My Opera is closing 1st of March

Mr. Hieu Anh. PhD - Shaolin CFO!

Information in this blog is not allowed to re-produce /copy /public without agreement of Shaolin CEO (Fangzhang) or Shaolin CFO (Hiếu Anh. PhD). Be CAREFULL when I'm angry!!!

Irish red setter - V

, ,

Có tận 4 loại Setter cơ mà...

Bản tiêu chuẩn số 120 / 02. 04. 2001 của FCI

IRISH RED SETTER
(Chó Setter Ái nhĩ lan màu đỏ)





Nguồn gốc: Ái nhĩ lan (Ireland).

Ngày ban hành bản tiêu chuẩn gốc có hiệu lực: 13.03.2001.

Công dụng: Chó lùa chim để săn bằng súng (Gun dog) và chó nuôi trong nhà.

Phân loại theo FCI:
Nhóm 7: Chó săn chỉ điểm.
Phân nhóm 2: Chó săn chỉ điểm và chó Setter Anh Quốc và Ái nhĩ lan. Có thể sử dụng làm chó nghiệp vụ.

Tóm tắt các điểm chính trong lịch sử: Giống chó Irish Red Setter được phát triển tại Ireland để làm chó săn cho các cuộc săn bắn. Giống chó này có nguồn gốc từ giống chó săn lông xù màu đỏ trắng của Ái nhĩ lan (Irish Red and White Setter) và những con chó có màu lông đỏ thuần nhất nhưng không rõ gốc tích. Giống chó này được hình thành rõ rệt như một giống chó riêng biệt từ thế kỷ thứ 18th. Câu lạc bộ chó Irish Red Setter được thành lập vào năm 1882 để quảng bá và phát triển giống chó này. Câu lạc bộ này ban hành bản tiêu chuẩn giống chó vào năm 1886, và từ thời gian đó đã tổ chức các cuộc thi chó đẹp cũng như thi thực hành đi săn trên đồng để điều chỉnh bản tiêu chuẩn cho giống chó. Năm 1998, câu lạc bộ này đã ban hành kiểu dạng chó chuyên dùng để săn săn mồi cho giống chó này. Kiểu dáng chó tiêu chuẩn và chó chuyên dùng để săn mồi mô tả về kiểu dáng cơ thể và chức năng làm chó săn của giống chó..
Irish Red Setter đã được phát triển qua nhiều năm để trở thành một giống chó bền bỉ, khoẻ mạnh và thông minh, sở hữu những khả năng săn mồi tuyệt vời và thể lực rất ổn định.

Ngoại hình chung: Có vẻ ngoài chứa đầy sự đặc sắc, hấp dẫn và mạnh mẽ, cùng vẻ biểu cảm trìu mến, thân thiện. Cơ thể cân đối và hài hoà

Tính cách: Thính nhạy, thông minh, mạnh mẽ, trìu mến và trung thành.

Đầu: Dài và gọn gàng, vùng tai không thô. Mõm và sọ có chiều dài bằng nhau và đường dọc sọ song song với sống mõm.

Khu vực sọ:
Sọ: Có hình oval (trong khoảng giữa hai tai), tạo khoảng không rộng cho não phát triển. Xương chẩm lồi rõ rệt lên. Xương mi mắt nổi rõ.
Điểm chuyển tiếp giữa trán và sống mũi: Gập rõ rệt.

Vùng mặt:
Mũi: Mũi có màu gỗ gụ tối, hoặc màu quả óc chó tối, hoặc màu đen. Lỗ mũi nở rộng.
Mõm: Khá sâu (khi nhìn ngang mõm) và tương đối vuông ở phần chóp mõm. Khoảng cách từ điểm chuyển tiếp giữa trán và sống mũi tới chóp mõm dài, mép không kéo dài và rủ hẳn xuống.
Hàm: Hàm trên và dưới dài gần bằng nhau.
Răng: Răng cắn hình cắt kéo.
Mắt: Mắt có màu hạt dẻ tối, hoặc màu nâu tối. Mắt không quá lớn.
Tai: Có kích thước trung bình, thuỳ tai mịn, nằm thấp và có xu hướng nằm ra phía sau, tai có một nét gấp nhẹ để nằm sát với đầu.

