàn ngang trên quốc lộ…, vận tốc có lúc đạt đến 100km/h.
Khi hai xe qua khỏi cầu Bình Phước 1 đến địa phận quận 12, phía trước xuất hiện hai cảnh sát giao thông (CSGT) đang làm việc bên đường. Lúc này xe tuyến 601 đang lưu thông rất nhanh ở phần đường dành cho ôtô nhưng chiếc xe vẫn ung dung chạy qua trước mặt hai CSGT kia mà không hề bị giữ lại. Riêng chúng tôi bị hai CSGT này yêu cầu dừng xe vì lỗi chạy lấn tuyến (vì chúng tôi đang bám theo xe buýt). Chúng tôi trình bày vụ việc rồi nhã ý hỏi vì sao CSGT không xử lý chiếc xe buýt đang chạy quá tốc độ và lấn tuyến vừa qua, một CSGT nói “do xe buýt đó chạy nhanh quá không xử lý kịp” và yêu cầu chúng tôi cung cấp số xe, bằng chứng để xử lý sau.
Ngày 7.8.2011, ba chiếc xe buýt tranh nhau chạy qua khúc cua trên cầu vượt Thủ Đức (quận 9) và gây tai nạn khiến hai anh em ruột gặp nạn (một người chết tại chỗ, một bị thương). Ảnh: CTV
Tại một quán nước ven quốc lộ 1A (trước trường đại học Nông lâm), khi được hỏi chuyện, bà chủ quán nước buông một tràng dài: “Trời ơi, các chú không biết đấy thôi, ngày nào họ (các tài xế xe buýt) cũng đua với nhau cả. Có khi hai xe, có khi ba xe xếp hàng ngang trên đường mà chạy… Quốc lộ bây giờ trở thành đường đua của họ mất rồi. Họ coi tính mạng của người đi đường sao rẻ quá!”
Ông Nguyễn Quang Long (chạy xe ôm ở cầu Bình Phước) bức xúc, tình trạng các xe buýt “đua tốc độ”, chạy ẩu, lấn tuyến… với nhau ngày nào cũng diễn ra ở đây, đặc biệt là các tuyến xe 601, 33. “Hình như các xe này đã có một ai đó “chống lưng” nên không bị xử lý. Chứ lý do gì những xe xem thường mạng sống người dân như thế này lại không bị xử phạt thật nặng?”, ông Long bức xúc.
Trung tá Trần Văn Thương, trưởng đội CSGT Rạch Chiếc (đơn vị kiểm soát đoạn đường quốc lộ 1A, từ Suối Tiên đến cầu vượt Linh Xuân) xác nhận, tình trạng chạy ẩu, lấn tuyến, chạy quá tốc độ… của các xe buýt trên đoạn này khá phổ biến. Tuy nhiên, để xử lý dứt điểm cùng rất khó vì các xe này thường “canh” CSGT để chạy. “Quan điểm của chúng tôi, khi tuần tra phát hiện vi phạm sẽ xử phạt thật nghiêm khắc các xe buýt vi phạm này, không bao che gì cả”, trung tá Thương nói.
Từ AN
Xe buýt liên tục gây tai nạn
Chiều 10.8.2011, trên đường Hoà Bình (quận Tân Phú), chiếc xe buýt mang biển số 53N-3498 đã chạy lấn vào phần trong đường dành cho xe gắn máy và gây tai nạn khiến một thanh niên tử vong.
Ngày 7.8.2011, ba chiếc xe buýt tranh nhau chạy qua khúc cua trên cầu vượt Thủ Đức (quận 9) và gây tai nạn khiến hai anh em ruột gặp nạn (một người chết tại chỗ, một bị thương). Tai nạn xảy ra, chiếc xe gây tai nạn (tuyến 33) bị người dân giữ lại hiện trường, còn hai xe khác bỏ chạy.
Ngày 8.8.2011, trên đường Võ Văn Ngân (quận Thủ Đức), sau khi va quẹt với một người đi đường khiến nhiều vật dụng bị hư hỏng… chiếc xe buýt mang biển số 53N–3593 vẫn bất chấp lao đi. Bức xúc vì gây tai nạn còn bỏ chạy, nhiều người đuổi theo xe buýt nói trên, lúc này tài xế dừng xe nhưng đóng chặt cửa lên xuống không cho hành khách nào ra vào gần nửa tiếng đồng hồ, đến khi lực lượng chức năng có mặt, tài xế này mới chịu mở cửa...

Hàn Quốc phá 'thế trận' tàu cá Trung Quốc

Lực lượng tuần duyên Hàn Quốc phá thế trận của hàng chục tàu Trung Quốc, bắt tổng cộng 15 tàu cá và hơn một trăm ngư dân Trung Quốc vì xâm phạm lãnh hải.
Bản đồ vùng biển Hoàng Hải và đánh dấu hai khu vực xảy ra các vụ việc xâm phạm trái phép của tàu cá Trung Quốc trong thời gian qua. Đồ họa: Wikipedia
Bản đồ vùng biển Hoàng Hải và đánh dấu hai khu vực xảy ra các vụ việc xâm phạm trái phép của tàu cá Trung Quốc trong thời gian qua. Đồ họa: Wikipedia
Các thông tin trên đây được báo chí Hàn Quốc đưa tin rầm rộ trong những ngày qua. Tuy nhiên phía Trung Quốc chưa có phản ứng chính thức nào.
Khoảng 16h25 hôm 19/11, một tàu tuần tra của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Jeju, Hàn Quốc, ngăn chặn một tàu cá Trung Quốc và sau đó đưa tàu này về gần đảo Jeju để điều tra, tờ JoongAng Ilbo của Hàn Quốc đưa tin. Vụ việc xảy ra ở địa điểm cách đảo Chuja của Hàn Quốc khoảng 12 km về phía tây bắc, và cách đảo Jeju khoảng 50 km về phía tây.
Ảnh Hàn Quốc phá thế liên hoàn của tàu cá Trung Quốc
Tuy nhiên, chiếc tàu cá bị bắt đã kêu gọi sự trợ giúp và 25 tàu cá khác của Trung Quốc đáp lại bằng cách dàn thế trận đe dọa Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc, đồng thời đòi thả chiếc tàu đồng hương. Các thủy thủ Trung Quốc thậm chí khua rìu, ống nước bằng đồng và gậy tre trên boong tàu của họ, JoongAng Ilbo dẫn lời Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc.
Trước diễn biến này, phía Hàn Quốc buộc phải điều thêm 12 tàu tuần tra và hai trực thăng tới trấn áp. Hai tàu cá nữa của Trung Quốc sau đó bị bắt, nhưng các thủy thủ trên hai tàu này đã chạy trốn sang các tàu bạn. Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc truy đuổi các tàu Trung Quốc nhưng bất thành do thời tiết xấu. Giới chức Hàn Quốc cho hay 5 lính nước này bị thương nhẹ sau vụ việc. Hiện chưa rõ có bao nhiêu thủy thủ Trung Quốc bị bắt.
Các ngư dân Trung Quốc dùng dây buộc các tàu cá lại với nhau để
Các ngư dân Trung Quốc dùng dây buộc các tàu cá lại với nhau để gây khó khăn cho việc truy đuổi của tàu tuần tra Hàn Quốc hôm 16/11. Ảnh: AFP
Đây là lần thứ hai các tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Hàn Quốc chỉ trong vòng 3 ngày. Trước đó, vào ngày 16/11, 126 ngư dân và 12 tàu cá của Trung Quốc đã bị bắt giữ khi hoạt động trái phép gần đảo Ochong, gần thành phố Gunsan, tỉnh Bắc Jeolla của Hàn Quốc. Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc đã phải huy động 12 tàu tuần tra, 4 máy bay và 20 lính đặc nhiệm có vũ trang mạnh với súng K5, lá chắn và súng phóng lựu.
Theo tờ Chosun Ilbo, khoảng 200.000 tàu cá của Trung Quốc được cho là đang hoạt động trái phép trong vùng biển thuộc chủ quyền của Hàn Quốc, bất chấp việc 1.762 tàu cá của Trung Quốc đã được cấp phép đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của Hàn Quốc và thu được 65.000 tấn cá các loại. Giới chức Hàn Quốc đang cân nhắc những biện pháp mạnh tay hơn để ngăn chặn các hoạt động trái phép của tàu cá Trung Quốc.
Nhật Nam

