Thursday, 17. July 2008, 06:41:19
Theo cách này, sau 1 ngày mình đã có 1 con acc MegaUpload (RS thì có rùi)
Đầu tiên bạn vào link sau đây để đăng ký:
http://premiumforfree.com/index.php?referral=258782Sau khi đăng ký xong bạn vào mail của mình để kích hoạt tài khoản.
Kế tiếp bạn sẽ gửi 5 link trong tài khoản của bạn để người ta đăng ký.Khi đủ 5 người đăng ký thì tài khoản của bạn sẽ được hoàn thiện.
Bây giờ thì bạn có thể dùng OK.
Sunday, 13. July 2008, 17:55:36
Giao diện của trang web (đăng ngày 21/6/2008) có đủ 4 câu toán giống y đúc các câu hỏi của đề thi tuyển sinh ĐH môn Toán đợt I vừa qua (sáng 4/7). Có điều, đề thi lại “sinh sau đẻ muộn” đến hơn 10 ngày!
Chuyện xảy ra tại một lớp học (tại Đồ Sơn, Hải Phòng) dành cho giáo viên cốt cán môn Toán lớp 12 của 32 tỉnh , thành phố phía Bắc, do các Tổng chủ biên, Chủ biên, tác giả bộ sách giáo khoa (SGK) chuẩn mới, đang giảng dạy cho các học viên về phương pháp giảng dạy, nội dung của SGK mới... để chuẩn bị cho việc thay sách lớp 12 trong năm học sắp tới.
GS Văn Như Cương bức xúc kể với phóng viên báo Tiền phong:
Chúng tôi là tập thể các giáo sư, tác giả sách đang tập huấn cho giáo viên cốt cán, đang ra sức nói về cái hay cái đẹp của SGK mới, chiều 6/7, khi giảng bài, tôi lấy đề thi tuyển sinh môn Toán của kỳ thi 2008 để làm ví dụ cho các học viên về việc không nên ra đề thi đánh đố học sinh như thế thì một học viên là giáo viên của một tỉnh giơ tay xin phát biểu:
“Thưa thầy, đề thi thầy vừa nói đúng i-xì các câu hỏi ở trên mạng mà em đã biết từ trước”.
Câu nói của học viên này khiến tôi ngạc nhiên, tôi vặn lại học trò: “Anh nói thế nào chứ, đây là đề thi ĐH vừa có xong”.
“Thưa thầy, không phải 1 câu đâu ạ, mà tới 4 câu. Em luyện thi và từ ngày 21/6 đến 2/7 em luôn lên mạng lấy các bài toán ra luyện thi cho học sinh”- học viên nọ khẳng định.
Để chứng minh, học viên này còn kể cho giáo sư Văn Như Cương rằng, chiều 4/7 khi học viên kể trên đến đây để học về SGK mới thì học trò của anh đã gọi điện thoại và khoe:
“Thầy ơi trúng rồi, 4 bài, bọn em trúng hết. Học viên nọ còn đưa ra chiếc USB ghi đầy đủ “tang chứng vật chứng”:
Giao diện của trang web (có ngày, giờ đăng lên mạng thông tin này); đủ 4 câu toán giống y đúc các câu hỏi của đề thi tuyển sinh môn Toán “sinh sau đẻ muộn” so với các bài này mãi đến hơn 10 ngày!
Khi GS Văn Như Cương và các GS, PGS khác gọi điện thoại về Hà Nội nhờ kiểm chứng thì được biết, các trang đó đã bị “kéo” xuống hết.
Khi phóng viên báo Tiền phong đến Đồ Sơn, nơi khóa tập huấn đang diễn ra, thì các GS, PGS đã đứng đợi với vẻ nôn nóng và bức xúc. Có vài vị còn chỉ cho xem những chiếc USB mới toanh vừa mua tại Đồ Sơn chỉ để “cóp-pi” tang chứng vật chứng lại giữ làm chứng cho vụ việc.
“Đương sự” là giáo viên trẻ, kể với phóng viên Tiền phong:
“Chiều 4/7, khi tôi đang học ở đây và còn chưa biết đề thi ĐH thế nào thì một học sinh của tôi gọi điện báo: Có 4 bài toán ở trên mạng giống đúc đề thi rồi.
Một người bạn khác cũng gọi điện và bảo tôi: “Có kịch hay để xem rồi, mấy bài thi đã có sẵn bài ở trên mạng từ trước rồi”.
Tôi không tin và nhờ bạn cóp-pi hộ trên mạng, đủ giao diện, đủ cả thời gian. “Và các file đó đây”. Nói đoạn, giáo viên trẻ đã trao cho Tiền phong các file mà anh có được.
Phóng viên Tiền phong đã nhờ giáo viên này gọi điện cho người học sinh đã thông báo cho thầy mình về việc 4 bài thi trên mạng; người học trò này đã khẳng định qua điện thoại, 4 bài đó có hết trên diễn đàn từ trước và hiện nay trên trang đó có mấy chục trang bàn luận từ lúc thông tin này xuất hiện.
Được biết, trang web này là do một người có nick là Nguyễn Phú Khánh lập và là diễn đàn chung cho giới Toán học, nơi các thầy trò trao đổi với nhau về những bài toán, những vấn đề khó của Toán học, nơi các thầy giáo ở xa không có thông tin thường lấy những bài toán hay để dạy cho học trò và học trò, khi có bài khó thường gửi đến để hỏi các thầy và thầy giải giúp.
Vậy đề thi môn Toán tuyển sinh vào ĐH, CĐ khối A có phải đã bị lộ hay không? Đề nghị Bộ GD&ĐT trả lời câu hỏi này trước công luận vì vấn đề này đã lan rộng.
GS Văn Như Cương:
Tôi nghi đề thi đã bị lộ từ trước đó
Đây là trang web của một cá nhân và đã trở thành diễn đàn của giới học Toán từ nhiều năm nay. Tôi nghi đề thi đã bị lộ từ trước đó.
4 câu khó, có thể người có được đề đã không giải được, không dám hỏi một cá nhân vì sợ lộ diện nên hỏi trên mạng cho an toàn và thầy giải giúp thì không biết nên cứ vô tư dán lên.
Nguyên Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội Vũ Tuấn:
Cần phải xử lý nghiêm nếu chuyện lộ đề có thật!
Tôi phẫn nộ vì nhiều tiêu cực trong thi cử diễn ra nhiều năm qua, nhưng chưa bao giờ được chứng kiến một cách chấn chỉnh đáng tin cậy và lần này chúng tôi hy vọng Bộ GD&ĐT có được bài học để chấn chỉnh.
Tiện đây, tôi muốn nói về sự kiện đã xảy ra năm 1949 kỳ thi tốt nghiệp Thành Chung cuối cùng ở khu vực kháng chiến, đề thi bị lộ. Lúc đó tôi mới học đệ tam. Khi đã xác định được việc lộ đề, Chính phủ Cụ Hồ đã bắt một số người dính dáng đến việc làm lộ đề thi phải đi tù. Toàn bộ kỳ thi đó bị hủy bỏ.
Hy vọng lần này Bộ GD&ĐT sẽ nghiêm túc xem xét và kỷ luật nghiêm nếu chuyện lộ đề là có thật.
GS Cấn Văn Tuất, tác giả bộ SGK chuẩn, nguyên giảng viên ĐHSP:
Vì sao phải “kéo” xuống để phi tang?
Chuyện lộ đề có nhiều lần rồi; ví dụ có những năm, đêm trước khi thi cả Hà Nội náo loạn chuyện đề đã lộ nhưng chưa bao giờ có bằng chứng đây là lần duy nhất có giấy trắng mực đen.
Có xấu xa anh mới muốn phi tang chứ nếu không vì sao phải xóa các trang đã đăng trước đó?
PGS Trần Văn Hạo, Tổng chủ biên bộ SGK chuẩn:
Cần phải giải quyết một cách nghiêm túc
Việc lộ đề thi là nghiêm trọng, tác động đến toàn thể các bậc phụ huynh, hàng triệu học sinh các thầy cô giáo và toàn xã hội. Lần này cần giải quyết một cách nghiêm túc để tạo lòng tin cho nhân dân.
PGS Nguyễn Mộng Hy, ĐHSP TP HCM:
Lại phải nói thêm: “Nói không với lộ đề thi!”
Đây là chuyện bất ngờ vì tôi cứ tưởng thi cử thì phải nghiêm túc chứ? Tôi rất thất vọng mong rằng Nhà nước xử lý việc này một cách nghiêm túc và lần này chúng ta lại thêm một lần nói không nữa là: “Nói không với lộ đề thi!”.
http://www.imageox.com/image/294064-163044.jpeghttp://www.imageox.com/image/294065-163052.jpeghttp://www.imageox.com/image/294063-162930.jpeg
Sunday, 13. July 2008, 10:09:16
Dù trong thời đại nào, dù phương Đông hay phương Tây thì gia đình vẫn luôn luôn là nền tảng của xã hội. Trong khoa Tử Vi Đẩu Số gia đình được thể hiện qua hai cung Phu Thê và Tử Tức. Hai cung này nói lên những vấn đề vợ chồng, con cái của mỗi người. Chúng ta vẫn thường nghe câu: “Sau lưng một người đàn ông thành công là một người đàn bà đảm đang tài giỏi.” Có phải vì vậy mà cung Phu Thê của người đàn ông có tầm quan trọng không kém gì hai cung chính là Quan Lộc và Tài Bạch?
Còn đối với phụ nữ thì cung Phu Thê lại càng quan trọng hơn. Sự đánh giá này rất hợp lý với thời phong kiến xa xưa. Trong xã hội phong kiến, người đàn bà chỉ là cái bóng mờ, hầu như không có những sinh hoạt nào ngoài xã hội. Và cuộc đời của họ như thế nào cũng do cung Phu Thê của họ định đoạt mà thôi. Thật đúng với ý nghĩa “xuất giá tòng phu” Ngày nay, người đàn bà đã ra ngoài xã hội, đã có vai trò và vị trí không thua kém gì người đàn ông. Nhưng dù sao, đối với quan niệm của người Á Đông chúng ta thì không phải vì vậy mà sự quan trọng của cung Phu Thê bị giảm đi. Trong thực tế hai chữ “gia đạo” lúc nào cũng là nền tảng của cuộc sống con người trong bất cứ thời đại nào hay xã hội nào.
Điều này chúng ta sẽ thấy rõ ràng và đậm nét trong mẫu người Thân cư Phu Thê. Những người sanh vào giờ Tỵ (từ 9am tới 11am) hoặc giờ Hợi (từ 9pm tới 11 pm) thì Thân sẽ nằm vào cung Phu Thê. Người ta cho rằng rằng ông có Thân cư Phu Thê là số được nhờ vợ và nể vợ. Đàn bà có Thân cư Phu Thê là số nhờ chồng và nể sợ chồng. Điều này không đúng, chúng ta sẽ bàn đến sau. Mẫu người Thân cư Phu Thê có nhiều nét đặc biệt, nhất là trên lãnh vực tình cảm. Người Thân cư Phu Thê thường gặp người chồng/vợ mình trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Họ gặp nhau và có tình cảm với nhau như đã quen biết nhau từ kiếp trước, nay lại gặp nhau để xây tiếp lâu đài tình ái còn đang dang dở, hoặc trả tiếp cho xong cái duyên nợ chưa tròn, tùy theo lá số của mỗi người. Từ nét đặc biệt đó mà người Thân cư Phu Thê có một cuộc sống ràng buộc nhau rất mật thiết. Sự ràng buộc chặt chẽ này có thể do từ tình cảm tốt đẹp mà họ có được, nhưng cũng có thể là vì hoàn cảnh mà họ phải chịu trói buộc với nhau. Hình ảnh bị trói buộc với nhau vì hoàn cảnh điển hình nhất mà chúng ta đã thấy trong thời gian trước đây đó là hình ảnh của cựu Tổng Thống Bill Clinton. Dù đang gặp một hoàn cảnh đắng cay, hay có thể nói là “còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi” Nhưng họ vẫn ở bên nhau, xuất hiện bên nhau trên truyền hình, trước công chúng đễ diễn tiếp cho xong vở tuồng mà họ phải diễn. Nói một cách khác, trong lĩnh vực tình cảm, người Thân cư Phu Thê thường có một cuộc sống khăng khít với nhau, cho dù trong những trường hợp cuộc sống không được hạnh phúc hay gặp những hoàn cảnh ngang trái, dường như có một sợi dây vô hình nào đó cứ buộc chặt họ lại với nhau, không chia ly dễ dàng như những người khác. Ngoài sự ràng buộc trong vấn đề tình cảm, người Thân cư Phu Thê còn có sự ràng buộc trong lãnh vực nghề nghiệp. Hầu hết họ và vợ/chồng của họ là những người làm cùng ngành nghề hay cùng chung một cơ sở thương mại với nhau.
Có thể không cùng nghề nghiệp nhưng công việc của hai người luôn có sự liên hệ và hợp tác hổ trợ cho nhau. Ngoài ra, người Thân cư Phu Thê thường có thêm một nghề tay trái nữa. Nghề tay trái này lúc đầu chỉ như một cái thú tiêu khiển của đương số, hoặc cũng có thể như một nghiệp mà họ phải theo đuổi. Dần dần có thể trở thành một lãnh vực sinh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của họ. Cũng có một số người thành công, thành danh bởi nghề tay trái này hơn là nghành nghề chính của họ. Bây giờ chúng ta có thể trở lại với hai nghi vấn mà chúng ta đã đề cập lúc mở đầu: 1. Có phải những người Thân cư Phu Thê là có số nhờ chồng/vợ hay không? Đối với người Á Đông chúng ta thì chuyện “xuất giá tòng phu” là một quan niệm bình thường.
Do đó, nếu một người đàn bà có số Thân cư Phu Thê mà cuộc đời phải nương tựa vào chồng của mình thì đó là một điều hợp tình hợp lý. Nhưng đối với nam giới, nhất là trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, một người đàn ông có Thân cư Phu Thê là bị phán ngay là số nhờ vợ thì cũng tội nghiệp cho đương số. Để giải đoán cho phân minh, chúng ta phải cân nhắc giữa cung Phu Thê và cung Mệnh của đương sự. Chẳng hạn, người có Thân cư Phu Thê, nếu Mệnh của đương số yếu hơn cung Phu Thê (Mệnh nhược Thê cường) có nghĩa là người vợ của đương số có khả năng hơn chồng về mọi mặt từ trong nhà cho đến những giao tiếp ngoài xã hội. Như vậy chúng ta có thể nghĩ rằng những gì tạo dựng nên trong cuộc sống chung của hai người thì phần lớn đều do tay của người vợ. Đối với người đàn bà có Thân cư Phu Thê, vì bối cảnh xã hội ngày nay có khác, hai chữ “tòng phu” không còn nữa cho nên chúng ta cũng phải cân nhắc như vậy. Ngược lại nếu cung Mệnh của đương số tốt đẹp, sáng sủa hơn cung Phu Thê (Mệnh cường, Thê nhược) thì đây không phải là số nhờ chồng/vợ. Trường hợp này thông thường thì hai người cùng làm chung một ngành nghề hay cùng chung một cơ sở làm ăn, họ cùng góp sức tạo dựng với nhau trong cuộc sống chung, dĩ nhiên họ cũng có những sự ràng buộc chặt chẽ với nhau như đã bàn ở trên. 2.
Có phải người Thân cư Phu Thê là số nể, sợ vợ/chồng hay không? Để trả lời vấn đề này, chúng ta cũng phải cân nhắc vấn đề mạnh và yếu giữa cung Mệnh và cung Phu Thê của đương số. Nếu Mệnh nhược Phu cường thì phải nể, sợ chồng là điều đương nhiên rồi. Chẳng hạn, lá số của một ông chồng có bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương thủ Mệnh, là bộ sao tiêu biểu cho văn cách nhưng cung Phu Thê lại có bộ sao Sát Phá Liêm Tham là biểu tượng cho võ cách. Trường hợp này việc điều hành từ trong ra ngoài cũng nhu vai trò chánh yếu trong gia đình đều do người vợ một tay thao túng hết. Điều này chúng ta cũng thấy rõ những đấng mày râu tuy cung Mệnh không thua kém gì cung Phu Thê nhưng cung Phu Thê lại có các sao như Thái Âm, Hóa Quyền tọa thủ hoặc hợp chiếu thì đấy cũng là hội viên cùng hội với Thúc Sinh rồi.
Monday, 30. June 2008, 18:30:08
I. Một số khái niệm cơ bản:
1. Bóng là gì (khái niệm này chắc thằng nào cũng biết)
1 có bóng là 6
2 có bóng là 7
3 có bóng là 8
4 có bóng là 9
5 có bóng là 0
2. Vòng lặp âm dương ngũ hành (cái này có thật, không phải made in Tự tui):
ở đây chỉ cần quan tâm đến sự Tương sinh:
Kim = 2 Mộc = 5 Hỏa = 3 Thủy =1 Thổ = 4
Như vậy, chiếu theo bóng ta có : Kim=7 Mộc=0 Hỏa=8 Thủy=6 Thổ=9
Kim -> Mộc -> Hỏa -> Thủy -> Thổ -> Kim
tức là : 2->5->3->1->4->2 và 7->0->6->9->7
3. 2 số cuối của giải đặc biệt:
VD: giải đặc biệt là 09846 -> 2 số cuối là 46
4. Tổng của giải đặc biệt :
Vn: giải đặc biệt là 12536 -> tổng = 1+2+5+3+6 = 17
II. Cách tính:
Ta xét kết quả trong 2 hôm để đánh hôm thứ 3.
Giả sử ngày Đầu ( ngày thứ nhất) có 2 số cuối là 58 -> ta suy ra ngày thứ 3 sẽ có 36 ( vì 5->3 ; 6 )
VD cụ thể hơn : hôm nay Đề về 32 -> ngày kia sẽ có lô 15 ( vì 3->1 ; 2->5)
Tuy nhiên, cách tính này chỉ tương đối chính xác với các giải đặc biệt ngày thứ Nhất có tổng từ 20 -> 30.
# Để tiện cho việc trình bày, tôi sẽ đưa ra một số quy định:
gọi Đề ngày 1 = MN
Đề ngày 2 = CD
Lô ngày 3 (dự đoán được) = AB
trong cùng một số thì A, B là khác nhau. Nhưng ở 2 ngày khác nhau thì có thể giống nhau
vd : MN = 35 ( 3#5) CD = 39 ( 3#9, C=M) , xin nhớ ở đây là CD chưa có quan hệ gì với nhau.
Sau đây ta sẽ đi vào từng ngày cụ thể :
1. Tổng giải đặc biệt = 20 ; 25
Ngày 1 có Đề = MN -> Lô ngày 3 = AB. Đánh BA
2. Tổng đb= số chẵn ( 22, 24, 26,28)
ngày 1 đề= MN -> dự đoán Lô ngày 3= AB
lấy 10-B= I , giữ nguyên A. Đánh AI
3. Tổng = số lẻ và 30 (21, 23, 29, 30)
ngày 1 để = MN -> dự đoán Lô ngày 3 = AB. Đánh AB
Một số trường hợp đặc biệt :
1. Đề ngày 1 = MN -> lô ngày 3 là AB. Đề ngày 2 là CD. Mà MN -> CD ( MN suy ra CD tương tự như MN-> AB)
tức là ở đây AB=CD ( kết quả ngày 2 = với lô dự tính ngày 3)
Đánh BA
2. Đề ngày 1 -> lô ngày 3 là AB. Tổng ngày 2 = xy -> AB
Đánh BA
vd: đề ngày 1 = 35 -> lô ngày 3 = 13. Nhưng tổng ngày 2 cũng = 35 -> 13 => ngày 3 đánh lô 31
3. Đề ngày 1 = MN -> lô dự đoán ngày 3 = AB. Đề ngày 2= CD. Mà C= M+x, D=N+x ( x là số âm hoặc dương)
Đánh BA
4. Một cách tìm khác có áp dụng phương pháp này :
Nếu kết quả ngày 1 có CD 2 nháy, CE 1 nháy, với E là bóng của D => lô ngày thứ 3 có thể được suy ra từ CE.
VD: ngày 1 có lô 35 là 2 nháy, lô 30 có một phát -> lô ngày thứ 3 = 18 ( vì 3->1 ; 0->8)
Đặc biệt : nếu ngày 1 có 2 con thỏa mãn điều kiện như vậy -> lô ngày 3 dự đoán được 2 con. Xếp con thấp trong 2 con đó lên trước ( vd HI , TU vì HI< TU) , lấy đầu 2 con đó ghép vào nhau ( được HT) => Đánh HT
III. Một số trường hợp không thỏa mãn (tức là không nên đánh khi có các điều kiện sau xảy ra)
1. Nếu dự đoán đc Lô ngày 3 là AB. Đề ngày 2 về CD -> AB, BA ( hoặc bóng của AB, BA)
<=> Đề ngày 1 và 2 là bóng của nhau. Không nên đánh.
VD: Đề ngày 1 là 37 -> Lô ngày 3 là 10. Nhưng Đề ngày 2 về 28 -> 56 (bóng là 01) => Không Đánh
2. Nếu dự đoán đc Lô ngày 3 là AB. Tổng Đặc biệt ngày 2= AB hay BA ( hoặc bóng AB, BA). Không nên đánh.
3. Nếu dự đoán đc Lô ngày 3 là AB. Nhưng Đề ngày 2 = AB hay BA (hoặc bóng AB, BA). Không nên đánh.
4. Tổng Đặc biệt = 27 => Không nên đánh.
5. Từ kết quả ngày 1 -> Lô ngày 3 là AB. Từ kết quả ngày 2 -> Lô ngày 4 là AB, BA (hoặc bóng AB, BA). Không nên đánh.
IV. Các cầu tính lô
Cầu 1: Giải đặc biệt
ví dụ ngày 16/08/2007 là 82714
thì lô ngày 17/08/2007 sẽ là các cặp số sau
282-272-171(tương ứng với các số liên tiếp gần nhau) đôi khi có cả cầu bệt là 141
Cầu 2: cầunày tổng hợp luôn cả 2 cầu là cầu ngày chính số và cầu kế tiếp của cầungày!ví dụ hôm nay là ngày 17 thì cầu kế sẽ là ngày 18)
Cầu ngày:1 tháng có từ 28 đến 31 ngày
cầu tương ứng sẽ là từ ngày mùng 1 là 01-10------->02-20 cuối cùng của tháng sẽ là 31-13
cầu kế:cầu kế sẽ tính là trước 1 ngày ví dụ
cầu ngày hôm nay là 171 thì cầu kế sẽ là 181
Cầu 3: cầu kẹp số,cầu trên dưới gộp lại
Dùng cho tất cả các số kẹp ở các giải. Có nhiều kiểu kẹp số
Ví dụ:Kết quả ngày 16/08/2007
Giải đặc biệt
82714
Giải nhất
35922
Giải nhì
32023 76374
Giải ba
58408 55868 92950 68006 59803 97127
Giải tư
5573 6589 5758 7315
Giải năm
5347 3947 7237 6285 3502 1949
Giải sáu
823 037 733
Giải bẩy
16 99 71 12
1.con thứ 2 của giải thứ 2 của giải 4 và con cuối cùng của giải thứ 4 là con kép 55
2.con cuối cùng của giải 6 và con đầu tiên của giải 7 là con 131
3. con thứ 3 của giải thứ 2 của giải 6 và con thứ 2 của giải thứ 3 của giải 7 là con 171
4. con cuối cùng của giải 6 và con cuối cùng của giải 7 là con 232
Cầu 4:được tính theo bóng
bóng số của lô tô có 2 loại
1.Bóng Dương:0-5.1-6.2-7.3-8.4-9(và ngược lại)
2.Bóng Âm: 0-7.1-4.2-9.3-6.5-8(và ngược lại)
ví dụ giải đặc biệt của ngày 16/08/2007 là :82714
Tính với 2 số đề bóng dương:1 đi 6,4 đi 9 số bóng tương ứng sẽ bằng số tổng của số thực:14 tổng 5 đi với bóng dương 69 cũng là tổng 5
Tính với số đề sẽ bóng âm:1 đi 4.4 đi 1 số bóng tương ứng cũng chính bằng số tổng của số thực 14 tổng 5 đi với bóng dương 41 cũng là tổng 5
Cầu lô số 5:
Cầu lô số 5 là cầu lô chỉ áp dụng với các giải có từ 4 số trở lên(tất nhiên chỉ có 5 số là hết)
ví dụ:KQSX ngày 17/08/2007
Giải đặc biệt
25511
Giải nhất
92170
Giải nhì
27056 92733
Giải ba
05209 28223 20075 37457 89718 21622
Giải tư
0562 0195 2605 3417
Giải năm
0827 7395 2368 5657 2565 2627
Giải sáu
793 059 313
Giải bẩy
89 28 95 90
như vậy trong các số kẹp giữa chính là cầu lô của các cặp số tương ứng sẽ là :252-282-454-161
Tuy nhiên cầu này kô thường xuyên,theo duy ý của tôi thì nhưng cặp lô nằm trong các số là 0 và 8 là khả năng ra có thể nói là đều hơn
vì dụ ngày hôm nay cặp 252 trùng với cầu giải Đặc biệt,đồng thời nằm giữa 2 con số 0,như vậy nó dc coi là chuẩn xác hơn cả!nhưng cũng kô loại trừ tìm được các cầu chập của 282-454 và 161 nếu thấy trùng cầu với các bro thì các bro cứ phang
Trên đây là 5 cầu lô dễ,để cho anh em tham khảo,ngoài ra con 1 số cầu nữa,dần dần sẽ đưa hết lên để anh em tham khảo cho vui!còn về số má cầu cáp thì có thể ra có thể kô,vì theo xác xuất kô có cầu nào đi được đến quá 25 ngày,mà cũng kô có cầu nào tắt quá 25,đều là do xác xuất tỷ lệ quyết định,nói như vậy để anh em thấy rằng đã theo nghiệp số má thì phải xác định trước là rất gian khổ,nếu có thời gian đầu tư nghiên cứu sẽ kô thua,nhưng được cũng nhiều...
Những cầu phức tạp là những cầu đòi hỏi thời gian nghiên cứu và theo dõi bảng kết quả lâu ngày mới tạo ra được những cặp số.
Sunday, 29. June 2008, 18:05:15
s
Friday, 27. June 2008, 07:05:50
3
Saturday, 14. June 2008, 14:52:29
5
Saturday, 14. June 2008, 14:33:20
4
Sunday, 1. June 2008, 14:25:33
Korean Film
1. The Classic - Cổ điển (Son Ye Jin)
2. Winter Sonata - Bản tình ca mùa đông - (Bae Jong Yoon, Choi Ji Woo)
3. The First love - Mối tình đầu - (Bae Jong Yoon)
4. Who slept with her - Cô thực tập quyến rũ
5. Sex is Zero - Tình dục là chuyện nhỏ
6. Autumn heart - Trái tim mùa thu -(Song Hye Kyo, Song Se Hun)
7. The Art of Seduction (Son Ye Jin)
International Film
1. 50 first dates (Drew Babymore)
2. American Pies
3. Legend of the Fall (Brad Pitt)
4. Chevre, La (1981) - (Pierre Richard)
5. The God must be crazy 1,2,3
6. Lord of the World - (Nicolas Cage)
7. The Wild Goose Chase (Pierre Richard)
8. Fantozzi (series )
9. Love Actually
(Update in Progress....)
Dạo này kiếm được toàn film đỉnh hồi xưa, có những bộ phim mà chẳng thể ngờ nó vẫn còn trên mạng, mấy bác Nga ngố cái gì cũng có
Thursday, 15. May 2008, 05:52:57
Tìm bộ phim này trên mạng về xem vì có kiều nữ Son Ye Jin đóng vai chính.
Phim thuộc thể loại tình cảm lãng mạn và pha lẫn đôi chút hài hước nhẹ nhàng.
Không quá sướt mướt như Trái tim mùa thu, cũng chẳng lãng mạn như Bản tình ca mùa đông mà cũng không hài hước như Cô nàng ngổ ngáo, cái mà tạo nên sức hấp dẫn của The Classic chính là sự nhẹ nhàng, êm đềm của câu chuyện tình, sự đan xen giữa các câu chuyện ở 2 bối cảnh thời gian khác nhau, và trên tất cả chính là diễn xuất tuyệt vời của Son Ye Jin, chị Hamil* đã đảm nhận cả 2 vai diễn một cách xuất sắc
Đây là bộ phim thứ 2 của Son Ye Jin mà Rosea đã xem (bộ đầu tiên là Lời cầu hôn ngọt ngào**), và quả thực Son Ye Jin xuất sắc như những gì người ta đã từng nói.
Phải tìm thêm mấy phim khác của chị Hamil xem mới được.
*: Nickname của Hamil được các Fan yêu quý gọi (source: dienanh.net).
**: Một trong những phim đầu tiên mà khán giả biết tới Son Ye Jin.
Monday, 12. May 2008, 17:58:40
FC hiện đang có 22 thành viên và con số này đang tăng lên từng ngày:whistle: , từng giờ

. Và 95% Fan từ mảng Ebook. 6 thành viên quốc tịch Việt Nam, còn lại 12 thành viên quốc tịch nước ngoài, Châu Á,Châu Âu, Châu Phi đủ cả: Indonesia: 2Mems, Ấn Độ 1Mems, IRan 1Mems, Isarel: 1Mems, Polan 1Mems, Serbie: 1Mem, IRag: 1Mem, Egypt: 1 Mem, Turkey: 1Mem, các thành viên còn lại không nhớ họ nước nào nữa
Hãy gia nhập vào FC, các bạn sẽ có những quyền lợi sau:
1/. Được thông báo + send link Ebook mới + hot nhất.
2/. Được chia sẻ tài nguyên mà Rosea có:
May, 2008+ Xài chung acc Rapidshare (tháng vừa rồi đã share 1 acc 2 day

)
+ Active Key Kaspersky InternetSecurity 7 - 1 year (Registered by Rosea)
+ Acc Rapidshare 5 days left (Only for Rosea's Foreigner Fans).
+ Còn nhiều tài nguyên nữa vì Rosea đang là Mod ở một vài diễn đàn nên quyền lợi Mod hơi bị nhiều)
Lại giống tính cách em Hinny Sexy + Ngu si roài
---------------------------------
Các Fan trong nước phải học tập các Fan nước ngoài nhé, share acc cho các Fan trong nước thì sau 2h là đã mất pass, trong khi các Fan nước ngoài thì không bao giờ làm chuyện đó.
Ôi, người Việt Nam.
30.5.2008
Fan club kết nạp thêm bạn Abubaka đến từ đất nước Ghana đầy nắng và cát trắng. Bạn này ngoan nên cho làm giáo đầu của 5000 cấm quân tại Rosea City

. (Giống Lin chon - Lâm Xung)
Rosea Division I (10.000 soldiers): General Commander: King Rosea; Camp: Rosea City.
Rosea Division II (5.000 soldiers): Commander: Abubaka, Camp: Rosea City.
Rosea Division III (5.000 soldiers): Commander: Holy Maker; Camp: North West.
Rosea Division IV (5.000 soldiers): Commander: Ali Khodayadi; Camp: North East.
Rosea Division V (5.000 soldiers): Commander: Ngesti ; Camp: Central 1.
Rosea Division VI (5.000 soldiers): Commander: Shady ; Camp: Central 2.
Rosea Division VII (5.000 soldiers): Commander: Adytia Sani ; Camp: South West.
Rosea Division VIII (5.000 soldiers): Commander: Acer ; Camp: South East.
(Reserve General: Mehrdad, Ahmad Khatab, Mohamed Hanafi, Aditia Sani.)
Note: Only Foreigner Fans are promoted to General)
Monday, 12. May 2008, 17:55:50
FC hiện đang có 22 thành viên và con số này đang tăng lên từng ngày:whistle: , từng giờ

. Và 95% Fan từ mảng Ebook. 6 thành viên quốc tịch Việt Nam, còn lại 12 thành viên quốc tịch nước ngoài, Châu Á,Châu Âu, Châu Phi đủ cả: Indonesia: 2Mems, Ấn Độ 1Mems, IRan 1Mems, Isarel: 1Mems, Polan 1Mems, Serbie: 1Mem, IRag: 1Mem, Egypt: 1 Mem, Turkey: 1Mem, các thành viên còn lại không nhớ họ nước nào nữa
Hãy gia nhập vào FC, các bạn sẽ có những quyền lợi sau:
1/. Được thông báo + send link Ebook mới + hot nhất.
2/. Được chia sẻ tài nguyên mà Rosea có:
+ Xài chung acc Rapidshare (tháng vừa rồi đã share 1 acc 2 day

)
+ Active Key Kaspersky InternetSecurity 7 - 1 year (Registered by Rosea)
+ Còn nhiều tài nguyên nữa vì Rosea đang là Mod ở một vài diễn đàn nên quyền lợi Mod hơi bị nhiều)
Lại giống tính cách em Hinny Sexy + Ngu si roài
Tuesday, 11. March 2008, 07:27:44
After seeing and comparing King Rosea's and King Lê Lợi's horoscope, Lê Ngọc Ánh - a talented young Horoscoper, said: "You may be better than King Lê". (Translate into Vietnamese & Quote: Le Ngoc Anh' (3/11/2008 1:22:29 PM): Có khi anh còn giỏi hơn cả vua Lê cũng nên).
She give me an evidence from tuvilyso - a former famous horoscope website, she said that there is a man who is a son of a Government official family:" He's very talent, one of the top student at Foreign Trade University's pass exam last year. Especially, this man has the same horoscope with King Lê Lợi and some expert predicted that he will be an Vietnamese Senior Official in the future."
King Rosea has the same horoscope with King Lê Lợi, only God know what will happen!
Tuesday, 4. March 2008, 04:04:58
Lê Lợi (1385-1433) sinh tại Lam Sơn (nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa) trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Đất nước bị giặc Minh xâm lược, Lê Lợi với tài năng và uy tín lớn đã dựng cờ khởi nghĩa, chiêu mộ hiền tài, kêu gọi nhân dân cả nước cùng đứng lên đánh giặc. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Cùng với tư tưởng chiến lược quân sự đúng đắn, tài lãnh đạo kiệt xuất của Lê Lợi, tới năm 1428 cuộc khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lo chấn chỉnh nội trị, mở nhiều khoa thi... đặt nền móng cho nền thịnh trị lâu dài của đất nước.
Lê Lợi sinh ngày 10-9-1385 (6-8 năm Ất Sửu) tại Lam Sơn (Kẻ Cham), nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách.
Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng hào kiệt từ bốn phương kéo về. Đất Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa.Ở đó có đủ các tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với những đại biểu ưu tú như: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, Cầm Quý, Xa Khả Tham... Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của nó đã chứng minh Lê Lợi là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những lãnh tụ mở đường, khai sáng. Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của dân tộc thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ nguyên xây dựng mới. Không có Lê Lợi, không có phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng Lê Lợi không chỉ là người nhen nhóm, tạo lập ra tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn mà ông còn là nhà chỉ đạo chiến lược kiệt xuất. Một nét đặc sắc, mới mẻ trong đường lối chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Minh mà Lê Lợi thực hiện là dựa vào nhân dân để tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc. Nhìn vào lực lượng nghĩa binh và bộ chỉ huy, tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa, có thể thấy rõ tính chất nhân dân rộng rãi của nó, một đặc điểm nổi bật không có ở các cuộc khởi nghĩa khác chống Minh trước đó. Dựa vào sức mạnh của nhân dân, đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng xã hội trong một tổ chức chiến đấu, rồi từ cuộc khởi nghĩa ở một địa phương, lấy núi rừng làm căn cứ địa, phát triển sâu rộng thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trên quy mô toàn quốc. Đây là một cống hiến sáng tạo to lớn về đường lối chiến tranh của Lê Lợi và bộ tham mưu của ông, để lại một kinh nghiệm lịch sử quý giá.
