HoangGuitar

Subscribe to RSS feed

Tôi yêu dữ dôi như thế đấy

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Nhân một cái mes. của Trang, chợt nhớ về thị trấn Ninh hoà, chợt nhớ về một thời binh lửa, à không, một thời hoa mộng. Thời mà tình yêu nó cứ ập đến, cuốn tôi đi, quăng quật tôi tan tác rồi trả tôi về te tua. Để cho sang , thơ văn ta thường gọi là mùa. Vâng: Mùa Tình Yêu. Lại chợt nhớ một bài hát ngày xưa rất thích, vì nó hay mà cũng phần vì nó dễ đệm đàn. Lúc ấy mới học đàn, bài nào hay mấy mà nhạc điệu trúc trắc, chuyển gam lia lịa là tôi né. Trước khi nói tiếp, chép lại cái bài đó. Vị nào chuyên Pháp xin sửa lại dùm nếu có chổ sai. Lâu quá rồi còn gì. “C’est la temps de l’amour, le temps des copains et de l’aventure. Quand le temps va et vient, on ne pense à rien, malgrés ses blessures. C’est le temps de l’amour, qu’a …. au coeur, beacoup de chaleur, et de bonheur. On n’a dit qua vingt temps, on n’est le roi du monde. Et qu’éternellement, on verra dans nos yeuxs, le ciel bleu…” Chà chà, đánh vật với mấy câu tiếng Pháp mà vã cả mồ hôi. Có sai xin lượng thứ. Ai biết bài này tặng tớ, tớ biết ơn lắm lắm. Bây giờ trở lại cái thời ấy, cái thời đã không yêu thì thôi mà yêu là yêu như “rừng yêu thú dữ”. Tôi đã đố nhiều bạn bè tại sao nhạc sĩ lại ví von tình yêu như thế. Chẳng thằng nào trả lời đúng cả. Chúng cứ nghe thú dữ là liên tưởng đến vồ, cắn, xé, ăn tươi nuốt sống…Ôi trời, đúng là đồ … thú dữ. Tôi bèn từ tốn giảng cho những thằng đầu đất ấy rằng thế này.( tôi quen thói lung khởi nên dẫn dắt lòng vòng, đừng nóng ruột ) : “ Tụi mày cứ tưởng tượng một con thú dữ trong sở thú đi. Nó có yêu… sở thú không? Nhất định là không. Nằm đó cho người ta ngắm nghía, chỉ trỏ, mấy ông cháu ngoan Bác gì đó còn vác gạch chọi vào thì yêu cái nỗi gì. Thế thú dữ có yêu những … quán thịt rừng không ?( có rừng đấy ). Lại càng dứt khoát là không rồi nhé. Tới đó vài ông bắt đầu hiểu ra, tranh nhau phát biểu: Thú dữ phải yêu rừng thôi. OK! Très bien ! Đấy, đa số các bạn tôi trong blog này là những nhà sư phạm. Các bạn thấy ngay chứ gì? Sư phạm là thế. Phải gợi ý để các em nhìn ra vấn đề. Ta không nói toẹt ngay ra rằng thú dữ phải yêu rừng thôi bởi vì rằng thì là mà…Thế thì còn gì là sư phạm. À mà nói chuyện gợi ý tôi chợt nhớ câu chuyện vui thế này: Lớp học bài “Đêm qua em mơ…”. Thế là cô giáo hỏi “Đêm qua các em mơ thấy gì?”. Toàn bộ các em đều giơ tay ( Gớm! Bé tí mà mơ mí chả mộng) “ Em mơ gặp B….” Bác mà không-nói-thì-ai–cũng-biết ấy mà. Thế đấy. Chết cười! Cười nhưng rồi lại ứa nước mắt. Mẹ khỉ. Đào tạo thế thì rồi ra thành một lũ rô bốt hết à. Cứt! ( Xin lỗi các bạn, bực quá.) Đang phởn nhắc đến chuyện này gai hết cả người. Hỏng mẹ nó buổi sáng! Đi uống cà phê cho nó đỡ bực rồi gõ tiếp… Rồi, yêu tiếp nhé. Hồi ấy tôi dạy trên Thành, cách Nha trang 10 km, sáng lóc cóc đạp xe đạp lên, dạy xong cong mình lội 10 cây số về giữa trời nắng đổ lửa. Chiều đi nhậu chửi đời. Hồi ấy còn dư ít tiền dành dụm. Một đêm đang lảo đảo trên đường về nhà sau trận nhậu bí tỉ, đi ngang cô bạn nhà ở đường Quang trung - hiệu bánh mì Bắc Hương-, ghé xin nó ổ bánh mì ăn , nhân tiện giải lao tí. Đang gặm ổ bánh mì thì chợt thấy một em bé, nhỏ như cái kẹo, đang ngồi học bài. Quái! Con Nga đâu có em gái nhỉ. Tôi bèn sán đến lè nhè. Phải nói tôi đã bị cái mà người ta gọi là “ Love at first sight” đấy. Đúng là tình yêu sét đánh. Đùng một cái chai Rivalet mà tôi tọng vào lúc chiều bay đi mất tiêu. Em thì có vẻ khinh ra mặt. Thì ai chả vậy. Tự dưng có một thằng mặt mày bụi bặm, tướng tá xiêu vẹo, hơi thở nồng nặc cứ lè nhè ai mà chả bực. Phỏng vấn em đủ chuyện linh tinh trên trời dưới biển rồi tôi dông. Hôm sau tôi hẹn gặp nhỏ Nga nhờ nó làm nội ứng. Thế đấy, thời quân ngũ cũng dạy cho tôi một số chiến thuật tấn công địch. Bây giờ hết chiến tranh rồi tôi bèn dùng các chiến thuật đó để tấn công cái kẹo bé nhỏ của tôi. Thế là tôi có nội gián, cài được người ngay trong lòng địch. Hoá ra cô bé người Ninh hòa, vào Nha trang học CĐSP, có bà con xa nên ở nhà nhỏ Nga. Vài hôm sau Nga bảo tôi “Được rồi đó, tao tán mày với em hết lời. Em trông chừng có vẻ cũng xiêu xiêu. Mày nhào vô lại thử xem nào” Thế là tối hôm ấy tôi lại, em cũng nhìn tôi với cặp mắt thiện cảm hơn. Nói chuyện một hồi tôi chơi kiểu Hàn quốc: Nhìn thăng vào mắt em và nói. “Sao mới gặp mà anh cảm thấy không thể sống thiếu em. Hay là mình … yêu nhau đi”. Em chớp chớp đôi mắt nai (ấy là tôi thấy tiểu thuyết thường nói thế, chứ tôi ở thành phố có thấy nai bao giờ. Nai thì có, dưng mà là …khô nai cơ. Chậc! Cái món này nhắm với Rivalet thì tuyệt.) thỏ thẻ với tôi rằng: “ Em đã biết anh thế nào đâu mà yêu?”. Exact! Phải biết cái đã chứ. Không thì sau này thằng xí xớn nào nó tán em như bài của tôi ( cái loại đó nhiều vô kể ) em cũng yêu thì còn ra cái gì? Làm sao cho em biết đây? Tối nào cũng phải ngồi khai lý lịch cùng em thì có mà tới Tết. Mà tôi thì đã mót yêu lắm rồi, không chịu được nữa. Khó khăn nào rồi cũng có cách gỡ, nếu ta biết động não. Số là tôi có một tập nhật ký, viết từ cái ngày thằng bạn của tôi tử trận. Tôi thức trắng một đêm để xé xé xóa xóa, những cái đoạn có thể gây hậu quả nghiêm trọng, hết mẹ nó gần 1/3 tập nhật ký. Tiếc lắm, những cái đoạn ấy là thú vị nhất đấy. Thế nhưng tất cả cho tình yêu thôi. Hôm sau tôi đem lại cho em đọc. Có lời phi lộ đàng hoàng: “Đây cuộc đời và hồn của anh đây/ Anh cung kính đặt dưới chân công chúa” Nàng xem ra cảm động với cái lời phi lộ này lắm. Thì ai chả sướng khi được gọi là công chúa, rồi lại có một đấng hoàng tử quì gối mổ bụng đem phơi cái nỗi lòng ra tặng mình chứ ? Tôi ra tối hậu thư. “ Trong 24 giờ cho anh biết kết quả” . Thì tôi vốn ít kiên nhẫn. Chỉ muốn “ To love or not to love”. Không rảnh theo đuổi lích kích, rách việc lắm. Hôm sau tôi hẹn nàng đi chơi, hai đứa đi lang thang trên đường Bá đa Lộc, con đường có lá …xà cừ bay ( bây giờ chặt béng mẹ nó rồi ). Ra đến biển, chờ cho cái không khí lãng mạn của biển nó thấm vào người nàng xong tôi nắm tay nàng hỏi. “Em yêu anh chứ” Nàng không trả lời mà hỏi lại “ Sao cuốn nhật ký của anh rách te tua thế, lại còn gạch xóa lung tung nữa? “ Trời ạ! Thế là phải thuyết minh rằng thì là có những chuyện buồn ( sao mà tôi lắm chuyện buồn thế ), anh không muốn đọc lại, sợ khóc. Nàng xem chừng cảm động phết khi thấy trái tim tôi nhạy cảm đến thế. Những con người như thế thường là người tốt. Nàng không trả lời. Nhưng rồi, như một tia chớp loé lên giữa trời đêm, tôi bỗng hốt nhiên chợt ngộ: Ta đang nắm gì trong tay thế này ? Ôi, thì ra nãy giờ nàng vẫn để tay nàng trong tay tôi. Còn chờ đợi gì nữa, còn hơn ngàn vạn câu trả lời ấy chứ. Tôi ôm chầm lấy nàng và…!!! Thì tôi cũng là thú dữ mà. Làm ơn đừng tưởng tượng xa hơn nhen. Ngoài biển đấy, không phải trong khách sạn đâu. Từ lúc gặp nàng cho đến lúc ấy mới được …5 ngày. Express Love mà. Đến đây chợt nhớ bài “ Main dans la main” : Tay trong tay. Bài này còn hay hơn bài hồi nãy nữa nhen. Hay từ lời cho tới giai điệu. Và cái chính là : Dễ đệm. Mà nhớ loáng thoáng vài câu thôi. “Je t’aime, et je taimerai toujours. De laube a la fin des jours. Nous serons tout deux, comme des amoureux, nous serons si bien, main dans la main” Thế là từ ấy chúng tôi yêu nhau. Xin bảo đảm là trừ những lúc nàng về Ninh hoà, không đêm nào chúng tôi không bên nhau. Việc học hành của nàng cũng có phần sa sút. Có lần nàng đi kiến tập một tháng ở mãi Vạn ninh, tôi viết đủ 30 lá thư. Lá ít nhất là 4 trang, lá dài nhất 12 trang, chữ nhỏ li ti. ( nên nhớ hồi đó chúng tôi mua vở theo tiêu chuẩn, không như bây giờ muốn mua mấy thì mua). Không biết nói cái gì mà nói lắm thế. Bây giờ mà còn đọc lại chắc cười vỡ bụng. Trước khi đi kiến tập, sợ tôi ở nhà tiêu xài hoang đàng rồi nợ nần lung tung, nàng mở cho tôi một cuốn sổ tiết kiệm, bỏ vào đó một trăm ngàn, dặn dò cần lắm mới rút ra tiêu. Tôi rưng rưng nước mắt nhận cuốn sổ từ tay nàng, lòng dặn lòng kể từ nay phải sống sao cho xứng đáng với …. cuốn sổ tiết kiệm mà nàng đã tặng. Cái ngàn vàng thì nàng còn giữ nhưng vàng 4 số chín thì nàng sẵn sàng giao hết cho tôi. Hồi ấy có lần tôi tổ chức vượt biên. Tôi dĩ nhiên không tài nào cáng đáng nỗi cái gia đình trên chục người của nàng, nhưng khi tôi rủ nàng bỏ nhà đi là nàng ừ cái rụp. Nàng đem gởi cho tôi mấy chục cây vàng mà nàng dành dụm. Gớm mới tí tuổi mà để dành nhiều vàng thế. Nhà nàng người Hoa đấy.Mà người Hoa thì cái món sắm vàng là …dách lầu. Chuyến đi ấy bể, chứ không thì giờ này tôi cũng đang ngồi đấu láo với LH, với Trang , với Đông A… trên bờ biển Miami nắng gió rồi ấy chứ lị. Trở lại cuốn sổ tiết kiệm. Xe nàng chạy vừa khuất bóng. Tôi vừa gật gù : “Người đi…ừ nhỉ … người đi thật” xong là tót ngay đến ngân hàng rút ra 95 ngàn. Tôi cũng muốn sạch nợ ngân hàng nhưng họ không cho, bắt lưu lại 5 ngàn giử sổ. Coi như vất. Mấy ngày sau đó tôi thì cứ sáng tiểu yến, trưa trung yến, chiều đại yến, chẳng mấy chốc mèo lại hoàn mèo. Khi về nàng bắt tôi giải trình, tôi bèn bịa ra cái bịnh vớ vẫn gì đó. Nàng còn lo tôi chưa dứt bịnh, cư khăng khăng đòi tôi phải đi khám lại. Ôi , tình yêu của tôi. Sao em cứ luôn làm tôi cảm thấy mình có lỗi thế ? Mấy tháng hè nàng về Ninh hoà tôi như người mất hồn. Hè chúng tôi đâu được nghỉ. Phải học bồi dưỡng rồi đủ thứ công tác hầm bà lằng. Thỉnh thoảng nhớ nàng quá tôi lại nhảy tàu chợ ra, nhờ thằng bạn vốn là thầy cũ của nàng đến gọi nàng ra. Đi loanh quanh. Đưa nàng về, tôi đợi tàu vào khoảng 11 giờ đêm. Yêu vất vả thế đấy. Sở dĩ tôi chưa đường đường chính chính ghé nhà nàng là vì nàng có một thằng anh học ngang lớp tôi. Thằng này cũng nhỏ như cái kẹo mà xấc ( sao nó lại là anh nàng được nhỉ ? nàng dịu hiền thế cơ mà) , có lần tôi dọa đập vào mặt nó. Tôi chỉ hăm thế thôi chứ có bao giờ đánh ai. Thế mà thằng con thù tôi mãi đến lúc đó. Nghe phong phanh em nó quen tôi , nó cấm tiệt. Nó kể đủ thứ tội của tôi. Nàng hỏi , tôi chối phắt. Đố bạn biết nàng tin ai ? Dĩ nhiên là tôi rồi. Thành ra có câu “Love is blind”. Yêu vào cái là đâm ra mù cả thôi. Từ lúc đó tôi trở thành nô lệ. Nàng cấm tôi uống rượu, hút thuốc. Sao con gái hay lạm dụng quyền lực thế nhỉ ? Thấy người ta yêu là cứ lấn tới. Tôi chiều hết. Về nhà hút chả sao. Nàng về Ninh hoà là ta nhậu. Nhịn thèm cả tuần nhậu càng bốc. Đấy bạn xem . Hoàn cảnh nào rồi cũng có lối ra, không bao giờ là hoàn toàn bế tắc cả. Và cứ thế, chúng tôi yêu nhau….. Bạn đừng hỏi chúng tôi bây giờ ra sao. Có ai lại đi hỏi cái cô gái trong bài “Đi chùa Hương” với anh chàng kia sau này có lấy nhau không, được mấy con ? Bác Nguyễn nhược Pháp sẽ mắng cho là : Vô duyên! Cái kết xin dành cho các bạn. Các bạn có thể cho tôi và nàng lấy nhau, sống hạnh phúc, và cho đến bây giờ vẫn “ main dans la main”. Tôi thích cái kết ấy ghê. Nhưng tôi chỉ gợi ý thế. Tuỳ lòng hảo tâm của bạn. Cuộc sống phải có phản biện. Đừng cho tôi một kết cuộc bi thảm qúa .Chúc một ngày vui. Yêu khoẻ vào nhé. Tâm sự, tấm lòng của tôi đã trao cho các bạn. Xào nấu ra sao tuỳ. Xin được hô khẩu hiệu trước khi ra về : TÌNH YÊU MUÔN NĂM MUÔN NĂM MUỐN NẰM. [/COLOR][/SIZE]