Chương 16 “Món nợ Thành Đô”, Trần Quang Cơ

Chương 16 dưới tiêu đề “Món nợ Thành Đô”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết:
“Từ tháng 9/1990, Trung Quốc luôn coi ta mắc nợ họ về thoả thuận Thành Đô, đòi ta thực hiện thoả thuận đó, cụ thể là tác động với Phnom Penh nhận SNC có 13 thành viên và do Sihanouk làm Chủ tịch. Với cách làm đó, họ khơi sâu thêm bất đồng trong nội bộ ta… Trung Quốc thấy rằng việc thực hiện thoả thuận Thành Đô gặp trở ngại chính từ Bộ Ngoại giao nên chủ trương chia rẽ nội bộ ta càng trắng trợn hơn. Đại sứ mới của Malaysia ngày 3/10/1990 đến chào xã giao, nói với tôi là ở Bắc Kinh người ta đưa tin là có sự khác nhau giữa Bộ Ngoại giao và lãnh đạo Đảng về chủ trương đối ngoại cho nên trong chuyến đi Thành Đô gặp cấp cao Trung Quốc không có ông Nguyễn Cơ Thạch. Sau Thành Đô, trong khi ta nới rộng hoạt động của sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam thì phía Trung Quốc lại tỏ ra lạnh nhạt với Bộ Ngoại giao công kích lãnh đạo Bộ Ngoại giao Việt Nam; hạn chế hoạt động của Đại sứ ta ở Bắc Kinh, không sắp xếp Đại sứ ta tham dự vào cuộc Lý Bằng tiếp anh Võ Nguyên Giáp, anh Vũ Oanh; cử cán bộ cấp thấp tiếp và làm việc với Đại sứ ta. Trung Quốc một mặt khẳng định là vấn đề Campuchia chưa giải quyết thì quan hệ Trung – Việt “chỉ có bước đi nhỏ”, mặt khác thăm dò và tích cực tác động đến vấn đề nhân sự và phương án chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ họp vào giữa năm 1991. Từ tháng 3/1991, tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc khoá 7, Lý Bằng tuyên bố “quan hệ Trung – Việt đã tan băng” và có một số điều chỉnh mềm dẻo hơn trong vấn đề Campuchia. Về vấn đề SNC của Campuchia: Trung Quốc không cố bám giữ con số 13, tạm gác vấn đề chủ tịch, phó chủ tịch, đưa ra công thức “Sihanouk chủ trì các cuộc họp SNC”. Từ chỗ chỉ có quan hệ với 3 phái, sau cuộc gặp SNC ở Pattaya (Thái Lan), Trung Quốc chuyển sang quan hệ trực tiếp với Nhà nước Campuchia, mời Hunxen thăm Bắc Kinh trong 3 ngày (22-24/7/1991).
Chiều Chủ nhật 18/11/1990 họp Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia. Từ sau khi P5 thoả thuận về văn kiện khung (28/8/1990) cuộc đấu tranh về vấn đề Campuchia đi vào giai đoạn cuối, gay gắt và quyết liệt. Thay mặt Bộ Ngoại giao, tôi trình bày đề án về nguyên tắc đấu tranh về văn kiện khung của P5 và về vấn đề SNC để Bộ Chính trị cho ý kiến. Khi tôi trình bày xong, anh Thạch đề nghị Bộ Chính trị khẳng định 2 điểm:
1. Vấn đề SNC là vấn đề nội bộ của Campuchia, ta không ép bạn được, phải tôn trọng chủ quyền của bạn;
2. Về văn kiện khung, ta phải bác những điểm vi phạm Hiến chương LHQ. Nếu không sau này có ảnh hưởng đến vấn đề xử lý Trường Sa… Ta thấy rõ Trung Quốc và Mỹ đều nhất trí xoá Nhà nước Campuchia bằng cách khác nhau.
Cuối cuộc họp, Tổng bí thư Linh kết luận: “Về SNC ta không thể góp ý với bạn được… Nếu nói Trung Quốc và Mỹ như nhau thì tôi không đồng ý. Sau hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị sẽ đánh giá lại một số vấn đề liên quan đến ngoại giao như nhận định về Trung Quốc thế nào, tuyên bố hoặc nói về Trung Quốc như thế nào ?”
Nguyễn Cơ Thạch nói luôn : “Đồng ý đánh giá lại cả cuộc hội đàm ở Thành Đô”.
Dự thảo Hiệp định toàn bộ về Campuchia ngày 26/11/1990 do P5 thảo ra đã được các thành viên SNC Campuchia chấp nhận về cơ bản tại cuộc họp ở Paris ngày 23/12/1990. Chủ trương của ta là giải pháp chính trị về Campuchia, nhất là những vấn đề nội bộ Campuchia, phải do bạn tự quyết định và chịu trách nhiệm với dân tộc Campuchia. Ta hết sức giúp đỡ họ, gợi ý để họ tránh được những thất bại không đáng có, nhưng ta không thể làm thay. Như vậy ta vừa hết lòng giúp bạn vừa không để Việt Nam một lần nữa bị sa lầy vào cuộc đấu tranh nội bộ của Campuchia. Không để vấn đề giải pháp chính trị về Campuchia lại một lần nữa trở thành vấn đề lịch sử trong quan hệ Việt Nam – Campuchia.
Theo yêu cầu của bạn, ngày 14/1/1991, tôi cùng các anh Huỳnh Anh Dũng, Lê Công Phụng, Vũ Tiến Phúc, chuyên viên về giải pháp Campuchia, sang Phnom Penh làm việc với bạn với mục đích:
a. Tìm hiểu suy nghĩ và ý định của bạn về giải pháp Campuchia sau khi bạn đã chấp nhận văn kiện khung của P5 tại cuộc họp Jakarta 10/9/1990 và chấp nhận về cơ bản dự thảo Hiệp định 26/11 của P5 tại cuộc họp Paris 23/12/1990;
b. Thuyết phục bạn kiên quyết tách riêng các vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền Campuchia để chỉ thảo luận và giải quyết trong SNC;
c. Thoả thuận kế hoạch chuẩn bị cho việc họp lại Hội nghị quốc tế Paris.
Khi tiếp tôi, anh Hunxen nói: “Trong nội bộ Campuchia, xu hướng mạnh nhất là muốn có một giải pháp chính trị giữ được thành quả cách mạng, không để cho Polpot quay trở lại… Tình hình hiện nay rất tế nhị. Tình hình phức tạp sẽ xảy ra nếu ta chấp nhận một giải pháp vô nguyên tắc. Chỉ cần chấp nhận một giải pháp như vậy thì nội bộ Campuchia đã hỗn loạn rồi chứ chưa nói là ký kết. Ta giữ lập trường cứng như vừa qua là tốt. Đề nghị Việt Nam không để đẩy quá nhanh tiến trình giải pháp.
Như vậy, qua các cuộc gặp Bộ trưởng Hor Nam Hong, Thứ trưởng Dith Munty và Thứ trưởng Sok An, nhất là qua phát biểu của Chủ tịch Hunxen chiều 16/11/1990, có thể thấy được chủ trương của bạn cố kéo dài trạng thái đánh đàm hiện tại vì nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau, song chủ yếu vì trong nội bộ lãnh đạo bạn xu hướng chưa muốn đi vào giải pháp còn rất mạnh. Hunxen cho biết theo quyết định của Bộ Chinh trị Campuchia, trong cuộc họp Trung ương ngày 17/1/1991, ông ta sẽ thông báo cho Trung ương là “năm 1991 sẽ chưa có giải pháp”. Tuy nhiên, tôi lại có cảm thấy trong suy nghĩ cũng như trong hành động lãnh đạo Campuchia đang có nhiều mâu thuẫn lúng túng, chưa xác định được cho mình một đường lối rõ ràng mạch lạc, mà chỉ lo đối phó từng bước với những vấn đề trong nội bộ cũng như với đối phương.
Trong lần gặp Heng Somrin ở Hà Nội ngày 24/2/1991, anh Nguyễn Văn Linh vẫn cố ép bạn “cần thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề diệt chủng, nên SNC gồm 13 thành viên và Sihanouk làm Chủ tịch”. Heng Somrin về nói lại với Bộ Chính trị Đảng Campuchia thì tất cả đều băn khoăn và ngại rằng Heng Somrin không thạo tiếng Việt nên nghe có thể sai sót. Thực ra, như Hunxen nói với anh Ngô Điền, khi nghe Heng Somrin nói lại những ý kiến của anh Linh, Bộ Chính trị Campuchia rất lo vì thấy Việt Nam khác Campuchia nhiều quá. Ngày 13/3/1991 Hunxen nói với anh Thạch: “Có thể có sách lược phân hoá Khmer đỏ, nhưng dứt khoát không thể bỏ vấn đề diệt chủng. Nếu bỏ sẽ có 3 mối nguy hiểm: sẽ mất con bài mặc cả trong đàm phán ngay từ đầu; mất lợi thế trong tổng tuyển cử; kẻ thù sẽ có lợi trong việc vu cáo Việt Nam là mọi chuyện xảy ra 12 năm qua đều do Việt Nam gây ra cả. Số lượng thành viên SNC có thể là 12 hoặc 14, không thể chấp nhận con số 13, sẵn sàng cho Sihanouk làm chủ tịch, Hunxen làm phó, không đòi chức chủ tịch luân phiên hay đồng chủ tịch nữa”.
Trong cách làm này của ta cho thấy ta chỉ quan tâm đến điều mà ta cho là có lợi ích đối với ta mà thiếu cân nhắc xem điều đó có phù hợp với lợi ích của bạn không. Cách làm đó tất yếu ảnh hưởng xấu đến quan hệ gắn bó lâu nay giữa ta với Phnom Penh.
Đầu năm 1991, Bộ Chính trị đã có cuộc họp tại T78 thành phố Hồ Chí Minh (24-25/1/1991) để bàn về vấn đề Campuchia. Tôi trình bày chủ trương tách mặt quốc tế với mặt nội bộ của giải pháp Campuchia, đồng thời báo cáo ý kiến của Hunxen cho biết là Bộ Chính trị Campuchia quyết định không đi vào giải pháp trong năm 1991. Bộ Chính trị quyết định cần thăm dò khả năng họp Bộ Chính trị 3 nước để hướng Campuchia đi vào giải pháp, họp có tính chất trao đổi, gợi ý chứ không quyết định, ta không thể ép bạn, đồng thời phải tỏ được thiện chí, tránh mọi việc làm ta bị cô lập.
Nhân dịp này, tôi đã ngỏ ý với anh Thạch là tôi muốn rút khỏi Trung ương khoá tới. Anh Thạch tỏ ý không tán thành. Đến tháng 2/1991, khi có cuộc bầu đại biểu ở các tỉnh để đi dự Đại hội VII, tôi đã gửi thư cho anh Nguyễn Đức Tâm, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, xin rút khỏi danh sách dự Đại hội VII. Lúc này tinh thần tôi đã có phần mệt mỏi vì những sự việc trong thời gian qua. Nhưng yêu cầu của tôi không được đáp ứng. Tôi nhận được giấy đi dự Đại hội tỉnh Đảng bộ Sơn La và được bầu vào Đoàn đại biểu tỉnh Sơn La đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.Tháng 6/1991, tôi có giấy đi dự Đại hội Đảng với tư cách đại biểu tỉnh Sơn La rồi tiếp tục tham gia Trung ương khoá VII.
Tình hình bất đồng ý kiến trong Bộ Chính trị càng đến gần Đại hội càng bộc lộ gay gắt. Ngày 13/4/1991, trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về tình hình thế giới và đường lối đối ngoại để chuẩn bị báo cáo chính trị tại Đại hội, sau khi anh Thạch bản báo cáo về “Tình hình thế giới và chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”, Lê Đức Anh giới thiệu đại tá Lân, cán bộ Cục II Bộ Quốc phòng, trình bày về tình hình thế giới và mưu đồ đế quốc”. Nghe xong, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chủ quan tôi nghĩ giữa bản trình bày sáng nay (của Bộ Ngoại giao) và bản trình bày tình hình quân sự chiều nay của Bộ Quốc phòng có nhiều chỗ khác nhau.Muốn thảo luận chủ trương thì phải thảo luận tình hình trước, nhưng cách đánh giá tình hình còn khác nhau”.
Cố vấn Phạm Văn Đồng: “Nói khôi hài lúc này thật không phải lẽ. Chúng ta cần cố gắng làm việc đúng lương tâm, nghiêm chỉnh, đúng trách nhiệm của mình. Bộ Chính trị đã giao cho 3 đồng chí phụ trách 3 ngành làm nhưng lại chưa làm”.
Lê Đức Anh: “Bộ Chính trị nên nghe tình hình nhiều mặt, ngay trong nước chúng ta cũng đánh giá khác nhau. Căn cứ vào đánh giá chung, mỗi ngành có đề án riêng, không làm chung được”.
Nguyễn Cơ Thạch đồng ý 3 ngành thảo luận để đi tới nhất trí về tình hình, còn công tác thì mỗi ngành làm.