Vừa là nhà tổ chức và chỉ đạo chiến lược về chính trị, quân sự, vừa là vị tướng cầm quân mưu trí, quả quyết, Lê Lợi đã vận dụng lối đánh "vây thành diệt viện" theo lý thuyết quân sự ông nghiền ngẫm: "Đánh thành là hạ sách. Ta đánh thành kiên cố hàng năm, hàng tháng không lấy được, quân ta sức mỏi, khí nhụt, nếu viện binh giặc lại đến thì ta đằng trước, đằng sau đều bị giặc đánh, đó là đường nguy. Chi bằng nuôi sức khỏe, chứa khí hăng để đợi quân cứu viện tới. Khi viện binh bị phá thì thành tất phải hàng". Chiến thuật "Vây thành diệt viện" của Lê Lợi kết hợp với chủ trương "mưu phạt nhị tâm công", uy hiếp, phân hóa, chiêu dụ địch của Nguyễn Trãi tạo nên một phương thức độc đáo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Cuộc vây hãm Vương Thông ở Đông Quan và tiêu diệt viện binh giặc tại Chi Lăng, Xương Giang cuối năm 1427 là kết quả thắng lợi của tư tưởng quân sự của Lê Lợi - Nguyễn Trãi. Sau khi đuổi hết giặc Minh về nước, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm 1428, sáng lập ra vương triều Lê. Lê Lợi làm vua được 5 năm thì mất (1433), an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn, miếu hiệu là Thái Tổ.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước buổi đầu của vương triều Lê, Lê Lợi đã có những cố gắng không nhỏ về nội trị, ngoại giao, nhằm phục hồi, củng cố, phát triển đất nước trên mọi mặt, như tổ chức lại bộ máy chính quyền từ trung ương xuống địa phương; ban hành một số chính sách kèm theo những biện pháp có hiệu quả để khôi phục sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống xã hội. Lê Lợi cũng chú ý tới việc phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo nhân tài. Năm 1428, lên ngôi vua, năm sau (niên hiệu Thuận Thiên thứ 2, 1429), Lê Lợi đã cho mở khoa thi Minh Kinh. Năm 1431, thi khoa Hoành từ. Năm 1433, Lê Lợi đích thân ra thi văn sách. Đấy là chưa kể năm 1426 trong khi đang vây đánh Đông Quan, Lê Lợi đã mở một khoa thi đặc cách lấy đỗ 32 người, trong đó có Đào Công Soạn, một nhà ngoại giao xuất sắc thời Lê Lợi. Nhưng, nhiệm vụ chính trị lớn nhất phải quan tâm giải quyết hàng đầu sau khi đất nước được giải phóng là việc tăng cường củng cố, giữ vững nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Về phương diện này, Lê Lợi đã làm được hai việc có ý nghĩa lịch sử. Thứ nhất, ông đã thành công trong cuộc đấu tranh ngoại giao, thiết lập quan hệ bình thường giữa triều Lê và triều Minh. Thứ hai, Lê Lợi đã kiên quyết đập tan những âm mưu và hành động bạo loạn muốn cát cứ của một số ngụy quân trước, điển hình là vụ Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, Lai Châu. Trong bài thơ làm khắc vào vách đá núi Pú Huổi Chò (bên sông Đà, thuộc Lai Châu) năm 1431 khi đánh Đèo Cát Hãn, Lê Lợi đã nói rõ ý chí bảo vệ sự thống nhất giang sơn:
Đất hiểm trở từ nay không còn,
Núi sông đã vào chung một bản đồ.
Đề thơ khắc vào núi đá
Trấn giữ miền Tây của nước Việt ta.
Sau bài thơ trên, Lê Lợi còn viết bài thơ thứ hai khắc vào vách núi Hào Tráng bên Chợ Bờ, Hòa Bình.
Lê Lợi trong 5 năm làm vua, bên cạnh những công lao to lớn, có phạm một số sai lầm mà sử sách đương thời cũng thẳng thắn phê phán. Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vua hăng hái dấy nghĩa binh đánh dẹp giặc Minh, 20 năm mà thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, định luật lệ, chế lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, lập quan chức, lập phủ huyện, thu góp sách vở, mở trường học, có thể gọi là có mưu lớn, sáng nghiệp. Song, đa nghi, hay giết, đó là chỗ kém".
Giáo sư sử học Văn Tạo
----------------------------------------------------------------------------
bacbangduong @ TheGioiVoHinh sent 2 messages to King Rosea with the contend:
"ông bạn có đùa không thế? Lá số tử vi của ông bạn chả khác j của Lê Lợi. Mệnh vô chính diệu có nhật nguyệt sáng sủa chiếu đến.Lại có hung tinh đắc địa.Cung quan lộc thì quá đep. Có nhật nguyệt sáng sủa gặp hóa kỵ là rồng chầu mây ngũ sắc . Nói chung ông bạn sau này không làm vua thì hơi phí."
"Nếu ộng bạn ko tin thì hãy tìm lá số của Lê Lợi . lên google mà tìm, tôi tìm được rồi đấy. Ai nói cung quan lộc của ông xấu chỉ là hạng thầy bói tầm thường, cốt để kiếm tiền thiên hạ . Cách khánh vân phùng nguyệt mà dám nói là xấu. Hóa kỵ đi với thái âm đắc địa làm cho mặt trăng sáng lên.Hơn nữa bản thân thái dương lại đắc địa ở nữa thế nên làm cho cung quan lôc thật sự rạng rỡ. Hơn nữa cung Mệnh là cung vô chính diệu, nên đuợc hưởng trọn bộ tinh hoa của nhật nguyệt . Ngoài ra cung Quan lộc còn có Thanh long gặp được khánh vân phùng nguyệt nữa nghĩa là rồng chầu mây, có thêm hoa cái tượng trưng cho cái lọng nữa thì nhất định sẽ danh chấn thiên hạ , sung sướng suốt đời. Hơn nữa lại có cách Bạnh hổ tang môn quá đẹp nữa. Cung điền trạch thì vô cùng đẹp Tử phủ vũ khúc đắc địa đồng cung, giàu có không ai sánh nổi. Cung Nô bộc có sao cô thân đóng, biểu hiện có bạn bè ân nghĩa , Cái này khác hẳn với những gì mà người ta nói phai ko ông bạn? Nhờ có sao này mà Lê Lai chết thay Lê Lợi đấy. CÒn một vài cái đang quan tâm là ông bạn có bệnh về mắt, cận thị hoặc viễn thị, có thể sẽ bị nặng hơn đấy. về già thì có nhiêu bệnh tật. Âu cũng là cái số . Mọi người đều đối mặt với sự đánh đổi, nhưng nếu ông quả thực có cái lá số thế này thì cũng đáng lắm.Hãy xem lại ngày giờ cho chính xác nhé ! Tôi không hiêu biết nhiều về tử vi, chỉ tìm hiểu qua cho vui thôi mà. Co j liên lạc với tôi qua nick yahoo xxx@yahoo.com nhe"
Wednesday, 27. February 2008, 17:22:16
--------------------------------------------------------------------------------
Dịch lý là lý của luật tiến hoá tất yếu siêu việt và bất di bất dịch của Càn Khôn, còn gọi là ĐẠO, là Thượng Đế, là Chân Lý, v.v... mà trong mục này qua những bài trích đăng ở đây đều nói lên cái triết tức là cái ý nghĩa thấu triệt của cái gọi là Dịch lý này. Nên vận mệnh của con người, của nhân loại cũng như của đất nước Việt Nam đều không thoát ra khỏi quy luật này. Vì vậy mà những ai hiểu biết và thông suốt về Dịch lý có thể tiên đoán những chuyện sẽ xảy ra không chỉ trong một tương lai gần mà là cả mấy trăm năm sau đó, như những tiên đoán của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mà với thời gian khi kiểm chứng lại những gì đã xảy ra thì ai nấy đều xanh mặt, kể cả hiền nhân Nguyễn Công Trứ. (http://vhvn.vietland.net/Danh Nhân Nước Việt/Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) Vì vậy chúng ta cần phải học hỏi để hiểu biết cái quy luật tất yếu này để đừng có mê tín hay cố chấp, nhưng là để tự tìm cho mình cái vị trí đúng chỗ trong vũ trụ thì mình cũng sẽ biết những gì sẽ xảy ra. Nên:
"Chỉ khi nào dân tộc Việt Nam nhìn ra được thời cuộc và tiến trình tất yếu của lịch sử, giành lấy quyền lực về cho nhân dân, tự quyết định vận mệnh của dân tộc để chủ động tham gia vào xu thế đó một cách có chiến lược thì mới tạo ra cho mình một vận hội mới tốt đẹp hơn.
Quy luật của tất yếu
Chỉ khi đó Việt Nam mới trở thành lựa chọn tối ưu mang tính chiến lược, chứ không phải là một căn cứ chiến thuật để lợi dụng nhất thời nên chỉ có lợi cho những kẻ cơ hội. Trong cuộc chiến với chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc là những điểm nhắm chiến lược tối ưu trong khi đó Indonesia và Philippines chỉ là những căn cứ chiến thuật trong chiến lược của Mỹ chống sự bành trướng đỏ thời kỳ đầu chiến tranh lạnh. Mục tiêu chiến lược thời kỳ đó là đánh bại chủ nghĩa cộng sản nên Mỹ sẵn sàng chấp nhận thậm chí dung dưỡng cho những chế độ độc tài tham nhũng, điển hình nhất là Suharto ở Indonesia.
Đó là một bài học mà chúng ta cần hiểu rõ để tránh cho Việt Nam. Chế độ Suharto cuối cùng cũng bị lật đổ bởi một cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến nền kinh tế Indonesia sụp đổ vì sự mục ruỗng được khéo léo che đậy trước đó bị phơi bày ra ánh sáng. Sẽ rất ngây thơ nếu cho rằng kịch bản tương tự sẽ xảy ra ở Việt Nam cho dù có nhiều sự kiện tương đồng, nhưng sẽ càng kém khôn ngoan hơn nếu không hiểu rằng những quy luật suy vọng như thế không diễn ra ở trên đất nước này ở một hình thái khác, có khi còn nhanh chóng và khốc liệt hơn nhiều.
Quy luật tất yếu là một thực tế khách quan tồn tại từ thời mới khai thiên lập địa để chi phối sự vận hành của tất cả những gì trong vũ trụ này, và độc lập với ý chí con người – thực thể thông minh và phức tạp nhất của vũ trụ. Luật vạn vật hấp dẫn không phải mới có từ lúc nhà bác học Newton phát hiện ra, mà chỉ là từ lúc đó con người mới bắt đầu hiểu biết đến quy luật này. Thật khó mà hình dung được vũ trụ này tồn tại ra sao nếu không có một quy luật như thế vận hành.
Thế giới ý thức và tâm linh của con người cũng vậy, chắc chắn tồn tại những quy luật khác nhau chi phối sự vận hành. Thật khó có thể tin rằng một thế giới phức tạp đến như vậy đã có thể tồn tại và phát triển cả ngàn năm nay mà không theo những quy luật nào đó. Nói cách khác, những gì trái với quy luật đều không thể tồn tại. Tùy trí tuệ con người phát triển tới đâu thì loài người mới nhìn ra và hiểu biết được các quy luật tất yếu khách quan đến đấy. Những gì chưa được biết là do trí tuệ con người chưa vươn được tới chứ không phải thực tế khách quan đó không tồn tại. Lịch sử của khoa học đã cho thấy khi nào con người hiểu biết và thuận theo những qui luật tất yếu thì sẽ có sự phát triển vượt bậc.
Luật lục thất thập phân
Ngay cả sự tồn vong của các triều đại cũng tuân theo một quy luật. Những ai đọc qua sấm Trạng Trình đều có thể thấy rằng cụm từ lục thất, lục thất gian hay lục thất nguyệt gian được lặp lại nhiều lần trong các câu thơ sấm. Đó là một quy luật tồn vong của các triều đại được thiên tài Nguyễn Bỉnh Khiêm mô hình hóa thành một cách tính toán đơn giản. Một gian lục thất (6+7) là 13 năm, một nguyệt gian hay một gian thập phân là 10 năm (đây là cách ẩn dụ của Trạng Trình, ngày xưa theo âm lịch, 1 tuần trăng – nguyệt là 10 ngày). Hãy xem xét 3 triều đại liền kề nhau từ Hậu Lê, Tây Sơn và Nguyễn.
Nhà Hậu Lê do Lê Lợi sáng lập năm 1428 và kết thúc hoàn toàn vào năm 1789 sau khi Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh và bị Quang Trung Nguyễn Huệ đánh tan. Tổng cộng tồn tại 361 năm, tương đương với 27 gian lục thất (27 x 13 = 351 năm) cộng thêm 1 gian thập phân (351 + 10 = 361 năm). 27 gian lục thất từ năm thành lập, tức rơi vào năm 1779 (1428 + 351), đây là năm đánh dấu sự suy vong của triều đại nhà hậu Lê vì năm đó Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn.
Nhà Hậu Lê đã suy yếu từ cả trăm năm trước, có thời gian bị nhà Mạc lật đổ, sau đó khôi phục lại và dẫn đến hình thành triều Lê Trung Hưng với chúa Trịnh đàng Ngoài chúa Nguyễn đàng Trong. Dù vậy danh nghĩa nhà Lê vẫn ngự trị trong lòng dân chúng nên cho dù nắm mọi quyền bính trong triều đình Bắc Hà nhưng các đời chúa Trịnh không bao giờ dám xưng đế vì sợ mất lòng dân. Ngay cả ở đàng Trong, dù hùng cứ một phương nhưng các chúa Nguyễn vẫn tôn nhà Lê là thiên tử. Nhưng vào năm 1779, một triều đại mới ra đời dám xưng đế và không chịu bất kỳ ảnh hưởng và quyền lực nào của triều Lê. Và đúng 10 năm sau đó, chính nhà Tây Sơn đã tiêu diệt hoàn toàn nhà Hậu Lê.
Tóm lại, nhà Hậu Lê sinh năm 1428, vong năm 1779 (sau sinh 27 gian lục thất) và tận năm 1789 (sau vong thêm một gian thập phân nữa).
Nhà Tây Sơn được khởi sự bởi 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Khởi nghĩa vào năm 1771, đến năm Mậu Tuất 1778 thì Tây Sơn đã làm chủ gần một nửa đất nước, từ Quảng Nam đến Hà Tiên. Vào cuối năm Mậu Tuất (tức đầu năm 1779) thì Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, đóng đô tại Qui Nhơn và lấy hiệu là Thái Đức, chính thức khai sinh ra triều đại Tây Sơn. Triều đại này đã có nhiều chiến công hiển hách chống ngoại xâm nhưng đã không dàn xếp được tranh giành trong nội bộ gia đình nên chỉ đúng 1 gian lục thất sau đó (1779 + 13), tức năm 1792, đã bước vào suy vong.
Cùng năm đó Nguyễn Ánh đã chiếm lại gần hết phần đất miền Nam và tiến đánh thành Qui Nhơn, còn vua Quang Trung Nguyễn Huệ - người đứng đầu triều đình Tây Sơn lúc đó thì đột ngột qua đời. Và đúng 10 năm (1 gian thập phân) sau đó, tức năm 1802, Nguyễn Ánh đã tiêu diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn, bắt sống vua Cảnh Thịnh Quang Toản, chấm dứt triều đại Tây Sơn tồn tại 23 năm. Tóm lại nhà Tây Sơn sinh năm 1779, vong năm 1792 (sau sinh 1 gian lục thất) và tận năm 1802 (sau vong thêm 1 gian thập phân nữa).
Cùng năm đó, triều Nguyễn được thành lập bởi Nguyễn Ánh, lấy hiệu Gia Long. Dù bị Pháp xâm chiếm năm 1858 nhưng triều Nguyễn vẫn tồn tại song song với chính quyền bảo hộ thực dân thêm gần 100 năm nữa. Hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại bị chính quyền Cách mạng tháng 8 lật đổ vào năm 1945, đúng bằng 11 gian lục thất sau năm sinh (1802 + 11 x 13 = 1945). Nhưng đây mới chỉ là năm vong của nhà Nguyễn.
Sau khi giả chấp nhận làm cố vấn Vĩnh Thụy cho chủ tịch Hồ Chí Minh một thời gian ngắn thì Bảo Đại bỏ trốn rồi theo chân pháp về miền Nam thành lập Quốc gia Việt Nam và giữ chức quốc trưởng. Đến năm 1955 quốc trưởng Bảo Đại bị thủ tướng Ngô Đình Diệm truất phế bằng một cuộc trưng cầu dân ý, mất hoàn toàn quyền lực, thành dân thường và bắt đầu cuộc sống lưu vong bên Pháp.. Như vậy triều Nguyễn tồn tại 153 năm, bắt đầu sinh vào 1802, vong năm 1945 (sau sinh 11 gian lục thất) và tận năm 1955 (sau vong thêm 1 gian thập phân nữa).
Tự do và dân chủ
Số gian lục thất cũng có quy luật để tính toán. Với triều đại Cộng sản do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập năm 1945, số gian lục thất là 5, 2010 là năm vong, 2020 là năm tận. Cũng chẳng cần hiểu biết luật lục thất thập phân, chỉ cần phân tích biện chứng tình hình, bối cảnh chung, đánh giá những động lực bên trong và bên ngoài, nhận thức của những người cầm chèo cầm lái, … thì cũng có thể nhận ra được những biến động từ nay đến 2010. Đó cũng không nằm ngoài quy luật nhân quả. Xét cho cùng, không ai đánh bại được chủ nghĩa Cộng sản trên toàn cầu nếu nó tốt và phù hợp với quy luật tất yếu. Nó suy vong là bởi chính nó. Sự xuất hiện những tác nhân bên ngoài cũng chỉ là kết quả theo quy luật từ cái nhân bên trong tạo ra. Các tác nhân bên ngoài sẽ tôn tạo hay hủy diệt cái bên trong cũng là do cái nhân sinh ra từ bên trong đó. Triều đại Cộng sản Việt Nam sẽ suy vong nhanh chóng là tất yếu không thể cản lại được bởi chính những sai lầm của nó."
(trích "Kỷ Sửu và Vận Hội mới của Việt Nam" của tác giả Trần Đông Chấn)
http://vietland.net/main/showthread.php?t=5312DỰ ĐOÁN VẬN NƯỚC
Thích Thiện Minh
Mấy mươi năm trong chốn lao tù, cho đến nay khi ra khỏi nhà giam. Tôi tâm đắc nhất đó là một ít hành trang nho nhỏ về lĩnh vực tâm linh mà lúc nào tôi cũng trân quý xem như là một món bửu bối thiên thư khi nghĩ về đất nước…. Nhờ từ ấu thơ bản thân tôi có hạnh duyên nắm bắt một vài quy luật biến dịch của vũ trụ liên quan đến mệnh đồ thế giới và vận nước VN. Tôi biết được đã trên 40 năm qua, đó là một bài thi Sấm ký ngắn tôi học thuộc nằm lòng hồi còn bé do cha tôi tức Ông Huỳnh Văn Cầm truyền lại, mặc dầu nhiều sự kiện xảy ra của thế giới và đất nước VN đều do con người gây nên, nhưng những móc thời gian xảy ra ấy lại trùng hợp tương tục một cách lạ thường đều diễn ra vào các năm Tý Ngọ Mẹo và Dậu, tôi nhận xét dường như có một bàn tay vô hình nào đã định sẵn. Tôi xin liệt nêu khái lược sau đây,mong quý bậc cao minh vui lòng góp ý bổ sung thêm cho những lời chỉ giáo.
Trước nhất, cha mẹ tôi người gốc Đạo Cao Đài, quê ở Bạc Liêu, vào năm 1956 (Bính Thân) lúc ấy tôi chỉ được 1 tuổi thôi, cha mẹ tôi lưu lạc sang đất nước Chùa Tháp nhân nhuyến đưa Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc Giáo Chủ Đạo Cao Đài sang lánh nạn tại CamPuchia, thời gian được 3 năm Đức Phạm Công Tắc quy thiên tại CamPuchia vào ngày mùng 10 tháng 04 năm 1959, (nhằm tuần lễ Phật Đản mùng 8 đến ngày rằm tháng tư năm kỷ Hợi), vài năm sau, Cha Mẹ tôi lần lượt về VN, tạm làm ăn sinh sống tại tỉnh Trà Vinh tức tỉnh Vĩnh Bình, cha tôi có mang theo những di huấn và huyền cơ do Đức Ngài truyền dạy, khi tôi lên 12 tuổi cha tôi bảo tôi học thuộc lòng. Cho dù, khi lớn lên tôi xuất gia theo Đạo Phật, nhưng những lời dạy của cha tôi, lúc bé tôi vẫn còn ghi nhớ. Đặc biệt, những lời lưu truyền có nhiều điểm rất chính xác với những sự kiện xảy ra của thế giới và các mốc lịch sử của VN, kể cả liên quan đến những nhà lãnh đạo có tên tuổi gắn liền với lịch sử vui buồn, thăng trầm, thịnh suy (tốt-xấu) của dân tộc.
Nay tôi xin tường thuật lại 1 bài thi ngắn như sau để quý hiền giả, các bậc sĩ phu, những nhà nghiên cứu sử liệu, quý đồng bào VN trong ngoài nước nghiền ngẫm về cuộc đời và vận nước, với bài thi ngắn khoảng trên 30 câu như sau:
Sự biến thiên thăng trầm của tổ quốc!
Theo chu kỳ quy ước định phân
Xưa Xuân Thu nay lại Thu Xuân?
Và Quy luật bất luân chữ Cửu?
Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu là tháng năm trong lịch sử?
Còn ngày giờ thứ tự đúng kỳ tam
Lập cửu trùng cảnh Nghiêu Thuấn trời nam
Dân hạnh phúc muôn năm an hưởng
Theo Nga Mỹ, nào quan to Tá Tướng
Nào lầu đài, nào phủ trướng vinh sang
Kẻ vong thân, người danh phận lỡ làng
Kẻ lao ngục, người lên đàng biệt xứ
Sống tha phương trở thành người lữ thứ
Xa gia đình kẻ cự phú cũng trắng tay
Bỏ tiền tài hạnh phúc rẻ chia hai
Bao sự nghiệp lầu đài ôi tiếc mến
Thuở sinh tiền ta thường khuyên Hội thánh
Phải gìn tâm nơi tịnh cảnh tu hành
Đừng theo Mỹ Diệm để hưởng chút lợi danh
Sau phải chịu cam đành buồn tủi
Khi Cộng sản đúng thời đúng buổi
Chiếm Nam Quan cho đến mũi Cà Mau
Lúc bấy giờ Hội Thánh phải nói sao?
Khi đã lở lâm vào trong thế khó
Khi Cộng Sản chiếm quyền hành trong lúc đó
Biết bao nhà tôn giáo phải suy vi
Cấp lãnh đạo và các phẩm chỉ huy
Đứng không vững cho nên vấp ngã
Làm tên tuổi lợi danh tiêu mất cả
Cộng ngày sau sẽ tan rả không còn
Khi dân tình khôi phục lại nước non
Khuyên tín hữu lòng son cố tránh./.
Lúc ấy tôi nhờ cha tôi giải thích các câu hỏi?
1.- Tại sao xưa Xuân Thu nay lại Thu Xuân là thế nào?
2.- Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu sao gọi là những tháng năm trong lịch sử?
3.- Quy luật chữ Cửu là sao?
4.- Còn ngày giờ thứ tự đúng kỳ tam xin giải thích?
Cha tôi trả lời:
1.- Ngày xưa bên Trung quốc có Phong kiếm Xuân Thu và Xuân Thu oanh liệt, tức mùa Xuân và mùa Thu, còn Việt Nam thì ngược lại sẽ có những sự kiện trọng đại liên quan đến 2 mùa Thu và Xuân, dần dần tôi tìm ra như:
- Ký 2 Hiệp Định:
Thứ nhất ký Hiệp Định Giơ-neo vào ngày 20/07/1954, tháng 7 tức vào mùaThu
Thứ hai ký Hiệp định Paris vào ngày 27/01/1973, tháng giêng là vào mùa Xuân
2.- Còn Tý Ngọ Mẹo Dậu là những biến cố lớn của thế giới trong đó có liên quan đến VN đều xảy ra vào các năm Tý Ngọ Mẹo Dậu, chẳng hạn như:
- Đệ Nhứt thế chiến xảy ra năm 1914-1918, năm 1918 là năm (Mậu Ngọ)
- Đệ Nhị thế chiến xảy ra năm 1939-1945, năm 1939(Kỷ Mẹo) và năm 1945 là năm (Ất Dậu)
- Đảng CS Liên Xô thành lập tháng 1 năm 1912 (Nhâm Tý) sụp năm 1989-1990 (Canh Ngọ) sau nầy tái thành lập vào ngày 14/2/1993 (Quý Dậu),
- Đảng CS Trung Quốc thành lập 1/07/1921(Tân Dậu)
- Đảng CSVN thành lập, ngày 03/02/1930 (Canh Ngọ),
- Thành lập nước VNDCCH, ngày 2/9/ 1945 (Ất Dậu)
- Chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7/5/1954 (Giáp Ngọ),
- Ký Hiệp Định Giơ-Neo ngày 20/07/54, (Giáp Ngọ)
- Kể cả các nhà lãnh tụ có liên hệ trực tiếp đến lịch sử cũng chết vào những năm Tý, Ngọ, Mẹo và Dậu điển hình như:
- Cụ Ngô Đình Diệm chết năm 1963 (Quý Mẹo)
- Cụ Hồ Chí Minh qua đời 1969 (Kỷ Dậu).
(Xin lỗi…mong được miễn thứ vì trên tư cách nhà tu hành tôi gọi các vị cao niên bằng Cụ).
Đặc biệt, nên chú ý ngày Quốc Khánh, 02/09/45 (Ất Dậu) thì Cụ Hồ mất trùng ngày Quốc Khánh 02/09/1969 (Kỷ Dậu) chết cùng ngày, cùng tháng và cùng năm.
Điển hình thêm ngày 20/12/1960,(Canh Tý) thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền thì Ông Chủ tịch MT. Nguyễn Hữu Thọ chết ngày 24 tháng 12 năm 1996 (Bính Tý) tức chết trùng tháng và trùng năm, cách nhau chỉ có 4 hôm so với ngày thành lập MTDTGPMN.
- Ông Lê Duẫn, một nhân vật dưới một người trên vạn người chết ngày 10/07/1996 (Bính Tý).
- Ông Võ Văn Kiệt chết năm 2008 (tức năm Mậu Tý).
- Chiếm Miền Nam 30/04/75 (Ất Mẹo)
Nhìn lại lịch sử VN thời cận đại, kể từ đêm 22 qua 23/4/1885 (Ất Dậu) Pháp chính thức chiếm Hoàng Thành, kinh Đô Huế. Rồi lại 60 năm sau đến 9/3/45(Ất Dậu) Pháp bị Nhật đảo chính.
Xét ra, Pháp thắng vào năm Ất Dậu và thua cũng năm Ất Dậu. Thậm chí Nhật đảo chính Pháp năm Dậu rồi đầu hàng đồng Minh vào ngày 19/08/45 cũng năm Ất Dậu.
3.- Quy luật bất luân chữ Cửu:
- Hiệp Định Giơ- Neo ngày 20/07/54, ta thấy 20+7= con số 9 và năm 1954, 54 cũng là con số 9.
- Hiệp Định Paris, ngày 27/01/73, ta thấy 27= con số 9, ngoài ra, 27/01/73 tức 24 tháng Chạp âm lịch, năm Nhâm Tý, cũng là năm Tý.
Đổi tên thành nước CHXHCNVN ngày 02/07/1976, số 02+07 = số 9 và Hiệp ước Sơ Bộ 6/3/46 thì 6+3 = số 9. Nhật đảo chính Pháp 9/3/45, cũng là con số 9 (số cửu)
Ngoài ra, những sự kiện gần đây như:
- Bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ ngày 11/7/1995 thì 11+7 = số 9
- VN gia nhập Tổ chức Mậu Dịch Thế giới WTO ngày 7/11/2006 thì 7+11= số 9
- VN, thành viên không thường trực LHQ ngày 16/10/2007 năm 2007 = tức số 9,
4.- Ngày giờ thứ tự đúng kỳ tam ?
Theo cha tôi là VN sẽ ký 3 lần có tính cách quyết định lớn cho vận mệnh đất nước…. tất cả đều ký vào mùa Thu hoặc Xuân và con số Cửu.
Tôi chỉ đoán có thể là đã ký 2 Hiệp Định, Giơ-Neo vào ngày 20/7/54 và Paris ngày 27/01/73…. còn ký lần 3 không lẽ bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ vào ngày 11/7/95,tức 11+7 là con số Cửu và vào mùa Thu chăng ? Về việc ký kết quan hệ bình thường hóa giữa 2 nước lại mang tính quyết định lớn cho vận mệnh VN hay chăng?. Điều nầy cần phải chờ đợi tương lai xem VN có ký kết một Hiệp định nào quan yếu nữa không về những việc liên quan đến tổ quốc?
Xin chú ý:
- Từ năm thành lập Đảng 3/2/1930 đến ngày 30/04/1975, (1975-1930 = 45) được 45 năm cũng là con số 9.
- Từ năm 1975 (Ất Mẹo) đến năm 2011 (Tân mẹo) (2011-1975 = 36) được 36 năm cũng là con số 9 hoặc
- Tính từ khi thành lập Đảng CS năm 1930 đến 2011 đúng 81 năm cũng là số 9…
Ta hãy chờ xem số Cửu nào hay một trong các năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu nào ở tương lai sẽ quyết định về số phận của chế độ CSVN.
Có 2 điều cần bàn:
- Một là chiến thắng vào năm 1975 (Ất Mẹo) sẽ gặp năm 2011(Tân Mẹo) thời gian đúng 36 năm, tức Mẹo gặp lại Mẹo phối hợp với số Cửu quyết định sự suy vong.
- Hai là Đảng CSVN thành lập năm 1930 (Canh Ngọ) cho đến 2014 (Giáp Ngọ) tức Ngọ gặp lại Ngọ, được 84 năm, sẽ hết hạn kỳ và tàn lụi vào năm nầy.
Người xưa thường nói Dân có Tuần, Nước có Vận. Họa nạn quê hương bởi vì Vận nước còn mịt mờ... còn sự biến dịch của luật tuần hoàn vũ trụ hễ Âm thịnh thì Dương suy tiểu nhân đắc chí thì quân tử phải khốn cùng… và mỗi khi Âm thịnh đến cực điểm của thái âm thì sẽ rút lui nhường chỗ trả lại cho Dương đó là theo cơ cấu "Phản Phục" căn cứ lý của Dịch. Đây là quy luật tự nhiên “Âm cực Dương hồi” mỗi vật đi đến cực độ phải biến, biến trở về cái đối đích đó là quan niệm trong trời đất và Dương đến cực điểm của thái dương thì cũng sẽ nhường lại cho âm thế thôi! Hễ khí âm cực thịnh thì khí dương tái lai, quy luật xưa nay, luân lưu thịnh suy bỉ thái và ngược lại khi dương đến cực thịnh thì cũng thế, phải trả lại cho Âm.
Hiện nay, nhiều dấu hiệu cho thấy Âm đã và đang suy thoái trầm trọng, càng ngày càng xuống dốc thật sự, rất khó cứu vãn…. và ắt sẽ chuẩn bị trả lại cho Dương.
Như trên tôi đã phân tích… từ đây cho đến 2011 năm Tân Mẹo hoặc tối đa 2014 tức năm Giáp Ngọ, định mệnh đất nước VN sẽ có chuyển biến lớn theo quy luật tự nhiên như đẫ trình bày trên không?. Chúng ta bình tĩnh chờ xem vận nước đến hồi kết cục.
Nói tóm lại: những năm Tý, Ngọ, Mẹo và Dậu là tháng năm chu kỳ của lịch sử VN có liên quan đến tình hình thế giới, mà Đảng CSVN thành lập ngày 3/2/1930 (năm Canh Ngọ) và chắc chắn sẽ cáo chung vào những năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu mà thôi. Hãy nhìn lại các triều đại lịch sử VN, thời lý hưng thịnh nhất từ Lý Thái Tổ đến Lý Huệ Tôn. Vua Lý Huệ Tôn không có Hoàng Tử, chỉ sinh ra công chúa Phật Kim tức Lý Chiêu Hoàng, vua cha truyền ngôi cho công chúa, rồi xuất gia đi tu tại chùa Chơn Giáo tự xưng là Huệ Quang Đại Sư
Do mưu thần của Thái Sư Trần Thủ Độ xe duyên mai mối ép gả công chúa (Nữ Hoàng) cho Trần Cảnh, và sau đó bắt buộc Nữ Hoàng phải nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức Trần Thái Tôn, thế là chấm dứt nhà Lý. Đời Lý kể từ năm 1010 đến 1225, trải qua 8 đời vua, trị vì 215 năm, đây là triều đại hưng thịnh lâu nhất trong lịch sử VN chứ chưa có triều đại nào kéo dài muôn năm, như người ta thường chúc tụng, tung hô vạn tuế hoặc có thời đại còn bắt buộc nhân dân phải ca ngợi về mình quả thật chỉ là mộng tưởng. Qua bài thơ trên cha tôi còn nhắc nhỡ một câu nói đi kèm như sau:
“Đức lập quyền thì dân mới đặng chu toàn, còn quyền xua đức dân tan khốn khổ, lấy chí thánh dìu người giác ngộ, dụng bạo tàn không đem nổi an bang, chỉ đưa dân chúng đi đến chỗ lầm than và đem đến con đường tận diệt, dụng 4 chữ minh, cang, liêm, khiết dầu đời hay đạo trăm việc cũng thành”.
Chúng ta hãy nghiền ngẫm và chiêm nghiệm câu trên cũng như chờ xem những gì sẽ xảy ra cho vận nước vào những năm Tý, Ngọ, Mẹo và Dậu ở tương lai.
Tôi xin bưng hồng chung gióng lên một tiếng lưu bố khắp gần xa… mang thông điệp đem hỷ tín đến cho mọi người có lòng khoắc khoải mong chờ vận nước đổi thay, hay ước mơ quê hương có một ngày rực sáng. Mỗi khi đã biết sự biến dịch có quy luật cơ bản tự nhiên thì mọi diễn biến của vận nước không thể đến sớm hơn hay muộn hơn so với khát vọng mong chờ của lòng người, vì thế mọi người không nên thất vọng hay sờn lòng nản chí. Có điều quan trọng là:
“Thiên thời, địa lợi đôi đều sẵn
Chỉ thiếu hòa nhân để hợp quần”.
Có lẽ: Non nước đang dật dờ chờ tạo khách bởi vì thiếu hòa nhân nên còn phải thêm thời gian nữa mới đúng thiên cơ chăng?
Nhân mùa Phật Đản lần thứ 2553. Nguyện cầu hồn thiêng sông núi, u hiển oai linh mong sao những nhà lãnh đạo Đảng CSCN, những người cầm cân nẩy mực đang bị trí rối chướng sâu, tập khí nặng nề, kém đức kém tu, sớm gội nhuần ơn pháp nhũ của chư Phật để căn lành tăng trưởng, nhanh chóng phản thân tu đức, đoạn nghiệp mê lầm, tin sâu nhân quả, cấp thiết tỉnh thức quay hồi, triệt hủy tà niệm, lấy đức hiếu sinh mà thương dân, lấy lòng nhân mà đối đãi, cách cố đỉnh tân, tận tâm tận lực đổi mới để đem đến cho quê hương VN một xã hội thực sự dân chủ, tự do, công bằng, nhân ái, dân phú quốc cường và dân an quốc thái.
Cuối cùng tôi chân thành gửi đến quý vị thức giả, quý đồng bào, đồng hương VN, quý tôn giáo bạn, quý phật tử xa gần trong ngoài nước nhân mùa Phật Đản lời chúc cầu được an vui lợi lạc./.
30/04/2009
Thích Thiện Minh
-------------------
Diễn nghĩa:
Theo Hà Đồ thì 2 cặp Tý-Ngọ / Mẹo-Dậu là hai trục tiên thiên Bắc (Tý/Thủy) với Nam (Ngọ/Hỏa) và Đông (Mẹo/Mộc) với Tây (Dậu/Kim). Đó là hai trục chính của sự vận hành Âm Dương tiềm ẩn nơi vạn vật và phải đi qua hành Thổ ở trung tâm của Vũ Trụ (Hoàng Cực) là Tâm con người. Vì "Nhân giả kỳ thiên địa chi tâm dã": người chính là cái Tâm của Trời Đất. Cho nên theo quy luật tất yếu của vận hành Âm Dương đó chính là 3 luật bất di bất dịch của Càn Khôn còn gọi là Tam Tòng (chớ không phải luật tam tòng để tròng đầu đàn bà!), vì phải tòng theo luật Càn Khôn thì mới tiến hóa và trường tồn, đó là:
1/ Luật biến động: Sự vật có là có do sự động. Tất cả đều đi theo vòng tròn. Vòng nào cũng chia ra 4 chặng, 4 chặng của vòng thiên gọi là nguyên, hanh, lợi, trinh; 4 chặng của vòng địa là thành, thịnh suy, huỷ. Chính sự động tuần hoàn này làm nên sự vật. Không có vật nào thoát ra khỏi luật này.
2/ Luật loại tụ: Mỗi loại đi theo với loại của nó. Luật này cũng trình bày bằng câu: "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" hoặc "vân tòng long, phong tòng hổ" : Mây theo rồng, gió theo hổ.
3/ Luật giá sắc: tức là luật gieo gặt hay là nhân quả mà ai cũng đã biết. Vì không một cái gì trong Trời Đất dù chỉ là một ý nghĩ thoáng qua mà không nằm trong vòng ba luật này của Càn Khôn. Nên nếu suy nghĩ kỹ và tìm hiểu trên mọi sự vật chung quanh mình thì sẽ nhận ra tầm quan trọng của luật giá sắc.