Nhạc Phạm Duy và những điều cần phải nói

Đọc một bài trên báo An Ninh Thế Giới bàn về nhạc Phạm Duy, trích dẫn ý kiến của 3 ông kẹ trong làng âm nhạc cách mạng thấy điên quá. Muốn phang một bài nhưng hiểu biết về âm nhạc của mình chỉ ở mức cảm nhận, còn phân tích lý luận thì đành chịu sầu. Hôm nay trong lúc lang thang gặp một bài phản hồi của một người có tên thầy giáo làng. Thấy hay quá, không có gì để bàn, bèn đăng nguyên văn cả hai bài

1. Bài trên báo ANTG tháng 4/2009

Nhạc Phạm Duy và những điều cần phải nói

Khánh Thy


a Sau nhiều lần ngoái đầu về cố quốc, Tết năm 2005, nhạc sỹ Phạm Duy chính thức trở về với quê hương, mảnh đất luôn luôn coi trọng tình nghĩa, không bao giờ “đánh người chạy lại”. Ông đã chọn TP Hồ Chí Minh làm nới sinh sống cho những năm tháng cuối đời của mình. Sau không ít những ấp ủ, liveshow ‘Ngày trở về” của Phạm Duy đã vang lên trong một đêm diễn duy nhất tại Nhà hát lớn Hà Nội vào cuối tháng 3-2009. Sự trở về của bản thân nhạc sỹ Phạm Duy và âm nhạc của ông mới đây đã làm dậy lên một làn sóng báo chí quan tâm. Tuy nhiên, không ít điều xuất hiện trên một số phương tiện thông tin đại chúng xung quanh đêm nhạc Phạm Duy đã gây nên những bức xúc cho người chính trực.

Nhìn lại bản chất vấn đề, đánh giá một cách công bằng nhất những giá trị đích thực của Phạm Duy và âm nhạc của ông, Báo ANTG đã mở ra một diễn đàn nhỏ để mời các nhạc sỹ lớn, những người có tên tuổi có trọng lượng trong nền âm nhạc Việt Nam nói về sự kiện này.

Nhạc sỹ-NSND Trọng Bằng:

Tôi có đọc trên báo thấy có nhiều lời tâng bốc cũng hơi là lạ, không quen. Nhạc sỹ Phạm Duy nếu nói ngắn gọn chỉ 4 “thứ” thôi. Thứ nhất, anh là một người đầu kháng chiến chống Pháp có một số bài hát được quần chúng yêu thích. Thứ hai, sau khi anh bỏ Tổ quốc ra đi, không biết anh có công nhận không nhưng lúc đó cả nước người ta nói anh đi theo giặc, đi phục vụ địch. Và một số bài hát của nah, anh đã làm lời lại để phục vụ hoàn cảnh mới. Thứ ba là khi anh về nước, anh nói rằng anh trở về với nguồn cội. Anh có đến Hội Nhạc sỹ gặp tôi. Tôi cũng có nói chuyện và bảo anh rằng: Ngày xưa khi tôi còn bé, anh Phạm Duy và anh Trọng Loan (anh trai của tôi) cùng ở một đoàn nghệ thuật. Ngày xưa tôi cũng thích những bài hát của anh. Nhưng âm nhạc bây giờ khác chứ không ít ỏi như thời anh viết những tác phẩm ngày xưa nữa đâu. Cả một cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng tôi viết hàng ngàn bài hát, hàng ngàn ca khúc. Chúng tôi viết và được phát trên Đài tiếng nói Việt Nam hôm trước thì ngay hôm sau cả nước hát, và hát cho đến bây giờ. Thứ tư tôi muốn nói là anh về thì cứ về, cứ thế mà làm việc, cứ sáng tác, viết thêm được gì thì viết, cống hiến được gì thì cống hiến chứ đừng lợi dụng lúc này mà tâng bốc mình lên như vị nọ vị kia. Tuy nhiên, tôi cho rằng, sự tâng bốc này là lỗi một phần ở các nhà báo, dễ dãi và chạy theo thị hiếu, cứ coi đây như sự kiện âm nhạc lớn, Phạm Duy được tâng bốc như là nhà sáng tạo ghê gớm. Vì nói đến Phạm Duy những người chân chính ở Việt Nam đã biết cả rồi, biết Phạm Duy như thế nào trong quá khứ, Phạm Duy có cái gì tốt, cái gì chưa tốt, bản chất của Phạm Duy và giá trị thật âm nhạc của anh người nghe đều hiểu cả. Sự trở về của Phạm Duy là sự ưu ái của Đảng và Nhà nước, sự rộng lượng của nhân dân ta, nên đừng đặt mình ở vị trí cao, cứ nên im lặng mà làm việc thôi. Có những tác phẩm anh sáng tác đầu kháng chiển rất tốt, bây giờ Cục biểu diễn người ta khuyến khích cho phép anh trở về biểu diễn, thì cứ thế mà cống hiến thôi. Dư luận chúng ta hơi dễ dãi và nhẹ dạ. Nhưng vấn đề là Phạm Duy phải tỉnh táo. Vì ông hoàn toàn hiểu ông là ai, quá khứ đối với dân tộc của Phạm Duy là một tội lỗi. Ông không thể so sánh ông với bất cứ một nhạc sỹ nào đã tham gia cách mạng, vì thế ông không thể nào so sánh với nhạc sỹ Văn Cao. Không thể ví được. Văn Cao là một con người có trình độ, là một nhà nghiên cứu dân tộc, ông Văn Cao là một người toàn diện, và ông Văn Cao còn biết tôn trọng những người nhạc sỹ đàn em đi vào con đường âm nhạc bác học, một người rất khiêm nhường biết mình, biết ta. Giả sử có một nhạc sỹ X, Y, Z nào đó hỏi: Khi chúng tôi đi đánh Mỹ giải phóng dân tộc thì ông làm gì? Chắc chắn rằng nếu là người hiểu biết đều hiểu rõ khi đó ông là tác giả của các bài hát chống lại cách mạng, chống lại nhân dân, chống lại công cuộc giải phóng dân tộc.

NS Phạm Tuyên:

Hôm nhạc sỹ Phạm Duy ra đây nói chuyện nhân việc phổ nhạc các trích đoạn trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, tôi có được mời tới dự. Sau đó một số người hỏi tôi về chương trình này. Tôi nói rằng đây là một sự tìm về một áng văn chương tuyệt tác của văn học Việt Nam. Nhưng nếu vào âm nhạc thì còn xa lắm so với “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Tuy nhiên đó là sự biểu hiện của tìm về với cội nguồn. Riêng tôi lúc vào trong TP Hồ Chí Minh, nghe tin ông Phạm Duy về, tôi nghĩ đó là một sự trở về với nguồn cội thôi. Dân gian có câu “Đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh kẻ chạy lại”. Chính lúc đó các nhạc sỹ ở trong TP Hồ Chí Minh cũng cho rằng không nên làm rùm beng cái chuyện này, thậm chí báo chí đề cao quá như vừa rồi thì người ta không tán thành. Tôi lại không nghĩ như thế. Ai cũng có những sai lầm trong quá khứ cuộc đời. Trong cơ chế thị trường hiện nay có những công ty nhạy bén với thị hiếu của thị trường, người ta săn đón, mua bán quyền của nhạc sỹ Phạm Duy, xuất bản và tổ chức biểu diễn rầm rộ. Một số anh em nhạc sỹ trong Hội Âm nhạc TP Hồ Chí Minh gặp tôi và nói rằng không nên làm như thế. Còn việc đánh giá về phẩm chất nghệ thuật thì phải nhìn cả một quá trình. Đóng góp như thế nào, sai lầm như thế nào. Nếu bây giờ chúng ta chỉ đánh giá phần đóng góp mà quên đi phần sai lầm, thậm chí gạt bỏ hết mọi sai lầm để tâng bốc đóng góp thì như thế chẳng công bằng với các nhạc sỹ trong nước. Có một số anh em nhạc sỹ sau khi đọc báo nói về “Ngày về” của Phạm Duy, sự trở lại rầm rộ, được báo chí săn đón và tâng bốc thái quá đã thốt lên: “Trời đất ơi, thế thì thành tựu âm nhạc của chúng ta mấy chục năm qua nhỏ nhoi quá nhỉ!”. Trong khi đó, tôi là người trong cuộc, cảm thấy được sức mạnh của vũ khí âm nhạc, đúng ra trong thành công của Cách mạng chúng ta, trong chiến thắng thống nhất đất nước, có sự đóng góp lớn của âm nhạc, và chúng tôi rất tự hào. Một số anh em ở Huế hỏi tôi đánh giá như thế nào về nhạc sỹ Phạm Duy, tôi trả lời hồi nhỏ tôi có thuộc và thích một số bài hát của Phạm Duy. Nhưng sau khi nhạc sỹ Phạm Duy rời bỏ đất nước ra đi, thậm chí có một thời gian đưa âm nhạc phục vụ chính quyền Mỹ-ngụy. Tôi nghĩ, rồi cũng sẽ có lúc bản thân anh Phạm Duy phải nhìn thẳng vào sự thật. Trong cơ chế thị trường hôm nay, tôi nghĩ cần phải thẩm định đúng giá trị thật những đóng góp của nhạc sỹ Phạm Duy, không nên quá đề cao. Bởi lẽ tìm tòi trong âm nhạc của Phạm Duy cũng chỉ có hạn thôi, trong khi đó tìm tòi về mặt sáng tạo âm nhạc trong nước ta có rất nhiều tài năng, nhiều khả năng. Ngay vấn đề đem âm nhạc phục vụ cho sự nghiệp cách mạng thì làm thế nào mà so sánh nổi với Văn Cao hay bất cứ một nhạc sỹ nào tham gia cách mạng. Sự đóng góp của nhạc sỹ Văn Cao rất phong phú, bây giờ được ghi nhận là người có đóng góp lớn cho đất nước và âm nhạc Việt Nam. Tôi chỉ có một suy nghĩ nhỏ, chúng ta chúc cho ngày trở về của nhạc sỹ Phạm Duy là một sự trở về của lá rụng về cội. Còn đánh giá về con người, nhất là đánh giá về tác phẩm thì phải rất thận trọng, công bằng và đúng bản chất, một phần nào đó phải có giới hạn. Đừng chạy theo thị hiếu, theo cơ chế thị trường mà quá đề cao sự đóng góp của nhạc sỹ Phạm Duy, như vậy mới xứng đáng với lịch sử, với những người đã đổ máu xương cho đất nước, cho dân tộc được có ngày hôm nay.