Trên tinh thần đó, ngày 02/5/1991, đã có cuộc họp giữa Ngoại giao, An ninh và Quốc phòng để thống nhất nhận định tình hình thế giới. Dự họp về phía Bộ Quốc phòng có: Lê Đức Anh, Trần Văn Quang, Đại tá Lân (thường gọi là Lân thọt), Bộ Nội vụ có: Mai Chí Thọ; Bộ Ngoại giao có Nguyễn Cơ Thạch và 4 thứ trưởng. Còn 3 phó ban Đối ngoại: Nguyễn Thị Bình, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Quang Tạo. Thu hoạch của cuộc họp khá nghèo nàn, không đem lại được sự nhất trí trong nhận định tình hình, chỉ nhất trí được mấy điểm lý luận chung chung.
Chỉ còn một tháng đến ngày họp Đại hội VII, Chính trị B họp liền gần 3 ngày (15,16 và 17/5/1991) để thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về tình hình thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”. Bộ Chính trị có mặt đông đủ. Theo dõi cuộc họp ở ghế dự thính. Số dự thính lúc đầu có 10 người, từ chiều 16/5 khi đi vào kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết về đối ngoại của Đại hội VI thì dự thính thu hẹp lại chỉ còn có Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Đinh Nho Liêm và tôi. Từ đầu đến cuối, tôi đã nhận rõ sự đấu tranh giữa hai quan điểm về mặt quốc tế, nhất là khi đi vào phần kiểm điểm thực hiện đường lối đối ngoại, nói đến vấn đề Campuchia và quan hệ với Trung Quốc. Bản dự thảo báo cáo của Bộ Ngoại giao có nêu “đã có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị”, “thái độ đối với Trung Quốc có sự thay đổi qua 2 giai đoạn (trước và sau năm 1989) trái với Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (20/5/1988)”, “giữa ta và bạn Campuchia đã bộc lộ sự khác nhau khá rõ rệt”, về đối ngoại, ta “lúng túng, thiếu bình tĩnh” trước cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô…; đã bỏ lỡ cơ hội cải thiện với ASEAN (khi Thái Lan mời Thủ tướng Đỗ Mười sang thăm, nhưng anh Mười nói phải đi Liên Xô, đi Ấn Độ rồi mới đi Thái), đã làm nảy sinh tranh cãi khá căng, đặc biệt khi bàn đến đúng sai trong chuyện gặp cấp cao Trung Quốc ở Thành Đô tháng 9.1990 và vấn đề chống diệt chủng và “giải pháp Đỏ”.
Anh Võ Chí Công: “Về Trung Quốc rất phức tạp… Bộ Chính trị đã đánh giá Trung Quốc có hai mặt xã hội chủ nghĩa và bá quyền. Về xã hội chủ nghĩa cũng cần thấy là trong “nháy nháy”… Khó khăn là chưa bình thường hoá quan hệ… Họ đưa ra 5 trở ngại, có cái hàng trăm năm không giải quyết nổi. Ví dụ như chuyện “Liên bang Đông Dương”, họ biết ta không có ý đồ đó song cứ nêu lên cốt để chia rẽ và giành lấy Lào và Campuchia, gạt ta ra… Chuyện “giải pháp Đỏ” là không được, vì như vậy thì có nghĩa là Trung Quốc sẽ đi với ta chống Mỹ trong lúc chủ trương của họ là tranh thủ khoa học – kỹ thuật của phương Tây để hiện đại hoá, còn gì là Trung Quốc nữa ?
Tới cuối cuộc họp, Nguyễn Đức Tâm còn nói: “Chưa làm dự thảo Nghị quyết ngay được vì qua thảo luận thấy ý kiến Bộ Chính trị còn khác nhau về đánh giá đúng thành tích, đúng bạn thù, đối sách. Đại hội đến nơi, sau Đại hội không còn Bộ Chính trị này nữa, tuy một số đồng chí còn ở lại… Mặc dù vậy Nguyễn Thanh Bình chủ trì cuộc họp vẫn kết luận làm dự thảo Nghị quyết về đối ngoại”.
***********
Chương 20 là chương kết thúc hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ”. Dưới tiêu đề “Kết thúc một chặng đường nhưng lịch sử chưa sang trang”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết:
“Sau 12 năm ròng rã, đối với chúng ta, vấn đề Campuchia coi như đã kết thúc và đã trở thành một hồ sơ của bộ phận lưu trữ trong Bộ Ngoại giao Việt Nam. Nhưng những bài học của 12 năm ấy vẫn còn có nhiều tính chất thời sự, nhất là bài học về chính sách và thái độ cư xử với các nước lớn.
Tiếp sau việc vấn đề Campuchia được giải quyết là việc thực hiện bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Theo thoả thuận giữa hai bên, ngày 05/11/1991, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có cuộc đi thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đánh dấu sự bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.“Quan hệ Việt – Trung tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Quan hệ Việt – Trung không phải là quan hệ đồng minh, không trở lại quan hệ như những năm ‘50- ‘60…”
Tuy nhiên sau khi bình thường hoá quan hệ, lại dồn dập diễn ra những sự kiện xấu trên nhiều mặt quan hệ giữa hai nước, tập trung gay gắt nhất là các vấn đề liên quan đến lãnh thổ trên bộ vùng biên giới Hà Giang tháng 2, 3, 4/1992; vụ nối lại đường xe lửa Liên vận ở Đồng Đăng, Lạng Sơn tháng 12/91 rồi 4.5.92; Lục Lầm, Quảng Ninh tháng 5.92) và tranh chấp biển đảo mà đỉnh cao là vụ Trung Quốc công khai hoá việc ký kết họp đồng thăm dò khai thác dầu khí với Công ty Năng lượng Mỹ Crestone tại một vùng rộng lớn trên thềm lục địa của Việt Nam (bãi Tư Chính).
Vì sao Trung Quốc tăng cường lấn ép ta vào thời điểm này ? Vì Trung Quốc cho rằng tình hình đó đang thuận lợi cho họ tranh thủ gấp rút thực hiện yêu cầu tăng thế và lực (xây dựng hải quân nhanh, nổ thử bom 1000 kilôton, thi hành chiến lược “biên giới mềm”) nhằm tạo cho mình một vị thế đỡ bất lợi so với Mỹ và các nước lớn khác, trong đó có ý đồ gấp rút biến biển Nam Trung Hoa – mà ta gọi là biển Đông – thành vùng biển độc chiếm của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn bộ vùng Đông Nam Á.
1. Trật tự thế giới cũ không còn, trật tự thế giới mới chưa hình thành. Các đối thủ chính của Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương đều đang gặp khó khăn, Liên Xô vừa tan rã. Liên bang Nga trước mắt chưa phải là thách thức đáng kể, Mỹ đang giảm bớt sự có mặt về quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương, tránh can thiệp nếu lợi ích của Mỹ và đồng minh không bị đụng đến.
2. Đông Nam Á mới bắt đầu quá trình nối lại các quan hệ giao lưu giữa hai nhóm nước đối đầu cũ. Triển vọng liên kết hay nhất thể hoá Đông Nam Á, bất lợi đối với ý đồ bá quyền của Trung Quốc, đang còn có những trở ngại (nghi ngờ nhau do khác ý thức hệ, va chạm lợi ích, ý đồ của Thái Lan đối với Lào, Campuchia) đòi hỏi thời gian khắc phục Trung Quốc muốn tranh thủ thời gian này để cản phá xu thế hợp tác khu vực giữa Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam và ASEAN tạo ra một tập hợp lực lượng thân Trung Quốc ở Đông Nam Á (quân phiệt Thái, quân phiệt Myanmar, Khmer đỏ ở Campuchia và Lào nếu có thể) để khuất phục Việt Nam.
3. Bản thân Việt Nam còn đang lúng túng về những vấn đề chiến lược (vấn đề đồng minh, vấn đề tập hợp lực lượng, vấn đề bạn thù) trong tình hình mới sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ với Mỹ chưa bình thường hoá, Trung Quốc muốn đi vào bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trên thế mạnh.
Vì vậy Trung Quốc nhẩn nha trong các bước bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, vừa tạo bề mặt thân mật gắn bó Trung – Việt, vừa xiết chặt bên trong, giành lợi thế cho mình trên mọi lĩnh vực quan hệ. Cả hai mặt đều nhằm đạt mục tiêu khẳng định Việt Nam – Đông Dương là thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc, muốn tách Việt Nam khỏi Đông Nam Á và thế giới bên ngoài.
*
Ngày 29/11/1993, tại cuộc họp Trung ương thứ 6 khoá VII để nhận định tình hình và bàn về ảnh hưởng tới, với dự tính sẽ xin rút khỏi Trung ương trong kỳ họp Trung ương giữa nhiệm kỳ tới, tôi đã tranh thủ nói rõ quan điểm của tôi trước phiên họp toàn thể Trung ương dưới dạng trình bày những suy nghĩ của mình về “Thời cơ và những thách thức”.
Tôi cho rằng cục diện mới lúc này có mặt thuận lợi là đang nảy sinh những xu thế phù hợp với yêu cầu mở cửa, hoà nhập vào đời sống kinh tế–chính trị quốc tế của ta, đang tạo nên thời cơ thực hiện mục tiêu hoà bình và phát triển của nước ta.
Đó là:
1. Xu thế độc lập tự chủ, tự lực tự cường của những nước nhỏ và vừa, có ý thức về lợi ích dân tộc của mình, cưỡng lại chính trị cường quyền áp đặt của nước lớn.
2. Xu thế đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, tăng cường ngoại gia đa phương do nhu cầu đẩy mạnh giao lưu kinh tế và an ninh tập thể.
3. Xu thế giữ hoà bình ổn định thế giới và khu vực nhằm bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi cho tập trung phát triển kinh tế.
4. Xu thế liên kết khu vực về kinh tế và an ninh khu vực.
Đồng thời, cũng có những thách thức lớn đối với an ninh và phát triển của ta, cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài:
1. Thách thức bên trong là tệ nạn tham ô và nhũng nhiễu đang huỷ hoại sức để kháng vật chất cũng cũng tinh thần của dân tộc ta, làm giảm hẳn khả năng chống đỡ của ta đối với các thách thức bên ngoài.
2. Diễn biến hoà bình – một dạng biểu hiện của mâu thuẫn Đông – Tây sau chiến tranh lạnh.
3. Bá quyền bành trướng. Nguy hiểm không kém diễn biến hoà bình, ở sát nách ta, thể hiện lúc mềm, cứng để gây mơ hồ mất cảnh giác (điểm này trong hội nghị hầu như không có ý kiến nào đề cập tớ).
4. Tình hình Campuchia còn đầy bất trắc với Khơ me đỏ còn đó, cộng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Campuchia.
Trên cơ sở nhận định về thời cơ và nguy cơ như vậy, tôi đã đưa ra kiến nghị:
1. Cần nhìn tổng thể tình hình khách quan và chủ quan, đối chiếu các thách thức với khả năng các mặt của ta để chọn cách xử lý sát thực tế, vừa sức.
2. Trước hết xử lý thách thức nào trong tầm tay của ta, tập trung chống tham nhũng để bảo tồn và tăng cường sức đề kháng phòng ngừa thách thức bên ngoài.
3. Ưu tiên cho liên kết khu vực (Đông Nam Á). Liên kết không phải để đối đầu chống nước nào.
4. Đối với các nước lớn, quan hệ hữu hảo, không đối đầu nước nào, nhưng đều giữ khoảng cách nhất định.
5. Song song với việc kết bạn, không lơ là với việc đấu tranh khi cần thiết. Song luôn giữ giới hạn. không gây nguy cơ mất ổn định khu vực.
6. Tránh không làm gì có thể dồn hai hoặc ba đối thủ câu kết lại với nhau chống ta.
Những ý kiến trên đây có thể dùng làm đoạn kết cho phần hồi ức này của tôi, vì phản ảnh khá đầy đủ quan điểm của tôi và cho đến nay (năm 2000) xem ra nó chưa phải đã lỗi thời”.
Trần Quang Cơ.
(TTXVN/Vietnam+)

