My Opera is closing 1st of March

Mr. Hieu Anh. PhD - Shaolin CFO!

Information in this blog is not allowed to re-produce /copy /public without agreement of Shaolin CEO (Fangzhang) or Shaolin CFO (Hiếu Anh. PhD). Be CAREFULL when I'm angry!!!

Belgian Shepherd - V

,

Còn đây là Béc-giê Bỉ!
Béc-giê (Berger) là chó chăn cừu ý mà!

Bản tiêu chuẩn số 15/ 19.04.2002 /GB của FCI

BELGIAN SHEPHERD DOG
(Chien de Berger Belge – chó chăn gia súc nước Bỉ)



Người dịch: Bà Jeans-Brown, người chỉnh sửa: tiến sỹ R. Pollet.

Nguồn gốc : Nước Bỉ.

Ngày ban hành bản tiêu chuẩn gốc có hiệu lực : 22.06.2001.

Công dụng: Nguồn gốc ban đầu được sử dụng làm chó chăn cừu, ngày nay được sử dụng làm chó nghiệp vụ (như canh gác, bảo vệ, truy vết…) và cho tất cả các mục đích phục vụ con người, cũng như làm chó nuôi trong gia đình.

Phân nhóm theo F.C.I. :
Nhóm 1: Chó chăn cừu và gia súc (trừ chó vùng núi và chó chăn gia súc Thụy Sỹ).
Phân nhóm 1: Chó chăn cừu. Dùng làm chó nghiệp vụ.

Tóm tắt lịch sử: Tại Bỉ, vào cuối thế kỷ 18, có một số lượng rất lớn chó chăn gia súc, những con chó này có hình thể và bộ lông rất khác nhau. Với mục đích thống nhất lại một cách có hệ thống các giống chó này, một số người nuôi chó có nhiệt huyết đã thành lập một nhóm và tìm kiếm sự hỗ trợ của Giáo sư A. Reul của trường đào tạo bác sỹ thú y Cureghem (Cureghem Veterinary Medical School) – người được nhắc đến đầu tiên như một người ủng hộ thực sự và người tạo ra giống chó này.

Giống chó này được chính thức khai sinh vào khoảng từ năm 1891 đến 1897. Ngày 29/09/1891, Câu lạc bộ chó chăn gia súc Bỉ (Belgian Shepherd Dog Club – BSDC - Club du Chien de Berger Belge) được thành lập tại Brussels và trong cùng năm đó, vào ngày 15/11 tại Cureghem, giáo sư A. Reul đã tập hợp được 117 con chó mà theo ông, chúng có thể cho phép ông ta lựa chọn được những con chó tốt nhất như đã có trong quá khứ. Trong những năm sau, nhóm những người nuôi chó này bắt đầu một chương trình thực sự để lựa chọn, đồng thời tiến hành xen kẽ việc phối giống cùng trực hệ gần đối với chó con của một số những con chó đực giống.

Ngày 03/04/1892, việc soạn thảo bản tiêu chuẩn chi tiết đầu tiên của giống chó được BSDC hoàn tất. Một giống chó duy nhất được chấp nhận với ba loại lông khác nhau.

Tuy nhiên, như đã nói ban đầu, chó Belgian Shepherd chỉ được một nhóm người thông thường nuôi dưỡng, và do đó, giống chó này thiếu đi sự thừa nhận của xã hội.

Do đó, đến tận năm 1901, những con chó Belgian Shepherds đầu tiên mới được đăng ký và ghi nhận vào sổ phả hệ của Hiệp hội chó giống Bỉ (Royal Saint-Hubert Society Stud Book - L.O.S.H.).

Trong những năm tiếp theo, những người cùng ý nguyện và ưa chuộng giống chó Belgian Shepherd đã có động lực rất lớn, cùng làm việc với nhau để thống nhất các dạng ngoại hình và sửa chữa những lỗi thường gặp của giống chó. Cho tới năm 1910, hình dạng bên ngoài và tính cách của giống chó Belgian Shepherd đã được thiết lập.

