St. Bernard - V
Tuesday, July 7, 2009 9:48:01 AM
Cứ to to thì gọi là chó Ngao - mà đã là chó Ngao thì cứ phải to mới tốt! Miễn cần biết đó là chó gì!
Bản tiêu chuẩn số 61 của FCI – ngày 21. 01. 2004
ST. BERNARD
NGƯỜI DỊCH SANG TIẾNG ANH : Bà C.Seidler và Bà. Pepper.
NGUỒN GỐC : Thụy sỹ
NGÀY BẢN TIÊU CHUẨN GỐC CÓ HIỆU LỰC: 29.10.2003.
CÔNG DỤNG : Làm bạn – chó canh gác và chó trong các nông trại.
PHÂN LOẠI CỦA F.C.I.:
Nhóm 2: Các giống chó Pinscher and Schnauzer, chó Ngao, chó núi Thụy sỹ, chó chăn gia súc và các giống chó khác.
Phân nhóm 2.2: Chó Ngao – Chó trên núi cao, không sử dụng làm chó nghiệp vụ
MỘT SỐ ĐIỂM CHÍNH TRONG LỊCH SỬ:
Trên độ cao 2469 mét so với mực nước biển của vùng Great St. Bernard Pass (phía tây dãy núi Alps), một nhà nghỉ dọc đường do các thầy tu xây dựng vào thế kỷ thứ 11 làm nơi trú chân của khách đi đường. Tại đây có một gióng chó núi to lớn được nuôi dưỡng từ giữa thế kỷ thứ 17 để canh gác và bảo vệ. Sự hiện diện cảu những con chó này được ghi nhận lại trong những bức tranh từ năm 1695 và trong các văn tự của tu viện vào năm 1707. Những con chó này sau đó được dùng để nuôi làm bạn và đặc biệt, sử dụng làm chó cứu hộ cho những hành khách bị băng tuyết vùi lấp. Thường xuyên có những người được giống chó này cứu thoát khỏi cái chết lạnh lẽo – những câu chuyện được ghi nhận lại bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, bằng những câu chuyện truyền miệng của những người lính trong đội quân của Napoleon Bonaparte khi ngang qua vùng này vào thế kỷ 19, đã làm lan toả danh tiếng của giống chó St. Bernard, thời gian này được gọi là chó Barry, tới khắp Âu châu trong suốt thế kỷ 19. Huyền thoại về loài chó «Barry» trở thành đại diện cho các loài chó cứu hộ. Tổ tiên trực hệ của giống chó St. Bernard chính là những con chó to lớn trong các nông trại thường gặp ở khu vực này. Trong vài thế hệ, với mục tiêu được xác định theo ý tưởng sử dụng của giống chó này, chúng đã được phát triển như ta thấy hiện nay. Heinrich Schumacher (sống tại vùng Holligen – gần Bern) là người đầu tiên bắt đầu viết bản phả hệ bằng giấy tờ cho những con chó của ông ta vào năm 1867.
Tháng 2 năm 1884, cuốn "Schweizerisches Hundestammbuch"(SHSB), (Sổ phả hệ chó giống của Thụy sỹ) được mở để ghi nhận các con chó giống. Và cái tên đầu tiên được ghi nhận là chú chó St.Bernard tên là "Leon", cùng với 28 cái tên khác của giống chó St.Bernards. Ngày 15 tháng 3 năm 1884, Câu lạc bộ chó St.Bernards của Thụy sỹ được thành lập ở Basle. Trong cuộc hội thảo về các giống chó trên thế giới vào ngày 2 tháng 6 năm 1887, giống chó St. Bernard đã được chính thức công nhận là một giống chó của Thuỵ Sỹ và bản tiêu chuẩn của nó đã được xác lập. Sau đó, giống chó St.Bernard đã được nhắc đến như một giống chó biểu trưng của đấy nước Thụy Sỹ.
HÌNH DÁNG CHUNG :
Giống chó St.Bernard có 2 nòi khác nhau:
• Nòi lông ngắn (lông kép) và
• Nòi lông dài.
Cả hai nòi đều có kích thước và vẻ ngoài ấn tượng như nhau. Chúng đều có cấu trúc cân bằng, mạnh mẽ, vững chãi, thân hình lực lưỡng với cái đầu rất ấn tượng và vẻ mặt biểu cảm..
CÁC CÂN ĐỐI QUAN TRỌNG :
• Tỷ lệ lý tưởng giữa chiều cao tính đến vai với chiều dài (đo từ điểm đầu vai tới mông) là 9 : 10.
• Tỷ lệ lý tưởng giữa chiều cao tính đến vai với độ sâu ngực được mô tả ở dưới.
• Tổng chiều dài đầu hơi dài hơn một chút so với một phần ba chiều cao tính đến vai.
• Độ sâu (khi nhìn ngang) của mũi tại gốc mũi so với chiều dài của mũi gần bằng 2:1 (The relation of depth of muzzle (measured at its root) to length of muzzle is almost 2:1).