Luật giá sắc còn có đặc điểm là phải biết chờ đợi nuôi dưỡng hạt giống tốt mà mình đã gieo ra. Cho nên không được "vật trợ trưởng" nghĩa là đừng có giúp cho nó mau mọc (như nắm đầu kéo lên cho cây mau lớn) nhưng phải biết tùy thời, tức là có thời gieo rồi thì chờ thời gặt, có nghĩa là tin chắc vào luật giá sắc. Tức đã có giá tất có sắc.
"Điều quan trọng là biết chờ đợi, chờ thời gặt. Đã có gieo thì sẽ có gặt. Vì thế mà có cả quẻ thứ 5 là Nhu trong Kinh Dịch mà Nho giáo đã đặc biệt chú ý bằng dùng tên quẻ Nhu để đặt cho Đạo là Nho: Nho là đem quẻ Nhu áp dụng cho con người, nên Nhu thêm bộ Nhân thành ra chữ Nho. Điều quan trọng nhất trong quẻ Nhu là Hữu phu, nghĩa là tin vào khả năng tâm linh nơi con người. Đó là điều tối quan trọng cho sự tiến hoá, vì có tin như vậy thì mới đủ nhẫn nại cường kiện để đạt sự sáng láng hanh thông bền vững tốt lành. Đây là điều kiện để thành công trong mọi việc lớn mà việc lớn nhất của một đời người là tiến hoá." (Kim-Định)
Sơn Hà.
____________
Saturday, 23. February 2008, 16:53:39
5
Tuesday, 19. February 2008, 09:21:06
Trong câu chuyện có nhân vật: Bí thư huyện ủy huyện Phước Long Quách Văn Lai
Và Rosea tôi cũng thử mò mẫm trên Google và kết quả cho thấy người này có thật.
Báo Việt Nam Nét chắc là có thể kiểm chứng được!
Nội dung bài báo đây:
http://vietnamnet.vn/khoahoc/hoso/2004/03/55375/
Tuesday, 19. February 2008, 09:14:39
Phần 3: Ba Tôi và Chú Lai.
Tôi được mọi người dìu lên chòi canh Điều, tôi ngồi đó mà đầu óc trống rỗng đến kỳ lạ. Chả nhẽ có linh hồn thật ư ? Chẳng nhẽ có một thế giới vô hình đang tồn tại quanh tôi ư? và Linh hồn của Ba tôi đã dùng cách gì để khống chế được hệ thần kinh động vật của tôi ? Rối bời đến .... Và tôi chợt nhớ đến bộ phim " The Ghost" và tự ndung tôi có cảm giác rờn rợn ( tức là rùng mình và các chân lông dựng hết lên- Cái cảm giác này hiện vần cứ ập đến mỗi khi tôi kể hay viết về câu chuyện này). Ông Thầy từ Củ Chi và đệ tử đã về, để lại câu: chắc ổn rồi ông ấy không nhập lại nữa đâu !
Mọi người họp bàn lên kế hoạch cho ngày mai tiếp tục đào bới tìm kiếm. Thống nhất kế hoạnh xong tôi định bụng phải lên trên bưu điện gọi điện về báo cho một người bạn biết kết quả. Vừa ra khỏi cái chòi canh thì tôi lại thấy đôi chân mình có cảm giác là lạ. Lần này không rõ ràng như hai lần trước. Và rồi tôi lại cười sặc sụa, mọi người lại lao vào phía tôi. Tôi lại không phải là tôi nữa. Ba tôi lại ở trong tôi. Tôi lên bưu điện Phước Long gọi các anh các chị ở đó là cháu, Tôi phải đàm phán mãi ông mới cho tôi nói với một ngươi bạn ở Hà nội để báo kết quả và nhờ sáng mai gọi điện đến công ty báo cho tôi nghỉ thêm mấy ngày. Nói chưa xong thì Miệng tôi lại thì thào
- Thế nhé Cháu, Bác phải đi đây "
- Alô, Alô, Alô ,tôi nghe thấy tiếng bạn tôi thất thanh mà chịu.
- Bác là bác Thành đây con, cứ thế nhé, mai báo cho Thịnh nó nghỉ làm. Ba tôi cúp máy luôn.
Xin nhắc lại là:Tôi gồm suy nghĩ , mắt và tai của tôi. Phần tứ chi, và miệng của cơ thể tôi là của Ba Tôi. Tôi giao tiếp với ông bằng suy nghĩ còn ông nói với tôi bằng miệng của tôi. Khi về đếnnhà Bà Tu (là chủ của vườn điều) thì tôi đứng nhìn chằm chằm và ngã ngữa ra thẳng như khúc gỗ - Hay như chặt chuối. 75 ký đổ đến rầm. Tôi là 100% Tôi . Chiều tối hôm đó chúng tôi cả nhà ăn cơm tại nhà Bà Tu, mọi người rất dè dặt với tôi. Tôi còn đùa,vui với cả nhà, nhưng quả thật đầu óc tôi nó cứ nhay loạn xạ cả lên. Tôi cũng có nghe về chuyện nhập, nhưng đã bao giờ thấy đâu. Vì vậy tôi không tin. Ăn xong, đang ngồi uống nước, tôi lại cái đầu của tôi cúi xuối gừ gừ - Bây giờ Hồn Ba tôi nhập vào thân tôi rất nhẹ nhàng, tôi không còn cảm thấy được nữa. Phất tay gọi anh rể tôi lại và bắt đầu nói và bảo anh ghi lại . Không hiểu sao phần này có lúc tôi không nhìn thấy gì và cúng không nghe thấy gì cả - Tôi chỉ có cảm giác là mình ngồi thư giãn, nhắm mắt lại . Sau đó mọi người kể lại và đưa cho tôi mảnh báo mà anh rể tôi ghi lại, mỗi lần anh tôi ghi nhầm ông cònghé mắt lại và hiệu chỉnh vì lúc đó Ba tôi sử dụng miệng tôi còn chưa được mềm mại. Ba tôi bị mất còn một phần sọ, một phần tai phải bị mất và một phần chân trái bị mất , ông nhấn mạnh còn có 4 cái răng (xin các bạn nhớ là 4 cái răng nhé) hòm đạn ..vv..
Mẹ tôi ở lại ngủ cùng bà tu, tôi cùng anh chị lên nghỉ tại nhà khách của ủy ban huyện. Vào đến nơi, Ba mắc màn cho chị em tôi nói đùa tếu vài ba câu. Vì ông ấy vẫn chưa nói nhanh được. Tôi chỉ cảm nhận việc ba nôi nói bằng miệng tôi như sau:
1- Không nói bằng hơi ở phổi của tôi. Tôi có cảm giác tại dạ dày, xuất hiện một bong bóng khí nó cứ di chuyển ngược lên trên thực quản và lên miệng và bật ra một từ (có cảm giác như mình ợ hơi ấy)
2- Có những lúc tôi vẫn có cảm giác được cái miệng là của tôi và tôi cố găng lái phát âm thành chữa khác: kiểu như chữ Không và có . Tức là lúc bọt khí chuẩn bị bật thì tôi đoán được ông định nói là "không" và tôi dùng hết sức lực cơ của môi cố tình bật ra chữ "có ". Khi ông phát hiện ra ông đã làm cho miệng tôi méo xệch đi. Bây giờ có làm lại thì không thể làm được.
Nói chuyện với một hồi, cũng phải gần nửa đêm, ông nói với chị tôi "Ba phải đi đây" - tôi đứng lên và ngã ngửa uỳnh xuống đất. Chị tôi hốt hoảng lao lại kiểm tra đầui. Tôi không hề đau đớn gì cả. Chỉ có cảm giác giống như lúc mình nhảy ngửa tắm sông ngày còn đi chăn trâu í. Nó bồng bềnh rơi và rồi ..... ùm một cái. Tôi lồm cồm ngồi dậy và nằm trên giường. Tôi bắt đầu thấy sợ. Tối đó tôi đã sợ ma thật sự. Quả thật là tôi chưa bao giờ sợ ma như đêm hôm đó . Chị tôi cũng vậy, đèn điện để cả đêm, cứ nghe thấy gió thổi , côn trùng kêu là lại rúm ró lại. Ấy thế gần sáng thì có một con tắc-kè cứ bám trên trần cót ép mà kêu, nghe mà rụng rời cả chân tay. Rồi tôi ngủ thiếp đi....
Tôi tỉnh dậy, dù ngủ rất ít nhưng mà sao tôi thấy khỏe và thoải mái tinh thần lắm. Chắc hôm nay tìm thấy xong, ngày mai xuống Sài gòn bay chuyến muộn ra Hà nội. Vệ sinh cá nhân xong, định ra bưu điện gọi đặt lại vé máy bay và ăn sáng. Mặc quần áo xong thì tôi lại thấy cơ thể mình không phải là của tôi. Ba tôi đùa tếu:
- Chào một buổi sáng tối lành, miệng tôi nói cho tai tôi nghe.
- Con chào ba , tôi suy nghĩ. Hôm nay, ba và con xuống hỗ trợ cho các chú ấy nhé.
- Ô - kê, ba tôi thốt lên rất nhanh. Tuy nhiên tôi vẫn có cảm giác là nói không bằng hơi phổi.
Hai ba con vừa đi ra khỏi cổng, tôi thì muốn đi xe ôm, còn Ba thì bắt tôi hành quân xuống Thác mơ - Ấy dã cũng xa chứ không đâu.
- Ba ơi, có bác xe ôm đang đến kia kìa , hai Ba con mình đi nhé.
- Không phải xe ôm đâu - Ba tôi trả lời.
Khi ngưòi đó đến gần tôi mới giật cả mình đó là chú Bí thư Huyện Ủy Quách Văn Lai.
- Lai à , tao có chuyện quan trọng muốn nói với mày ,miệng tôi nói
- Thịnh đấy à cháu, Ngủ ngon không? thế thằng Thắng đâu ? ( Thắng là anh rể của tôi).
Ba tôi nhắc đi nhắc lại, còn chú Lai thì sắp phát khùng, quát to thế thắng anh rể mày đâu ? Tôi thấy thế đành van xin, vâng còn hơn cả van xin ấy chứ. Tôi hỗn với chú ấy quá...
- Ba ơi chú Lai chưa biết việc nhà mình đâu, Ba phải để con giải thích trước đã.
- Ba tôi để lại miệng cho tôi.
- Chú à, cháu xin mới chú vào uống cà phê và thưa chuyện cúng chú. Hai chú cháu vào quán ngay bên phải Huyện ủy Phước Long.
- Cháu xin được trình bày như sau, hôm qua Chủ nhật ba cháu nhập vào cháu và.... Ba tôi giàng lấy miệng tôi, giống như giật cái micro ấy.
- Ối Lai ơi là Lai ơi, Tao vẫn còn hai thằng lính trẻ lắm còn đang nằm đó. Mày phải đưa nó vào nghĩa trang
- Mày bị sao thế Thịnh , hả. Thế thằng anh rẻ mày đâu ?
Căng quá, tôi lại van xin Ba , tôi có cảm giác trong suy nghĩ là tôi đang quỳ xuống túmlấy chân ông và cầu khẩn.
- Chú ấy không hiểu đâu, phải từ từ thôi ba à. Ba tôi lại nghe tôi,
- Chú Lai bước vội vào trong cơ quan. Tôi trẻ tiền hai ly cà phê còn đang nghi ngút khói.
Tôi bước ra đường, còn lại Tôi và Tôi ( tức là ba tôi ấy mà). Đứng giữa đường Khóc lóc và ngửa mặt lên trời gào lên." Đ. má thằng Lai, nó không tin tao". "Được rồi, tao sẽ làm cho mày phải tin tao.Mày phải tin tao"
Hai ba con vừa hành quân vưùa nói chuyện. Từ huyện ủy đến bưu điện là một con đường thẳng, khi còn cách bưu điện 300m. Tôi nói ông dừng bước. Và tôi vẫn chưa tin là có Linh hồn của ông. Có vẻ như tôi nghĩ mình bị tâm thần là nhiều hơn.
- Nếu có linh hồn Ba trong con thật thì ba hãy cho con đọc được dòng chữ trên nóc bưu điện đi! Tôi thách thức ông.
Các bạn còn nhớ là tôi bị cận và kính thì đã gãy mất gọng rồi nên vứt luôn. Tôi không thể nhìn xa như thế được. Ông dừng lại, và bắt đầu tập trung sức lực. Tôi nhìn, về phía bưu điện chờ đợi, năm phút rồi mưòi phút trôi qua mà cả tòa nhà bưu điện vẫn là một khối xanh đỏ vàng lẫn lộn, tôi không đọc được gì cả.
- Ha ha ha làm gì có linh hồn làm gì có Ba trong con !! Con không tin !!
Ba tôi trầm hẳn xuống ,
- Con à, không phải việc gì ba cũng làm được .
Chúng tôi vào bưu điện tôi gọi xuống Sài gòn đặt vé ra Hà nội.Tôi xong việc nhưng ba tôi không đi mà vòng vào trong quầy bưu điện nhìn thấy máy fax ông cứ đứng nhìn chằm chằm. Tôi giải thích đó là cái máy fax có thể truyền thông tin bằng hình ảnh. Ông đứng suy tư và yêu cầu tôi fax ra Hà nội đến văn phòng thông báo rằng Bác sẽ ra Hà nội chơi. Ông nhìn cô nhân viên thao tác rất kỹ.
Sao thế nhỉ, tôi nghe nói là cõi âm cùng tồn tại với cõi trần cơ mà. Chẳng lẽ ba tôi chưa nhìn thấy máy fax ư ? Hay ba tôi ở một cõi nào đó xa hơn cõi âm ? Tôi quên không hỏi Ba vì vậy bây giờ vẫn không có câu trả lời.
Xong việc, ông còn trêu cả bưu điện cười vui vẻ. Tôi lại bị ngã vật ra đường. Lồm cồm bò dậy như một tay bị động kinh. Ba tôi đi đâu đó, và tôi là Thịnh. ... Tôi định thuê xe ôm xuống chỗ đang đào bới tìm kiếm cốt của ba tôi. Thì tôi lại nấc lên một cái và ngáp .Rồi Ba tôi nhảy ra giữa đoờng chặn một chiếc xe tải đi về phía Thác Mơ. Kỳ là là bác lái xe không có phản ứng cáu tức gì cả. Ông xin bác tài cho đi quá giang.
Đi xuống vườn điều, cứ đi đến đâu là chó cắn đến đó. Nhưng bây giờ tôi không sợ chó nữa. Không hiểu sao cả.
Xuống tôi nhìn thấy mọi người đã đào nát cả ba nơi mà tôi đã ngã 3 lần. vẫn không thấy gì cả. Tôi cứ ngử mặt lên trời mà cười to. Mọi người biết đó là Ba tôi nên cầu xin.
- Cứ đào đi . Ba tôi lại cười bằng cái miệng của tôi.
Anh rể tôi thấy thế đèo tôi về nàh bà Tu nghỉ ngơi, Về nghỉ một lúc, ông quát thằng bé bật TV lên ngay. Trên màn hình là phim tài liệu về chiến tranh, vì chuẩn bị đến cuối tháng tư .Ông ngồi xem như một đứa bé.
Cứ thế kkhông đi đâu cả chỉ ngồi một nơi ngắm núi bà rá. Chiều chị tôi và anh Sáu ( bị thọt một bên) là tổ trưởng đội tìm mộ đem hương lên thắp trước mặt Ba tôi cầu khẩn:
- Con xin lạy bác! Bác thiêng bác chỉ cho chúng con chính xác nơi Bác nằm. chúng con từ sáng đến giừo đã nghỉ và đã có gì vào bụng đâu.
- Cứ đào đI ! Ba tôi nói. Ngày xưa chung tao chỉ ăn có măng rừng với xoài mà còn đào hầm to hầm bé. Bây giờ bọn mày ăn ngon như thế đào một chút thì có việc gì đâu.
- Nhưng chúng con đã đào 3 ngày rồi. Thì ít ra bác cũng phải cho chúng con hy vọng chứ ! anh Sáu nài nỉ.
- Ngày xưa bọn tao còn được cho hy vọng lớn lắm và chúng tao cũng bị thất vọng tột bực nữa là bọn mày. ( phần này quả là tôi không hiểu).
Và các Anh Chị lại quay lại tiếp tục công việc đào bới của họ.
Khoảng 4 giờ chiều của ngày thứ 2. Ông kêu thằng cháu Bà Tu xuông kêu moi người về. Anh và chị tôi lao về nhà bà tu. Ông cười tinh ngịch và sắp xếp :
- Ba sẽ ra Hà Nội đi thăm Bà Toản ( bà là Bác dâu của Ba tôi đã mất và ngày xưa Bà nuôi ba tôi). Hà (chị gái tôi) sẽ về cùng Ba và em Thịnh. Ra ngoài đó Ba sẽ fax sơ đồ chính xác nơi hài cốt của Ba và hai chú đồng đội vào cho vào cho Quách Văn Lai. Thắng và Mẹ ở lại lo việc và ra sau .
Thế đấy, ông đã sắp xếp hết rồi, không cho thấy hài cốt và Ông sẽ làm cho Quách Văn Lai phải tin vào câu chuyện về hai đồng đội của ông. Để một bí thư Huyện Ủy phải tin vào cõi tâm linh, vào cõi vô hình.
Xin mới đọc tiếp Phần 4 : Ba Tôi và giáo sư Liệu
Tuesday, 19. February 2008, 08:58:51
Các Bạn thân mến,
Sau khi đã có được tọa độ của phần mộ của Ba mình,tôi thắp mấy nén nhang lên khu vực đó và trở về Sài gòn ra Hà Nộ. Thông báo lại cho ga đình biết. Cả gia đình rất xúc động và lên kế hoạch đi vào Phước Long - Nhưng rồi cứ lãn khất mãi vì ngân sách chưa cho phép. Mẹ tôi một có những thoáng buồn nơi khóe mắt. Tôi cầu nguyện Ba tôi về chuyện tài chính. Không biết có phải ông đã giúp đỡ hay không mà năm đó tôi làm ra được tiền rất dễ dễ dàng. Kể cả các đối tác của mình,những năm trước không thấy gì . Nhưng năm đó họ toàn biếu tôi tiền mặt. Và hình như các ngày lễ của năm đó tôi đều được biếu tiền mặt - Không có quà cáp gì hết. Đến tháng 3 của năm 1999 thì tôi đã rất tự tin mua vé máy bay (vì tôi phải tiết kiệm thời gian) cho Mẹ, Chị Gái và Anh Rể bay vào Sài Gòn và đi xe đò lên Phước Long. Vào một ngày thứ năm.
Cả gia đình chúng tôi được sắp xếp tại nhà khách của huyện ủy huyện Phước long. Sau khi làm thủ tục với phòng thương binh xã hội. Được các anh chị cử đội đào tìm mộ hỗ trợ.
Chúng tôi bắt đầu đào nơi mà nghĩ là có phần hài cốt của Ba tôi. Cứ rộng 50cm và sâu 80cm cách nhau khoảng 1m và đào bới thành các con hào dài trong vườn Điều của nhà Anh Năm và chị Phượng. Các anh trong đội đào thấm mệt. Suôt gần một ngày mà không thấy gì. Tôi cứ phải chạy về huyện để gọi điện thoại cho Anh Liên ( nhà ngoại cảm). Ngày đó phước Long chưa phủ sóng di động. Nếu ai đã đi tim mộ thì sẽ thấy khá là kỳ công để liên lạc với các nhà ngoại cảm. Gọi tới gọi lui. Vẫn không được, đến lúc gọi được thì anh Liên lại nói một câu xanh rờn xịch lên phía bắc khoảng 10m. Lại đào và bới.... và lại gọi điện cho anh Liên .. và vẫn không thấy. Cuối cùng thì anh Liên phán: Cứ dào đi sẽ có người đến giúp !
Ai giúp chúng tôi bây giờ ? Phía thì núi Bà Rá cao sừng sửng, phía thì vườn cà phê xanh ngút ngàn, bên thì có mỗi cái chòi nhỏ để trông vườn Điều. Cứ có người nào mới đén nhìn là mọi người lại nín lặng để chờ xem có phải vj này có phải là " Người đến giúp" không.
Hai ngày đào bới đã trôi qua. Tôi bắt buộc phải quay về Hà Nội vào Thứ hai, nên tôi đã họp cả gia đình và thống nhất chủ nhật sẽ là ngày đào cuối cùng. Nếu không có kết quả gì thì sẽ đem một ít đất về gọi là trong đó đã có phần hài cốt của Ba tôi.
Sáng chủ nhật đó tôi dậy muộn, cả nhà tôi cùng với đội tìm hài cốt đã xuống Thị trấn mơ từ sáng sớm. Khoảng 10:30 thì tôi xuống đến nơi, mọi người nhìn tôi với con mắt chia sẻ nỗi niềm mà không thể tả bằng lời. Mời mọi người nghỉ uống nước, tôi cám ơn vì lòng nhiệt tình của đội tìm hài cốt. Và động viên các anh đào tìm kiêm nốt ngày hôm đó.
11:00 anh ấy , cái anh mà tôi đã quên mất tên . Bước xuống, vì anh ấy không xa lạ gì với nhóm tìm hài cốt nên không ai để ý. Chỉ chào và anh ấy đứng nói chuyệncũng cả nhóm. Một lúc sau anh lôi tôi ra và nói. Ngày bé tôi có xuống đây nhiều lần, còn trèo vào trường học để hái trộm quả và anh bảo rằng nơi chúng tôi đã đào bới không phải là con đường mòn cũ ngày xưa. Và anh kéo tôi đi về phía Tây khoảng 20 met và xác định bằng chính ngôi trường tiểu học tại thị trấn Mơ. Và anh kết luận. Con rạch nước thoát, ranh giới giữa Vườn Điều và vườn Cà-phê mới là còn đường mòn. Vì trong băng ghi âm thì Ba tôi bị mất trên một con đườn mòn.
Tôi đứng cùng anh khoảng 2-3 phút, anh quay lại phía nhóm đào tìm mộ. Tôi không biết là phải xử lý thế nào với cái thông tin mà anh phong thương binh xã hội vừa nói. Thôi thì đã xác định rồi. Tôi nhìn sang phía vườn Càphê đang lên và ngước lên phía núi Bà Rá. Rút điều thuốc Hero ra và châm lên. Rít một hơi dài, chưa kịp thử khói ra thì tự dưng tôi thấy hai chân mình như phải đứng để nâng tạ (tôi tập thể hình nên tả rất sát) cái sức nặng đó cứ chạy từ từ lên phía trên. Tôi cảm thấy choáng váng , điều thuốc trên tay rơi xuống đất. Tôi vẫn còn kịp tùm lên một cành cây Điều khô. Nhưng rồi, không thể chịu được 75 ký của trọng lượng của tôi, cành điều ngáy và tôi ngã xấp mặt xuống đất. Kínhgãy một bên gọng và bắt ra đâu đó. Miệng tôi sùi bọt trắng và sau đó mắt bị nhắm tịt lại và tôi khóc rất to:" Ba ở đây rồi con ơi ". Mọi người lao lại phía tôi. Toàn bộ cơ thể tôi chỉ còn Bộ não ( tức là ý thức) và đôi tai là của tôi thôi ,mắt bị nhắm tịt rồi. Tôi nghe tôi khóc và chỉ một câu "Ba đây rồi con ơi"
Mẹ và chị tôi khóc ầm ỉ,người thì hỏi : Anh ấy có bị bệnh đọng kinh không ? máy đứa trẻ thì bảo chú ấy trềo cây bị té.,... Nói chung là náo loạn . Mẹ tôi láy dầu gió bôi vào người, chân tay tôi. Tôi cố hét trong dâu với mọi người răng tôi không sao đâu, nhưng tôi không thể. Kết quả chỉ là câu khóc " Ba đay rồi con ơi ".
Mọi người khoanh vùng mà tôi vừa ngã, đưa tôi lên cái chòi trông vườn Điêu nằm trên cái sạp bằng gỗ. Tôi vẵn tiếp tục khóc câu khóc ấy. Tai tôi vẫn nghe mọi người bàn tán và lập kế hoạch sẽ bắt đầu đào bới tôi ngã xuống như một hy vọng cuối cùng. Rồi anh rể và chị Lan ở phòng thương binh xã hội đã đi tìm một Bà thày ở trong huyện - Khoảng 11:30 gì đó có một người đàn ông và một người đàn bà đến, lúc này tôi đã bớt khóc và mắt đã nhìn lờ mờ mọi người ( vì không có kính). Anh ta , thắp nhanh lên và khấn gì đó. Lúc này tôi rất sự chó, cứ nhìn thấy con chó nào đến gần là người cứ co rúm lại 9 bình thường tôi có cảm giác đâu) . Rồi đến bên tôi dọc to những câu thần chú mà rất tối nghĩa đối với tôi. Tuy nhiên đối với phần cơ thể của tôi thì cứ run cầm cập. Anh ta quát tên của một ai đó người tôi bật dậy và quỳ xuống và vái lấy vái để (vẫn ở trên cái sạp ). Anh ấy quát là hồn thoát ngay khỏi tôi, Thì tôi thều thào nói rằng đó là nhập tình thương, không sao cả đâu ! Tuy nhiên anh ấy vẫn cương quyết đọc cái gì đó và cuói cùng thì phun rượu lên mặt tôi. Tôi đổ sầm xuống đất. Tôi là tôi. Toàn toàn thể Ý thức và Thể xác. Tồi bắt đầu sợ hãi. Tại sao lại thế nhỉ. Tôi không kiểm soát được bản thân trong vòng gần một tiếng đồng hồ. Mọi ngưeơì thỏe phào nhẹ nhõm, họ nói chuyện với tôi và tôi vẫn chưa thể kể lại câu chuyêẹ được. Anh thầy đó ( tôi lại cũng không nhớ tên) và cả gia đình tôi ăn cơm hộp. Tôi ăn hết hộp cơm và bắt đầu lung lay về tư tưởng - Tuy nhiên tôi vẫn chưa tin. Có thể tôi chỉ bị sao đó thôi chứ làm sao lại có chuyện linh hồn được! Thôi thì nhờ luôn ônng này chỉ giùm chính xác nơi Ba tôi nằm vậy. Trời bắt đầu mưa rất to. Anh ta nói thì cứ nghỉ ngơi đã. Khoảng 2g chiều, anh ta và người đàn bà kia cùng khấn vái và ba tôi nhập vào bà ấy. Tôi và mọi người ( tôi đoán thế) đều chưa tin. Mọi người còn quát bọn trẻ con không được đi trước vì sợ lộ mất nơi tôi bị ngã. Trời vừa mưa xong, cả đàon ngwoif thoe Bà ta. Và điều kỳ lạ là bà ta đã chạy và ngồi xuống đúng nơi tôi ngã. Mọi người và đặc biệt là tôi bắt đầu tin vào linh hồn.
Tôi đứng đó, nhìn mọi người dùng xẻng vẽ thành hình chữ nhật để chuẩn bị đào. Tự dưng tôi lại có cảm giác nặng nặng ở chân. Lần này không như lần trước, cảm giác như ta lội xuống sông ấy, áp lực của nước tác động lên cơ thể thế nào nó như thế.
Và tôi cười to một cách không bình thường,Mọi người lại tập trung vào tôi. Lả đảo quay cuồng, tôi ngã vật ngửa xuống rìa của rãnh nước. Rồi tôi lại là tôi. máy phút sau tôi lại không phải là tôi và ngã sấp xuống đất cách đấy khoảng 3-4 mét. Và rồi lần thứ ba thì ngã ngửa tóc tôi chạm gốc vào một gốc điều. Chỉ mấy centime là có thể vỡ đầu.
Mọi người bàn tán không hiểu vì sao lại ba lần ngã 3 vị trí khác nhau. Lúc này tôi là Tôi ,mọi người yêu cầu tôi lên chòi để nằm vì có mùi hương sợ tôi lại bị nhập nữa.
Tôi nằm đó, đầu óc rối bời. Tại sao lại thế nhỉ. Tôi là một Dược sỹ và tôi biết rằng hoạt động của cơ thể con người được điều khiển bằng thần kinh. Có hai hệ thần kinh thực vật và thần kinh động vật. Tôi đã bị một lực siêu hình nào đó thống trị kiểm soát hệ thần kinh động vật của tôi.Tức là tôi không phải là Tôi. Tôi chứng kiến tôi như người xa lạ . Tôi trao đổi với Tôi bằng suy nghĩ còn tôi nghe trả lời bằng đôi tai và đôi mắt của tôi.
Vâng, toàn bộ tư tưởng Duy vật của tôi đang bị đông cứng lại thành đá (Một thông tin thêm : Tôi là Dominique Nguyễn Đức Thịnh - Một con chiên của xứ đạo Hàm Long). Để rồi chuẩn bị Vỡ tan ra thành muôn mảnh.
Vâng, thưa các bạn Vỡ tan lập trường.
Hữu Đức
12 phút trước Giao thừa Năm Mậu tý (2008)
(Xin mời các bạn đọc tiếp phần 3: Ba Tôi và Giáo sư Liệu.
Tuesday, 19. February 2008, 08:48:53
Tôi tên là Nguyễn Đức Thịnh, Ba tôi đã nhập vào thể xác của tôi liên tục trong khoảng 10 ngày. Tôi rất muốn có một thư mục của những người có được ân phúc như Tôi. Vì vậy tôi xin phép BQT cho chúng tôi mở một chủ đề : Tôi là người trong cuộc.
Và đây là câu chuyện của Tôi:
Phần 1: : Cần lật xấp !
Ba tôi mất năm 1968 - Giấy báo tử chỉ nói là tại mặt trận phía nam. 31 năm sau, Mẹ tôi đi đến nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên ( Hải Dương). Sau bao nhiêu thăng trầm, cuối cùng Ba tôi cũng đồng ý cho " Cậu" Liên vẽ sơ đồ, nhưng lại kèm với lời phán đi tìm sẽ khó khăn lắm ! không biết có còn sau mùa mưa không. Vì theo sơ đồ, Ba tôi đang ở mãi tận cái huyện Phước Long xa mù tít ấy, Mẹ tôi ngậm ngùi vì điều kiện kinh tế không cho phép. Còn Tôi, khi tôi sinh được khoảng mấy tháng thì Ba tôi đã tái ngũ, tôi không có ký ức về ông. Tuổi thơ của tôi là Mẹ tôi thôi !
Tôi, từ bé đã không tin về thế giới vô hình tâm linh. Vì ngày ấy tôi đã xung phong vào ngồi để người ta gọi Cậu Chín về nhập tại một buổi hầu đồng. Phủ khăn nhiễu đỏ lên đầu, hương khói muốn tắt thổ luôn. Nghe hết ba bốn bài chầu văn mà vẫn không thấy mình lắc lư như các đồng cô đồng cậu - Tôi không tin từ đó.
Nhưng rồi vì Mẹ tôi và cũng rất tò mò bởi các câu chuyện ly kỳ của các nhà ngoại cảm tìm mộ ,tôi đã cầm bản copy cái sơ đồ ấy và vào Hồ Chí Minh công tác. Đến ngồi nói chuyện với Bà Trẻ (em ruột ông Nội tôi) tại quận 10, Bà tôi lúc tỉnh lúc mơ, nói với tôi rằng " Bố mày bị bắn ở gần bụi tre" . Và tôi đã lên Phước Long. Nhìn vào sơ đồ,hỏi anh xe ôm, ai cũng xin chịu. Thôi thì Bộ đội thì cứ đến bộ đội vậy. Nơi tôi đến đầu tiên là Huyện Đội Phước Long, các anh nhiệt tình đem ra một bản đồ tác chiến với những vòng cao độ vàng xanh. Tôi chịu thua luôn. Thấy nét mặt không vui, các anh nói tôi sang bên phòng thương binh xã hội. Sang bên đó, máy anh đang làm việc đều xúm lại bàn tán . Những năm đó chưa có nhiều nhà đi tìm mộ. Xoay tứ phía mà các thổ đan vẫn không xác định được cái sơ đồ này là vẽ về nơi nào. Tôi thấy như minh đã nghe đến bài chầu văn thứ 2 mất rồi ! . Tôi đang chuẩn bị xin cảm ơn và không hẹn gặp lại thì có anh... Tự dưng tôi quên mất tên anh. Chỉ nhớ anh gầy gầy ...( ai ở Phước Long nhắc lại hộ nhé). đến và nói: Tôi nghe đâu phải lật sấp xuống cơ ! Tất cả mọi người ồ lên và lật ngay lập tức. Rồi mọi người ồ lên thán phục. Đó là thị trấn Mơ. Bên cạnh núi Bà Rá. Tôi run lên (không biết lúc đó mình thích là cái sơ đồ đó đúng hay nó sai nữa). Anh xe ôm lại nhiệt tình đưa tôi xuống Thị trấn Mơ. Và rồi tôi cũng tìm được cái vườn Điều nhà bà Tu và ông con rể của Bà ( anh Năm ). Loanh quanh trong vườn điều, nghe anh Năm nói ngày xưa có cái gò chỗ này. Tôi lao đến và thật kỳ lạ. Những mầm tre (trong đó thì người ta gọi là Lồ ô) đang nhú lên xanh mơn mởn. Tôi rùng mình nhớ lại câu nói của Bà Trẻ tôi ( Bác tôi nói bà cũng là dân Hầu đồng): Bố mày bị bắn ở bên bụi tre.
Anh ở Phòng thương binh xã hội mà tự dưng tôi không thể nhớ được tên ấy đã làm cho Mẹ tôi, Chị tôi và cả anh Rể tôi cả mấy tuần mất ngủ. Còn tôi, niềm tin Duy vật của minh đang bị lung lay và có nguy cơ tan rã. Chúng ta và Thế giới tâm linh là hai bộ phận của một Thế giới thống nhất. Hình như là phải như vậy thì Duy Vật biện chứng mới đúng được hay sao ấy !
Chỉ có một câu của anh: Cần Lật sấp !
Hết phần 1
(Xin mời đón Đọc tiếp Phần 2: Vỡ tan Lập trường )
Tuesday, 15. January 2008, 14:20:08
1 ounce = 31,103476g
1 chỉ = 3,75 g
---- >> 1 ounce = 8,29426 chỉ
Tuesday, 15. January 2008, 05:52:15
Tuesday, 15. January 2008, 03:28:25
Đạo nhạc, đạo văn, đạo công trình khoa học... mà báo chí nước ta đề cập lâu nay, vốn không suy giảm mà còn ngày một nhiều hơn đã khiến tất cả những ai có nhân tâm đều không khỏi cảm thấy xấu hổ và phiền lòng.
a
Ảnh minh họa: cand.com
Báo Đại Đoàn Kết, ngày 04/01/2008 với bài "Xung quanh việc Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia bị "đánh trượt" chức danh giáo sư: Biến công trình tập thể thành sách nghiên cứu cá nhân” đã bổ sung vào “đội ngũ đạo” nói trên một thành viên mới.
Để hợp thức tiêu chuẩn phong giáo sư, vị giám đốc này đã ngang nhiên “thuổng” công trình nghiên cứu khoa học tập thể (vốn là 2 đề tài khoa học cấp Nhà nước của hơn 20 giáo sư, tiến sĩ thuộc nhiều ban, ngành khác nhau với tổng kinh phí do Nhà nước bỏ ra hơn 1 tỷ đồng) thành sách chuyên khảo của cá nhân mình.
Bài báo có đoạn viết: “Chúng tôi đã đối chiếu 2 cuốn sách với 2 đề tài khoa học này và gần như không nhận ra sự khác biệt nào, thậm chí chúng giống nhau đến từng dấu chấm, dấu phảy“.
Hãy khoan nói về thiên chức của nghệ sỹ, nhà khoa học... với những chuẩn mực đạo đức cao cả mà ở đây chỉ mạn phép đề cập tới một nguyên tắc sơ đẳng của sự chung sống giữa con người với nhau đó là sự trung thực. Thiết nghĩ, đó cũng là điều bình dị mà bất kỳ ai có lòng tự trọng, văn hoá đều lấy đó làm tiêu chuẩn tối cao cho cuộc sống cũng như cho nghề nghiệp của mình.
Trong sáng tác nghệ thuật cũng như nghiên cứu khoa học, "ăn sống nuốt tươi" phong cách, ý tưởng của người khác để rồi trở thành cái bóng nhạt nhòa vô vị của người đi trước đã là điều tối kỵ rồi, huống chi giờ đây người ta còn làm điều tệ hại hơn là... ăn cắp (xin lỗi không có từ nào khác) dưới nhiều hình thức tác phẩm nghệ thuật, công trình khoa học của người khác để rồi biến chúng thành cái gọi là tác phẩm của riêng mình.