NS Hồng Đăng:

Vấn đề này thực ra rất tế nhị đối với anh em nhạc sỹ. Vì đối với những người sáng tác với nhau, bao giờ chúng tôi cũng hết sức rộng lượng, nhìn nhau bằng cặp mắt tốt đẹp và mong cho nhau thành công. Riêng trong vấn đề Phạm Duy, cái nhìn của tôi có thể khác hơn. Ngay trong giai đoạn đầu kháng chiến, nhạc sỹ Phạm Duy là một trong những nhạc sỹ có ý thức khai thác vốn dân ca, đưa chất liệu dân ca vào sáng tác mới. Cho nên những “Bà mẹ Gio Linh”, những “Về miền Trung”… ngày ấy rất được nhiều người tán thưởng. Nhưng thời kỳ ấy chúng tôi đang còn bé quá. Sau này lớn lên thì có nghe tin nhạc sỹ Phạm Duy đã vào trong thành, sau đấy bẵng đi thời gian 5 đến 6 chục năm, chúng tôi cũng không mấy lưu tâm. Vừa rồi ông Phạm Duy xin phép được trở về, và được Nhà nước ta cho phép. Lúc Phạm Duy về, rất nhiều anh em nhạc sỹ vui vẻ vì thấy rằng đây là một lần quay lại của các anh em mà trước kia có một thời kỳ bẵng đi không thấy mặt nhau. Nhưng gần đây, báo chí lại rộ lên về những chương trình của Phạm Duy. Tôi cũng nghe rất nhiều người phàn nàn là tác phẩm của Phạm Duy như thế mà báo chí tâng bốc, đề cao đến mức y như là nhân vật số một của âm nhạc Việt nam hiện nay, và là người nhạc sỹ kỳ tài. Điều ấy là vô lý, như thế không đúng, huống gì lại xem như người có công lớn (?!). Những giá trị thật của một người nghệ sỹ, thứ nhất là tinh thần yêu nước, những đóng góp tâm hồn mình cho dân tộc… So sánh một cách thẳng thắn, những bài hát của Phạm Duy có một vài bài công chúng thích và không phải bài nào công chúng cũng thích. Có một thời nghe nói các tác phẩm của ông cũng không được người ta ưa chuộng lắm đâu ngay cả ở nước ngoài. Điều ấy chúng ta phải có sự cân nhắc tử tế. Nếu như có sự đóng góp nào đấy thì nên ghi nhận. Nhưng đừng nghĩ rằng như thế thì tất cả các anh em khác không ra gì. Trong lúc ấy chúng ta có những tên tuổi lừng lẫy như Đỗ Nhuận, Văn Cao, Lê Yên, Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Hoàng Vân, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, và còn rất nhiều người khác đã gắn bó với những ngày gian khổ, thiếu thốn cùng cực của đất nước chỉ để góp một chút gì của mình cho cuộc chiến tranh vệ quốc. Từ ngày anh ra đi, anh Duy ạ, nền âm nhạc của chúng ta đã khác trước nhiều lắm. Từ một đội ngũ thưa thớt thời của anh, giờ đây không biết bao nhiêu tên tuổi nổi lên một cách xứng đáng, có hiểu biết, có tìm tòi, khác xa thời anh bỏ khu III, khu IV mà đi. Điều đáng nói là nhiều anh em thành thực mong cho anh có nhiều đêm nhạc tốt đẹp, trong khi hàng trăm hàng nghìn người không có nổi kinh phí để lo một đêm nhạc của riêng mình dù tác phẩm cứ ngồn ngộn ra đấy…Muốn nhìn nhận công bằng, nên nhích xa ra một tí để nhìn toàn cảnh. Còn nhớ năm 1994, chúng tôi tổ chức được 4 đêm, 4 chương trình khác nhau ở Nhà hát Lớn Hà Nội lấy tên là “Nửa thế kỷ Bài hát Việt Nam” chỉ giới thiệu được gần 80 bài cho 80 tác giả, trong đó riêng anh Văn Cao được 2 bài. Chương trình có tiếng vang lớn nhưng hàng trăm nhạc sỹ khác nằm chờ giới thiệu ở TP Hồ Chí Minh thì vướng quá nhiều thứ, nhất là kinh phí mà không giới thiệu được thêm nữa, đành cay đắng mà chịu thiệt thòi. Tất nhiên anh Phạm Duy có thể kiêu một tý cũng chẳng sao (thói thường mà)! Nhưng những người hướng dẫn dư luận có lẽ nên nghĩ kỹ một tí, để khách quan hơn, công bằng hơn. Còn riêng một chi tiết nhỏ về chuyên môn: Các anh em nhạc sỹ sau này khai thác dân ca vào sáng tác mới giỏi hơn anh nhiều lắm. Có thể kể Thái Cơ, Phó Đức Phương, Trần Tiến, Nguyễn Cường, Văn Thành Nho, Nguyễn Đình Bảng, Lê Mây…Tư liệu này ở Hội Nhạc sỹ Việt Nam, Viện nghiên cứu Âm nhạc Việt Nam đều có cả. Anh Phạm Duy trở về, chúng tôi chúc mừng anh và mong anh khỏe mạnh để có những sáng tác mới.

PhotobucketBài hồi đáp của Thầy giáo làng

Nhạc Phạm Duy và những điều cần phải nói
Hôm qua thấy có bài “Nhạc Phạm Duy và những điều cần phải nói” trên ANTG số tháng 4-2009, nhưng không thấy trên báo mạng. Có lẽ nội dung hơi tế nhị nên người ta không đăng báo mạng chăng? Bài viết ghi lại ý kiến của các quan chức âm nhạc của Việt Nam về Phạm Duy.

Ngay cả câu giới thiệu cũng đã mang tính áp đặt: “Tuy nhiên, không ít điều xuất hiện trên một số phương tiện thông tin đại chúng xung quanh đêm nhạc Phạm Duy đã gây nên những bức xúc cho người chính trực.” Ai là “những người bức xúc”, và ai là “người chính trực”. Nếu mấy ông quan nhạc sĩ này có vấn đề với Phạm Duy thì nói huỵch tẹt ra đi, cần gì phải úp mở ngụy biện như thế nhỉ?

Cả ba ý kiến của các vị quan chức này đều bày tỏ sự khó chịu (hay hằn học?) của họ trước dư luận quá ái mộ Phạm Duy được biểu hiện qua những show nhạc “hoành tráng” từ Nam chí Bắc. Ngay cả một công ti văn hóa bỏ tiền ra mua toàn bộ tác phẩm của ông cũng bị đem ra bàn tán với lời lẽ không mấy tử tế. tuy nhiên họ không tự hỏi tại sao công ti đó không mua tác phẩm của họ mà mua tác phẩm của Phạm Duy.

Cả ba ý kiến không có tính học thuật gì cả, mà tập trung vào tấn công cá nhân, hay nói theo tiếng Anh là smear hay personal vendetta. Họ răn đe Phạm Duy. Họ nhắc nhở Phạm Duy nhớ về quá khứ của mình (cái này thì nên để lịch sử đánh giá). Họ trịch thượng lên lớp Phạm Duy rằng đừng tưởng mình tài giỏi (cái này thì Phạm Duy đâu cần nói, để công chúng đánh giá). Đọc hết bài này tôi thấy phảng phất một hoạt cảnh một nhóm tam nhân mặt mũi hầm hầm, cầm roi lăm le chờ người diễn viên đang được khán giả ái mộ ra khỏi sân khấu để ăn thua đủ: tại sao mày dám nổi tiếng, muốn yên thân thì câm miệng lại, đừng có diễn hát ồn ào, nghe chưa. Một không khí đe dọa, khủng bố tinh thần. Một kiểu trâu buộc ghét trâu ăn? Hay là hội chứng người đứng cao (tall poppy syndrome). Hay một cách bày tỏ sự thiếu tự tin vào tài năng của chính mình?

Định viết vài hàng bình luận tiếp, nhưng tôi thấy có một người kí tên là “thầy giáo làng” có bài phản hồi quá đầy đủ mà còn rất hay nữa. Xin giới thiệu các bạn bài phản hồi của thầy giáo làng

Phản hồi về bài:
Nhạc Phạm-Duy và những điều cần nói
(Bài đăng trên báo:An ninh cuối tháng số 93,tháng 4-2009)


Tôi vừa được đọc bài báo nói trên sáng nay và nhận thấy có đôi điều cần được "lạm bàn "mặc dầu, như nickname của tôi vẫn dùng trong các entries viết trước đây,tôi chỉ là một "Thầy giáo làng", có nghĩa là một người "ngoại đạo" với âm nhạc.Tuy nhiên theo thiển nghĩ của tôi,cứ gì phải là một nhạc sĩ có chân trong Hội Nhạc sĩ mới có quyền phát biểu đôi điều về âm nhạc, quyền thưởng thức âm nhạc là của tất cả mọi người, và ai cũng đều có thể đánh giá, bài hát nào hay, bài nào dở.

Điều cần nói trước tiên là những người viết bài báo nói trên là ba vị quan chức cao cấp của ngành Âm nhạc nước ta: NS Trọng Bằng, nguyên Tổng thư ký Hội Âm nhạc VN, NS Hồng Đăng, nguyên phó tổng thư ký Hội Âm nhạcVN, Nhạc sĩ Phạm Tuyên, Tổng thư ký phân hội NSVN Hà Nội.

Người đời thường nói: "miệng kẻ sang có gang có thép", vì vậy bài báo đó có thể coi như tiếng nói của toàn thể giới nhạc sĩ VN chăng?

Mỗi tác giả đều có nhận định riêng của mình, nhưng có vẻ như họ đã hội ý với nhau trước về cái ý thống nhất của bài báo, đó là: Hãm phanh dư luận của giới Báo chí gần đây đã, theo lời ba vị là "Tâng bốc quá mức về thành công của những đêm nhạc Phạm-Duy tổ chức ở những thành phố lớn, cùng với tên gọi "Ngày trở về".

Cả ba vị đều có "Nhã ý trích ngang lý lịch "của nhạc sĩ PD mà tôi xin phép được tóm tắt như sau: PD là một NS có tham gia những năm đầu KC chống Pháp <1946-1950>, và ông đã có một số tác phẩm được nhiều ngừoi biết đến như: Nương chiều, Nhạc tuổi xanh... Ông đã có công trong việc đưa dân ca áp dụng vào các ca khúc như Dân ca Thương binh, dân ca Sông Lô... nhất là những bài Bà mẹ Do linh, Về miền Trung ... sáng tác sau chuyến đi thực tế vào Bình Trị Thiên năm 1949.

Hầu như cả ba vị NS khả kính trên đều áp dụng chiêu "xoa trước,đánh sau", mà cái phần thứ hai này được viết với văn phong mà trong âm nhạc gọi là fortissimo. Họ nói ông đã "dinh tê" năm 1950, sau đó đã đổi lời một số bài hát đã làm trong KC cho hợp với hoàn cảnh mới như: bài Bao giờ anh lấy được đồn Tây thành ra bài Quê nghèo ...

Rồi sau khi vào Nam năm 1954, ông lại có một số bài có nội dung chống lại CM … và Sau nhiều lần "ngoái đầu về cố quốc" , Tết năm 2005 nhạc sĩ PD chính thức trở về với quê hương ... Theo thiển ý của tôi, thiếu gì chữ nghĩa hay hơn mà mấy ông nhà báo lại dùng động từ "ngoái đầu" cho lời mở đầu của bài báo thêm nặng nề.

Theo hiểu biết của tôi,việc trở về quê hương của nhạc sĩ PD mang ý nghĩa tích cực nhiều hơn là "sau khi ngoái đầu về nhiều lần, thấy việc trở về có thể làm mình nổi tiếng hơn ở nước ngoài thì PD mới về." Mà cái sự nổi tiếng của Phạm Duy thì các anh cũng thừa biết, anh ấy đã quá nổi tiếng trước khi về nước từ lâu rồi.

Tôi nghĩ việc các nghệ sĩ Đức Huy, Elvís Phương ...và sau đó là PD về nước, là một biểu hiện tuyệt đẹp của chính sách Hòa hợp Dân tộc mà chúng ta đã chủ trương ngay từ sau ngày Thống nhất đất nước, nó chẳng hề mang tính chất cơ hội như một số người lầm tưởng.

Cần gì mà ông Trọng Bằng phải viết: "PD phải tỉnh táo,vì ông hoàn toàn hiểu ông là ai, quá khứ củaPD là một tội lỗi!!!! Thiết nghĩ việc đánh giá công hay tội của một con người là một việc của lịch sử,không cá nhân nào được phép nhân danh lịch sử để lên án, bôi nhọ người khác. Trong lịch sử có những người như Hồ quí Ly chẳng hạn, đã có một thời gian dài, người ta coi ông như một kẻ tiếm ngôi nhà Trần, một nhân vật phản diện. Nay sử sách đã phải có một cách nhìn khác về ông mà coi ông như một nhà cải cách lớn. Rồi nhà Nguyễn Gia Long nữa, trước đây chúng ta coi như họ là một lũ "Cõng rắn cắn gà nhà..." Nay thì họ đã được đánh giá là có công mở rộng bờ cõi về phía Nam .... Lịch sử bao giờ cũng công bằng, và việc đánh giá đó nhiều khi đòi hỏi một thời gian hằng thế kỷ hay lâu hơn nữa. Chúng ta phải biết kiên nhẫn đợi chờ.

Mà có nhiều trường hợp, chúng ta đâu có cần gì phải chờ đợi quá lâu, mới có được những đánh giá đúng đắn về một cá nhân nào đó. Như trường hợp của Staline chẳng hạn. Trước khi ông chết, một caí chết đã làm cho nhà thơ Tố Hữu phải làm cả một bài thơ dài để khóc ông thì cả Thế giới đã coi ông như một người hùng của Thế chiến thứ 2, người đã chiến thắng trùm Phát xít Hitler. Vậy mà khi ông nằm xuống chưa bao lâu,các nhà lãnh đạo mới của Liên sô đã vạch ra những sai sót lớn của ông với tệ nạn "Tôn sùng cá nhân", rằng ông đã thủ tiêu nhiều đồng chí của mình. Báo chí Liên sô còn viết: có nhiều người, khi được ông "mời đến điện Kremlin họp" đã vĩnh biệt vợ con trước vì biết rằng chuyến đi này sẽ không có ngày về!!!

Tôi còn nhớ cả chuyện Nhạc sĩ Trọng Bằng, khi ấy còn là một SV trường Dự bị Đại học, <1953> đã kịp làm bài "Ca ngợi Malencốp" khi ông này lên thay Staline, trong đó câu kết của bài là: "Hát lên Malencốp muôn đời". Rủi cho anh là Malencốp lên chưa nóng chỗ đã bị thay bởi một nhà lãnh đạo khác. Nếu không có sự kiện đó thì bên cạnh những: "Em bé Triều tiên, Bão nổi lên rồi ... anh đã có thêm một tác phẩm "để đời khác".

Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi: Nếu có người nước ngoài nào muốn nghiên cứu về nền Âm nhạc của VN giai đoạn 1954-1975 mà chỉ thấy toàn là những: Anh vẫn hành quân, Sẵn sàng bắn, Không cho chúng nó thoát, Bão nổi lên rồi ... thì họ có thể cho rằng: "Quái sao trong từng ấy năm mà con trai, con gái nước này, họ không yêu nhau, không nhớ nhau thì làm sao họ tồn tại được nhỉ?

May mà trong kho tàng âm nhạc của chúng ta, sau ngày đất nước Thống nhất còn có những tình ca của Trịnh công Sơn, và sau chính sách "Đổi mới ta lại có thêm những tác phẩm của Ngô thụy Miên, Đức Huy ... và sau khi ông PD về định cư ở quê hương ta lại "phục hồi nhân phẩm" cho những: "Ngàn trùng xa cách, Nha trang ngày về, Ngày xưa Hoàng thị … Nếu không thì chúng ta ăn nói thế nào về tình trạng "trong một cái vườn hoa đẹp như nền âm nhac của chúng ta, một nền âm nhạc mà ta luôn tự hào là "đậm đà bản sắc Dân tộc, là vô cùng phong phú, lại thiếu đi hẳn một mảng lớn những bông hoa mà nước nào cũng có,đó là những bản tình ca, những bài hát ca ngợi tình yêu đôi lứa ... Tìm đến mỏi cả mắt, mãi mới thấy có "Gửi nắng cho em, Hoa sữa, Em ơi Hà nội phố ...

Mà ở miền Bắc nước ta,đâu có thiếu người viết tình ca hay. Lừng lững như một Văn Cao, người mà cả ba tác giả khả kính nói trên đều hết lời ca ngợi, người có thể coi là ông vua tình ca, một người có những bài nhạc sang trọng như một ông Hoàng cũng chỉ có được một số tình ca đếm đủ trên đầu hai bàn tay, mà toàn là những bài mà người ta gọi là "tiền chiến".

Ngoài Văn Cao ra, chúng ta còn có Đoàn Chuẩn,người được coi nhu một nhạc sĩ của Mùa Thu Hà nội, ông cũng còn kịp viết ra được hơn mười tình khúc bất hủ trước khi tự nguyện treo bút vĩnh viễn sau bài "Gửi người em gái miền Nam". Còn những nhạc sĩ tài danh khác thì sao? Mỗi người trong đám họ cũng đánh bạo mỗi ngừời có được một hay hai tình ca mà mỗi lần trình diễn, ban tổ chức cứ phải nói chệch ra là "nhạc Tiền chiến" tức là loại nhạc họ viết ra từ trước CM. Tôi có đem chuyện này ra hỏi Nhạc sĩ Tô Hải xem ông viết Nụ cười sơn cước khi nào thì ông cười mà nói: ngày trước cậu cũng có đóng quân ở Kim Bôi không nhỉ. Năm 1948 mình đã trú quân ở đó ít lâu, trong Bản có một cô gái người Mường tên là cô Phẩm, cô ấy rất xinh, đúng như hình ảnh mình đã viết: Hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn mầu trắng trắng, một chiếc vòng sáng long lanh với nụ cười em quá xinh ... Mình lúc đó mới 20 tuổi, cũng chỉ là thấy thinh thích thôi, chứ đã nước non gì đâu. Thế là sau khi rời Kim bôi, trong một buổi chiều mà tớ viết "trong lòng, mưa hơn cả ngoài trời" tớ đã sáng tác bài đó rất nhanh. Mà thực ra hôm đó có mưa gió gì đâu, lại còn nắng như đổ lửa ấy chứ. Nhưng,cái câu đó, cậu còn nhớ tớ học được ở đâu cậu biết không? Ở câu:"il pleut sur la route, il pleut dans mon coeur...." trích từ một bài thơ Pháp do cụ Phương giảng từ hồi học Primaire Sup ở Thái bình ấy mà. Thế sao gọi là "Tiền chiến" được? Tôi hỏi. Anh cười nói: có nói thế mới lách được. Đoạn anh cười nói thêm: thì cũng như Dư âm của Nguyễn văn Tý, hắn làm năm 1950 ở khu 4, Tạ từ của Tô Vũ làm ở Đống năm Thái binh năm 1949 ... Toàn là tiền chiến giả hiệu cả thôi. Phải nói thế để chứng tỏ rằng những bài nhạc lãng mạn, ủy mị đó chúng tớ viết từ khi chưa có sự lãnh đạo của Đảng. Thực sự gọi là "Tiền chiến" thì chỉ có Đêm đông của Nguyễn Văn Thương, Biệt ly của Doãn Mẫn, Bẽ bàng của Lê Yên cùng toàn bộ các tình khúc của Văn Cao như Buồn tàn Thu, Thiên thai, Bến Xuân … ngay cả Trương chi, ông cũng chỉ hoàn thành năm 1946, nghĩa là sau CM tháng 8.

Còn nhạc sĩ Phạm Tuyên thì viết về hiện tượng báo chí ở Thành phố HCM rùm beng quá nhiều về live show "Ngày trở về" của PD. Thậm chí còn có một công ty in ấn, xuất bản bỏ hàng mấy trăm triệu ra mua toàn bộ các tác phẩm của PD đã được phép trình diễn trở lại. Rồi trong đêm "Duyên dáng VN 15 hay 16 gì đó chỉ một ca từ: "Tôi yêu tiếng nước tôi" trong bài Tình ca của PD cũng đem bán đấu giá được mấy chục triệu, như thê là quá bất công với các nhạc sĩ trong nước khác". Cũng xin nói thêm, cùng thời gian này cũng có công ty đã bỏ ra hàng trăm triệu chỉ để mua một bài thơ "Mầu tím hoa sim"của Hữu Loan.

Có lẽ mấy vị nhạc sĩ này quên mất một điều là nền Kinh tế nước ta hiện nay là một nền KT thị trường, cho dù nó còn mang thêm một cái đuôi "có định hướng XHCN" thì điều mà những người làm KT hiện nay nghĩ đến trước tiên phải là lợi nhuận. Họ mua các tác phẩm đã được phép phổ biến của PD là một hình thức kinh doanh. Không lẽ họ mua: "Anh vẫn hành quân, Bão nổi lên rồi ... để mà lỗ chỏng gọng ra à.

Còn phần viết của tác giả ca khúc "Hoa sữa" nổi tiếng thì ông Hồng Đăng có phàn nàn về chuyện năm 1994, ở Hà nội có tổ chức 4 đêm "Nửa thế kỷ âm nhạc VN" ở Hà nội rất thành công, mà sau đó không tổ chức được ở Thành phố HCM vì lý do thiếu kinh phí. Tôi tự hỏi: Sao lúc đó ông không kêu gọi các nhà làm KT đứng ra tài trợ? Hỏi vậy nhưng câu trả lời cũng đến ngay. Sở dĩ họ không dám tài trợ là vì thói thường, con người làm KT thường "Trông dỏ, bỏ thóc" Họ bỏ tiền ra cũng phải nghĩ đến sự thành công của đêm nhạc. Lỗi không phải ở họ, anh Hồng đăng ạ, họ đã được Đảng ta cho phép "làm giầu đúng luật". Thời nay, đâu phải là thời gian ông "Vua lốp Chẩn" bị tịch thu tài sản chỉ vì có nhiều tiền một cách "bất minh" . Thực ra thì tài sản của "Vua lốp Chẩn" bị tịch thu hồi đó, gọi là nhiều chứ có bao nhiêu đâu. Số tiền đó chắc cũng không đủ để chi cho một bữa nhậu của các "Đại gia" ngày nay đâu.

Anh Hồng Đăng có nói một ý là: "những anh em nhạc sĩ bây giờ, tác phẩm cứ "ngồn ngộn" ra đấy mà không có đủ kinh phí để tổ chức một đêm nhạc cho riêng mình! Đọc chữ "ngồn ngộn" của anh viết khiến tôi cứ hình dung ra một miếng thịt quay ngon lành, được các Bà xã của chúng ta mua từ một tiệm danh tiếng ở Chợ Lớn về, rồi được những bàn tay vụng về của cánh đàn ông chúng ta dùng một con dao cùn để cắt ra những miếng thịt "to đùng", chỉ mới nhìn, mọi người đã phát khiếp lên rồi, còn ai dám ăn nữa.

Đúng là đội ngũ nhạc sĩ các anh hiện nay quá đông đúc, với số tác phẩm "ngồn ngộn" ra thật, nhưng xin phép anh được nói thật: Các cụ ngày xưa nói: "Quí hồ tinh, bất quí hồ đa". Trong ngành Giáo dục của chúng tôi, các vị có trách nhiệm cũng đề ra tiêu chí: "ít mà tinh" trong việc dậy học, dậy ít kiến thức thôi, nhưng là những gì thật cần thiết, không dậy lan man những kiến thức vô bổ. Điều này tôi nói có hơi lạc đề với vấn đề âm nhạc của các anh, nhưng xin thú thực với anh là: một nền Giáo dục mà để cho các con, các cháu chúng ta phải đi học "Luyện thi vào lớp 1", phải đeo chiếc cặp to đùng đến vẹo cả sống lưng khi đi học thì đó là một điều kinh tởm, đáng xấu hổ.

Trở về với vấn đề Âm nhạc của các anh, số tác phẩm của các anh có "ngồn ngộn" thực nhưng là những bài như: "đàn ông là như thế", "Giữa anh và người ấy, em chọn ai", "kiếp đỏ đen" ... Những cái tựa đề như thế, chỉ mới đọc thấy thôi đã thấy "chết khiếp" đi rồi, nếu nghe xong cả giai điệu lẫn ca từ của chúng, kèm theo những động tác múa minh họa với các cô, các cậu người mẫu giật đùng đùng cứ như người bị cơn động kinh ấy, thì..."chết thật".

Những đêm nhạc mang những tựa đề mỹ miều như "Bài hát Việt tháng x, y, z ..."chỉ có tác dụng làm cho các bà nội trợ của chúng ta mừng rơn vì: "Tháng này lại đỡ được ít tiền điện đây" vì cứ đến giờ phát sóng, các bà cứ việc tắt TV đi mà không gặp sự phản ứng của các đức ông chồng. Nói thêm là các bà chỉ sợ đêm nào mà AC milan gặp MU hay Real Madrid gặp Liverpool thôi, tiền điện cứ là tăng vùn vụt.

Anh Hồng Đăng còn viết: "các nhạc sĩ bây giờ khai thác dân ca giỏi hơn anh nhiều lắm anh Duy ạ. Sau đó anh kể một lô một lốc những Thái cơ, Phó đức Phương, Nguyễn Cường,Trần Tiến, Văn thành Nho, Nguyễn đình Bảng, Lê Mây ...

Ý kiến này, theo ý tôi, anh viết hơi vội vàng đấy. Ai giỏi hơn ai là một vấn đề không dễ thẩm định như vậy đâu. Nó chẳng rõ ràng như Barcelona thắng Real Madrid 2-0 thì Barca giỏi hơn RM. Mà thắng hôm nay nhưng lần sau có thể lại thua chứ.

Trở lại với câu anh viết ở trên tôi thấy anh hơi "bất công" với thế hệ các nhạc sĩ lớp trước như Phạm Duy, Dương thiệu Tước ...

Thời của các anh đó mà viết được những ca khúc mang âm hưởng dân ca đồng bằng Bắc bộ như Dân ca Thương binh, Dặn dò, những bài mang âm hưởng Bình trị Thiên như Bà mẹ do Linh,Về miền Trung, Quê nghèo ... Đêm tàn Bến Ngự, Tiếng xưa ... theo tôi là giỏi vì các anh đó là những người đi tiên phong trong vấn đề đưa dân ca vào ca khúc, ngày ấy vấn đề này mối manh nha, chưa có chủ trương rõ ràng như bây giờ. Đòi hỏi PD phải viết được chùm ca khúc mang âm hưởng Tây nguyên như Nguyễn Cường hay chùm ca khúc mang âm hưỡng Chăm của Trần Tiến là một chuyện không tưởng. Lúc đó đang là KC chống Pháp <1949>, làm sao PD có thể vào các buôn làng Tây nguyên như Nguyễn Cường đã làm ngày nay. Còn những gương mặt khác mà anh kể thì tôi thấy chưa thuyết phục lắm với những bài như: "Rặng trâm bầu, Mùa hoa đỏ, Đất nưởc lời ru ... những bài như thế này thì đâu hơn được những gì các anh Duy, anh Tước đã viết từ hơn 50 năm về trước.

Theo tôi nghĩ nếu anh muốn dẫn chứng những gương mặt vận dụng tài tình dân ca vào ca khúc thì anh nên nhắc tới anh Nguyễn văn Tý với "Một khúc tâm tình người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ gỗ, với âm hưởng của hát Ví dặm Nghệ Tĩnh và sau này là "Dáng đứng Bến Tre" với âm hưởng dân ca miền Tây Nam bộ.

Tôi xin phép cả ba Nhạc sĩ nói trên được nói lên một điều mà trách nhiệm, theo tôi nghĩ, không hoàn toàn thuộc về các anh, nhưng vì các anh là những người đã từng lãnh đạo giới nhạc sĩ cả nước. Không nói với các anh, tôi biết bầy tỏ cùng ai.

Trong bài báo đã nêu trên, tôi thấy tuy mỗi người có một ý riêng, nhưng có một điều mà cả ba anh đều thống nhất: đó là khi nói về anh Văn Cao, cả ba anh đều đánh giá rất cao về tài năng và nhân cách của con người này. It khi có được một sự nhất trí cao trong việc đánh giá về một con người như vậy, nhất là trong giới Văn nghệ của các anh. Vậy có khi nào, các anh nghĩ rằng, kể từ sau vụ án "Nhân văn giai phẩm", xẩy ra từ hơn 50 năm trước, một tài năng lớn như Văn Cao đã phải "ngồi chơi sơi nước" trong suốt mấy chục năm trời, không được viết lách gì cả. Anh chỉ được đến cơ quan để trình bầy mấy cái bìa sách cho bạn bè, hay là đến vẽ poster cho mấy vở kịch. Mốt sự "lãng phí chất xám" đến mức không thể nào tưởng tượng nổi.

