My Opera is closing 3rd of March

Ha^n hạnh chao` đon' bạn đe^'n vs "|3L0[_¡" kủa tuj ~♥~ W€LL K0][V][€ T0 ][V][¥ |3LO[_¡ ~♥~ I'm @ sTUdENt

Đau đâu` v¡` nha` giâu`. ~♥~Mệt mỏ¡ v¡` học g¡ỏ¡. ~♥~ Buôn` ph¡ên` v¡` nh¡êu` t¡ền`. ~♥~ Bô¡' rô¡' v¡` vô đô¡'.

Subscribe to RSS feed

Tình trạng dola hóa ở Việt Nam và giải pháp khắc phục

Đô la hoá có thể hiểu một
cách thông thường là trong
một nền kinh tế khi ngoại tệ
được sử dụng một cách rộng
rãi thay thế cho đồng bản tệ
trong toàn bộ hoặc một số
chức năng tiền tệ, nền kinh
tế đó bị coi là đô la hoá toàn
bộ hoặc một phần.


1. Khái niệm về đô la
hoá

Theo tiêu chí của IMF đưa ra,
một nền kinh tế được coi là
có tình trạng đô la hoá cao
khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng
ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên
trong tổng khối tiền tệ mở
rộng (M2); bao gồm: tiền mặt
trong lưu thông, tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn, và tiền gửi ngoại tệ.
Theo đánh giá của IMF năm
1998 trường hợp đô la hoá
cao có 19 nước, trường hợp
đô la hoá cao vừa phải với
tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2
khoảng 16,4% có 35 nước,
trong số đó có Việt Nam.
Đô la hoá được phân ra làm
3 loại: đô la hoá không chính
thức (unofficial Dollarization),
đô la hoá bán chính thức
(semiofficial dollarization), và
đô la hoá chính thức (official
dollarization).
- Đô la hoá không chính thức
là trường hợp đồng đô la
được sử dụng rộng rãi trong
nền kinh tế, mặc dù không
được quốc gia đó chính thức
thừa nhận.
Đô la hoá không chính thức
có thể bao gồm các loại sau:
• Các trái phiếu ngoại tệ và
các tài sản phi tiền tệ ở
nước ngoài.
• Tiền gửi bằng ngoại tệ ở
nước ngoài.
• Tiền gửi ngoại tệ ở các
ngân hàng trong nước.
• Trái phiếu hay các giấy tờ
có giá bằng ngoại tệ cất
trong túi.
- Đô la hoá bán chính thức là
những nước có hệ thống lưu
hành chính thức hai đồng
tiền. Ở những nước này,
đồng ngoại tệ là đồng tiền
lưu hành hợp pháp, và thậm
chí có thể chiếm ưu thế
trong các khoản tiền gửi
ngân hàng, nhưng đóng vai
trò thứ cấp trong việc trả
lương, thuế và những chi
tiêu hàng ngày. Các nước
này vẫn duy trì một ngân
hàng trung ương để thực
hiện chính sách tiền tệ của
họ.
- Đô la hoá chính thức (hay
còn gọi là đô la hoá hoàn
toàn) xẩy ra khi đồng ngoại
tệ là đồng tiền hợp pháp duy
nhất được lưu hành. Nghĩa
là đồng ngoại tệ không chỉ
được sử dụng hợp pháp
trong các hợp đồng giữa các
bên tư nhân, mà còn hợp
pháp trong các khoản thanh
toán của Chính phủ. Nếu
đồng nội tệ còn tồn tại thì nó
chỉ có vai trò thứ yếu và
thường chỉ là những đồng
tiền xu hay các đồng tiền
mệnh giá nhỏ. Thông thường
các nước chỉ áp dụng đô la
hoá chính thức sau khi đã
thất bại trong việc thực thi
các chương trình ổn định
kinh tế.
Đô la hoá chính thức không
có nghĩa là chỉ có một hoặc
hai đồng ngoại tệ được lưu
hành hợp pháp. Tuy nhiên,
các nước đô la hoá chính
thức thường chỉ chọn một
đồng ngoại tệ làm đồng tiền
hợp pháp.
Theo đánh giá của IMF năm
1998, 19 nước có mức độ đô
la hoá cao với tỷ lệ tiền gửi
ngoại tệ/M2 lớn hơn 30%,
bao gồm các nước:
Argentina, Azerbaijian,
Belarus, Bolivia, Cambodia,
Costa Rica, Croatia, Georgia,
Guinea - Bissau, Laos,
Latvia, Mozambique,
Nicaragua, Peru, Sao Tome,
Principe, Tajikistan, Turkey
và Uruguay.
35 nước có mức độ đô la hoá
vừa phải với tỷ lệ tiền gửi/
M2 khoảng 16,4%, bao gồm
các nước: Albania, Armenia,
Bulgaria, Cộng hoà Czech,
Dominica, Honduras,
Hungary, Jamaica, Jordan,
Lithuania, Macedonia, Malawi,
Mexico, Moldova, Mongolia,
Pakistan, Philippines, Poland,
Romania, Russia, Sierra
Leone, Cộng hoà Slovak,
Trinidad, Tobago, Uganda,
Ukraine, Uzbekistan, Việt
Nam, Yemen và Zambia.
Theo nghiên cứu của Hệ
thống dự trữ Liên bang Mỹ,
hiện tại người nước ngoài
nắm giữ từ 55 đến 70% tổng
số đô la Mỹ đang lưu hành
trên thế giới.