Lao động khoa học, nghệ thuật là lao động trí tuệ đặc thù nhọc nhằn chứ nghiên cứu khoa học và sáng tác nghệ thuật kiểu photocopy như trên thì thực chất đó cũng chỉ là một thứ lao động nguyên thuỷ nghèo nàn. Thật xấu hổ khi làm khoa học, nghệ thuật với ý tưởng, cảm xúc, và công trình nghiên cứu (thậm chí đến cả câu chữ) vay mượn của người khác để rồi chẳng có gì mà trả trên trang viết của mình.
Văn hoá nghệ thuật và khoa học là một loại hình đặc biệt có sức lan toả mạnh mẽ trong cộng đồng. Nếu món ăn tinh thần này là một thứ “đồ rởm” thì tác hại của nó cũng thật khó lường.
Như ai đó đã nói, mở rộng ra thì vấn đề không chỉ dừng lại ở việc vạch trần một kẻ nào “đạo chích văn chương” hay “đạo chích khoa học” cụ thể. Vấn đề là hiện tượng. Chúng ta lên án không chỉ ông Z ăn cắp văn chương hay công trình nghiên cứu khoa học mà còn là những người kiểu Z.
Sự công bằng không chỉ nhằm phục hồi giá trị đích thực cho một tác phẩm nghệ thuật, công trình nghiên cứu khoa học bị đánh cắp mà còn phải kiên quyết bóc đi lớp vàng son hàng mã được phủ trên không ít người lâu nay được vinh danh nhờ vào làm ăn theo kiểu “đạo” này.
*
Lê Ngọc Dũng, TP.HCM
Monday, 14. January 2008, 16:43:56
CÂU CHUYỆN NGHĨA TRANG
qua lời kể của Phan Thị Bích Hằng
1. Trích băng ghi âm Hội nghị UIA 2006 – Vấn Đáp
Khi đến nghĩa trang liệt sĩ thì nghe được muôn vàn tiếng nói, nhiều kinh khủng, anh thì nói, anh thì hát, anh thì gõ bát, gõ đũa. Nhiều khi đi tìm mộ liệt sĩ cháu nghĩ phải chi mình là đàn ông thì phải, bởi vì mình là phụ nữ nên các anh cũng hay trêu chọc, ở cõi âm người ta cũng có cuộc sống tinh thần chứ, người ta cũng chơi đùa.
Linh hồn có thể giao tiếp được. Thông tin đó là suy nghĩ, suy nghĩ của linh hồn bật ra và nhà ngoại cảm có thể bắt được, phân biệt được giọng Bắc, Trung, Nam, thậm chí những người nói nhíu, nói ngọng, ngắn lưỡi nghe đựơc hết. Nghe theo kiểu gì, người ta có mấp máy miệng không? Có, người ta có mấp máy miệng. Âm thanh phát ra có phải âm thanh bình thường như mình nói không? Thật ra cháu nghe không đựơc rành rọt như chúng ta nói với nhau đâu, mà nghe nó chỉ lờ mờ thôi, nghe trong một cái mớ hỗn tạp âm thanh, như tiếng gió, như tiếng côn trùng, rồi là thậm chí nhiễu, nhưng mà vẫn nghe thấy, vẫn lọc ra được ra điều gì mình cần và mình muốn. Còn nhìn thì cũng chẳng thấy rõ như mình nhìn thấy nhau như thế này đâu, nhìn thấy mờ mờ thôi, hư hư ảo ảo. Có lúc vừa nhìn thấy thì người ta lại tan đi mất. Nhiều người cứ thắc mắc là mỗi lần cháu nghe, cháu xem hay cháu nói chuyện, cứ lấy tay hay lấy giấy cháu đỡ, cháu đón lại. Bởi vì lúc đó hình ảnh cứ tan ra, buộc phải đón lại, nếu không thì hình ảnh tan mất đi.
2. Trích băng ghi âm tại Chùa Hoằng Pháp, Hóc Môn – Ngày 25/03/2007
Tôi nghĩ ở trên bàn thờ mình còn nhìn thấy bà nội vậy thì thử ra mộ xem sao, chắc là ra mộ thì sẽ nhìn thấy rõ ràng hơn. Thực ra việc ra mộ là tôi chọn hơi sai lầm và tôi đã phải ngất xỉu ngay tại chỗ khi những hình ảnh đầu tiên đập vào mắt mình. Đáng lẽ ra một nơi chỉ có một mình bà nội nằm thôi hoặc nơi rất ít mộ thì tôi giữ đựơc bình tĩnh hơn, đàng này tôi đi thẳng lên nghĩa địa của làng, cách nhà hơn một cây số, ở nơi đó một bên là chôn những mộ đã cải táng và một bên là chôn những mộ mới. Khi tôi bước vào con đường giữa ở hai khu ấy thì bắt đầu nhìn thấy những hình ảnh hiện lên. Một bên thì thấy toàn những bộ xương thôi, còn một bên thì thấy nào những vải trắng vải đen nó cứ bùng nhùng ra. Nhìn thấy rất nhiều người, họ nằm, họ ngồi, họ đứng và lúc ấy sau khi thấy thì tôi hét lên và tôi ngất xỉu ngay trên con đường đi ra nghĩa địa.
Sau đấy về nhà thì một tháng sau tôi không dám mon men ra nghĩa địa nữa, không dám nhìn, không dám ngó nghiêng gì cả. Khi tôi đã bình tĩnh trở lại và trấn an được tinh thần của mình thì tôi lại nghĩ sẽ quay trở ra ngôi mộ của bà nội và mộ của chú tôi, là người con mà ông bảo mất lúc 3 tuổi. Ông tôi bảo mộ của chú là một nấm đất thấp lè tè, chui vào trong một cái bờ tre, rất là khó phát hiện. Lần thứ hai tôi đi ra mộ bà nội, khi đó tôi đi rất bình thản, khi ra cách mộ 6-7 mét thì đã thấy bà rồi. Tôi thấy bà tôi bước ra, rất là tươi cười đón tôi, hôm đó chỉ có một mình bà chứ không thấy hai người con kia nữa. Bà tôi nói rằng: Hôm nay cháu đến thăm nhà bà à. Tôi cứ nhìn thấy miệng bà cười cười và tay bà chỉ thì tôi hình dung ra câu nói của bà như vậy. Khi ấy tôi trả lời lại rất là vô thức: Dạ, cháu đến thăm nhà bà đây, thế bác và chú đâu rồi. Tôi thấy bà cười, bà lắc đầu và chỉ hai tay ra hai nơi. Tôi hiểu rằng bà muốn bảo với tôi rằng bác ở chỗ này, chú ở chỗ kia. Tôi nói; Cháu đang đứng ở cạnh mộ bà, cháu nhìn thấy bà nói nhưng cháu không nghe thấy, ước gì cháu được nghe thấy nhỉ. Tôi cứ nói và cứ ước như thế, hai bà cháu chỉ gật gù và giao lưu với nhau bằng ánh mắt thôi. Sau đó tôi chạy về nhà gặp ông và báo cho ông biết rằng tôi nhìn thấy bà thật đấy.
Monday, 14. January 2008, 16:37:16
Chuyện tâm linh ở Nghĩa trang Trường Sơn
Nguyễn ánh Ngọc -
Giữa mênh mông đại ngàn, suốt ngày đêm vi vu tiếng gió, Nghĩa trang Trường Sơn là nơi an nghỉ của 10.363 liệt sĩ. Phần lớn trong số đó là những chiến sĩ đoàn 559 anh hùng - những chàng trai đang ở độ tuổi mười tám, đôi mươi, cái tuổi đang son và thớ thịt căng da. Họ đã chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp thống nhất đất nước.
Nhiều câu chuyện, theo anh Hồ Tất Ái - Trưởng ban quản lý Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, là khoa học huyền bí, là chuyện của thế giới tâm linh. Anh kể : Một đoàn các Mẹ Việt Nam anh hùng ở Bình Định lên thăm nghĩa trang, có một gia đình trong đoàn đi tìm mộ người thân, cả năm rồi không thấy. Hôm ấy, bác đi thắp hương ở các phần mộ, cũng là ngẫu nhiên. Bỗng thấy bác hét lên một tiếng rồi ngất đi, chúng tôi cứ tưởng bác bị cảm, hoặc giả cũng do quang cảnh nghĩa trang trầm mặc quá mà bác xúc động chồng. Thế nhưng khi tỉnh lại, bác bảo với chúng tôi đúng đây là phần mộ của người em mà bác đang tìm kiếm nhiều năm qua. Rồi nhiều trường hợp khác, chỉ biết con em mình hy sinh trong chiến tranh, không biết phần mộ ở đâu. Gia đình đã đi tìm nhiều năm mà không thấy. Vậy mà trong một chuyến đi cùng mấy đoàn khách thăm nghĩa trang, đốt hương xong, họ như có người cầm tay dẫn đường, đi vòng vèo tới mấy ngôi mộ ở tận xa thắp hương, nhìn lại mới biết là mộ người nhà mình. Người dân ở đây cho rằng đó là các anh hùng liệt sĩ dẫn đường chỉ lối.
Anh Ái trầm ngâm: Ở nơi linh thiêng này, lời hứa là rất quan trọng, điều gì đã hứa là phải làm . Anh hồi tưởng lại : Một lần vào dịp cuối năm Quí Mùi 2003, anh em ban quản lý nghĩa trang bàn nhau dự định chiều 26 - 12 âm lịch sẽ làm vài mâm cỗ, trước là thắp hương cúng các anh, chị, sau nữa là bữa cơm tất niên coi như động viên anh chị em trong cơ quan sau một năm làm lụng vất vả. Thế rồi nhiều đoàn lên thăm viếng, thành ra công việc bận quá, chưa tổ chức được. Đêm hôm ấy, rồi đến ngày 27, 28 cũng thế, đêm nào các anh cũng gọi: Anh em sao hứa mà không làm... sao hứa mà không làm...?
Một chuyện khác, thầy giáo Hải quê Hà Nam, công tác ở trường ĐHKHXH&NV đi cùng đoàn lên thăm nghĩa trang khi đi qua nghĩa trang khu III ? khu quy tập mộ các liệt sĩ của mấy tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh... người ta bỗng thấy thầy hát vang cả núi rừng liền một lúc 6 bài về Trường Sơn. Ngay đêm hôm ấy, thầy gọi điện về cho gia đình kể rằng đi ngang qua nghĩa trang khu III , các anh bảo hát cho các anh nghe những bài hát Trường Sơn nên thầy hát.
Anh em ở Ban quản lý nói khu ấy thiêng lắm. Ngày rằm, mùng một đến thắp hương tại đó, họ vẫn nghe thấy tiếng anh em liệt sĩ nói, cười, chào hỏi: Các anh đến thắp hương đấy à ?
Anh Ái từng là người lính trinh sát đặc công. Đối với người chiến sĩ được rèn luyện vững vàng như anh thì chuyện sống chết, hoang đường không có gì đáng sợ. Sau 7 năm công tác tại đây, một kỷ niệm làm anh còn nhớ mãi. Anh kể: Đêm 14-11-2001 tôi và đồng chí Chủ tịch công đoàn cơ quan lên khu nghĩa trang thắp hương, chúng tôi thấy một người ngồi bên cạnh tượng đài. Chuyện thân nhân liệt sĩ lên nghĩa trang đêm hôm khuya khoắt cũng không phải là lạ. Tôi cứ nghĩ, có lẽ khách phương xa tới muộn. Dù sao tôi cũng đánh tiếng từ xa, không thấy người đó trả lời. Tôi ngạc nhiên quá, đến gần hơn, cách khoảng chục mét, tôi lại cất tiếng chào hỏi. Người đó vẫn im lặng. Khi chúng tôi tới gần tượng đài còn cách khoảng vài mét, người đó đi lùi ra một đoạn. Tôi đốt hương, và nói : Chúng tôi lên đây thắp hương và có vài lời với các anh hùng liệt sĩ, anh ở đâu tới vậy. Người đó nói : Tôi cũng là liệt sĩ, ở nơi khác đến đây thăm anh em. Quả thật lúc đó tôi vã mồ hôi hột, còn anh Chủ tịch công đoàn thì châm cả lửa vào tay. Quay lại thì không thấy người ấy đâu nữa.
Còn nhiều chuyện thuộc về thế giới tâm linh ở nghĩa trang này.Chị Trần Thị Thê, công tác ở đây đã 25 năm.Chị có mặt ở đây từ năm 1981 khi mới thành lập nghĩa trang đến giờ. Chị kể thời kỳ đầu có hơn chục người, chủ yếu là chị em. Những ngày mới lên nghĩa trang, đêm đêm nằm nghe thấy tiếng các anh linh liệt sĩ, cười đùa, rồi đàn hát những bài ca thời xưa, chị em cũng hoảng. Hai ba người quây lại ngủ chung một giường. Rồi sáng sớm, nghe tiếng các anh tập thể dục, tiếng bước chân hành quân trong đội ngũ, tiếng hô chào cờ, tiếng hô khẩu hiệu. Các chị mới đầu rất sợ, nhưng sau nghĩ đến các liệt sĩ xả thân vì nước lại cảm thấy thương vô cùng, thành ra ngày rằm, mùng một nào cũng lên thắp hương viếng mộ.
Nhà ngay cạnh nghĩa trang, lại công tác ngay trong ban quản lý vì thế nên chị Thê gần như trực luôn ở đây đêm hôm, cũng như dịp lễ tết. Chị kể rằng, mất chục năm sống ở đây, cứ khi nhà có việc gì lớn, đều lên xin các anh. Năm ngoái chị xây nhà, cũng làm mâm cỗ cúng , gọi là ?báo cáo với các anh?. Chị nói, chắc các anh phù hộ nên cái quán nho nhỏ của chị rất đông khách, ăn nên làm ra. Rồi thì chuyện ốm đau, thi cử của con cái, chị cũng làm lễ, trước là tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, sau nữa cũng mong các anh phù hộ độ trì. Dần dần đó trở thành nghi lễ quen thuộc của bà con người Kinh ở quanh đây.
Những câu chuyện tâm linh có lẽ sẽ làm nhiều người mơ hồ sợ hãi. Nhưng với những người đồng đội của các anh hùng liệt sĩ đang yên nghỉ nơi đây, đó là câu chuyện của những người đang sống, các anh vẫn đang hiện hữu bên cạnh cuộc đời này. Có đoàn thương binh ngoài Hà Nội, năm nào cũng vào thăm nghĩa trang. Anh mù 2 mắt, anh cụt 2 chân, hai tay, về đây thăm lại chiến trường xưa, thăm lại đồng đội cũ. Các anh ngủ lại giữa nghĩa trang, đốt lửa, thầm thì trò chuyện và hát lại những bài hát năm xưa cho những người đồng đội nghe. Họ đang sống lại những năm tháng hào hùng.
Chuyện linh thiêng, huyền hoặc ở nơi đây, không biết có phải là khoa học huyền bí - như nhận định của anh Ái, chị Thê , Hay do họ quá xúc động vì tấm gương hy sinh của các anh hùng liệt sĩ, hoặc vì khung cảnh tịch mịch, thâm nghiêm, cái thăm thẳm đất trời giao hoà giữa âm dương, hư thực ở nơi đây dệt nên? Dù có hoang đường, những câu chuyện đầy tính nhân bản đó vẫn gửi gắm một điều: Các anh đã chiến đấu anh dũng, đã nằm xuống, nhưng các anh không bao giờ chết. Các anh đã trở thành bất tử trong mỗi trái tim Việt Nam.
Ngày 27-7, trong chương trình Nhịp cầu xuyên A, thanh niên 3 nước Việt Nam, Lào, Thái Lan sẽ gặp nhau tại đây. Họ sẽ cùng nắm tay nhau, thắp những nén hương, những ngọn nến lên 10.363 ngôi mộ. Nghĩa trang Trường Sơn sẽ lung linh trong ánh nến, khói hương huyền ảo. Một thông điệp mà các thế hệ sau gửi đến các anh: Các anh sẽ sống mãi trong lòng tổ quốc và nhân dân.
Báo Sức Khỏe và Đời Sống
Sunday, 13. January 2008, 03:46:58
Special Featuresv
[img]
http://i234.photobucket.com/albums/ee255/King_Rosea/501.jpg * Top ten goals
* Charlie George interview
* Own goals and gaffs
* Goal scoring records
* Web links
* Interactive menus
* Scene selection
Synopsis
501 chances to watch Arsenal score goals. Covers four decades of back-of-the-net action from the likes of Charlie George, Thierry Henry, Frank Stapleton and Dennis Bergkamp. Glorious Gunners' goals.
Link download:
http://rapidshare.com/files/83295776/arsenal_501_goals.part01.rar
http://rapidshare.com/files/83301824/arsenal_501_goals.part02.rar
http://rapidshare.com/files/83241216/arsenal_501_goals.part03.rar
http://rapidshare.com/files/83250313/arsenal_501_goals.part04.rar
http://rapidshare.com/files/83262412/arsenal_501_goals.part05.rar
http://rapidshare.com/files/83268286/arsenal_501_goals.part06.rar
http://rapidshare.com/files/83274067/arsenal_501_goals.part07.rar
http://rapidshare.com/files/83279088/arsenal_501_goals.part08.rar
http://rapidshare.com/files/83295794/arsenal_501_goals.part09.rar
Friday, 11. January 2008, 19:51:58
(DQC) Mưa gió (thông tin từ đài dự báo thời tiết là cơn áp thấp nhiệt đới sẽ biến thành bão...), trước khi đi mọi người vẫn cứ gọi đến: thầy ơi! có đi không thầy... bão sắp đến nơi rồi... Tôi nói như đinh đóng cột: vẫn phải đi và không phải lo ngại gì cả...không có gì thay đổi... cứ đi... thế là chúng tôi đã có trọn vẹn 2 ngày dã ngoại thật thành công và thật là vui. Bảng tổng kết lớp sẽ là bài của tranngthanh một cảm xạ viên khóa 39 Sài Gòn trần tình...
Xin mời các bạn vào xem hình ảnh dã ngoại của khóa 39:
http://picasaweb.google.com/camxahoc...xahocvietnam02Những chuyện xảy ra đối với mình, có thể các bạn có tưởng tượng cũng không hiểu được đâu. Nên mình không dám giải thích nhiều và cũng không dám khẳng định điều gì... nếu ai có thắc mắc hoặc phản bác sự thật thì gửi thư trực tiếp cho mình qua tin nhắn cá nhân nhé!
Chuyến đi tham qua vừa qua thực sự đã mang tặng cho mình nhiều món quà to lớn. Có lẽ suốt cuộc đời này mình cũng không bao giờ quên được. Mình sẽ kể lại tuần tự từng câu chuyện đã xảy ra với mình để các bạn, cô chú dễ hình dung:
- CHUYỆN XẢY RA Ở CÂY SẾN THIÊN
Sau khi nghe thầy giáo hướng dẫn, mọi người đều tập trung rung động và đi hút năng lượng của đất. Mình đã xí trước một chỗ rất tốt ở cái cây to lớn nhất (hê hê hê) Vị trí đứng giữa thân cây, lại hoàn toàn là mặt đất bằng chứ không dốc nghiêng như chỗ của những người khác. Quá trình hút cũng diễn ra rất nhanh. Năng lượng đi theo từng màu len khắp cơ thể, cứ sau một màu... rung động thư giãn của mình lại cuối mình xuống, chắp tay lạy cây cối một cái. Chỉ trong khoản 4-5 phút là mình hút xong cả 7 màu. Thế là cơ thể lại tiếp tục rung động đi khắp nơi chọc ghẹo mọi người. Thầy nói rằng: Rung động thư giãn của mình giống như một đứa trẻ hay vui vẻ, chọc phá mọi người. Mình thấy cũng vui vui... quan trọng là mọi người cũng không nghĩ mình cố tình đi chọc ghẹo người ta. Ngại ghê lắm.
Lúc chuyển sang hút năng lượng của cây mới là vấn đề, An hỏi "Cây ơi... An muốn ôm cây để truyền năng lượng được không ?" "Được ..." (trong đầu vang một câu trả lời giống như mình đang suy nghĩ tự kỷ ám thị vậy) Thế là mình rung động thư giãn nhẹ nhàng (bình thường mình luôn rung động, bất cứ lúc nào cũng thế) và đặt tay lên cây. Cơ thể chuyển động và mình lao vào ôm chặt cái cây mặc dù mình không muốn thế. Cái cơ thể tự điều khiển mà không hiểu cho cái ý thức đang lo lắng cho bộ quần áo mới đang chà chà, ma sát trên cây. Đã thế cơ thể mình còn siết tay lại, cạ cạ gương mặt vào trong thân cây như một người bạn lâu ngày (thôi kệ, miễn cứ cho ta năng lượng là được) Nhưng chỉ khoản 1-2 phút sau... cơ thể mình tự động quay lại cuối xuống chao cây rồi tung tăng chạy đi chỗ khác. Đến một cây ở kế bên nhỏ hơn, mình lại lao vào ôm tiếp, (mặc dù cái ý thức lại nói rằng, cây này nhỏ quá... chắc không bằng cây kia đâu) Sau một hồi mân mê, vuốt ve, ma sát với cái cây (các bạn có thể tưởng tượng như đứa trẻ ôm chặt mẹ nó nũng niệu vậy) Sau đó một lát, mình tách ra... tự động cơ thể quay lại , múa một vòng rồi lạy cái cây đó 3 lạy. Sau đó mình lại tung tăng nhảy múa về phía thầy nói rằng mình đã thu năng lượng xong...
Nhưng tự dưng, cơ thể ngưng nhảy mủa... nó chạy rất nhanh về phía cuối cánh rừng. Cái ý thức của mình cứ nghĩ rằng cơ thể đang muốn chọc ghẹo ai ở góc đó chăng nhưng không phải. Mình chạy rất nhanh... nhanh khung khiếp... chân đạp lên lối mòn của cát, vượt qua những cái cây to lớn có, nhỏ có, mình chạy như biết trước nơi đây là gì. Cái ý thức cũng tò mò muốn biết cơ thể mình chạy đi đâu. Chợt chạy mãi, là một hàng rào kẽm gai ngăn không cho người ta chạy tiếp tục. Chợt mình rất sợ, không biết vượt qua là cái gì sẽ chờ mình... rồi cơ thể lại leo qua hàng rào... tiếp tục chạy rất nhanh. Đã không còn là đường để đi nữa, chỉ là len qua các bụi rậm với cây cối um tùm. Rồi mình dừng lại trước một khoảng rừng ... mình có cảm giác như đã kiếm đúng chỗ. Nơi này chẳng có gì đặc biệt cả... chính xác là không có cái gì đặc biệt như mình tưởng tượng...
Cái cơ thể đi chậm lại, tiến đến một cái cây nhỏ... tự dưng mình mới phát hiện ra trên cái cây nhỏ đó là một cái cây khác ... Cây TẦM GỬI... cái cây đó đang buồn (cái suy nghĩ vô thức đang len lỏi trong người) mình vuốt ve thân cây một cái, rồi tự dưng cây cối im lặng. Gió không thổi nữa mặc dù lúc đó đang mưa... mưa cũng ngưng lại... mình đi lên một khoản xa hơn cái cây TẦM GỬI... cơ thể mình rung động nhẹ nhàng và nhảy múa một bài. Mình cảm giác một năng lượng màu trắng nhẹ nhàng múa bên cạnh mình, không khí và gió cũng nhảy múa. Cây đang hát... ( nó cám ơn mình vì đã chia sẻ sự cô đơn với nó) Mình nhảy múa một hồi thì nhớ ra rằng mình đã chạy rất xa. Tự dưng mình nghĩ rằng thôi để khi nào thầy muốn kiếm mình thì cái cơ thể vô thức sẽ tự động chạy về. Nhảy xoay vòng một hồi, tự dưng cơ thể mình cuối xuống chào hết toàn bộ cây cối ở đó (giống như ca sĩ hát xong chào khán giả vậy) rồi mình chạy về. Ôi ... tui không biết đường về... nhưng cơ thể vẫn chạy về được. Con đường về cũng không khó lắm nhưng do cảm giác hoang mang nên khiến ta nghĩ là mình sẽ lạc đấy mà.
Thầy đứng trước cánh rừng... hình như thầy đang kiếm mình. Mình kể lại trải nghiệm mình vừa có. Thầy nói mình nhạy cảm lắm...mình rất vui (vì thầy thừa nhận khả năng của mình) Cơ thể vẫn tiếp tục nhảy múa bình thường. Lúc đó mình lại nói lớn mặc dù không muốn nói (da gà lúc đó nổi hẳn lên vì mấy lời đó không trong tiềm thức mình nhảy ra)
- "Cây cối đều có linh hồn, bạn không nên nghĩ rằng cây nào nhỏ thì yếu, cây lớn thì mạnh, tất cả đều muốn các bạn vui" .... "Cây cối ở đây đều rất yêu các bạn... rất vui vì các bạn đã đến nơi này"
Lúc đó mọi người cũng dường như chú ý đến mình nhiều hơn. Cơ thể mình lại xoay múa một vòng "Mọi người xin nghe cây nói... Cây rất thích mọi người... cây luôn mong muốn mọi người vui vẻ"
- Sau đó, cái Cây trong người mình lại đi đến từng người nói rằng các bạn đang có bệnh gì... có vấn đề rắc rối như thế nào. Có người muốn thách đố mình ... nhưng cái cây lại phản bác lại người đó. Cây nói rằng cây không thích anh ấy (anh ấy sống không vì người khác... cây không thích anh ta ... nhưng điều này, mình không cho cây nói ra vì sợ anh ấy buồn nghĩ rằng mình đang nói)
Nhiều người chạy đến hỏi thăm cây...hỏi chuyện gia đình, chuyện tình cảm, chuyện sức khỏe. Cây trả lời lần lượt từng người. Mãi về sau mình mới phát hiện ra một chuyện quan trọng... không phải cái cây nhập vào người mình mà là một cái khác.
Mọi người hỏi có phải mình trả lời hay không? Hay là cây... nhưng cái ý thức của mình không như mình suy nghĩ... có những cái lung tung... có những cái như đùa cợt. Có những câu trả lời người khác rất đúng nhưng lại có nhưng câu nói với người khác như đùa giỡn (như chuyện tình cảm riêng tư) Nhưng cái cây lại rất quan tâm đến những nỗi buồn nội tâm trong tâm trí mỗi người. Tự dưng, cái ý thức thực sự trong người mình thấy rất buồn vì cái cây phát hiện ra sự cô đơn, tâm tư thầm kín cần được chia xẻ cũa những người trong đoàn mà trước giờ sự vô tâm của mình không để ý đến người khác.
Có lúc, cái ý thức của cây cối như chọc ghẹo An... chọc thầy giáo, chọc ghẹo bạn bè trong lớp khiến mọi người cười ồ lên. Đến lúc này mình cũng chưa phát hiện ra một điều quan trọng... Cây cảnh báo ra rằng sẽ xảy ra tai nạn, xảy ra mưa lớn nhưng lại không xảy ra. Tự dưng cái ý thức của mình nghĩ rằng cây nói sai. Cơ thể mình lại la lên rằng: "Cây cối và thiên nhiên ở đây rất yêu các bạn nên đã ngăn cho mưa không xảy ra" Lúc ra về, cây cối chào tạm biệt mọi người và chúc mọi người vui vẻ. Mặc dù vậy, cây cối vẫn chưa thoát khỏi người mình.
.............. Mọi người lúc về hỏi thăm những trải nghiệm của mình. Nhưng mọi người lại thấy là cái cây vẫn ở trong người mình. Có người sợ rằng mình sẽ bị cây nhập nhưng mình ý thức rõ mọi chuyện. Biết được suy nghĩ của cây, mặc dù mình không biết nó nói cái gì nhưng mình có thể ra lệnh cho cây nói những điều mà người ấy muốn nghe.....
Sau đó cây nói chuyện với mình. Cây nói mình sẽ gặp những chuyện gì trong tương lai. Tai nạn tiền kiếp của mình và cả những chuyện sắp xảy đến trong gia đình nữa. Mình hỏi sau này có thể gặp cây không ? Cây nói rằng mình có thể liên lạc với bất cứ cây cối nào trong thành phố khi về Sài Gòn để liên lạc lại với cây. Cây đã 1500 tuổi, đã hóa thạch sống lâu trên đời nên cũng hiểu rõ chuyện đời hơn mình. Cây nói mình là người đầu tiên có thể liên lạc nói chuyện với cây cối ở đây. Cây dặn mình cẩn thận... và mặc dù sau này khó có thể liên lạc nhưng vẫn mong mình hãy quay lại nơi này trò chuyện với cây... (tự dưng đang nói chuyện thì cây đi mất) Cây sử dụng miệng của mình để nói chuyện với mình. Khi mình đặt câu hỏi thì có thể hỏi trong tiềm thức hoặc để có thể rõ ràng hơn thì nói ra trên miệng.
Mình cũng đã thử ...nói chuyện với cây khác. Có tác dụng rõ ràng nhưng có một điều là ... mình hỏi những câu hỏi riêng tư thì cây hầu như không biết. Có điều những điều nội tâm thầm kín của mình nó lại hiểu rất rõ.
Sau đó mình phát hiện ra một điều, điều mà mình không ngờ đến. Rung động thư giãn của mình biết nói chuyện. Cái rung động xuất hiện như một nhân cách thứ 2, nó xưng hô mình và nó như một thể thống nhất. Và trò chuyện với người khác bằng thần giao cách cảm mà mình không hề biết. Thậm chí nó còn chỉ mình cách làm việc, ăn uống ngủ nghỉ như thế nào! Có thể bạn không tin những điều mình kể. Mình phát hiện ra rằng... lúc ở trên núi cây SẾN THIÊN... không phải một cái cây nhập vào người mình. Chính rung động thư giãn sau khi có ý thức... đã thâm nhập vào rừng núi thiên nhiên nơi đó, nói chuyện với các bạn. Không có cái nào nhập vào mình, mà cái rung động thư giãn, cái tôi thứ 2 của mình ... liên hệ với các linh thể ý thức khác ... sử dụng cơ thể mình nói chuyện với các bạn.
ĐẤT - CÁT - BIỂN - CÂY - GIÓ - ĐÁ
Mọi chuyện như sáng tỏ hơn một chút. Chỉ trong một ngày, mình cảm thấy rất vui vì đọc được suy nghĩ của cây cối và cả đất đá. Nhưng tâm trạng cũng thực sự hoang mang vì những gì thiên nhiên đã nói với mình...
Mình đã thử nói chuyện với Biển ... Biển nói với mình rằng " Cuộc đời có rất nhiều những con đường khác nhau. Thiên nhiên hướng dẫn mình đến một con đường nào đấy nhưng không có nghĩa là thiên nhiên bắc buộc mình đi đến đấy. Bước chân của mình là do mình chọn lựa. Cuộc đời của mình do chính mình quyết định chứ không phải người khác. Tương lai còn nhiều sự thay đổi, không nhất thiết cái cây 1500 tuổi nói hết mọi chuyện là đúng." "Số phận có thể đã được quy định rằng sẽ nhận một điều gì đó thì hãy để mọi chuyện đến như một cách tự nhiên nhất, trốn tránh hay hoang mang cũng không nói được gì. Hãy sống là chính mình."
Sau đó, càng hiểu ra rằng không có ai nhập mình ... tất cả chỉ là giao cảm các ý thức đến với mình mà vai trò trung gian chính là rung động thư giãn. Tuy nhiên, ý thức vô định hình trong không gian thời gian thì nhiều vô kể. Cũng như thầy đã nói rằng, cây cỏ đất đá, mọi vật đều có linh hồn ý thức riêng của nó. Trải nghiệm với không gian, tác động của ý thức vô định hình đấy lên chúng ta thì nhiều vô kể. Giống như mò kim dưới đáy biển vậy, bạn muốn kiếm một câu trả lời thực sự thì cũng khó như vậy. Khi những người bạn đặt câu hỏi với mình, thiên nhiên hay sự vô thức không quyết định con đường con đường của bạn lựa chọn mà chính bạn sẽ sống cho chính mình...
Mình đã nói chuyện với cát ngay khách sạn mình ở là mình có thể lấy thứ gì về làm kỉ niệm không ? Cát biển chỉ mình ra một nơi ... kêu mình có thể lấy. Mình hỏi cái đó là gì ? Cát trả lời đó là vàng... mỏ vàng lớn nhưng rất sâu. Thể mình lại hỏi có cái nào gần hơn không ? Cát biển trả lời là có. Mình chạy trên biển mà không biết chạy về đâu. Cuối cùng, cát biển dừng lại ở nơi các bạn cùng lớp đang rung động thư giãn. Lại tiếp tục kêu mình đào... đào hoài nhưng chẳng thấy! Mình hỏi đào bao lâu... nó trả lời khoàn 1m... Đào 1m ở dưới cát khi vẫn còn có sóng thì khác gì dã tràng ... Mình hỏi là mình cần thứ gì ở gần đây lại có thể nhặt đem về không ? Nó trả lời rằng có ... và lại tiếp tục chạy...
Khi đến chạy đã rất xa...xa lắm ... mình đến một bãi đá khác. Mình chạy đến một chỗ ngay trên biển. Cát kêu mình đứng ở đấy, 2 đôi tay thò xuống biển. Sóng biển buổi sáng lạnh thật. Tay mình như lạnh rung lên ... nhưng sóng cứ đánh vào chân và tay lạnh buốt nhưng chẳng thấy nhặt được gì. Mò mẫm mãi dưới nước cũng chẳng thấy gì. Lát sau mình lại hỏi thử bãi đá ở đó có gì tặng mình không... Bãi đá nói rằng nơi mình đứng là nơi năng lượng tập trung giao nhau giữa rất tốt. Lúc nãy, Biển đã tặng cho bạn một nguồn năng lượng vô cùng lớn. Sau đó, Biển đã dắt mình đến bãi cát phía sau ... len lỏi qua những tản đá lớn và kêu mình kiếm thử xem...
Mình kiếm ra một viên đá hình mặt người rất kỳ lạ. Biển nói với mình rằng đây là đá hình thành từ bọt biển ... xin tặng bạn làm kỷ niệm để mãi nhớ vùng đất này. (Tất cả lời nói cũng thiên nhiên khi nói chuyện với mình đều là lời nói xuất phát từ miệng của mình thông qua RĐTG ... nói ra bằng miệng để cái tôi không vô thức hiểu được) Sau đó, bãi đá ở đó nói rằng muốn tặng mình nguồn nặng lượng nữa để giúp mình tránh bỏ những họa sắp đến trong tương lai. Mình lại đứng trên khoản trung tâm một ngọn đá cao... múa một vòng để hấp thu năng lượng từ đá. Sau đó, Đá nói mình hãy ra về cẩn thận ... Biển chúc cho cuộc hành trình sẽ thật vui và nói rằng nhóm bạn đi trong đoàn thật sự có nhiều người rất dễ thương. Có rất nhiều người có năng lượng giống như mình... thật kỳ lạ...
Thầy dẫn cả đoàn đến một bãi đá rất to. Thầy chỉ ra những vùng đá có năng lượng và kêu mọi người hấp thu nặng lượng từ đá. Mình sử dụng RĐTG giao lưu với đá ở đó và nó đã chỉ dẫn cho mình là đến nơi nào hút năng lượng và nơi đâu... năng lượng ở đâu thích hợp với người nào. Mình có cảm giác nó hiểu rõ vùng đất ở đây hơn bất kỳ ai.
Bãi đá tiếp theo, mình lại chỉ những nơi nào có nguồn năng lượng tốt có thể hấp thu được cho mọi người. Nhưng có một số người không thích hợp ở đây mình cũng chỉ dẫn họ. Nhưng trong tìm thức của mình không phân định được đâu là người thuần âm, thuần dương được ... nên cũng khó giải thích cho các bạn hiểu.
Bãi đá thầy dắt mọi người đi nhặt đá thạch anh là ly kỳ nhất. Khi mình giao thoa ý thức ở đấy. Đá tự động nói lớn lên rằng " Nơi đây là nơi có nguồn năng lượng rất tốt, đặc biệt có những đá thạch anh có nguồn năng lượng đến từ thiên nhiên chưa hề qua gọt dũa rất thích hợp cho các bạn. Đây là cơ hội có một không hai dành cho mọi người". Sau khi chỉ dẫn mấy người bạn trong đoàn nơi hấp thu năng lượng. Mình lại thử đi kiếm vài viên đá làm kỷ niệm. Đá ở đó lại dẫn mình chạy đến một hẻm núi nhỏ ... cũng khá xa biển một chút. Vào một nơi... tối tăm... hỗn độn như một bãi rác vậy. Thế là kêu mình đào lên... mình hỏi đào sâu không ? Nó trả lời là đào sâu lên sẽ có một khối đá thạch anh lớn cho bạn........................ Sau đó, mình kêu nó đưa mình chỗ khác. Vẫn một hẻm núi cheo leo khác, nó kêu mình đào trên cát. Tay mình tự đào... tự lọc những viên nào là sỏi, viên nào là đá bình thường... cuối cùng là viên thạch anh khá khá chắc tay. Sau đó đá nói mình ra bỉển kiếm nguồn năng lượng phù hợp nạp cho viên đá. Các bạn cứ nghĩ rằng năng lượng dạng như nạp điện rồi sử dụng điện là sai rồi. Cái đó là kích thích cho nguồn năng lượng mở ra, sau khi mở ra rồi cứ tùy nghi sử dụng... nhưng cần có thời gian để phục hồi.
