Gordon setter - V
Monday, May 31, 2010 9:15:42 AM
Có tận 4 loại Setter cơ mà...
Bản tiêu chuẩn số 6 - ngày 25. 09. 1998 của FCI
GORDON SETTER
Nguồn gốc: Vương quốc Anh.
Ngày ban hành bản tiêu chuẩn gốc có hiệu lực : 14. 06. 1987.
Công dụng: Chó săn chỉ điểm.
Phân loại theo FCI:
Nhóm 7: Chó săn chỉ điểm.
Phân nhóm 2: Chó săn chỉ điểm và chó Setter Anh Quốc và Ái nhĩ lan. Có thể sử dụng làm chó nghiệp vụ.
Ngoại hình chung: là một giống chó thời trang, với các đường nét tổng hợp của một giống chó chạy nước đại. Có thể hình chắc chắn và có thể so sánh với những giống chó săn lớn. Toàn bộ cơ thể rất cân đối.
Tính cách: Thông minh, đầy năng lực và có tính cách rất đáng quý. Dũng cảm, thân mật và luôn có tính thân thiện.
Đầu: Đầu có hình dài hơn so là rộng. Chiều dài từ xương chẩm tới điểm chuyển tiếp giữa trán và sống mũi dài hơn một chút so với chiều dài từ điểm chuyển tiếp giữa trán và sống mũi tới chóp mũi. Phía trên và dưới mắt gọn gàng.
Vùng sọ:
Sọ : Sọ khá tròn, nở rộng ở phần giữa hai tai. Sọ rộng hơn hẳn phần mõm để tạo khoản trống cho não phát triển.
Điểm chuyển tiếp giữa trán và sống mũi: Gập rõ rệt.
Vùng mặt:
Mũi: Mũi rộng và lớn. Lỗ mũi nở rộng và có màu đen.
Mõm: Mõm dài và hai đường dọc mõm ở trên và dưới gần như song song với nhau. Mõm không nhọn cũng như không thành chóp. Chiều sâu (khi nhìn ngang mõm) tương đương với chiều dài mõm.
Mép : Mép không kéo dài và rủ hẳn xuống. Hai mép gọn gàng, phân biệt rõ rệt.
Hàm/ Răng: Hàm khoẻ, chiều dài hàm trên và dưới gần bằng nhau. Có bộ răng đầy đủ, phát triển đều và miếng cắn hình cắt kéo chuẩn mực và hoàn hảo, cụ thể, răng hàm trên phủ sát ra ngoài răng hàm dưới và nằm vuông góc với hàm.
Mắt: Mắt có màu hạt dẻ tối, hoặc màu nâu tối. Mắt không quá lớn.
Tai: Có kích thước trung bình, thuỳ tai mịn, nằm thấp và có xu hướng nằm ra phía sau, tai có một nét gấp nhẹ để nằm sát với đầu.
Má: Thon và gọn gàng ngay sau phần đầu.
Mắt: có màu nâu tối. Mắt không lồi cũng không sâu,nằm gọn dưới phần xương mi mắt. Mắt sáng, có ánh nhìn biểu cảm và thông minh.
Tai: Có kích thước trung bình, mảnh, nằm thấp và nằm sát với đầu.
Cổ : Dài, gân guốc và mảnh, không có diềm cổ dưới họng.
Thân mình: Có chiều dài trung bình.
Hông: Rộng và hơi cong nhẹ.
Ngực : Không quá rộng. Phần ức nở rộng và sâu, xương sườn cong. Lồng ngực ở phía sau cũng rất sâu.
Đuôi: Thẳng và có hình dạng như thanh mã tấu, đuôi không dài tới khuỷ chân sau. Đuôi nằm ngang hoặc nằm thấp dưới sống lưng. Gốc đuôi dày, thon nhọn lại về phần chóp đuôi. Phần lông tua dài phát triển ngay từ đoạn gần gốc đuôi, lông đuôi dài, thẳng và ngắn dần về phía chóp đuôi.