Hồi đó, có kẻ độc miệng đã thốt lên: "cái ông Văn Cao này cạn nguồn cảm hứng rồi, viết lách gì được nữa".

Thật không ngờ, sau ngày đất nước Thống nhất, Tết năm 1976, anh Văn Cao cho ra đời bài "Mùa Xuân đầu tiên" với phong cách rất "Văn cao" từ giai điệu cho đến ca từ. Người lại tìm thấy trong cái thân hình già yếu của ông , một tâm hồn trẻ trung như thuở ông viết "Trường ca Sông Lô, Làng tôi...." vậy.

Thậm chí, người ta , còn tổ chức cả một cuộc thi làm bài Quốc ca mới để thay cho bài: "Tiến quân ca", bài ca đã từng đi cùng Dân tộc qua tất cả những thăng trầm của đất nước. Cũng may cho các anh, và cũng là đại phúc cho dân tộc là cuộc thi đó không có ai trúng giải, và cũng không thấy hội Nhạc sĩ tổng kết cuộc thi đó. Cái kết thúc có hậu đó,theo thiển ý của tôi,là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta. Dân ngoại đạo chúng tôi xin phép ba anh để gọi nó là "Một trận Điện biên phủ trên lĩnh vực Âm nhạc". Mà người nào đã đề nghị bỏ lửng cuộc thi đó, theo tôi xứng đáng được gắn một Huân chương cao quí của nhà nước ta.

Vẫn biết mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng tôi cũng xin phép các anh để nói một điều là khi đất nước ta còn bị chia cắt làm hai miền, thì ở trong Nam cái gọi là "Việt nam Cộng hòa" vẫn dùng bài "Tiếng gọi Thanh niên" của anh Lưu hữu Phước làm "Quốc thiều" của họ. Họ không biết Lưu hữu phước là ai chăng? Tôi tin rằng có thể họ còn biết rõ hơn chúng ta nữa vì anh Phước là người miền Nam mà. Và họ cũng chẳng lạ gì chuyện cái ông Huỳnh minh Siêng đang kêu gọi "Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng..." để lật đổ họ cũng vẫn chỉ là Lưu hữu Phước mà thôi.

Vậy giữa chúng ta và họ, ai là người "Bao dung" hơn ai?

Còn một ý này nữa, nhân đây cũng xin phép cả ba anh nói ra cho hết nhẽ. Trong cả ba phần viết của các anh, các anh đều răn đe anh Phạm Duy không được so sánh mình với bất cứ nhạc sĩ kháng chiến nào khác, đặc biệt là so mình với Văn cao.

Tôi có được đọc cuốn "Nhớ", hồi ký của Phạm Duy do nhà Xuất bản Trẻ xuất bản. Trong cuốn đó, tôi có thấy anh Phạm Duy so sánh mình với một ai đâu. Còn trong những phần , anh ấy nói về Văn Cao, về con người và tác phẩm của Văn Cao, anh ấy không hề có ý gì muốn được so mình với Văn Cao, mà chỉ thấy anh ấy hết lời ca ngợi về những gì mà Văn Cao đã viết từ trước đến khi anh được "ngồi chơi sơi nước" .

Xin phép được dẫn ra đôi dòng PD đã viết về VC để có dẫn chứng

Trong trang 99 của cuốn"Nhớ" nói trên,PD đã viết:

"... Nếu đem so sánh với những bản nhạc tình của 50 năm tân nhạc thì những bài Suối mơ, Bến xuân là cực điểm của lãng mạn tình trong ca nhạc VN. Sẽ không bao giờ có những bài ca lãng mạn như thế nữa! Sẽ có nhạc tình cảm, nhạc não tình ... nhưng không thể có thêm những bài nhạc lãng mạn nào hay hơn nhạc Văn-Cao ..."

Không cần phải dẫn chứng thêm những gì mà PD viết về VC nữa. Chừng ấy đã quá đủ để chứng tỏ là PD đã đánh giá về VC chắc chắn là cao hơn, kính trọng hơn những người đã tổ chức ra cái cuộc thi "Quốc ca", một sự kiện mà theo tôi, là một "Quái thai" lớn nhất của hậu bán thế kỷ thứ 20, nó chỉ có thể xẩy ra duy nhất trong nền Tân nhạc nước ta. Cũng xin phép được nói thêm một sự kiện nữa, tuy không sẩy ra ở ta, nhưng nó cũng là một sự kiện liên quan đến vấn đề Quốc ca một nước. Đó là việc tuy ở Liên bang Nga, thể chế chính trị đã thay đổi hẳn, nhưng họ vẫn lấy bài Quốc ca thời Liên sô làm Quốc thiều của mình. Chỉ riêng một sự kiện này cũng đủ thấy, vừa qua, chúng ta đã làm một việc "Không giống ai"!!!

Một kẻ ngoại đạo về nhạc như tôi mà đã dám bàn hơi dài về một bài báo không dài lắm, kể cũng hơi "bạo phổi", phải không thưa ba anh.

Những ý kiến của tôi có thể đúng hay sai,đó là lẽ thường tình. Nếu có gì quá sai lầm, mong các anh cứ chỉ bảo, nếu xác đáng tôi xin lĩnh ý. Động cơ chính của tôi trong bài viết này là chỉ mong giới nhạc sĩ chúng ta nên có một cái nhìn rộng lượng và bao dung hơn về anh Phạm Duy, một con người mà khi bắt đầu KC, đã có những đóng góp nhất định cho nền âm nhạc của chúng ta. Sau đó anh đã từ bỏ chúng ta để đi về phía bên kia. Nhân vô thập toàn mà, ai mà chẳng có những sai lầm trong cuộc đời.

Nay anh ấy đã ngấp nghé tuổi 90, nghĩa là đã đến rất gần với những ngày cuối của đời mình. Anh trở về Tổ quốc có lẽ cũng là một sự chuẩn bị cho ngày "Lá rụng về cội".

Theo tôi nghĩ, ở tuổi anh ấy, còn tìm vinh quang, tìm nổi tiếng làm gì nữa. Nếu Báo chí có hơi rùm beng về những đêm nhạc của anh thì đó là việc của họ. Anh ấy đâu còn có động cơ nào để mua chuộc họ nữa, mà để làm gì nữa khi con người đã ý thức được ngày về với cát bụi chẳng còn xa nữa.
Hãy rộng lượng vơi mọi người hơn nữa các anh ạ, bởi vì cả chúng ta nữa,trước sau chúng ta cũng sẽ gặp lại nhau cả thôi. Khi đó mọi giận hờn, yêu ghét phỏng còn có ý nghĩa gì nữa. Một lần nữa, xin lỗi các anh về sự mạo muội này của tôi.

Saigon, đầu hạ 2009

Thầy giáo làng

Tôi đã viết xong entry này từ hôm 29-4, nhưng ngày hôm qua, nhân ngày lễ lớn 30-4, tôi có đến thăm một người bạn già, đó là nhạc sĩ Tô Hải, một người đã từng rất nổi tiếng trước đây, với những tình khúc như: Nụ cười Sơn cước, Qua sông lại nhớ con đò ... và trên hết là Cantate; "Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy", một bản Hợp xướng mang tính chất của nhạc bác học của nền Tân nhạc nước ta.

Ông cho biết là ông có đọc bài viết của tôi, và ông muốn bổ xung một số điễm mà theo ông, tôi viết chưa được rõ ràng. Dưới đây là những điểm mà ông đã bổ xung cho những gì tôi viết còn chưa đầy đủ:

Ông nói cuộc thi quốc ca năm đó là do ông Tố Hữu, khi đó còn sống và đang giữ một chức vụ rất cao trong chính phủ, đã chỉ thị cho ông Đỗ Nhuận, khi ấy cũng còn sống và là Chủ tịch Hội Nhạc sĩViệt Nam phải vận động toàn thể các nhạc sĩ hội viên, ai cũng phải tham gia. Làm xong sẽ có một Hội đồng thẩm định để chọn ra 10 bài hay nhất để biểu diễn trước Quốc hội và có một ban giám khảo gồm các nhạc sĩ có uy tín đứng ra chấm giải. Bài nào hay nhất sẽ có giải thưởng rất cao, và nếu Quốc hội cũng nhất trí thì bài đó sẽ được chọn làm Quốc ca mới thay cho bài "Tiến quân ca" của Văn Cao.

Có một chi tiết khá thú vị mà ông bạn Nhạc sĩ của tôi , vừa tủm tỉm cười vùa nói là: ai có bài thi thì lúc nộp bài, sẽ được tạm ứng một số tiền tương đương với 500.000 đồng bây giờ, gọi là tiền bồi dưỡng.

Ông nói thêm, vì lý do cơm áo và cũng vì khoản bồi dưỡng quá hấp dẫn này mà hầu hết các nhạc sĩ hội viên, ai cũng có bài dự thi, mà toàn là những tác phẩm đồ sộ như đại hợp xướng, trường ca, phối âm phối khí rất chuyên nghiệp, với phần nhạc đệm do Giàn nhạc Giao hưởng phụ họa. Có điều lạ là có người chỉ gửi phần ca từ đến dự thi, kèm theo lời đề nghị là có ai nhất trí thì làm ơn "phổ nhạc" dùm

Đoạn, không chờ tôi hỏi, ông đã nói ngay: cả tớ nữa. Tuy chả hào hứng gì với một cuộc thi không giống ai, tớ cũng phải cho ra một bài hát mà cho tới giờ, tớ chẳng nhớ nổi tí gì. Ngày đó tiền khó kiếm lắm, không dễ như bây giờ đâu. Tự nhiên có được 500.000 đồng đễ ăn phở, thằng nào chả làm.

Thế sau đó tổng kết ra làm sao, tôi hỏi.

Ông cười trả lời: "Tất cả những bài dự thi đó, sau khi chọn ra được 10 bài hay nhất đã được đem ra biểu diễn trước Quốc hội rất rầm rộ, chỉ thương cho mấy cụ già đại biểu Quốc hội, tự nhiên phải ngồi nghe 10 bài hát trong mấy tiếng đồng hồ, mệt chết người đi được, mà ai mà nghe được đến cả chục bài hát như vậy được, kể cả cánh nhạc sĩ chúng tớ. Rồi lại còn phaỉ đánh giá xem bài nào hay nhất nữa chứ.

Đến đây tôi ngắt lời ông để hỏi: trong số 10 tác giả được chọn đó có những tên tuổi nào? có anh không?

Anh cười trả lời: làm sao tớ lọt vào số đó được, chỉ có những "tai to mặt lớn" như Đỗ Nhuận, Trọng Bằng, Huy Du ... hình như có cả La Thăng nữa thì phải.

Sau cùng, cả Quốc hội nhất trí vẫn dùng bài "Tiến quân ca" làm quốc thiều, chỉ yêu cầu đổi mấy ca từ nghe có vẻ không được nhân bản lắm như:

Thề phanh thây, uống máu quân thù ... hay "tiến lên cùng thét lên, nghe có vẻ hiếu chiến quá.
Đoạn ông bạn tôi nói tiếp: "Đây có lẽ là lần duy nhất mà ở nước ta có sự "không nhất trí giữa hai cơ quan Hành pháp và Lập pháp, mọi lần khác thì mấy ông nghị của chúng ta chỉ có việc mà "gật đầu" mỗi khi "chính phủ" hỏi các vị có OK với một vấn nào đó không.

Đoạn ông cười mà hỏi tôi thêm: Mà cậu có biết ai là người thất vọng nhất trong vụ "Đảo chính hụt" này không? Tôi lắc đầu ra vẻ không biết, thì ông vừa cười, vừa nói: Dĩ nhiên, người thất vọng nhất là ông Tố Hữu, người bầy ra cái trò "Thi Quốc ca" này để hạ bệ Văn Cao, còn trong đám nhạc sĩ thì Đỗ Nhuận là người buồn nhất, vì ngày đó, ông ta đang là chủ tịch Hội NSVN, nếu có người trúng giải thì sao lọt khỏi tay ông ta được.

Đầu đuôi câu chuyện"Thi Quốc ca" là như thế, thế mà bây giờ tôi mới được biết. Không biết tôi nên cười hay nên khóc đây?

Tôi xin phép được khép lại bài viết này ở đây. Xin thành thật cáo lỗi những ai đã quan tâm, vì lý do đã lấy của các vị quá nhiều thời gian để đọc nó.

Thầy-Giáo-Làng



Ôi! Văn phòng quốc hội đây sao ?

Sau khi được sự uỷ thác của 135 trí thức đầu tiên tự nguyện ký tên vào bản kiến nghị ký ngày 12/04/2009, ngày 17/04/09, GS Nguyễn Huệ Chi, Nhà văn Phạm Toàn và GSTS Nguyễn Thế Hùng cùng đi với dịch giả Dương Tường đến các địa chỉ để chuyển thư. Tại Văn phòng Quốc hội thì diễn tiến cuộc tiếp xúc được kể lại như sau:

"Còn khi đến Văn phòng Quốc hội ở 35 Ngô Quyền thì chúng tôi được tiếp đón ân cần, trọng thị, tại phòng làm việc của ông Phó Chủ nhiệm UB Văn hóa Giáo dục Nguyễn Minh Thuyết và phòng ông Phó Chủ nhiệm Văn phòng Nguyễn Sĩ Dũng, qua đó chúng tôi không chỉ gửi được bản Kiến nghị cho ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội, mà còn gửi thêm ba bản đến ba vị Phó Chủ tịch, một bản đến toàn thể Ban thường vụ Quốc hội, một bản nữa đến toàn thể các thành viên Quốc hội, và một số bản đến các vị Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật, Quốc phòng An ninh, Kinh tế và Chủ tịch hội đồng dân tộc, cùng một số cá nhân đại biểu thường có nhiều ý kiến phản biện trong các kỳ họp trước đây. Cả hai người nhận thư đều hứa chắc: nội trong ngày 17 tháng Tư thư sẽ đến tận tay người nhận."