2. Nguồn gốc của đô la
hoá

Trước hết, đô la hoá là hiện
tượng phổ biến xẩy ra ở
nhiều nước, đặc biệt là ở các
nước chậm phát triển . Đô la
hoá thường gặp khi một nền
kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao,
sức mua của đồng bản tệ
giảm sút thì người dân phải
tìm các công cụ dự trữ giá trị
khác, trong đó có các đồng
ngoại tệ có uy tín. Song song
với chức năng làm phương
tiện cất giữ giá trị, dần dần
đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh
với đồng nội tệ trong chức
năng làm phương tiện thanh
toán hay làm thước đo giá
trị.
Tình trạng đô la hoá bao
gồm cả ba chức năng thuộc
tính của tiền tệ, đó là:
• Chức năng làm phương tiện
thước đo giá trị.
• Chức năng làm phương tiện
cất giữ.
• Chức năng làm phương tiện
thanh toán.
Thứ hai, hiện tượng đô la
hoá bắt nguồn từ cơ chế
tiền tệ thế giới hiện đại,
trong đó tiền tệ của một số
quốc gia phát triển, đặc biệt
là đô la Mỹ, được sử dụng
trong giao lưu quốc tế làm
vai trò của "tiền tệ thế giới".
Nói cách khác, đô la Mỹ là
một loại tiền mạnh, ổn định,
được tự do chuyển đổi đã
được lứu hành khắp thế giới
và từ đầu thế kỷ XX đã dần
thay thế vàng, thực hiện vai
trò tiền tệ thế giới.
Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có
một số đồng tiền của các
quốc gia khác cũng được
quốc tế hoá như: bảng Anh,
mác Đức, yên Nhật, Franc
Thuỵ Sỹ, euro của EU...
nhưng vị thế của các đồng
tiền này trong giao lưu quốc
tế không lớn; chỉ có đô la
Mỹ là chiếm tỷ trọng cao
nhất (khoảng 70% kim ngạch
giao dịch thương mại thế
giới). Cho nên người ta
thường gọi hiện tượng ngoại
tệ hoá là "đô la hoá".
Thứ ba, trong điều kiện của
thế giới ngày nay, hầu hết
các nước đều thực thi cơ chế
kinh tế thị trường mở cửa;
quá trình quốc tế hoá giao
lưu thương mại, đầu tư và
hợp tác kinh tế ngày càng
tác động trực tiếp vào nền
kinh tế và tiền tệ của mỗi
nước, nên trong từng nước
xuất hiện nhu cầu khách
quan sử dụng đơn vị tiền tệ
thế giới để thực hiện một số
chức năng của tiền tệ. Đô la
hoá ở đây có khi là nhu cầu,
trở thành thói quen thông lệ
ở các nước.
Thứ tư, mức độ đô la hoá ở
mỗi nước khác nhau phụ
thuộc vào trình độ phát triển
nền kinh tế, trình độ dân trí
và tâm lý người dân, trình độ
phát triển của hệ thống ngân
hàng, chính sách tiền tệ và
cơ chế quản lý ngoại hối,
khả năng chuyển đổi của
đồng tiền quốc gia. Những
yếu tố nói trên ở mức độ
càng thấp thì quốc gia đó sẽ
có mức độ đô la hoá càng
cao.
Đối với trường hợp Việt Nam
ngoài các yếu tố trên, chúng
ta cần nhấn mạnh thêm một
số nguyên nhân sau đây của
hiện tượng đô la hoá:
- Tình trạng buôn lậu, nhất
là buôn bán qua biên giới và
trên biển khá phát triển và
sự quản lý lỏng lẻo của chính
quyền các cấp. Tình trạng
các doanh nghiệp, các cửa
hàng kinh doanh... bán hàng
thu bằng ngoại tệ còn tuỳ
tiện và diễn ra phổ biến.
- Thu nhập của các tầng lớp
dân cư còn thấp, đa số dân
cư có tâm lý tiết kiệm để
dành, lo xa cho cuộc sống.
Mối quan hệ giữa lãi suất nội
tệ và ngoại tệ, xu hướng