Trong quá trình lịch sử của chó Belgian Shepherd, câu hỏi về việc khác biệt về kiểu lông và màu lông – nhưng vẫn được chấp thuận đối với giống chó này đã dẫn đến nhiều cuộc tranh luận nảy lửa. Tuy nhiên, trên những khía cạnh liên quan đến hình thái, tính tình và mức độ phù hợp với các công việc khác nhau của giống chó này thì lại không hề gây ra những bất đồng và tranh cãi.


Ngoại hình chung: Chó Belgian Shepherd có ngoại hình trung bình (mediolineal), cân đối, hài hoà, kết hợp giữa sự duyên dáng, thanh lịch và sức mạnh. Chúng có kích thước vừa phải, với các cơ bắp khô, mảnh và khoẻ mạnh, thân mình hình vuông, dáng vẻ mộc mạc, phù hợp với việc nuôi dưỡng trong những khoảng không gian rộng mở và cơ thể phù hợp với việc chống chọi lại những điều kiện thời thời tiết và khí hậu thường xuyên thay đổi của Bỉ.

Mặc dù có hình dáng hài hoà và cái đầu luôn ngẩng cao, chó Belgian Shepherd cần phải tạo ra một ấn tượng về sức mạnh và sự nhẹ nhàng – những đặc tính đã trở thành “di sản” của những đại diện được lựa chọn làm đặc trưng cho một giống chó nghiệp vụ. Chó Belgian Shepherd được đánh giá trong dáng đứng tự nhiên của chúng mà không cần đến sự điều chỉnh cụ thể của người điều khiển chó.


Cân đối quan trọng: Chó Belgian Shepherd có thân mình nằm trong một hình vuông. Ngực sâu tới khuỷu chân trước. Chiều dài mõm bằng, hoặc hơi dài hơn một chút so với một nửa chiều dài toàn đầu.


Tính tình: Chó Belgian Shepherd là một giống chó cảnh giác và năng động, có khả năng hoạt động theo kiểu bùng nổ và luôn luôn sẵn sàng tham gia vào các hoạt động cụ thể. Ngoài ra, chúng có các kỹ năng bẩm sinh trong việc canh gác đàn gia súc, cũng như luôn nhận được sự đánh giá rất cao về chất lượng của một giống chó bảo vệ tài sản tốt nhất. Luôn không hề e ngại, chúng sẵn sàng bảo vệ chủ nhân của chúng một cách mãnh liệt và ngoan cường nhất. Chúng mang trong mình đầy đủ tất cả các tố chất cần thiết cho một giống chó chăn gia súc, canh gác, bảo vệ và làm các công việc khác phục vụ cho con người.
Với các đặc tính linh hoạt, cảnh giác và tự chủ đã trở thành bản năng, chúng không hề tỏ ra sợ hãi hay hung dữ, thể hiện rõ ràng trong tư thế của cơ thể chúng và vẻ tập trung nhưng cũng rất kiêu hãnh trong ánh mắt nhìn của chúng.
Khi đánh giá giống chó này, người đánh giá cần phải quan tâm tới cả tính cách không sợ hãi, nhưng cũng lại rất điềm tĩnh của chúng.


Đầu: Ngẩng cao, đầu dài và thẳng (rectilinear), không to quá mức, các đường nét rõ ràng và khô cứng. Sọ và mõm dài tương đương nhau, nhưng đa số là mõm dài hơn một chút rất nhỏ so với sọ, mang lại một vẻ nhẹ nhàng cho toàn bộ đầu.

Khu vực sọ:
Có độ rộng trung bình, cân xứng với chiều dài đầu. Trán có xu hướng phẳng nhiều hơn là cong. Đường xẻ rãnh giữa trán không lộ rõ. Khi nhìn ngang, sống dọc trán gần như song song với sống mõm. Phần xương chẩm chỉ lồi nhẹ, chỏm đầu và xương gò má không lồi rõ.
Điểm tiếp giáp giữa trán và sống mũi: gập nhẹ vừa phải.

