My Opera is closing 1st of March

Mr. Hieu Anh. PhD - Shaolin CFO!

Information in this blog is not allowed to re-produce /copy /public without agreement of Shaolin CEO (Fangzhang) or Shaolin CFO (Hiếu Anh. PhD). Be CAREFULL when I'm angry!!!

Australian Shepherd - V

,

Australia - nhưng lại là chó Mỹ nha!
Thế nên nồng nhiệt và hoang dại, mạnh mẽ và lãng mạn, đúng chất cao bồi miền Tây...

Bản tiêu chuẩn số 342 / ngày 20.06.2007 của FCI

AUSTRALIAN SHEPHERD




Nguồn gốc: Hợp chủng quốc Hoa kỳ

Ngày ban hành bản tiêu chuẩn gốc có hiệu lực: 21.05.2007.

Công dụng: Chó lùa cừu trong các trang trại và nông trại.

Phân nhóm theo F.C.I.:
Nhóm 1: Chó chăn cừu và gia súc (trừ chó vùng núi và chó chăn gia súc Thụy Sỹ).
Phân nhóm 2: Chó chăn cừu. Không dùng làm chó nghiệp vụ.

Tóm tắt các điểm chính trong lịch sử:
Mặc dù có rất nhiều các giải định, lập luận khác nhau về chó Australian Shepherd, giống chó như chúng ta biết ngày nay hoàn toàn được phát triển ở nước Mỹ. Giống chó này có tên là Australian Shepherd bắt nguồn từ một hiệp hội những người chăn gia súc xứ Basque – những người đã chuyển từ nước Úc sang nước Mỹ vào những năm 1800.
Chó Australian Shepherd phát triển mạnh mẽ và trở nên phổ thông sau sự bùng nổ của những người hùng miền Tây trên lưng ngựa, xuất hiện sau thế chiến thứ 2, và rất phổ biến trên phim ảnh, truyền hình, các cuộc thi đuổi bắt gia súc, các cuộc đua ngựa. Với bản năng vốn có là sự linh hoạt và dễ huấn luyện, giống chó này đã trở thành một biểu tượng của những trang trại chăn nuôi gia súc ở Mỹ, cũng như ở các nông trại. Những người chăn nuôi gia súc ở Mỹ đã tiếp tục phát triển giống chó này, chủ yếu hướng tới tính linh hoạt, tính thông minh, kiên nhẫn, bản năng lùa gia súc mạnh mẽ và khả năng dùng mắt nắm bắt được những yêu cầu của chủ - vốn là một đặc điểm mà chúng đã được hâm mộ trong quá khứ.
Mặc dù mọi con chó gần như đồng nhất về màu lông và các kiểu khoang, tất cả các con chó Australian Shepherd đều thể hiện sự cống hiến với gia đình của chúng theo một cách không thể đòi hỏi nhiều hơn. Những cống hiến của chúng cho con người đã đảm bảo cho giống chó Australian Shepherd tiếp tục được phổ biến và nhân rộng.

Tổng thể chung: Chó Australian Shepherd có ngoại hình cân đối, hơi dài hơn so với chiều cao, có kích thước và khung xương ở mức trung bình, với màu lông đặc biệt, rất đặc thù và riêng có. Chúng rất sống động và tập trung, uyển chuyển và linh hoạt, khung người chắc chắn và cơ bắp, nhưng không có vẻ cục mịch, nặng nề. Chúng có bộ lông dài và thô cứng vừa phải. Chúng thường bị cắt đuôi hoặc có đuôi cộc tự nhiên.

Các cân đối quan trọng: Chiều dài đo từ xương ức tới phía hết mông ở chó Australian Shepherd hơi dài hơn so với chiều cao đo từ chóp vai tới mặt sàn.
Độ vững chắc: Cấu trúc chắc chắn với xương phát triển vừa phải. Cấu trúc cơ thể của chó đực thể hiện sự mạnh mẽ nhưng không thô nặng. Chó cái có vẻ ngoài đặc trưng của giống cái nhưng xương không có vẻ mảnh khảnh, yếu ớt.

Tính cách: Chó Australian Shepherd là một giống chó làm việc thông minh, với bản năng lùa gia súc và canh gác rất lớn. Chúng là những người bạn trung thành và có thể lực, sức chịu đựng để có thể làm việc cả ngày. Với tính khí bình ổn, chúng có bản tính rất tốt, rất ít khi cáu kỉnh. Đôi khi chúng tỏ ra thận trọng với những người lạ. Tất cả các dấu hiệu của sự nhút nhát, sợ hãi hoặc hung dữ đều được coi là những lỗi rất nặng.

Đầu: Đầu có các đường nét rõ ràng, mạnh mẽ và gọn gàng. Tổng thể đầu cân đối với thân mình.