Diễn biến phiên tòa Cù Huy Hà Vũ

V2.0 : Tường thuật trực tiếp diễn biến phiên tòa Cù Huy Hà Vũ


12:56 - Tin đặc biệt từ bên trong phiên tòa của CTV Danlambao:

Phiên tòa có 4 luật sư bào chữa cho Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ. Đó là các luật sư Trần Quốc Thuận thuộc đoàn luật sư TP. HCM, Trần Đình Triển, Trần Vũ Hải và Vương Thị Thanh thuộc đoàn Luật sư Hà Nội.

Chủ tọa phiên toà là Nguyễn Sơn, thẩm phán Nguyễn Đức Nhận và một thẩm phán nữa chưa rõ tên.

Đa số những thành phần ngồi dưới là công an. Ngoài công an, thuộc diện người thân chỉ có Luật sư Cù Huy Thước, chị Dương Hà, anh J.B Nguyễn Hữu Vinh. Công an đã cố tình chặn anh Vinh lại, dù có giấy, đòi căn cước xong thì đòi thẻ, cuối cùng đấu tranh mãi anh Vinh cũng vào được.

Những người tham dự đều không được phép đem vào tòa máy ảnh, ghi âm.

Tòa quyết định không cung cấp 10 bài viết là chứng cứ kết tội.

Hiện giờ VKS đã đề nghị giữ nguyên bản án.

Tại tòa, tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ đã rất mạnh mẽ tuyên bố:

Tôi vì đất nước, vì Tổ Quốc sẵn sàng chiến đấu chống lại nguy cơ cho đất nước bằng mọi giá, kể cả cái chết !

12:40 - Hà Nội bắt đầu tạnh mưa

12:33 - bắt đầu bị CAM "lạ" tấn công bằng ddos (từ chối dịch vụ)

Theo tin từ Blog AnhBaSam: Vừa nghe tin phiên tòa tạm nghỉ trưa. 13h30′ trở lại, phần tranh tụng. Sáng nay phía Viện vẫn đề nghị mức án như trước.

11:50 - Tin từ Gloomy - bạn đọc danlambao:

- Trời mưa rất to, mọi người núp vào hàng cafe bên kia đường và mái hiên chùa Quán Sứ. Chị Xuân Bích đã tỉnh táo trở lại. Nhạc sỹ Trí Hải không bị bắt đang ngồi nghỉ cạnh cửa hàng bán vàng hương. Minh Hằng bị CA bắt lôi lên xe đưa đi đâu không rõ. Không nhìn thấy Lái Gió và bác Quang A, chắc được CA mời đi uống cafe ở nơi xa rồi. Lúc 9 - 10h đã có hiện tượng CA đánh nguội người dân. Nhờ người chụp ảnh thằng cớm mặc áo mầu lòng tôm đánh nguội một em sinh viên mặc áo phông đen, không biết có chụp được không vì nó lẩn nhanh lắm. Mọi người vẫn đang cố gắng bám trụ.

Như vậy, Nghệ sỹ Trí Hải không bị bắt như một số bản tin trước đã đưa. Chân thành cáo lỗi bạn đọc vì sự nhầm lẫn này. Chị Minh Hằng và chị Hồng hiện vẫn đang bị giam giữ trái phép tại CA Quận Hoàn Kiếm.

11:30 - Tòa bắt đầu nghỉ trưa, ngoài trời mưa không ngớt.


11:00 - Trời Hà Nội bắt đầu chuyển mưa.


10:45 - Đoàn người ủng hộ TS Cù Huy Hà Vũ vẫn kiên trì bám trụ chung quanh khu vực tòa án, đông nhất vẫn là góc ngã tư Quán Sứ - Lý Thường Kiệt.

Ước tính, hiện có khoảng hơn một ngàn người chung quanh khu vực tòa án, người dân vẫn tiếp tục kéo đến ủng hộ cho tinh thần Cù Huy Hà Vũ càng lúc càng đông hơn.

Tin bạn đọc báo động : những người bị bắt đã bị CA hành hung

Trước đó, trong cuộc xô xát xảy ra tại khu vực Quán Sứ, hai người phụ nữ là chị Hằng và chị Hồng đã bị bắt đi thô bạo. Chị Xuân Bích - em tiến sỹ Vũ cũng bị tấn công. Hiện nay sức khỏe chị Bích đang dần dần ổn định trở lại.

Nhiều cuộc điện thoại đang được gọi đến CA Quận Hoàn Kiếm - nơi đang giam người vô tội, tuy nhiên công an Hoàn Kiếm không dám nghe máy.

An ninh chìm nổi đang trà trộn vào đám đông tại khu vực ngã tư Quán Sứ - Lý Thường Kiệt, một số thanh niên đến ủng hộ TS Vũ đã bị những viên an ninh chìm này hành hung, số khác thì bị áp giải đi chỗ khác.

10:08 - Một bạn đọc danlambao nhắn tin qua facebook: Cô Bùi Thị Minh Hằng người phụ nữ biểu tình trên xe buýt đã bị bắt về đồn Công An quận Hoàn Kiếm.

Người phụ nữ thứ hai bị bắt chung với chị Hằng tên là Phan Thị Hồng, theo mô tả, chị Hồng bị lôi lên xe "như một con lợn" !


10:00 - Tin cho biết, chị Bùi Thị Minh Hằng cùng với một người phụ nữ khác đã bị công an tấn công và bắt đi, hiện không rõ hai chị đang bị giam giữ ở đâu.

Bất chấp an ninh chìm nổi dầy đặc, bị ngăn đường, người dân ủng hộ TS Cù Huy Hà Vũ đang vẫn tiếp tục kéo đến đông hơn.


09:45 - Lực lượng công an bất ngờ tấn công người dân đang đứng ôn hòa trên vỉa hè.

Theo ghi nhận, đã có một số trường hợp bị bắt đưa đi đâu không rõ.

09:45 - Một bạn đọc danlambao gửi tin nhắn : Theo quan sát, trong số những người dân đến ủng hộ TS Vũ hôm nay thấy có rất nhiều khuôn mặt từng tham gia các cuộc biểu tình chủ nhật chống TQ xâm lược.

Bên cạnh đó, theo ghi nhận thì có nhiều dân oan từ các tỉnh thành phía Nam cũng lặn lội rủ nhau kéo về Hà Nội ủng hộ TS Cù Huy Hà Vũ.


Ảnh : Blog AnhBaSam

09:35 - Bắt đầu xảy ra một số hành vi công an xô đẩy, gây gấn và ngang nhiên bắt người.

09:30 - Người dân đến tham gia phiên tòa hiện đang đứng chật cứng trên các vỉa hè, ở khu vực ngã tư Lý Thường Kiệt - Quán Sứ

09:15 - Hiện tại, lượng người kéo đến tham gia phiên tòa và ủng hộ TS Cù Huy Hà Vũ càng lúc càng đông hơn. Người dân đang bị đẩy lui về phía chùa Quán Sứ. Công an chìm nổi xuất hiện khắp nơi, đang cố gắng giải tán đám đông.


Ảnh : CTV Dân Làm Báo

09:15 - Hiện tại, số lượng người kéo đến tham gia phiên tòa và ủng hộ TS Cù Huy Hà Vũ càng lúc càng đông hơn.


09:00 - Tin mới nhận, công an đã "hộ tống" blogger Người Buôn Gió về đến một nhà người quen của Gió gần khu vực tòa án 500m . Nhiều công an canh đứng đầy ngoài cửa canh giữ nghiêm ngặt và ngăn không cho anh trở lại khuôn viên tòa án.


Xe Bus chuẩn bị bắt người tại đường Hai Bà Trưng. Ảnh : CTV Dân Làm Báo

08:45 - Lúc này, người dân đến tham dự phiên tòa đã bị công an dồn đẩy về đoạn đường Lý Thường Kiệt. Tin cho biết, có khoảng vài trăm người đang cố gắng kiên trì bám trụ tại khu vực ngã tư Lý Thường Kiệt - Quán Sứ.

Blogger Người Buôn Gió đã bị công an chặn giữ gần khu vực tòa án. Chị Cù Xuân Bích - em của tiến sĩ Hà Vũ không được vào tham dự phiên tòa.


Ảnh : CTV Dân Làm Báo

08:30 - Theo quan sát, tất cả các ngả đường dẫn vào Tòa án nhân dân TP Hà Nội đều đã bị chốt chặn, các loại hàng rào cả người lẫn công an được dựng lên trong bán kính ít nhất 200m xung quanh khu vực tòa án.

Người dân đến theo dõi phiên tòa chưa thể đến gần để quan sát & theo dõi diễn tiến phiên tòa. Hiện tại một số tuyến đường xảy ra tình trạng tắc nghẽn giao thông. Nhiều nhóm nhỏ đang bắt đầu hình thành.


LS Nguyễn Thị Dương Hà cầm trên tay biểu ngữ : Chồng tôi vô tội. Ảnh : Xuân Diện

08:15 - Trên đường Lý Thường Kiệt, gần khu vực Tòa án có khoảng một nhóm vài chục người đang đứng, một số người cầm theo biểu ngữ đòi trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ

Công an với số lượng đông đảo đang bao vây, tìm cách giải tán. Loa phóng thanh từ xe CA tiếp tục ra rả đọc nghị định 38 CP về việc tập trung đông người, đồng thời nhiều lần đe dọa sẽ "cưỡng chế"…

Tại sao lại đàn áp những người biểu tình? | Nguyễn Hưng Quốc Blog | VOA Tiếng Việt

Bấm vào dưới đây để vào đường dẫn đã nhận:
Tại sao lại đàn áp những người biểu tình? | Nguyễn Hưng Quốc Blog | VOA Tiếng Việt
Chuyển tiếp đường dẫn này
* Bài viết này cũng có thể được truy cập bằng cách sao chép và dán toàn bộ địa chỉ dưới đây vào trình duyệt web của bạn.
http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/tai-sao-dan-ap-07-27-2011-126265208.html

