Shiba - V
Thursday, May 27, 2010 11:43:01 AM
Chó Nhật - mà lại là quốc khuyển của Nhật cơ
Bản tiêu chuẩn số 257/ 16. 06. 1999 của FCI
SHIBA
Nguồn gốc: Nhật Bản
Ngày ban hành bản tiêu chuẩn gốc có hiệu lực: 15.06.1992.
Công dụng: Chó săn chim và các con thú nhỏ. Chó nuôi làm bạn với con người.
Phân nhóm theo F.C.I. :
Nhóm 5: Chó Spitz và các giống chó cổ xưa.
Phân nhóm 5: Chó Spitz châu Á và các giống liên quan.
Không sử dụng làm chó nghiệp vụ.
Tóm tắt các điểm chính trong lịch sử: Chó Shiba là một giống chó bản địa của Nhật từ thời xa xưa. Từ « Shiba » bắt nguồn có nghĩa là « nhỏ », « một con chó nhỏ ». Nơi khởi nguồn của Shiba là vùng núi hướng ra biển Nhật Bản và chúng thường được dùng để săn chim và các con thú nhỏ. Có sự khác biệt nhỏ giữa các giòng chó giữa những nơi mà chúng được nuôi dưỡng. Khi những giống chó như English Setters và English Pointers được nhập khẩu vào Nhật Bản từ Anh quốc trong giai đoạn những năm 1868-1912, đi săn đã trở thành một môn thể thao giải trí ở Nhật Bản và việc cho lai những con chó giống Shiba với những giống chó của Anh Quốc này đã trở nên rất thịnh hành và những con chó Shiba thuần giống trở nên rất hiếm. Và vào khoảng những năm 1912-1926, những con chó Shibas thuần giống còn được nuôi dưỡng ở vùng này trở nên vô cùng khan hiếm. Các thợ săn và những nghiên cứu trở nên lo lắng cho việc bảo tồn những con chó Shiba thuần giống vào khoảng những năm 1928 và việc bảo tồn với một số lượng giới hạn những con chó thuần giống được thực hiện rất nghiêm túc, và sau đó, bản tiêu chuẩn giống chó này cuối cùng đã được thống nhất vào năm 1934. Vào năm 1937,chó Shiba đã được xây dựng thành « tượng đài thiên nhiên », sau đó, giống chó này đã được nuôi và phát triển trở thành một giống chó xuất sắc như được biết đến ngày nay.
Ngoại hình: Có kích thước nhỏ, cân đối, xương to với cơ bắp phát triển. Cấu trúc khoẻ mạnh. Các cử động nhanh nhẹn, thoải mái và quyến rũ.
Tỷ lệ cân đối quan trọng: Tỷ lệ giữa chiều cao tính đến vai và chiều dài thân mình là 10 : 11.
Tính cách: Tính cách của chúng rất trung thành, với giác quan sắc bén và tính cảnh giác cao.
Đầu
Phần sọ:
Sọ: Trán rộng.
Điểm chuyển tiếp trán – sống mũi: Gập rõ với một đường xẻ nhẹ dọc trán.
Vùng mặt:
Mũi: Mũi màu đen được ưa chuộng. Sống mũi thẳng.
Mõm: To vừa phải và thon nhọn lại
Môi: Khép chặt.
Răng/Hàm: Răng khoẻ, cắn hình cắt kéo
Gò má: Rất phát triển.
Mắt: Tương đối nhỏ, có hình tam giác và có màu nâu tối. Góc phía bên ngoài của mắt hơi xếch lên.
Tai: Khá nhỏ, có hình tam giác, hơi hướng về phái trước và dựng thẳng đứng.
Cổ: To, khoẻ và cân đối với đầu, thân mình.
Thân mình:
Lưng: Thẳng và chắc chắn.
Hông: Rộng và cơ bắp.
Ngực: Sâu, xương sườn cong vừa phải.
Bụng: Thon hẳn lên.
Đuôi: Đuôi nằm cao, đuôi to dày, đuôi cuộn chặt hẳn lại hoặc cuộn cong như hình cái liềm. Khi đuôi buông thõng, chóp đuôi gần chạm tới cổ chân.
Tứ chi
Chân trước: Thẳng khi nhìn từ phía trước.
Vai: Xương bả vai xiên vừa phải.
Khuỷu chân: Chắc chắn.
Chân sau:
Đùi trên: Dài.
Đùi dưới: Ngắn, rất phát triển.
Cổ chân: To và chắc chắn.
Bàn chân: Các ngón chân khép chặt và rất cong. Đệm chân cứng và đàn hồi. Móng chân cứng và có màu tối.
Chuyển động: Nhẹ nhàng và lanh lợi.
Da lông
Lông: Lớp lông ngoài thô cứng và thẳng, lớp lông lót mềm và rậm, lông ở đuôi dài và nằm sát.
Màu: Màu vàng đỏ, màu đen khoang vàng(black and tan), màu muối vừng, màu muối vừng đen và màu muối vừng đỏ.
Định nghĩa màu muối vừng
• Màu muối vừng: Màu lông trắng và đen tương xứng và trộn lẫn đều với nhau.
• Màu muối vừng đen: Có nhiều lông đen hơn lông trắng.
• Màu muối vừng đỏ: Màu nền là màu lông vàng đỏ, trộng lẫn với màu lông đen.
Tất cả các màu đề cập ở tren đều phải có kiểu lông « Urajiro ».
« Urajiro » : Màu lông trở nên nhạt và sáng màu hơn ở hai bên mõm, bên dưới cổ và hàm, ở mặt dưới ngực, bụng, mặt dưới đuôi và mặt bên trong của các chân.
Kích thước và cân nặng:
Chiều cao tới vai: Chó đực 40 cm, chó cái 37 cm.
Dao động trên dưới 1,5cm.
Lỗi: Bất cứ các điểm khác biệt so với những đặc điểm nên trên đều được coi là lỗi và mức độ nặng nhẹ được đánh giá theo từng lỗi của các bộ phận và mức độ ảnh hưởng của lỗi đó đến tổng thể con chó, cũng như các ảnh hưởng tới sức khỏe và chức năng của con chó.
• Chó cái có hình dạng như chó đực, chó đực có hình dạng như chó cái.
• Hàm trên vẩu hoặc hàm dưới trễ (Malocclusion).
• Thiếu nhiều răng.
• Nhút nhát.
Lỗi nặng phải loại bỏ:
• Hung dữ hoặc quá nhút nhát.
• Tai không dựng đứng.
• Đuôi buông thõng hoặc đuôi ngắn.
Các con chó có dấu hiệu không bình thường về thể chất và tinh thần đều bị loại.
N.B. : Chó đực ở tư thế bình thường phải có hai tinh hoàn lộ rõ trong bìu.