Cổ: Dài vừa phải, rất lực lưỡng nhưng không quá to. Cổ hơi cong và không có dấu hiệu có da chùng dưới cổ họng.

Thân mình: Cân xứng với kích thước của con chó.
Ngực: Ngực sâu, tương đối hẹp ở phần trước, xương sườn rất cong để tạo nhiều khoảng trông cho phổi.
Hông: Cơ bắp và hơi cong nhẹ.

Đuôi: Dài vừa phải, hài hoà với kích thước của thân mình. Đuôi nằm thấp, thon dần về phía chóp đuôi, gốc đuôi khoẻ. Đuôi thường thấp hơn hoặc ngang với sống lưng.

Tứ chi

Chân trước:
Vai: Chóp vai gọn gàng, xương vai dài và nằm rất xiên.
Khuỷ chân: Cử động thoải mái,nằm thẳng, không hướng vào trong cũng không hướng ra ngoài.
Cẳng chân trước: Thẳng và gân guốc, có xương to, khoẻ.

Chân sau: To rộng và khoẻ mạnh.
Tổng thể chân sau: Dài và cơ bắp từ hông xuống tới cổ chân, khoảng từ cổ chân xuống đến bàn chân ngắn và khoẻ.
Đùi dưới: Rất xiên ra sau.
Cổ chân: không hướng vào trong cũng không hướng ra ngoài.

Bàn chân: Nhỏ, rất chắc chắn, ngón chân khoẻ, cong và nằm sát nhau.

Chuyển động: Thoải mái, các bước chạy rõ ràng, có lực đẩy mạnh mẽ, đầu ngẩng cao. Chân trước vươn dài về phía trước nhưng vẫn giữ chân dưới thấp. Chân sau có lực đẩy mạnh mẽ và liên tục. Chân đá lung tung hoặc đan vào nhau không được chấp nhận.

Da lông

Lông: Trên đầu, phía trước chân, chóp tai, lông ngắn và mịn. Trên các phần khác của cơ thể và chân, lông có chiều dài trung bình, lông thẳng đến mức tối đa và không bị xoăn hoặc lượn sóng. Lông ở mặt trên tai dài và mềm như lụa, ở phía sau của bốn chân, lông dài mà mềm, mặt dưới bụng có lông nhiều vừa phải, tạo thành một dải lông kéo dài từ ức lên tới hết cổ họng. Bàn chân có lông phủ giữa các ngón. Đuôi có lông tua dài hoặc lông dài vừa phải, chiều dài lông đuôi giảm dần xuống tới chóp đuôi. Toàn bộ lông trên người đều thẳng và mượt.

Màu lông: Màu hạt dẻ sậm và không có một chút nào của các vệt lông đen. Vệt lông trắng ở ức, cổ họng, ngón chân hoặc vệt lông nhỏ màu trắng ở trán, hoặc một dải lông trắng nhỏ ở sống mũi hoặc mặt không bị loại bỏ.

Kích thước:
Chiều cao đến vai: Chó đực từ 58 cm (23 ins) – tới 67cm (26.5 ins)
Chó cái từ 55 cm (21.5 ins) tới 62 cm (24.5 ins).

Lỗi: Bất cứ các điểm khác biệt so với những đặc điểm nên trên đều được coi là lỗi và mức độ nặng nhẹ được đánh giá theo từng lỗi của các bộ phận và mức độ ảnh hưởng của lỗi đó đến tổng thể con chó, cũng như các ảnh hưởng tới sức khỏe và chức năng của con chó.

Các con chó có dấu hiệu không bình thường về thể chất và tinh thần đều bị loại.

N.B. : Chó đực ở tư thế bình thường phải có hai tinh hoàn lộ rõ trong bìu.

Irish red setter - EIrish red and white setter - E

Write a comment

New comments have been disabled for this post.