• Chiều dài mũi hơi dài hơn so với một phần ba chiều dài của toàn đầu.
TÍNH CÁCH:
Có bản tính thân thiện. Tính tình có thể điềm đạm hoặc vui nhộn, cảnh giác.
ĐẦU :
Nhìn chung : Rất mạnh mẽ, đường bệ và rất biểu cảm.
VÙNG SỌ :
Xương sọ : Phát triển, to rộng, nhìn tròn từ phía bên và đằng trước. Khi chúng tập trung, tai và đỉnh sọ thẳng hàng với nhau và nghiêng theo một đường cong nhẹ cùng với xương gò má. Trán dốc xuống phía mũi. Xương chẩm phát triển lồi vừa phải, lông mày phát triển tốt. Các nếp nhăn trước trán, bắt đầu từ dưới trán chạy dọc lên giữa đầu và nhìn rất rõ.
Da trên trán tạo thành các nếp nhăn nhẹ trên mắt và đổ về một phía cùng với các nếp nhăn trên trán. Khi con chó tập trung, các đường nhăn này hiện lên vừa phải, những lúc khác, nhìn không thấy những nếp nhăn này.
Điểm giữa mũi và trán : Rõ rệt, nhìn thấy rất rõ.
VÙNG MẶT :
Mũi : Đen, rộng và vuông vắn. Lỗ mũi mở rộng.
Sống mũi : Rộng và bằng phẳng. Xương sống mũi thẳng, đường sống mũi nổi nhẹ.
Mép : Mép có màu đen (sắc tố mạnh). Hai bên mép hàm trên rất phát triển, nhìn chắc chắn nhưng không rủ xuống và lúc lắc qua lại, tạo thành một đường cong rộng lên phía chóp mũi. Góc mõm nhìn vẫn thấy rõ rệt.
Hàm/Răng : Cả hàm trên và hàm dưới đều phát triển, mạnh mẽ, rộng và dài bằng nhau. Rất phát triển, răng cắn hình cắt kéo hoặc hơi cong kiểu càng cua (scissor or pincer bite). Miếng cắn vừa khít giữa hàm dưới với hàm trên, không tạp ra bất cứ khoảng các nào giữa răng cửa hàm trên và hàm dưới. Thiếu răng tiền hàm số 1 (PM1) và răng hàm số 3 (M3) được chấp nhận.
Mắt : Có kích thước trung bình. Có màu nâu tối hoặc màu nâu kiểu màu hạnh nhân. Mắt sâu vừa phải và bộc lộ rõ sự thân thiện. Hai mí mắt vừa phải và khép chặt tự nhiên. Một góc nhỏ giữa mi dưới với mí mắt thứ 3 nhìn hơi rõ, cũng như có một nếp gấp nhỏ giữa mi mắt trên được chấp nhận. Lông mi có màu đen hoàn toàn.
Tai : Có kích thước trung bình, đặt phía trên, bên cạnh hộp sọ. Tai to, vành tai phát triển mạnh. Vành tai mềm, có hình tam giác với các đầu tai tròn. Cạnh sau của vành tai úp sát vào sọ, cạnh trước nằm gần tới má.
CỔ : Mạnh mẽ và dài vừa phải. Diềm cổ và mảng da trùng dưới cổ phát triển vừa phải.
THÂN MÌNH :
Tổng thể : Tổng thể nhìn đường bệ, cân đối, rất ấn tượng và rất mạnh mẽ.
Vai : Nổi rõ.
Lưng : Rộng, mạnh mẽ, chắc chắn. Sống lưng thẳng tắp tới tận hông.
Mông : Dài, rất nở nang, nhìn như gắn liền với gốc đuôi.
Ngực : Ức sâu vừa phải cấu trúc xương kiểu lò xo, nhưng không tròn như kiểu thùng rượu. Không được sâu xuống quá khuỷu chân trước.
Bụng và đường dưới ngực : Hơi cong nhẹ về phía sau.
ĐUÔI : Đuôi to và rộng. Đuôi nhìn dài và nặng nề. Đốt xương ở chóp đuôi ít nhất phải chạm tới khuỷu chân sau. Khi nghỉ ngơi, đuôi thẳng xuống hoặc hơi cong nhẹ ở một phần ba phía dưới. Khi bị kích thích, đuôi dựng cao lên.
TỨ CHI
CHÂN TRƯỚC :
Tổng thể : Chân trước thẳng và song song khi nhìn từ trước. Hai chân cách nhau vừa phải.
Vai : Xương bả vai xiên, chắc chắn và kết hợp chắc chắn với ngực.
Xương vai: Dài hơn xương bả vai. Góc giữa xương bả vai và xương vai không quá rộng.
Khuỷu chân : Nằm sát thân mình.
Cẳng chân trước: Thẳng, xương chắc khoẻ với cơ bắp rõ rệt.
Cổ chân trước : Nhìn từ phía trước như cẳng chân kéo dài, hơi gập nếu nhìn từ bên.
Bàn chân :Rộng, rất chắc khoẻ, ngón chân khá cong.
