Collie (Rough Coat) - V
Thursday, August 20, 2009 7:01:06 AM
Chó gì mà mặt dài thườn thượt ý nhỉ???
Bản tiêu chuẩn số 156/24.06.1987 của FCI
ROUGH COLLIE
Nguồn gốc: Vương quốc Anh
Ngày phát hành bản tiêu chuẩn gốc có hiệu lực: 24.06.1987.
Công dụng: Chó chăn cừu.
Phân loại theo F.C.I.:
Nhóm 1: Chó chăn cừu và chăn gia súc – trừ chó chăn gia súc của Thụy Sỹ
Phân nhóm 1: Chó chăn cừu. Không sử dụng làm chó nghiệp vụ
Ngoại hình chung:
Chó Collie có một sự quyến rũ ngay từ cái nhìn đầu tiên bởi vẻ ngoài tuyệt đẹp, với một dáng vẻ cao quý và bình thản và không có bất cứ một chi tiết thừa hay mất cân đối nào trên toàn bộ cơ thể.
Các đặc điểm:
Để cho chó Collie có thể hoàn thành chức năng và năng khiếu di truyền của nòi giống chúng qua nhiều thế hệ là làm chó chăn cừu, cấu trúc cơ thể của chúng cần phải đặc biệt phù hợp với các yêu cầu về thể lực và vận động, hoàn toàn không có vẻ cục mịch và không có bất cứ dấu hiệu nào của sự thô cứng, nặng nề. Vẻ mặt biểu cảm, một trong những điểm quan trọng nhất trong việc đánh giá các giá trị của con chó, kết hợp cùng với kích thước cân đối của sọ, trán, và ánh mắt, bao gồm kích thước, hình dạng, màu sắc và vị trí của mắt, cũng như vị trí và và các chuyển động của đôi tai, luôn bộc lộ một tính cách cân bằng hoàn hảo.
Tính cách
Chó Collie luôn có tính tình thân thiện và không có bất cứ dấu hiệu nào của sự hung dữ hoặc nhút nhát.
Đầu và sọ
Các đường nét của phần đầu là đặc biệt quan trọng và đầu cần được quan tâm đến sự cân đối tổng thể với tầm vóc cơ thể của con chó. Khi nhìn từ phía trước hoặc phía bên, đầu có hình dạng thẳng, có hình chữ V gọn gàng, các đường nét bên ngoài đầu liền mạch và uyển chuyển. Sọ phẳng, thon dần một cách đều đặn từ tai tới chóp mũi, gò má không nhô lên và mõm không thắt lại. Khi nhìn từ phía bên, đường sống dọc sọ và đường sống dọc mõm nằm trên hai đường thẳng tắp, có chiều dài bằng nhau và nằm song song với nhau, phần sọ ở trán và sống mũi chuyển tiếp với nhau bằng một nếp gãy nhẹ nhưng có thể nhìn thấy khá rõ.
Điểm nằm giữa hai điểm góc trong của hai mắt, cũng là điểm chuyển tiếp giữa trán và sống mũi, cũng là trung điểm của chiều dài đầu. Mõm tương đối tròn và thon đều đặn, chóp mũi có dạng tù chứ không bao giờ có dạng vuông. Hàm dưới khoẻ, gọn gàng. Chiều sâu của sọ (chiều rộng mặt bên) tính từ trán tới hết phần dưới của hàm dưới không bao giờ quá to (sọ sâu).
Với mọi màu lông, chó luôn có mũi màu đen.
Mắt
Đây là một yếu tố rất quan trọng và nổi bật của giống chó. Mắt chúng có vẻ biểu cảm và trìu mến. Với kích thước vừa phải (không bao giờ quá nhỏ), nằm hơi xiên, có hình quả hạnh và màu nâu tối, trừ những con chó có lông khoang lốm đốm màu xám (blue merle) có thể có mắt xanh lơ, xanh xám, có thể có những vết đốm vàng, ở cả hai mặt hoặc ở một mắt, hoặc chỉ ở một phần của một mắt. Ánh nhìn của giống chó này thể hiện sự thông minh, với những phản ứng rất nhanh nhạy khi nghe thấy những tiếng động lạ.
Tai
Tai nhỏ và không nằm quá sát nhau trên phần đỉnh xương sọ, cũng như không nằm quá xa nhau. Khi chó nghỉ ngơi, tai nằm xuôi ra phía sau, nhưng khi chúng tập trung, tai hướng về phía trước và tai dựng lên một phần. Tai của chúng có đặc điểm là dựng đứng khoảng 2/3 ở phần gốc tai và 1/3 đoạn ở chóp tai gập rủ xuống về phía trước một cách tự nhiên, phần tai này cần rủ xuống thấp hơn mức gập ngang.
Răng
Răng có kích thước khá lớn, có miếng cắn hình cắt kéo.
Cổ
Cổ có cơ bắp chắc khoẻ, lực lưỡng, có chiều dài vừa phải và tương đối cong.
Thân mình
Thân mình có hơi dài hơn so với chiều cao. Lưng vững chắc, phần hông hơi cong nhẹ lên. Xương sường rất cong, ngực sâu và khá rộng ở phần ngay sau vai.
