Skip navigation.

Hãy cùng chia sẻ với Ixij

Đủ Thứ trộn lẫn : công việc, tình cảm, thư giãn

Posts tagged with "Linux"

Nói chuyện bảo mật với Mark Cox của Red Hat

,

(Quantrimang) - 13/5/2007 12h:50

Các chuyên gia IT thường mất rất nhiều thời gian để suy nghĩ về bảo mật. Họ cố gắng tìm ra những cách nhanh nhất có thể để đảm bảo cho hệ thống của mình được vá và update kịp thời nhất. Tuy nhiên những gì diễn ra trước khi các quản trị viên này nghe nói đến lỗ hổng hầu như vẫn là bức màn bí ẩn. Để có được bức tranh rõ ràng hơn, chúng ta hãy lắng nghe ý kiến của Mark Cox, đội trưởng đội phản ứng bảo mật của Red Hat về xu hướng trong bảo mật Linux, những ai thường khám phá ra các lỗ hổng bảo mật, tốc độ phát triển của chúng và những biện pháp tối thiểu vấn đề gặp phải có thể thực hiện.

Trước tiên là đôi chút về Mark Cox, chuyên gia bảo mật hàng đầu của Red Hat. Thú vui bảo mật bắt đầu làm Cox hứng thú từ 12 năm trước đây, khi anh phát hiện ra một số vấn đề bảo mật ở Web Server HTTPd của National Center for Supercomputing Aplications (NCSA) - Trung tâm quốc gia về các ứng dụng siêu máy tính. “Nhanh chóng sau đó tôi thấy rằng tổ chức hoạt động C2Net châu Âu, nơi tôi phát triển sever Web Stronghold đặc biệt nằm bên ngoài nước Mỹ. Bởi vậy chúng tôi có thể phân phối cơ chế mã hoá SSL mạnh nhất ra toàn thế giới. Red Hat mua lại C2Net và giờ thì tôi ở đây”, Mark Cox tâm sự. Ngoài thời gian chính làm việc cho Red Hat, Cox còn tham gia đội bảo mật của Apache Software Foundation và nhóm OpenSSL những lúc rảnh rỗi.

Vậy, công việc của một thành viên đội phản ứng bảo mật là gì? Theo Cox, đội của anh chịu trách nhiệm đảm bảo cho các lỗ hổng bảo mật phải được xử lý. “Đó là quá trình bao gồm rất nhiều công đoạn, từ làm việc với các nhà nghiên cứu đến giám sát để tìm ra vấn đề tác động, thông qua chọn lựa xử lý và thanh tra để giám sát quá trình phát hành”.

Ngoài ra, mỗi thành viên của đội còn phải tư vấn, trả lời câu hỏi của khách hàng về lỗ hổng. “Trong năm ngoái, chúng tôi đã đáp ứng được 98% nhu cầu hỏi đáp mỗi ngày của khách hàng”, theo Mark.

Một thắc mắc thường đến với những người quan tâm là có bao nhiêu người làm việc trong lĩnh vực bảo mật ở các hãng lớn như Red Hat? Con số chính xác không được tiết lộ nhưng vị đội trưởng này bật mí là số lượng kỹ sư được phân bổ tuỳ thuộc vào từng lỗ hổng.

“Số lượng kỹ sư hoạt động full-time phân bổ trên khắp thế giới cho phép chúng tôi kiểm soát tốt dịch vụ bao quát trên khắp các vùng, bất chấp sự sai khác về múi giờ, và chúng tôi luôn không ngừng tìm kiếm thêm các kỹ sư tài năng. Khi gặp sự cố, chuyên viên ở mỗi vùng sẽ nhanh chóng được cử đến để xử lý giải quyết vấn đề. Vì thế, số lượng nhân viên Red Hat làm việc trong lĩnh vực bảo mật thay đổi theo mỗi tuần”.

Thành viên của đội bảo mật thường truy cập và biết về thông tin lỗ hổng trước khi chúng được công bố ra ngoài. Nhưng đó mới chỉ là “một nửa”, tức là Red Hat có thời gian xử lý vấn đề nếu một lỗ hổng phát sinh trước khi nó trở thành kiến thức chung cho mọi người. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng đúng. “Phát hiện được vấn đề nhanh chóng giúp chúng tôi có khả năng làm việc với đối tác để cung cấp bản vá kịp thời, tìm kiếm các vấn đề tương tự ở những vùng mã tương tự, thực hiện thêm các kiểm tra và phối hợp với các phân phối bị tác động khác”.

Ngay từ khi lỗ hổng chưa được công bố, đội bảo mật đã phải luôn tìm cách xử lý càng nhanh càng tốt. Hai năm trở lại đây, thời gian từ lúc bắt đầu phát hiện lỗ hổng đến khi đưa ra biện pháp xử lý ở Red Hat được quy định trong vòng 7 ngày. Đối với những vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, thành viên của đội bảo mật phải làm việc liên tục để tìm ra giải pháp trong vòng 2 ngày.

“Cha ơi, lỗ hổng đến từ đâu?”

Đứa bé ngây thơ hỏi cha mình, một chuyên gia bảo mật. Và chúng ta cũng vậy, những người dùng nghiệp dư, chỉ như một đứa trẻ bi bô trước thế giới bảo mật bí hiểm. Chính xác, lỗ hổng bảo mật được khám phá như thế nào? Trên website của mình, Mark Cox phân tích nguồn thông tin bảo mật của Red Hat từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 3 năm 2007. Điểm anh đặc biệt nhấn mạnh là liệu Red Hat có nhận được thông tin trước khi lỗ hổng trở nên phổ biến hay không.

Nguồn thông tin hàng đầu lại đến từ các hãng FLOSS khác, như nhiều báo cáo của hãng đối thủ FireFox. Trong nhiều trường hợp, Red Hat biết đến vấn đề từ phía các hãng FLOSS khác, hay từ những dự án phân tích ngược trước khi chúng trở nên phổ biến.

Nhưng ai là những người thường tìm ra lỗ hổng khi chúng bắt đầu xuất hiện và tìm ra như thế nào? Với Red Hat thì có một số cách, có thể là kiểm tra ngay khi mới phát hành sản phẩm và đôi khi lại là tìm ra từ kết quả của các bản báo cáo lỗi về vấn đề khác. “Các dự án phân tích ngược và các phân phối đôi khi thực hiện kiểm định hoặc chạy công cụ phân tích mã. Một số vấn đề bảo mật được phát hiện từ đó, và nhiều khi chính khách hàng là người ghi nhận và thông báo cho chúng tôi các lỗi bất cập để cuối cùng chúng tôi có kết quả bảo mật hoàn chỉnh”.

Hãy ngăn chặn vấn đề trước khi để nó xảy ra

Sửa chữa các vấn đề bảo mật sau khi đã diễn ra được ví như việc dập tắt ngọn lửa sau khi nó đã thiêu rụi căn nhà, chỉ là sự xác nhận tổn thất chứ không phải cách giải quyết vấn đề hiệu quả. Đó là lý do vì sao Red Hat và các hãng Linux khác sử dụng nhiều công nghệ “phòng hơn chống” nhằm giảm thiểu các vấn đề bảo mật. Ví dụ như SELinux và Exec-Shield, có thể bảo vệ hệ thống bằng cách ngăn chặn một số kiểu cụ thể.

