Australian Cattle dog - V
Tuesday, July 20, 2010 5:59:39 AM
Em bé chăn bò ...
Lùn lùn nhưng chắc nịch...
Lùn lùn nhưng chắc nịch...
Bản tiêu chuẩn số 287 của FCI / ngày 01.09.1997/GB
AUSTRALIAN CATTLE DOG
Chó chăn gia súc nước Úc
Nguồn gốc: Nước Úc (Australia)
Ngày ban hành bản tiêu chuẩn gốc có hiệu lực: 15.09.1989
Công dụng: Tên được dùng để đặt cho giống chó này đã phản ánh chức năng ban đầu của nó, đó chính là việc kiểm soát và điều khiển những đàn gia súc trên cả những vùng đất rộng, không có rào lẫn trong những vùng được rào ngăn, và nó là một giống chó không có đối thủ ngang hàng trong công việc này. Luôn luôn cảnh giác, đặc biệt thông minh, bao quát, dũng cảm và đáng tin cậy, luôn cống hiến tuyệt đối cho công việc đã làm cho giống chó này trở thành một giống chó lý tưởng cho công việc chăn gia súc.
Phân nhóm theo F.C.I. :
Nhóm 1: Chó chăn cừu và gia súc (trừ chó vùng núi và chó chăn gia súc Thụy Sỹ).
Phân nhóm 2: Chó chăn gia súc (trừ chó vùng núi và chó chăn gia súc Thụy Sỹ). Không dùng làm chó nghiệp vụ.
Tổng thể ngoại hình: Ngoại hình tổng thể rất mạnh mẽ, chắc chắn, cân đối với yêu cầu của một giống chó làm việc, luôn sẵn sàng và mong muốn làm những công việc được giao, cho dù đó là những việc nặng nhọc và khó khăn. Con chó này có ngoại hình tổng hòa của sự chắc chắn, mạnh mẽ, cân đối và cơ bắp lực lưỡng, nở nang, tất cả những đặc điểm này như những yếu tố truyền tải vẻ ấn tượng về một con chó đặc biệt linh lợi, mạnh mẽ và bền bỉ. Bất cứ những dấu hiệu nào của vẻ thô cứng hoặc mềm yếu đều bị coi là lỗi nghiêm trọng của con chó.
Tính cách: Đặc tính trung thành và bản năng canh gác của chó chăn gia súc nước Úc đã tự đưa nó trở thành những trợ thủ canh gác cho những người chăn gia súc, cũng như mang lại nhiệm vụ canh gác những con gia súc và những tài sản khác. Chúng vừa luôn tỏ ra nghi ngờ với những người lạ, nhưng cũng lại rất dễ điều khiển, đặc biệt là trong sân thi. Bất cứ điểm nào trong tính cách, cũng như về cấu trúc cơ thể, nếu không liên quan tới những đặc điểm làm việc của giống chó đều bị cọi là lỗi nghiêm trọng.
Đầu: Đầu mạnh mẽ và hài hòa, cân đối với tổng thể chung của con chó, nhưng vẫn phải giữ được những nét đặc trưng của giống chó.
Vùng sọ:
Sọ : Sọ rộng và hơi cong ở phần giữa hai tai.
Điểm chuyển tiếp trán – sống mũi: Sọ phẳng dần và hơi con nhẹ ở điểm tiếp nối với mũi, nhưng vẫn nhìn thấy được điểm chuyển tiếp sang mũi.
Vùng mặt:
Mũi: Màu đen.
Mõm: Rộng và nở đều ngay từ phần dưới mắt, hơi thon nhọn lại phía đầu mũi, tạo thành một cái mõm có chiều dài vừa phải, nở sâu xuống phía dưới, rất mạnh mẽ, với đường dọc trên sọ và đường dọc trên mõm song song với nhau.
Môi: Khép chặt và gọn gàng.
Má: Nổi rõ múi cơ, nhưng không thô, cũng không nhô lên.
Răng: Răng khỏe mạnh, chắc chắn và đều nhau, cùng với miếng cắn có dạng cắt kéo, theo đó, răng cửa hàm trên nằm sát và phủ ra ngoài răng cửa hàm dưới. Do con chó được giao nhiệm vụ lùa những con gia súc khó bảo bằng cách chạy sát chân hoặc cắn, nên răng chắc chắn, đều và khỏe là một điểm đặc biệt quan trọng.