Từ tai nạn trên cầu Ghềnh, nghĩ về đường sắt cao tốc

Ngày đầu xuân nghe tin đoàn tàu Thống Nhất đâm cả dòng xe trên cầu khiến nhiều người không khỏi ngỡ ngàng. Hóa ra trên tuyến đường sắt huyết mạch chạy dọc dải đất hình chữ S này còn có nhiều chỗ tàu hỏa chạy chung làn với giao thông đường bộ.
Cầu Ghềnh đã có lịch sử lâu đời
Lúc đầu cứ ngỡ đó là con đường mòn phục vụ dân sinh, hóa ra chả phải, đó là một tuyến đường khá quan trọng, mật độ phương tiện khá cao băng qua sông Đồng Nai và ngay trong lòng thành phố Biên Hòa.
Có thể vụ tai nạn nghiêm trọng có khởi nguồn từ hành vi vô ý thức của người tham gia giao thông khiến đường trên cầu bị tắc. Nhưng về mặt bảo đảm an toàn giao thông, đó là một trường hợp có xác suất xảy ra khá cao mà ngành đường sắt buộc phải tính tới khi vận hành hệ thống tàu Bắc- Nam.
Có một số đặc điểm khiến cho vụ tai nạn này có tính chất khác biệt với các vụ tàu hỏa đâm ô tô tại các điểm giao cắt thi thoảng vẫn xảy ra.
Những chiếc ôtô khác cũng bị nạn
Cầu Ghềnh là một điểm "xung đột giao cắt" giữa giao thông đường bộ và đường sắt rất đặc biệt, với chỉ một làn đường thực tế được sử dụng «luân phiên» giữa hai hướng xe cộ, cầu có chiều dài khá lớn, lên tới 700m nên nguy cơ bị tắc đường là khá cao. Nguyên nhân vì xe hai chiều không nhường nhau hoặc vì nghẽn ở đường dẫn đầu cầu khiến xe không thoát được hoặc vì sự cố kỹ thuật trên cầu. Lại vì trên cầu hẹp, vướng kết cấu cầu nên xe cộ không thể chủ động dịch sang ngang để tránh tàu. Như vậy, một khi đã leo lên cầu, người và phương tiện phó mặc số phận cho ngành đường sắt. Điều đáng nói nữa là, các phương tiện chuyển động dọc theo đường ray nên nếu có va chạm hậu quả sẽ cực kỳ thảm khốc vì đâm trực diện và kéo tùa cả dòng xe trên cầu trong khi quán tính của tàu hỏa rất lớn.
Hiện trường được phong tỏa để điều tra
Tại điểm giao cắt thông thường, đường bộ giao với đường sắt, chiều dài giao cắt xung đột chỉ khoảng 2m, thời gian băng qua giao cắt chỉ trong tích tắc, trong không gian thoáng đãng người lái xe có nhiều sự lựa chọn thao tác một cách chủ động. Do đó, tai nạn xảy ra thường đến từ sự quá bất cẩn hoặc cố tình vượt ẩu.
Sự khác biệt còn đến từ quyền ưu tiên và tầm nhìn.
Trong giao thông có quy tắc đường chính- phụ. Khi giao cắt với đường sắt, bao giờ cũng phải nhường quyền ưu tiên cho tàu hỏa. Về nguyên tắc, kể cả khi không có rào chắn, chuông, tín hiệu, khi lái xe tiếp cận với đường sắt phải đi chậm lại hoặc dừng hẳn (biển STOP), quan sát rồi mới vượt qua. Trái lại, trong trường hợp vụ tai nạn ở cầu Ghềnh, vì tầm nhìn của người điều khiển không thể đủ để phát hiện tàu hỏa do cầu quá dài và họ cũng không làm chủ thời gian băng qua cầu (giả sử gặp xe nào chắn ngang thì chưa biết khi nào qua). Người tham gia giao thông không đủ thông tin và giải pháp hành động để nhường đường cho tàu hỏa. Vì thế, ngành đường sắt phải có trách nhiệm chuyển quyền ưu tiên cho tàu hỏa.
Như vậy, dù kết quả điều tra diễn ra như thế nào thì trách nhiệm của ngành đường sắt cũng không hề nhỏ. Tuy nhiên dưới góc độ rủi ro vận hành hệ thống mà nói, với phương thức chia sẻ giao thông đường bộ - đường sắt quá nguy hiểm như thế này tai nạn xảy ra như là điều tất yếu, vấn đề chỉ là thời gian. Đèn tín hiệu hỏng?, nhân viên trực có đôi phút lơ là?, Người lái tàu quan sát sai ? Tại sao không ?. Chỉ cần một trong ba nhân tố có vấn đề, ngay lập tức tai nạn nghiêm trọng sẽ xẩy ra vì hầu như luôn có phương tiện trên cầu và các phương tiện đường bộ không có giải pháp lựa chọn như phân tích ở trên.
Từ vụ việc này, chúng ta đặt câu hỏi bao nhiêu điểm dọc đất nước, người điều khiển tàu còn phải đợi lệnh đường thông – dè chừng và giảm tốc khi băng qua. Và điều đó gây tổn thất bao nhiêu thời gian hành trình, cần phải tuyển dụng bao nhiêu nhân viên trực gác, trong khi bao nhiêu tai nạn vẫn xảy ra hàng năm?
Vấn đề đặt ra có lẽ cần phải hiện đại hóa nhanh chóng hệ thống sẵn có, để rút ngắn thời gian hành trình, giảm thiểu tai nạn cũng như để người dân và nhân viên trong ngành đường sắt làm quen- tiếp cận trước khi nghĩ tới bước đại nhảy vọt lên đường sắt cao tốc ở thuộc top 20 của thế giới.
Không có thống kê chính xác nhưng có lẽ Việt Nam là một trong số những nước cuối cùng còn có kiểu chung đường sắt- đường bộ cực kỳ nguy hiểm như ở cầu Ghềnh. Đồng tiền vay nợ liệu có thể tạo ra bước nhảy vọt từ tóp cuối lên tóp đầu hay không? Câu trả lời vẫn lại là một dấu hỏi: Nhân viên ngành đường sắt đã sẵn sàng để vận hành chưa? Người dân đã sẵn tiền để đi chưa? Người dân dọc 2 bên đường sẽ "đón tiếp" nó như thế nào?…
Đường sắt cao tốc- giấc mơ giữa đêm hè bị cúp điện
* Vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng giao thông trong đó có Đường Sắt Cao Tốc vốn nằm trong lĩnh vực chuyên môn của tôi và tôi cũng tham gia học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực này tại Châu Âu - cái nôi của tàu cao tốc. Vì đã có nhiều ý kiến tranh luận trên tinh thần khoa học, nên tôi xin được trình bày dưới một góc nhìn hài hước, bình dân hơn.
Năm 2010, trong cái nắng oi ả của mùa hè, người dân xôn xao bàn luận chuyện quốc gia đại sự- đường sắt cao tốc- có vẻ gay gắt lắm. Thấy có người đỏ mặt tía tai búng tỉ này tỉ nọ cứ gọi là tanh tách, lại có người sợ xanh mặt vì nợ.
Lại nói từ ngày giá thực phẩm đại nhảy vọt, lâu lâu lại cúm gà, heo tai xanh, bữa cơm trở nên đạm bạc với quả cà, chén nước mắm với con cá trích xương nhiều hơn thịt. Ngày ngày tới sở làm trong nỗi khổ triền miên của tắc đường và những cơn mưa bụi. Thời tiết ngày càng khắc nghiệt, sông hồ cạn kiệt, cắt điện diễn ra như cơm bữa khiến giấc ngủ đêm hè sao mà khó đến. Đêm đêm, văng vẳng tiếng mụ vợ than thở chuyện chợ búa đắt đỏ, chuyện học hành của con cái tốn kém. Gian nhà thuê trọ bé xíu rung lên bần bật vì tiếng máy của công trường xây dựng ngoài kia. Thành phố đang ngày một mở mang, khu dân cư quy hoạch mọc lên như nấm sau cơn mưa. Những toà nhà cao ngất ngưỡng ngạo nghễ mọc lên như minh chứng cho siêu lợi nhuận của ngành bất động sản. Một tỉ, hai tỉ rồi lên 3 bốn tỉ, niềm mong mỏi của cặp vợ chồng cử nhân - kỹ sư cứ mãi rời xa dần dành chỗ cho những lô đất trống, căn hộ rỗng của giới đầu cơ.
Canh một, canh hai rồi cũng tới lúc chìm vào giấc ngủ bỏ lại những bộn bề cuộc sống cho ngày mai khi ông mặt trời thức dậy. Thoát hồn khỏi thực tại, ta mơ mình lạc vào một xứ sở mộng mơ, sáng hút thuốc lào ở Hồ Gươm, trưa nhâm nhi café ở hồ Con Rùa. Đoàn tàu cao tốc lướt bay vun vút bỏ phía sau màu xanh bát ngát của cánh đồng đôla nợ còn thơm mùi mực. Khoảng cách địa lý trở nên nhỏ nhoi trước sức mạnh của đồng tiền. Đất nước hình chữ S rất đỗi thân thương không còn xa cách trong niềm vui hỉ hả của người công nhân xa quê, của cô cậu học trò háo hức về nhà thăm bố mẹ mỗi dịp lễ Tết.
Bao năm mơ ước thoát nghèo còn dang dở, tham vọng có trường ĐH trong top 200 sao xa vời thế. Bỗng chốc nước Nam ghi danh vào top 20 những quốc gia đầu tiên trên thế giới sở hữu hệ thống Đường Sắt Cao Tốc (ĐSCT), niềm vinh dự này lớn lao lắm thay. Chợt lòng thấy căm hận những kẻ tự hạ mình cho rằng đang ở sau Nhật, Pháp hàng trăm năm. Chỉ với dự án này thôi, chúng ta đã sánh vai với các cường quốc năm châu.
Người Việt trở thành những công dân lạc quan bậc nhất thế giới. Sáng chè xanh cồn cào, trưa cơm cà với nồi canh toàn quốc, tối về một gói mì tôm nhưng mỗi ngày mất 30 phút phân vân lựa chọn con Mẹc hay con Cam rì để phóng tới sở làm. Ăn chơi xá chi tốn kém, nhà ta có thể ở trọ, đường có thể tắc, tiền không có thì ta vay ngân hàng nhưng đã chơi là phải tới bến. Phen này ta quyết mua xe hơi cho bằng chị bằng em với mấy tên nhà giàu.
Vì thế, ta giận điên lên vì nhóm người chủ trương bàn lùi. Hành khách không đông thì rồi sẽ đông, hàng hoá không chuyên chở bằng tàu cao tốc thì ta xây thêm đường tàu thường hoặc nhờ bạn đường bộ. Lại có kẻ dèm pha chuyện trả nợ, ô hay lo gì ba cái chuyện lẻ tẻ mặc dù số tiền đầu tư lớn hơn 3 lần tổng dự trữ ngoại tệ quốc gia (khoảng 20 tỉ). Ta giận lắm đám người lo chuyện bao đồng, chả nhẽ các ngươi không mong được đi lại nhanh chóng - tiện nghi. Ta còn nhớ những chuyến tàu ì ạch Bắc Nam kéo dài lê thê 30h mà thèm khát những con tàu cao tốc băng băng chỉ trong 6 tiếng. Trong mơ, bay bổng với tốc độ 300km trên giờ của Shinkansen, ta gật đầu cái rụp với viễn cảnh tươi sáng này. Nợ nần là việc quốc gia đại sự ở thì tương lai, trong khi lợi ích của việc rút ngắn thời gian đi lại là rõ ràng cho mỗi cá nhân chúng ta. Thử hỏi đã có nước nào người ta chia mấy chục tỉ đô nợ nần cho mỗi người vài ngàn phải trả đâu mà phải lo.
Ta giận lắm những người phá đám ấy nên chẳng muốn dung nạp họ lên những toa tàu hiện đại. Đường sắt cao tốc chỉ như một món ăn cao lương mỹ vị thêm vào thực đơn sẵn có đâu có phá hoại gì tới lợi ích của họ. Người giàu vẫn đáp máy bay từ HN vào SG, người nghèo vẫn vạ vật trên những chuyến xe tốc hành. Tàu cao tốc của ta không làm thay đổi gì đáng kể cục diện kinh tế - xã hội đã đang tồn tại, có chăng chỉ là sự thay đổi thị phần vận chuyển và thêm một sự lựa chọn cho mọi người.
Ta giận lắm những người lớn giọng phê phán hiệu quả tài chính kém và không có khả năng hoàn vốn. Rõ là ấu trĩ khi cái ta mong chờ là một thứ hiệu quả tổng hợp kinh tế - xã hội - an ninh quốc phòng như trường hợp đường Hồ Chí Minh.
Chợt bừng tỉnh vì tiếng muỗi vo ve mà cây quạt đã ngừng quay vì cắt điện luân phiên. Ta gác tay lên trán hồi tưởng lại giấc mơ đẹp. Nghĩ tới đây chợt giật mình vì ĐSCT chỉ như một sự lựa chọn bổ sung trung gian giữa các phương thức vận tải sẵn có; nó chỉ làm cho thị trường vận chuyển thêm tính cạnh tranh chứ đào đâu ra một cuộc cánh mạng mang tính khai phá. Làm sao có những đô thị, những trung tâm công nghiệp mở mang 2 bên đường như thể đem điện về với bản làng trong trường hợp đường HCM. Giá vé đắt ngang ngửa đường không và cự ly 2 ga lớn khiến tàu cao tốc chưa bao giờ là phương tiện sử dụng để giãn dân, như giấc mơ sáng sáng cắp cặp ra ga Vinh đi làm ở thủ đô. Chi phí vận hành đắt đỏ khiến tàu cao tốc chưa bao giờ giữ vai trò đáng kể trong việc vận chuyển hàng hoá. Và như thế, tác động thúc đẩy phát triển kinh tế là không tương xứng với đống tiền khổng lồ bỏ ra.
Trong bối cảnh lợi ích kinh tế không thuyết phục (*), đề xuất đầu tư phải là doanh nghiệp lời ăn lỗ chịu chứ không phải là móc hầu bao của nhà nước để con cháu è cổ trả nợ trong tương lai. Cũng là nhanh chóng tiện nghi, ta nghĩ tới vai trò của các hãng hàng không hoạt động cạnh tranh theo nguyên tắc thị trường. Trong trường hợp này nhà nước chỉ cần đứng ngoài cuộc thổi còi động viên mà không cần vay nợ một khoản tiền rất lớn.
Ngoài ngõ tiếng rao bánh mì lúc trầm lúc bổng báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Thiên hạ hối hả đổ xô ra đường vì một cuộc trường chinh kéo dài gần 1 tiếng đồng hồ cho chặng đường vài km. Có một giấc mơ năm 2030 sáng hút thuốc lào ở Hồ Gươm, trưa nhâm nhi café ở hồ Con Rùa và có một thực tế là Hà Nội phấn đấu tới năm 2030 không tái diễn cảnh rời nhà từ sáng sớm và đến sở làm khi đã quá trưa…
-------------------------------------------
(*) Trên thực tế, có nhiều công trình mặc dù không có khả năng hoàn vốn về mặt tài chính, nhưng nhà nước vẫn đầu tư để tạo cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế. Đặc biệt là các dự án đường bộ mở mang phát triển kinh tế ở các khu vực khó khăn. Dự án Đường sắt cao tốc đương nhiên có lợi ích về mặt kinh tế nhưng không tương xứng với số vốn khổng lồ. Và lợi ích mang lại do thúc đẩy phát triển kinh tế trở nên nhỏ nhoi nếu so với việc đem số tiền này đầu tư phát triển mạng lưới đường cao tốc ngang dọc đất nước và nâng cấp đường sắt hiện có.
Nguyễn Việt
Ý kiến bạn đọc (11)
Bài viết rất hay
Quả thật vấn đề đường sắt Cao tốc Bắc Nam đang là vấn đề gây trăn trở cho tất cả mọi người. Thực tế mà nói, bài viết đã nói rất hay những vấn đề mà mọi người quan tâm, và cái quan trọng nhất là bài viết đã đứng trên phương diện của rất rất nhiều ý kiến của mọi người.
Xin chân thành cảm ơn tác giả bài viết.