biến đổi của tỷ giá VNĐ/USD
là nguyên nhân quan trọng
của xu hướng tích trữ và
gửi tiền bằng đô la. Trong
các năm đầu thời kỳ đổi mới
1989 - 1992, lạm phát ở mức
rất cao. Đồng tiền Việt Nam
mất giá mạnh so với đồng đô
la Mỹ, vàng tăng giá rất lớn.
Do đó nhiều người lựa chọn
đô la để cất trưc và gửi
ngân hàng. Trong các năm
1999 - 2001, lãi suất đô la
Mỹ trên thị trường tiền tệ
quốc tế tăng lên rất cao,
đỉnh diểm giữa năm 2000 lên
tới 6,5%/năm. Các ngân hàng
thương mại trong nước tăng
lãi suất huy động vốn đô la
lên tương ứng, đầu tư trên
thị trường tiền gửi quốc tế,
đem lại lợi ích thu nhập về
lãi suất cho người dân và
cho hệ thống ngân hàng.
Cũng do tỷ giá ổn định, lãi
suất vay vốn đô la Mỹ bình
quân chỉ có 3% - 4%/năm,
thấp chỉ bằng 1/3 lãi suất
vay vốn Việt Nam đồng, nên
nhiều doanh nghiệp lựa chọn
vay đô la Mỹ, làm cho tỷ
trọng và số tuyệt đối dư nợ
vốn vay đô la Mỹ tăng lên.
Bên cạnh đó nhiều người có
tâm lý do sợ sự mất giá của
Việt Nam đồng, nên họ lựa
chọn đô la Mỹ để gửi ngân
hàng. Thực trạng đó còn do
nguyên nhân đồng tiền Việt
Nam mệnh giá còn nhỏ, cao
nhất là tờ 500.000 đồng mới
được đưa ra lưu thông vào
cuối năm 2003, song tờ 100
USD lại tương ứng với gần
1,6 triệu đồng. Bởi vậy việc
sử dụng đồng đô la tiện lợi
trong các giao dịch lớn như:
mua bán đất đai, nhà cửa, ô
tô... Các hoạt động kinh tế
ngầm vẫn diễn biến phức
tạp, việc sử dụng đô la Mỹ
tiện lợi hơn nhiều đối với họ.
- Thu nhập bằng đô la Mỹ
trong các tầng lớp dân cư
ngày càng được mở rộng và
tăng lên. Đó là thu nhập của
những người Việt Nam làm
việc cho các công ty nước
ngoài và các tổ chức quốc tế
ở Việt Nam; tiền cho người
nước ngoài thuê nhà và kinh
doanh du lịch; khách quốc tế
đến và chi tiêu đô la bằng
tiền mặt ở Việt Nam; người
nước ngoài sinh sống và làm
việc ở Việt Nam tiêu dùng;
tiền của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài gửi về; tiền
của những người đi xuất
khẩu lao động, đi học tập,
hội thảo, làm việc ngắn ngày
mang về.
Số liệu thống kê của Ngân
hàng Nhà nước cho thấy,
lượng kiều hối chuyển về
nước ta các năm gần đây
không ngừng tăng lên như
sau: năm 1991: 35 triệu USD;
1992: 136,6 triệu USD; 1993:
140,98 triệu USD; 1994:
249,47 triệu USD; 1995:
284,96 triệu USD; 1996:
468,99 triệu USD; 1997: 400
triệu USD; 1998: 950 triệu
USD; 1999: 1.200 triệu USD;
2000: 1,757 triệu USD; 2001:
1.820 triệu USD; 2002: 2.150
triệu USD; năm 2003: 2.580
triệu USD và 9 tháng đầu
năm 2004 ước tính khoảng
2,1 tỷ USD. Đó là con số
thống kê được qua hệ thống
ngân hàng, chưa kể ngoại
hối được chuyên ngoài
luồng, ngoại tệ tiền mặt
người Việt Nam và Việt kiều
mang trực tiếp theo người
khi nhập cảnh.
- Lượng khách quốc tế đến
Việt Nam cũng tăng nhanh,
năm 1996 mới là 1,607 triệu
lượt người; năm 1997 là
1,715 triệu;...; năm 2002 là
2,628 triệu;...; và trong 9
tháng đầu năm 2004 đạt gần
2,9 triệu lượt người. Số
lượng khách đó mang theo
một số lượng lớn ngoại tệ,
và chi tiêu bằng ngoại tệ tiền
mặt tại các cơ sở tư nhân.