Tứ chi
Chân trước: Xương chân phẳng, thẳng và chắc khoẻ.
Vai: Xương bả vai dài, bề mặt xương phẳng và rộng. Vai nằm rất xiên về phía sau. Xương bả vai rất gần nhau ở phía chóp vai. Vai không thô, nặng nề.
Khuỷu chân: Nằm thẳng và sát với thân mình.
Cổ chân: Thẳng đứng.
Chân sau: Chân sau dài, rộng và cơ bắp trên toàn bộ đoạn từ xương chậu tới cổ chân. Đoạn từ cổ chân tới bàn chân ngắn và chắc khoẻ. Đoạn từ cổ chân tới mặt sàn thẳng. Xương chậu có xu hướng nằm ngang.
Khớp đùi dưới: Gập góc rõ.
Bàn chân: Hình ovan, các ngón chân nằm sát nhau, ngón chân cong và có nhiều lông ở giữa các ngón chân. Đệm chân dày và chắc chắn.
Chuyển động: Vững chắc, các bước chạy thoải mái và ổn định, thể hiện một lực đẩy lớn của chân sau.
Da lông
Lông : Trên đầu, mặt trước các chân, chóp tai có lông ngắn và mịn. Lông trên phần còn lại của thân mình dài vừa phải, phẳng và không bị xoăn hoặc lượn sóng. Lông ở phần trên của thuỳ tai dài và mềm, mịn như lụa. Phía sau các chân, lông dài, mịn,thẳng và phẳng. Các dải lông dài ở bụng có thể kéo đến tận ngực và cổ họng. Các dải lông này cần không được quăn hoặc lượn sóng đến mức tối đa có thể.
Màu sắc: Màu đen bóng và đậm như màu than đá, không có các vệt màu bạc, nhạt. Có các vệt màu nâu hạt dẻ ánh đỏ, có thể là màu nâu vàng rực, sáng và bóng. Các vệt màu đen khác biệt về sắc độ ở bàn chân, dưới cổ họng (như kiểu nhạt hơn do tô chì) cũng được chấp thuận.
Các vệt lông màu nâu vàng: Hai vệt rõ ràng ở trên mắt với đường kính không quá 2cm (3/4 ins.). Ở hai bên mõm, vệt màu nâu vàng không được chạm tới ngang gốc mũi, tương tự như vậy là một vệt lông tròn bao quanh rõ rệt ở phần cuối mõm, từ bên này sang bên kia. Cũng như vậy là hai vệt màu lớn, rõ rệt ở cổ họng và ở ngực. Ở phía trong chân sau và trong đùi, kéo dài xuống dưới đến phía trước khớp đùi dưới và mở rộng ra bên ngoài của chân sau, từ cổ chân tới ngón chân. Ở chân trước, kéo dài tới tận khuỷu chân ở mặt sau và tới cổ chân, hoặc quá một chút, ở mặt trước. Quanh hậu môn.
Một đốm trắng rất nhỏ ở ngực cũng được chấp thuận. Ngoài ra, tất cả các màu khác đều không được chấp thuận.
Kích thước và cân nặng:
Chiều cao tới vai: Chó đực: 66 cm (26 ins.), chó cái: 62 cm (24 ½ ins.).
Cân nặng: Chó đực: 29.5 kg (65 cân anh), chó cái: 25.5 kg (56 cân anh).
Lỗi: Bất cứ các điểm khác biệt so với những đặc điểm nên trên đều được coi là lỗi và mức độ nặng nhẹ được đánh giá theo từng lỗi của các bộ phận và mức độ ảnh hưởng của lỗi đó đến tổng thể con chó, cũng như các ảnh hưởng tới sức khỏe và chức năng của con chó.
Các con chó có dấu hiệu không bình thường về thể chất và tinh thần đều bị loại.
N.B. : Chó đực ở tư thế bình thường phải có hai tinh hoàn lộ rõ trong bìu.