Ngày 8 tháng 5 năm 2009, Một bức thư được gửi từ Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, đến người nhận là GS Nguyễn Thị Huệ, mà địa chỉ lại là nhà riêng của GS Nguyễn Huệ Chi (xem hình phong bì dưới đây):


PhotobucketTheo lời GS Nguyễn Huệ Chi, khi nhận bức thư này do người bưu tá đưa đến, ông đã phân vân định gửi trả vì sợ nhầm người. Nhưng với địa chỉ chính xác như vậy, hơn nữa trong khu tập thể nơi ông cư ngụ cũng không có ai tên như ngoài bì thư đề, nên ông đã mạnh dạn mở thư. Nôi dung bức thư như dưới đây:





( Cái này chữ nhỏ bà con ráng đọc... hay lắm!)

PhotobucketNội dung bức thư này có một số điểm nhầm lẫn nghiêm trọng:

1- Bức thư không gửi nhầm người, nhưng tên người nhận bị ghi sai, từ GS Nguyễn Huệ Chi trở thành Bà GS Nguyễn Thị Huệ

2- Thư kiến nghị ghi ngày 12/4/2009 chứ không phải ngày 21/04/2009

3- Đây là thư kiến nghị về vấn đề đại dự án Bauxite của 135 nhà trí thức và khoa học gửi đến Ông Chủ tịch Quốc hội chứ không phải đơn thư khiếu nại ai, và khiếu nại điều gì cả.

Nên nhớ rằng Văn phòng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất do dân bầu ra, đại diện cho dân, do dân và vì dân

( Theo website bauxite Việt nam)

Lời bàn của HG : Thật đúng như mao trạch đông đã phán:"Trí thức là cục phân". Tử tế thì tao còn cho liếm láp còn ti toe thì cút. Họ có coi các nhà trí thức ra cái đếch gì. Trả lời bằng một văn bản luộm thuộm từ trong ra ngoài, từ hình thức đến nội dung. Chữ nghĩa thì như của người mới xoá mù xong. Ôi! Cái văn hoá ứng xử của văn phòng quốc hội với trí thức, và cả với đại biểu quốc hội nữa. Giáo sư Nguyễn lân Dũng cũng ký tên trong bản kiến nghị này mà.

Sáng nay coi TV lại thấy cảnh ông phó thủ đọc báo cáo, các đại biểu ngồi chăm chú ...dò bài xem ổng đọc có đúng không. Dẹp mẹ nó cho rồi. Tốn tiền ba cái chuyện vớ vẩn. Để tiền đó mua một mớ khỉ cho nó làm trò cho nhân dân giải trí còn có ích hơn

Cập nhật :Quốc hội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không có Ủy ban nào tên là "Ủy ban Khoa học và Công nghệ môi trường" hay "Ủy ban Khoa học công nghệ môi trường" giống như chữ viết tay trong 2 ô trống ở trong thư trả lời. Không hiểu là trong 1 lá thư dài khoảng hơn 100 từ chút xíu, trong đó khoảng 20 từ viết tay mà đã sai như thế rồi. Chưa kể là viết tên Ủy ban không thống nhất. Hổng lẽ gửi tới 2 Ủy ban lận. 
Tên chính xác theo các phương tiện truyền thông chính thức là "Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường." 
Thiệt tui cũng hết lời bàn luôn. Lạy các ngài cả nón







Những câu nói phét kinh điển

Một ngày chúng ta nghe biết bao câu nói phét, riết rồi chúng trở thành một phần của cuộc sống, đến nỗi chúng ta không còn thấy ngượng khi nói chúng nữa. Platon gọi là " Sự thoái hoá của ngôn ngữ". Đôi khi nghĩ lại chợt giật mình: Trong những câu nói ta thường nghe hằng ngày, bao nhiêu câu là thật nhỉ?Photobucket


1. Internet: Chúng tôi hoàn toàn miễn phí
2. Viễn thông: Chúng tôi bị lỗ vốn
3. Cảnh sát: Chúng tôi vì nhân dân phục vụ
4. Công ty tham gia thị trường chứng khoán: Chúng tôi không làm giả các báo cáo
5. Sếp: Tôi không bao giờ quên những cống hiến của anh
6. Nhân viên: Mai tôi nghỉ việc, không làm nữa
7. Tài xế xe khách: Nhà xe xuất phát đúng giờ
8. Dân buôn: Bán lỗ vốn, đại hạ giá
9. Ngôi sao điện ảnh: Chúng tôi chỉ là bạn bè
10. Chính khách: Tôi không nhận một đồng nào
11. Con gái: Đây là lần đầu tiên của em
12. Con trai: Ngoan, không đau tí nào đâu!
Photobucket13.Nhà báo: Chúng tôi bảo vệ sự thật và lẽ phải
14.Đầu to: Chống tham nhũng đến cùng
15.Bác sỹ: Làm theo đạo đức nghề nghiệp
16.Cave: Nhà em nghèo, mẹ em bệnh nặng, bố em thất nghiệp. Hic
17. Nghị gật: Chúng tôi đại diện cho tiếng nói của người dân
18. Thiếu nhi: Đêm qua em mơ gặp bác hồ
19. Chồng : Anh chỉ yêu mình em thôi
20. Vợ: Em chỉ make-up chút xíu thôi, đừng nóng
21. Chàng: Anh yêu em bằng cả trái tim
22. Nàng: Anh là người tình tuyệt vời nhất
23. Bố: Hồi bằng tuổi con bố học rất giỏi, tháng nào cũng có phần thưởng
24. Mẹ: Giá mà con đoan trang được như mẹ ngày xưa
25. Đại biểu quốc hội: Chúng tôi luôn đề đạt những ý kiến của cử tri
26. Ngoại trưởng: Tình hữu nghị chúng ta luôn là mục tiêu của chúng tôi
27. Đoàn viên: Chúng tôi sẵn sàng có mặt bất cứ nơi nào tổ quốc cần

28. Đảng viên: Đảng là cuộc sống của tôi, mãi mãi theo Người

29. TBT: Không phải riêng tôi, mà mọi người Việt đều là con của bác

30. Ca sĩ: Tôi hát bằng những cảm xúc xuất phát từ trái tim mình, cát xê là chuyện nhỏ

31. Nhà thơ: Thơ đã cho tôi đôi cánh vượt lên những tầm cao

32. Cầu thủ: Chúng tôi đá vì màu cờ sắc áo

33. Cán bộ: Căn biệt thự này là nhờ nuôi cá mà có đấy

34. Bộ trưởng Công thương: Chúng tôi sẽ không tăng giá xăng

35. Blogger: Tôi chán blog rùi, nghỉ thui
36. Hoàng Guitar: Tôi vẫn còn ngây thơ lắm





Photobucket

Đay là một danh sách mở. Anh chị em nào có nghe những câu gì hay hơn xin đóng góp để lần xuất bản tới được hoàn chỉnh hơn

Công thức chọn bạn gái



Trong cuộc đời này cái gì cũng là tương đối, một giờ bên cạnh cô gái đẹp trôi qua nhanh như tên bay, nhưng năm phút bên cạnh Thị Nở lại kéo dài như một thiên niên kỷ. Chúng ta suốt đời luôn luôn phải so sánh, cân nhắc, quyết định, lựa chọn giải pháp tối ưu cho mình. Thế nhưng với việc chọn gái - một trong 3 việc quan trọng nhất của cuộc đời (tậu trâu, lấy vợ,làm nhà) - thì chúng ta lại không có một công thức, một phương pháp luận khoa học nào cả, mà toàn nhắm mắt dang chân để xem con tạo xoay vần đến đâu - thật là vô cùng bất hợp lý.

Mặc dù mới nhìn thấy rất rắc rối phức tạp, nhưng phân tích ra thì gái chỉ có 3 thuộc tính cơ bản là nhan sắc, học thức + tính cách và tài sản (thường là của hồi môn). 
Chúng ta sẽ cho điểm gái theo cả 3 thuộc tính này, tôi tạm cho mỗi thuộc tính 100 điểm. Tức là điểm cao nhất (lý tưởng) mà gái đạt được là khoảng 300 điểm - Chú ý là vẫn có thể hơn 300 điểm, nhưng như thế người ta gọi là lạc tới thế giới thần tiên rồi.

Về nhan sắc : theo đánh giá của xã hội bây giờ thì gái chuẩn ở VN là cao 1.65m, nặng 50kg. Về nước da thì theo tôi đen hay trắng không quan trọng lắm. Về gương mặt thì rất khó đánh giá, nhưng tạm chia thành 5 lọai: rất xấu, xấu, bình thường, xinh, rất xinh. Sẽ phân bố điểm nhan sắc của gái như sau:

Chiều cao: 20 điểm. (nếu cao 1.65m), mỗi cm thấp hơn bị trừ 2 điểm. Từ 1.65cm - 1.70cm thì mỗi cm cao hơn được cộng 2 điểm. Nhưng từ 1.70cm trở lên thì sẽ bị trừ 2 điểm cho mỗi cm dư ra. Với thực tế dân tộc Việt hiện nay có lẽ gái cao 1.80cm và gái cao 1.30cm nhìn đều kinh như nhau. Nên thang điểm thế này là khá hợp lý.

Cân nặng: 20 điểm (nếu nặng 50kg), mỗi kg thừa hoặc thiếu sẽ bị trừ 2 điểm.

Ba vòng: 20 điểm (nếu 3 vòng là 90cm, 60cm, 90cm), mỗi cm lệch ra khỏi 3 con số này sẽ bị trừ 0.5 điểm

Khuôn mặt: 20 điểm; rất xấu: 0 điểm, xấu: 5 điểm, bình thường: 10 điểm, xinh: 15 điểm, rất xinh: 20 điểm. Tất nhiên là đánh giá xinh xấu nó phụ thuộc vào thẩm mỹ mỗi người, nhưng chênh lệch cùng lắm 5 điểm là nhiều, chứ không thể có con nào xấu mà lại thành xinh được, vượt 2 cấp không phải là chuyện đơn giản.

Tuổi tác: 20 điểm Gái chuẩn thì khoảng 20 - 24 là vừa. Bé hơn thì non quá, mà già hơn thì cũng khó nhá. Ta lại cho gái 20 tuổi thì được 20 điểm, mỗi tuổi cao hơn hoặc thấp hơn sẽ bị trừ 2 điểm.

Về học thức và tính cách : Học thức cho 40 điểm, tính cách 40 điểm, trinh tiết cho 20 điểm. (Nói thế nào thì nói, còn vẫn hơn)

Học thức: 40 điểm. Gái không nên quá dốt, dốt chán lắm, mà cũng không nên quá giỏi, giỏi còn chán hơn là dốt. Về phần kiến thức ta lấy chuẩn là tốt nghiệp ÐH - cho 40 điểm.
Nếu tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc Master được 30 điểm, cấp 2 hoặc tiến sỹ: 20 điểm, cấp 1 hoặc trên tiến sỹ: 10 điểm. Giáo sư hoặc mù chữ: 0 điểm.

Tính cách: 40 điểm. Gái thì phải biết 10 việc cơ bản sau đây: 1. Nấu cơm, 2. Giặt quần áo, 3. Làm việc nhà, 4. Trang điểm nhà cửa, 5. Ăn nói nhỏ nhẹ, 6. Biết điều, 7. Nhường nhịn, 8. Lễ phép với bạn chồng, 9. Có hiếu với cha mẹ chồng, 10. Chung thủy. Nếu đủ các tiêu chuẩn này được 40 điểm. Thiếu điểm nào trong 10 điểm này sẽ bị trừ 4 điểm.

Trinh tiết: 20 điểm. Chưa xxx được 20 điểm, rồi thì thôi. Bỏ qua.

Về tài sản: Phần này không phải là không quan trọng. Gái có hồi môn 10 tỷ thì dù có là Thị Nở cũng có thể xem xét được. Ðề nghị cho 10 điểm với mỗi tỷ tài sản gái được hồi môn. Nhưng điểm maximum cũng chỉ là 100.

Lấy ví dụ: gái tên ABC có chiều cao 1.58cm, nặng 47kg, 3 vòng là 85cm, 62cm, 87cm, học xong Master, 26 tuổi, đã xxx, tính cách OK hết chỉ không biết nấu ăn, bố mẹ cho hồi môn 1 căn hộ trị giá 1 tỷ 2, thì sẽ có:

Ðiểm nhan sắc: 12 + 16 + 16 + 8 = 56 điểm
Ðiểm tính cách + học thức: 30 +36 = 66 điểm
Tài sản: 12 điểm
Tổng: 134 điểm.

Thấy chưa! Hết sức rõ ràng, minh bạch, không có gì phải lăn tăn cả. Nếu như bạn thấy sức mình chỉ lấy được vợ khoảng 135 điểm thì gái ABC là một lựa chọn tốt, mặc dù hơi "non cân" một chút, nhưng cũng được giá rồi. Còn nếu bạn nghĩ mình hoành tráng thế này gái phải trên 200 mới tậu, thì có thể đặt vấn đề thẳng với bạn gái của mình - hoặc là em về em xin bố mẹ thêm 6 tỷ 6 (66 điểm) nữa, hoặc là chúng ta sẽ làm bạn, có phải đỡ mất thời gian cả 2 bên hay không?

st



Vợ chồng Chí Phèo - Thị Nở








Vừa thấy Chí Phèo đi làm về, Thị Nở mừng rỡ bảo: “Anh Chí ơi, em có tin mừng đây: Em “muộn” một tháng rồi. Có lẽ chúng ta sắp có em bé! Nhưng anh đừng nói cho ai biết nhé, vì ta chưa chắc chắn mà!”.

Ngày hôm sau, người của công ty điện lực đến nhà vì gia đình muộn nộp tiền điện một tháng. Gặp Thị Nở, anh nhân viên nói:

- Bà có phải là bà Thị Nở không? Bà đã muộn một tháng rồi đấy!