3. Những tác động của
đô la hoá

Tình trạng "đô la hoá" nền
kinh tế có tác động tích cực
và tác động tiêu cực.
a. Những tác động tích cực:
- Tạo một cái van giảm áp
lực đối với nền kinh tế trong
những thời kỳ lạm phát cao,
bị mất cân đối và các điều
kiện kinh tế vĩ mô không ổn
định. Do có một lượng lớn đô
la Mỹ trong hệ thống ngân
hàng, sẽ là một công cụ tự
bảo vệ chống lại lạm phát và
là phương tiện để mua hàng
hoá ở thị trường phi chính
thức.
Ở các nước đô la hoá chính
thức, bằng việc sử dụng
đồng ngoại tệ, họ sẽ duy trì
được tỷ lệ lạm phát gần với
mức lạm phát thấp làm tăng
sự an toàn đối với tài sản tư
nhân, khuyến khích tiết kiệm
và cho vay dài hạn. Hơn
nữa, ở những nước này
ngân hàng trung ương sẽ
không còn khả năng phát
hành nhiều tiền và gây ra
lạm phát, đồng thời ngân
sách nhà nước sẽ không thể
trông chờ vào nguồn phát
hành này để trang trải thâm
hụt ngân sách, kỷ luật về
tiền tệ và ngân sách được
thắt chặt. Do vậy, các
chương trình ngân sách sẽ
mang tính tích cực hơn.
- Tăng cường khả năng cho
vay của ngân hàng và khả
năng hội nhập quốc tế. Với
một lượng lớn ngoại tệ thu
được từ tiền gửi tại ngân
hàng, các ngân hàng sẽ có
điều kiện cho vay nền kinh
tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn
chế việc phải vay nợ nước
ngoài, và tăng cường khả
năng kiểm soát của ngân
hàng trung ương đối với
luồng ngoại tệ. Đồng thời,
các ngân hàng sẽ có điều
kiện mở rộng các hoạt động
đối ngoại, thúc đẩy quá trình
hội nhập của thị trường
trong nước với thị trường
quốc tế.
- Hạ thấp chi phí giao dịch.
Ở những nước đô la hoá
chính thức, các chi phí như
chênh lệch giữa tỷ giá mua
và bán khi chuyển từ đồng
tiền này sang đồng tiền
khác được xoá bỏ. Các chi
phí dự phòng cho rủi ro tỷ
giá cũng không cần thiết,
các ngân hàng có thể hạ
thấp lượng dự trữ, vì thế
giảm được chi phí kinh
doanh.
- Thúc đẩy thương mại và
đầu tư. Các nước thực hiện
đô la hoá chính thức có thể
loại bỏ rủi ro cán cân thanh
toán và những kiểm soát
mua ngoại tệ, khuyến khích
tự do thương mại và đầu tư
quốc tế. Các nền kinh tế đô
la hoá có thể được, chênh
lệch lãi suất đối với vay nợ
nước ngoài thấp hơn, chi
ngân sách tiảm xuống và
thúc đẩy tăng trưởng và
đầu tư.
- Thu hẹp chênh lệch tỷ giá
trên hai thị trường chính
thức và phí chính thức. Tỷ
giá chính thức càng sát với
thị trường phi chính thức,
tạo ra động cơ để chuyển
các hoạt động từ thị trường
phi chính thức (bất hợp
pháp) sang thị trường chính
thức (thị trường hợp pháp).
b. Những tác động tiêu cực:
- Ảnh hưởng đến việc hoạch
định các chính sách kinh tế
vĩ mô. Trong một nền kinh
tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn,
việc hoạch định các chính
sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt
là chính sách tiền tệ sẽ bị
mất tính độc lập mà chịu
nhiều ảnh hưởng bởi diễn
biến kinh tế quốc tế, nhất là
khi xẩy ra các cuộc khủng
hoảng kinh tế.
- Làm giảm hiệu quả điều
hành của chính sách tiền tệ :
• Gây khó khăn trong việc
dự đoán diễn biến tổng
phương tiện thanh toán, do
đó dẫn đến việc đưa ra các
quyết định về việc tăng
hoặc giảm lượng tiền trong
lưu thông kém chính xác và
kịp thời.
• Làm cho đồng nội tệ nhậy
cảm hơn đối với các thay đổi
từ bên ngoài, do đó những
cố gắng của chính sách tiền
tệ nhằm tác động đến tổng
cầu nền kinh tế thông qua
việc điều chỉnh lãi suất cho
vay trở nên kém hiệu quả.
• Tác động đến việc hoạch
định và thực thi chính sách
tỷ giá. Đô la hoá có thể thực
thi chính sách tỷ giá. Đô la
hoá có thể làm cho cầu tiền
trong nước không ổn định,
do người dân có xu hướng
chuyển từ đồng nội tệ sang
đô la Mỹ, làm cho cầu của
đồng đô la Mỹ tăng mạnh
gây sức ép đến tỷ giá.
Khi các đối thủ cạnh tranh
trên thị trường thế giới thực
hiện phá giá đồng tiền, thì
quốc gia bị đô la hoá sẽ
không còn khả năng để bảo
vệ sức cạnh tranh của khu
vực xuất khẩu thông qua
việc điều chỉnh lại tỷ giá hối
đoái.
• Ở trong các nước đô la hoá
không chính thức, nhu cầu
về nội tệ không ổn định.
Trong trường hợp có biến
động, mọi người bất ngờ
chuyển sang ngoại tệ có thể
làm cho đồng nội tệ mất giá
và bắt đầu một chu kỳ lạm
phát. Khi người dân giữ một
khối lượng lớn tiền gửi bằng
ngoại tệ, những thay đổi về
lãi suất trong nước hay
nước ngoài có thể gây ra sự
chuyển dịch lớn từ đồng tiền
này sang đồng tiền khác
(hoạt động đầu cơ tỷ giá).
Những thay đổi này sẽ gây
khó khăn cho ngân hàng
trung ương trong việc đặt
mục tiêu cung tiền trong
nước và có thể gây ra
những bất ổn định trong hệ
thống ngân hàng.
Trường hợp tiền gửi của dân
cư bằng ngoại tệ cao, nếu
khi có biến động làm cho
người dân đổ xô đi rút ngoại
tệ, trong khi số ngoại tệ này
đã được ngân hàng cho vay,
đặc biệt là cho vay dài hạn,
khi đó ngân hàng nhà nước
của nước bị đô la hoá cũng
không thể hỗ trợ được vì
không có chức năng phát
hành đô la Mỹ.
- Chính sách tiền tệ bị phụ
thuộc nặng nề vào nước Mỹ.
Trong trường hợp đô la hoá
chính thức, chính sách tiền
tệ và chính sách lãi suất của
đồng tiền khi đó sẽ do nước
Mỹ quyết định. Trong khi các
nước đang phát triển và một
nước phát triển như Mỹ
không có chu kỳ tăng trưởng
kinh tế giống nhau, sự khác
biệt về chu kỳ tăng trưởng
kinh tế tại hai khu vực kinh
tế khác nhau đòi hỏi phải có
những chính sách tiền tệ
khác nhau.
- Đô la hoá chính thức sẽ
làm mất đi chức năng của
ngân hàng trung ương là
người cho vay cuối cùng của
các ngân hàng. Trong các
nước đang phát triển chưa
bị đô la hoá hoàn toàn, mặc
dù các ngân hàng có vốn tự
có thấp, song công chúng
vẫn tin tưởng vào sự an
toàn đối với các khoản tiền
gửi của họ tại các ngân hàng.
Nguyên nhân là do có sự bảo
lãnh ngầm của Nhà nước đối
với các khoản tiền này. Điều
này chỉ có thể làm được đối
với đồng tiền nội tệ, chứ
không thể áp dụng được đối
với đô la Mỹ. Đối với vác
nước đô la hoá hoàn toàn,
khu vực ngân hàng sẽ trở
nên bất ổn hơn trong
trường hợp ngân hàng
thương mại bị phá sản và sẽ
phải đóng cửa khi chức năng
người cho vay cuối cùng của
ngân hàng trung ương đã bị
mất.