Sau đó, có bạn nhặt được viên đá. Biển ở đó nói rằng đây là viên đá may mắn nhất mà biển dành tặng cho bạn ấy. Hầu như ở đây chưa có ai nhận được điều này, và biển đã chỉ cho bạn ấy nơi nạp năng lượng của viên đá. Có người nói với bạn ấy là viên đá là miếng thủy tinh... nhưng chính viên đá đó phản bác lại là nó là tinh chất thuần khiết của thạch anh. Nó thích người bạn đó, đá ở đây thích bạn trai đấy nên tặng bạn viên đá. (Ui chao... mình cũng ganh tị nữa là người khác)
Kỳ lạ, mình chỉ cần chạm tay vào nơi nào mình thích là có thể kiếm được viên đá thạch anh... hô hô hô. Nhặt được vài viên đá, và có giọng nói vang lên rằng: Bạn đã có được viên đá tốt nhất ở đây... những viên này, là nó buồn vì chẳng ai để ý đến nó và nó muốn đến với bạn. Bạn hãy nạp năng lượng và trao tặng nó cho người khác. Thế là mình đã tặng những viên đá cho ai không nhặt được thạch anh và cho những người bạn mình thích.
Nhiều người bạn thấy mình cứ mãi lên đồng thì lại lo lắng cho mình. Không phải đâu ! Giống như khi chúng ta phát hiện ra một điều hoàn toàn mới mẻ so với người khác thì chúng ta hay lấy ra sử dụng để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó đó mà. Cho đến bây giờ thì mình đã bình tình hơn và sử dụng năng lực có ý nghĩa hơn
Bây giờ, tranngthanh rất nhớ các bạn... nhớ khủng khiếp. Chẳng hiểu lí do gì cũng vẫn nhớ. Chuyến đi chơi vừa rồi cho mình rất nhiều kỉ niệm. Mình muốn gặp lại mọi người! Tự dưng người xa lạ nhưng lại khiến như mình có cảm giác như là người thân trong nhà.
An bây giờ nhớ mọi người trong lớp lắm. Nó nhớ đến từng người trong đoàn đã làm gì và cười như thế nào (RĐTG)
Xin cho mình tiếp tục câu chuyện xảy ra khi mình lên bức tượng phật ở ngọn núi Phan Thiết... Chẳng biết núi tên gì nữa...
TƯỢNG PHẬT NIẾT BÀN
Lúc vừa lên đến cáp treo, những luồng suy nghĩ và cảm xúc của thiên nhiên nhảy múa trong tim óc mình. Các bạn thử xem qua cây cối gửi cho mình những thông tin gì nhé
- Cha cha ! Lạ quá ! Lần đầu tiên ở đây có người có thể liên lạc với cây cối bằng sóng thông tin cảm xạ !
- Các bạn đang từ đâu đến vậy ? Cây cối ở đây rất vui khi gặp được các bạn
- Bạn thật dễ thương ! Nhưng cẩn thận đấy ... cáp treo sắp sửa rung rinh mạnh đó nhé !
- Đâu đâu ? Ai đang nói chuyện vậy ? Hi hi hi ... Các bạn đó đang nhìn mình nè
- Trời hôm nay có thể mưa đấy nhé !
Các bạn có thể giúp trời hôm nay đừng mưa không ?
- Được với điều kiện các bạn không được xả rác, vẽ bậy lên cây, không đái bậy thì tụi này sẽ giúp bạn
Được nhưng mình đang ngồi ở đây, làm sao có thể nói được với những người khác đang đi trong đoàn được.
- Bạn có thể nhắc nhở mọi người trong đoàn của mình là giữ môi trường cho núi rừng sạch đẹp
- Được ! Ít nhất mình cũng là người đầu tiên sẽ làm hết mình. Không ai làm thì ít nhất mình cũng làm
Buổi học lại tiếp tục với những câu chuyện thầy giảng giải về cách coi phong thủy trong nhà. Lúc đó, cây cối nói với tranngthanh rằng các bạn đang bị âm khí ngôi nhà đó ảnh hưởng. Do cơ thể sau khi hút năng lượng ở nhưng nơi khác, bống trở nên nhạy cảm hơn rất nhiều. Lúc đó, mọi người thông cảm khi tranngthanh tự dưng nhảy khắp nơi matxa cho người khác nhé. Lúc đó, cây nói rằng nếu không làm vậy dễ xảy ra hiện tượng trúng gió và bị nhức đầu lắm. Trong buổi học em cũng đã đọc được chút suy nghĩ của thầy đấy. Chai rượu là tác phẩm của em ... nhưng có điều là người khác đã mua tặng thầy chứ không phải em... (em là đồng tác giả đấy mà)
Khi lên đến cửa chùa, cơ thể tranngthanh toàn nhảy múa. Nhảy múa lên một khúc cây đã bị chặt ngang. Tự dưng người mình lại phát ra tiếng nói:
Ở đây là nơi có luồng sóng dương khí khá tốt, những ai vừa bị choáng thì có thể lên đây nhận năng lượng để không bị mệt mỏi
Má ơi! Đi lên núi đã mệt nhưng có thể nói em còn mệt hơn gấp mấy lần người khác. Cơ thể vừa múa, vừa xoay, vừa chạy trên từng bậc thang... múa liên tục không ngừng. Đến cổng chùa đầu tiên... cơ thể em múa rất nhiều ngay trước cổng. Em lạy chào 4 phương tám hướng xong tư dưng có vị sư tăng liên kết với RĐTG của em.
Xin chào thí chủ ! Xin mời người đi vào lối này
Sau đó, tay em chắp ở trước ngực như các vị sư tăng rồi đi từ từ trên bậc thang. Nhưng em không thích lắm nên vị sư tăng nói chào thí chủ rồi tách khỏi RĐTG của em.
Nhảy múa đến tượng phật bà quan âm. Cơ thể em xoay múa liên tục rồi cuối cùng dừng lại ở tư thế ngồi thiền. Em lạy chào phật quan âm ... rồi tự dưng có giọng nói lại vang lên
Xin các nữ thí chủ dừng lại ở đây ! Khi các vị nữ thí chủ lạy tượng phật... thì người đã ban may mắn, phước lành cho các thí chủ! Nam mô a di đà phật ! Các nam thí chủ hãy lên phía trên... bên trên có tượng phật dành cho nam tử.
Rồi cơ thể em tiếp tục chạy trên núi. Gặp đúng là một tượng phật thánh tăng. Cơ thể em lại nhảy múa... chào tượng phật tâm sự cùng tượng phật. Vị sư tăng lại nói chuyện với thầy.
Thầy ! Thầy hư lắm ! Thầy có bệnh nhưng lại không chịu chữa bệnh ... thầy tốt với moi người quá nhưng lại quên đi bản thân mình. Mọi người rất quan tâm đến thầy. Phật ở đây cũng muốn giúp đỡ cho thầy
Sau đó, mình lại nhảy múa... nhảy múa vừa leo núi, vừa leo thang... chắc không ai tưởng tượng nổi đâu. Khi mình lên đến đỉnh núi tượng phật Niết Bàn. Phía dưới chân tượng, có những khoảng đất trống. Tự dưng có giọng nói lại vang lên :
nơi đây từng có chiến tranh, rất nhiều vong hồn chết cô đơn không một chút đèn hoặc nhang khói. Xin các thí chủ dừng lại lạy cho họ một lạy để họ đừng cô đơn! Họ đang cám ơn thí chủ !
Khi đến tượng phật Niết Bàn... dưới chân tượng là các dải thang lớn. Riêng em lại không leo hết bậc thang... cơ thể đi hết một dải thang dai rồi lại có bục thang nhỏ ở góc cuối để leo lên từ từ... nhiều người không biết chuyện này. Vừa đi cơ thể lại tiếp tục nói
Đi bộ trên suốt dải bậc thang này là mang ý nghĩa con đường phật tử đi phải qua nhiều chướng ngại, những dải đường khó khăn rồi mới đến với cảnh Niết bàn an lạc. Người đi tiến phía trước, tay chắp sau lưng thể hiện sự vững vàng của tâm tính, tay gạt phía trước muốn bỏ đi những chông gai đến với phật.
Đi bộ đến nơi... người em leo lên bậc cuối cùng mà không tin tưởng được có thể leo lên được. Bậc thang cuối rất cao nhưng người em búng lên nhẹ như mây vậy... Em xoay mình, múa chào tượng và các phương hướng xung quanh... và kết thúc bằng tư thế ngồi thiền định.
Gió từ khắp nơi thổi tới... thiên nhiên đang chạy đến xem em ... người đang giao cảm với phật pháp. Cơ thể em tự động nằm duỗi ra ... cảm nhận từng giọng nói... lần đầu tiên Phật tổ đang trò chuyện với em.
Con là người có tâm đã đến với cửa phật. Con đừng lo vì những chuyện đã xảy ra ... Đất , đá, cây 1500 tuổi, biển , những lời nói đều có phần đúng. Không có phần sai nhưng cuộc đời con do con quyết định. Nạn kiếp của con sẽ được hóa giải từ từ... Ta rất vui vì gặp con ở nơi này. Số phận con sẽ từ từ thay đổi từ lúc này. Hãy hướng trái tim mình hướng thiện với mọi người. Rồi con sẽ hiểu những điều mà con chưa hiểu...Phật sẽ dẫn đường và ở bên cạnh con.
Sau đó, RĐTG của mình lại đến những người bạn trong đoàn, hướng dẫn họ nơi có thể hút năng lượng, truyền năng lượng. Tẩy rửa những ngang trái, chướng ngại mà họ sắp gặp được trong tương lai... Phật cũng thử thách những họ ... những gì họ sắp phải gặp như thế nào và tránh làm những gì... Rất thú vị nhưng lại có sự riêng tư với những người trong lớp học, cũng như chuyện hơi tâm linh nên mình không dám viết lên cụ thể ở đây. Có gì thắc mắc bạn có thể hỏi cụ thể hơn bằng cách nhắn tin cho mình.
Tiễn mình và các bạn ra đến cổng cáp treo. Sư thầy nói ...
"Các bạn đã giữ đúng lời hứa. Phật và thiên nhiên cũng sẽ giữ lời hứa của mình. Các bạn sẽ không gặp bất cứ giọt mưa nào từ đây đến khi người cuối cùng về đến nhà mình. Mô phật "
Không biết kết quả thế nào ! Nhưng mình cũng mong mọi người về nhà có thể an toàn. Vậy là vui rồi. Sau này mình mới phát giác ra. RĐTG của mình có thể liên lạc với kết cấu không gian, thời gian, liên hệ với suy nghĩ tâm tư sinh vật bằng cách giao động sóng thư giãn, thậm chí mình có thể liên lạc với người cõi âm. Tuy nhiên, mình đang gặp rất nhiều trăn trở. Tự dưng cơ thể tiếp nhận món quà quá to lớn... mình rất khó khăn khi sử dụng nó... mình sợ hãi... buồn bã cũng có. Mọi người trong nhà nghĩ mình bị điên... họ tin ... nhưng họ cũng sợ. Nhưng tranngthanh sẽ cố gắng kiểm soát nguồn năng lực này trong tầm tay của mình.
- Không vụ lợi cá nhân
- không hãm hại người khác
- Không lợi dụng năng lực để lấy danh tiếng, địa vị
- Tâm hướng thiện, mở tấm lòng với mọi người.
Còn nhiều điều thú vị nữa. Các bạn hãy ủng hộ cho tranngthanh. Mình rất nhớ mọi người.
Xin mời các bạn xem hình ảnh dã ngoại Khe Gà:
http://picasaweb.google.com/camxahoc...xahocvietnam02CHUYỆN LẠ VẪN CỨ TIẾP DIỄN
Những chuyện lạ vẫn cứ tiếp diễn khiến đôi lúc mình cảm thấy hoang mang... mặc dù hiện giờ đã mang theo cái vòng TỊNH TÂM của thầy tặng nhưng bản thân cái RĐTG của mình vẫn tiếp nhận giao cảm với rất nhiều sóng vô thức.
Giống như hôm qua, mình có thể giao cảm vô thức với ông bà cố ngoại (không còn sống đâu ạ) nói chuyện bằng nội tâm và hình dung ra cuộc nói chuyện sẽ tiến triển đến đâu... mặc dù mình chỉ suy nghĩ thôi chứ cơ thể không hề có ai sử dụng để nói chuyện... Nửa đêm thấy ngủ không được lại thức... một mình ngồi trên diễn đàn đến tận 4h30 sáng. Những dòng suy nghĩ của cây cối, sinh vật, tinh linh vô thức cứ nhảy múa khiến mình khó tập trung.
Buổi sáng thức dậy, dọn dẹp xong nhà cửa... RĐTG nói chuyện nội tâm với mình (bà cố ngoại khen mình ngoan, kêu mình phải phụ bà ngoại - ông cố ngoại thì đi chơi bên nhà người ta chưa về. Đã vậy còn kêu mình mang một dĩa mực một nắng cho bà dùng thử ... vì trước giờ chưa ăn thử bao giờ)
Lúc đi tập tạ, mình vào phòng tập ... lấy tay khua khua trong không khí một chút rồi đi đến chỗ chị quản lý phòng tập nói chị nên cẩn thận sức khỏe. Cơ thể mình khám nói chị bị Viêm xoang mãn tính, ngoài ra còn bị nhức nửa bên đầu... Một chút sau, có người vào phòng tập mình cũng nói chuyện là người này bị gì... sắp xảy ra chuyện gì... đã gặp chuyện xui thế nào ? Mặc dù mình chẳng biết gì cả nhưng cái RĐTG lại như biết rất rõ. Những lúc này mình không biết cái đó là bói toán hay chiêm tinh nữa. Đầu óc suy nghĩ mông lung kinh khủng. Mặc dù mình chẳng muốn nói nhiều (bình thường em đi tập tạ người ta nghĩ em bị câm, có khi 3 năm liền em chẳng nói chuyện với ai hết) nhưng cái RĐTG muốn mình hướng dẫn, giúp đỡ mọi người hoặc có vô thức trong cơ thể người đó muốn nhờ tranngthanh nhắn lại cho chủ thể vô thức đó biết.
Nhưng mình nghiệm ra một việc rằng: Giả sử mình biết tiểu sử và triệu chứng bệnh Viêm xoang thì chỉ cần người nào mắc bệnh nặng hay nhẹ, xuất hiện tiền sử bệnh thì mình đều biết. Nhưng mình không biết tên bệnh là bệnh gì ... không biết trên đời có triệu chứng bệnh này thì mình chỉ đưa ra cảm giác chung chung là đầu bị đau. Giống như mình từng nói, RĐTG như một quyển sách ... mình phải nạp dữ liệu để nó có thể gia tăng tri thức và luyện tập khí là bồi dưỡng sức mạnh tốt nhất.
Buổi chiều sau khi đi tập tạ về... tự dưng cơ thể mình cảnh báo là có sóng vô thức cần gặp bạn. Tự dưng, cơ thể bắt mình đảo mắt khắp nơi... mình nhìn cây cối... (nó lắc đầu) nhìn dưới đất (nó cũng lắc đầu) nhìn từng dãy nhà cao tầng (vẫn lắc đầu) nhìn lên phía trên cao cũng chẳng thấy gì. Đôi chân cứ bước đi bình thường, nhưng đầu và mắt cứ tìm kiếm liên tục như xem ai kêu mình. Chợt tranngthanh đi qua một cửa hiệu thuốc ĐÔNG Y... cơ thể bảo chính là nơi này rồi kêu mình ghé vào. Em đâu dám. Cứ bước đi bình thường, cơ thể liên tục rung độngm đòi quay lại... cứ vòng vòng đôi chân đòi quay lại nơi hồi nãy. Suốt 100m hơn vẫn cảm giác đó... Sợ thật! Cái ý thức đó van nài mình quay lại...
Trước giờ học, mình có ghé qua công viên TAO ĐÀN chơi (đây là một trong 2 công viên có khá nhiều cây cối tự nhiên của SÀI GÒN) Sau khi gửi xe, cơ thể em múa từng nhịp nhẹ, 2 tay dang rộng chào đón không khí, gió và bóng mát cây xanh. Đột nhiên, chân và tay em lại chạy... hệt như ở cánh rừng PHAN THIẾT!
Chạy một vòng, cơ thể tự động thay đổi hướng, chạy lố một chút tự động nó quay ngược lại lại... em tự hỏi phải cây này kêu mình không ? Không phải ! Phải cây bên kia không ? Cũng không phải Đến một thảm cỏ, chân em bước hẳn lên cỏ ... đi về phía một thảm cỏ... em dừng lại... hai đôi tay đặt vào lòng đất và miệng bắt đầu nói.
Đây chính là một cái cây hóa thạch nằm giữa lòng đất, nó chính là vua của khu rừng cây ở đây. Tuổi của nó khoản 1520 năm. Nó cảm thấy rất vui vì đã gặp được An Sau đó, cây cối lại hướng dẫn mình đến một khu vực khác có đá mang thuộc tính âm để bồi dưỡng nguồn năng lượng.
Tự dưng lại có một cái cây rất muốn nói chuyện với mình... mình lại chạy. Mình chạm vào một cái cây... cây khá to... thân cây ghồ ghề và sần lên những mảng tróc. Không ngờ lại còn có người nói chuyện được cây cối như bạn, mình cũng đã lâu không trò chuyện với ai........... Cây này là một cái cây thuộc hàng lớn tuổi so với những cây sống ở đây, nó không phải vua nhưng nó có uy quyền so với những cây cối khác. Nó nói nó sắp chết rồi... nó vui vẻ chấp nhận số phận của nó. Nó hỏi bạn có thể nhận từ nó một món quà không ? Em đồng ý. Cơ thể em đi vòng vòng quanh thân cây... đôi tay dò tìm sóng năng lượng cây phát ra và mắt thì liên tục nhìn theo các hướng để cây hướng dẫn mình. Cuối cùng loay hoay một hồi em cũng kiếm thấy. Các bạn chắc không tưởng tượng nổi cây tặng mình thứ gì đâu ...
" Mình cũng không sống được bao lâu nữa, khi mình chết thì chắc chắn cây này cũng chết! Bạn có thể mang mầm cây này về chăm sóc không? Đây là tất cả những gì quý nhất mình muốn tặng bạn
Đôi tay mình lúc này đang đặt giữa một cái mầm cây nhỏ bé... (con của cây này) nhỏ lắm... nhỏ và mong manh như một nhánh rau quế vậy . Nhưng nhà mình lại không trồng được (mình đã giao ý thức với cây ở nhà và tụi nó nói rằng ông ngoại của mình sẽ bứng cây của mình trồng chỉ trong 1 phút...) Có ai trên diễn đàn , có thể chăm sóc cái cây này không ? Cây cổ thụ rất mong các bạn có thể giúp đỡ nó... sinh mạng cây nhỏ bé đó là thứ mà nó trân trọng nhất... Nó không thể sống lâu hơn được ... nó biết khi nó chết người ta sẽ xây dựng một khoảng cây kiểng ở đây.
Có một cây khác cũng giao sóng năng lượng muốn nói chuyện với mình. Khi mình chạy lại... đây cũng là một cây lớn (cây thuộc giới tính Nữ) mình linh tính như vậy !
Cây nói rằng thật hiếm khi có người trò chuyện được với cây như mình. Từ trước đến nay, mình là người thứ 3 có năng lực nói chuyện với cây, 2 người trước là nữ nhưng bây giờ không còn gặp họ nữa. Thôi bạn đi học đi kẻo trễ giờ đấy. Trời sắp mưa rồi nhưng cây ở đây sẽ hạn chế mưa cho bạn. Nhanh lên ...
..........Nếu ai có một góc sân nhỏ có thể mang nhánh cây đó về không ? Mọi chuyện đều do duyên số mà thôi. Khi mình post thông tin trên diễn đàn này. Mình tin rằng chủ nhân thực sự của cái cây sẽ biết mà tìm đến mình. Các bạn có tin duyên phận hay không ?
Hẳn có nhiều người đang thắc mắc về tranngthanh là người thế nào ....? Thầy cũng kêu mình giới thiệu về mình cho mọi người biết nên em cũng đành thông báo cho mọi người biết sơ sơ về em
Tên:Thái An - nick sử dụng là tranngthanh
Tuổi : 1983 - Quý Hợi
Giới tính : Nam
Tình trạng hôn nhân: Đã có gia đình
Nghề nghiệp : Giáo viên dạy môn lịch sử cấp 2 - Thiết kế đồ họa chuyên nghiệp. Đã nghỉ việc vì bị cuộc đàn áp cách mạng của boss công ty. Hiện tại chỉ làm nội trợ gia đình Sad
Khả năng đặc biệt: Đọc và giao tiếp được suy nghĩ của các tinh linh. (nhưng trình độ vẫn còn nhiều giới hạn) Không xem được bói toán tương lai, không đọc được thắc mắc, tập trung ý thức cũng không thể đọc được nội tâm người khác... thường mọi thứ là do phản xạ vô thức Chưa mở con mắt thứ ba nên những gì RĐTG cảm nhận được, An không hề biết được.
Sẵn đây, giải đáp thắc mắc luôn
Mọi người hỏi là khi viết những lời nói trên diễn đàn, có phải An viết hay không hay là một cá thể khác viết ?
- Do chính em viết đấy ạ. Trước kia em đã từng làm nhiều nghề, và học những công việc yêu cầu khả năng ghi nhớ lời nói cũng như cách hành văn chính luận, nghị luận, bình giải nên mọi người ngộ nhận cũng đúng. Khi em viết bài để xây dựng chia xẻ kinh nghiệm thì lấy cảm giác thật, cảm nghĩ thật của mọi người để xây dựng bài viết cho phù hợp tâm lý. Còn khi viết trong nhật ký tuyệt thực, em lấy cái chủ nghĩa cá nhân, cảm nhận chủ quan để tạo sự hài hước khiến mọi người thư giãn đấy mà.
An có thấy mình khác gì nhiều so với hồi xưa không ?
- Điều thay đổi nhiều nhất chính là nhân cách của em. Cách sống của em đi dần theo cảm quan, trực giác... tuy nhiên nhân cách của em lại rất hướng thiện... đến độ không thể làm chủ hành động của mình. Hiện giờ em đã mang 2 chiếc vòng để hạn chế các luồng tác động của sóng vô thức đến với mình nên khá thoải mái. Nếu không , đi ra ngoài đường em toàn phải vẫy tay chào mọi người đang trên đường thôi (chào cây cỏ, hoa lá, tinh linh ...) Nhưng điều thành thật mà nói là cái nhân cách em quá đa cảm, quátốt... làm em dễ bị tác động đến nội tâm suy nghĩ lắm. Thương người quá cũng không hay lắm đâu ạ ! Tay đã mỏi nhừ rồi, chân cũng nhức buốt cả lên rồi nhưng vung vẫy tung tăng chạy đi matxa cho người khác ! Hic
- Khả năng nói chuyện và lý luận cực kỳ thuyết phục! Tâm trí luôn tỉnh táo... mặc dù cơ thể nhân sinh quan đang điên lên nhưng phản ứng của cơ thể lại rất bình thản, giọng nói vẫn truyền cảm từ tốn. Thường thì người ta nóng tính dễ gây ra cáu gắt, động chạm tay chân... riêng em thì càng bình tĩnh nhẹ nhàng, nói chuyện càng bác ái, thấu tâm can người khác (có lúc điên đến muốn giết người lên đấy chứ)
Bạn có thể nhìn thấy ma không ? Hay bịt mắt lại đọc được chữ không ? Hoặc bạn có thể kêu cái nhẫn của mình nói tên mình không ?
- Hoàn toàn không !!! Cái RĐTG của An nhìn thấy, biết thấy hết nhưng không cách nào An nhìn thấy được. Và không có cách nào để gửi luồng suy nghĩ đến An hết. Mọi người đừng đánh giá cao năng lực của An quá dễ gây ra sự hiểu lầm lắm. An vẫn chưa hút được kim loại, chưa kiếm được người trên bản đồ, chưa phân biệt được nước muối và nước đường đâu ạ!
An sử dụng năng lượng này có mệt không ?
- Nếu giao tiếp nhiều với âm khí thì mệt, còn lại nói chuyện với cây cỏ hoặc thiên nhiên thì không sao! Càng khỏe nữa là khác... nó truyền năng lượng cho mình cũng được lắm đấy.
An đoán được tên người này hoặc biết được người yêu mình tên gì qua suy nghĩ của mình không ?
- Bó tay chấm cơm.
Hôm nay, lần đầu tiên mình xem lại những bài viết mình đã post lên diễn đàn, đọc lại thấy chẳng hay chút nào... tự dưng thấy mình vô dụng quá. Do cách viết nóng vội lại chưa có sự chuẩn bị viết nháp trước nên câu văn nhiều nơi rất lủng củng, không đúng ngữ pháp. Mong các bạn đừng chấp nha. An sẽ cố gắng viết hay hơn. Nhưng chỉ sợ các bạn thấy bài viết dài... rồi làm biếng đọc.
Trên người mình hiện giờ, đang đeo 2 chiếc vòng.1 là vòng có hình biểu tượng đôi mắt thần Horus đeo trên ngực. 2 là chuỗi tràng hạt những viên đá cẩm thạch đeo trên tay trái. Hai chiếc vòng này nhằm giúp An tránh được những luồng sóng vô thức không tốt cũng như giúp An có thể tịnh tâm, tự chủ lấy chính mình. (Em xin cám ơn thầy vì sự quan tâm của thầy đối với em. 2 Chiếc vòng này thực sự công dụng rất tốt)
Chuyện hôm qua xảy ra với An chắc là chuyện ly kỳ nhất từ trước đến nay. Chắc các bạn sẽ không tin được đâu.
PHẬT - LINH HỒN - MA QUỶ
Hôm nay, mình đã đi chùa Vĩnh Nghiêm. Đây là một trong các ngôi chùa nổi tiếng nhất của Sài Gòn. Trước đây An rất hiếm khi đi chùa chiềng, cứ khoản 1 năm hoặc 2 năm mới đi ... nhưng không hiểu sao hôm chủ nhật vừa đi viến tượng phật Niết Bàn trên núi Tà Cú xong, mà bây giờ lại muốn đi nữa!
Lúc mình đi trời đang chuẩn bị mưa, mình cũng liên hệ thử nói chuyện với cây cỏ nhưng chúng trả lời rằng:"Mưa chắc chắn sẽ đến, chúng chỉ có thể giúp em hạn chế từ từ để đi đến nơi không bị ướt thôi". Đi đến nơi, trời gió thổi mạnh một chút nhưng vẫn chưa mưa. Do có hẹn một vài người bạn và chùa này thì đến mãi 1h30 mới mở cửa chánh điện cho mọi người tham quan, nên em cũng đi thử tham quan một chút xem xung quanh thế nào.
Có bạn hỏi thăm cây này bao nhiêu tuổi, em đều chỉ vào rồi trả lời ngay là bao nhiêu tuổi được liền (tuy nhiên trái tim không dám khẳng định điều gì hết, nói vậy thôi chứ đôi em nghĩ mình nói cũng chẳng biết chính xác không ) Chùa Vĩnh Nghiêm có xây dựng mới một trụ tháp nhỏ ở góc cổng trái nhìn từ chính diện. Tòa tháp này mới xây nên em chưa xem thử lần nào... thế là cơ thể cũng vội chạy liền lại để xem có gì lạ không ?
Trụ tháp trụ trên một bục vuông có diện tích khoảng 6x6m. Lối lên bục là 3 nấc thang nhỏ... phía trước 3 nấc thang này là một mặt đá vuông lớn có diện tích khoản 1.5x1.5m, phía trên có khắc 6 con rồng bao quanh một viên ngọc. Khi em đến gần trụ tháp ... tự dưng cơ thể xoay một vòng nhẹ, hai tay chắp lên ngực, tiến về phía bậc tam cấp quay đầu về phía 6 con rồng... vái 3 lạy. (Nếu người bình thường chắc chẳng bao giờ lạy đâu ạ). Sau đó cơ thể lại đi tiếp lên bậc tam cấp, cơ thể múa nhẹ một chút rồi 2 tay chắp trước ngực đi về phía bên phải bục trụ tháp... thế là đi liên tục hết 3 vòng liền.
Trời lúc này đang trút mưa xuống, mưa rất nhanh và mạnh. (Mọi người chắc đang nhìn em ngạc nhiên vì sao trời đang mưa lại có một thằng nhóc đi lơn tơn giữa trụ tháp mấy vòng...) Mấy người bạn kêu em kiếm chỗ núp mưa đi. Tự dưng, cơ thể em lại nói "Yên tâm đi, sắp hết mưa rồi!". Sau đó, tay em chỉ lên trời ... nói "NGƯNG". Xin thưa... chỉ khoản 1 phút thôi là trời ngưng mưa hẳn. Đi hết 3 vòng, cơ thể em múa một vòng và kết thúc bằng tư thế ngồi thiền (ngồi hẳn trên nước mưa đấy ạ)
Phật đã đưa đường dẫn lối cho con đi đến nơi này. Và chính viên đá cùng chiếc vòng của con đã kêu con mang nó đến đây. Con mang viên đá thạch anh trên biển cùng chiếc vòng đeo tay ra đi. (Không hiểu sao lúc đi khỏi nhà, tay em lại vơ lấy viên đá thạch anh mang theo)
Hai tay cầm viên đá thạch anh, cùng chiếc vòng đưa về phía trước bục tam cấp... giống như người ta đứng dâng hương cho phật vậy. Lại có giọng nói vang lên trong tâm thức.
Được rồi... ! Con hãy yên tâm. Vận mệnh con đang thay đổi từ từ. Con đừng quá lo lắng nữa. Hãy bình tâm và suy nghĩ, hướng mình về điều thiện. Thôi ... con hãy quay lại những người bạn của mình đi.
Lên cửa chánh điện của chùa Vĩnh Nghiêm, cửa vẫn chưa mở. Cơ thể em tự động đi thẳng lên các nấc thang. Hướng về phía tượng phật Kim Cang bên trái ... giống như bức tượng đấy đang kêu mình lại vậy.
"Đặt tay lên chân của ta đi nào và hãy suy nghĩ về cái tên của mình"
Sau đó, cơ thể em tự động biết khi nào là dừng lại, rút tay về... chắp tay vái tượng phật Kim Cang 3 lạy. Sau đó, cơ thể lại tiến về phía tượng phật bên phải, cũng đặt tay lên phía chân của tượng phật, nghĩ về tên của mình và vái tượng phật Kim Cang 3 lạy.
Ta đã lưu tên con lại rồi, và ta sẽ báo cho đức Phật Tổ biết về con. Thật lạ lùng vì bây giờ vẫn còn nhiều người có thể nói chuyện được với tinh linh như con. Nhớ dặn những người bạn của mình làm như con nhé. Ta cũng sẽ lưu tên của họ lại báo cho Phật.
Thế là em lại dặn mọi người làm theo những gì phật Kim Cang nói. Có bạn sắp hỏi là nên mua mấy bó nhang hả anh An thì tự động cơ thể mình lại nói chuyện:
Lên hành hương cửa Phật, không cần nhang, không cần đèn, không cần hương, không cần tiền bạc, chỉ cần tấm lòng thanh tịnh... một lòng hướng đến Phật. Phật là chốn từ bi, bác ái không câu nệ hình thức, không giận hờn chấp nhất một ai.
Một người bạn lại nói: "Anh An ơi! Tự dưng em mang viên đá đến đây nè, anh xem viên đá này năng lượng ra sao dùm em! (Đây là viên đá mà thuộc loại tốt và quý nhất của bãi biển đá thạch anh, đây là lần đầu tiên cũng là lần duy nhất mà biển ở BÀN TAY PHẬT trao tặng quà cho người nó thích - cái này mình đã kể sơ sơ ở trên rồi)
Viên đá này đã kêu bạn đấy mang nó theo đến đây giống như viên đá và chiếc vòng của con đã kêu con lên đây vậy. Hãy kêu bạn đây mang viên đá ra chính điện cửa phật môn, đưa tay ra để ta truyền năng lượng cho viên đá
"Trời đang mưa mà anh An ơi! Thôi lát nữa em ra nha.". Nhưng mình vẫn bình tĩnh trả lời "Yên tâm đi, hết mưa rồi... cứ đi ra đi". Sau đó, tay giơ lên trời và nói "Ngưng, Ngưng, Ngưng". Mưa ngưng hẳn...! Và mình ra hướng dẫn bạn đấy nạp năng lượng cho viên đá. Không phải An có năng lực điều khiển mưa, mà do một phần Đức Phật ở đấy tác động lên môi trường xung quanh và An cảm nhận được mà thôi.
Cửa vẫn chưa mở, mình thấy có cái chuông bên trái ... thế là lại chạy đến. Cơ thể múa tiếp tục... trứơc cái chuông là 3 cái lư hương đá lớn. Trước mỗi lư hương, mình lại xoay từng vòng một rồi ngồi xuống kết thúc với tư thế thiền. Mặc dù em biết mình đang đứng trên một vũng nước khá sâu nhưng cơ thể vẫn bắt ngồi xuống. (Ướt hết quần luôn rồi ) Em lại tiến đến cái chuông đi xung quanh chuông đúng một vòng. Nhưng cách đi ở phía trụ tháp là hai tay chắp ngực... ở đây lại là 2 tay để phía sau, đầu cuối thấp. Khi hết 1 vòng đến mặt trước của chuông, thế là An lại xoay một vòng ... tay giơ lên ôm lấy một thứ. Lúc này, em mới nhận ra trên đầu em là nó đang ôm cái gì... Tay em đang ôm cái cột gỗ dùng để đánh chuông (Nó muốn em đánh mạnh vào cái chuông đó)
Trời đất! Cơ thể vẫn tiếp tục nói ! Phải đánh vào chuông đó, bắt buộc phải đánh ! Không đánh mạnh được thì đánh nhẹ vẫn được. Thế là em gõ nhẹ chuông một cái. Tiếng chuông ngân vang lên... đột nhiên tay phải giơ lên trời hô lớn lệnh "Truyền ! Xa!"
Lúc đó, cơ thể em mách bảo ngay rằng, mọi người đang tới... mọi người đang tới. Đông và đông lắm... nam có, nữ có ... đang đến rất đông. Mọi người đến xem ai là người kêu họ đến. Có một người hình như quen An đấy. Chẳng biết An có nhớ không? An nhớ ! An biết người này rõ nữa ... Mau quay lại chào người ta đi ... (Nhưng chẳng biết ai để mà chào, và cũng chẳng thấy ai ngoại trừ vài người bạn đang đi chung, có điều em cảm nhận được là rất đông người đang đến)
Sau đó, mình hướng dẫn tiếp mọi người đi về chánh điện. Đầu tiên là đi về phía bên phải, lạy những tấm tranh thể hiện những điều gì đó (bản thân An không biết nên không giải thích được) một lạy. Chỉ cần một lạy thôi. Sau đó tiếp tục bên trái 3 tấm tranh. Như vậy là sáu 6 tấm tranh cùng với sáu bước lạy ... cuối cùng mới là chính giữa chánh điện! Vẫn tiếp tục xoay một vòng, kết thúc bằng tư thế ngồi thiền.
"Nhân duyên của con đã đưa con đến đây và cũng đã đưa những người bạn này đến. Số phận con đang thay đổi và cũng đã thay đổi giúp cho họ. Con là người tốt và họ cũng là người tốt. Hãy tháo vòng tay và đưa cả viên đá thạch anh ra để ta ban phép bảo vệ cho nó. Kêu người bạn của con lại luôn đi. Viên đá đấy nói là nó cũng cần được sức mạnh để giúp chủ nhân nó."
Mọi người chỉ cần đến với Phật toàn tâm toàn ý, không cần nói ra từ cửa miệng, Phật cũng biết được những gì con đang suy nghĩ. Không cần Hương, Hoa, Nhang , Đèn , Tiền Bạc, Cúng bái gì phức tạp... Phật vẫn trao tặng may mắn, phước lành cho mọi người khi mọi người đến với cửa Phật với tấm lòng bác ái. Nam mô a di đà phật!