Đuôi
Đuôi dài, với xương đuôi tối thiểu cũng phải chạm tới cổ chân sau. Đuôi buông thấp khi chó nghỉ ngơi, với chóp đuôi hơi cong nhẹ lên trên. Đuôi có thể chuyển động liên tục khi chó đang hưng phấn, nhưng không cao quá lưng.
Chân trước
Vai chân trước xiên và gấp góc khá lớn. Chân trước thẳng và cơ bắp, khuỷ chân không chĩa ra ngoài cũng không hướng vào trong. Chân có xương phát triển vừa phải.
Chân sau
Chân sau có đùi rất cơ bắp, phần chân dưới đùi gọn gàng và có nhiều sợi gân nổi. Khớp xương đùi trong gập góc rõ rệt. Cổ chân chắc khoẻ và nằm vuông góc với mặt đất.
Bàn chân
Bàn chân có hình oval với đệm bàn chân cứng chắc. Ngón chân cong và nằm khít nhau. Các ngón chân của bàn chân sau hơi kém cong hơn một chút.
Chuyển động
Chuyển động là một đặc tính nổi bật của giống chó. Một con chó khoẻ mạnh, tráng kiện không bao giờ có khuỷ chân bị hướng ra ngoài. Tuy nhiên khi chạy, hai chân trước của chúng tương đối gần nhau. Các bước chân bắt chéo nhau, xoắn bện vào nhau hoặc tròng trành, không chắc chắn, ổn định bị đánh giá rất kém. Chân sau, từ khuỷ chân tới mặt sàn khi nhìn từ phía sau cần phải song song với nhau, nhưng không quá gần nhau.
Khi nhìn từ phía bên, các bước chạy phải nhịp nhàng và uyển chuyển. Chân sau luôn thể hiện một lực đẩy lớn và dồi dào sức lực. Các bước chạy hợp lý, sải dài luôn được đánh giá cao, và các bước chạy cũng cần phải nhẹ nhàng và thể hiện một sự dẻo dai, không cần cố gắng.
Lông
Lông cần vừa vặn với các đường nét cơ thể của con chó và rất rậm rạp. Lớp lông phủ ngoài thẳng và thô cứng . Lớp lông lót mềm, bông xốp và nằm sát thân mình, che gần như hết toàn bộ phần da. Bờm và yếm có rất nhiều lông dài. Lông ở phần mặt mượt, tai có lông ngắn ở phần chóp tai và dài dần về phía gốc tai.; chân trước có lông dày và dài bao phủ. Lông ở chân sau, phần từ cổ chân đổ lên đùi rất dài và bông, nhưng phần từ cổ chân trở xuống lại ngắn và mượt. Lông đuôi cũng rất dài và bông.
Màu lông
Có ba màu được công nhận, đó là các màu: xám tro xỉn khoang trắng (sable and white), ba màu (tricolour) và màu khoang lốm đốm màu xám (blue merle).
• Màu xám tro xỉn: Bất cứ gam màu nào, từ vàng nhạt tới màu gụ sậm hoặc lẫn màu tro xỉn. Màu rơm nhạt và màu kem rất không được ưa chuộng.
• Ba màu: Màu chủ đạo là màu đen với các khoang màu vàng sậm ở chân và đầu. Kiểu lông bạc màu ở phần đầu sợi lông rất không được ưa chuộng.
• Màu khoang lốm đốm màu xám: màu chủ đạo là màu xám bạc, nhạt và tươi, có các vệt lốm đốm và hoa văn như kiểu đá cẩm thạch với các vệt màu đen. Chó có các mảng màu vàng sậm được ưa chuộng, nhưng nếu không có cũng không bị đánh giá thấp. Các vệt lông đen ở mặt (kiểu mặt nạ), màu xám đen hoặc kiểu màu lông xám bị bạc màu ở phần đầu sợi lông, đối với cả lông cứng bên ngoài lẫn lông lót bên trong đều không được ưa chuộng.
Các khoang màu trắng: Tất cả các màu cần phải có kiểu khoang màu trắng đặc trưng của chó Collie, nhưng có thể có khoang ở mức độ lớn hoặc nhỏ. Các khoang màu trắng sau được ưa chuộng: vòng quanh cổ, nguyên vòng hoặc một phần cổ, ngực trắng, chân và bàn chân, chóp đuôi. Dọc sọ, sống mũi và mõm cũng có thể có một dọc lông trắng.
Kích thước
Chó đực: chiều cao đến vai từ 22 tới 24 inches (56-61cm).
Chó cái: chiều cao đến vai từ 20 tới 22 inches (51-56cm)
Lỗi:
Tất cả các điểm khác biệt với những tiêu chuẩn nêu trên được coi là lỗi và mức độ nặng nhẹ phụ thuộc vào tương quan và tỷ lệ với các tiêu chuẩn.
N.B.: Tất cả chó đực phải có 2 tinh hoàn lộ rõ trong bìu.
Trong bản tiêu chuẩn ban hành năm 1969, cân nặng của giống chó này được đề cập đến như sau:
Chó đực: 20,5 tới 29,5 kg
Chó cái: 18,0 tới 25,0 kg