4. Thực trạng đô la hoá
ở nước ta

Hiện tượng nền kinh tế Việt
Nam sử dụng rộng rãi đồng
đô la Mỹ trong giao dịch
buôn bán... bắt đầu được chú
ý đến từ năm 1988 khi các
ngân hàng được phép nhận
tiền gửi bằng đồng đô la.
Đến năm 1992, tình trạng đô
la hoá đã tăng lên mạnh với
hơn 41% lượng tiền gửi vào
các ngân hàng là bằng đô la
USD. Trước tình trạng này,
Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã cố gắng đảo ngược
quá trình đô la hoá nền kinh
tế và đã khá thành công khi
giảm mạnh mức tiền gửi bằng
USD vào các ngân hàng
xuống còn 20% vào năm
1996. Nhưng tiếp theo đó
cuộc khủng hoảng tài chính
châu Á đã khiến cho đồng
tiền Việt Nam giảm giá trị, và
Việt Nam lại tiếp tục chịu sức
ép của tình trạng đô la hoá.
Đến cuối năm 2001, tỷ lệ
đồng USD được gửi vào các
ngân hàng tăng lên đến
31,7%. Tỷ lệ này có xu
hướng giảm đáng kể trong
những năm tiếp theo, đến
năm 2003 còn 23,6% và 9
tháng đầu năm 2004 là 22%.
Đây là xu hướng tích cực,
cho thấy tình trạng đô la hoá
tài sản nợ trong hệ thống
ngân hàng thương mại đang
được kiềm chế một cách có
hiệu quả. Người dân đã có
niềm tin vào đồng tiền nội
địa nhiều hơn. Tuy nhiên về
số tiền gửi tuyệt đối bằng
đô la thì không ngừng tăng
lên, hiện nay đã đạt số 7 tỷ
USD. Con số này một mặt cho
thấy tiềm lực nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân mà hệ
thống ngân hàng có thể huy
động được cho đầu tư phát
triển kinh tế, những mặt
khác cũng đáng quan tâm ở
góc độ đô la hoá.
Trái với xu hướng biến đổi
của cơ cấu tiền gửi, tỷ trọng
dư nợ cho vay bằng đô la
Mỹ so với tổng dư nợ và
đầu tư của hệ thống ngân
hàng thương mại lại có xu
hướng tăng lên, cao hơn cả
tiền gửi đô la. Đặc biệt là tại
Thành phố Hồ Chí Minh, dư
nợ cho vay bằng đô la Mỹ
cuối tháng 9 năm 2004 đã
tăng gấp 2 lần số dư cuối
năm 2002.
Thông qua việc quan sát
niêm yết giá và bán hàng
hoá, dịch vụ thu ngoại tệ
hiện nay, quan sát giao dịch
mua bán ngoại tệ của dân cư
tại nhiều cửa hàng vàng bạc
quy mô lớn ở Hà Nội, thông
tin ghi nhận được từ các giao
dịch kinh tế ngầm... có thể
thấy mức độ sử dụng đô la
Mỹ trong xã hội nước ta rất
đáng quan tâm. Có thể nói
Việt Nam là một nền kinh tế
bị đô la hoá một phần. Tuy
vậy, mức độ chính xác của
đô la hoá là số liệu rất khó
xác định.Trong một số năm
khi lãi suất tiền gửi đồng đô
la ở các ngân hàng nước
ngoài ở mức cao, để sử dụng
những đồng tiền đô la mà
người dân đã gửi vào ngân
hàng, các ngân hàng trong
nước đã đem phần lớn
nguồn đô la gửi ra các ngân
hàng nước ngoài, chủ yếu là
ở Singapore và Hồng Công,
để kiếm lãi suất cao. Điều
này có tác động xấu bởi vì
những đồng đô la đó đã
không được sử dụng để đầu
tư trong nước.
Đến năm 1992, lãi suất đồng
đô la giảm mạnh, các ngân
hàng Việt Nam không còn thu
lời được từ các tài khoản ở
nước ngoài nên đành rút một
lượng lớn tiền về, con số đó
khoảng từ 3 đến 4 tỷ USD.
Lượng tiền gửi ở nước ngoài
giảm đi chỉ còn một nửa tính
đến thời điểm cuối năm 2003.
Sau khi rút tiền đô la từ
ngân hàng nước ngoài về,
các ngân hàng Việt Nam bắt
đầu cho các doanh nghiệp
trong nước vay bằng đồng
đô la để sinh lợi. Tính đến
cuối năm 2003, khoản tiền
được các ngân hàng cho vay
bằng đô la đã chiếm quá
nhiều 28%.
Nếu nhìn về hình thức bên
ngoài thì điều này có vè yên
ổn đối với các ngân hàng,
bởi vì họ nhận tiền gửi và
cho vay đều bằng ngoại tệ
nên có ít rủi ro. Nhưng nếu
xem xét kỹ, chúng ta nhận
thấy các doanh nghiệp đi
vay sẽ gặp khó khăn khi
đồng tiền Việt Nam bị giảm
giá. Các doanh nghiệp này
chủ yếu có doanh thu bằng
đồng Việt Nam, nhưng họ
phải trả nợ bằng đồng USD.
Họ phải đứng trước các rủi
ro về thay đổi tỷ giá giữa
đồng USD và đồng tiền Việt