Trong bài viết đưa lên hồi tháng 4, Cox mô tả một số thành phần bảo mật khác nhau trong phiên bản Red Hat Enterprise Linux (RHEL) 3 và 4 và các kiểu lỗ hổng chúng có thể xử lý.

Ví dụ như về “double-free”, là lỗ hổng trong đó hàm free() được gọi tới hai lần cho cùng một địa chỉ bộ nhớ, có thể dẫn đến lỗi tràn bộ đệm. Theo bài báo, lỗi này là nguyên nhân dẫn đến “những lỗ hổng cao hơn của các dịch vụ như wu-ftpd và CVS pserver” trong năm 2003, trước khi các đội bảo mật có thể xử lý được vấn đề.

Năm 2004, một lỗi double-free đã được tìm thấy và công bố ở Trung tâm Phân phối MIT Kerberos 5 Key Distribution Center. Tuy nhiên, RHEL 4 đã tích hợp được khả năng chống lại lỗ hổng nên “chúng tôi giảm được đáng kể tính nguy hiểm của vấn đề vì kỹ thuật glibc hardening đã hoàn toàn ngăn chặn được các hoạt động khai thác lỗ hổng double-free”.

Không phải tất cả các lỗ hổng đều giống nhau

Khi Red Hat thông báo về một lỗ hổng, bao giờ hãng cũng đính kèm mức độ nguy hiểm mà nó có thể gây ra. Chúng được đánh giá dựa trên nguyên tắc bốn điểm, từ những lỗ hổng nghiêm trọng cho phép một kẻ tấn công từ xa xâm nhập hệ thống mà không cần bất kỳ tương tác người dùng nào (mức nghiêm trọng) cho đến một số kiểu tác động bảo mật nguy hiểm nhưng rất khó thực thi hoạt động khai thác trên một hệ thống hay những lỗ hổng không để lại hậu quả nguy hiểm gì (mức thấp).

Red Hat không thay đổi kiểu phân loại bảo mật dựa trên khả năng kiểm soát nó. Mà thay vào đó: “Chúng tôi định nghĩa mức độ nguy hiểm đối với người dùng dựa trên khả năng của cả lỗ hổng và mức độ đe doạ. Tỷ lệ chúng tôi cung cấp cho các tư vấn viên chỉ hoàn toàn dựa trên lỗ hổng và được điều chỉnh để khớp với các hãng khác như Microsoft và Apache. Do mức độ đe doạ thay đổi theo thời gian và dựa chủ yếu trên cấu hình, sự sử dụng của người dùng cuối, chúng tôi không thông báo về nó nữa”.

Linux đang ngày càng có nhiều lỗ hổng hơn?

Vài năm trở lại đây, Linux ngày càng trở nên phổ biến. Và danh sách những lỗ hổng đặc biệt chỉ có ở Linux cũng dài thêm. Đội trưởng Mark cho hay Red Hat vừa mới ngừng quá trình tìm kiếm lỗi có thể khai thác ở RHEL 4 trong hai năm đầu phát hành nhưng mọi sự dường như không chỉ có vậy. “Có nhiều cách khai thác phổ biến cho 37 lỗ hổng được phát hiện. Nhiều trong số chúng được tìm thấy theo những sáng kiến bảo mật khác nhau, nhưng một số là do cấu hình không phù hợp và số khác thì hoạt động không như mong đợi. Với một lỗ hổng ở nhân kernel, người dùng cục bộ có thể giành được đặc quyền root trên một máy chưa được update bản vá kịp thời. Và một số lỗ hổng còn hoạt động chống lại các trình duyệt Web không được vá lỗi”.

“Ngoài các lỗi trình duyệt Web, thực ra ngày nay không có nhiều lỗ hổng từ xa cho kẻ tấn công có thể khai thác. Ví dụ như trường hợp cài đặt mặc định Enterprise Linux 4 AS chỉ gây ra ba vấn đề bảo mật nghiêm trọng trong hai năm đầu tiên phát hành”.

T.Thu (Theo Linux)

Sử dụng ổ cứng ngoài USB cho sao lưu dự phòng trong Linux

(Quantrimang) - 4/5/2007 16h:27

Trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách thiết lập một ổ đĩa cứng USB ngoài thành một ổ backup cho máy tính Linux, xóa partition mặc định FAT32 và tạo partition mới, tạo các file hệ thống và giới thiệu cách sử dụng rsync để backup dữ liệu quan trọng.

Tại sao phải backup trong Linux?

Sẽ có một câu hỏi là “Tại sao lại là với Linux chứ không phải là Windows, nếu bạn có một dual boot PC?” Cá nhân mà nói tôi không có máy tính như vậy, do đó câu hỏi đó với tôi chưa từng được đưa ra. Mặc dù vậy, tôi có thể đưa ra một số các lý do rằng tại sao tôi sử dụng Linux như là hệ điều hành cho việc chạy backup.
Windows không thể đọc các partition Linux của bạn mà không có các add-on của nhóm thứ ba.
Ngược lại, Linux có thể (vốn có) đọc các partition FAT 32 và NTFS.
Nó hoàn toàn không phức tạp để tạo một kịch bản backup đi kèm với các partition, back up chúng, sau đó gỡ bỏ chúng.
Việc backup với Linux có thể lấy lại được bất kỳ một file bị nhiễm virus nào đã chậm chạp.
Bạn đã từng bỏ mặc máy tính Windows chạy qua đêm không được giám sát?

Những xem xét

Backup là gì?

Quan điểm cũ cho rằng backup là sao chép dự phòng mọi thứ, toàn bộ hệ thống. Không thực sự liên quan đến vấn đề không gian để chạy bakup hệ thống đầy đủ bởi vì một hệ thống đã cài đặt đầy đủ có thể mất vài GB, có lẽ từ 3-10GB gồm các bản ghi hệ thống và các thành phần khác.

Trên một hệ thống máy trạm tôi không tin chắc điều này là cần thiết. Phân loại lựa chọn của tôi (Arch Linux) và nhiều phân loại phổ biến khác ngày nay như phân loại dựa trên Debian, cùng với các phân loại khác được phát hành rầm rộ. Việc cài đặt và nâng cấp các hệ thống như vậy khá dễ dàng (cũng như việc tồn tại một kinh nghiệm hữu dụng). Tôi không dám chắc bạn sẽ tiết kiệm được khoảng thời gian là bao nhiêu bằng việc chạy một backup hệ thống đầy đủ.

Bạn có thể muốn backup một số các thư mục chủ yếu như /etc và các phần của /var. /root, nó phụ thuộc vào cách bạn chạy hệ thống.

Nếu có một danh sách tất cả các gói đã được cài đặt trên hệ thống của bạn thì đó là một điều hữu dụng. pacman –Qi sẽ cung cấp vấn đề này cho Arch, dpkg – danh sách sẽ cung cấp tương tự cho Debian & Co. Redirect đầu ra đến một file trong thư mục chủ của bạn. Nếu thực hiện điều này hãy lập thời gian biểu để chạy nó hàng ngày.

Những thành phần quan trọng đối với hầu hết các hệ thống máy trạm sẽ ở bên trong thư mục chủ; các tài liệu, email, file nhạc mp3, phim, ảnh,… vì vậy sao chép dự phòng vào thư mục chủ là những gì tôi sẽ tập trung giới thiệu trong bài viết này.

