Dạ xin ...thưa Bản ai oán là Khúc Phượng Cầu Hoàng Gợi nổi lòng tha phương Nơi xứ lạ quê người Còn bài lúc nhặt lúc khoan Đó là bài Lưu thủy Cao sơn Nhưng chưa dứt bản đàn Mà dây đã đứt ngang Nghe qua vàng ngọc mấy lời Bá Nha rất phục gã tiều phu Ở chốn lâm tuyền mà gặp được khách tài hoa Rồi Ngài cùng gã tiều kết bạn Hỏi ra mới biết tên Chung Tử Kỳ Cùng nhau bước xuống khoang thuyền Thù tạc chén quỳnh tương
Trích đoạn Tiếng trống Mê Linh Thi Sách tâm sự cùng Trưng Trắc
Trưng Trắc: Ngâm thơ Trăng lên cao, núi lên cao Núi trăng cùng một chí anh hào Trăng soi vách núi in hình kiếm Núi dựng vầng trăng khoác chiến bào Mây bay, gió nổi, ta muốn theo trăng lên đỉnh núi, Ngời trông đất nước với trời cao. Nói: Phu tướng!
(Thi Sách đến choàng áo khoác cho phu nhân)
Thi Sách: Nói: Phu nhân. Đêm đã khuya mà nàng chưa an nghỉ sao?
Trưng Trắc nói: Mãi nhìn trăng đứng bóng. Thiếp liên tưởng đến chàng - một thanh gươm yên ngựa vẫy vùng, chịu gian khổ để gieo mầm hạnh phúc.
Thi Sách (nói): Hạnh phúc! Đứng giữa Mê Linh mà nàng nghĩ đến hạnh phúc, ắt hạnh phúc không bé nhỏ tầm thường, ta về đây từ rừng núi Châu Viên, cũng mang nặng một tình yêu tha thiết.
Trưng Trắc (nói): Tình yêu ấy, một tình yêu bất diệt! Yêu đồng bào, yêu Tổ quốc quê hương Lòng mãi lo hạnh phúc của toàn dân, Đâu dám nghĩ đến tình riêng nhỏ bé.
Thi Sách nắm tay phu nhân (ngâm chậm): Ta chợt nhớ những đêm dài không ngủ, nghe bên trời vẳng tiếng vạc kêu sương Nhìn trăng khuya mà tấc dạ ngổn ngang Nguồn lửa hận nấu nung bầu nhiệt huyết Khắc hai chữ diệt thù trên kiếm thép, quyết đạp bằng mọi chướng ngại phong ba Duổi gió câu trên muôn dặm đường xa, hầu báo đáp ơn nhà đền nợ nước.
Trưng Trắc (nói lối): Trên muôn dặm quan hà, chàng cất bước Tay cầm tay trăng in bóng chung đôi Rồi mai đây mỗi kẻ một phương trời, vui chiến đấu và cười trong gian khổ. Phút ly biệt của tình chồng nghĩa vợ Lời dặn dò hãy khắc cốt ghi tâm: Thù nào sâu hơn thù lũ xâm lăng, tình nào nặng hơn tình thương đất nước.
Vọng cổ câu 4
Thi Sách : Phu nhân ơi đôi khi ta muốn nói với phu nhân bằng những tiếng nói thân yêu, để bỏ nỗi cô đơn sau những ngày xa vắng. Nhưng chợt nhớ quê hương đang đắm chìm trong lửa loạn, nên những tiếng yêu đương bỗng thành ra muôn vạn tiếng căm … hờn… - - 2 nhịp
Từ độ quê hương quằn quại giữa điêu tàn, trước thảm trạng dầu sôi lửa đỏ, ta nghe lòng mình chan chứa vạn niềm thương + (song loan) ta thương từng mảnh đất quê hương, từng mái lá khóm cây ngọn cỏ, thương vạn sinh linh đầu rơi máu đỏ, dưới gót xâm lăng tàn bạo của quân thù.
Trưng Trắc 4 nhịp (nói): Thiếp còn nhớ trên đồi cao, dưới ánh trăng sáng tỏ, cụ Đô Trinh nói với thiếp rằng: “Cứ nhớ đến ngày giổ Tổ Hùng Vương năm trước mà đêm đêm trằn trọc không tài nào nhắm mắt được”.