Nam mà không có những
công cụ để phòng tránh rủi
ro.
Nếu đồng đô la tăng giá,
nhiều doanh nghiệp Việt Nam
sợ mất khả năng thanh toán
nợ. Khi đó các ngân hàng
chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng
và từ đó dẫn đến khủng
hoảng kinh tế.
Nhưng trong thời điểm hiện
tại, đang diễn ra tình trạng
đồng đô la Nỹ bị sụt giá
nhanh chóng. Tỷ giá hối đoái
của đô la với Euro trong 4
năm qua đã sụt giảm 40%,
riêng năm 2003 sụt giá 20%,
các nhà quan sát cho rằng
đồng đô la Mỹ còn tiếp tục
sụt giá với mức độ nghiêm
trọng hơn trong thời gian tới
vì các lý do sau: nước Mỹ
đang bị thâm hụt ngân sách
nặng nề (459 tỷ USD, bằng
3,8% tổng GDP của cả nước);
tổng số nợ của Chính phủ
Mỹ trong năm tài chính 2004
là 7.586 tỷ USD (bằng 67,3%
GDP cả nước) vượt quá mức
báo động quốc tế; thâm hụt
cán cân thanh toán vãng lai
năm 2003 tăng vọt lên đến
530,7 tỷ USD; lượng đầu tư
nước ngoài vào Mỹ giảm sút
nghiêm trọng, trong năm
2003 giảm 44,9% so với năm
2002. Những vấn đề trên đã
trở thành áp lực lớn làm cho
đồng đô la sụt giá. Đồng thời
mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với
thế giới A rập xấu đi, làm
cho một loạt nước xuất khẩu
dầu mỏ Trung Cận Đông đã
giảm bớt cất giữ và sử dụng
đô la, mà chuyển qua sử
dụng đồng Euro nhiều hơn
trong thanh toán quốc tế và
dự trữ ngoại tệ. Hơn nữa
Liên bang Nga và một số
nước khác cũng đã và đang
có hành động tương tự. Tất
cả những điều này gây thêm
sức ép đối với đồng đô la
Mỹ, làm tăng khả năng sụt
giá của đồng đô la.
Vấn đề đặt ra là nếu đồng
đô la Mỹ tiếp tục sụt giá
mạnh thì những thiệt hại gì
sẽ xẩy ra, giả sử mức sụt
giá là 20%, hệ quả tất yếu là
thu ngoại tệ về xuất khẩu
hàng hoá và dịch vụ tính
bằng đô la của tất cả các
nước trên thế giới đều bị
thiệt hại theo tỷ lệ tương
ứng. Ngoài ra, kim ngạch dự
trữ ngoại tệ và lượng vốn
FDI của tất cả các nước tính
bằng đô la cũng sẽ tự nhiên
hao hụt tương ứng. Vốn
liếng kinh doanh, tiền tiết
kiệm, tiền lương, quỹ hưu
trí, bảo hiểm, phúc lợi xã hội
tính bằng đô la của tất cả
mọi người có liên quan đều
phải chịu thiệt hại. Ngược lại,
các khoản phải trả về nhập
khẩu hàng hoá, dịch vụ
chưa thanh toán, các khoản
nợ vay nước ngoài bao gồm
tiền gốc và lãi chưa trả tính
bằng đô la đều mặc nhiên
được giảm bớt tương ứng
với tỷ lệ sụt giá của đồng đô
la.
Như vậy, việc sử dụng đồng
đô la như thế nào cho có
hiệu quả là một vấn đề vô
cùng phức tạp. Mặc dù những
cách ngân hàng đã sử dụng
đồng đô la cũng có một mặt
tích cực nào đấy, nhưng cần
phải có cách lựa chọn đúng
đắn hơn là thực hiện những
giải pháp kiềm chế và đẩy
lùi tình trạng đô la hoá, tiến
tới thực hiện trong nước chỉ
có một đồng tiền duy nhất
được lưu hành là đồng tiền
Việt Nam.
Trong thực tế, chúng ta thấy
rõ một số nền kinh tế thành
công không bị đô la hoá, như
tại Trung Quốc, các ngân
hàng không được phép
quyết định lãi suất tiền gửi
bằng đô la.
Thông thường đô la hoá diễn
ra khi đồng tiền của một
nước bị đánh giá là yếu kém,
và đồng đô la được coi là
phương tiện dự trữ có giá
trị. Tuy nhiên, không phải
bất cứ quốc gia nào có đồng
tiền yếu đều bị đô la hoá
trực tiếp. Nhiều nước trên
thế giới có nền kinh tế
tương tự Việt Nam như ở
Trung Quốc, Thái Lan,
Braxin... không cho phép
thanh toán các loại hàng hoá
dễ dàng bằng đồng đô la.
Chính việc cho phép sử dụng
gần như hợp pháp hoá đồng
USD tại Việt Nam để mua các
loại hàng hoá như bất động
sản, mặt hàng điện tử, xe
cộ, phí khách sạn... đã làm
tăng quá trình đô la hoá. Như
trên đã phân tích, nếu tình
hình không sớm được kiềm
chế và đẩy lùi, có khả năng
sẽ dẫn đến tình trạng khủng
hoảng tài chính vào một thời
điểm nào đấy, thật là vô
cùng nguy hiểm.