Khu vực mặt:
Mũi: Màu đen
Mõm: Có chiều dài trung bình và lộ rõ ngay tiếp sau mắt; mõm thon nhọn dần về phía chóp mũi, dạng như hình nêm dài. Sống mõm thẳng và song song với đường dọc sọ. Hàm tách biệt riêng rẽ, cụ thể khi cho há miệng, phần góc mép của môi mở rộng về phía sau, có thể nhìn rõ hai hàm tách riêng nhau.
Môi: Mỏng, khép chặt và có màu đen.
Răng / Hàm: Hàm khoẻ, răng trắng, chắc khoẻ và sắp xếp đều đặn trên hàm. Răng căn hình cắt kéo, kiểu cắn như càng cua cắp – rất được ưa chuộng ở những giống chó chăn cừu và gia súc – cũng được chấp nhận. Bộ răng phát triển đầy đủ và hoàn chỉnh ( 42 chiếc răng theo đúng công thức của hàm răng chó). Chó thiếu hai răng tiền hàm số 1 (2 PM1) được chấp nhận. Răng hàm số 3 (M3) không được đánh giá đến.
Má: Gọn và khô mảnh, tương đối phẳng mặc dù hệ thống cơ vẫn phát triển.
Mắt: Có kích thước trung bình, không lồi nhưng cũng không sâu, có hình gần giống với hình quả hạnh, nằm xiên, có màu nâu, càng tối càng được ưa chuộng. Mi mắt có màu đen. Ánh nhìn thẳng, nhanh nhẹn, thông mình và bộc lộ vẻ dò xét.
Tai: Tương đối nhỏ, nằm cao, Rather small, set high, có hình tam giác rõ rệt, viền ngoài tai tròn, chóp tai nhọn hoắt, tai cứng, luôn dựng thẳng và thẳng đứng khi chó cảnh giác hoặc chú ý.


Cổ: Cổ vươn cao, hơi dài, gần như dựng thẳng đứng. Cổ cơ bắp, chắc khoẻ, nở rộng dần về phía vai, không có diềm cổ. Phần gáy hơi cong nhẹ.

Thân mình: Mạnh mẽ nhưng không nặng nề, chiều dài từ đầu xương bả vai tới khấu đuôi gần bằng chiều cao tới chóp vai.
Đường dọc trên sống lưng: đường dọc trên sống lưng từ lưng tới hông thẳng.
Vai: nổi rõ.
Lưng: chắc khoẻ, ngắn và có nhiều cơ bắp.
Hông: rắn chắc, ngắn, tương đối rộng và có hệ cơ phát triển.
Mông: cơ mông nở nang, mông hơi xiên nhẹ, mông khá rộng nhưng không quá to.
Ngực: không rộng lắm nhưng rất sau. Phần trước của xương sườn ở lồng ngực cong. Nhìn từ phía trước, lồng ngực không bị hẹp và chỉ hơi rộng.
Đường dưới bụng: Bắt đầu từ điểm tiếp sau lồng ngực, cong vừa phải và đều đặn, hài hoà lên phần bụng - không thấp xuống cũng như không thắt hẳn cao lên. Đường ngực – bụng này chỉ cong nhẹ lên một cách vừa phải.

Đuôi:
Đuôi nằm tiếp theo sống lưng, gốc đuôi khoẻ, đuôi có chiều dài trung bình, chiều dài đuôi ngắn nhất phải tới khuỷu chân sau, đuôi dài hơn được ưa chuộng hơn. Khi chó nghỉ ngơi, đuôi buông thõng, đến phần ngang với khuỷu chân, chóp đuôi cong lên. Khi chó vận động, đuôi nâng cao hơn nhưng không quá đường ngang sống lưng và đoạn cong ở chóp đuôi có trở nên xu hướng duỗi thẳng ra. Đuôi không bao giờ có hình cong kiểu lưỡi liềm hoặc lệch sang bên.