- Làm sao mà anh biết được? -Thị Nở gào lên.

- Thưa bà, nó ở trong hồ sơ của chúng tôi mà! - Nhân viên điện đáp.

- Cái gì? - Thị Nở càng hoảng hốt - Trong hồ sơ của các anh?

- Tất nhiên!

Thôi để tôi về hỏi chồng tôi đã! -Thị Nở nói rồi sập cửa lại cầm bình rượu trên bàn ném xoảng xuống đất.

Tối hôm đó, Thị Nở hỏi Chí về chuyện nhân viên sở điện khiến sáng sớm hôm sau, Chí đã mắt nhắm mắt mở chạy thẳng đến sở điện:

- Có chuyện gì thế hả? Sao các anh lại dám lập hồ sơ là vợ tôi “muộn”một tháng? Có liên quan gì đến các anh hả?

- Xin anh bình tĩnh - anh nhân viên nói - Có gì nghiêm trọng đâu, anh chỉ cần trả tiền cho chúng tôi…

- Trả tiền cho các anh?- Chí Phèo nghĩ mình đang bị tống tiền - Nếu tôi không trả thì sao?

- Hmm… Nếu thế chúng tôi chẳng còn cách nào khác là cắt ngay…

- Hả? - Chí Phèo lại hiểu lầm liền ngắt lời, hét toáng lên - Thế lúc đấy thì vợ tôi làm thế nào?

- Tôi chẳng biết - Nhân viên sở điện lạnh lùng - Anh bảo cô ấy dùng tạm một cây nến vậy…

Nghe đến đó Chí liền lăn ra đất… ngất xỉu, mà chưa kịp vớ tấm mảnh chai mang theo để cạo lên mặt.

Chuyện tình chàng trinh nam







Chuyện tình chàng trinh nam
Đang ngồi buồn, nghe karaoke hàng xóm vọng sang tiếng một thằng cha nào đó đang gào : “Thuở ấy xa xưa có một nàng, một nàng trinh nữ…”. Bỗng nhớ lại một thời trinh trắng của mình. Đừng cười nha quí chị em. Chớ tưởng chỉ có mình chị em là độc quyền cái vụ trinh trắng này nhen. Trước khi hoen ố lấm láp thì tụi tui cũng trinh trắng chứ bộ. Vâng ! Bây giờ hồi tưởng lại hồi ấy tôi chợt thốt lên : “Sao mà trắng sáng thế!”. Cái thời mà chơi trò vợ chồng với đám con gái, trưa nào cũng nằm ôm nhau ngủ, mà mãi đến hàng nữa năm sau mới biết “đồ đạc” con vợ mình nó hổng giống như mình. Mà mãi đến khi khám phá ra được điều đó thì cũng chẳng hiểu nổi những cái món đó dùng để làm cái quỉ quái gì. Trong trắng đến tội nghiệp thế cơ đấy.
Đừng tưởng tôi hay ba hoa xích thố thế này thì chắc là miệng lưỡi tôi dẻo quẹo nhen. Lầm to đấy. Tôi bốc phét ở đây là vì trong đời thực tôi nhát khủng khiếp. Mãi đến từng này tuổi mà khi đối diện với một bóng hồng tim tôi vẫn cứ nhảy điệu Lambada, máu vẫn chạy rần rần, miệng vẫn cứ lắp bắp. Đời có nhiều cái mâu thuẫn thế đấy. Tôi có một thằng bạn, khi ngồi nhậu với bạn bè thì nó là thằng to họng nhất, vấn đề gì nó cũng tranh cãi, lý sự, vung tay múa chân ồn ào nhất. Có ai ngờ khi về đến nhà, thấy mặt hiền thê của nó là nó thành một con người khác hẳn: cúc cung tận tuỵ, gọi dạ bảo vâng, cấm có một ý kiến nhỏ. Đã thế vợ nó lại bị bệnh dị ứng với nứớc nữa. Vậy là những chuyện dính dáng tới nước như vo gạo, giặt đò, rửa chén…là thằng con ôm tất. Đúng là cái số trời đày.
Thế thì tôi nhát. Bố tôi thấy thế bèn cho tôi đi học võ. Rõ khổ. Khi chưa có võ thì chẳng dám đánh ai, tất nhiên rồi. Đến khi có chút võ công thì lại cũng thế, nỗi sợ bây giờ lại là sợ lỡ xuất thủ gây ra án mạng. Đường đến trường tôi phải đi ngang một ngôi trường nữ. Đã cẩn thận đi qua tận sát mép đường bên kia vậy mà đôi chân cứ ríu lại, chực vấp vào nhau. Cái thằng như thế thi còn mong gì mà yêu với đương nữa hả trời. Cũng giống như bác Xuân Diệu, do không làm ăn gì được nên bác ấy viết được những vần thơ về tình yêu tuyệt diệu. Trong thơ bác tha hồ cho mình ôm ấp, ve vuốt, yêu đương người yêu của mình tới nơi tới chốn, để bù lại thực tế phũ phàng là bác chỉ yêu bằng thơ. Tôi chỉ chê bác một điều là biết thế thì cứ ở vậy mà làm thơ đi, để trở thành thần tượng , thành mơ ước của bao nhiêu em gái, bày đặt lấy vợ chi để làm khổ một người con gái khác.

Nhát tán gái bằng mồm thì tôi tán gái bằng thơ. Những “nàng “ , những “em” trong thơ tôi dứt khoát là phải đẹp nhá. Đã mất công tưởng tượng ra một người yêu mà lại tưởng tượng ra một bà Thị Nở thì có mà điên. Vậy là những vần thơ ngốc nghếch ra đời. Bước chân dứt khoát phải là chân son nhé. Mắt phải mơ huyền nhé. Giọng phải như chim hót, đi như mây bay gió thổi, tính tình thì như Quan thế âm. Nói chung là cực kỳ. Thuý Kiều ,Thuý Vân hay Hằng Nga chả là cái đinh gì. Nghe thử nhé

Chân son em bước trên đường
Áo dài thả nhẹ, tà dương bàng hoàng
Em ngân tiếng hát Nghê thường
Trần gian chết lịm ngỡ ngàng hôn mê
Anh về nắn nót bài thơ
Mơ em một thoáng rồi ngơ ngẩn buồn
Hỡi người con gái tôi thương
Ước gì anh được chung đường với em

Làm xong chẳng có nàng nào để tặng tôi bèn đưa cho thằng bạn thân đọc để có kẻ thông cảm cho một mối tình si câm lặng thiêng liêng của tôi. Thằng khốn này bèn bảo tôi sửa lại câu cuối thành : “Ước gì anh được …chung giường với em”. Mẹ kiếp! Thế này thì báng bổ quá. Tôi rượt nó chạy lòng vòng sân trường tẩn nó một trận ra trò. Đừng có mà đùa giỡn với tình yêu của tao nhé. Tình yêu của tôi hồi đó chỉ đến thế thôi: Cùng nhau sánh bước trên đường, tay trong tay, nhìn nhau đắm đuối, và bốc lắm thì …hôn lên vầng trán tinh khôi của em thôi. Đẹp cực kỳ!. Thấy mấy ông nhỏ bây giờ yêu mà rợn cả người.

Lên đại học, tôi học đại học Đà lạt. Thằng nào học ở đây mà không sắm được một em là cái đồ … liệt dương. Mấy đàn anh bảo thế. Vậy là tôi cũng tích cực lao vào cái trò săn lùng người trong mộng. Chả biết em Pleiku má đỏ môi hồng ra sao chứ gái Đàlạt thì nhất định là má vô cùng đỏ và môi cực kỳ hồng. Săn lùng thế nào mà đến khi bạn bè đứa nào cũng có một em để hẹn hò vào những ngày chúa nhật thì tôi vẫn cứ còn lạng qua lạng lại trước cổng trường Bùi thị Xuân để tìm kiếm tình yêu của mình. Một hôm buồn buồn thả bộ trên Đồi Cù thì thấy một em gái trong chiếc áo dài nâu đang ngồi tựa gốc cây học bài. Nữ sinh Bồ đề đây. Sao lâu nay mình quên cái trường này nhỉ ? Lúc đó tôi mới chợt nhận ra màu nâu mới hạp với cảnh trời chiều Đà lạt. Màu xanh của đồng phục Bùi thị Xuân trông giống … công nhân bỏ xừ. Đảo đi đảo lại vài vòng tôi mới thu hết can đảm, vận mười thành công lực buông ra một câu hỏi vô duyên : “Học bài hả em?”. Chả học bài thì …đánh bài à. Hỏi thế cũng hỏi. Nhưng em gái cũng nhỏ nhẹ trả lời:’Dạ” , kèm theo một nụ cười mê hồn. Vạn sự khởi đầu nan mà. Nữa tiếng sau thì tôi và nàng đã tía lia đủ thứ chuyện trên đời. Thì ra tán gái cũng chẳng có gì ghê gớm lắm, chỉ tại lâu nay mình nhát không dám mở lời thôi.

Thế là bắt đầu một tình yêu. Tôi bắt đầu thường xuyên cúp cua, nếu giờ giảng trùng với giờ mà nàng tan học. Đồi Cù, Vallée d’amour, các thác Cam Ly Prenn, Datanla…tràn ngập những kỷ niệm của hai đứa. Chúng tôi tay trong tay, song ca bài Main dans la main : “Nous serons tout deux, comme des amoureux…”. Tôi làm thơ loạn cào cào, em cũng quen nghe thơ tôi, em bảo thơ tôi hay hơn thơ ..Nguyên sa. Trời đất! Khi yêu người ta mù quáng đến thế sao. Mà cả tôi cũng mù quáng, tin rằng thơ mình hay hơn thơ Nguyên Sa thật. Mà cũng cáu cái ông Nguyên Sa này lắm cơ. Em hỏi tôi Nguyên Sa viết “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường..” , thế áo màu như áo em thì anh yêu cái gì, Bố khỉ! Sao em mặc cái màu không đụng hàng thế, kiếm cái cùng màu để yêu quả là vất vả. Chẳng lẽ bảo “ Áo nàng nâu anh bỗng …muốn đi chùa”. Chán thế. Có thế mà em lẫy, bảo “Anh chả yêu em gì hết”. Tôi đành phải khất, viện cớ là tình yêu của anh với em nó chôn sâu tận đáy lòng nên để tối anh xới lên xem thử anh yêu cái gì. Quả là một đêm không ngủ. Thế nhưng vẫn chả nghĩ ra cái món gì màu nâu có thể đem lòng yêu được
Hôm sau bí quá đành phải giở trò nguỵ biện. Thế là thơ Nguyên sa bỗng trở thành: “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc . Áo nàng nâu ôi chói mắt anh rồi. Mối tình em rực rỡ quá em ơi. Anh chẳng thấy gì ngoài Kim Khánh”. Nàng cười ha hả, tặng tôi một cái hôn lên má, bảo tôi láu cá. Thế tốt rồi, không bỏ công tư duy suốt một đêm. Nàng tên Khánh thôi, Kim Khánh là tôi đặt đấy. Nàng thì đặt tên tôi là …Hoàng Hôn. Đúng là ép nhau quá đáng, tên nàng thì sáng rực, còn tên tôi thì tối sầm. Nhưng thôi. Người yêu đặt đâu ta ngồi đấy cho chắc, ý kiến ý cò chỉ tổ làm nàng dỗi là hỏng bét. Nàng còn vẽ ra một đám cưới mà hai chữ K và hai chữ H lồng vào nhau. Bốn chữ mà lồng vào như thế ai đọc được đúng là tài. Nhưng giờ nhớ lại những ngày ấy tôi bỗng mỉm cười. Nó thơ mộng quá, nó dễ thương quá.
Những gì đẹp quá thường không bền. Tôi về Nha trang nghỉ hè , khi lên thì Khánh đã mất, một cơn bệnh vớ vẩn đã cướp đi ánh sáng của đời tôi. Nàng ở nhờ nhà chùa nên được an táng trong khuôn viên chùa. Thế là chiều chiều sau giờ học, ngắt vài bông hoa, thứ đó thì Đà lạt đầy, cầm theo bó nhang, tôi lại ngược dốc Đa thiện đến ngồi bên mộ nàng. Những giòng thơ buồn vì tình cũng bắt đầu từ đó

Ai tả dùm tôi nỗi đớn đau
Của một chiều thu xám thuở nào
Một chiều thu ấy trên đồi vắng
Khói hương vờn mà ngỡ tóc em bay
…………………………..

Bài thơ dài lắm, nhưng nó buồn , không hạp với cái không khí của cái bài này, nên thôi.

Đấy! Chuyện tình chàng trinh nam đấy: Ngắn ngủi, lãng mạn, nhưng buồn.

Thư ngỏ số 3 Gửi các đại biểu Quốc Hội khóa 12






Việt Nam ngày 17 tháng 05 năm 2009

Vì tính cấp bách của vấn đề mà tiếp theo Thư Ngỏ số 2, thư ngỏ này lại được gửi tới quý vị ngay trước kỳ họp ngày 20 tháng 5 năm 2009 này.

Cùng với bản Kiến nghị mang hơn một nghìn tám trăm chữ ký và những lá thư ngỏ trước, Thư ngỏ này chỉ mong thêm một lần gợi ý với quý vị: sẽ đến họp không chỉ với một tinh thần quán triệt nhiệm vụ xây dựng một Nhà nước Pháp quyền, mà còn có trong tay những bằng chứng cụ thể về nguyện vọng và ý chí của đông đảo người dân Việt trước vấn đề nóng bỏng của đất nước, giúp quý vị thực thi quyền hạn của mình trong khung khổ pháp luật Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Kính thưa quý vị,

Hẳn quý vị đều biết chủ đề của thư ngỏ này vẫn là câu chuyện bauxite ở Tây Nguyên.

Xin tóm lược tình hình thành mấy điều để quý vị dễ theo dõi.