Sau đó, em lại hướng dẫn mọi người đi ra phía sau. Lúc này, cơ thể mới phát hiện là phía sau điện thờ là tượng Phật Tổ đang ngồi, em hỏi RĐTG là tại sao lại không lạy tượng Phật Tổ cũng như tượng la hán ở hai bên. Cơ thể tự động nói "Không cần! Không đến lượt của chúng ta để làm chuyện đó! Chúng ta không cần và không được làm". Có những người bạn cũng đến phía đó lạy, em liền ngăn lại và nhất quyết không cho tiến về khu vực thờ đó. Dường như, đấy là nơi Phật và các thánh tăng tu luyện giáo lý các phật tử ... người thường với những suy tính thói đời chưa rũ bỏ được thì không có quyền bước vào.
Đi ra phía sau, cơ thể lại múa một vòng, ngồi thiền ngay phía sau chỗ dâng hương. "Hôm nay, con đến đây chơi ! Xin hỏi Phật có gì dặn dò con không ạ ?"
Không được vô lễ! ..... Hmmmmm (thở dài) Con hôm nay đã phạm sắc giới phải không? Lần sau khi đến cửa phật phải chay tịnh 1 ngày nhé. Cửa phật là chốn tu hành, không nên để mình vướng mắc nợ trần thế mà đi vào đây. Không tốt cho cửa Phật. Con không biết ! Ta cũng không trách được! Mô phật... số phận con đang thay đổi từ từ. Và cũng hãy yên tâm, Phật sẽ ở bên con ...
Phía sau chánh điện là 2 dãy kính lớn, có hình ảnh những người đã khuất được cầu an, siêu độ tại đây. Cơ thể em lại tự động nói :"Không cần lạy những người ở đây, họ nói không cần thiết... họ đã có hương, quả do chùa chăm lo mỗi ngày rồi. Mọi người hãy đến phía sau. Có rất nhiều người đang cần chúng ta thăm viếng. Những người đó mới thực sự cần chúng ta nhiều nhất.
Phía sân sau chùa Vĩnh Nghiêm là một tòa tháp nhỏ, nơi người ta gửi tro cốt thân nhân lên chùa, nương nhờ cửa phật, ma chay cho thân nhân của mình. Cơ thể em khi tiến đến đây tự động RĐTG lại làm chủ... nó đi nhanh về phía trước, nơi để nhang cúng của chùa dành cho ai đến viếng thăm thân nhân của mình. "Mọi người cầm nhang lên cúng cho những người ở đây! họ rất buồn và cô đơn vì đã lâu không có ai đến đây dâng hương cho họ một nén nhang nào!" Tay em cầm vốc nhang lên,"Chưa đủ ! Thêm nửa !" "Vẫn chưa đủ! Lấy thêm nữa đi" ... miệng cứ nói, và tay cứ liên tục với lấy thêm nhang.
Có một sư thầy đi ra nói chuyện (cách nói hơi hách dịch nên An thấy post lên hơi phản cảm nên không dám viết) nói rằng mỗi người chỉ sử dụng 3 nén hương thôi. Rồi chỉ trích thái độ của An mặc dù An giải thích là có người cần mình dâng hương...
Hmm... thật ra An buồn ghê lắm vì cách nói chuyện của phật tử nơi đây làm mình cảm thấy ngôi chùa đang bị mất dần đi vai trò thực sự của nó. Sư tăng lại đặt chủ nghĩa cá nhân quá cao, và lấy cái suy nghĩ của mình lấn át người khác... đã vậy còn cho rằng An bị tâm thần nữa. An buồn nhưng RĐTG không hề buồn vì nó biết. Vị sư đó không dám tin, ông ấy rất sợ ma... khi thờ ở đấy ! Ông ấy nghĩ là có phật Kim Cang trấn hết mấy vong linh... ông sẽ không sợ bất cứ thứ gì. Các tinh linh ở đấy cũng khuyên mình rằng đừng nên buồn, ông ấy là người tốt nhưng cách cư xử hơi lỗ mãn thôi. Họ biết tâm ý của mình nên rất cảm động.
Thế là An chỉ mang theo một nén nhang, đi hết tất cả các vòng, đưa hương nhang đến các bình tro cốt. Thật ra mình không thắp hết từng hài cốt... chỉ cần cắm mỗi dãy hàng lang một que nhang thôi cũng được. Nhưng xem ra không có duyên số rồi. Ở trên đỉnh tòa tháp... nơi thờ các vị phật tử đã quy y nơi cửa Phật. Họ cũng khuyên mình đừng buồn.
Phật môn là chốn thanh tịnh nhưng không có nghĩa có thể tránh đi mọi điều xấu đang tồn tại trên trần thế. Con người vốn có cái tốt, cái xấu đi xen kẽ với nhau... chỉ vì chúng ta chưa thấy cái tốt của họ mà thôi. Mô phật...
Ra về, trời cũng là mưa lớn. Mình hỏi có thể kêu trời ngưng mưa không ? Có thể được. Bằng cách nào ? Thế là cơ thể mình đi xuyên thẳng vào mưa to tiến đến phần trụ tháp với 6 con rồng trên phiến đá vuông. Mình lạy 3 lạy... và đứng một hồi. (Mưa có bớt nhưng không ngưng hẳn). Sau đó, khi mình về mới biểt rằng, mưa có phạm vi trên cả thành phố... muốn mưa ngưng chỉ có thể ở khu vực chùa Vĩnh Nghiêm thôi. Những nơi khác muốn không mưa rất khó. Và mặc dù cuối cùng trời cũng hết mưa nhưng ...
Tại sao những viên đá và cái vòng tay của An lại muốn ghé vào chùa ... hồi sau sẽ rõ !
Do em từng gặp chị nên trong tiềm thức của An đã có thể nói chuyện bằng sóng cảm xạ rồi. Và em cũng đã cộng hưởng năng lượng từ cái cây ở phía Tao Đàn. Cái cây đó nói, chị là người rất tốt nhưng chị không phải là người thích hợp với cái cây này. Do em chưa gặp bác chị nên em khó có thể nói được bác chị phải chủ nhân thực sự của nó không...
Cái cây đó nói rằng:
"Chủ nhân của em là một người bình thường thôi! Người đấy đang gặp vấn đề về tiền bạc. Ngòai ra trong gia đình, đang có một người thân bị bệnh. Em thì biết rõ chủ nhân nhưng bạn An chưa gặp người lần nào nên không biết đấy thôi. Em có thể liên lạc tâm thức với chủ nhân nhưng không phải lúc nào người cũng nghe được. Cá nhân của em cũng có năng lực giới hạn. Chủ nhân của em hình như là nữ và thường xuyên không ở nhà do bận công việc thường xuyên"
Tranngthanh (Theo học viên Cảm xạ khóa 39 Sài Gòn)
Theo camxahoc.com
Friday, 11. January 2008, 14:49:42
Hãy đợi đấy! [Ну, погоди!]
[img]
http://img527.imageshack.us/img527/8601/hddmx6.jpgHãy đợi đấy! (tiếng Nga: Ну, погоди!, Nu, pogodi!) là một loạt các tập phim hoạt hình về Sói và Thỏ, do Soyuzmultfilm sản xuất từ năm 1969 đến năm 1993 (các tập 1-18), năm 2005, Kristmas Filmz tiếp tục sản xuất các tập 19-20. Lần công diễn đầu tiên của tập 1 diễn ra ngày 1 tháng 1 năm 1969. Đạo diễn các tập 1-18 là Vyacheslav Mikhailovich Kotyonochkin, các tập 19-20 là con trai ông, Aleksei Vyacheslavovich Kotyonochkin.
Các phần của Nu, pogodi! được đánh số nhưng không đặt tên. Mỗi phần được đặt trong một môi trường khác nhau. Năm trình chiếu ghi trong ngoặc.
1. Trong thành phố và trên bãi tắm (1969)
2. Trong công viên thành phố (1970)
3. Trên đường (1971)
4. Trong sân vận động (1971)
5. Trong thành phố (1972)
6. Ở nông thôn (1973)
7. Trên tàu (1973)
8. Năm mới (1974)
9. Trong xưởng quay truyền hình (1976)
10. Trên công trường (1976)
11. Trong rạp xiếc (1977)
12. Trong bảo tàng (1978)
13. Thế vận hội '80 (1980)
14. Câu lạc bộ các nhà kỹ thuật trẻ (1984)
15. Nhà văn hoá (1985)
16. Trong chuyện cổ tích (1986)
17. Trên đảo (1993, trình chiếu 1994)
18. Siêu thị (1993, trình chiếu 1995)
19. Ở khu nghỉ mát (2005)
20. (đang sản xuất)
(nguồn: vi.wikipedia.org)
Format: DivX 3 352x288 25.00fps
Size: 18*35 Mb (~620 Mb)
[img]
http://img296.imageshack.us/img296/1360/hdd1bz7.jpghttp://rapidshare.com/files/82748336/Nu_pogodi_1.rar
http://rapidshare.com/files/82761592/Nu_pogodi_2.rar
http://rapidshare.com/files/82876548/Hay_doi_day_-_Cartoon_3.rar
http://rapidshare.com/files/82887492/Hay_doi_day_-_Cartoon_4.rar
[img]
http://img242.imageshack.us/img242/4165/hdd2qt5.jpghttp://rapidshare.com/files/82876736/Hay_doi_day_-_Cartoon_5.rar
http://rapidshare.com/files/82887290/Hay_doi_day_-_Cartoon_6.rar
http://rapidshare.com/files/82892158/Hay_doi_day_-_Cartoon_7.rar
http://rapidshare.com/files/82894645/Hay_doi_day_-_Cartoon_8.rar
[img]
http://img201.imageshack.us/img201/6932/hdd3je3.jpghttp://rapidshare.com/files/82940468/Hay_doi_day_-_Cartoon_9.rar
http://rapidshare.com/files/82946973/Hay_doi_day_-_Cartoon_10.rar
http://rapidshare.com/files/82943100/Hay_doi_day_-_Cartoon_11.rar
http://rapidshare.com/files/82951433/Hay_doi_day_-_Cartoon_12.rar
[img]
http://img146.imageshack.us/img146/913/hdd4fa3.jpghttp://rapidshare.com/files/82957046/Hay_doi_day_-_Cartoon_13.rar
http://rapidshare.com/files/82953977/Hay_doi_day_-_Cartoon_14.rar
http://rapidshare.com/files/82965921/Hay_doi_day_-_Cartoon_15.rar
http://rapidshare.com/files/82964712/Hay_doi_day_-_Cartoon_16.rar
[img]
http://img511.imageshack.us/img511/6391/hdd5fl5.jpghttp://rapidshare.com/files/82961713/Hay_doi_day_-_Cartoon_17.rar
http://rapidshare.com/files/82957186/Hay_doi_day_-_Cartoon_18.rar
Friday, 11. January 2008, 04:34:08
Người có cặp mắt thần
TTL là một cô gái trẻ đẹp, mắt sáng long lanh, năm nay (1995) vừa tròn 30 tuổi. Cô làm y sĩ bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân trong nước. Những người sống quanh cô gọi cô là người có đôi mắt thần bởi cô có khả năng nhìn xuyên qua cơ thể người khác và "nhìn" được bằng tai. Một tờ báo lớn đã mời TTL đến biểu diễn khả năng của mình. Đông đảo các nhà báo tham gia cuộc thử nghiệm với thái độ bán tín bán nghi. Đầu tiên một người lấy giấy viết hàng chữ gì đó, vo lại rồi nhét vào tai cô. TTL trầm tư một lát rồi nói: "Đây là 3 chữ "Cảm ơn cô" viết bằng bút máy trên giấy trắng". Cả phòng họp ồn lên, người ta truyền nhau xem mảNh giấy vừa được lấy ra vuốt phẳng. Sau khi xác nhận khả năng đóng chữ đúng của cô, người ta chuyển sang phần thử nghiệm xem cô đoán bệnh có "thần" như thế không?
Trong một căn phòng được tắt đèn và kéo rèm các cửa cho tối, TL bắt đầu khám bệnh cho một bệnh nhân nữ được đưa tới. Không một lời hỏi han, cô nhìn chăm chú vào cơ thể người bệnh sau lớp quần áo rồi nói: "Đại tràng của chị bị loét, không thấy có khối u nào". Bệnh nhân kinh ngạc một cách thán phục: "Chỉ chẩn đoán rất chính xác. Đúng như kết quả kiểM tra bằng máy cu/a bệnh viện cách đây mất hôm". Rồi bệnh nhân hỏi tiếp: "Vì sao khi mắt chị nhìn tôi, thì tôi thấy n'ng ran và hơi đau như thế?". TL đáp: "Tôi cũng không rõ vì sao, những người bệnh khác cũng đều có cùng ý như thế, chỉ có khác là mạnh hay yếu thôi. Cá biệt bệnh nhân còn có phản ứng run run bắn. Thậm chí ngất xỉu".
Người ta nêu các câu hỏi thì cô trả lời hết sức thoải mái tự tin:
- Công năng đặc biết có tính dị truyền không? Công năng đặt biết của chị được phát hiện từ bao giờ?
- Có di truyền. Còn cụ thể thì tôi không rõ. Ông nội tôi có khả năng đặt biệt loại "thị cảm", ông chỉ cần nhìn người là biết chứng bệnh nào không thể chữa chạy được. Ông bèn dặn thân quyến họ kiếm thứ ngon nhất cho họ ăn và chuẩn bị lo chuyện ma chay. Kết quả dự đoán của ông bao giờ cũng đúng. Hồi đó người ta còn mê tín, họ cho rằng tại ông tôi nguyền rủa, vì thế họ kéo đến đánh chết ông tôi.
Công năng của tôi được phát hiện khi tôi 4 tuổi, cứ đến đêm là tôi thấy bố mẹ tôi là những bộ xương, sợ quá tôi kêu thét lên. Năm lên 8 tuổi, ra đường tôi thấy trong bụng một người có một em bé rất "ngộ", bèn đi theo và xem khiến người ta rất sợ hãi. Năm tôi học cấp 3, có người đến nhờ tôi xem trong bụng có giun sán không, đa số là các bà đến nhờ tôi xem họ đang chửa con trai hay con gái. Sau 5 năm học tại trường quân y, tôi xem bệnh chính xác, đâu là gan, đâu là tụy.
- Công năng của chị có chữa được bệnh không?
- Hiện giờ tôi không rõ, một lần có một người bệnh nhân trong bệnh viện, tôi vừa nhìn thì người bệnh đó ngất đi, sau đó bệnh tình bà ta không chạy chữa gì mà tự nhiên khỏi cả - điều này vì sao tôi không rõ.
Mấy năm qua tôi đã chuẩn đoán cho 4 vạn người bệnh, tỷ lệ chính xác 90%, hình ảnh trên máy là đen trắng và phẳng, còn tôi nhìn thấy được màu sắc nội tạng.
- Mỗi ngày chị khám cho bao nhiêu người?
- Mỗi ngày 3 người, người đầu tiên nhìn rất rõ nét, người thứ hai còn được, người thứ 3 thì đã mờ; sau một ngày làm việc về tôi không muốn ăn uống gì cả, 2 chân nhũn ra, đồng tử mắt giãn ra, người rất mệt mỏi, trí nhớ bị giảm sút. Thường phải 4 - 5 giờ sau cơ thể mới trở lại bình thường.
Nhìn qua vật cản còn gọi là khả năng thấu thị. Trên thế giới có nhiều người có khả năng nhìn thấu thị như nhà ngoại cảm U-ri-ge-be người I-xra-en, bà I-u-lia Vô-rô-bi-ô-vơ người U-cơ-ren (thuộc Liên Xô cũ) v.v...
Khả năng cảm nhận bức xạ hồng ngoại của những bộ phận trong cơ thể con người. Giải thích về hiện tượng người có ý kiến cho rằng: trường sinh học với mật độ năng lượng lớn sẽ tương ứng với bức xạ có tầng số cao, mà các bức xa có tần số cao lại có khả năng xuyên sâu tực những tia Xquang vậy. Hiện tượng thấu thị cách xa đó là khả năng lan toả đặc biệt của năng lương trường sinh học. Ở Việt Nam có Đỗ Bá Hiệp có khả năng nhìn xuyên qua đất, em Nguyễn Thủy Vân (Hà Sơn Bình) nhìn xuyên qua vật cản.
Wednesday, 9. January 2008, 13:36:38
MẪU NGƯỜI “MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU”
Khoa Tử Vi Đẩu Số đặt căn bản trên 118 vì sao gồm chính tinh và phụ tinh. Những sao này được phân bố trên 12 cung của một lá số theo các quy tắc đã định dựa vào ngày, tháng, năm và giờ sinh của mỗi người. Chính tinh có những đặc tính và ảnh hưởng mạnh mẽ hơn phụ tinh cho nên những cung quan trọng như Mệnh, Tài, Quan, Phúc rất cần có chính tinh tọa thủ, nhất là Mệnh. Tuy nhiên, cũng có những lá số mà Mệnh không có chính tinh nào tọa thủ, hay chúng ta thường gọi là Mệnh Vô Chính Diệu (VCD).
Một cung Mệnh không có chính tinh tọa thủ như căn nhà không có chủ, một bầu trời không có trăng sao cho nên Mệnh VCD phải mượn chính tinh ở cung đối diện làm chính tinh của mình. Vì vay mượn cho nên Mệnh VCD chỉ chịu ảnh hưởng chừng sáu hay bảy phần những tốt xấu của các chính tinh ở cung xung chiếu mà thôi. Cung xung chiếu Mệnh là cung Thiên Di. Trong những bài trước, chúng ta đã nói cung Thiên Di là bối cảnh sinh hoặc ngoài xã hội của mỗi người. Do đó, khi phải mượn chính tinh ở cung Thiên Di cho Mệnh của mình thì đặc tính đầu tiên của người VCD là tính uyển chuyển, dễ thích nghi với hoàn cảnh. Phải chăng vì Mệnh không có chính tinh cho nên những người VCD thường là con của vợ hai, hay nàng hầu. Nếu là con của vợ cả thì tuổi trẻ thuở thiếu thời hay bị đau ốm, bệnh tật, khó nuôi. Khi lớn lên thì cuộc đời cũng long đong, vất vả, sớm phải xa nhà, thường sống phiêu bạt nơi đất khách quê người, và tuổi đời không được thọ. Một đặc điểm quan trọng khác mà người VCD phải lưu ý là vì Mệnh của mình không có chính tinh ví như đoàn quân không có tướng cho nên người VCD khi ra đời dù là làm công hay tự mình làm chủ thì cũng không nên là người đúng đầu trong một đơn vị như chỉ huy trưởng của một quân đội, giám đốc của một cơ sở hành chánh hay một cơ sở thương mại.
Người VCD chỉ nên là nhân vật thứ hai như một cái bóng, đúng sau lưng một người khác để phò tá, phụ giúp thì thích hợp và thuận lợi cho công việc hơn. Nếu giữ những chức vụ hàng đầu thì thường hay gặp khó khăn trở ngại, nặng nề hơn thì dễ đưa đến sự thất bại hay tai họa xảy đến cho chính bản thân mình hoặc cho đơn vị, cơ sở mà mình chỉ huy, điều hành. Người VCD tánh tình thâm trầm, khôn ngoan sắc sảo và rất thông minh. Do vậy, những công việc như soạn thảo kế hoạch, tham mưu, cố vấn, quân sư v.v… rất thích hợp với họ, điển hình như Trương Lương, Phạm Lãi, Gia Cát Lượng thời xưa và như Henry Kissinger ngày nay. Ở đây chúng ta thấy một điều oái ăm cho người VCD. Họ có khả năng dự thảo kế hoạch nhưng chỉ thuận lợi khi họ làm cho người khác, còn đối với bản thân họ thì lại trái ngược. Họ thường khó đạt được những gì mà họ dự tính cho chính mình. Ảnh hưởng này mạnh nhất là trong khoản tiền vận của cuộc đời. Càng lớn tuổi thì ảnh hưởng này càng giảm đi.
Người VCD thường lao đao vất vả trong buổi thiếu thời. Chỉ bắt đầu khá từ trung vận và càng về già thì cuộc sống càng ổn định hơn. Nói chung thì cuộc đời của họ thường chỉ được tốt đẹp vào nửa đời sau mà thôi. Bởi đặc tính đó cho nên trong mỗi hạn, dù tiểu hay đại hạn, thì họ cũng chỉ được tốt đẹp vào nửa hạn sau. Ví dụ: Đại hạn 10 năm tốt đẹp thì 5 năm sau được thuận lợi hơn và nhiều may mắn hơn. Là mẫu người có tài, có trí họ có thể đạt được những công danh sự nghiệp. Nhưng trong ba chữ Phước-Lộc-Thọ thì chữ “Thọ” là nhẹ nhất. Và có phải như ông bà chúng ta thường nói: “Đa tài thì bạc mệnh” Cho nên người VCD ít ai có được tuổi thọ cao.
Muốn hóa giải vấn đề này, người VCD phải làm con nuôi của người khác và phải đổi luôn cả họ của mình, hoặc phải sớm xa nhà, mưu sinh nơi đất khách quê người. Với sự bất lợi là Mệnh không có chính tinh thủ, nhưng người VCD vẫn được hai cách tốt: 1. Mệnh VCD có Tuần, Triệt, Thiên Không, hay Địa Không tọa thủ hoặc hợp chiếu, tùy theo cung Mệnh được bao nhiêu sao KHÔNG chiếu, khoa Tử Vi gọi là cách Mệnh VCD đắc nhị không, tam không, hay tứ không. Tuy đây là một cách tốt, khi phát thì phát rất nhanh vì sách có nói “hung tinh đắc địa phát dã như lôi.” Có nghĩa là hung tinh đắc địa thì phát nhanh như sấm chớp.
Nhưng dù sao trong cái tốt vẫn ẩn tàng những sự bất trắc vì đó là bản chất của hung tinh cho nên đây chỉ là cách bạo phát bạo tàn kiểu như Từ Hải hay Hạng Võ mà thôi. Trường hợp Mệnh VCD gặp các sao KHÔNG vừa nêu trên chúng ta phải lưu ý một điều. Nếu Mệnh VCD đắc nhị không thì cũng bình thường, không có gì đáng nói. Nếu đắc tứ không thì ảnh hưởng của Tuần Triệt là con dao hai lưỡi tốt xấu lẫn lộn cho nên không được tròn vẹn. Cách tốt nhất là đắc tam không. Nhưng đối với cách này, cụ Việt Viêm Tử phân biệt rõ ràng giữa các trường hợp “đắc”, “kiến” và “ngộ” đễ khỏi nhầm lẫn trường hợp nào tốt, trường hợp nào xấu. Trường hợp đắc tam không: Mệnh VCD có một sao không thủ Mệnh, hai sao KHÔNG khác ở thế tam hợp chiếu là tốt nhất.
Có câu: “Mệnh VCD đắc tam Không nhi phú quý khả kỳ” Cách này rất ứng hợp cho những người Mệnh Hỏa và Thổ vì các sao Không đều thuộc hành Hỏa cho nên đây cũng là một trong những cách hoạch phát. Trường hợp kiến tam không: Mệnh VCD có 1 sao KHÔNG thủ, một sao KHÔNG thủ ở cung Quan Lộc hoặc Tài Bạch, 1 sao KHÔNG ở cung xung chiếu (Thiên Di) Trong tam hợp Mệnh có hung tinh hay sát tinh tọa thủ. Người có cách này như mộng ảo hoàng lương. Công danh sự nghiệp dù tạo dựng lên được thì chung cuộc cũng chỉ là một giấc mơ. Trường hợp ngộ tam không: Mệnh VCD có hung tinh hay sát tinh hãm địa tọa thủ. Hai cung tam hợp và cung xung chiếu có có sao KHÔNG tọa thủ hợp chiếu vào Mệnh.
Cách này là “Mệnh VCD ngộ tam không phi yểu tắc bần” có nghĩa là gặp cách này không chết sớm thì cũng nghèo hèn cả đời vì tam KHÔNG đi cùng với hung sát tinh hãm địa ở Mệnh trở thành phá tán. 2. Mệnh VCD được hai sao Thái Dương, Thái Âm ở miếu, vượng địa chợp chiếu. Trường hợp này Mệnh như một vòm trời không một áng mây lại được hai vầng Nhật Nguyệt cùng một lúc chiếu vào khiến cho vòm trời ấy trở nên rực rở. Khoa Tử Vi gọi là “Mênh VCD Nhật Nguyệt chiếu hư không chi địa” Có người cho rằng phải có thêm Thiên Hư ở Mệnh nữa thì mới đúng nghĩa với hai chữ “Hư Không” Điều đó xét ra không cần thiết lắm. Người đắc cách này thông minh xuất chúng, đa tài, đa mưu như Gia Cát Lượng trong thời Tam Quốc phân tranh. Khổng Minh Gia Cát Lượng sinh vào giờ Tuất ngày 10 tháng 4, năm Tân Dậu.
Mệnh VCD an tại Mùi có Thái Dương ở Mão (Mặt trời lúc bình minh) và Thái Âm ở Hợi (mặt trăng vằng vặc lúc nửa đêm, cả hai cùng hợp chiếu về Mệnh. Đây là cách “Nhật Nguyệt Tịnh Minh tá cửu trùng ư kim diện” Người đắc cách này luôn luôn kề cận bên cửu trùng, quyền uy chỉ thua một đấng quân vương mà thôi. Vì Mệnh VCD, cho nên tuổi thiếu thời Gia Cát Lượng ẩn cư trong lều cỏ. Qua trung vận mới xuất thế theo phò tá Lưu Bị lập nghiệp đế. Ông là vị quân sư tài ba lỗi lạc, trên thông thiên văn, dưới thông địa lý. Chỉ ngồi trong trướng mà điều binh trăm trận trăm thắng. Ông đã hiểu rõ cái số của mình nên giữ đúng vị trí của một người có Mệnh VCD, chiu dưới chỉ 1 người mà trên muôn vạn người. Nhưng đến khi Lưu Bị qua đời, ấu chúa lên ngôi. Lúc ấy ông phải giữ vai trò của người đứng đầu, quyết định tất cả mọi chuyện như một vị Vua thật sự. Cho nên đó là một điều không thích hợp với người Mệnh VCD.
Phải chăng vì vậy mà 6 lần đưa quân ra khỏi Kỳ Sơn thì cũng 6 lần phải rút quân về không kết qủa. Kể cả lúc biết mình sắp chết, muốn cãi số trời, ông đã làm phép cầm sao bổn mạng của mình lại nhưng cũng không thành. Đó là đặc tính đáng chú ý của người có Mệnh VCD: Mưu sự cho người thì dễ, mà cho chính bản thân mình thì khó. Người ta cũng cho rằng, Gia Cát Lượng chết sớm là vì sát nghiệp của ông qúa nặng. Ông đã dùng hỏa công đốt chết 10 vạn quân đằng giáp của Mạnh Hoạch trong cốc Hồ Lô. Rồi lại dùng hỏa công đốt chết 18 vạn quân của Tào Tháo trên sông Xích Bích. Nhưng nếu chúng ta xét điều này dưới cái nhìn của khoa Tử Vi thi dù sát nghiệp của ông ta nặng hay nhẹ thì tuổi thọ của ông ta cũng sẽ được bao nhiêu với cái số Mệnh VCD?
Wednesday, 9. January 2008, 13:29:17
MẪU NGƯỜI “ĐA TÀI ĐA NĂNG”
Chúng ta vẫn thấy những người tuy sống trong một hoàn cảnh thoải mái, một cuộc sống tương đối đầy đủ nhưng nét mặt của họ lúc nào cũng có sự tư lự, một nét suy tư nào đó, hay phảng phất trên mặt một thoáng buồn miên man như người đang ôm một nỗi niềm tâm sự sâu kín. Khoa Tử Vi, những người này thường cung Mệnh của họ đều có Tang Môn hoặc Bạch Hổ tọa thủ, và chúng ta gọi là mẫu người Tang Hổ.Hai sao Tang Môn, Bạch Hổ là hai bại tinh trong nhóm lục bại. Tuy là hai bại tinh, nhưng người Tang Hổ không phải là người bất tài vô tướng theo cái ý nghĩa mà chúng ta vừa nói đến. Ngược lại, có rất nhiều người đã thành danh cũng nhờ vào hai sao Tang Hổ. Tang Môn thuộc hành Mộc. Bạch Hổ thuộc hành Kim, cả hai đắc địa tại Dần Thân Mão Dậu. hai sao này lúc nào cũng đi đôi với nhau ở vị trí xung chiếu. Tang Hổ đắc địa thủ mệnh là người gan dạ, cương quyết và ngay thẳng. Người Tang Hổ có đủ sự gan lì để thử thách với nghịch cảnh. Khả năng đó có thể xem như ông Trời dành riêng cho họ vì cuộc đời của những người này kể từ lúc lột lòng mẹ thì sự thử thách dành cho họ đã chờ sẳn rồi. Người Tang Hổ thường chịu cảnh mồ côi từ lúc còn bé, nếu không thì tuổi thơ ấu cũng phài chịu cảnh xa cha mẹ, gia đình ly tán, thiếu tình thương và sự đùm bọc của cha mẹ, anh chị. Phải chăng vì vậy mà người Tang Hổ luôn có một nét buồn sâu kín trên khuôn mặt, và nét buồn này sâu đậm nhất trong khoảng thời gian của tuổi thanh xuân tức là khoảng tiền vận rồi sau đó sẽ phai nhạt dần. Để bù trừ cho những bất hạnh đó, người có Tang Hổ đắc địa là người đa tài đa năng, đa hiệu. Tuy tính tình cương quyết và đôi khi trở thành ương ngạnh, nhưng họ là người quyền biến và có khả năng giải quyết công việc cho thích ứng với hoàn cảnh. Năng khiếu nổi bậc nhất của họ là sự suy luận và phán đoán rất sắc bén.
Đó chính là yếu tố căn bản cho khả năng hùng biện cũng như khả năng thuyết phục người khác. Vì vậy, những lãnh vực về chính trị, ngoại giao và luật pháp đều là những sở trường của người Tang Hổ. Trong trường hợp Tang Hổ hãm địa thủ mệnh thì cuộc đời luôn gặp nhiều nghịch cảnh đau thương, ngang trái. Nếu không làm những ngành nghề liên quan như cảnh sát, toà án, luật sư…thì dễ vướng vào vòng tù tội và tuổi thọ cũng ngắn ngủi. Về vấn đề bệnh tật, nói chung cả nam lẫn nữ, dù đắc hay hãm, người Tang Hổ thường hay bị đau ốm bệnh tật, nhất là những bệnh về xương, máu như cao huyết áp, mỡ trong máu…Riêng với nữ mệnh thì nét mặt u sầu, chưa lập gia đình thì tình duyên trắc trở, lận đận, khi có gia đình rồi lại khắc chồng khắc con, nếu gặp thêm Thiên Riêu thì mức độ hình khắc có thể thành sát phu. Cho nên nếu lập gia đình muộn cũng có thể chế giải được phần nào. Nữ mệnh Tang Hổ thì vấn đề sinh nở thường hay gặp khó khăn, khi có con thì lại khổ vì con cái và dễ mắc những bệnh về các bộ phận sinh sản như tử cung, buồng trứng…Ngoài ra, người Tang Hổ, dù nam hay nữ, lúc còn trẻ không có tay nuôi súc vật, phải vào trung vận thì đặc tính này mới giảm dần. Mệnh an tại Dần có Bạch Hổ là cách Hổ Cư Hổ Vị là cọp trong rừng sâu. Đây chỉ người có tài, có địa vị, quyền uy, và thường phát về võ nghiệp. Mệnh an tại Mão có Bạch Hổ là cách Hổ Xuất Sơn Lâm. Cung Mão thuộc phương đông, là thời gian của bình minh, là thời điểm bắt đầu của một ngày, ánh mặt trời vừa rực rỡ, biểu tượng cho một vận hội tốt đẹp đang chờ đón.
Cho nên, người đắc cách này, cuộc đời thường hay gặp được những may mắn đưa đến sự thành công dễ dàng. Bạch Hổ ở hai vị trí Mão Dậu còng gọi là cách “tứ phương củng phục anh hùng” ý nói những người có khả năng lãnh đạo, thâu phục được anh hùng hào kiệt bốn phương. Người mệnh an tại Dậu có Bạch Hổ là cách Hổ Khiếu Tây Phương. Cung Dậu thuộc phương Tây, là thời gian của hoàng hôn vì vậy có người cho rằng Bạch Hổ ở Dậu không tác hại vì đó là lúc cọp đã ăn no nên vào sâu trong rừng mà ngủ. Theo ý của người viết thì hai chữ Tây Phương hàm ý là “cõi Phật” Khiếu Tây Phương là hướng về phương Tây là lạy, cũng có nghĩa là có lòng hướng Phật. Người có cách này là người có tánh tình nhân hậu và thường có khuynh hướng tôn giáo mạnh mẽ. Chỉ nói riêng về lĩnh vực tâm linh, thì người Bạch Hổ Khiếu Tây Phương có phần nào giống người Tử Tham Mão Dậu. Trong hai sao Tang Hổ thì Bạch Hổ có tầm ảnh hưởng đáng kể hơn Tang Môn. Ví dụ như Bạch Hổ đi với Tấu Thư (Hổ Tấu) có nghĩa là Hổ mang hòm sách, chỉ người có số khoa bảng, học rộng hiểu nhiều. Bạch Hổ gặp Phi Liêm (Phi Hổ) như Hổ mọc thêm cánh, cách này giống như Phi Mã, chỉ những người thường gặp được các vận hội may mắn đưa đến sự thành công rất dễ dàng trong cuộc đời. Hạn gặp Phi Hổ hay Phi Mã là vận may đang đến, nếu dự tính điều gì thì nên mạnh dạn xúc tiến, thi cử sẽ đỗ đạt, tìm việc làm sẽ được như ý, có việc rồi thì sẽ được thăng chức thăng lương… Bạch Hổ cũng là một trong Tứ Linh (Long Phượng Hổ Cái) Mệnh, Quan, Phúc, Di đắc Tứ Linh thì đường công danh thuận lợi và có địa vị trong xã hội. Bộ Tứ Linh cũng chế giải được phần nào những tai họa do các hung sát tinh gây ra. Hạn Tứ Linh là cơ hội tốt cho vấn đề công danh. Bạch Hổ và Thiên Hình hay Kình Dương đồng cung thủ Mệnh là cách “hổ hàm kiếm” = Hổ ngậm kiếm, chỉ người gan dạ, oai dũng, có tư cách và chí khí, nếu có thêm những võ tinh hội họp thì đường binh nghiệp sẽ phát rất nhanh. Tang Hổ cũng là những sao lưu, cho nên hạn có Tang Hổ, gặp Lưu Tang, Lưu Hổ là có tang trong hạn đó. Tang Hổ nhập hạn gặp Khốc Hư cũng cùng một ý nghĩa. Ngoài việc có tang, hạn gặp Tang Hổ cũng nên đề phòng tai nạn và bệnh tật, nhất là những chứng bệnh về máu huyết và bệnh về xương như đau khớp, rỗng xương… Đàn bà lúc có thai và sinh nở mà hạn gặp Tang Hổ cũng nên đề phòng việc sinh khó hoặc hư thai. “Nam nhân Tang Hổ hữu tài uyên bác Nữ mệnh Hổ Riêu đa sự qủa ưu” Hai câu trên có thể dùng để tóm lược những nét đặc thù của mẫu người Tang Hổ: đàn ông Tang Hổ thì đa tài đa năng. Đàn bà Tang Hổ tình duyên ngang trái, gia đạo buồn phiền.
Monday, 7. January 2008, 14:46:52
Tôi xin gửi đến huynh Hùng Sơn cùng mọi người câu chuyện của cuộc đời mình. Dĩ nhiên, để cho phù hợp với thể loại truyện ngắn, tôi đã điều chỉnh sắp xếp lại cho lôgíc. Câu chuyện dưới đây là một trong những điều tôi đã trải qua trong đời làm thầy, nếu xét thấy phù hợp thì huynh tuyển chọn, còn không thì... xem như là mua vui không đặng vậy thôi!
Thật ra, tôi nghĩ mãi không biết đặt tựa đề là gì cho phù hợp với những gì mình đã nghe, thấy và biết. Thôi thì cứ đặt đại là "Một cõi âm dương", vì trong cõi tạm này, người dương, kẻ âm đang lẫn lộn. Khác chăng là ta không thấy, không biết họ mà thôi.