Backup nguyên bản hay như người dùng bình thường?

Một nguyên tắc có thể nhận ra là thử và chạy nhiều lần không cần sử dụng tài khoản gốc. Backup các file hệ thống như root và backup thư mục chủ tách biệt bằng việc sử dụng tài khoản người dùng thông thường. Điều này làm cho nó trở nên dễ dàng hơn để khôi phục dữ liệu người dùng thông thường, dễ dàng truy cập hơn root.

Cho phép backup partition đã cài đặt hay gỡ bỏ chúng sau mỗi backup?

Bạn nên cố gắng bảo đảm rằng backup partition được gỡ bỏ sau mỗi backup. Điều này sẽ giúp ngăn chặn việc sửa đổi dữ liệu trong những tình huống mất điện đột ngột.

Chỉ sử dụng đĩa backup cho việc backup. Không nên lưu trữ dữ liệu thực trên nó. Nếu đĩa backup bị hỏng thì bạn sẽ mất mọi thứ. Nếu nó chỉ lưu các backup thì bạn có thể thực hiện thay thế và đưa nó vào dịch vụ một cách nhanh chóng. Nếu nó cũng có dữ liệu thực trên đó thì dữ liệu đó sẽ bị mất hết.

Sử dụng phần mềm backup nào?

Bài viết này tập trung vào rsync. Với một số tính năng rất thông minh, những tính năng đó gồm:
Việc truyền bên trong giảm góc trễ cho nhiều file.
Nếu một file được thay đổi, nó chỉ gửi những khác biệt trong file đến vị trí mới.
Nó có thể được sử dụng trên một mạng; tôi đã sử dụng rsync với SSH để backup cho một máy tính kiểm tra của tôi tại nhà. Máy tính kiểm tra này đôi khi bị tắt (do giá điện quá đắt; rất khó khăn để sử dụng máy tính này liên tục, nó được nối vào một UPS…) và vì vậy đôi khi một vài ngày sẽ thực hiện backup. Kết nối USB luôn luôn là kết nối nhanh và tốt, vì vậy tôi chưa từng bị hỏng một backup nào.

Bắt đầu với phần cứng

Tùy thuộc vào từng loại USB HDD mà bạn đã mua, hãy đọc tài liệu hướng dẫn cho bộ công cụ của bạn. Trước khi bắt đầu, chạy tail -f /var/log/messages.log trong một đầu cuối tách biệt (như root). Điều này không thực sự cần thiết, chỉ là để minh chứng rằng hệ thống của bạn đã nhận ra ổ đĩa USB. Các bước cơ bản này có thể liên quan đến một vài thứ như:
Kết nối ổ đĩa USB vào hệ thống.
Nối cáp nguồn
Bật nguồn

Khi có đã có ổ đĩa được kết nối và cấp nguồn, bạn có thể thấy nó trong hệ thống của mình.

Chạy tail sẽ hiển thị như phần dưới đây:

Apr 16 23:17:40 aquilonia usb 1-7: new high speed USB device using ehci_hcd and address 7
Apr 16 23:17:40 aquilonia usb 1-7: configuration #1 chosen from 1 choice
Apr 16 23:17:40 aquilonia scsi4 : SCSI emulation for USB Mass Storage devices
Apr 16 23:17:40 aquilonia scsi 4:0:0:0: Direct-Access SAMSUNG HD400LD WQ10 PQ: 0 ANSI: 0
Apr 16 23:17:40 aquilonia SCSI device sda: 781422768 512-byte hdwr sectors (400088 MB)
Apr 16 23:17:40 aquilonia sda: Write Protect is off
Apr 16 23:17:40 aquilonia SCSI device sda: 781422768 512-byte hdwr sectors (400088 MB)
Apr 16 23:17:40 aquilonia sda: Write Protect is off
Apr 16 23:17:40 aquilonia sda: sda1
Apr 16 23:17:40 aquilonia sd 4:0:0:0: Attached scsi disk sda

Chúng ta có thể thấy được ở đây ổ đĩa USB mới được thể hiện như SCSI device /dev/sda với partition /dev/sda1 đơn.

Ctrl-C để đóng lệnh tail của bạn.

Partition hiển thị gần mới sẽ có thể là các file hệ thống FAT32. Nếu đồng ý với điều đó thì bạn có thể tạo một đầu vào trong /etc/fstab một vài dòng sau để truy cập nó:

# <file system> <type> <options> <dump> <pass>
...
/dev/sda1 /mnt/usb vfat user,noauto,rw 0 0

Những tùy chọn có ý nghĩa tương ứng với bất kỳ người dùng này có thể cài đặt các file hệ thống, nhưng chỉ có người dùng đã cài đặt các file hệ thống mới có thể gỡ bỏ nó, các file hệ thống sẽ không cài ở thời điểm khởi động (không tự động) và chúng được cài đặt cho phép truy cập đọc và ghi(rw).

Bạn có thể kiểm tra ổ cứng mới như một người dùng thông thường:

$ mount /mnt/usb
$ df -k

Filesystem 1K-blocks Used Available Use% Mounted on
...
/dev/sda1 390610848 64 390610784 1% /mnt/usb

Các file hệ thống FAT32 mặc định phù hợp đang ở trong ổ cứng này sẵn sàng được sử dụng. Nhược điểm ở đầy là:
Sự phân đoạn
Không có nhật ký khôi phục trong các trường hợp mất nguồn.
Điều kiện bảo mật nghèo – các file FAT 32 tự động nằm trong file hệ thống.

Tôi thích ReiserFS (Reiser 3). Tuy nhiên bạn hoàn toàn có thể xem xét khác với máy tính Windows, ở đây tôi không sử dụng Windows.Tiếp tục tôi sẽ vào Reiser 3 partition đơn. Để thực hiện điều này, thứ cần đến trước tiên là sử dụng cfdisk để xóa partition cũ và tạo cái mới. Bạn có thể cần đến truy cập root hoặc sudo cho vấn đề này (phụ thuộc vào cách hệ thống của bạn được cấu hình như thế nào).

# cfdisk /dev/sda
cfdisk 2.12r
Disk Drive: /dev/sda
Size: 400088457216 bytes, 400.0 GB
Heads: 255 Sectors per Track: 63 Cylinders: 48641
Name Flags Part Type FS Type [Label] Size (MB)
------------------------------------------------------------------------------
sda1 Primary W95 FAT32 400085.85
[Bootable] [ Delete ] [ Help ] [Maximize] [ Print ]
[ Quit ] [ Type ] [ Units ] [ Write ]
Toggle bootable flag of the current partition

FAT32 partition. Hãy loại bỏ nó sau đó xem những gì còn lại. Chọn [ Delete ] từ menu
cfdisk 2.12r
Disk Drive: /dev/sda
Size: 400088457216 bytes, 400.0 GB
Heads: 255 Sectors per Track: 63 Cylinders: 48641
Name Flags Part Type FS Type [Label] Size (MB)
------------------------------------------------------------------------------
sda1 Primary W95 FAT32 400085.85
[Bootable] [ Delete ] [ Help ] [Maximize] [ Print ]
[ Quit ] [ Type ] [ Units ] [ Write ]
Delete the current partition
cfdisk 2.12r
Disk Drive: /dev/sda
Size: 400088457216 bytes, 400.0 GB
Heads: 255 Sectors per Track: 63 Cylinders: 48641
Name Flags Part Type FS Type [Label] Size (MB)
------------------------------------------------------------------------------
Pri/Log Free Space 400085.85
[ Help ] [ New ] [ Print ] [ Quit ] [ Units ]
[ Write ]
Print help screen