Vùng sọ:
Sọ: Đỉnh sọ thẳng hoặc hơi cong nhẹ. Xương chẩm có thể hơi lồi nhẹ. Chiều dài và chiều rộng sọ bằng nhau.
Điểm chuyển tiếp trán – sống mũi: Vừa phải, có thể thấy rõ.

Vùng mặt:
Mũi: Màu khoang lốm đốm màu xám (Blue merle) và chó khoang màu đen có sắc tố đen ở mũi và mép. Chó khoang lốm đốm màu vàng đỏ (Red merles) và chó khoang màu vàng đỏ có sắc tố nâu đỏ (liver - brown) ở mũi và mép. Ở chó khoang lốm đốm (merle), nếu mũi thiếu sắc tố, tạo thành các vệt lốm đốm màu hồng cũng được chấp nhận. Tuy nhiên, những vệt lốm đốm hồng không được vượt quá 25 % phần mũi con chó khi nó trên một tuổi. Nếu không, nó sẽ bị coi là một lỗi nặng.
Mõm: Có chiều dài bằng hoặc dài hơn một chút so với phần sọ. Khi nhìn từ bên cạnh, đường dọc trên sọ và đường dọc trên mõm song song với nhau, chuyển tiếp với nhau một cách vừa phải, nhưng vẫn nhìn rõ thấy điểm chuyển tiếp trán – sống mũi. Chóp mõm hơi nhọn lại so với phần gốc mõm và phần chóp mõm tròn.
Hàm/ Răng: Răng trắng, khỏe, đầy đủ. Răng cắn hình cắt kéo hoặc có thể cắn thẳng.
Mắt: Mắt màu nâu, màu xám, màu hổ phách, hoặc bất cứ dạng nào của các màu này, hoặc các màu này kết hợp lẫn với nhau, gồm cả dạng mắt có màu lốm đốm, có các vân khác nhau. Mắt có hình quả hạnh, không lồi nhưng cũng không sâu. Chó có màu khoang lốm đốm xám và khoang màu đen có mi mắt màu đen. Chó khoang lốm đốm màu vàng đỏ và chó khoang màu vàng đỏ có sắc tố nâu đỏ ở mí mắt.
Ánh nhìn: thể hiện sự thông minh và tập trung, cảnh giác và hăng hái. Ánh nhìn của con chó khi tập trung thể hiện vẻ kiên nhẫn nhưng thân thiện.
Tai: Có hình tam giác, có kích thước vừa phải, có lông dài, nằm cao trên đầu. Khi chó tập trung, tai của chúng dựng lên và hướng về phía trước, hoặc sang bên theo dạng tai gập cánh hoa hồng. Tai vểnh hẳn lên hoặc tai rủ xuống bị coi là lỗi nặng.

Cổ: Khỏe mạnh, có chiều dài vừa phải, phía trên gáy hơi cong, và tiếp nối vừa vặn vào phần vai.

Thân mình:
Đường dọc sống lưng: Lưng thẳng và rắn chắc, khỏe mạnh, nằm ngang từ vai tới khớp hông.
Mông: Nằm xiên vừa phải.
Ngực: không rộng, nhưng sâu với điểm thấp nhất chạm thới khủy chân trước.
Lồng ngực: Rất cong và dài, không tròn kiểu ngực thùng rượu nhưng cũng không mỏng mảnh.
Đường dọc dưới thân mình và bụng: Thắt lên vừa phải.

Đuôi: Thẳng, đuôi có thể dài hoặc cộc bẩm sinh. Với những con chó bị chủ cắt đuôi (ở những nước không bị cấm) hoặc đuôi cộc bẩm sinh, phần đuôi không được dài quá 10 cm.

Tứ chi

Chân trước:
Vai: Xương bả vai dài, dẹt, nằm tương đối sát nhau ở phần chóp vai và nằm xiên. Xương cẳng trên, có chiều dài tương đương với xương bả vai, tạo thành một góc gần bằng góc vuông với xương bả vai. Cẳng chân thẳng, đứng thẳng và vuông góc với mặt sàn.
Cẳng chân: Thẳng và chắc khỏe. Xương chắc, có dạng hình oval nhiều hơn dạng hình tròn.
Cổ chân: Dài vừa phải và hơi nghiêng. Móng treo (huyền đề) ở chân trước thường được cắt bỏ.
Bàn chân: Hình oval, chắc chắn, các ngón chân nằm sát nhau, ngón chân cong. Đệm bàn chân cứng và đàn hồi.