(Lê Lan Phương)
Ước gì các nhà lãnh đạo có những suy nghĩ như thế này
Bài viết của bạn hay quá, thiết nghĩ các vị lãnh đạo nhà nước ta làm việc gì thì cũng nên nghĩ đến lợi ích của nhân dân...
Thiết nghĩ chúng ta hãy làm tốt cái thực tế dân đang cần đi đã rồi hãy nghĩ đến cái xa xỉ... Điện đang thiếu, nước sạch dân không có dùng, đường bộ xuống cấp, bụi mù... hãy nghĩ đến những thứ đó trước khi nghĩ đến cái cao siêu. Hãy được ăn no đã trước khi cần ăn ngon.

……………………………………

Lịch sử cần sự thật

Tác giả: TRẦN KINH NGHỊ*
Bài đã được xuất bản.: 28/12/2010 04:00 GMT+7
Kẻ mạnh thường thắng kẻ yếu, và sự thôn tính lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc gia vốn là một thực tế hiển nhiên trong lịch sử nhân loại, nhưng điều quan trọng có tính nguyên tắc là, mọi sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và giữ gìn một cách trung thực.
>> Lịch sử đâu phải thích bẻ cong, uốn thẳng là được!
Tuần Việt Nam giới thiệu góc nhìn riêng của tác giả Trần Kinh Nghị, nguyên là một nhà ngoại giao lâu năm, nguyên Phó Đại sứ Việt Nam tại Đan Mạch.
Hồi đầu năm nay đã rộ lên sự kiện một nữ nghiên cứu sinh người Việt tại Mỹ tên là Đào Ngọc Bích viết bài cho BBC nói rằng Việt Nam là từ Trung Quốc mà ra(!) để rồi ngay sau đó bị đông đảo dư luận trong và ngoài nước "đánh" cho tả tơi, rơi rụng. Không chỉ vậy, chính cô cựu sinh viên Đại học Ngoại ngữ Hà Nội này, trong nỗ tự lực bào chữa cho mình, đã "đổ tại" quá trình đào tạo môn lịch sử khi cô còn ở Việt Nam.
Mới đây dư luận lại được một phen bức xúc nữa khi một vị giáo sư người Trung Quốc tên là Vương Hàn Lĩnh cho rằng "kể từ năm 1885 về trước Việt Nam là thuộc quốc của Trung Quốc".
Thực ra không phải chỉ một mình cô Bích hay ông Lĩnh mà còn khá đông đảo người Việt Nam và Trung Quốc đều chưa hiểu đúng về lịch sử của đất nước mình, đặc biệt là lịch sử liên quan đến mối quan hệ lâu đời của hai quốc gia dân tộc "núi liền núi, sông liền sông" này. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng hiểu biết lịch sử "lệch lạc" như vậy nhưng có một nguyên nhân sâu xa nằm ở những "góc khuất" trong sử sách khi nói về nguồn cội dân tộc của mỗi nước.
Vẫn biết, kẻ mạnh thường thắng kẻ yếu, và sự thôn tính lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc gia vốn là một thực tế hiển nhiên trong lịch sử nhân loại, nhưng điều quan trọng có tính nguyên tắc là, mọi sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và giữ gìn một cách trung thực.
Với tinh thần đó, người viết bài này xin được nêu lên một vài điều suy nghĩ lâu nay để mọi người cùng suy ngẫm nhằm tìm ra một lời giải.
Một là, về cội nguồn dân tộc, có thể nói không chỉ truyền thuyết mà cả sử sách (của cả Trung Quốc và Việt Nam) dù có nhiều điều chưa được làm sáng tỏ hoặc chưa thỏa đáng, cũng cho thấy rằng nước Việt Nam ngày nay là một thực thể thống nhất duy nhất còn lại của Bách Việt - một tên gọi chung cho nhiều tộc người Việt đã từng định cư hàng ngàn năm trước Công nguyên trên vùng lãnh thổ rộng lớn từ bờ Nam Sông Dương Tử xuống miền Bắc Việt Nam ngày nay, phía Tây giáp Tân Cương, phía Đông giáp biển Thái Bình Dương.
Sử sách cũng cho thấy Người Hán "nam tiến" với thế mạnh của kỵ binh nhưng đã phải mất hàng ngàn năm (quãng giữa thiên niên kỷ thứ 2 trước CN đến đầu thiên niên kỷ thứ nhất sau CN) để xâm chiếm, chinh phục và đồng hóa hầu hết các bộ tộc hoặc vương quốc có tên tuổi của người Bách Việt (xem bản đồ minh họa*). Đó là một quá trình kéo dài với biết bao biến cố lịch sử phức tạp mà trong đó có nhiều sự kiện đã bị lãng quên hoặc bị xuyên tạc, thậm chí bị "tráo đổi" tùy theo mục đích của các triều đại phong kiến thống trị trong các thời kỳ khác nhau, đặc biệt là thời nhà Hán và nhà Đường.
Tuy nhiên có một thực tại không thể bác bỏ là, riêng Lạc Việt mặc dù bị các triều đại phong kiến Hán Hoa thay nhau thống trị từ năm 179 TCN đến 905 nhưng vẫn tồn tại và phát triển với tư cách một quốc gia dân tộc độc lập như ngày nay. Sử sách thường gọi đó là "thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc" mặc dù đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của người Việt liên tục nỗ ra trong suốt quá trình đó.
Có thể nói, đó là quá trình lịch sử tang thương của Bách Việt nói chung, nhưng cũng là trang sử hào hùng đối với dân tộc Việt Nam nói riêng. Sự tồn tại và phát triển của Việt Nam không phải là trường hợp ngẫu nhiên mà là kết cục của cả quá trình đấu tranh sinh tồn của người Bách Việt nói chung mà các thế hệ người Việt Nam nói riêng và cội nguồn Bách Việt nói chung không bao giờ được phép lãng quên.
Theo truyền thuyết thì nguồn gốc tổ tiên của Việt Nam bắt nguồn từ Hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay) bắt đầu bằng Thời đại Hồng Bàng của Kinh Dương Vương (có sách ghi cụ thể năm 2789 TCN). Thuyết này trùng khớp với các câu chuyện cổ tích về Âu Cơ-Lạc Long Quân, các Vua Hùng, mối tình Mỵ Châu-Trọng Thủy và chiếc nỏ thần v.v...
Câu dân ca Việt cổ "Công cha như núi Thái Sơn (gần Hồ Động Đình), nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra..." cũng là một sự trùng hợp. Truyền thuyết này cũng được kiểm chứng bằng một số kết quả nghiên cứu quả khảo cổ, nhân chủng và ngôn ngữ, qua các di chỉ đồ đá, trống đồng, nghề trồng lúa nước và những khác biệt gen di tuyền v.v...
Kết hợp cả truyền thuyết và cổ sử ta có thể nhận thấy trong suốt quá trình "Nam tiến" và "Đông tiến" của Hán tộc, các tộc người Bách Việt như Ngô Việt, Âu Việt, Dương Việt, Đông Việt, Nam Việt, Man Việt, Di Việt v.v.... đều không thoát khỏi bị thôn tính và đồng hóa...., để cuối cùng đều biến thành "người Hoa" hiện đại. Nhưng riêng Lạc Việt vẫn tồn tại, có thời kỳ bao gồm cả vùng đất Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc Bộ ngày nay.
Theo dòng lịch sử, ta còn thấy một thực tế là đã từng có rất nhiều người gốc Bách Việt tham gia vào bộ máy đô hộ của phong kiến Trung Hoa trong các thời kỳ khác nhau nhưng đã chọn Lạc Việt (sau là Chân Lạp, Giao Chỉ...) làm "hậu cứ" để chống lại Vương triều trung ương (như Hồ Quý Ly, Lý Bôn, Lý Bí chẳng hạn); rất nhiều người trong số họ thực sự đã tái hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam.Cũng đã từng diễn ra những đợt rời bỏ quê hương của người Hoa gốc Bách Việt thuộc nhiều thế hệ trước đến định cư tại Việt Nam và các nước Đông Nam Á.
Sử cận đại Trung Quốc cũng cho thấy, cho mãi đến những năm 1940 danh từ "dân tộc Việt" mới bị Tôn Trung Sơn chủ trương xóa bỏ trong bản đồ dân số Trung Quốc. Cho đến này nay để ý thấy ít nhiều vẫn còn những tình cảm kỳ thị giữa các cộng đồng gốc gác Bách Việt tại Trung Quốc với người "từ phương Bắc".
Bản thân người viết bài này hồi nhỏ đã có dịp học tập tại Quảng Tây nới có gần 20 triệu người dân tộc Choang (còn gọi là Tráng) vốn là họ hàng của tộc Việt, mới đây trong chuyến du lịch mấy tĩnh phía Nam Trung Quốc đã được dịp "kiểm nghiệm"điều này qua chuyện trò với một số người bản địa.Tin tức cũng cho thấy người Đài Loan gần đây đã viện dẫn đến yếu tố "người bản địa" Man Việt trong cuộc đấu tranh bảo vệ sự tồn tại độc lập với Đại lục. Nhiều thông tin, dữ liệu của các nhà nghiên cứu Bách Việt học quốc tế cũng đáng được xem xét để góp phần làm sáng tỏ hơn về nguồn gốc dân tộc và nhân văn của của Việt Nam và khu vực Đông Á và Đông Nam Á nói chung.
Thiết nghĩ, những sử liệu và sự kiện trên đây ít nhiều tự chúng đã nói lên những sự thật khách quan xung quanh những "góc khuất" trong cổ sử và chính sử liên quan đến cội nguồn dân tộc và quan hệ giữa hai nước Việt-Trung. Khách quan mà nói đó là hướng đi tích cực cho mục đích xây dựng mối quan hệ hữu nghị bình đẳng lâu dài giữa hai nước và trong khu vực nói chung.