Đúng, không còn gì để lại. Đây là thời điển tạo một partition mới. Partition này sẽ là chính và tôi sẽ chỉ tạo một partition – toàn bộ đĩa này là backup. Chọn [ New ], [Primary] để tạo một partition chính mới. Chấp nhận kích thước mặc định đươc cung cấp, kích thước này sẽ là tất cả dung lượng đĩa.
cfdisk 2.12r
Disk Drive: /dev/sda
Size: 400088457216 bytes, 400.0 GB
Heads: 255 Sectors per Track: 63 Cylinders: 48641
Name Flags Part Type FS Type [Label] Size (MB)
------------------------------------------------------------------------------
sda1 Primary Linux 400085.85
[Bootable] [ Delete ] [ Help ] [Maximize] [ Print ]
[ Quit ] [ Type ] [ Units ] [ Write ]
Toggle bootable flag of the current partition

Bây giờ viết một bảng partition mới cho đĩa
cfdisk 2.12r
Disk Drive: /dev/sda
Size: 400088457216 bytes, 400.0 GB
Heads: 255 Sectors per Track: 63 Cylinders: 48641
Name Flags Part Type FS Type [Label] Size (MB)
------------------------------------------------------------------------------
sda1 Primary Linux 400085.85
[Bootable] [ Delete ] [ Help ] [Maximize] [ Print ]
[ Quit ] [ Type ] [ Units ] [ Write ]
Write partition table to disk (this might destroy data)
cfdisk 2.12r
Disk Drive: /dev/sda
Size: 400088457216 bytes, 400.0 GB
Heads: 255 Sectors per Track: 63 Cylinders: 48641
Name Flags Part Type FS Type [Label] Size (MB)
------------------------------------------------------------------------------
sda1 Primary Linux 400085.85
Are you sure you want to write the partition table to disk? (yes or no):
Warning!! This may destroy data on your disk!

Đánh Yes và nhấn Enter để tiếp tục
cfdisk 2.12r
Disk Drive: /dev/sda
Size: 400088457216 bytes, 400.0 GB
Heads: 255 Sectors per Track: 63 Cylinders: 48641
Name Flags Part Type FS Type [Label] Size (MB)
------------------------------------------------------------------------------
sda1 Primary Linux 400085.85
[Bootable] [ Delete ] [ Help ] [Maximize] [ Print ]
[ Quit ] [ Type ] [ Units ] [ Write ]
No primary partitions are marked bootable. DOS MBR cannot boot this.
Toggle bootable flag of the current partition

Còn bây giờ bạn có thể [ Quit ].

Để lắp thiết bị bảo vệ mới, tôi đã tạo một Linux partition chính đơn cho tất cả không gian đĩa của ổ USB.

Tạo một filesystem mới

Để tạo một filesystem. Sử dụng reiserfs, bạn có thể chọn ext3 hoặc bất cứ thứ gì bạn muốn.

# /sbin/mkreiserfs /dev/sda1
mkreiserfs 3.6.20
Copyright (C) 2001-2005 by Hans Reiser, licensing governed by reiserfsprogs/COPYING.
A pair of credits:
Continuing core development of ReiserFS is mostly paid for by Hans Reiser from
money made selling licenses in addition to the GPL to companies who don't want
it known that they use ReiserFS as a foundation for their proprietary product.
And my lawyer asked 'People pay you money for this?'. Yup. Life is good. If you
buy ReiserFS, you can focus on your value add rather than reinventing an entire
FS.
Vladimir Saveliev started as the most junior programmer on the team, and became
the lead programmer. He is now an experienced highly productive programmer. He
wrote the extent handling code for Reiser4, plus parts of the balancing code
and file write and file read.
Guessing about desired format.. Kernel 2.6.20-ARCH is running.
Format 3.6 with standard journal
Count of blocks on the device: 97677200
Number of blocks consumed by mkreiserfs formatting process: 11192
Blocksize: 4096
Hash function used to sort names: "r5"
Journal Size 8193 blocks (first block 18)
Journal Max transaction length 1024
inode generation number: 0
UUID: 19cfe77a-8913-4aed-bc25-775b42c9ce88
ATTENTION: YOU SHOULD REBOOT AFTER FDISK!
ALL DATA WILL BE LOST ON '/dev/sda1'!
Continue (y/n):y
Initializing journal - 0%....20%....40%....60%....80%....100%
Syncing..ok
Tell your friends to use a kernel based on 2.4.18 or later, and especially not a
kernel based on 2.4.9, when you use reiserFS. Have fun.
ReiserFS is successfully created on /dev/sda1.

Do đây là ổ đĩa ngoài chỉ sử dụng cho backup nên chúng ta bỏ qua việc khởi động lại.

Điểm cài đặt

Tôi sẽ tạo một điểm cài đặt mới có tên thích hợp hơn tại /mnt/backup:

# mkdir /mnt/backup

Bạn cần tạo một đầu vào trong /etc/fstab

# <file system> <type> <options> <dump> <pass>
...
/dev/sda1 /mnt/backup reiserfs user,noauto,rw 0 0

Hãy cài đặt filesystem như một người dùng thông thường (chúng ta cần phải truy cập vào nó). Thoát khỏi tiện ích gốc.

$ mount /mnt/backup
$ df -h

Filesystem Size Used Avail Use% Mounted on
...
/dev/sda1 373G 33M 373G 1% /mnt/backup

Cần phải nhớ rằng đây là Linux filesystem. FAT32 có thoải mái đôi chút khi nói đến quyền sở hữu của filesystem. Chúng ta cần phải thay đổi quyền sở hữu của filesystem mới thành người dùng thông thường (chỉ cần thực hiện điều này một lần).

$ su -
# cd /mnt
# chown -R rob:rob backup
# exit
$ cd /mnt/backup

Bây giờ chi tiết về làm thế nào để dễ thực hiện với bạn. Tôi thích tạo một thư mục được đặt tên cho host mà tôi đang backup (aquilonia trong ví dụ này), đây chỉ là một trường hợp tôi muốn backup nhiều hơn một host (có thể backup cho một laptop cũng như một desktop).

$ mkdir /mnt/backup/aquilonia

Running the backup (/home)

Cuối cùng chúng ta cần một số phần mềm để backup dữ liệu. Như tôi đã đề cập trong phần trước, tôi đã sử dụng rsync. Hãy cài đặt nó để sử dụng cho việc backup dữ liệu bước này.

Một trong những thứ mà tôi cảm thấy thú vị về rsync là khả năng sử dụng các danh sách gộp hay loại trừ. Danh sách gộp vào cho phép bạn chỉ rõ chính xác những gì bạn muốn được backup, còn cái kia cho phép bạn chỉ rõ chính xác những gì bạn không muốn backup.

Tôi thích danh sách loại trừ, bởi vì nếu tôi có quên thêm một file hoặc thư mục vào danh sách thì nó vẫn được backup. Nếu sau đó không muốn thì tôi vẫn có thể bổ sung nó vào danh sách loại trừ và xóa ra khỏi kho trữ backup. Nếu bạn quên không thêm một thành phần nào đó vào danh sách gộp, vấn đề đầu tiên là bạn phải tìm ra file đó khi bạn muốn khôi phục!