Câu 5 Thi Sách: Phu nhân Phu nhân ơi ta đợi ngày kia dãy đất Mê Linh sẽ góp từng hơi thở để thổi bùng lên ngọn lửa căm thù, ngọn lửa đấu tranh giết sạch lũ tham tàn, cởi ách nô dong, bứt xiềng nô lệ, để hãnh diện là dân tộc rồng tiên +(song loan) Tiếng hát thanh bình vang dậy khắp non sông, ngàn hoa thắm lại tươi cười trước gió trong tiếng chim ca của bình minh rạng rỡ, có tiếng đôi tim kể lể chuyện tâm tình .
Thi Sách (nói): Giữa khắp đất nước đang vùng lên để bứt phá xích xiềng nô lệ, thì ...cái vui của vợ chồng son trẻ sẽ là cái vui của toàn thể dân Nam
Câu 6 8 nhịp Trưng Trắc: Phu quân dạy thiếp rất phải… ôi rừng núi Mê Linh hùng vĩ quá,10 Núi trải mình đón đợi ánh trăng trong.12 Nghe đâu đây, nhạc suối rền vang 14 như tiếng vọng của hồn thiêng sông núi, 16 đường hành quân mịt mờ cát bụi, 18 Rợp bóng tân kỳ theo vó ngựa đường xa,20 Bao giờ tắt lửa can qua,22 trời Nam vang vọng khúc ca thanh bình + ( song loan)24 Giờ, ta nên gác lại bên mình tình cảm riêng tư để lắng nghe tiếng hát gọi lên đường,28 Gái trai sôi máu căm hờn, Ánh chớp chập chờn bên ánh lửa Mê Linh.32
Trưng Trắc tế sống Thi Sách NSND Thanh Nga - NSUT Thanh Sang
Trưng trắc: Nói lối vô Vọng cổ câu 4
Hỡi phu tướng . Cách tường thành phu tướng không thể nào thấy được nhưng tâm linh chàng ắt hẳn sẽ cảm thông Nay thiếp vọng bàn thờ trước ngưỡng cửa Luy Lâu thành. Hương khói nhạt xin chàng chứng giám! Nhớ năm xưa chúng ta hiệp cẩn đã lạy nhau ba lạy để dầy cuộc trăm năm Thời gian qua thiếp chưa lỗi đạo vợ hiền Chàng cũng vẹn nghĩa tình phu tướng Chàng với thiếp cùng chung chí hướng vai kề vai gánh nặng non sông. Vô VC: Nhưng hỡi ơi chí tang bồng nay chưa kịp thỏa thì đường âm dương cách trở lành lạnh áng mây ...sầu - - bỏ 2 nhịp
Thiếp xin được quấn vành khăn tang trắng lên đầu Lạy thứ nhất thiếp xin tạ tội vì không đủ tài cứu nổi phu quân + (nhịp song loan) Lạy thư1 hai thiếp mong được thứ tha vì đau lòng tế sống người bạn trăn năm chăn gối Ôi trời Luy Lâu chưa tan hồi trống trận Mà đất Mê Linh hoa lá ngập thương sầu.
Gọi: Thi tướng quân (3 lần)
Thi Sách: Vọng Cổ câu 5 Phu Nhân! Phu nhân ơi khăn trắng đêm nay sẽ làm trắng khăn tậm sự thì ba lạy tạ từ của phu nhân cũng đã làm tròn tình vạn nghĩa. Đứng trên giàn hỏa ta nguyện làm mồi cho lửa đỏ để bao người chiến sĩ hiên ngang không chậm bước oai ...hùng - - Bỏ 2 nhịp - - 2 nhịp Lần lần nhau đây là lần gặp gỡ sau cùng Ta cảm ơn tất cả đã tạm đình binh để bảo toàn mạng sống cho ta dầu chỉ trong giây phút ngắn ngủi Nhưng nàng hãy ra lệnh cho nghĩa quân anh dũng nổi trống Đồng đi Hãy nổi trống tấn công đi. Hãy tấn công trong tiếng cười ngạo ngễ để đưa tiễn hồn ta đi trong tiếng trống oai hùng
Câu 6: Kìa, phu nhân! Tại sao phu nhân còn do dự ? Ạ, hay là phu nhân đã quên những lời trong đêm giã biệt?