Hàm dưới: Khỏe, rất phát triển và nở sâu xuống dưới.
Mắt: Mắt có hình oval và có kích thước vừa phải, không lồi cũng không trũng sâu, mắt phải luôn bộc lộ vẻ lanh lợi và thông minh. Cái nhìn có tính chất cảnh báo hoặc nghi ngờ khi tiếp cận với người lạ là một trong các đặc điểm của giống cho này. Mắt có màu nâu tối.
Tai: Tai cần có kích thước vừa phải, tai nhỏ được ưa chuộng hơn tai lớn, gốc tai rộng, tai cứng, dựng thẳng và tương đối nhọn. Tai không có dạng tròn như cái thìa, cũng không có dạng tai dơi. Tai nằm rộng ra hai bên của sọ, có xu hướng chĩa sang hai bên, tai rất linh hoạt khi chó hoạt động và dựng đứng khi chó cảnh giác. Lớp da bọc sụn tai dày và có lông dày bao phủ, kể cả mặt trong tai cũng có tương đối nhiều lông che phủ.
Cổ: Cổ đặc biệt khỏe mạnh, cơ bắp, có chiều dài trung bình, nở rộng và tiếp nối đều đặn vào với thân mình, cổ không có diềm cổ hoặc các lớp da trùng.
Thân mình: Chiều dài thân mình tính từ xương ức tới chóp mông, dài hơn chiều cao tính đến chóp vai với tỷ lệ là 10 : 9. Đường dọc sống lưng thẳng.
Lưng: Chắc khỏe.
Hông: Rộng, chắc khỏe và cơ bắp. Chó đực thường có hông to rộng (lưng đôi - Dog strongly coupled).
Mông: Mông khá dài và xiên.
Ngực: Sâu, cơ bắp và rộng vừa phải.
Lồng ngực: Rất cong, các xương sườn nằm xiên. Ngực không có dạng tròn như thùng rượu.
Xương sườn hai bên lồng ngực: Phát triển, nở sâu xuống dưới.
Đuôi: Đuôi nằm hơi thấp xuống phía dưới, như một đường viền tiếp nối với phần mông nằm hơi dốc. Đuôi dài tới khuỷu chân sau. Khi chó nghỉ ngơi, đuôi buông thõng và thường tạo thành một đường cong rất nhẹ. Khi chó hoạt động hoặc hưng phấn, đuôi có thể duỗi thẳng ra, nhưng trong mọi trường hợp, đuôi không bao giờ giương cao quá đường nằm ngang qua gốc đuôi. Đuôi có nhiều lông, tạo thành kiểu đuôi dạng bàn chải rõ rệt (good brush).
Tứ chi
Chân trước: Chân trước khỏe, xương ống tròn xuống tới tận cổ chân, hai chân thẳng và song song với nhau khi nhìn từ phía trước.
Vai: Vai khỏe mạnh, cơ bắp và xương bả vai gập góc rất rõ. Xương bả vai không nằm quá sát với chóp vai. Mặc dù vai rất cơ bắp, xương vai chắc khỏe, nhưng nếu con chó có vai quá thô và phần thân trước quá nặng nề sẽ làm cản trở các chuyển động của con chó và giới hạn khả năng làm việc của con chó.
Cổ chân: Cổ chân cần thể hiện sự linh hoạt, tạo thành một góc nghiêng nhẹ với cẳng chân khi nhìn từ phía bên.
Chân sau: Chân sau to, nở rộng, khỏe mạnh và cơ bắp. Khi nhìn từ phía sau, đoạn từ cổ chân xuống bàn chân thẳng và song song với nhau, không hướng vào trong cũng không chĩa ra ngoài.
Đùi: Dài, to rộng, rất phát triển.
Khớp đùi (gối): Gập góc rõ rệt.
Cổ chân: Chắc khỏe và đứng thẳng.
Bàn chân: Bàn chân tròn, các ngón chân ngắn, chắc khỏe, rất cong và nằm sát nhau. Đệm chân dày và cứng, móng chân ngắn và khỏe.