Lệnh sử dụng cho việc backup thư mục chủ của tôi (/home/rob) là:

$ rsync -vrlptg /home/rob /mnt/backup/aquilonia/home --exclude-from=/home/rob/.rsync/exclude

Sử dụng:

-v verbose output
-r recurse into directories
-l copy symlinks as symlinks
-p preserve permissions
-t preserve times
-g preserve group
/home/rob source: my home directory
/mnt/backup/aquilonia/home destination: the backup archive location
--exclude-from= use an exclude list
/home/rob/.rsync/exclude read exclude patterns from this file

Định dạnh danh sách loại trừ

Định dạng của danh sách loại trừ khá đơn giản. Chủ yếu gồm các có dạng như liệt kê bên dưới. Các thẻ tự đại diện có thể được sử dụng. Vì việc loại trừ xảy ra từ bên trong thư mục nguồn nên khoảng cách giữa các dấu “/” phải được loại bỏ. Dưới đây là một ví dụ khá cô đọng.

.adobe
.aspell.en.prepl
.aspell.en.pws
.backup_fsck_last_run
.bash_history
.cddb
.cddbslave
.config
.dbus
download/gkrellm/plugins
.gconf
.gconfd
.gimp-2.2
.gkrellm2
.mozilla
.nautilus
.openoffice.org2
paniclog
.qf
.qt
.realplayerrc
.recently-used
.sane
.serverauth.*
tmp
.viminfo
.Xauthority
.xsession-errors

Nếu bạn sử dụng rsync thì tôi khuyên bạn nên đọc kỹ về rsync. Có rất nhiều tùy chọn hữu dụng có thể tìm thấy khi nghiên cứu một cách chi tiết.

Khi đang chạy backup, bạn có thể vào đến kho lưu trữ backup và nhìn thấy những gì đã được backup. Bạn sẽ nhìn thấy một cấu trúc file rất quen thuộc (một mô hình của thư mục chủ, tất cả các bit mà bạn không muốn mất!), điều này có thể dễ dàng được điều hướng và từ đó bạn có thể dễ dàng copy file và thư mục cần thiết.

Thực hiện sự khôi phục (/home)

Khi gặp vấn đề đĩa bị lỗi hoặc các tai biến khác, bạn có thể khôi phục toàn bộ thư mục chủ (những gì đã được backup) chỉ bằng một lệnh.

$ rsync -vrlptg /mnt/backup/aquilonia/home/rob /home

Cũng có các tùy chọn như trước, ngoại trừ nguồn là kho lưu trữ backup (/mnt/backup/aquilonia/home/rob) và đích là thư mục chủ. Bạn chỉ cần chỉ ra một đích đến bởi vì bạn đã chỉ ra thư mục con như một phần của nguồn lưu trữ. rsync chờ /home/rob để được trình bày và để được thể hiện nó là nó (hoặc ít nhất là khả năng có thể viết) bởi tài khoản được thực hiện bằng lệnh.

Thực hiện backup (/etc)

Rất ngắn ngọn (như root)

# rsync -av /etc /mnt/backup/aquilonia

Lệnh trên sẽ tạo /mnt/backup/aquilonia/etc và copy nội dung của /etc vào nó. Bạn sẽ thấy quyền sở hữu của file đó và các cho phép được duy trì, điều này là một biểu hiện tốt cho việc bảo mật, làm cho ổ USB an toàn!

Nếu bạn backup các file hệ thống với rsync, thì trang hướng dẫn thêm về rsync sẽ giúp bạn rất nhiều. Kiểm tra các tùy chọn. Bạn có thể thay thế /ect trong lệnh trên bằng /var hoặc /root khi được yêu cầu, và có thể sử dụng các danh sách loại trừ nếu muốn.

Tự động backup

Backup của bạn nên được thực hiện tự động.

Tôi khuyên bạn nên viết một kịch bản nếu muốn backup tự động. Sau đó bạn có thể chạy kịch bản này thường xuyên bằng cách sử dụng một lịch trình. Kịch bản phải gồm:
kiểm tra xem đĩa backup có cài đặt / cài đặt nếu yêu cầu / nếu nó không thể cài đặt thì đó là một thất bại.
chạy backup
gỡ bỏ đĩa backup
ghi đầu ra của backup ở bất cứ đâu

Các tùy chọn

Nếu bạn không có ổ USB thì sẽ không có các tùy chọn sẵn có đối với bạn. Tất cả các thành phần khác có thể sử dụng với rsynt.
Backup vào ổ đĩa cứng bên trong
pro: nhanh hơn
con: cài đặt phức tạp hơn hoặc việc truyền tải đến các máy tính khác.
Backup Network Attached Storage (Samba hoặc NFS)
Backup để muốn một host được kết nói mạng bằng sử dụng rsync với SSH
Backup đến ổ đĩa ứng bên ngoài (esata)

Văn Linh dịch từ bài của Rob Newcater


Cài đặt và cấu hình Spamd

(QTM) Bạn đã từng biết đến Spamd, một dịch vụ giúp loại trừ thư rác trôi nổi vào hòm thư điện tử? Hôm nay chúng tôi sẽ giới thiệu một số tính năng nâng cao và hướng dẫn cách cài đặt, cấu hình của dịch vụ này. Hy vọng, lượng thư rác của bạn sẽ giảm đáng kể sau khi sử dụng nó.

Trình tự công việc như sau:

1. Chọn kết nối vật lý và giản đồ địa chỉ IP.

2. Cầu hình và chạy spamd.

3. Liên hệ với OpenBSD để gửi lưu lượng TCP 25 tới spamd cho việc đánh giá (đây là bước cần thiết). Nhưng đồng thời cũng phải thông báo để OpenBSD gửi lại thư điện tử của người gửi “vô hại” tới server e-mail thực. Các quy định PF (một trong các phiên bản iptable của OpenBSD) đòi hỏi điều đó.

4. Cuối cùng là kiểm tra.

Sử dụng một sơ đồ vật lý như trong hình minh hoạ bên dưới. “spamslayer” là gói OpenBSD chạy spamd tarpit/greylister, hoặc một tường lửa lọc gói mạnh. Có thể sử dụng máy Sun Ultra 5, 270MHZ với DRAM 256MB và ổ cứng dung lượng 20GB; thư mục /var sẽ là nơi chứa file nhật lý (log), với kích thước khoảng 4GB. Gói này có ba giao diện:

1. hme0: giao diện bên ngoài.

2. fxp0: giao diện “đáng tin cậy” bên trong, và

3. fxp1: giao diện DMZ.



“mailhost” là server mail thực, một máy Sun Ultra 5 khác, chạy Ubuntu GNU/Linux 6.06 Dapper Drake. Nó sử dụng Postfix và Dovecor trong cấu hình maildir và dùng địa chỉ IP riêng (192.168.10.11).

Sau khi cài đặt và thiết lập các địa chỉ IP trên OpenBSD, bạn cần chỉnh sửa ba file:

/etc/rc.conf: file cấu hình độ rộng hệ thống. Bạn có thể thay đổi thành /etc/rc.conf.local nếu muốn; các thiết lập trong file mới sẽ ghi đè lên giá trị mặc định trong /etc/rc.conf.

/etc/pf.conf: các quy định PF; bắt buộc cho tất cả các hoạt động.