Tứ chi

Chân trước:
Tổng thể: Xương cứng chắc nhưng không nặng nề. Cơ bắp khô mảnh và chắc khoẻ, chân trước thẳng khi nhìn từ hai bên và song song với nhau khi nhìn từ phía trước.
Vai: Xương bả vai dài và nằm xiên, kết nối chắc chắn với thân mình, xương bả vai tạo thành một đủ lớn với xương cẳng trên. Góc lý tưởng tạo ra giữa hai xương này là từ 110 đến 115 độ.
Cẳng chân trên: Dài và nằm tương đối xiên.
Khuỷu chân trước: Chắc khoẻ, không hướng ra ngoài cũng không khép vào trong.
Cẳng chân: Dài và thẳng.
Khớp cổ chân trước: rất khoẻ và gọn gàng.
Cổ chân trước: Chắc, khoẻ và ngắn, dựng thẳng đứng với mặt sàn đến mức tối đa, hoặc có thể hơi nghiêng nhẹ về phía trước.
Bàn chân: Tròn, kiểu chân mèo, các ngón chân cong và nằm sát nhau, đệm chân dày và đàn hồi. Móng chân đen và khoẻ.

Chân sau:
Tổng thể: Mạnh mẽ nhưng không nặng nề. Khi nhìn ngang, chân sau có xu hướng thẳng đứng. Khi nhìn từ phía sau, hai chân song song với nhau một cách hoàn hảo.
Đùi trên: Có chiều dài trung bình, đùi rộng, hệ cơ bắp khoẻ mạnh.
Khớp đùi trong: nằm vào khoảng đường chiếu thẳng từ xương hông xuống mặt đất. Khớp đùi trong gấp vừa phải.
Đùi dưới: Dài vừa phải, rộng và cơ bắp.
Khớp cổ chân sau: Nằm thấp so với mặt sàn, rộng và chắc chắn, gập góc vừa phải.
Cổ chân sau: chắc chắn và ngắn, móng treo ở chân sau không được ưa chuộng.
Bàn chân: Có thể dài hình oval, ngón chân cong và nằm sát nhau. Đệm chân dày và đàn hồi. Móng chân đen và khoẻ.


Chuyển động: Sôi động và chuyển động nhẹ nhàng, thoải mái ở tất cả các kiểu bước chạy khác nhau, chó Belgian Shepherd là một giống chó chạy nước đại rất tốt, nhưng chúng thông thường hay đi bộ hoặc chạy nước kiệu. Bốn chân chuyển động song song với mặt phẳng đối xứng tưởng tượng chia dọc cơ thể. Ở tốc độ cao, bốn chân có xu hướng chụm lại gần mặt phẳng đối xứng này. Khi chạy nước kiệu, các bước sải chân của chúng ở mức trung bình, chuyển động nhẹ nhàng và đều đặn. Chân sau có lực đẩy tốt. Sống lưng ổn định, chân trước không nhấc lên quá cao. Trong các kiểu chạy, người ta không hề thấy dấu hiệu của sự mệt mỏi của chó Belgian Shepherd. Bước chạy của chúng luôn nhanh nhẹn, đàn hồi và nhịp nhàng. Chúng có khả năng thay đổi hướng chạy đột ngột ở tốc độ cao. Bắt nguồn từ các đặc tính khoẻ mạnh vốn có và tố chất sẵn sàng canh gác, bảo vệ của chúng, chúng có một đặc tính được nêu ra là hay có xu hướng chạy vòng quanh, chạy qua chạy lại trên những khu vực nhất định.

Da: Da căng và đàn hồi trên toàn cơ thể. Da ở phần mép và mi mắt có sắc tố đen rất mạnh.

Lông và các dòng chó (chi): Mặc dù có sự khác nhau về chất lông, độ dài, kiểu lông nhìn bên ngoài và màu lông giữa các dòng chó Belgian Shepherds, những đặc tính sau đây được thông qua để làm cơ sở chi tiết cho việc phân biệt giữa bốn dòng (chi) chó của giống chó này, đó là:
- Groenendael,
- Tervueren,
- Malinois
- Laekenois.
Bốn dòng chó này được đánh giá riêng biệt trong các cuộc thi, và mỗi dòng chó đều có thể được trao các giải thưởng C.A.C., C.A.C.A.B. và các danh hiệu dự phòng cho các giải chính này.


Chất lông: Trong tất cả các dòng chó, lông của giống chó này luôn luôn phải rậm rạp, nằm sát với cơ thể và có chất lông chắc khoẻ, với lớp lông lót mềm và xốp như len để tạo thành một lớp bảo vệ bên ngoài tuyệt vời cho cơ thể chúng.