MỘT CÕI ÂM DƯƠNG
Chiều xuống nhanh, cái ánh sáng vàng vọt mặt trời xuyên qua tàng cây trứng cá rọi xuống chiếc võng tôi đang nằm. Những cơn gió nhè nhẹ thổi rung cành lá, từng đốm sáng lấp lánh nhảy múa quanh võng tôi như trêu ghẹo.Tia sáng đã nhạt rồi, không còn cảm giác gay gắt như lúc nãy. Giá như trước đây, giờ này tôi đã leo lên sân thượng luyện mặt trời. Mới nghĩ đến thôi, cả người tôi bỗng chạy rần rật như điện chạy, trong đầu tôi vang lên ong ong câu chú “Án thiết toà thần lai ứng hiện…”. Nhưng tôi liền gạt phắt sang một bên không muốn nhớ tới. Giờ đây, những tia sáng yếu ớt này không còn đủ ma lực quyến rũ tôi như trước nữa. Tôi bỏ tất cả, kể từ cái ngày định mệnh ấy…
Đó là cái ngày đứa em trai út của tôi bị tai nạn giao thông mà chết. Tôi không có mặt ở nhà để được nhìn mặt em lần cuối. Đâu có ai hiểu hết nỗi đau khổ của tôi, một người làm thầy, đoán biết khí số của em mình đã tận mà không cách gì cứu vãn được. Dù sư công tôi có khuyên nhủ rằng đó lá định số, nhưng tôi vẫn không cam lòng. Ngày mồng Năm tháng Năm, nhận được điềm báo tử, tôi tính ra điềm báo ứng vào tháng Sáu. Tôi vội vã trao cho em tôi bài kinh Tổ, chú hộ mạng , cả bức tượng Lục Tổ Magaham mà sư công tôi bỏ ra 21 ngày chú nguyện tơm phép. Tôi bắt buộc nó mỗi ngày phải thay tôi thắp nhang trì tụng, không được phép cởi dây chuyền và mặt tượng, không được uống rượu bia…Tôi thắp sẵn ngọn đèn bổn mạng của nó trên bàn thờ, ngày đêm canh chừng không cho đèn tắt… Vậy mà nó vẫn rời bỏ gia đình, bỏ cuộc đời này một cách dữ dội và đau đớn…
Bước sang ngày mồng Một, tôi kẹt đưa đoàn khách đi miền Tây ba ngày. Trưa hôm đó, một con bướm nhỏ bay vào trong bóng đèn và chết cháy, ngọn đèn cũng tắt theo. Tối hôm đó, vì lỡ uống rượu bia với đám bạn cũ, em tôi không dám đeo tượng . Nó cũng không dám đọc kinh chú, chỉ lặng lẽ thắp hương… để rồi sau đó một giờ, trong lúc băng qua đường, nó bị xe hàng cán chết…
Từ ngày đó, tôi bỏ công việc,từ chối gặp gỡ bạn bè, đồng đạo, tự nhốt mình trong nhà, rút vào trong vỏ ốc của sự cô đơn vằn vặt…
Cô Hai Xa Cảng đã về từ lâu, mặt trời cũng đã mất hẳn cuối chân trời phía Tây, chỉ còn lại một quầng sáng đỏ hắt lên bầu trời ảm đạm. Tôi khẽ đung đưa chiếc võng, không khí mát dịu nhưng lòng tôi vẫn cảm thấy nặng nề u uất. Tiếng cô Hai Xa Cảng vẫn còn văng vẳng trong đầu:
- Cậu Hai nghĩ lại đi. Người ta đang cần cậu giúp đỡ, cậu lại nỡ khoanh tay làm ngơ sao? Cứu một người bằng xây bảy cảnh chùa, huống chi bây giờ cậu cứu cả nhà người ta, cả người sống và người chết!
Cô Hai đâu có hiểu tâm trạng của tôi lúc này. Cứu làm gì khi vận mệnh của mình còn không biết sẽ ra sao. Tôi đâu phải là Phật thì làm gì có thể hoá độ mọi người chứ! Ngay đến em tôi, tôi còn không cứu được nữa là…
- Cậu Hai suy nghĩ lai nghe! Nếu cậu đồng ý, tôi thuê xe rước cậu về Mộc Hoá liền. – Câu nói vẫn còn dư âm, nhưng tôi chỉ thở dài và chìm vào trong giấc ngủ nặng nề…
xXx
… Tôi đang đi trên một con đường bờ mấp mô, nhỏ hẹp. Trước mặt tôi là một cánh đồng trải dài. Lúa đã gặt sạch chỉ còn trơ gốc rạ vàng úa, cằn cỗi. Xa xa, thấp thoáng rặng dừa nước. Chắc là phía ấy có nhánh sông hay rạch gì đó. Không gian ảm đạm như buổi chiều tà tắt nắng sớm, dường như có một chút khói sương đang giăng giăng mờ ảo. Tôi
đứng lại ngơ ngác nhìn quanh...Bóng một người con gái thấp thoáng trên con đường bờ phía trước. Tôi rảo bước đi theo, còn kịp nhận ra chiếc áo bà ba bông tím hoa cà phất phơ trong màn sương khói. Tôi cất tiếng gọi, nhưng tiếng của tôi tan vào trong hư vô. Dường như cô gái cảm nhận tiếng kêu của tôi, cô đi chậm như nấn ná. Đến những lối rẽ, cô dừng lại hẳn như chờ đợi. Khi tôi tới gần, cô lại rảo bước đi nhanh. Tôi không nhớ là mình đã theo cô gái được bao lâu, chỉ biết là đi mãi... Đến một hàng tre rậm rạp, cạnh đó là một ngôi mộ đất có trồng cây chuối sứ, cô gái đột ngột quay mặt lại nhìn tôi. Đến lúc này tôi mới nhìn rõ gương mặt của cô.
Phải nói rằng cô rất đẹp, một cái đẹp mặn mà chân chất của cô gái vùng sông nước miền Tây Nam Bộ. Nước da ngăm đen, chân mày thanh tú, đặc biệt là đôi mắt, nó cứ đen láy mở to và đượm buồn. Từ khoé mắt của cô, những giọt lệ cứ trào ra và lăn dài trên gò má ... Tôi chưa kịp hỏi han gì thì cô bỗng mờ dần, mờ dần rồi tan biến trong màn khói sương hư ảo...
xXx
... Tiếng còi xe làm tôi giật mình mở mắt, xung quanh tối đen, trong nhà đã lên đèn tự lúc nào. Tôi đưa tay nhìn đồng hồ- đã hơn chín giờ tối. Tôi đã ngủ quên gần bốn tiếng đồng hồ, như vậy những hình ảnh ban nãy chỉ là một giấc mơ. Tôi lại thở dài, cuộc đời này cũng đang là một giấc mơ không hơn không kém, thoáng nhớ đến hai câu trong bài sám hồng trần:
"Chiêm bao khéo khuấy lạ lùng
Mơ màng trong một giấc nồng mà thôi"
Quơ tay xua đám muỗi háu ăn, tôi ngồi dậy lững thững đi vào nhà. Má tôi đã dọn cơm sẵn cho tôi tự lúc nào. Mâm cơm nguội ngắt.
Về Đầu Trang
Nhat_Nguyet
Đai Nâu
Ngày tham gia: 17 9 2006
Số bài: 235
Đến từ: Vietnam
Gửi: Thứ Năm 08/02/2007 10:31 PM Tiêu đề:
--------------------------------------------------------------------------------
Chào Anh Tamandieungo,
Cám ơn đã chia sẽ câu chuyện của anh đến mọi người. Có Lục Tổ Magaham, kinh tổ, và chú hộ mạng thì coi như đã được bận kim cang giáp đến mấy lớp, vậy mà vẫn không qua được số trời. Sợ thiệt.
Về Đầu Trang
saigon42
Hạ Sư
Ngày tham gia: 28 8 2006
Số bài: 915
Đến từ: USA
Gửi: Thứ Năm 08/02/2007 10:36 PM Tiêu đề:
--------------------------------------------------------------------------------
Tamandieungo thân mến
Tamandieungo tiếp tục đi, tất cả những truyện của các bạn sáng tác đều được tuyển chọn đăng hết nếu không phạm vào nội qui của diễn đàn.
thân ái
Hùng Sơn
Về Đầu Trang
Bin571
Nhất Đẳng
Ngày tham gia: 27 8 2006
Số bài: 1128
Gửi: Thứ Sáu 09/02/2007 12:30 AM Tiêu đề:
--------------------------------------------------------------------------------
Cám ơn Huynh Tanmndieungo đã chia sẻ kinh nghiệm của mình
Thân ái
Về Đầu Trang
tamandieungo
Đai Nâu
Ngày tham gia: 08 1 2007
Số bài: 298
Đến từ: VietNam
Gửi: Thứ Sáu 09/02/2007 12:42 AM Tiêu đề:
--------------------------------------------------------------------------------
Ba tuần sau tôi về công ty tiếp tục làm việc. Ở nhà mãi cũng chẳng làm gì. Suốt ngày ra vào an ủi nói chuyện cho nội và má tôi đỡ buồn. Đến giờ thì tụng kinh trì chú cho thằng em. Từ hôm nó mất đến nay, tôi không còn luyện phù nữa mà chuyển sang tụng kinh Di Đà và trì Vãng sanh thần chú. Tôi biết nó chết dữ như vậy khó mà siêu thăng Tịnh độ, nhưng chắc chắn nó sẽ được về cảnh giới Trung thiên để tu tiếp, chờ cơ hội trở lại nhân gian để hoàn tất đoạn nhân duyên cuối cùng của nó. Thỉnh thoảng tôi có thấy và trò chuyện với em tôi, tuy chỉ một hai câu thì nó biến nhưng tôi có thể đoán được phần nào.Những điều này, tôi không bao giờ dám kể cho gia đình nghe vì sợ nhắc đến chuyện buồn đã qua.
Thấy nội và má tôi bình thường trở lại, tôi mới dám nhận tour mới. Chuyến hành trình này xuôi theo quốc lộ dọc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long theo yêu cầu của khách. Trước ngày khởi hành, Giám đốc gọi tôi lên văn phòng nói nhỏ:
- Em cố gắng săn sóc tốt mấy vị này nhé. “Cớm” không đấy!
Như sợ tôi chưa hiểu, Giám đốc giải thích thêm:
- Đây là đoàn cán bộ văn hoá của Trung ương đi thực tế tự do. Họ không muốn đón tiếp rườm rà nên xin kinh phí rồi tự hợp đồng với công ty mình hướng dẫn. Họ muốn có một người rành về miền Tây đưa đi…
- Trong công ty mình thiếu gì người am hiểu Nam Bộ…
- Ấy, rành thì có rành. Nhưng nghe nói đi với cán bộ Trung ương ai nấy đều rét. Tụi nó sợ ăn nói có gì thất thố… làm ảnh hưởng đến uy tín công ty.
Tôi cười buồn:
- Trung ương hay địa phương gì cũng là người cả thôi, làm gì phải cuống lên thế chứ.
- Anh biết rồi, nhưng đâu phải đứa nào cũng như em… Thôi anh cẩn thận dặn dò em trước, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ nghe.
Hôm sau đoàn chúng tôi lên đường. Chuyến đi khởi hành ngày mồng Một, đúng ba tháng sau khi thằng em tôi mất.
Đến Long An, sau khi làm việc với Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh xong, lẽ ra đoàn đi thẳng đến khu Di tích Óc Eo như kế hoạch định sãn. Nhưng, anh trưởng đoàn chợt nhớ ra có người bạn thân đang làm cán bộ chủ chốt ở Huyện uỷ Mộc Hoá, đã lâu rồi hai người không có dịp gặp nhau. Thế là xe đổi hướng nhắm Mộc Hoá khởi hành…
Chuyện gặp gỡ hàn huyên của những người bạn thân xa cách lâu ngày thiết nghĩ chẳng cần phải kể vào đây. Sau phần xã giao, anhem đồng chí khoác tay nhau đến một quán lá bên bờ sông để làm tiệc tẩy trần, họp mặt. Rượu đế Gò Đen chính hiệu rót ra ly sủi tăm trong vắt, khăn lạnh đập nổ lốp bốp vui tai, không khí họp mặt có chút rượu bia bỗng tưng bừng rộn rã làm sao.
Dĩ nhiên là tôi cũng được dự phần. Nhưng lấy cớ bị bệnh đường ruột, không ăn uống được đồ sống nên tôi tìm cách xin kiếu sau khi hẹn khách gặp lại vào sáng hôm sau.
Thật ra, tôi không ăn được là một lí do. Sâu xa hơn, tôi không chịu được cái cảnh người ta đem cả thau cá lóc ra đập đầu từng con để nướng trui. Những con cá lóc đen trùi trũi, to bằng cườm tay người lớn, bị đập đầu bôm bốp bằng khúc gỗ to,thân cá giãy lên đành đạch rồi giần giật những cơn run rẩy cuối cùng trước khi bị người ta xiên ống tre vào bụng đem lên than đỏ. Hay đau đớn hơn là cái cảnh lũ cá kèo đang nhảy lung tung trong rỗ, bị người ta trút thẳng vào nồi nước đang sôi. Cả lũ quẫy tung thiếu điều bung cả nắp nồi, những cái chết thảm khốc phục vụ cho buổi tâm tình họp mặt của những người bạn cũ… Nhìn cảnh ấy, tôi chợt nhớ đến đoạn phim tài liệu về nạn diệt chủng chiếu cách đây vài năm. Người ta cũng giết nhau bằng cách đập đầu như thế. Lòng nhân cuả con người tan biến trong cái lý tưởng u mê mà họ đang thờ phụng !!!
Tôi vừa bước ra ngoài vừa cúi đầu trì niệm hồi hướng cho lũ cá đáng thương kia: “ Um, gavira gam svaha”. Cầu cho tụi bây dứt sạch sự đau đớn trong nghiệp thức, cầu cho bây dứt sạch nỗi oán hận dày vò để hoá kiếp làm người… tự nhiên tôi nhớ đến câu văn của nhà văn Nam Cao : “kiếp người như kiếp tao chẳng hạn…”
xXx
Tôi thả bộ dọc theo nhánh sông nhỏ. Vài chiếc ghe hàng còn neo trên bến chờ mối, nắng xiên quai buổi chiều phản chiếu trên dòng sông lấp loáng. Đến chợ Mộc Hoá, tôi ghé vô một quán càphê ven sông gọi ly chanh đá nhâm nhi. Cảm giác mát lạnh vừa ngọt vừa chua của ly nước cùng những cơn gió từ mặt sông thổi vào làm tôi sảng khoái hơn.
Đang ngồi ngó mông lung, chợt có tiếng gọi mừng rỡ vang lên:
- Cậu Hai! cậu Hai!
Nghe giọng quen thuộc, tôi quay người nhìn lại. Cô Hai Xa Cảng đang bước vô quán, nét mặt đầy vẻ mừng rỡ:
- Cậu Hai đi đâu vậy? sao cậu lại ở đây? Nhìn thấy cái lưng áo tui nghĩ ngay là cậu mà, cái dáng của cậu không lầm với ai được cả. Gặp cậu ở đây tui mừng quá xá. Thôi, vậy là ổn rồi…
Cô hai liến thoắng một tràng dài như đại liên bắn làm tôi nghe không kịp thở, cũng chẳng trả lời lại được tiếng nào. Bất giác tôi phì cười - nụ cười hiếm hoi từ khi thằng em tôi chết.
- Sao cậu cười vậy? – Cô Hai nhìn tôi ngơ ngác – Tui nói có gì hổng phải hả cậu?
- Không có, tại tôi thấy cô hỏi liên tục chẳng cho ai nói tiếng nào nên tôi cười vậy mà.
- Vậy hả, tui xin lỗi cậu nghe. Gặp cậu ở đây tôi mừng quá nên…
- Thôi, được rồi, cô ngồi xuống đi, bà con người ta nhìn kìa.
Cô Hai kéo ghế cái rột và ngồi xuống đối diện tôi, miệng cô vẫn còn cười toe toét lộ hàm răng trên sún hết mấy cái. Thấy cô tỏ vẻ vui mừng ra mặt, tôi cũng thấy xúc động.Nhìn cô, tôi nhớ lại cái ngày đầu quen biết với cô…
Được sửa bởi tamandieungo ngày Thứ Ba 13/02/2007 6:53 PM; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
tamandieungo
Đai Nâu
Ngày tham gia: 08 1 2007
Số bài: 298
Đến từ: VietNam
Gửi: Thứ Sáu 09/02/2007 2:01 AM Tiêu đề:
--------------------------------------------------------------------------------
...Bà Chín Linh nhi là một đạo hữu mà tôi quen biết trong một lần đi núi Cấm. Lúc ấy, trong đoàn hành hương của bà có người bị chư vị tá điển mà không xuất được, cả đoàn cuống quít khấn vái tứ tung. Tình cờ lúc đó tôi cùng sư huynh Minh Tịnh đi ngang qua. Thấy cô gái bị vật vã không thôi, chịu không được tôi liền xin một chén nước làm phép giải điển, nửa chén tạt vào mặt và rưới lên đầu, nửa chén còn lại cho cô uống. Sau khi cô gái tỉnh hẳn, chúng tôi tiếp tục lên đường. Bà Chín chạy theo làm quen… vậy là tôi có thêm một đạo hữu mới.
Sở dĩ gọi là bà Chín Linh nhi vì chồng bà thứ Chín, gọi theo thứ của chồng. Phần của bà là thu thập các vong con nít về nhà lập trang thờ, hương khói mỗi ngày nghiêm túc. Mỗi khi có ai đó hiếm muộn đến nhờ vả cầu con,bà liền coi tướng trạng, hỏi tên tuổi,nghe mạch lý. Thấy được, bà liền đưa vào bàn thờ van vái Tử Tôn nương nương và xin quẻ âm dương. Được keo, bà đưa ngay ra phía sau nhà, nơi có gian thờ biệt lập để lựa con. Ở trong gian thờ, bà đóng thành kệ như bậc thang. Trên mỗi kệ bà để lủ khủ các con búp bê lớn nhỏ đủ kiểu đặt ở tư thế ngồi. Thân chủ có duyên với con búp bê nào, bà đưa con búp bê ấy đem về nhà để thờ, cho đến khi nào thân chủ có mang thì đem hoá nó đi.
Có một lần, bà Chín đi “thu gom” nhằm càn ranh con lộn thuộc loại oan gia trái chủ.Ngay tối hôm đó, gian thờ linh nhi của bà dậy rân trời tiếng trẻ con khóc thét, tiếng la hét, đùa giỡn, đập phá đồ đạc ầm ầm như một trận ác chiến. Cả nhà hoảng hồn mở đèn chạy vào xem thì mọi thứ vẫn nằm im lìm nguyên vẹn như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Sự việc ngày càng tệ hơn. Ở những đêm kế tiếp, phòng ngủ của từng người bị gõ cửa liên tục như sắp bị phá đến nơi, thức dậy mở cửa ra thì không có người nào. Ban đầu, lũ quỷ con chỉ phá lúc tắt đèn. Về sau, dù đèn mở sáng choang vẫn nghe mồn một tiếng la hét quậy phá của một bầy con nít.
Sự việc lên đến cao trào khi đứa con gái đầu của bà Chín đang ngủ, đến nửa đêm nghe nặng ngực khó thở, mở mắt ra nhìn thì thấy một đứa trẻ mình mẩy máu me không đang ngồi chễm chệ trên ngực. Cô hoảng hồn la hét kinh hoàng đến nỗi hàng xóm xung quanh mở đèn chạy sang cứu giúp…
Bà Chín đã làm hết cách nhưng vẫn không hiệu quả, nhiều huynh đệ khác nhảy vào cúng bái kết cục vẫn như cũ. Cuối cùng,bà chợt nhớ đến tôi…
Ngày đầu tiên tôi đến cúng, mọi thứ có vẻ êm đẹp. Nhưng chỉ yên ổn đúng một đêm, qua đêm sau mọi thứ vẫn đâu vào đấy, thậm chí đám tiểu quỉ quậy còn bạo hơn lúc trước. Tức mình, tôi sử dụng ấn Tam Sơn quyết của Tổ sư truyền kết hợp với bùa trị càn ranh con lộn để khắc chế. Kết quả cũng chẳng ăn thua. Tôi đành chạy về cầu cứu thầy tôi. Thầy tôi nói từ trước đến nay chưa gặp trường hợp này nên chưa nghĩ ra cách tốt nhất, thầy khuyên tôi chạy về chùa gặp sư công một chuyến.
Sau khi nghe tôi thưa chuyện, sư công tôi cười nói:
- Con nít nó biết cái gì mà mày dùng Tam Sơn quyết, chẳng khác nào đem súng ra doạ đứa trẻ lên ba. Còn bùa trị Càn ranh con sát, con lộn chỉ có tác dụng khi nó đang ám người mẹ. Hiện tại, nó đang là quỉ linh nhi ở ngoài pháp phù không phát huy hiệu lực đâu.
- Vậy làm sao bây giờ hả sư công?
- Bản chất của trẻ con là nghịch ngợm, hiền lành. Đứa nhỏ con ranh kia sở dĩ dữ tợn như thế là do oan nghiệp tiền khiên đời trước nên nó mới đeo theo mà báo ứng đến giờ. Đạo hữu của con không biết nguồn cội, không xét thiệt hơn đã vội thu thập nó về, thử hỏi làm sao nó không quậy phá cho được.
Nghe sư công nói, tôi toát mồ hôi lạnh.
- Sư công ơi, con biết rồi. Làm sao giải bây giờ hả ông? Con cái bà Chín bỏ nhà chạy hết trơn, còn bà lo đến tóc hai bên thái dương bạc trắng luôn.
- Cái gì cũng có phép hoá giải cả. Oan có đầu, nợ có chủ mà. Con bảo đạo hữu của con đến nhà thân chủ là mẹ cuả đứa con lộn ấy, thuyết phục thân chủ thỉnh các sư về lập đàn tràng siêu độ cho đứa bé.
- Vậy là xong hả ông?
- Đâu có dễ vậy. Nếu vong nào cũng siêu độ được thì cần gì có thầy pháp hả con. Đó chỉ là bước đầu giúp nó tan bớt oán khí đi. Vong nó dữ tợn, mạnh bạo là do oán khí chất chồng, giải oán khi đi tức nhiên sức mạnh của nó phải sút giảm.
- Vậy là lúc đó có thể ra tay trị nó được rồi phải không ông?
- Sao lúc nào con cũng nghĩ đến chuyện đánh và trừng trị không vậy? Hồi truyền cho con mấy chữ phù Ngũ Lôi, thầy bay nói công dụng của nó để làm gì?
- Dạ, để đánh tà…
- Không phải đánh tà mà là chữa tà, giải tà.
- Vậy có gì khác nhau đâu sư công?
- Hiểu đúng công năng để hiểu rõ tôn chỉ của người làm thầy. Mục đích dùng Ngũ lôi là để răn đe, rồi hoá độ chứ không phải để hành hạ, trừng trị… hiểu chưa?
- Dạ …
- Trong khi đánh tà, con phải khởi tâm từ bi mà biến thành phẫn nộ, có vậy mới đỡ gây oán nghiệp về sau.
- Dạ, sư công nói con hổng hiểu gì hết. Từ bi thì làm sau mà phẫn nộ được, cũng như nước đá làm sao mà đốt cháy thành lửa …
- Con chịu khó tụng kinh niệm Phật và trì Bát nhã thường xuyên đi, sau này con sẽ hiểu dần. Còn bây giờ con chưa thấu triệt được đâu.
- Sư công ơi, vậy còn vụ quỉ linh nhi giải quyết ra sao?
- À, con đem bánh kẹo, sữa bò, đồ chơi vào trong am cúng tụi nó. Sau khi gom lại đủ rồi thì dùng lịnh và chú của Quỷ Tử mẫu mà thu phục. Nếu được, con khuyên đạo hữu của con siêu độ đám tiểu linh nhi này đi. Làm công việc của bà ấy chẳng khác nào đang sử dụng con dao hai lưỡi, không biết lưỡi thứ hai cắt đứt tay mình lúc nào…
Tôi trở về am bà Chín và làm đúng theo những gì sư công hướng dẫn. Cũng may là mọi người đều nhất nhất nghe lời. Công việc tiến triển thuận lợi. Bà Chín qua chuyện này cũng không còn mặn mà việc thờ cúng linh nhi nữa, nên vừa nghe đề nghị của tôi, bà lập tức đồng ý.
Sau khi thu phục bọn trẻ, bà Chín và tôi lập đàn tràng đốt xe giấy thỉnh chư thần đến rước toàn bộ tiểu linh nhi về núi tu hành… Sau này, có hai đứa thành tài, cảm duyên của bà Chín nên quay trở lại tá điển vào xác bà chữa bệnh, coi bói …đó là chuyện sau này.
Monday, 7. January 2008, 14:43:45
Những truyện Niệm Phật cảm ứng
mắt thấy tai nghe
Tác giả: LÂM KHÁN TRỊ
Người dịch: THÍCH HOẰNG CHÍ
MỤC LỤC
- Lời người dịch
- Lời tựa
- Lời nói đầu
Một câu Phật hiệu khởi tử hồi sinh
Bồ tát thị hiện khuyến hóa niệm Phật
Phật A Di Đà phóng quang gia bị
Mẹ già niệm Phật, con được tai qua nạn khỏi
Chị lạy Phật, em trai được nhờ phước
Phật vốn là y vương có thể trị dứt các chứng bệnh
Trợ giúp cha vãng sanh Tây phương thật là đại hiếu
Vốn đến đòi nợ, niệm Phật được giải oan
Bị tai nạn giao thông nhờ niệm Phật được cấp cứu
Xe hư, niệm Phật được hiệu lực
To tiếng niệm Phật, đuổi được oan hồn
Niệm Phật có thể độ được hung thần ác sát
Bên bờ sống chết, được cứu sống lại
Nơi ở của hung thần hoá thành tốt lành
Thuốc A Già Đà trị dược vạn bệnh
Thuốc đại bi khiến cho thai đã chết sống lại
Té xuống lầu bị thương, qua ngày sau không sao
Bồ tát gia bị khai mở trí tuệ cho tôi
Chí tâm niệm Phật, khắc phục được tai nạn gió lửa
Đến lúc việc xảy ra mới ôm chân Phật cũng có kết quả
Té xuống kênh rạch niệm Phật được cứu
Bụng đau khó chịu, bà ngoại dựa vào
Niệm Phật: nước rút, người và vật đều bình an
Xe lật, được bình an vô sự
Xe ba bánh rớt xuống khe một phen thất kinh hồn vía
Nhành dương rải vào thân, cái đau ở ngực liền tiêu
Đức Di Đà tiếp dẫn, cả nhà ánh hào quang kim sắc
Con khỉ sắp bị giết được chuộc mạng biết lạy Phật
Con chó đầy đủ căn lành theo chủ nghe pháp
Khóa tụng sớm tối, rắn đến nghe
Cô hồn có tánh linh theo người nghe kinh
Một đạo bạch quang tiếp dẫn người mất
Trợ niệm cho người vãng sanh Tây phương, công đức vô lượng
Bàn luận trống rỗng vô ích, quỷ thần tính nợ
Bạch y nữ nhân trong mộng cho thuốc
Con khỉ, cái móc câu – phúc đến lòng sáng ra
Trong mộng niệm Phật, gặp dữ hóa lành
Con mèo đòi nợ, yêu cầu siêu độ
Cháu gái nói chuyện phạm lỗi với ma quỷ, nhờ niệm Phật giải oán
Việc sanh tử của ai, tự người đó giải quyết
Thường niệm Phật được thoát khỏi tai nạn
Cành trúc báo bình an, rớt xuống nước được cứu
Ở cõi đời này được nghe thiên nhạc ở hư không
Một tiếng Di Đà, khiến xe được ngừng lại
Địa Tạng Bồ tát chỉ điểm bình an
Chí thành niệm Phật được vãng sanh sắc diện hòa vui
Diêm Vương cũng sợ Phật A Di Đà
Trong mộng niệm Phật, cứu mẹ thoát hiểm
Lúc giải phẫu khoét thịt ở cánh tay, thần thức dạo chơi thiên đường
Nghiệp lực cản trở khiến nhân hết quả dứt
Vợ chồng thổ địa quy y Tam Bảo
Cô dâu niệm Phật lật xe được vô sự
Sát sanh phải bị quả báo đoản mạng
Dát vàng trang nghiêm tượng Phật, lửa nhảy qua khỏi nhà
Chuyện cảm ứng chuyển nghiệp kỳ diệu nhất
Niệm Phật chuyển nghiệp hưởng thọ phước báo
Phật, Bồ tát không phụ người chí tâm
Tai nạn bị treo ở sườn núi, nguy hiểm kinh sợ, rốt cuộc không sao
Đứng chấp tay mỉm cười vãng sanh Tây phương
Hiện bốn tướng lành, nhất định vãng sanh
Bệnh cũ mười năm, không thuốc mà khỏi
Con cháu học Phật cảm hóa được người lớn
Tài xế niệm Phật, tai ương tiêu trừ
Niệm Phật cảm ứng được Quán Thế Âm Bồ tát ứng hóa cứu đứa em
Nhân duyên tin Phật của hai bà cháu
Oan hồn theo đuổi bị sốt cao, niệm Phật hết sốt
Ở trong tù được nghe pháp, kính tu tịnh nghiệp được kết quả
Không gieo nhân Phật, đâu được quả Phật
Nhờ thiện tri thức khai đạo, người mù được sanh Tây phương
Trong mộng được bác sĩ cắt lá gan cứu chữa, và chuyện cứu độ những con rệp
Sự linh ứng mầu nhiệm lúc trợ niệm cho mẹ vãng sanh Tây phương
Vong hồn quấn quít theo quấy phá, niệm Phật được giải oán kết
Tác giả của sách này niệm Phật vãng sanh Tây phương
Lời người dịch
Pháp môn Tịnh độ theo như huyền ký của Đức Phật trong Kinh Vô Lượng Thọ ([1]) và Kinh Đại Tập ([1]) là một pháp môn thù thắng và rất thích hợp với chúng sanh trong thời mạt pháp này. Chư Tổ như các ngài Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Huệ Viễn, Thiện Đạo, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Thiên Như, Liên Trì, Ấn Quang, v.v… cũng đều đề xướng tuyên dương pháp môn Tịnh độ. Và trên thực tế chúng ta thấy hành giả tu Tịnh độ ngày một nhiều. Thế nhưng dịch giả nhận thấy những sách viết về Tịnh độ thì dường như quá ít! Đã thế, mà trong số ít ỏi đó lại còn có những sách nội dung chẳng những không làm tăng trưởng niềm tin nơi hành giả, mà còn gây cho hành giả thêm hoang mang. May thay, dịch giả được đại đức Thích Minh Quang hiện đang du học ở Đài Loan, trong một chuyến về nước tặng cho quyển “Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe” này, dịch giả xem thấy rất hay, cảm thấy quyển sách này nếu được dịch ra chữ Việt và in ấn lưu hành thì có thể giúp tăng trưởng tín tâm nơi hành giả tu Tịnh độ rất nhiều, nên dịch giả không ngại vốn liếng Hán học còn nông cạn và văn từ tiếng Việt cũng rất vụng về, mạnh dạn phát tâm dịch quyển sách này ra chữ Việt, để các hành giả tu Tịnh nghiệp cùng xem, với ước nguyện thông qua quyển sách nhỏ này, mọi người càng thâm tín hơn nơi pháp môn thù thắng mà mình đã chọn.
Ngưỡng mong trên Hòa Thượng bổn sư (Hòa Thượng thượng Trí hạ Tịnh) chứng minh, cùng toàn thể chư liên hữu hoan hỷ với pháp sự này.
Đây là lần đầu tiên dịch giả mạo muội cầm bút dịch một quyển sách Phật ra mắt đại chúng, chắc chắn sẽ có rất nhiều sai sót. Ngưỡng mong được các bậc cao minh chỉ giáo.
Nam mô A Di Đà Phật
Mùa Hạ năm Tân Tỵ
Dịch giả cẩn bút
Tỳ kheo Thích Hoằng Chí
Lời tựa
Tuyết Lô lão nhân Lý Bính Nam ([1])
Sách vở của Tam Đại (ba đời: Hạ, Thương, Chu) như thế nào? Gặp ngọn lửa của nhà Tần, nên nay không còn biết! Còn lưu lại chỉ là sách vở từ nhà Hán trở về sau. Nhìn tổng quát những Kinh, Sử, Tử, Tập đều không ngoài hai chữ “Nhân Quả”. Lấy đó làm gương, làm khuôn phép thì phong hóa trong xã hội được thuần khiết (trong sáng, tốt đẹp). Trong phần Tập (một trong bốn phần Kinh, Sử, Tử, Tập) thì có những tiểu thuyết giả sử, tiếp diễn đến nay vẫn thịnh hành và sự phổ cập đến các hàng độc giả, thực ra còn vượt lên trên cả Kinh, Sử. Chỉ có điều chất lượng của tiểu thuyết không đồng đều, nên không được xếp vào văn hiến. Nhưng những loại tiểu thuyết có nhiều loại phức tạp như loại lịch sử, loại phong tục, loại võ hiệp, loại thần quái, loại ngụ ngôn biếm đời, loại tình yêu nam nữ, v.v… Thể loại tuy nhiều, nhưng đều dùng “thiện ác” để khuyên răn đời, lấy đó làm tông chỉ. Do có công năng giúp đỡ cho Kinh, Sử, cho nên các bậc danh nho, học sĩ đều không bài xích nó, nhưng có những chuyện có hư cấu, dùng từ khoa trương quá đáng; cũng có cái vừa phải xác đáng, cho nên có người tin, có người không tin, vì vậy sách Mạnh Tử có lời than: “Tin hết vào sách không bằng không có sách!”, đây là vì ghét sự khoa trương quá đáng. Sách đã như vậy mà lòng người phần nhiều cũng không đồng: có người tin những điều ghi chép trong sách xưa; có người thì tin những lời nói của người nay; có người tin sách không tin người; có người tin người không tin sách; có người tin xưa không tin nay; có người tin nay không tin xưa. Như thế thì chẳng phải đều tin hết, cũng chẳng phải đều chẳng tin hết.
Quyển sách này người biên soạn là người nay, những điều người nay ghi chép là những việc nay. Người nay thì nhiều người quen; việc nay thì nhiều người biết, cho nên chẳng có hư cấu và khoa trương quá đáng, như thế thì sao mà không tin? Nếu tin thì tăng thêm phước đức, làm cho phong hóa xã hội được thuần khiết (trong sáng, tốt đẹp). Tác phẩm ghi lại những chuyện nhân quả này được viết ra là vì người có lòng tin, cũng làm ra là vì người chưa có lòng tin. Người chưa có lòng tin hiện nay chưa chắc sau này không tin, cho nên tác phẩm được viết ra cũng không uổng phí vậy.
Có người bảo: “Cái nhân quả mà ngài nói, tôi không dám bác, nhưng những chuyện cảm ứng ghi ở đây, không khỏi đáng nghi?”. Ôi, nhân quả là hiện tướng của Sự; cảm ứng là động thái của Lý. Sự và Lý, Động và Hiện nếu có thể tách làm hai, thì làm gì có nhân quả? Lại có người nạn vấn rằng: “Nhân quả, Kinh, Sử đã nói rõ rồi, cần chi đến những chuyện cảm ứng này?”. Đáp: “Ông không nghe việc phương tiện khéo léo trong kinh Pháp Hoa sao? Thuyết pháp thì hàng trung căn, hạn căn không khế ngộ; thuyết thí dụ thì hàng thượng căn trung căn đều nghe; thuyết nhân duyên thì ba căn đều thông suốt, mà quyển sách này đã giúp thêm được cho Kinh, Sử, thế há chẳng tốt hơn sao?”. Như ai thực sự tin được điều này, mới có thể thấy được chỗ thâm áo của Kinh, Sử.
Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 58,
Cuối Xuân năm Kỷ Dậu
Lý Bính Nam ghi
Lời nói đầu
“Người tu Tịnh nghiệp phải nên thực tiễn. Nếu như tu hành mà không niệm Phật, thì cũng giống như người nói ăn mà không có ăn và người đếm tiền của người khác, không có ích gì cho việc tu hành cả. Nói một trượng không bằng làm một tấc! (nói nhiều không bằng làm ít). Đây là lời của ân sư Bính Công (Lý Bính Nam) thường hay khuyên gắng những người tu học. Ngài (Bính Công) hằng tự tu và hóa độ cho người, hai mươi năm ở tại Đài Trung, ngài hoằng dương chánh pháp chưa từng có một ngày gián đoạn, với tâm Từ Bi khuyên người không biết mệt mỏi, khuyên người chân thật niệm Phật, cầu sanh Tây phương, độ người vô số. Tất cả Sĩ, Nông, Công, Thương cho đến những bà già không biết chữ hoặc những trẻ nhỏ ba tuổi … rất nhiều người đạt được sự lợi ích của niệm Phật.