Thi Sách: Hay lắm! Quên mình rửa sạch mối thù chung Phu nhân ơi đó là lời mà vợ chồng ta thường nói Vậy thì phu nhân còn chần chờ gì nữa chứ? Chần chờ chi mà không nêu tấm gương sáng đó Để cho ngàn sau hậu thế soi cùng Sống thác là chuyện đi về Hợp tan là trò dâu biển Tất cả đều không đáng kể Mà chỉ đáng lo là chuyện trường tồn của dòng dõi Hùng Vương
Bộ Tứ Oán là bộ thứ tư trong 10 bộ của hệ thống bài bản nhạc Tài tử, được phổ biến rộng trong phong trào Đờn ca Tài tử, trong quá trình định hình và phát triển Âm nhạc Tài tử.
Bộ Tứ Oán hiện nay có 10 bản nhạc, là những tác phẩm âm nhạc tài tử được sáng tác từ những chất liệu âm nhạc đặc thù, ngữ âm, ngữ điệu của nhạc Tài tử. Tất cả 10 tác phẩm trong bộ Tứ Oán đều có cùng một loại hơi, Hơi Oán. Cấu trúc của những bản Oán đều tương tự như nhau, về cấu trúc câu, thang âm, loại nhịp. v.v.
10 tác phẩm âm nhạc tài tử trong Bộ Tứ Oán được xếp thành 3 loại, như: Oán chính, Oán phụ và Oán biến thể, cụ thể như sau:
Loại Oán chính gồm có 4 tác phẩm, như: Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng Lai Nghi, Giang Nam Cửu Khúc và Phụng Cầu Hoàng Duyên. Bản Tứ Đại Oán có gốc từ bản Tứ Đại nhịp tư; Phụng Hoàng Lai Nghi có gốc từ bản Phụng Hoàng nhịp tư; Giang Nam Cửu Khúc có gốc từ bản Giang Nam nhịp tư; và bản Phụng Cầu Hoàng Duyên có gốc từ bản Phụng Cầu nhịp tư. Số bản nhạc này đã được in trong quyển Cầm Ca Tân Điệu, của Nguyễn Văn Tiếng và Trần Phong Sắc, xuất bản năm 1926.
Loại Oán phụ gồm có 4 tác phẩm, như: Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Nguơn Tiêu Hội Oán, và Võ Văn Hội Oán. Cả 4 bản nhạc trong loại Oán phụ này đều được sáng tác theo nhịp tám. Trong đó, bản Thanh Dạ Đề Quyên do Nghệ sĩ Ưu tú Nguyễn Văn Thinh sáng tác; bản Bình Sa Lạc Nhạn do Nghệ sĩ Ưu tú Võ Văn Khuê soạn lục, sáng tác lời ca và phổ biến, đưa vào giáo trình giảng dạy nhạc dân tộc cấp quốc gia. Oán phụ, vì những bản này ra đời sau loại Oán chính, cấu trúc, hơi điệu của nó chỉ bổ sung phong cách Oán cho loại Oán chính, trong Bộ Tứ Oán.
Loại Oán biến thể gồm có 2 tác phẩm, như: Văn Thiên Tường và Trường Tương Tư. Văn Thiên Tường là bản nhạc được sáng tác để tôn vinh, tưởng nhớ anh hùng dân tộc Thủ Khoa Huân, theo nhịp tư lơi, hay còn gọi là tám lỡ; Bản Trường Tương Tư, theo nhịp tám lỡ, có gốc từ bản Tương Tư nhịp tư. Bản Tương Tư là một tác phẩm được cảm tác từ bản Nam Cung Bằng, nhạc Miền Trung. Biến thể trong khúc thức là do một số câu vừa theo điệu Oán lại vừa theo điệu Ai.
Bộ Tứ Oán trong hệ thống bài bản nhạc Tài tử, với 10 bản nhạc Tài tử, là những tác phẩm đặc trưng về thang âm, hơi điệu, đến cấu trúc hình thức âm nhạc, là những tuyệt tác trong hệ thống bài bản nhạc tài tử.