1) Từ cuối năm 2008, dự án khai thác bauxite được công khai hóa với tin tức Dự án Tân Rai chính thức làm lễ khởi công tổ hợp nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18/11/2008 và sau đó là sự xuất hiện loạt bài phản biện của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn. Cho tới thời điểm đó, đại đa số nhân dân mới biết là trên đất nước ta có cái dự án bauxite đồ sộ này. Nhưng trên thực tế, dự án này đã được ký tắt với Trung Quốc từ khá lâu trước đó, cụ thể là từ năm 2001 với bản Tuyên bố chung do ông Nông Đức Mạnh ký với ông Hồ Cẩm Đào. Sự việc này có nghĩa là suốt hai khóa Quốc Hội XI và XII những người đại biểu chính thức của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước chưa hề được báo cáo để phê chuẩn và nếu cần thì luật hóa. Ông Nông Đức Mạnh từng là Chủ tịch Quốc Hội liền hai khóa, người thường xuyên nói tới khẩu hiệu dân biết dân bàn dân làm dân kiểm tra thực sự đã hoàn toàn làm ngơ, vô hiệu hóa khẩu hiệu đó.

2) Nhưng dẫu sao sự công khai chủ trương khai thác bauxite cũng có mặt có lợi. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi hai lần thư tới những người có chức trách cao nhất, phân tích mối nguy hại của chủ trương đó. Đặc biệt qua hai lá thư của Đại tướng, nhân dân được biết là ngay từ thời khối SEV (hoặc còn gọi là COMECON) cũng đã dự định khai thác bauxite ở Tây Nguyên Việt Nam, mà chỉ vì những nguy hiểm về kỹ thuật và an toàn môi trường mà khối SEV chân thành khuyên Việt Nam không thực hiện chủ trương đó. Lá thư của Đại tướng cũng nhắc đến vị trí chiến lược của Tây Nguyên, là điều sau đó còn được Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên nhắc lại và được đề cập rất rành mạch trong thư của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh: “[…] nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Cao nguyên Trung phần thì sẽ có năm, bảy ngàn hoặc hơn một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển Trung Quốc có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta Trung Quốc có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!”

3) Những thư của các tướng lĩnh nói trên rất quan trọng, nhưng còn trên dạng chiến lược, và phải đợi những lá thư và bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn, người có vị trí không thấp trong Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) thì dư luận mới thấy rõ toàn diện các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật văn hóa, xã hội và an ninh của vấn đề. Loạt bài của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn đã làm dấy lên cuộc thảo luận chưa từng có trên các phương tiện truyền thông, kể cả các phương tiện "chính thống" nhất. Và tập đoàn TKV đành phải tổ chức một cuộc gọi là "hội thảo khoa học" tại khách sạn Melia. Nhân dân ta thừa biết giá trị của những hội thảo theo lối "đánh bóng mạ kền" như thế, nên hoàn toàn không bị bất ngờ khi thấy ngay trong Hội thảo có cả đại diện Công ty Trung Quốc Chalco, có những "kết luận" mơ hồ quanh co kiểu "không làm bauxite bằng mọi giá" (Hoàng Trung Hải), và nhất là cuộc phản công sau Hội thảo của Đoàn Văn Kiển chủ tịch TKV với lời lẽ mang rặt đầu óc cờ bạc "đặt 50/50" vào canh bạc bauxite Tây Nguyên!

4) Để chứng tỏ đó không phải là một nguy cơ nằm trong hoang tưởng của nhiều người mà là nguy cơ có thực, đã có nhiều nhà báo tìm đến tận nơi để viết tường trình. Vietnamnet ngày 14-4-2009 nói tới 20 dãy nhà tập thể dành cho công nhân Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai và quang cảnh hoạt động nhộn nhịp mua bán của đám công nhân nói tiếng Hoa đang sinh sống ở đây. Trang mạng Sài Gòn tiếp thị ngày 15-4-2009 nói những đợt công nhân Trung Quốc đầu tiên đổ bộ vào Tân Rai từ tháng Mười một năm 2008, mới đầu khoảng 700 người, nhưng vào những thời điểm làm nước rút, số lượng có thể lên đến 2.000 người. Cũng theo các báo trên, công nhân người Việt ở đây rất ít. Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV News) cho biết riêng ở Đắc Nông, ở nơi đang xây dựng nhà máy luyện alumin Nhân Cơ do Tập đoàn Chalco Trung Quốc trúng thầu chính, vào thời gian cao điểm có thể có 2.000 người Trung Quốc làm việc tại đây, điều sau đó được lãnh đạo Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ cải chính trên Vietnamnet ngày 26-4-2009 rằng con số nêu chưa chính xác, bởi vào thời gian cao điểm, trên công trường xây dựng nhà máy chỉ có gần 3.000 lao động làm việc mà thôi (!!!). (!!!). Gần đây nhất, báo chí đưa tin: các công ty của Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên bị phạt vì không thực hiện đúng quy định đưa lao động của mình vào làm việc (Báo Sài Gòn tiếp thị ngày 12-05-2009), có nghĩa là chúng ta đã không quản lý được nhân thân những người lao động gốc Trung Quốc, hay nói trắng ra là lao động chui. Nếu không gọi đấy là nguy cơ tiềm ẩn thì phải gọi là gì?

5) Bổ sung vào nguy cơ vừa nói ở trước là một thực trạng khiến công nhân người Hoa sẽ có điều kiện để cư trú vô thời hạn:“Dự án Tân Rai chính thức làm lễ khởi công tổ hợp nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18/11/2008. Thời gian khai thác của dự án này dự tính kéo dài trong 98 năm, trữ lượng bauxite ở Tân Rai có thể trên 700 triệu tấn. Nếu khai thác 600.000 tấn/năm thì thời gian khai thác của riêng vùng Tân Rai sẽ kéo dài 45 năm, và nếu mở rộng vùng mỏ bauxite ra Bảo Lộc, lên Di Linh thì thời hạn khai thác có thể lên tới 150 năm”.

6) Chưa hết! Mới vừa cách nay chưa đến một tuần, cộng đồng dân mạng Internet còn phát hiện một vụ việc kinh thiên động địa: Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương, đã ký kết xây dựng một trang mạng chung với truyền thông Trung Quốc có cả phần tiếng Việt và tiếng Hoa với danh nghĩa là để đưa tin về việc hợp tác kinh tế Việt-Trung. Đứng ra khai trương trang mạng này có cả ba vị đứng đầu Đảng và Nhà nước hai nước, Hồ Cẩm Đào, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết. Chỉ sau ít lâu thì nhiều bài được phát trên trang tiếng Việt mang tên miền Việt Nam lại đưa những tin xuyên tạc rất thậm tệ đối với Việt Nam mà không có cách gì xóa nổi, giản đơn là vì máy chủ do phía Trung Quốc nắm giữ. Điều đó lý giải sự xấc xược của viên Thứ trưởng Bộ Công thương Lê Dương Quang lên diễn đàn xỉ vả giới trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước, những người đã ký tên vào bản Kiến nghị yêu cầu dừng chủ trương bauxite, là “kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, […] thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng”.

7) Cũng gây bất bình không kém là thái độ của hai đại biểu Quốc Hội Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng Chính phủ) và Nguyễn Phú Trọng (Chủ tịch Quốc hội). Rất gần đây, ông Nguyễn Tấn Dũng tới thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sau khi nghe Đại tướng nhắc lại yêu cầu trong thư về chủ trương làm bauxite ở Tây Nguyên, đã long trọng hứa “Chính phủ xin tiếp thu và nghiên cứu ý kiến của Đại tướng”. Vậy nhưng ngày hôm sau, khi tiếp xúc với cử tri Hải Phòng, ông đã quên ngay lời hứa với Đại tướng hôm trước và dõng dạc tuyên bố: “Nhà nước sẽ đưa việc khai thác bauxite thành một ngành công nghiệp lớn”. Còn ông Nguyễn Phú Trọng thì đã làm cho cử tri theo dõi tình hình đất nước trên mạng hết sức bất mãn và phiền lòng vì những lời lẽ khó hiểu và không hợp với cương vị của mình: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”, “[...] Dự án chỉ mới đang thí điểm, chưa đâu vào đâu …” (!?)

Thưa quý vị đại biểu Quốc hội,

Chúng tôi thành thực xin lỗi quý vị vì đã tóm tắt không thật ngắn gọn một tình hình quá dài, sự nguy cấp có thể dẫn dân tộc ta tới một cuộc đời nô lệ trong chế độ thuộc địa kiểu nửa cũ nửa mới dưới ách của những người "đồng chí" không trung thực, làm rùng mình bất kỳ ai đang theo dõi cái "lưỡi bò" liếm sạch vùng biển Đông cho tới sát Indonesia, đang theo dõi những cuộc khiêu khích phiêu lưu trên biển Đông kích thích chính quyền Hoa Kỳ phải điều động hai phi đội máy bay tiêm kích tàng hình tới vùng này…

Chúng tôi kêu gọi quý vị đại biểu tại kỳ họp này hãy đưa vấn đề bauxite Tây Nguyên đặt lên bàn nghị sự và đi tới một nghị quyết có tính toán toàn diện đến việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên; cụ thể là:

a) Yêu cầu Chính phủ cho ngưng toàn bộ dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin hiện đang có với mọi đối tác: Australia, Nga, Trung Quốc, v.v. tại đây cũng như mọi nơi khác trên lãnh thổ chúng ta. Hãy để cho thế hệ sau, 25 - 30 năm nữa, với trình độ kỹ thuật cao hơn, trở lại xem xét khả năng khai thác bauxite, sản xuất alumin;

b) Thành lập một Ủy ban nghiên cứu đường hướng phát triển kinh tế cho Tây Nguyên với sự hợp tác của nhiều lãnh vực chuyên môn và giữa các nhà trí thức trong và ngoài nước.

Chúng tôi kêu gọi quý vị yêu cầu Bộ trưởng Bộ Công thương phải ra điều trần, đồng thời ra một nghị quyết cách chức vị Bộ trưởng không xứng đáng của Bộ này. Đó là phép nước và cũng là để thực hiện đúng luật truyền thông của Việt Nam.

Quý vị là đại biểu Quốc Hội, tức là thành viên của một tổ chức quốc gia tiên tiến – một hình thức tổ chức đã được thử thách trong nhiều thế kỷ qua và đã từng giúp cho nước Anh, nước Pháp và Hoa Kỳ cùng biết bao quốc gia dân chủ khác thành những địa chỉ dân tộc hùng mạnh, con người hạnh phúc, cuộc sống mỗi ngày một thêm bình yên đáng sống trong nguyên lý đồng thuận. Phần lớn quý vị cũng lại là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, xin quý vị hãy giữ thanh danh và thể diện cho chính đảng đó để hành động có ích nhất cho dân tộc Việt Nam đã đau khổ quá lâu!

Xin chúc quý vị an khang và thành đạt cùng với dân tộc!

GS Nguyễn Huệ Chi, Nhà văn Phạm Toàn, GSTS Nguyễn Thế Hùng

Chợt ngộ

Dạo này làm thơ dễ quá, tỉnh quá, mộc mạc quá. Hôm nay cuối tuần, sau một party tối tăm mặt mũi, phóng ... phím viết một bài. Làm xong đọc lại ... hiểu chết liền. Bèn không ký tên mình nữa. Xin nhận bác Sáu Bùi làm sư phụ. Bút danh sẽ là Bùi Thăng


Hỏi quê rằng biển xanh dâu

Hỏi tên rằng mộng ban đầu đã qua
Bùi Giáng

Quê ư? Tám hướng mười phương
Tên ư ? Trót tặng người thương mất rồi
Xác thân dạo bước trên đồi
Hồn nơi địa phủ luân hồi sắp qua
Vô ngôn địa ngục bước ra
Hồi đầu thị ngạn là ta thấy mình
Kể từ hốt ngộ hồi sinh
Âm thầm diện bích u minh sáng loà
Là ta, mà chẳng là ta
Sắc không chỉ một sác na bay vèo
Gát chuông, vứt mõ đi theo
A di đà Phật, cõi phiêu bồng nào
Bên tai thoảng tiếng mưa rào
Giật mình lạc giọng kêu gào hoang sơ
Là mơ, mà chẳng là mơ
Là thơ là nhạc đợi chờ thiên thu
Thiên thu cứ tưởng xa mù
Bản lai diện mục lu bù chứa chan
Rằng : Từ lạc bước hồng trần
Xác thân như đã mộ phần ngủ yên
Hồn theo cơn gió ưu phiền
Hát bài Tống biệt nghe miên man sầu
Thiên thai nẽo ấy còn đâu

Bóng trăng trôi mãi, biển dâu một đời


Bùi Thăng

Về thôi






Mỗi bài thơ có số phận riêng của nó. Có lúc nó được đón nhận, có lúc nó bị thờ ơ. Người làm thơ chỉ biết quăng nó ra giữa cuộc đời, để mặc cho nhân gian xử nó. Bài này đã post một lần nhưng chả ai thèm xử. Ấy là nói bên Mul. này nè. Bên 360 thì nó bị xử đẹp rồi. Thế nên hôm nay quăng nó ra lần nữa cho anh chị em xử nó. Xử đẹp vào nhé. Mấy bài thơ dài dằng dặc tôi vừa làm vừa cười, làm xong cười cú chót rồi post. Riêng cái "thằng" này ngắn ngủi, bé tí thế mà nó làm tôi khóc đấy. Láo thế chứ.

Tôi đứng bên đời tôi
Nhìn tôi vất vả
Buồn!

Tôi đứng bên đời em
Nhìn em lận đận
Thương!

Ta đứng bên đời nhau
Nhìn nhau ân hận
Thôi!

Về thôi em
Chiều tà
Nắng đã nhạt
Đêm về


Về đi em

Tóc bạc
Mùa sắp tắt
Xuân qua


Về… về thôi…
June 2012
M T W T F S S
May 2012July 2012
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30