A. LÔNG DÀI: Lông ngắn ở những phần đầu, mặt ngoài của tai, phần dưới của các chân, trừ phần lông ở mặt sau của chân trước, từ khuỷu chân tới cổ chân, có lông dài theo kiểu những dải lông (fringes). Lông dài và mượt trên toàn bộ các phần của cơ thể. Quanh cổ và trước ngực có lông dài, rậm rạp hơn, tạo thành bờm lông dài quanh cổ thành hình bờm hoặc khăn quàng cổ. Lớp lông ngoài cứng để bảo vệ cơ thể khỏi tác động của thời tiết. ở phần gốc tai, lông dựng thẳng làm khung nền cho đầu. Lông ở phía sau đùi sau rất dài và dày, tạo thành kiểu lông “mặc quần soóc” hoặc “quần ống túm”. Đuôi có lông rất dài và dày, tạo thành chùm lông phơ phất.
Chó Groenendael và Tervueren là loại chó lông dài.

B. LÔNG NGẮN: Lông rất ngắn ở phần đầu, phần bên ngoài và phía sau tai, phần dưới của bốn chân. Lông trên toàn thân ngắn, lông ở phần đuôi và quanh cổ dài hơn, tạo thành bờm lông dài quanh cổ thành hình bờm hoặc khăn quàng cổ, bắt đầu từ gốc tai, kéo dài xuống ức và xuống xa nhất phía dưới có thể. Phía sau đùi sau cũng có những dải lông dài hơn. Đuôi có dạng hình dạng kiểu thân các loại cây ngũ cốc nhưng lông không dài hẳn ra để tạo thành những chùm lông dài phơ phất.
Chó Malinois là loại chó lông ngắn.


C. LÔNG XOĂN: Điểm đặc biệt của dòng này là lông xoăn, xù xì và thô cứng, thậm chí có thể rối bù xù và có cảm giác thô nhám khi sờ vào. Lông dài khoảng 6 cm trên toàn cơ thể, ngắn hơn một chút ở phần sốn mũi, trán và các chân. Lông ở phần quanh mắt và quanh mõm không quá dài để che mất hình dạng đầu. Tuy nhiên, chúng cần phải che được mõm của con chó. Đuôi chó không có lông quá dài để tạo ra kiểu chùm lông dài phơ phất.
Chó Laekenois là loại chó lông xoăn.



Màu sắc:
Mặt đen: ở chó Tervueren và Malinois cần phải có mặt nạ rõ rệt và có xu hướng phủ kín cả môi trên và môi dưới, khoé miệng, mi mắt đẻ tạo thành một khối liền nhau màu đen. Có sáu điểm của da mà vấn đề sắc tố đen được yêu cầu rất nghiêm ngặt là: hai tai, hai mi mắt trên, môi trên và môi dưới nhất thiết phải có màu đen.
Lông đen ở phần đầu sợi lông: Ở chó Tervueren và Malinois, lông chó có màu đen ở phần đầu sợi lông, trên nền của màu lông chính. Kiểu màu lông chuyển dần sang đen cần phải đều đặn và không tạo thành các mảng khoang đen lớn hoặc tạo thành các sọc đen trên cơ thể chó (màu vện). Ở chó Laekenois, phần lông đen ở đầu sợi lông nhạt và ít hơn.

Chó Groenendael: chỉ có một màu đen thuần nhất.


Chó Tervueren: Có màu vàng hoặc màu vàng xám hung với sợi lông bị đen ở phần đầu, cùng với phần mặt đen kiểu “đeo mặt nạ”. Tuy nhiên, màu lông nền vàng được ưa chuộng hơn. Màu vàng cần sậm và tối, không sáng và cũng không nhợt nhạt. Tất cả những con chó có màu lông không phải là màu lông vàng với phần đầu sợi lông màu đen, hoặc màu vàng không đạt tới gam màu mong muốn có thể bị đánh giá là các cá thể bị thoái hoá.