Hai là, về nhân văn, tuy chỉ dựa vào các nguồn sử sách cổ để lại từ thời "1.000 năm Bắc thuộc", ta cũng có thể thấy Việt Nam là kết tinh, là đại diện của Bách Việt. Về góc độ văn hoá, kể cả phong tục tập quán, ngôn ngữ, Việt Nam và Trung Quốc ngày nay có rất nhiều điểm tương đồng, đồng thời cũng có rất nhiều điểm khác biệt. Đặc điểm này nếu được hiểu và vận dụng một cách đúng đắn sẽ có tác dụng tích cực cho việc phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị và bình đẳng giữa hai nước, chứ không có gì là không tốt như một số người có thể nghĩ.
Tuy nhiên trên thực tế không được như vậy vì có quá nhiều sự thật đã bị xuyên tạc, có những giá trị đã bị "tráo đổi" trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm qua mà trong đó phần lợi bao giờ cũng nghiêng về phía kẻ mạnh.
Xin đơn cử vài ví dụ: Thế giới lâu nay vẫn tin rằng Kinh Dịch là của người Trung Quốc. Nhưng thực ra gần đây các chứng cứ khảo cổ quốc tế đã cho thấy trống đồng không phải của người Hán mà là của các dân tộc phương Nam. Kết luận này cho phép các nhà nghiên cứu suy ra rằng những hình khắc biểu tượng Kinh Dịch trên trống cũng không phải của người Hán; và do đó chủ nhân của Kinh Dịch chính là người Bách Việt, cụ thể hơn là của người Âu Việt và Lạc Việt.
Về ngôn ngữ, đã từ lâu người Việt Nam an phận đón nhận chũ Nho (tốt đẹp) của người Hán (còn gọi là Hán Nôm). Nhưng có một số luận điểm khác cho rằng người Hán trong quá trình xâm lược đã sử dụng ngôn ngữ của người Bách Việt, cụ thể là của Ngô Việt (tại vùng Việt Châu, tỉnh Chiết Giang và Phúc Kiến ngày nay) để cải tiến thành chữ Hán, rồi thành tiếng Trung hiện đại. Lập luận này dựa trên cơ sở nghiên cứu về ngữ nghĩa, âm thanh, ngữ pháp v.v... cho thấy một tỷ lệ rất cao các nhân tố ngôn ngữ Bách Việt trong tiếng Hán cỗ và tiếng Trung ngày nay. Đó là hiện tượng các danh từ nhưng có tính từ được xếp sau danh từ được thấy phổ biến trong Kinh Thi và ngay ở tên gọi các vị Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn vốn được coi là truyền thuyết Trung Quốc ; từ "Việt" hiển thị với tầng số rất cao trong các tên địa danh ở miền Nam Trung Quốc; từ "giang" (sông) của tiếng Việt cổ được sử dụng cho hầu hết các con sông miền Nam Trung Quốc (trong khi ở miền Bắc gọi là "hà"); tuồng Kinh kịch ở phía Nam Trung Quốc ngày nay vẫn còn gọi là "Việt kich", v.v...
Thuyết này đồng thời cũng đặt ra mối nghi vấn rằng di chỉ thẻ tre có khắc chữ Hán cổ là "giả mạo" vì vào thời đó người Hán chưa có mặt ở miền đất phía Nam nơi có cây tre đủ to để làm thẻ viết. Tương tự cũng có sự "nhập nhằng" về chủ thể của "con đường tơ lụa" vì đúng ra người Bách Việt mới có thể là chủ thể của sản vật tơ lụa làm từ cây dâu tằm chỉ có ở vùng đất phương Nam. Rất nhiều luận điểm và luận cứ tượng tự cũng đã được nhiều học giả Việt Nam và quốc tế nêu ra.
Tóm lại, dù bị người Hán cố tình đồng hóa bằng rất nhiểu thủ đoạn tinh vi và cường bạo như đốt sách, bắt từ bỏ, xóa bỏ hoặc tráo đổi v.v..., nhưng các dấu tích Bách Việt vẫn còn đó cho đến ngày nay. Trong suốt quá trình đấu tranh sinh tồn khốc liệt bên thua trận ắt chịu nhiều mất mát, nhưng những gì là bản sắc riêng vẫn còn đó; và điều này có thể nhận thấy qua nhiều nét tương đồng giữa Việt Nam với các tỉnh phía Nam và Đông Nam Trung Quốc ngày nay cũng như với các nước Đông Nam Á.
Ba là, công tác nghiên cứu và giáo dục về lịch sử cần đi sâu hơn nữa về nguồn gốc dân tộc cùng các giá trị nhân văn trên tinh thần khách quan, dựa trên chứng cứ khoa học biện chứng lịch sử, khảo cổ, nhân chủng... (chứ không chỉ dựa vào sử sách củ để lại từ thời Bắc thuộc). Thiết nghĩ, trong việc này những kiến thức xác thực về Bách Việt sẽ giúp giải mã rất nhiều điều mà lâu nay chưa cảm thấy thỏa đáng hoặc chỉ là "ngộ nhận".
Công tác sử học cũng cần tập trung nghiên cứu và bổ cứu lại toàn diện, đặc biệt về lĩnh vực nguồn gốc dân tộc và nhân văn của người Việt nhằm làm sáng tỏ những kiến thức mang tính truyền thuyết kết hợp với những chứng cứ lịch sử dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khảo cổ và gen di truyền v.v... Khi có đủ dữ liệu thì công khai chỉnh sửa những mọi sự sai lệnh hoặc bị xuyên tạc hoặc bị giả mạo trong sách sử cũ dưới bất cứ hinh thức nào, của bất cứ thời đại nào.
Lý do là vì toàn bộ sách sử cổ của Việt Nam đều đã bị đốt và thủ tiêu trong các thời kỳ "1000 năm Bắc thuộc"; các sách sử hiện có, kể cả Đại Việt sử ký, đều là sử "chép lại" dựa chủ yếu vào các nguồn sử của các thời Hán, Đường và "hậu Hán Đường" nên không thể đảm bảo tính chính xác, trung thực và đầy đủ được; thật nguy hại nếu đã có những sự thật đã bị xuyên tạc, thậm chí đã bị tráo đổi trong đó.
Mặc khác, cũng cần thừa nhận những khiếm khuyết trong khâu giáo dục công dân về lịch sử trong thời gian qua ở nước ta với những hậu quả "nhãn tiền" như đã được nhiều lần cảnh báo trước công luận. Thật nguy hại nếu mọi công dân đều hiểu biết sơ sài, thậm chí hiểu sai lệch về lịch sử của đất nước mình. Ví dụ khi nói mình "con rồng cháu tiên" nhưng trong lòng phân vân không biết có đúng thật không vì thấy ở Trung Quốc người ta cũng nói như vậy; không biết tại sao người Việt có các họ giống như người Trung Quốc, không biết chắc nên thiếu tự tin rằng trống đồng là bảo bối của dân tộc Việt Nam; không dám đòi quyền chủ thể của Kinh Dịch, v.v...
Tương tự, trong lĩnh vực ngôn ngữ, sao ta không đặt mạnh vấn đề nghiên cứu xem tiếng Việt có chữ viết cổ? Lẽ nào ta dân tộc ta chỉ có chữ Hán Nôm? Có lẽ vì không biết mình là ai, nên đến ngày nay vẫn lúng túng không biết nên bảo tồn cái gì, thay thế, xoá bỏ cái gì để thực hiện "trong sáng tiếng Việt"?.Thậm chí có người cứ "vô tư" nhận mình là "con cháu" của người Trung Quốc (trong khi phía bên kia không nghĩ như vậy).
Cũng cần xem xét lại một số khái niệm và quan niệm như cho rằng văn hóa Việt "bị ảnh hưởng" của văn hóa Trung Quốc là không hoàn toàn chính xác (mà thực chất đó chỉ là một sự giao thoa và ảnh hưởng qua lại); cách hiểu về nguồn gốc đạo Phật, Đạo Khổng, về Chữ Nho và Nho Giáo cũng có nhiều điều phải bàn thêm, v.v... Chỉ khi nào hiểu đúng về nguồn gốc dân tộc và tự tin với những giá trị nhân văn riêng, người Việt Nam ngày nay mới thực sự tìm lại chính mình và thoát khỏi nỗi mặc cảm truyền kiếp luôn thấy yếu kém và phụ thuộc các thế lực bên ngoài.
Thay cho lời kết
Những lập luận trên đây chỉ là ý kiến cá nhân của người viết để nhắc lại rằng dân tộc Việt Nam có cội nguồn lâu đời với những giá trị nhân văn không thua kém các dân tộc khác. Đó là một lịch sử cần được tôn trọng bằng các chứng cứ khoa học khách quan chứ không chỉ bằng truyền thuyết; ngay cả sử sách cũng phải được kiểm chứng lại bằng các kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc.
Theo hướng đó, bài viết chỉ nêu lên một thực trạng tình hình đồng thời gợi ra một số việc cần làm thêm (chứ không nhằm phê phán ai hoặc nước nào) với hy vọng góp phần đem lại sự hiểu biết đúng đắn hơn về lịch sử và cội nguồn dân tộc của Việt Nam cũng như các bên liên quan khác trong khu vực, coi đó là cơ sở để đảm bảo mối quan hệ hữu nghị, bình đẳng lâu dài giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như giữa các nước khu vực với nhau./.
---
Tài liệu tham khảo
- Mục Bách Việt trong Bách khoa toàn thư mở -Wikipedia, và rất nhiều tài liệu khác nhau được liên kết trong tài liệu này.
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.