/etc/spamd.conf: sử dụng thiết lập mặc định trong file này cũng khá ổn, nhưng bạn có thể thay đổi hoặc tạo các ngắt cho chúng.

Chú ý về giao diện trên BSD: Không giống như GNU/Linux, thường có eth0, eth1, eth2, …., các giao diện BSD được đặt tên theo trình điều khiển thiết bị. Sở dĩ giao diện được giới thiệu ở trên là fxp0, fxp1 do chúng ta có hai thẻ Intel EtherExpress Pro/100B sử dụng trình điều khiển fxp (tương ứng với eepro100 trong Linux). Còn hme0 là thay cho “Sun Happy Meal Ethernet”, một card mạng (NIC) 10/100 tích hợp sẵn trong tất cả các gói Sun Ultra.

/etc/rc.conf kiểm soát một số thiết lập về thời gian khởi động. Thay đổi các dòng đã có với những thiết lập này, chúng sẽ có dạng như sau:

Changes to /etc/rc.conf:
pf=YES
spamd_flags="-v -S 90 -n Postfix -h mailhost.cmosnetworks.com -G 60:4:864"
spamd_grey=YES
pf_rules=/etc/pf.conf

Mặc định thời gian cách ly trong “danh sách đen” ban đầu là 25 phút. Nếu thay đổi tham số -G thành spamd_flags, giá trị mặc định sẽ lên tới 60 phút. Sự thay đổi này là cần thiết, bởi thực tế 25 phút quá ngắn so với yêu cầu thực tiễn. Tham số -v yêu cầu spamd ghi thông tin một cách chi tiết để khi gửi e-mail tới ai đó, người nhận sẽ được tự động đưa vào “danh sách trắng”.

Nếu bạn chưa thấy dòng pf_rules, hãy thêm nó vào.

Trang spamd man sẽ nói cho bạn biết phần còn lại.

Bước tiếp theo là quan tâm đến /etc/pf.conf. Nếu đã hiểu cổng chuyển tiếp (port forwarding), NAT và tường lửa trạng thái là gì, bạn nên quan tâm đến file sau. Các dòng có dấu “#” ở đầu là phần chú thích.

/etc/pf.conf:

# Đầu tiên, thiết lập các marco
externalif = "hme0"
internalif = "fxp0"
dmzif = "fxp1"

internalnet = "172.16.0.0/24"
dmznet = "192.168.10.0/24"

# Đây là những địa chỉ chúng ta không sẽ không bao giờ thấy trên Internet
# Sử dụng bảng này để loại bỏ địa chỉ IP theo nguyên tắc sau.
table persist {10.0.0.0/8, 172.16.0.0/12, 192.168.0.0/16, 224.0.0.0/5}

# Đưa ra danh sách những kẻ phát tán thư rác và người vô hại.
# Thực hiện với các bảng PF
table persist
table persist
table persist file "/etc/whitelist.txt"
table persist file "/etc/blacklist.txt"

# Bình thường hoá các gói; đây thực sự là ý tưởng hay.
scrub on $externalif all fragment reassemble random-id reassemble tcp

# Bật chức năng NAT một-nhiều
nat on $externalif inet proto {tcp, udp, icmp} from $internalnet to any -> $externalif
nat on $externalif inet proto {tcp, udp, icmp} from $dmznet to any -> $externalif

#Ngăn chặn spammer (những kẻ phát tán thư rác)!
# Định hướng lại lưu lượng SMTP tới hoặc là spamd cục bộ, hoặc là mail server thực,
# tuỳ thuộc vào bảng PF chứa địa chỉ IP của người gửi.
# "Định hướng lại" tức là thông báo về PF OpenBSD cho Port Address Translation (PAT - bộ
# dịch địa chỉ cổng).

rdr pass on $externalif proto tcp from to $externalif port smtp -> 192.168.10.11 port smtp
rdr pass on $externalif proto tcp from to $externalif port smtp -> 127.0.0.1 port 8025
rdr pass on $externalif proto tcp from to $externalif port smtp -> 127.0.0.1 port 8025
rdr pass on $externalif proto tcp from to $externalif port smtp -> 192.168.10.11 port smtp
rdr pass on $externalif proto tcp from ! to $externalif port smtp -> 127.0.0.1 port 8025

# Cần phải thực hiện một số PAT cho Mail Server thực để IMAP và Secure IMAP có thể hoạt
# động.

rdr pass on $externalif proto tcp from any to $externalif port 143 -> 192.168.10.11 port 143
rdr pass on $externalif proto tcp from any to $externalif port 993 -> 192.168.10.11 port 993

#Lọc ra những kẻ giả mạo theo định nghĩa được tạo trước đó trong bảng "".

block in quick on $externalif inet from to any

# Bật chức năng lọc gói trạng thái.
#Quay trở lại bất kỳ lưu lượng nào có các phiên bắt đầu từ bên trong

pass out quick on $externalif inet proto tcp from $internalnet to any modulate state
pass out quick on $externalif inet proto udp from $internalnet to any keep state
pass out quick on $externalif inet proto icmp from $internalnet to any keep state

# Cũng cần phải cho phép lưu lượng riêng của tường lửa quay trở lại!

pass out quick on $externalif inet proto tcp from $externalif to any modulate state
pass out quick on $externalif inet proto udp from $externalif to any keep state
pass out quick on $externalif inet proto icmp from $externalif to any keep state

# Cho phép lưu lượng SMTP và SSH, ghi thông tin chi tiết về lưu lượng SMTP cho spamlogd.

pass in log quick on $externalif inet proto tcp from any to 192.168.10.11 port smtp keep state
pass in log quick on $dmzif inet proto tcp from 192.168.10.11 to any port smtp keep state
pass in quick on $externalif inet proto tcp from any to $externalif port 22

# Từ chối mọi thứ còn lại!

block in on $externalif inet all

End /etc/pf.conf

Bạn có thể loại bỏ tên giao diện và sử dụng file này trong gói OpenBSD ba giao diện riêng của mình. Chú ý rằng, không có địa chỉ IP nào được đưa ra ở đây, ngoại trừ địa chỉ mailhost (192.168.10.11), hiện đang dùng NAT. Nguyên nhân là bởi PF cho phép bạn mô tả tên giao diện thay vì địa chỉ IP.

Phần “Stop the spammers!” rất đáng được quan tâm. Trật tự lệnh ở đây là rất quan trọng; nếu trật tự sai, mọi thứ sẽ hoạt động lệnh lạc và không có tác dụng.

Đầu tiên là định nghĩa thẻ , tức một bảng địa chỉ IP với các netblock. Bảng này đưa ra cách thức nhóm gọp địa chỉ IP lại với nhau trong PF. Chúng thuộc kiểu danh sách “thủ công”, không được duy trì tự động bởi OpenBSD và được tạo theo nội dung của một file gọi là /etc/whitelist.txt. Trong phần thử nghiệm, danh sách chỉ nên giữ ở mức thấp nhất, với 4 địa chỉ IP. Ba địa chỉ nằm trên mạng riêng và địa chỉ thứ tư là của một người bạn ở Trung Quốc. Nếu bạn cần thêm vào một cái gì đó, hệ thống sẽ xem xét trong lần khởi động tiếp theo. Để OpenBSD nhận ra một đối tượng thêm vào mà không cần khởi động lại máy, chạy lệnh pfctl -t whitelist -T replace -f /etc/whitelist.txt với vai trò root.