CHÂN SAU :
Tổng thể : Lực lưỡng và cong vừa phải. Nhìn từ phía sau, hai chân song song với nhau và không sát nhau.
Bắp đùi trên : Khoẻ, lực lưỡng và to, rộng,
Cẳng chân trên: Rất cong, thẳng, không cong cả ra ngoài lẫn vào trong.
Bắp đùi dưới : Xiên và khá dài.
Khuỷu chân sau : Cong nhẹ, chắc chắn.
Cổ chân : Thẳng, nhìn song song từ phía sau.
Bàn chân sau : Rộng, các ngón chân cong, khít chặt. Huyền đề được chấp nhận nếu nó không làm ảnh hưởng đến vận động của con chó.
CHUYỂN ĐỘNG : Nhịp nhàng, bước dài với sức đẩy tốt của chân sau. Sống lưng chắc chắn, ổn định. Chân trước và chân sau cùng chạy trên một đường thẳng.
DA VÀ LÔNG
LÔNG :
• Dòng lông ngắn: Lớp lông ngoài rậm, mượt, ép sát vào người, sợi lông thô. Lông ở lớp dưới rất dày. Lông ở đùi hơi thắt lại. Đuôi có lông rậm
• Dòng lông dài : Lớp lông ngoài phẳng, dài trung bình, Lông ở lớp dưới rất dày. Lông ở mặt và tai ngắn; lông ở vùng hông và mông thường có gợn sóng. Chân trước có nhiều lông. Chân sau lông thắt rõ lại. Đuôi xù.
MÀU SẮC : Có nền lông trắng với các miếng vá màu nâu đỏ từ nhỏ tới lớn đến mức như áo choàng che phủ lưng và hông, sườn. Các mảng mầu ngắt quãng với kiểu mặc áo choàng cũng được đánh giá ngang bằng. Các mảng vá màu nâu đỏ có sọc vện cũng được chấp nhận. Màu nâu vàng cũng được chấp nhận. Có những vệt đen nhẹ trên người cũng được chấp nhận
Các điểm trắng yêu cầu phải có : Ngực, bàn chân, chóp đuôi, sống mũi, trán và ở cổ.
Các vệt trắng được ưa thích : Khoang trắng quanh cổ. các khoản lông màu tối trên mặt đối xứng.
KÍCH THƯỚC :
Chiều cao tới vai :
Chó đực: tối thiểu 70 cm và tối đa 90 cm,
Chó cái: tối thiểu 65 cm và tối đa 80 cm,
Những con chó vượt quá chiều cao tối đa thì không bị trừ điểm nếu tổng thể chung của chúng cân đối và chuyển động của chúng tốt.
CÁC LỖI :
Bất cứ điểm nào khác biệt so với các điểm trên được coi là lỗi và mức độ nghiêm trọng sẽ được đánh giá trong tổng thể chung và mức độ cũng như ảnh hưởng của các lỗi đó.
• Thiếu các đặc điểm chỉ dẫn giới tính.
• Tổng thể thiếu cân đối.
• Chân quá ngắn so với kích thước tổng thể.
• Các nếp gấp quá lớn trên đầu và cổ.
• Mũi quá ngắn hoặc quá dài.
• Môi trễ xuống quá ở hai bên hàm dưới và trùm cả ra ngoài.
• Thiếu các răng khác răng tiền hàm số 1 và răng hàm số 3. Răng nhỏ (đặc biệt là răng cửa).
• Hàm dưới trều.
• Mắt màu sáng.
• Mi mắt quá trùng.
• Lưng võng hoặc lưng cong gù.
• Mông cao hơn vai hoặc mông lép.
• Đuôi cong vòng tới lưng.
• Thiếu các vệt vá trắng yêu cầu.
• Bốn chân không thẳng hoặc chân trước bị hướng quá nhiền ra ngoài.
• Góc khuỷu chân ít cong, khuỷu chân chụm vào hoặc chĩa ra ngoài.
• Lỗi chuyển động.
• Lông xoăn.
• Không đủ sắc tố đen ở trên da mũi, quanh mũi, môi và mi mắt.
• Các mảng màu vá không chuẩn, ví dụ: trong mảng vá màu nâu đỏ có các chấm hoặc vệt trắng.
CÁC LỖI BỊ LOẠI BỎ
• Tính tình dữ tợn hoặc nhút nhát.
• Hàm trên vẩu, hoặc hàm dưới trều rõ.
• Bị bệnh quặm mi mắt hoặc lộ mí mắt
• Mắt màu nhợt nhạt.
• Trắng tuyền hoặc chỉ có màu nâu đỏ - không chia thành màu nền và màu phủ.
• Lông có các màu khác.
• Thấp hơn chiều cao tối thiểu.
Tất cả các con chó có biểu hiện không bình thường về tính tình và thể chất đều bị loại bỏ.
N.B. : Chó đực cần có đủ 2 tinh hoàn trong bìu.
Bản tiêu chuẩn sửa đổi này có hiệu lực từ tháng 4 năm 2004.