5. Một số giải pháp
kiềm chế và đẩy lùi tình
trạng đô la hoá ở nước
ta

Đô la hoá là tình trạng khó
tránh khỏi đối với các nước
có xuất phát điểm thấp,
đang trong quá trình chuyển
đổi nền kinh tế và đẩy mạnh
hội nhập quốc tế như Việt
Nam. Tâm lý lo ngại về lạm
phát, về sự mất giá của
đồng nội tệ, thói quen sử
dụng tiền mặt trong giao
dịch... không thể một sớm,
một chiều xoá bỏ hay giảm
triệt để được.
Quan điểm, chủ trương của
Đảng, Chính phủ và ngân
hàng Trung ương trong vấn
đề đô la hoá là rất rõ ràng:
xoá bỏ đô la hoá trong nền
kinh tế - xã hội nước ta phải
được thực hiện từng bước,
từng khâu thích ứng với
từng giai đoạn đổi mới, phát
triển của đất nước; phải
bằng nhiều giải pháp vừa
kinh tế, vừa hành chính kết
hợp với giáo dục pháp luật,
điều chỉnh tâm lý xã hội
trong lộ trình thực thi nhiều
cơ chế kinh tế nghiệp vụ
ngân hàng cụ thể nối tiếp
nhau, để nâng vị thế của
đồng tiền Việt Nam trong các
chức năng thuộc tính của
tiền tệ.
Nghị quyết IV của Ban chấp
hành Trung ương Đảng
(khoá 8) trong phần đề cập
những chủ trương chính
sách lớn, riêng trong lĩnh
vực tiền tệ - ngân hàng một
lần nữa khẳng định yêu cầu
"Đẩy nhanh tiến độ thực
hiện nguyên tắc trên đất
nước Việt Nam phải thanh
toán bằng tiền Việt Nam".
Việc xoá bỏ đô la hoá không
thể xử lý theo quan điểm
xoá bỏ sạch trơn, phủ định
tất cả. Trong giai đoạn hiện
nay cần cố gắng khai thác
mặt lợi, thu hút vốn đô la
trong dân vào hệ thống
ngân hàng, đầu tư cho các
dự án phát triển kinh tế -
xã hội. thị trường ngoại tệ
và hoạt động kinh doanh
tiền tệ ở nước ta đang hội
nhập với thị trường tiền tệ
quốc tế. Nói kiềm chế, đẩy
lùi và hạn chế các mặt tiêu
cực, có nghĩa là chúng ta
chấp nhận sự tồn tại của đô
la hoá ở những mặt tích cực
khách quan. Điều quan trọng
nhất là Nhà nước phải giữ
vai trò chủ động để điều
chỉnh hiện tượng đô la hoá;
nhất quyết phải có các giải
pháp hành chính - kinh tế -
giáo dục đồng bộ để triệt
tiêu các mặt tiêu cực của đô
la hoá. Chúng ta không thể
sử dụng lại các biện pháp
hành chính đã từng áp dụng
lại các biện pháp hành chính
đã từng áp dụng trong
những thời gian trước đây
như là: tăng tỷ lệ kết hối lên
100%, không cho nhận kiều
hối bằng ngoại tệ, không
nhận tiền gửi ngoại tệ hoặc
hạ thấp lãi suất tiền gửi
ngoại tệ, chỉ cho phép doanh
nghiệp được mở tài khoản
ngoại tệ tại một ngân hàng...
Những biện pháp hành chính
này qua thực tiến thực hiện
đã chứng tỏ là chúng gây
khó khăn cho các doanh
nghiệp, không khuyến khích
nguồn kiều hối chuyển về
nước, và không phù hợp với
xu hướng hội nhập với khu
vực và thế giới. Do đó, để
giữ được những mặt tích cực
và hạn chế những mặt tiêu
cực của đô la hoá, có thể
thực hiện một số giải pháp
sau đây:
(1) Tạo môi trường đầu tư
trong nước có khả năng hấp
thụ được số vốn ngoại tệ
hiện có trong dân bằng
những biện pháp :
• Thúc đẩy phát triển môi
trường kinh tế vĩ mô, tạo
môi trường cạnh tranh thực
sự giữa các thành phần kinh
tế trong cả sản xuất,
thương mại, dịch vụ và kể
cả lĩnh vực tài chính, ngân
hàng.
• Mở rộng các dự án đầu tư
của Chính phủ: dầu khí, cầu
đường, điện lực... khuyến
khích sự tham gia đầu tư của
các thành phần kinh tế.
• Phát triển các công cụ tài
chính như cổ phần, cổ
phiếu, trái phiếu, đa dạng
hoá các danh mục đầu tư
trong nước.
Thay cho dự kiến phát hành
trái phiếu ngoại tệ trên thị
trường quốc tế, bằng việc
mở rộng phát hành trái phiếu
ngoại tệ ở trong nước, huy
động vốn đô la ở trong dân.
(2) Những giải pháp trong
lĩnh vực tiền tệ
• Cần tiếp tục cơ cấu tích
cực mệnh giá đồng Việt Nam,
phát triển dịch vụ ngân hàng
và mở rộng thanh toán
không dùng tiền mặt trong
nền kinh tế. Đẩy mạnh tuyên
truyền về sử dụng thẻ, kể