Sương Chiều là tên của một bản nhạc đã được lưu hành rất lâu trong phong trào ĐCTT và trên sân khấu cải lương. Và bản Sương Chiều thuờng được kết hợp với bản Tú Anh thành một tiết mục hòa tấu. Trong ca nhạc tài tử, bản Sương Chiều trứơc đậy có 24 nhịp chiếc, được diễn tấu ở nhịp độ nhanh, để kết nối qua bản Tú Anh, với giai điệu rõ ràng, mang tính vui tươi, hồn nhiên. Trong các kịch bản sân khấu cải lương, soạn giả thường sử dụng điệu sương chiều để diễn tả những cảm xúc nhẹ nhàn, trong đồi thoại nam nữ. Từ những năm 1970, trong ca nhạc tài tử, bản Sương Chiều thường được tấu ở nhịp độ chậm. Đôi khi Sương Chiều được mở nhịp, tấu ở nhịp đôi. với 25 nhịp. Tính giải điệu uyển chuyển hơn, tính cấu trúc được nhấn mạnh hơn. Từ loại nhịp này, bản Sương Chiều được đưa vào các kịch bản Cải lương trong những tình huống trữ tình giao duyên, thường được vận dụng trong những cảnh nam nữ tỏ tình. Bản Sương Chiều có một hơi điệu đặc trưng, không giống với bất kỳ bài bản nào khác. Nếu là hơi Quảng thì Sương Chiều không giống với Khốc Hoàng Thiên, Phong Ba Đình. Nếu là hơi Ngũ Quảng thì Sương Chiều không giống với Lý Nam San, Qua Đèo. Nếu là hơi Sa mạc thì Sương Chiều không giống với Luyện Năm Cung, Đương Trường tiếng đàn. Tuy nhiên, khi tấu bản Sương Chiều trong tình huống trữ tình, thì hơi Sa mạc pha thêm hơi Ngũ Quảng trên Dây Hạ, Hò Ba, thang âm Nam, sẽ tạo một thể điệu Sương Chiều mang đậm tính dân tộc độc đáo. Bản Sương Chiều, với quá trình lịch sử của nó trong ca nhạc tài tử, xứng đáng được xếp vào bộ Ngũ Điểm, trong hệ thống bài bản tài tử.
Đoản Khúc Lam Giang là tên một tác phẩm âm nhạc do NSƯT. Nhạc sỹ Văn Giỏi sáng tác, vào năm 1976. Là một nhạc sỹ biểu diễn đàn ghi ta nhạc tài tử, cải lương nỗi danh từ đầu thập niên 1970, nhạc sỹ Văn Giỏi đã sáng tác bản Đoản Khúc Lam Giang, với khúc thức và hơi điệu thật trữ tình, kết hợp hài hòa giữa tính giai điệu của thanh nhạc và cấu trúc nhịp thức của tính khí nhạc tài tử. Hình thức của bản Đoản Khúc Lam Giang không được cấu trúc thành từng câu, từng lớp rõ ràng. Tuy nhiên, cứ 2 nhịp có thể được xem là 1 câu. Toàn bản nhạc như một khối thống nhất, để diễn đạt một chuổi ý nhạc, được liên kết với nhau qua các ý nhạc được xem như những cầu nối. Nét nhạc mở đầu bản nhạc Đoản Khúc Lam Giang có âm hưởng như nét nhạc của một điệu lý, dân ca Nam Bộ: “Hò xề hò y xang.” Giúp cho điệu nhạc dễ đi vào lòng người. Nét nhạc này được lập lại từ nhịp thứ 17. Trong phần phát triển, có nét nhạc: “liu ý xề, phan líu xàng, xê phán ỳ, xang xế hò”, và được lập lại ngay sau đó, nhưng ở âm vức trầm thật ấn tượng. Một nét` nhạc khác trong bản nhạc Đoản Khúc Lam Giang cũng rất đặc biệt, không có trong bất kỳ bài bản nào trước đây, như: “Hò, xế, xang ỳ, xang xế, líu, hò, phan”. Đoạn nhạc kết lại được tái hiện lần nữa, để lại dư âm phản phất tính trử tình sâu lắng. Cách kết này gần như kết một điệu lý. theo cấu trúc truyền thống của bài bản nhạc dân tộc Việt Nam. NSƯT, nhạc sỹ Văn Giỏi đã sử dụng thang âm Nam, “Hò y xang xê phan liu” để sáng tác. Âm u và âm cống được dùng làm biến âm. Từ đó, điệu nhạc mang tính trữ tình, man mát. Bản nhạc Đoản Khúc Lam Giang rất phù hơp khi tấu trên Kiểu dây Sài Gòn, đờn ghi ta. Ngay từ khi bản Đoản Khúc Lam Giang được giới thiệu trên làn sóng phat thanh, công chúng yêu âm nhạc dân tộc đã quan tâm thưởng thức; các ban nhạc tài tử đã học tập và biểu diễn nhạc khúc này. Từ những năm 1980, nhiều bài ca tài tử, và trong các kịch bản cải lương đã sử dụng bản nhạc này, như một nhạc khúc thời đại. Sư ra đời của bản Đoản Khúc Lam Giang, cùng mới một số điệu khác, trong thời gian gần đây, phần nào biểu hiện sức sống của dòng nhạc tài tử, trong đời sống cộng đồng, đồng thời, góp phần làm giàu cho hệ thống bài bản nhạc tài tử.