Bạn có thể tránh việc thay thế toàn bộ bảng danh sách trắng, chỉ cần thêm vào một địa chỉ mình muốn bằng cách sử dụng lệnh:

pfctl -t whitelist -T add 1.2.3.4

hoặc cho toàn bộ mạng 255.255.255.0 :

pfctl -t whitelist -T add 1.2.3.0/24

Tiếp theo là thẻ . Nếu ai đó sắp xếp chương trình, bỏ qua tất cả chức năng bảo vệ của spamd, bạn có thể đặt một địa chỉ IP vào đây. Nó sẽ được ngăn chặn nếu nằm trong danh sách SPEWS. Bạn nên giữ số lượng danh sách này ở mức thấp nhất có thể. Sau đó thêm vào thư mục /etc/blacklist.txt, sử dụng cú pháp tương tự như với danh sách trắng để nó được nhận:

# pfctl -t blacklist -T replace -f /etc/blacklist.txt

File danh sách đen sau khi thêm vào sẽ có dạng:

# Cách ly hoặc loại bỏ mail server của một người thường xuyên phát tán thư rác tới hòm thư.
216.27.93.120
#Cách ly hoặc loại bỏ địa chỉ /8 ở Trung Quốc bị thiếu trong danh sách.
121.0.0.0/8
# Cách ly hoặc loại bỏ Iquiero.com vì địa chỉ này thường xuyên phát tán thư rác tới hòm thư; chúng dùng /24.
201.230.255.0/25

Danh sách trắng cũng có định dạng tương tự.

Tiếp theo là thẻ . Đây là các spammer mà SPEWS và một số chương trình khác biết đến. Khi xây dựng quy tắc, tất cả sẽ kết thúc ở bảng PF “spamd” đã được tạo trong file /etc/pf.conf ở trên. Điều này sẽ dẫn đến kết quả spamd ngăn chặn chúng ngay lập tức trên kết nối.

Thẻ nằm liền sau đó. Về cơ bản nó có nghĩa là: “Bất kỳ ai cũng có thể bị đưa vào danh sách đen. Nhưng nếu vượt qua được 60 phút cách ly ban đầu, người gửi sẽ được coi là hợp pháp. Vì thế, chỉ cần nghe trên mail server thực”. Các đối tượng này thường được lưu trữ trong bảng "spamd-white".

Phần ! nắm bắt tổng thể. Nó có nghĩa là: “tất cả những người còn lại; bạn không biết có phải họ là spammer hay không, và khi không đưa vào danh sách trắng, nó sẽ nằm trong danh sách đen. Quay trở lại sau 60 phút, bạn có thể gửi mail tới một MTA thực ở đây”.

Cuối cùng, chúng ta xử lý với /etc/spamd.conf. Nếu file này không chính xác, spamd sẽ phản ánh theo nhiều cách khác nhau. Có thể là không khởi động, hay bỏ qua một số hoặc tất cả cấu hình của bạn. Một cảnh báo quan trọng: bạn không thể dùng phím tab trong file này. Thay vào đó phải dùng phím Space, khoảng trắng mới được thiết lập. Nếu không, bạn sẽ gặp lỗi liên tục.

Toàn bộ file /etc/spamd.conf ví dụ sẽ có dạng:

all:\
:spews1:spews2:spamhausdroplist:china:korea:russia:mycustom-black:

# Lấy từ http://www.spews.org/spews_list_level1.txt
spews1:\
:black:\
:msg="SPAM. Your address %A is in the spews level 1 database\n\
See http://www.spews.org/ask.cgi?x=%A for more details":\
:method=http:\
:file=www.openbsd.org/spamd/spews_list_level1.txt.gz:

# Lấy từ http://www.spews.org/spews_list_level2.txt
spews2:\
:black:\
:msg="SPAM. Your address %A is in the spews level 2 database\n\
See http://www.spews.org/ask.cgi?x=%A for more details":\
:method=http:\
:file=www.openbsd.org/spamd/spews_list_level2.txt.gz:

spamhausdroplist:\
:black:\
:msg="SPAM. Your address %A is in the Spamhaus drop list\n\
See http://www.spamhaus.org for more details":\
:method=file:\
:file=/etc/spamhaus.droplist.20071227.txt:

# Lấy từ http://www.okean.com/chinacidr.txt
china:\
:black:\
:msg="SPAM. Your address %A appears to be from China\n\
See http://www.okean.com/asianspamblocks.html for more details":\
:method=http:\
:file=www.openbsd.org/spamd/chinacidr.txt.gz:

# Lấy từ http://www.okean.com/koreacidr.txt
korea:\
:black:\
:msg="SPAM. Your address %A appears to be from Korea\n\
See http://www.okean.com/asianspamblocks.html for more details":\
:method=http:\
:file=www.openbsd.org/spamd/koreacidr.txt.gz:

# Lấy từ http://www.completewhois.com/statistics/data/ips-bycountry/rirstats/RU-cidr.txt
russia:\
:black:\
:msg="SPAM. Your address %A appears to be a source of spam email\n\
Please contact your ISP regarding this issue":\
:method=http:\
:file=www.completewhois.com/statistics/data/ips-bycountry/rirstats/RU-cidr.txt:

# Danh sách đen ví dụ.
mycustom-black:\
:black:\
:msg="SPAM. Your address %A is in my spammers list. Please stop.":\
:method=file:\
:file=/etc/blacklist.txt:

End /etc/spamd.conf

Mọi địa chỉ ở đây đều được đưa vào bảng PF, và do đó được cách ly tự động, ngay lập tức khi một phiên hoạt động bắt đầu kết nối.

Bây giờ, spamd đã sẵn sàng. Để mở nó, chạy lệnh /usr/libexec/spamd-setup. Bất kỳ khi nào thực hiện thay đổi trên /etc/spamd.conf, bạn phải đóng tiện ích và mở lại thì các thay đổi mới có tác dụng. Chương trình spamd-setup thực hiện hai điều:

1. Nói cho PF biết phải làm gì: duyệt tất cả địa chỉ IP hoặc netblock có trong các file đề cập đến ở /etc/spamd.conf, được định nghĩa trong bảng ở /etc/pf.conf. Nhớ rằng, chúng ta có một quy định PF khẳng định, nếu một địa chỉ nằm trong bảng thì cần định hướng lại nó tới spamd trên TCP 8025 ở localhost.

2. Tự nói với spamd rằng, trong file /etc/spamd.conf, mọi địa chỉ IP hoặc netblock ở danh sách bên dưới sẽ bị coi như nằm trong danh sách đen nếu PF gửi lại lưu lượng SMTP của địa chỉ tới tarpit của spamd:
www.openbsd.org/spamd/spews_list_level1.txt.gz
/etc/spamhaus.droplist.20071227.txt
www.openbsd.org/spamd/chinacidr.txt.gz
www.openbsd.org/spamd/koreacidr.txt.gz
www.completewhois.com/statistics/data/ips-bycountry/rirstats/RU-cidr.txt
/etc/blacklist.txt

Bây giờ, các bản update thường xuyên của danh sách SPEWS Level 1 và Level 2 được cung cấp đều đặn. Bạn nên chạy chương trình spamd-setup mỗi ngày một lần để tải các file mới nhất và đưa chúng vào bảng .