Tên lửa Shaddock Việt Nam bảo vệ Biển Đông

Saturday, 3. October 2009, 08:56:17
Bản đồ chủ quyền Việt Nam
VIỆT NAM CŨNG LÀ NƯỚC DUY NHẤT ĐƯỢC RUSSIA BÁN CHO LOẠI TÊN LỬA NÀY.
Tên lửa Shaddock
Là loại tên lửa do Liên Xô nghiên cứu chế tạo, dài 10 mét, nặng 4,5 tấn, có tầm bắn 460 km, tốc độ 1,5 Mach, đầu đạn shaddock có thể là 800 Kg thuốc nổ hay 100 kilo Ton (đầu đạn hạt nhân).
Sau khi phóng lên, tên lửa leo lên tầm cao, tăng tốc tới Mach 1.5, và bắt đầu tìm kiếm vùng phía trước với rađa tìm đuờng của nó. Hình ảnh kết quả được truyền tới tàu phóng thông qua 1 kênh TV. Khi một mục tiêu được xác định, thao tác viên trên tàu xác minh liệu có phải đó là mục tiêu mong muốn hay không(VD như hàng không mẫu hạm trong một nhóm tàu), như vậy thì, thao tác viên điều khiển tên lửa bằng cách bật hệ thống tìm đường của nó sang chế độ tự động. Kế đó, tên lửa đi xuống tầm thấp, vẫn ở tốc độ siêu âm, tên lửa được định trước sẽ chui xuống nước 10-20m trước khi tới mục tiêu và sẽ nổ dưới nước để tăng thiệt hại.
VN chỉ có phiên bản phóng từ bệ phóng (xe tải) từ đất liền nhưng với tầm bắn 460 km bao trùm hoàn toàn vịnh Bắc Bộ, đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa và một phần vùng biển Trường Sa. Không rõ hiện Việt Nam đang có bao nhiêu quả Shaddock nhưng theo bài viết 'Việt Nam đe dọa Trung Quốc bằng tên lửa siêu âm' trên mạng internet của Trung Quốc thì Việt Nam đã đang nghiên cứu cải tiến loại tên lửa này để nâng tầm bắn lên 550 km, đầu đạn nặng 1 tấn và có tốc độ 2,5 lần vận tốc âm thanh.
Khả năng kiểm soát của tên lửa Việt Nam

"Sẽ kiện trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương nếu có ra lệnh cấm báo chí"

Phỏng vấn luật sư của nạn nhân vụ chủ tịch tỉnh Hà Giang mua dâm trẻ em
Saturday, 17. July 2010, 08:09:02
"Sẽ kiện trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương nếu có ra lệnh cấm báo chí"
Lữ Tống/Người Việt

Người luật sư biện hộ cho các nạn nhân tình dục ở tỉnh Hà Giang nói ông có thể yêu cầu khởi tố ông Tô Huy Rứa, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, nếu quả thật ông này có ra lệnh miệng cấm báo chí loan tin vụ bê bối trên.
Trả lời phỏng vấn báo Người Việt qua điện thoại, Luật Sư Trần Ðình Triển cho biết ông đang chờ đợi sự trả lời của ông Tô Huy Rứa về dư luận cho rằng ông Rứa đã điện thoại tới nhiều tổng biên tập và các báo yêu cầu ngưng viết về ông Nguyễn Trường Tô, một đảng viên cao cấp đang bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kết tội là có những hành vi buông thả, từng mua dâm và có những hình ảnh đồi bại với gái mãi dâm.

Luật Sư Trần Ðình Triển là luật sư của hai nữ sinh Nguyễn Thúy Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thủy, là nạn nhân bị chính hiệu trưởng của hai cô bán dâm cho ông Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang.
Luật Sư Triển nói với báo Người Việt, ông đã gởi thư đến ông Tô Huy Rứa và hiện đang chờ đợi câu trả lời của ông Rứa để xác nhận rằng nguồn dư luận vừa nêu có đúng với sự thật hay không. Tùy theo sự trả lời đó, văn phòng LS Trần Ðình Triển sẽ chính thức gửi đơn khởi tố ông Rứa ra trước pháp luật.
Theo Luật Sư Triển cho phóng viên Người Việt biết thì những lời ra lệnh bằng miệng của ông Tô Huy Rứa là phạm pháp. LS Triển cũng cho là nhiều vụ bưng bít che giấu tội phạm đã được các cán bộ lãnh đạo ra lệnh miệng cho cấp dưới quyền đã cản trở pháp luật một cách nghiêm trọng. Hành động cấm đưa tin của báo chí đối với trường hợp ông Nguyễn Trường Tô phải được xem là bao che tội phạm.
Hai nữ sinh Nguyễn Thúy Hằng (19 tuổi) và Nguyễn Thị Thanh Thúy (18 tuổi) bị cáo buộc trong vụ án hiệu trưởng Sầm Ðức Xương mua dâm trẻ vị thành niên là chính học trò của trường ông. Vụ án nổ lớn khi các tin tức tiết lộ trong phiên tòa phúc thẩm cho thấy Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang là một trong những quan chức to đầu của tỉnh này đã có quan hệ tình dục với gần 20 nữ sinh từ hơn 13 tuổi đến 17 tuổi.
Hai cô Hằng và Thúy đều phản cung, Luật Sư Triển đã nêu ra, trong phiên phúc thẩm, các bằng cớ chứng minh công an điều tra, Viện Kiểm Sát và cả Tòa Án Sơ Thẩm tỉnh Hà Giang đã vi phạm luật hình sự tố tụng. Báo chí loan tin rộng rãi nên bản án sơ thẩm bị hủy và phải điều tra lại từ đầu.
Luật Sư Triển còn nói rằng gần đây có những ép buộc đối với những em gái làm nhân chứng cho vụ án Sầm Ðức Xương mua dâm nữ sinh. Các em này đã bị thế lực đen tối ép buộc phải bỏ ngang những lời khai trước đây. Riêng hai nạn nhân Hằng và Thúy được văn phòng luật Vì Dân của Luật Sư Trần Ðình Triển biện hộ không lấy luật sư phí, nay cũng đã từ chối không chấp nhận cho luật sư tiếp tục biện hộ cho hai em ở tòa phúc thẩm.
Luật Sư Trần Ðình Triển khẳng định với báo phóng viên Người Việt rằng ông sẽ khởi kiện Tô Huy Rứa ra tòa mặc dù biết rằng chưa chắc tòa án đã chấp nhận thụ lý đơn của ông. Tuy nhiên ông khẳng định, hành động đưa một nhân vật cao cấp không tôn trọng luật pháp ra trước tóa án là tiền lệ tốt cho các cuộc tranh đấu vì công lý sau này.
Luật Sư Triển nhấn mạnh sẽ khởi kiện ông Tô Huy Rứa ra trước các cấp có thẩm quyền của đảng để xem xét chức vụ trong đảng và tư cách đảng viên của ông này. Luật Sư Trần Ðình Triển cũng sẽ khởi kiện ông Tô Huy Rứa ra trước một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét có hay không việc ông này vi phạm Hiến Pháp, vi phạm Bộ Luật Tố Tụng, Bộ Luật Hình Sự, Luật Báo Chí, cũng như Bộ Luật Cán Bộ Công Chức.
Bức thư do văn phòng luật Vì Dân do LS Trần Ðình Triển làm trưởng văn phòng gởi ông Tô Huy Rứa hiện đang được phổ biến ở một số diễn đàn điện tử, báo mạng. Bức thư yêu cầu ông Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Trung Ương, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương trả lời về những hành vi mà LS Triển cho là, nếu ông Hứa làm đúng như thế, là đã vi phạm Hiến Pháp, vi phạm luật báo chí cùng những tội danh khác.
Mới đây, ngày 5 tháng 7, 2010 Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng Cộng Sản đề nghị cách chức ông Tô khi có thêm những hình ảnh trần truồng và tin tức mới về ông Tô được xì ra thêm trên báo. Vụ việc này từng được biết đến từ 5 năm trước nhưng đã bị ỉm đi khi ông Tô mới leo lên ghế chủ tịch UBND.

Hồi đầu tuần này, đã có tin cho biết nhà cầm quyền trung ương Hà Nội cấm báo chí loan tin tiếp theo về xì căng đan Nguyễn Trường Tô và vụ tập đoàn Vinashin bên bờ phá sản.
“Lệnh cấm này được truyền đạt bằng cách gọi điện thoại từ một số bộ ngành tới lãnh đạo của các phương tiện truyền thông, chứ không có văn bản giấy tờ, cũng không tổ chức họp báo.” Ðây là một lời báo động được viết trên mạng Bauxite VN ngày 14 tháng 7, 2010. Trong bức thư của LS Triển, ông nêu đích danh tên ông Tô huy Rứa, bị nghi là người gọi điện thoại ra lệnh.

Ông Rứa và một số người khác trong Bộ Chính Trị như Nguyễn Tấn Dũng (thủ tướng), Trương Tấn Sang (thường trực Ban Bí Thư), Nguyễn Phú Trọng (chủ tịch Quốc Hội), Phùng Quang Thanh (bộ trưởng Quốc Phòng), Hồ Ðức Việt (trưởng ban Tổ Chức Trung Ương), đang nhăm nhe ghế Tổng Bí Thư khi Ðại Hội Ðảng diễn ra vào mùa Xuân năm tới.

Bức thư của LS Triển nêu rõ ông Tô Huy Rứa đã lợi dụng tư cách là ủy viên Bộ Chính Trị và trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương đã gọi điện thoại đến nhiều tổng biên tập và các báo yêu cầu ngưng viết về ông Nguyễn Trường Tô, một đảng viên cao cấp đang bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kết tội là có những hành vi buông thả. Từng mua dâm và có những hình ảnh đồi bại với gái mãi dâm.
Bức thư nói rõ việc ông Tô Huy Rứa lợi dụng chức quyền, lợi dụng cương vị lãnh đạo để có hành vi ngăn cản báo chí là vi phạm pháp luật, vi phạm luật báo chí và luật hình sự tố tụng.

Thông qua những sự kiện này, cộng với hành động buộc báo chí im tiếng của ông Tô Huy Rứa, một thành viên cao cấp nhất trong Ban Bí Thư Trung Ương đã làm cho dư luận hết sức phẫn nộ và cho rằng đang có một cuộc vận động để bảo vệ Nguyễn Trường Tô cùng đồng bọn. Hành động này cũng đồng thời nhắm giảm bớt hình ảnh tồi tệ của đảng viên Ðảng Cộng Sản nói chung và cá nhân của một số đảng viên cao cấp nói riêng, khi đại hội đảng đang đến gần."
(Nguoi Viet, http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=116105&z=2)

Đề thi tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông năm 2010 tại VN

Sau 35 năm VN hòa bình và thống nhất, với đề thi tốt nghiệp THPH (Tú Tài II) môn Lịch Sử "hết sức cao siêu" như dưới đây...
mà kết quả là tỉnh Nam Định đạt 99,6% và không tỉnh nào dưới 90% thí sinh trúng tuyển.....
Cứ đà này thì chỉ mươi năm nữa Bộ Giáo Dục VN sẽ đào tạo hàng trăm ngàn Tiến sĩ, Bác học (nên gọi là Trạng sĩ, Tối Học sĩ...)?!
Mời mọi người cầm viết lên thi thử,