Chuyển động: Các bước chạy chắc chắn, thoải mái, mềm mại và không hề có vẻ mệt mỏi, chân và vai trước chuyển động hài hòa, cùng nhịp với lực đẩy của phần thân sau. Chó có khả năng xuất phát nhanh và đột ngột. Độ chắc chắn và hài hòa trong các bước chuyển động là một yếu tố đặc biệt quan trọng, các bước chuyển động giật cục, nặng nề hoặc vai trùng, lỏng, duỗi thẳng, không có sức bật, tư thế của vai khi chuyển động, độ chắc chắn của khuỷu chân, cổ chân hoặc bàn chân trước, khớp gối chân sau thẳng, cổ chân sau khuỳnh ra ngoài hoặc hướng vào trong đều bị coi là những lỗi nặng. Khi chó chạy nước kiệu, các điểm tiếp xúc của bàn chân với mặt sàn có xu hướng gần nhau hơn, đặc biệt khi chó tăng tốc độ. Khi chó nghỉ ngơi, nó cần đứng thẳng thắn trên cả bốn chân.
Da lông
Lông: Lông mượt nhẵn, có hai lớp lông, lớp lông lót ngắn và dày. Lớp lông ngoài mượt, nằm sát với thân mình, sợi lông thẳng, cứng và thẳng, do đó, có thể chống lại được nước ngấm vào. Ở dưới thân mình và sau các chân, lông dài hơn và tạo thành một dải lông hơi dài ở phần sau đùi. Trên đầu, (gồm cả phía trong tai), phần trước chân và bàn chân có lông ngắn. Lông dọc trên cổ dài hơn và dày hơn. Lông quá dài hoặc quá ngắn đều bị đánh giá là lỗi. Ở mức độ trung bình, lông trên thân mình dài từ 2,5 tới 4 cm ( khoảng 1-1½ in-xơ).
Màu sắc:
• Màu xám xanh: Màu lông là màu xám xanh, hoặc lông có vệt lốm đốm màu xám xanh , hoặc có các đốm nhỏ màu xanh - có thể có hoặc không có các khoang màu khác. Các mảng màu khoang được chấp nhận là màu đen, màu xám xanh hoặc vàng sậm ở trên đầu, và nếu các mảng màu khoang cân đối sẽ được ưa chuộng hơn. Chân trước có màu vàng từ khoảng giữa chân và kéo dài lên trên tới ức, cổ họng, hàm cũng có màu vàng; chân sau có màu vàng sậm ở phía trong của chân, phía mặt trong đùi và kéo xuống phía dưới, có màu vàng từ khớp đùi (gối) và mở rộng ra phía ngoài của chân sau, từ phần cổ chân tới bàn chân. Lớp lông lót có màu vàng sậm cũng được chấp thuận nếu không lộ ra khỏi lớp lông xanh bên ngoài. Các khoang màu đen trên thân mình không được ưa chuộng.
• Có các đốm màu đỏ : sắc lông cần phải đồng đều, với các đốm nhỏ màu đỏ phân bố trên toàn thân, gồm cả trên lớp lông lót, (không được có màu trắng hoặc màu kem), có thể có hoặc không có các vết khoang màu đỏ trên đầu. Các khoang màu đỏ trên đầu được ưa chuộng, nhưng các vết khoang màu đỏ trên thân mình lại không được ưa chuộng dù vẫn được chấp nhận.
Kích thước:
Chiều cao: Chiều cao tới vai với chó đực là 46 tới 51 cm, (khoảng 18-20 inches). Chó cái cao khoảng 43 tới 48 cm ; ( khoảng 17-19 inches).
Lỗi: Bất cứ các điểm khác biệt so với những đặc điểm nên trên đều được coi là lỗi và mức độ nặng nhẹ được đánh giá theo từng lỗi của các bộ phận và mức độ ảnh hưởng của lỗi đó đến tổng thể con chó, cũng như các ảnh hưởng tới sức khỏe và chức năng của con chó.
N.B. : Chó đực ở tư thế bình thường phải có hai tinh hoàn lộ rõ trong bìu.