Để dễ nhớ, người ta đã đưa ra bảng thống kê có tính phân loại hệ thống bài bản âm nhạc Tài tử bao gồm 10 bộ như sau : Nhứt Lý, Nhì Ngâm, Tam Nam, Tứ Oán, Ngũ Điểm, Lục Xuất, Thất Chính, Bát Ngự, Cửu Phẩm, Thập Thủ. Trong mỗi bộ có các chi tiết như:
– Nhứt Lý : Bao gồm tất cả Lý. Ví dụ : Lý con sáo, Lý Huế, Lý giao duyên, Lý Thập tình, Lý giao duyên v.v.
– Nhì Ngâm : gồm các cách ngâm, vịnh, nói thơ v.v. Trong đó có các loại hơi. Ví dụ : nói thơ Vân Tiên, vịnh Kiều, ngâm sa mạc v.v ...
– Tam Nam : Gồm 3 bản Nam như : Nam Xuân, Nam ai, Đảo Ngũ Cung.
– Tứ Oán : Gồm 4 bản oán nội như:Tứ đại oán, Phụng hoàng, Giang nam, Phụng cầu; 4 bản oán ngoại như: Bình sa lạc nhạn, Thanh dạ đề quyên, Nguơn tiêu hội oán, Võ văn hội oán; 2 bản oán biến thể như: Văn Thiên Tường và Trường tương tư.
– Ngũ Điểm : Gồm những bản vắn, gần giống những bản trong Hý khúc Trung Quốc. Gọi tắt là những bản Quảng và những bài bản có xuất xứ từ Ngũ Quảng. Ví dụ như: Ngũ điểm mai, Tọa ngọc lầu, Khốc hoàng thiên, Sương Chiều, Tú Anh v.v.
– Lục Xuất : gồm các bản như: Lưu thuỷ, Phú lục, Bình bán, Cổ bản, Tây Thi.
– Thất Chính : Gồm 7 bản nhạc Lễ như : Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc.
– Bát Ngự : Gồm 8 bản như: Đường Thái Tôn, Bát man tấn cống, Chiêu quân, Vọng phu, Ái tử kê, Tương tư, Quả phụ hàm oan, và Duyên kỳ ngộ ngự.
– Cửu Phẩm ( còn gọi là cửu Nhị hay cửu Nhĩ ) : Gồm Bát bản chấn và Hội nguơn tiêu.
– Thập Thủ : Gồm những bản Thủ và những bản có gốc từ ca nhạc Huế như Liên hườn, Bình nguyên, Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ v.v.
Ngoài ra còn một số bài bản khác trong các bộ như: bộTứ bửu, bộ Ngũ châu, Chinh phụ ly tình, Ngũ châu minh phổ, Ngũ châu liên cước, Tây hồ cảnh, Nam hồ cảnh, Phi mã nghinh phu, Dạ cổ hoài lang.v.v.
Cho đến nay, hệ thống bài bản âm nhạc Tài tử chưa được thống kê, xếp loại rõ ràng. Hiện nay có một số cách xếp loại khác. Mỗi cách xếp loại đều có mực đích nghiên cứu khác nhau. Một công trình nghiên cứu sâu rộng, mới có thể đưa ra một cách thống kê, xếp loại bài bản tài tử mang tính phổ quát hơn./.