Cần chú ý là, ở đây chúng tôi thêm vào ba phần cho file spamd.conf để ngăn cách và loại bỏ nhiều spammer hơn so với mặc định. Đó là spamhausdroplist (danh sách spammer Australia), Rusia (Nga) và mycustom-black (danh sách tự định) trong file /etc/spamd.conf. Bạn có thể đưa vào danh sách tên hay nickname các spammer nguy hiểm nhất theo giới thiệu trong completewhois.com, nơi có tất cả các netblock trên thế giới, chia theo tên quốc gia.

Chương trình hoạt động ra sao?

Sau khi thực hiện các bước trên, chương trình hoạt động khá ổn như mong đợi. Lượng thư rác đã giảm 2% trong tổng số các thư nhận được trước khi bắt đầu chạy tiện ích. Tôi đã từng thấy tổng số chỉ có 10 thư rác trong hơn 10 ngày, giảm đáng kể so với 150 thư mỗi ngày như trước đây. Server mail thực (mailhost), dù không chạy chương trình hỗ trợ nào như SpamAssassin, vẫn không bị quấy rầy bởi thư rác. Từ giờ, bạn có thể thoải mái nhận thư hợp lệ.

Bẫy danh sách đen của Spamd khá tuyệt diệu và là nguyên nhân chính của lượng thư rác giảm đáng kể này. Thông tin nhật ký spamd cho lấy có một lượng lớn cư dân mạng muốn phát tán thư rác tới địa chỉ e-mail giả mạo đơn lẻ thử nghiệm. Và tất cả đều bị ngăn chặn, loại bỏ.

Nguy cơ trục trặc phần cứng

Bạn sẽ cần tạo một file (không được thể hiện trong phần cài đặt mặc định), lấy tên là /var/db/spamd, (phải đăng nhập hệ thống với vai trò người dùng root). Cung cấp lệnh /var/db/spamd tất nhiên sẽ tạo người sở hữu root:wheel. Tuy nhiên, file này cần được sở hữu bởi chủ của chương trình spamd, là _spamd. Đội phát triển OpenBSD chắc hẳn cũng đã biết về vấn đề này và sẽ sửa chữa nó trong phiên bản sắp tới, kể cả vấn đề về quyền hạn. Song, thay vì chờ đợi tới tận phiên bản sau, bạn có thể sửa chúng dễ dàng bằng cách chạy lệnh chown _spamd:_spamd /var/db/spamd.

T.Thu (Theo Linux)

Linux Foundation updates Linux Standard Base

New automated testing toolkits make it easier to develop apps for different distributions of Linux


By China Martens, IDG News Service

April 09, 2007


The Linux Foundation updated its Linux Standard Base (LSB) server specification Monday to include new automated testing toolkits to make it easier to develop applications for different distributions of the open-source operating system.


The move is part of the nonprofit industry consortium's main avowed mission to make the Linux operating system an attractive alternative to Microsoft's Windows.

Debuting in 2001, LSB is a set of interface standards created by the Free Standards Group (FSG), a nonprofit Linux consortium, designed to improve compatibility between Linux distributions so a developer can write an application for Linux and have it run on any distribution that's LSB-compliant. Most leading Linux distributions do comply with the LSB standard. These include Red Hat, Novell's Suse, Debian, Ubuntu, Mandriva, and Xandros.

The FSG merged with the other leading Linux industry consortium, the Open Source Development Labs (OSDL), earlier this year to create the Linux Foundation. The organization has around 70 members including IT vendors, universities and end users. Its board of directors, announced last month, includes the founder of the Ubuntu Linux distribution, Mark Shuttleworth.

Along with the update to LSB 3.1, the Linux Foundation is also releasing a new testing toolkit -- the LSB Distribution Testkit, which the organization describes as the first automated open-source testing tool for the Linux platform.

"All the moving parts are coming together to give the Linux ecosystem its first testing framework that will coordinate development of upstream code to standards and downstream implementations," Jim Zemlin, executive director of the Linux Foundation, said in a prepared statement. For any standard to be really effective, it requires a very strong and easy-to-use testing infrastructure, he added.

The LSB Distribution Testkit is the first fruit of a multimillion dollar project to develop a new LSB testing framework and features a Web-based front-end testing process. FSG announced the project back in November, which is being undertaken jointly with the Institute for Systems Programming of the Russian Academy of Sciences. The new framework aims at tightening the links between compatibility tests and code development.

The Linux Foundation is also making a lightweight download available, the LSB Application Testkit, for independent software vendors that just want to access the LSB validation tools needed to let them know whether their application is LSB-compliant.

LSB 3.1 and the new testing kits are available for download from the Linux Foundation's Web site.

Last week, the Linux Foundation announced it had three new members -- consumer, communications, and storage chip vendor Marvell Technology Group; mobile phone company Nokia; and virtualization technology provider for embedded systems VirtualLogix. The new members reflect the wider use of Linux in a variety of devices, the organization said.

Seminar giới thiệu nhóm nghiên cứu Kernel ĐH Bách Khoa

Tin post lại từ Blog Bảo Mật Thông Tin

Seminar về Linux Kernel

Thực hiện: Nhóm nghiên cứu Hệ điều hành (OS Group) phối hợp với CLB Tin học ĐH Bách Khoa TP Hồ Chí Minh tổ chức.

Mục tiêu:
Giới thiệu OS Group cùng với công việc nghiên cứu để các bạn SV cảm thấy phù hợp và yêu thích có thể tham gia.
Giới thiệu kiến trúc và hiện thực Linux kernel do các thành viên trong nhóm trình bày. Ở phần này các bạn SV sẽ được hiểu thêm trên thực tế, những kiến thức mình đã học trong môn Hệ điều hành được hiện thực trên Linux như thế nào .
Trao đổi, thảo luận về nghiên cứu mã nguồn mở nói chung và Linux nói riêng với mục đích mang mã nguồn mở đến gần hơn nữa với các bạn SV.
Nội dung: (udpated)
1. Giới thiệu OS Group và việc nghiên cứu Linux kernel - Ts. Thoại Nam
2. Giới thiệu Linux kernel và quá trình init hệ thống - Trần Quốc Vũ
3. Giới thiệu Filesystem trong Linux - Trần Bảo Hoàng
4. Giới thiệu Process và IPC trong Linux - Hoàng Hồng Nam
5. Giới thiệu Security và Cryptography trong Linux - Đào Mạnh Hiếu
6. Giới thiệu Networking trong Linux - Lê Đình Đông Thao

7. Tự xây dựng một distro Linux trong 10' - Dương Ngọc Thái
Thời gian: 08g15 - 10h30 Thứ 7 ngày 24/3/2007
Địa điểm: PHÒNG 402 B4

Do thời gian giới hạn nên seminar sẽ được tổ chức thành nhiều buổi. Nội dung trình bày vẫn theo thứ tự như trên. Ngày thứ Bảy 24/3 tuần này sẽ có các nội dung:

1. Giới thiệu OS Group và việc nghiên cứu Linux kernel - Ts. Thoại Nam

2. Giới thiệu Linux kernel và quá trình init hệ thống - Trần Quốc Vũ

3. Giới thiệu Filesystem trong Linux - Trần Bảo Hoàng

Seminar này được tổ chức với tinh thần Open nên ai quan tâm đều có thể tham dự.

December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31