Chân sau:
Tổng thể: Độ rộng của đùi sau tương đương với độ rộng của phần chân trước ở đoạn bả vai.
Góc tạo thành giữa khung xương chậu và đùi trên tương đương với góc tạo giữa xương bả vai và cẳng trên, tạo thành một góc gần bằng góc vuông.
Khớp đùi trên (gối): Gập rõ.
Khớp cổ chân: cong vừa phải.
Cổ chân: ngắn, nằm thẳng với mặt sàn và song song với nhau khi nhìn từ phía sau. Móng treo (huyền đề) chân sau cần phải cắt bỏ.
Bàn chân: Hình oval, chắc chắn, các ngón chân nằm sát nhau, ngón chân cong. Đệm bàn chân cứng và đàn hồi.

Chuyển động: Chó Australian Shepherd có bước chạy uyển chuyển, thoải mái và nhẹ nhàng. Chúng rất khéo léo và lanh lợi trong chuyển động, luôn cân bằng và có các bước chạy sải dài. Cả chân trước và chân sau chuyển động thẳng, song song với trục dọc thân mình. Khi chó chạy tốc độ cao, các bàn chân (cả trước và sau) có xu hướng chụm vào đường dọc giữa thân mình để cân bằng trọng lực, trong khi lưng chó vẫn thẳng và cân bằng. Chó Australian Shepherd cần phải có sự linh hoạt và khả năng thay đổi hướng chạy một cách đột ngột.

Da lông

Lông: Lông dày vừa phải, có thể thẳng hoặc lượn sóng, lông có chiều dài trung bình và có khả năng bảo vệ chó khỏi các tác động của thời tiết. Lớp lông lót rất dày để thích nghi với các biến đổi khí hậu. Lông trên đầu, tai, phía trước của chân trước và dưới cổ chân ngắn và mượt. Phía sau của chân trước và đùi sau có lông dài vừa phải. Cổ và gáy có lông dài vừa phải, tạo thành kiểu bờm lông hoặc nếp lông quanh cổ như cổ áo, vùng lông này ở chó đực thường phát triển hơn chó cái. Những con chó có lớp lông không đặc trưng được coi là lỗi nặng.

Màu sắc: Chó có màu khoang lốm đốm màu xám (Blue merle), màu đen, chó khoang lốm đốm màu vàng đỏ (Red merles), màu vàng đỏ - trên toàn bộ thân mình, chó có thể có hoặc không có các mảng khoang màu trắng hoặc màu vàng đỏ (tan-copper), không có yêu cầu cụ thể về ưu thế của các màu sắc trên bộ lông. Dải lông trắng viền quanh cổ chó không kéo dài quá chỏm vai.
Màu lông trắng được chấp nhận khi nó tạo thành một dải lông trắng viền quanh cổ (kể cả thành một vòng kín hoặc không), ở ngực, ở chân, ở phần dưới mõm, thành vết trắng dọc đầu và các vệt màu trắng kéo dài xuống dưới không quá 10cm (4in-xơ), đo từ đường ngang ở khuỷu chân trước.
Sọc lông trắng dọc trên đầu không được chiếm ưu thế, quanh mắt cần phải có lông màu và sắc tố. Chó màu khoang lốm đốm trở nên đậm hơn chó già đi.

Kích thước:
Chiều cao tới vai: chiều cao tới vai được ưa chuộng với chó đực là 51-58 cm (20-23 in-xơ), chó cái là 46-53 cm (18-21 inches). Chất lượng của con chó vẫn được đặt lên trước so với những kích thước ưa thích.

Lỗi: Bất cứ các điểm khác biệt so với những đặc điểm nên trên đều được coi là lỗi và mức độ nặng nhẹ được đánh giá theo từng lỗi của các bộ phận và mức độ ảnh hưởng của lỗi đó đến tổng thể con chó, cũng như các ảnh hưởng tới sức khỏe và chức năng của con chó.

Các lỗi phải loại bỏ:
• Hung dữ hoặc quá nhút nhát.
• Hàm trên vẩu, hoặc hàm dưới. Các răng cửa ở giữa không chạm được vào nhau do quá ngắn nhưng con chó vẫn có dạng miếng cắn chuẩn không bị đánh giá là vẩu hàm trên. Răng bị gãy hoặc sứt mẻ do các tai nạn không bị trừ điểm.
• Có vệt màu trắng trên thân mình, cho tất cả các màu lông, cụ thể là có màu trắng trên thân mình ở khoảng giữa chóp vai tới đuôi, ở hai bên trong khoảng giữa khuỷu chân trước và mặt sau của chân sau.

Các con chó có dấu hiệu không bình thường về thể chất và tinh thần đều bị loại.

N.B.: Chó đực ở tư thế bình thường phải có hai tinh hoàn lộ rõ trong bìu.


Australian Shepherd - EAustralian Kelpie - E

Write a comment

New comments have been disabled for this post.