Chó Malinois: Chỉ có màu vàng với sợi lông bị đen ở phần đầu, cùng với phần mặt đen kiểu “đeo mặt nạ”

Chó Laekenois: Chỉ có màu vàng với sợi lông hơi bị đen rất nhẹ ở phần đầu, chủ yếu ở phần mõm và đuôi.

Với tất cả bốn dòng chó: các đốm trắng nhỏ ở ngực và ngón chân cũng được chấp nhận.

Kích thước, cân nặng và các chỉ số đo:
Chiều cao tới vai:
Chiều cao tới vai bình quân là 62 cm với chó đực và 58 cm với chó cái.
Giới hạn: thấp hơn 2 cm và cao hơn 4 cm.

Cân nặng:
Chó đực nặng từ 25-30 kg. Chó cái nặng từ 20-25 kg.

Các chỉ số đo: Chiều cao bình quân với chó Belgian Shepherd đực trưởng thành là 62 cm tới vai:
- Chiều dài mình (từ chóp vai tới khấu đuôi): 62 cm.
- Chiều dài đầu: 25 cm.
- Chiều dài mõm: 12,5 – 13 cm.

Các lỗi: Tất cả các khác biệt với bản tiêu chuẩn được coi là lỗi và mức độ nặng nhẹ của các lỗi được đánh giá bằng sự ảnh hưởng tới con chó của lỗi đó và mức độ ảnh hưởng của các lỗi.
- Tổng thể: Cục mịch, nặng nề, thiếu sự thanh thoát, lịch thiệp, quá mảnh mai, người dài hơn chiều cao, thân mình nằm trong hình chữ nhật.
- Đầu: Nặng nề, quá to nặng, không đủ độ thẳng và song song, không đủ độ khô mảnh, các đường nét không rõ ràng. Trán quá tròn, điểm tiếp giáp giữa trán với sống mũi quá rõ hoặc quá thẳng. Mõm quá ngắn hoặc nhỏ, mũi cong gồ (Roman nose); đường dọc giữa trán và gò má nổi quá rõ.
- Mũi, mép, mi mắt: không có đủ sắc tố đen.
- Răng: răng cửa không thẳng hàng. Các lỗi nặng: thiếu 1 răng cửa (1 I), một răng tiền hàm số 2 (1 P2), một răng tiền hàm số 3 (1 P3) hoặc ba răng tiền hàm số 1 (3 P1).
- Mắt: tròn, có màu sáng.
- Tai: To, dài, gốc tai quá rộng, tai nằm thấp, hướng ra ngoài hoặc hướng vào trong.
- Cổ: Mảnh mai, ngắn hoặc nằm ở vị trí thấp.
- Thân mình: quá dài, lồng ngực quá rộng (hình trụ).
- Vai: thẳng, thấp.
- Sống lưng: lưng và/hoặc hông dài, yếu, võng hoặc cong gù.
- Mông: quá xiên, to quá khổ.
- Bụng dưới: bụng nằm quá thẳng hoặc quá xiên theo chiều ngang. Bụng thắt cao lên quá nhiều.
- Đuôi: nằm quá thấp, đuôi dương lên quá cao như lưỡi mác, đuôi lệch sang một bên.
- Bốn chân: Xương quá mạnh hoặc quá nặng, khi nhìn ngang thân mình chó, xương chân không thẳng (cổ chân trước quá xiên hoặc quá yếu), khi nhìn thẳng, các bàn chân, khuỷu chân hướng ra ngoài hoặc hướng vào trong. Từ phía sau: chân sau quá gần nhau hoặc cách nhau quá xa, chân cong, khuỷu chân chĩa vào nhau hoặc hướng ra ngoài. Chân sau gập góc quá lớn hoặc quá thẳng.
- Bàn chân: xoè rộng.
- Chuyển động: Chân đá gần vào nhau, các bước chạy quá ngắn, khả năng chuyển hướng của chân trước kém, sức đẩy của chân sau yếu, khi chạy chân nhấc cao.
- Lông: cho cả bốn dòng chó: không có đủ lớp lông lót.
Chó Groenendael và Tervueren: Lông xốp như len, lông gợn sóng, lông xoăn, lông ngắn, không đủ dài.
Chó Malinois: Lông dài trung bình ở những đoạn cần phải ngắn, lông mượt, lông thô ráp, xù xì rải rác trên nền lông ngắn, lông gợn sóng.
Chó Laekenois: lông quá dài, mềm mịn như lụa, lông gợn sóng, lông khô hoặc ngắn, hoặc có nhiều sợi lông mềm mịn lẫn trong những chòm lông xoăn cứng, lông quá dài xung quanh mắt hoặc bên dưới đầu (phần cằm), đuôi chổi sể.
- Màu lông: Cho cả bốn dòng chó: vệt trắng trước ngực dài tạo thành kiểu cravat, đốm trắng ở bà chân kéo dài quá bàn chân.
Chó Groenendael: Có màu đỏ nhẹ trên lông, màu xám nòng súng.Chó Tervueren: màu xám.
Chó Tervuren and Malinois: màu vện, màu lông không tươi tắn, ấm áp, phần đen ở đầu sợi lông quá đậm hoặc quá ít, hoặc tạo thành mảng lông vá trên thân mình, hoặc không tạo thành mặt nạ đen trên mặt.
Chó Tervueren, Malinois và Laekenois: nếu lông có màu vàng quá nhạt, hoặc màu nền cơ bản bị phai nhạt quá nhiều (wash-out) bị coi là một lỗi nặng.
- Tính cách: Thiếu tính tự chủ hoặc thần kinh mất cân bằng.