cả thẻ tín dụng quốc tế.
• Thay cho việc chỉ gắn với
đồng đô la Mỹ như trước
đây, tỷ giá ngang giá nên
gắn với một "rổ" tiền tệ (bao
gồm một số ngoại tệ mạnh
như USD, EURO, JPY và một
số đồng tiền của các nước
trong khu vực như Trung
Quốc, Hàn Quốc...), các đồng
tiền này tham gia vào "rổ"
tiền tệ theo tỷ trọng quan hệ
thương mại và đầu tư với
Việt Nam. Việc xác định tỷ
giá như trên nhằm giảm bớt
sự lệ thuộc của đồng Việt
Nam vào đô la Mỹ, và phản
ánh xác thực hơn quan hệ
cung cầu trên thị trường
trên cơ sở có tính đến xu
hướng biến động các đồng
tiền của các nước bạn hàng
lớn.
• Các ngân hàng chỉ được
phép cho vay đồng USD đối
với những đối tượng có
doanh thu trực tiếp và có
khả năng chi trả bằng đồng
USD. Còn tất cả các dnb trong
nước khác vay các ngân
hàng thương mại trong nước
đều thực hiện bằng đồng
bản tệ, khi cần ngoại tệ để
thanh toán với quốc tế thì
mua ngoại tệ tại thị trường
hối đoái để mở LC thanh
toán.
• Không được duy trì quyền
sở hữu ngoại tệ không có
nguồn gốc hợp pháp. Cần có
quy chế rõ ràng rằng sở
hữu ngoại tệ của dân cư là
sở hữu ngoại tệ hợp pháp
chuyển từ nước ngoài vào;
không cho phép sở hữu số
ngoại tệ có được do sự trao
đổi lòng vòng ở chợ đen, rồi
biến số đó thành sở hữu
riêng.
• Sử dụng các công cụ của
chính sách tiền tệ (như lãi
suất, dự trữ bắt buộc...) để
tác động đến điều kiện thị
trường nhằm làm cho đồng
Việt Nam hấp dẫn hơn đô la
Mỹ. Qua đó hạn chế xu
hướng chuyển đổi từ đồng
Việt Nam sang đô la Mỹ.
Trong điều kiện hiện nay, lãi
suất cơ bản không thay đổi,
Ngân hàng Nhà nước có thể
thực hiện điều chỉnh tăng lãi
suất tái cấp vốn và lãi suất
tái chiết khấu nhằm phát tín
hiệu để các ngân hàng
thương mại tăng lãi suất huy
động đồng Việt Nam.
(3) Cần nhất quán chủ
trương quản lý lưu hành
ngoại tệ theo hướng "Trên
đất nước Việt Nam chỉ chi
trả bằng đồng Việt Nam".
Muốn vậy, cần có các quy
định về việc sử dụng ngoại
tệ của cá nhân như sau:
• Chi trả bằng ngoại tệ ở
Việt Nam, bao gồm tiền mặt
hay chuyển khoản cũng
không được phép, trừ duy
nhất trường hợp trả chuyển
khoản cho các tổ chức kinh
doanh được Ngân hàng Nhà
nước cho phép tiếp tục thu
ngoại tệ.
Việc chi trả cho người hưởng
trong nước các khoản tiền
như kiều hối, tiền lương, thu
nhập từ xuất khẩu lao
động... bằng ngoại tệ tiền mặt
theo yêu cầu cũng nên chấm
dứt. Việc này chỉ thực hiện
bằng tài khoản tiền gửi ngoại
tệ hoặc chi trả bằng tiền Việt
Nam.
• Cá nhân có tài khoản ngoại
tệ gửi tại ngân hàng thương
mại chỉ rút ra bằng tiền mặt
ngoại tệ để cất giữ riêng
hoặc để đưa đi nước ngoài
chi tiêu.
• Ngăn chặn và giảm dần các
hoạt động kinh tế ngầm,
kiểm soát chặt chẽ tình trạng
buôn lậu, tình trạng bán
hàng thu ngoại tệ trong
nước. Cần có biện pháp hạn
chế đến mức tối đa việc lưu
thông và sử dụng đô la Mỹ,
niêm yết giá bằng đô la Mỹ
trên thị trường Việt Nam.
Quá trình kiềm chế và đẩy
lùi tình trạng đô la hoá thành
công là một tiền để cần thiết
để Việt Nam có được một cơ
chế tỷ giá hối đoái linh hoạt
hơn. Với sự mở cửa của khu
vực tài chính trong những
năm tới. và sự tự do hoá
giao dịch tài khoản vốn, việc
đạt được mục tiêu kiềm chế
và đẩy lùi tình trạng đô la
hoá là việc làm rất khó khăn.
Muốn làm được cần phải có
thời gian và có quyết tâm
cao. Điều quan trọng là
những mặt tích cực mang lại
lợi ích của hiện tượng đô la
hoá trên thị trường Việt Nam
không bị xoá bỏ, nó tồn tại
đan xen trong cơ chế thị
trường mở cửa và hội nhập,
được sử dụng như một giải
pháp bổ sung trong chính
sách tiền tệ tích cực của đất
nước trong giai đoạn mới,
còn những mặt tiêu cực của
đô la hoá thì cần phải được
kiềm chế, đẩy lùi và xoá bỏ.
February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28