Các lỗi phải loại bỏ:
- Tính cách: hung dữ hoặc nhút nhát.
- Dáng vẻ bên ngoài: thiếu các đặc điểm chung về hình dáng của giống.
- Răng: Vẩu hoặc trễ, kể cả khi tiếp xúc của hai hàm răng vẫn khít nhau (miếng cắn kiểu cắt kéo ngược); răng cắn cắt chéo nhau, thiếu 1 răng nanh (1 C), thiếu một răng nhai: răng tiền hàm số 4 của hàm trên (1 P4) hoặc 1 răng hàm số 1 ở hàm dưới (1 M1), một răng hàm (răng hàm số 1 ở hàm trên M1 hoặc 1 răng hàm số 2 (M2) – răng hàm số 3 (M3) không bị đánh giá), thiếu 1 răng tiền hàm số 3 (P3) cộng thêm một răng khác hoặc tổng số thiếu từ 3 răng trở lên (không kể răng tiền hàm số 1).
- Mũi, môi, mi mắt: Thiếu sắc tố đen rõ rệt.
- Tai: tai rủ hoặc dựng lên một cách gượng gạo.
- Đuôi: cộc đuôi hoặc đuôi ngắn, do bẩm sinh hoặc do người nuôi cắt bớt, đuôi dựng lên quá cao và cuộn vòng hoặc cuộn xoắn.
- Lông: không có lớp lông lót.
- Màu lông: Bất cứ màu nàu khác với các màu mô tả ở trên, cho từng nòi chó, vệt lông trắng vá quá rộng ở ngực, đặc biệt khi chúng kéo quá sâu xuống cổ, vết lông trắng ở bàn chân kéo dài quá một nửa cổ chân (bất kể ở phía trước hay phía sau và tạo thành như kiểu đi tất), có vệt lông trắng ở bất cứ đâu trên thân mình ngoài ngực và bàn chân; không có mặt nạ, bao gồm cả phần mõm có màu nhà hơn phần lông còn lại ở chó nòi Tervueren và Malinois.
- Kích thước: Không nằm trong khung đã quy định.

N.B.: Chó đực cần có đủ hai tinh hoàn lộ rõ trong bìu.

Phối giống lẫn giữa các nòi chó:
Bất cứ sự lai giống nào giữa các nòi chó trên đều bị ngăn cấm, ngoại trừ trong những trường hợp riêng biệt, khi mà điều khoản cấm này được nới lỏng bởi một uỷ ban chính thức và phù hợp của giống chó. (quy định áp dụng từ năm 1974, thông qua tại Paris, Pháp).

Belgian Shepherd - EIPO - GUIDELINES for International Working Dog Trials and International Tracking Dog Trials of the FCI - E

Write a comment

New comments have been disabled for this post.