Hiện nay đang là thời mạt pháp, tà thuyết rối rắm, những người tu học muốn đầy đủ pháp vị tốt đẹp, chỉ có y giáo phụng hành, chuẩn bị tư lương chờ đến kỳ hạn có thể vãng sanh về An Dưỡng (cõi Cực Lạc). Đồng trong loài người, mà có người nhân nơi chí tâm niệm Phật mà có được những cảm ứng kỳ diệu, tiêu tai giải nguy, hoặc có người nhất tâm niệm Phật, khi lâm chung nhờ Phật tiếp dẫn thị hiện những tướng lành. Học nhơn (tôi, lời khiêm xưng của tác giả) không ngại ngu muội vụng về, nghĩ ra nên đem những sự thật cảm ứng không thể nghĩ bàn, chính mình mắt thấy tai nghe trong hơn mười năm trở lại đây, nhất nhất ghi chép lại, để cho những người chưa tin Phật, niệm Phật, sớm biết tin Phật niệm Phật; những người đã tin Phật niệm Phật rồi sẽ càng gắng gỏi nỗ lực hơn, tinh tấn hơn gấp bội; những ai thấy nghe đều được lợi ích trong Phật Pháp. Đây chính là nguyện vọng của bút gia.
Lâm Khán Trị
1. MỘT CÂU PHẬT HIỆU KHỞI TỬ HỒI SINH
Có một vị liên hữu ở làng Bắc Đồn, ngoại ô của Đài Trung tên là Lại Lâm Trị, vì chồng của bà tên là Tuấn, cho nên mọi người đều gọi bà là thím Tuấn, năm nay bà sáu mươi bốn tuổi. Mỗi thứ tư và thứ bảy bà đều đến thư viện và Liên xã chùa Từ Quang nghe thuyết pháp; hai thời khóa tụng sáng, tối chỉ biết niệm Phật. Bà có một người con gái tên là Lan, năm mười tám tuổi đã lấy chồng và sanh được một đứa con trai tên là Đạt Tử. Mười ba năm trước lúc Đạt Tử vừa mới ba tuổi, một hôm đi chơi trước cổng, bỗng nhiên có một con heo nái chạy lại đụng ngã Đạt Tử, từ hôm đó trở đi bị sốt cao, lại hôn mê bất tỉnh, theo chẩn đoán của bác sĩ là viêm màng não. Trung y, Tây y, thuốc thang gì đều vô hiệu, hai mươi ngày sau thì chết! Vào khoảng 8 giờ tối là dứt thở, người trong nhà để Đạt Tử trên nền gạch trong phòng khách dùng một bao vải rách đắp lên, giấy khai tử mọi việc chuẩn bị xong, dự định sáng mai đem đi chôn.
Thím Tuấn nhìn thấy đứa cháu chết đi, vô cùng đau lòng, chiều tối đó đến thời khóa, bà vẫn cứ lên niệm Phật như thường, nhưng tình cảm đau thương khó mà ngăn chận. Bà vừa niệm Phật vừa khóc, hướng lên Phật Bồ Tát nói rằng: “Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát! Các Ngài sao không phò hộ cho con? Vùng này chỉ có mình con tin Phật, niệm Phật, vậy mà người ta còn cười con, đã nghèo mà còn bày đặt tin Phật, niệm Phật cái gì? Sau này nhất định họ càng cười con! Phật, Bồ Tát ơi! Các Ngài sao không phò hộ cho con?”. Thím Tuấn lại khóc to lên một hồi, rồi nặng nề lên giường đi ngủ, nhưng nhớ lại đứa cháu dễ thương bị chết đi, bà lăn qua lăn lại hoài mà không ngủ được. Vào khoảng 4 giờ hơn, bỗng nhiên thấy một đạo kim sắc quang minh (ánh sáng màu vàng) từ trong hư không xẹt thẳng vào trong nhà khách, ánh sáng rực rỡ không thể nghĩ bàn. Trong khoảnh khắc, bỗng nhiên nghe được tiếng của Đạt Tử hơn hai mươi ngày không biết khóc và tay chân cứng còng khóc ré lên! Thím Tuấn và con gái là A Lan, vội vã tới xem, thấy hai tay của Đạt Tử đã kéo cái bao vải ra, hai mẹ con vừa mừng vừa sợ, bế nó lên và rót cho nó một tí nước, thì nó cũng uống được, thật là không thể nghĩ bàn. Sáng sớm hôm sau, hai mẹ con lại bồng Đạt Tử đi Bắc Đồn cho bác sĩ khám, bác sĩ cũng thấy kỳ lạ, làm sao chết rồi mà sống lại? Bảo hai mẹ con nhanh chóng đưa lên bệnh viện tỉnh Đài Trung. Lúc đó thím Tuấn yêu cầu tôi phụ giúp bà đưa cháu đi bệnh viện nhập viện!
Đạt Tử liền được đưa đi bệnh viện ở Đài Trung vào Khoa Nhi. Nhưng khi thím Tuấn nhìn thấy mấy chục đứa nhỏ bị viêm màng não trong bệnh viện bị biến dạng kỳ quái: có đứa mắt lệch, có đứa miệng méo, có đứa tay chân không động đậy gì hết, trong lòng rất là buồn. Bà hỏi thăm thì đa số nhập viện từ sáu tháng đến hai năm, sức khỏe vẫn chưa bình phục, mà bác sĩ chẩn đoán cho Đạt Tử, tối thiểu phải nằm viện bốn tháng, còn khả năng hết bệnh hay không cũng không dám chắc! Thím Tuấn mới nói với tôi: “Về tình hình kinh tế nhà tôi làm sao có thể nằm viện lâu đến bốn tháng được?!”. Tôi liền khuyên bà rằng: “Thím Tuấn à! Thím thực là cả đời khôn ngoan, lại đi tính dại một lúc! Đạt Tử là nhờ phước ấm của thím mà được Phật, Bồ Tát phò hộ, mới chết mà được sống lại, tôi nghĩ cháu nhất định sẽ khỏi, chỉ cần chúng ta vừa cố hết sức trị liệu cho cháu, vừa thành khẩn cầu Phật, Bồ Tát cứu giúp, rồi mới phó mặc mạng cho trời!”. Thím Tuấn vẫn còn do dự chưa quyết định, rốt cuộc tôi lại khuyên bà: “Thôi tạm nằm hai tuần đi, khỏe hay không cũng xuất viện, nhưng thím cần ở lại bên cạnh Đạt Tử niệm Phật không được gián đoạn”. Thím Tuấn cuối cùng bị tôi thuyết phục, bèn làm thủ tục nằm viện điều trị!
Đạt Tử nằm viện trị liệu được tốt đẹp, sốt cao đã lui dần; tròng đen con ngươi vốn đã bị lật vào trong chỉ còn thấy tròng trắng nhìn không thấy người, cũng ngày một khôi phục như cũ; dần dần cũng đã nói chuyện lại được, xưng hô với người thân cũng từ từ rõ ràng lại. Khoảng một tuần thím Tuấn muốn về nhà, liền kêu A Lan lại thay thế cho bà chăm sóc Đạt Tử. Nhưng có điều kỳ lạ là thím Tuấn vừa ra khỏi cổng bệnh viện, thì bệnh của Đạt Tử lại nặng trở lại, trong miệng nổi lên hai cái lưỡi và trạng thái hôn mê cũng trở lại, còn chảy máu đầy cả miệng, bác sĩ liền dùng bông gòn nhét vào giữa hai hàm răng. Thím Tuấn vừa về đến trong nhà, con rể bà liền nói: “Má à! Má về làm gì? Nhanh chóng đi vào bệnh viện lại đi! Nhanh đi! Nhanh đi!”. Thím Tuấn trở lại bệnh viện, vừa thấy biến chứng của cháu như thế liền vội ngồi xuống bên mình cháu, chí thành niệm Phật. Kỳ tích lại phát sanh lần nữa, thật là vạn đức hồng danh linh nghiệm không gì bằng! Bà niệm được nửa giờ, Đạt Tử đã thở nhè nhẹ đi vào giấc ngủ, lúc thức dậy, chứng bệnh hai lưỡi đã hết, thật là Phật pháp vô biên. Thím Tuấn đi về chỉ có ba tiếng đồng hồ mà bệnh tình đã biến đổi xấu nghiêm trọng như thế. Khi trở lại, vừa qua niệm Phật thì bệnh càng lúc càng hồi phục bình thường. Đến ngày thứ mười ba, bác sĩ tuyên bố ngày mai có thể xuất viện. Mọi người đang vui mừng, nhưng vào lúc nửa đêm bệnh của Đạt Tử lại lần nữa biến đổi xấu nghiêm trọng, phát sốt rất cao, trong khoảnh khắc thím Tuấn vô cùng hốt hoảng, nhứt thời không có cách gì, bèn lấy mười đồng kêu A Lan đi ra chợ tìm thầy tướng số đưa ngày sinh tháng đẻ của Đạt Tử cho thầy đoán xem số mạng của nó có tới số chết chưa? A Lan đi xem số mạng về nói: “Trong số mạng của Đạt Tử mang chứng tê liệt, năm ba tuổi chắc chắn bị phát sởi mà chết!”. Lúc đó bác sĩ và y tá lại đến chẩn bệnh, lột hết quần áo của Đạt Tử ra xem, phía sau lưng phát hiện đầy những chấm đỏ nhỏ, liền lắc đầu nói: “Đáng tiếc! Đáng tiếc! Thằng bé này đột nhiên lại phát sởi, sau khi bị viêm màng não lại bị sởi rất dễ dẫn đến sưng phổi. Nếu như thế, thì thật không còn cách trị!”. Thím Tuấn và A Lan trước đã nghe đoán số mạng sẽ chết, nay bác sĩ cũng nói sẽ chết càng đau lòng vô cùng! Lúc đó lại hối hận là không nên vào viện, trong hai tuần đã tốn hết mấy ngàn đồng. Lúc đó tôi cũng ở kế bên, liền nói với họ rằng: “Có lẽ Đức Phật A Di Đà và Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi thương xót cho bà là người đệ tử trung thật, mới đặc biệt gia bị, khiến Đạt Tử trước khi xuất viện tái phát sởi, ở trong bệnh viện y dược dễ dàng thuận tiện, chớ nếu sau khi xuất viện về nhà rồi mà tái phát sởi thì càng nguy hiểm hơn! Không tin, ở lại thêm một tuần lễ nữa liền có thể bình an xuất viện. Bây giờ bà phải khẩn thiết hơn nữa ở bên cạnh nó niệm Phật, không được gián đoạn, không nên nản lòng!”. Lúc đó tôi cũng chỉ an ủi họ như thế thôi, thật ra tôi còn sốt ruột hơn họ nữa!
Một tuần lễ trôi qua, trải qua sự trị liệu rất thuận lợi, quả nhiên Đạt Tử đã vượt qua cửa ải tử vong một cách an nhiên, có thể xuất viện được rồi. Nhưng theo nguyên tắc của bệnh viện, người bệnh muốn xuất viện, nhất định phải qua bác sĩ tái khám một lần. Khi bác sĩ khám lại cho Đạt Tử, miệng nói luôn không ngớt: “Kỳ lạ! Kỳ lạ! Làm sao mà bệnh trạng nghiêm trọng quá sức như thế, lại mau khỏi như vậy?”. Liền hỏi thím Tuấn: “Trong miệng bà không ngớt niệm những gì vậy?”. Thím Tuấn nói: “Niệm A Di Đà Phật”. Bác sĩ nghe xong nói: “Mẹ tôi cũng là người ăn chay trường hai, ba chục năm nay rồi, vì sao không biết niệm A Di Đà Phật?”. Đáng tiếc thím Tuấn không biết trả lời, lỡ mất một cơ hội! Lại nói về Đạt Tử, từ khi xuất viện về nhà, sức khỏe cùng với những đứa trẻ bình thường khác mạnh khỏe như nhau, nhưng hay hỏi bà ngoại: “Con còn nhỏ như thế này tại sao biết tự mình ăn cơm, lại biết nói chuyện, biết đi?”. (có lẽ bị ảnh hưởng viêm não nên hơi bị thần kinh - dịch giả). Thím Tuấn liền đổi tên nó lại là “A Châu”
Thời gian qua như tên, mới chớp mắt, A Châu năm nay đã mười bảy tuổi, anh ta thường ngày làm việc rất siêng năng, lại hiếu thuận với người lớn, là một thanh niên tốt có lễ giáo nhân nghĩa.
Cuối cùng chúng ta hãy nghiên cứu một chút, một câu Thánh hiệu này thế mà hơn khoa học. Hãy xem các bác sĩ đã nghiên cứu khoa học mấy chục năm họ chẩn đoán: nếu như thằng nhỏ nằm viện ít nhất phải bốn tháng, còn khả năng khỏi hay không còn không dám chắc! Và một vị khác có khả năng bói bát tự, khéo đoán về âm dương, đoán là chỉ sống có ba tuổi bị ban sởi mà chết, rốt cuộc bị câu Thánh hiệu A Di Đà Phật mà tiêu tai giải nạn, gặp dữ hóa lành. Nhưng có lẽ có người sẽ hoài nghi: “Niệm Phật thì không chết ư?”. Đương nhiên tôi không dám nói quả quyết như thế, do vì đời người có sanh ắt có tử. Nhưng trong kinh có nói rằng: “Chí tâm niệm một câu A Di Đà Phật có thể tiêu diệt tội nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp”. Chỉ cần xem người niệm Phật có phải là “chí tâm” niệm hay không? Nếu như không chí tâm, niệm Phật không có cảm ứng, không tự trách mình, lại đi trách ai đây?
2. BỒ TÁT THỊ HIỆN KHUYẾN HÓA NIỆM PHẬT
Đầu tuần tháng 5 năm ngoái, con gái của thím Tuấn là A Lan, do vì đẻ non nên sức khỏe rất yếu, một hôm bị băng huyết té ngã trên giường hôn mê, thím Tuấn tưởng cô ta ngủ, không để ý. Vài giờ sau tỉnh dậy, cô nói với mẹ: “Con vừa rồi bị hôn mê, thần thức sợ sệt đi đến một nơi rậm rạp um tùm, dường như rất xa, nhưng con vẫn cứ đi mãi về phía trước, giữa đường gặp một người nữ trẻ tuổi, rất là đoan chánh trang nghiêm, vừa chặn con lại, lại thêm duỗi tay đẩy con một cái té lộn nhào, lúc bò dậy con liền mắng cô ta: “Ngươi… cái cô gái này sao mà vô cớ xô ta vậy? Cô tên là gì?”. Cô gái đó liền nói với con rằng: “Chỗ này không phải chỗ ngươi đến, mau mau về đi, ngươi về nhà sẽ biết tên ta”. Nói như thế xong, cô liền cung kính chắp tay lại, miệng niệm: “Nam mô A Di Đà Phật”. Lúc đó con liền tỉnh dậy”. Thím Tuấn nghe xong liền nói với con gái rằng: “Cô gái đó e rằng chính là Quán Thế Âm Bồ Tát biến hóa ra để cứu con đó. Có khả năng là Đức Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát rồi!”.
Từ đó về sau sức khỏe của A Lan hồi phục mạnh khỏe như thường. Sau việc đó, thím Tuấn đến Liên Xã thăm tôi và kể cho nghe chuyện của A Lan trải qua và còn hỏi tôi rằng: “Tại sao Quán Thế Âm Bồ Tát cũng phải chắp tay niệm A Di Đà Phật? Quán Thế Âm Bồ Tát không phải là một trong Tam Thánh của Tây phương Cực Lạc thế giới sao?”. Tôi liền nói với bà ta rằng: “Quán Thế Âm Bồ Tát chắp tay niệm Phật là dạy cho A Lan niệm, không phải ngài tự mình cần phải niệm. Đây chính là dùng tự bản thân làm khuôn phép dạy cho người (thân giáo) muốn khuyến hóa A Lan con gái của bà, không niệm Phật làm sao có thể thoát ly được Ta Bà khổ hải, khỏi vào trong vòng luân hồi?”. Từ đó con gái của thím Tuấn cũng bắt đầu niệm Phật.
3. PHẬT A DI ĐÀ PHÓNG QUANG GIA BỊ
Đây là một câu chuyện thật xảy ra vào ngày mồng 9 tháng 11 ÂL năm Dân Quốc thứ 52 (Dân Quốc sơ niên là 1911) do niệm một câu đại chú vương vạn đức hồng danh mà được cảm ứng không thể nghĩ bàn. Một phụ nữ họ Lại ở trong vùng nông thôn mới do thành phố Đài Trung hỗ trợ, năm nay 54 tuổi, bà ta đã từng dẫn đứa cháu mới 5 tuổi của bà sang một vị liên hữu tên Lý Kim Phương đối diện với nhà bà để nhờ gia trì chú Đại Bi “thâu cảnh”. Gia trì chú Đại Bi “thâu cảnh” là một phương pháp rất hiệu nghiệm, cũng là một pháp môn phương tiện hay, khéo khuyên người niệm Phật.
Buổi trưa mồng 9 hôm đó, bà họ Lại đang làm việc trong nhà bếp, bỗng dưng đầu bà cúi gục xuống, toàn thân co giật. Đứa cháu 5 tuổi đó thế mà rất thông minh, thấy tình trạng như thế, vội vã chạy sang nhà đối diện lớn tiếng kêu lên: “Bà cụ ăn chay ơi! Bà cụ ăn chay ơi! Mau qua giúp bà của con “thâu cảnh”. Vị liên hữu Lý Kim Phương lập tức đến nhà bếp bà Lại, vừa xem, bà giựt mình hốt hoảng, chỉ thấy bà Lại hai con mắt trắng dờ, đã hôn mê bất tỉnh nhân sự, bà mẹ chồng hơn 70 tuổi đang đỡ một bên hông phải của bà ta; đứa con trai lớn đang đỡ hông bên trái, hai người đều sợ đến mức chỉ biết kêu la. Vị liên hữu Lý Kim Phương bảo họ cần phải trấn tỉnh và mọi người phải cùng nhau niệm A Di Đà Phật. Như thế niệm được khoảng 20 phút bà Lại đang trong hôn mê thở ra một hơi, mới mở miệng nói: “Ông ta đứng ở kia kìa, bảo tôi đi với ông ta”. Vị liên hữu Kim Phương hỏi bà ta: “Ông ta là ai vậy?”. Bà Lại đáp: “Là ông Lâm chồng tôi”. Vị liên hữu Kim Phương vừa cao giọng niệm Phật vừa nói với hồn quỷ rằng: “Ông Lâm à! Ông không nên dẫn bà Lại đi, mà nên cố gắng phò hộ sức khỏe của bà được bình an, vì bà ấy là một người con dâu hiếu thảo, trên thì lo hầu hạ mẹ của ông, dưới còn có con nhỏ chưa trưởng thành, cần phải nuôi dạy, ông nhất thiết không được dẫn bà ấy đi!”. Bà mẹ chồng của bà Lại lúc đó cũng nói: “Con à! Từ sau khi con qua đời, vợ con và mẹ cùng nương nhau mà sống, con không được dẫn nó đi, con nếu dẫn nó đi, để lại mẹ già cả thế này và mấy đứa nhỏ còn nhỏ như thế kia, làm sao mà sống đây? Như vậy con chính là đại bất hiếu!”. Vị liên hữu Kim Phương lần nữa lại khuyên hồn quỷ: “Ông Lâm à! Ông phải nên niệm A Di Đà Phật phát nguyện cầu sanh Tây phương, mới có lối thoát, luân hồi trong sáu đường là cái khổ nói không cùng. Bây giờ tôi niệm A Di Đà Phật, ông cũng phải phát tâm niệm A Di Đà Phật theo!”. Nói xong liền niệm “A Di Đà Phật”, niệm liên tục không dừng. Niệm được khoảng nửa tiếng đồng hồ, thì nghe bà Lại bắt đầu nói: “Tam Tiên ánh vàng rực rỡ, Tam Tiên ánh vàng rực rỡ, chồng tôi cũng đi rồi”. Vị liên hữu Kim Phương hỏi bà ta: “Bà hỏi thử xem, Tam Tiên tên là gì?”. Bà Lại nói: “Họ nói là Phật A Di Đà phóng quang gia bị”. Bà Lại đang trong hôn mê tức thời tỉnh táo trở lại, chưa đầy mấy ngày sức khỏe của bà bình an vô sự (Tam Tiên tức là Tam Tôn, do vì bà Lại không phải tín đồ chính thức của Phật giáo, nên không biết tôn xưng Tam Tôn). Bà Lại lần này bị sự nguy khốn đó, cũng không phải không có nguyên nhân, việc xong bà mẹ chồng của bà ta nói với vị liên hữu Kim Phương rằng: “Thằng Lâm con tôi sau khi kết hôn với con dâu họ Lại này chưa từng có gây gổ với nhau lần nào, thật là một cặp vợ chồng hạnh phúc. Từ ba năm trước khi thằng Lâm chết rồi, con Lại ngày ngày đều thương nhớ chồng. Mười mấy hôm trước nó một mình đi ra mộ dọn dẹp, cúng bái, khóc lóc thảm thiết một trận nữa, cho nên bắt đầu từ hôm đó, đêm nào cũng mộng thấy hồn chồng về trong nhà. Điều kỳ lạ là không chỉ một mình nó mộng thấy, trong nhà lớn nhỏ đều mộng thấy cả!”.
Vị liên hữu Lý Kim Phương có hơi không hiểu: Tại sao một người đã chết ba năm rồi, thần thức còn ôm giữ trong mộ? Riêng tôi, tôi cho rằng việc này có hai cách giải thích:
Một là ông Lâm này lúc còn sống, “chấp ngã” rất nặng cho nên sau khi chết đọa vào quỷ đạo vẫn lưu luyến cái thi thể cũ của mình như trước mà trở thành loài quỷ giữ xác!
Hai là lúc bà Lại đi ra mộ quét dọn cúng bái, thì những cô hồn ngạ quỷ ở gần mộ đó biến hóa ra hình tướng của ông Lâm theo bà ta về nhà làm loạn! Căn cứ theo trong Kinh Địa Tạng có nói: “Cõi Diêm Phù Đề này, người hành thiện, lúc lâm chung, cũng có trăm ngàn quỷ thần ác đạo hoặc biến ra làm cha mẹ, nhẫn đến biến ra những bà con quyến thuộc, dẫn dắt người chết khiến vào đường ác, huống nữa là người lúc sống vốn tạo ác nghiệp.
Hai cách giải thích trên đây, không biết thuộc về cách nào? Những vị độc giả thông minh, các ngài có thể giải đáp cho tôi không?
4. MẸ GIÀ NIỆM PHẬT, CON ĐƯỢC TAI QUA NẠN KHỎI
Vị liên hữu Lý Thủy Cẩm trưởng ban Kim Cang trong Liên Xã ở Đài Trung là một vị đệ tử Phật phát tâm Bồ Tát rất thành khẩn. Nhà của bà ở số 31 đường Nam Kinh trong nội thành, chẳng những làm cho cả gia đình theo Phật mà còn độ được cả nhà của mẹ mình. Nhà của mẹ bà ở trên núi làng Minh Tú trấn Sa Lộc. Vào ngày mồng 8 tháng 9, tám năm về trước bắt đầu mời các vị hoằng pháp trong Liên Xã đến đó tuyên giảng chánh pháp, khuyên người niệm Phật. Trong nhà bà thờ phụng tượng Tây phương Tam Thánh, đặt tên là “Tín Nghĩa Đường”, lại còn lấy ngày mồng 8 tháng 9 hằng năm làm ngày lễ kỷ niệm định kỳ. Những tín đồ ở gần đấy, mỗi lần đến ngày đó đều sắm sửa hương hoa quả phẩm đến Tín Nghĩa Đường lễ Phật, nghe pháp. Ngày mồng 8 tháng 9 năm Dân Quốc thứ 52, học nhơn (lời khiêm xưng của tác giả sách này: Khán Trị) được mời đến đó giảng Phật Pháp kết duyên. Hôm đó có một bà lão cùng một người nam trong tay bưng một khung kiếng đi đến Tín Nghĩa Đường, trên mặt hai người lộ nét rất vui vẻ, ở trước Phật, năm vóc sát đất, rất là cung kính dập đầu ba lạy, tôi nhìn thấy không khỏi hiếu kỳ liền đến hỏi bà lão: “Các vị tin Phật lễ bái thành khẩn như thế, không biết là nhân duyên gì?”. Lúc đó bà lão lập tức trả lời rằng: “Tôi đến để đáp tạ Phật, Bồ Tát đã phò hộ”. Tôi tìm cho bà ta một chỗ ngồi, thế là bà từ từ nói ra một đoạn nhân duyên tin Phật như sau:
“Vào trung tuần tháng rồi, có một đêm tôi nằm mộng thấy răng của tôi toàn bộ rụng hết. Trời sáng thức dậy suy nghĩ đây là một điềm báo trước không tốt lành, tôi liền đem việc chiêm bao không tốt lành này nói với em dâu Cẩm Tỉ, cô ta dạy tôi quỳ trước Phật, nhứt tâm niệm Phật, khẩn cầu Phật Tổ phò hộ cho cả nhà bình an, gặp dữ hóa lành, nạn lớn biến thành nhỏ, nạn nhỏ biến thành không”. Bà lão nói một mạch đoạn nguyên nhân trước này, dừng lại một chút lại nói tiếp: “Tôi có đứa con lớn tên là Thành, làm công nhân đốt than trong vùng núi sâu ở miền Trung. Sáng hôm đó nó đang công tác nổi lửa đốt củi, thì bên tai bỗng nghe có người gọi: “Thành à! Về nào!”. Nó quay nhìn xung quanh, hoàn toàn không thấy ai, tại sao lại có tiếng kêu? Lại chạy ra bên ngoài nhìn xem cũng chẳng thấy người nào gọi nó, nhưng khi nó đi lại vào trong nhà, thì bên tai lại nghe tiếng gọi: “Thành à! Về nào!”. Lúc đó anh Thành cảm thấy rất kinh ngạc, liền nghĩ đến bà mẹ già hơn bảy mươi tuổi ở nhà, có phải đã xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn rồi không? Lập tức đến ông chủ xin nghỉ phép, kiên quyết sửa soạn hành trang về nhà thăm. Khi anh Thành vai mang quần áo, mền bông rời khỏi nơi đốt than khoảng hơn một trăm bước, thì bỗng nhiên nghe “bình” một tiếng thật to, quay đầu nhìn lại xem thử, thì chính là cái gian nhà của anh ta ở đốt than vừa bị sập xuống, anh Thành lúc đó thở phào ra một hơi, mừng rỡ đã thoát khỏi tai nạn bị đè chết, trong lòng rất là an ủi, sau đó anh vẫn cứ vai mang hành lý lên đường về nhà.
Suốt đường đi toàn là đường núi, anh Thành vượt qua mấy ngọn núi rồi, còn phải đi qua một cái khe núi lớn, cái khe núi này không có cầu, mà phải dùng một loại dây thừng to, cái giỏ tre để làm dụng cụ qua lại hai bờ, người ngồi trong cái giỏ tre, trên hai bờ đều có người kéo dây thừng qua lại cho khách, anh Thành cần qua khe núi này cũng không ngoại lệ, ngồi trong giỏ tre, mền bông và các thứ đồ v.v… đều để kế bên, đang lúc được kéo đến giữa khe thì bỗng nhiên dây thừng bị đứt, cả người và hành lý đều bị rớt xuống khe và bị nước cuốn đi, do vì khe sâu mấy trượng, nên nước trong khe chảy rất mạnh, người ở hai bên bờ đều đành bó tay, không có cách gì, chỉ có kêu lên “tội nghiệp” mà thôi! Anh Thành rơi vào trong khe cũng tự lượng không sống được, nhưng bị nước cuốn đi một đoạn, kỳ tích lại phát sanh: anh ta đang quẫy đạp trong nước, mạng sống như ngàn cân treo sợi tóc, bỗng ở trong khe phát hiện một đám cỏ nước, tay mặt tức thời nắm đám cỏ nước đó, chuyển mình một cái liền đứng lại trong nước, sau đó bò dần lên trên bờ, đương nhiên là những hành lý v.v… đã bị nước cuốn trôi mất, đơn độc một thân, rốt cuộc được bình an vô sự về đến nhà”. Trên đây là câu chuyện thật, không thể nghĩ bàn như thế, do bà lão đó kể lại, nhờ mẹ già nhứt tâm niệm Phật mà cảm ứng được người con tiêu tai thoát nạn nguy hiểm hai lần.
5. CHỊ LẠY PHẬT, EM TRAI ĐƯỢC NHỜ PHƯỚC
Phật và Bồ Tát là thầy tốt, là phước điền của chúng sanh. Vị liên hữu Lý Thủy Cẩm, cũng là một vị thiện hữu tri thức, gieo rắc hạt giống Bồ Đề. Bà mỗi lần mời hẹn các nhân viên hoằng pháp của Liên Xã ở Đài Trung, ngày giờ đã định xong, liền về nhà trước đi tuyên truyền khắp các nơi ở trên núi, già trẻ trai gái không ai không đến niệm Phật, nghe pháp. Gieo giống thì nhất định sẽ nảy mầm; có niệm Phật thì nhất định có cảm ứng. Vào khoảng tháng 5 năm trước, có một hôm vị liên hữu Thủy Cẩm nói với tôi: “Trong xóm nhà của mẹ tôi có một bé gái mười tuổi, rất là thông minh và có căn lành, cô ta lần nào cũng đến tham gia nghe các vị giảng về Phật pháp, cảm thấy rất là hay, bèn phát tâm hàng ngày niệm A Di Đà Phật. Do vì trong nhà cô ta chưa có lập bàn thờ Phật cho nên sáng tối đều đến nhà bên cạnh có bàn thờ Phật để nhờ lạy Phật”.
Khoảng mấy tháng sau, đứa con trai ở nhà có bàn thờ Phật kia mắng cô: “Mầy không biết thể diện, không biết xấu hổ, Phật ở nhà tao, không cho mày đến lạy!”. Cô gái thông minh này không dám đến nhà đứa con trai kia lạy Phật nữa, nhưng trong lòng lúc nào cũng nhớ nghĩ đến lạy Phật, tâm không rời Phật, Phật không rời tâm. Có một đêm đang ngủ bỗng nhiên thức dậy, quỳ trên giường, chắp tay niệm: “Nam mô A Di Đà Phật”, niệm mãi không thôi. Mẹ của cô ta cũng thức dậy nói: “Con nhỏ này nửa đêm nửa hôm thức dậy làm gì vậy?”. Cô bèn nói: “Má! Con thấy được kim thân to lớn của Đức Phật A Di Đà, diện mạo tươi vui, từ trong hư không bay đến trước mặt con, con vội vã thức dậy cung kính niệm Phật. Má! Con rất mong có được một tượng Phật để cúng dường. Con cầu xin má thỉnh một tượng Phật về nhà thờ được không má?”. Cô ta chắp tay lại cầu xin mẹ: “Má! Con nghĩ ra rồi, con heo đất của con ngày mai sẽ đập ra, có được bao nhiêu tiền, nhờ ba đến đường Sa Lộc thỉnh về một tượng, như thế mỗi ngày con đã có Phật, có thể lễ lạy được rồi”. Má của cô ta liền hứa nhận lời. Sáng sớm thức dậy, đập vỡ con heo ra đếm, tất cả được 28 đồng, cha của cô ta đi đến đường Sa Lộc, tìm được một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát đến 50 đồng thỉnh về nhà. Buổi sáng ngày mồng 1 hôm đó liền an vị tượng, mẹ cô ta chuẩn bị bánh dày đỏ và mua về hương hoa quả phẩm v.v… Đang khi cả nhà vui vẻ, bỗng nhiên phát hiện mất đứa em trai bốn tuổi của cô bé! Thế là cả nhà hoảng hốt lập tức cho người đi tìm khắp nơi, đồng thời tổng động viên mấy trăm người bà con trên núi dưới núi chia ra đi tìm, ngay cả mấy ao cá lớn trong làng, cũng đều có người lặn xuống mò tìm, vẫn không tìm ra!… Từ sáng đến tối vẫn không tìm được! Có mấy người cười cha mẹ cô ta rằng: “Vợ chồng mấy người là người lớn cũng đi nghe lời của con nít, muốn lạy Phật cái gì! Mấy người ngày hôm nay cũng chính vì bận lo việc an vị tượng Phật mới xảy ra đại họa như thế!”. Tội nghiệp cho cô bé thông minh này, bị người này một câu, người kia một câu đàm tiếu, sợ đến nỗi một mình lén lén quỳ trước tượng Bồ Tát hai mắt đoanh tròng lệ rơi, khổ sở cầu xin: “Phật, Bồ Tát ơi! Các ngài phải phò hộ cho đứa em trai bốn tuổi của con được bình an về nhà. Nếu như xảy ra điều không may gì, con từ nay về sau không thể tiếp tục lạy Phật, niệm Phật được nữa, những người hàng xóm đây cũng không dám tin Phật nữa!”. Lúc đó cha của đứa bé sực nhớ lại thằng bé bốn tuổi này sau khi sanh, đã từng có đi xem quẻ bát tự (bát tự hà lạc) liền tìm trong tủ lấy ra tờ giải về số mạng của thằng bé đưa cho mọi người xem. Quả nhiên trong quẻ giải viết rất rõ ràng vào năm đó tháng đó (vừa khéo chỉ đúng vào tháng này năm này!) sẽ xảy ra tai họa bất ngờ! Thế là mọi người nhìn nhau nhưng rồi cũng không ai biết làm thế nào!
Nguyên thằng bé bốn tuổi này, từ lúc sáng sớm, tự mình chạy ra khỏi nhà, cũng không biết là thuận theo đường sắt dọc biển, hay là từ đường đó chạy đi thẳng một mạch đến hơn 5 giờ chiều. Ở gần trạm xe Vương Điền có một anh sinh viên trẻ trông thấy nó một mình cắm đầu chạy trên đường sắt, anh sinh viên trẻ đó liền kêu: “Em bé! Em bé! Ở đó nguy hiểm lắm, mau dừng lại đi!”. Thằng nhỏ cũng chẳng thèm quay đầu lại, cứ cắm đầu chạy miết. Anh sinh viên tốt bụng này liền chạy thẳng tới trước ôm cứng thằng bé lại. Ai có ngờ thằng nhỏ này, mắt trợn lên dữ dằn, há miệng cắn trên tay anh sinh viên một cái. Anh này vẫn không giận nó, cố nén chịu đau, ôm thằng bé ép đưa đến trạm xe, giao cho trưởng trạm giữ nó. Hỏi ở đâu, tên họ là gì cũng không biết nói, trưởng trạm sực nhớ đến hồi sáng ở trạm xe Long Tỉnh có liên lạc điện thoại đến dặn chú ý ở trên núi Long Tỉnh có một đứa bé bốn tuổi đi lạc, trưởng trạm xe Vương Điền liền gọi điện thoại cho trạm xe Long Tỉnh mời người nhà của thằng bé đến nhận lãnh về.
Bà vợ của trưởng trạm thấy thằng bé toàn thân bụi bặm, bộ dạng đáng thương và rất đói, liền dắt nó về nhà, trước tắm cho nó, lại lấy quần áo của con mình thay cho và cho nó ăn hai chén cơm. Có lẽ chạy suốt ngày đường mệt quá, nên nuốt hai chén cơm xuống bụng xong, liền lăn ra ngủ, bà vợ của trưởng trạm liền bế lên giường để nó ngủ yên.
Người ở trạm xe Long Tỉnh lập tức cho cha mẹ nó hay, nhanh chóng đi nhận về. Từ nhà của trưởng trạm xe Vương Điền đem nó về, lúc đó đã 11 giờ đêm. Mặc dù đã nửa đêm, nhưng những bà con già trẻ lớn bé ở vùng đó đều đến thăm nó. Thằng bé này đã được bà vợ tốt bụng của trưởng trạm dùng xà bông thơm tắm cho toàn thân thơm phức, lại mặc cho bộ đồ đẹp nữa, mọi người ai nấy đều nói: “Hôm nay thằng bé được bình yên về nhà, chính là nhờ phước phần của chị nó lạy Phật. Thật là tin Phật, niệm Phật có cảm ứng vậy!”. Nếu không thế thì thằng bé này từ Long Tỉnh đến Vương Điền chạy suốt một ngày trên đường sắt dọc biển lại không gặp việc gì bất trắc ngoài ý muốn… Đồng thời lại còn gặp được người tốt giúp đỡ, gặp được sự thương yêu giúp đỡ của anh sinh viên và bà vợ tốt bụng của ông trưởng trạm xe. Đây nếu không phải Phật, Bồ Tát phò hộ thì làm sao có thể về nhà bình yên vô sự như thế?
6. PHẬT VỐN LÀ Y VƯƠNG CÓ THỂ TRỊ DỨT CÁC CHỨNG BỆNH
Câu chuyện thật ở trên là của một bé gái mười tuổi nhờ nhất tâm niệm Phật, được Phật A Di Đà phò hộ cứu đứa em trai 4 tuổi của cô ta tiêu tai thoát nạn. Các vị độc giả có lẽ suy nghĩ rằng: “Đây có lẽ do nghiệp chướng của cô bé còn nhẹ, hãy chưa kết oán cừu với nhiều người cho nên niệm Phật dễ được cảm ứng, nếu như người già lớn tuổi niệm Phật sao có thể có được cảm ứng như thế?”. Nhưng phải biết Phật Pháp vốn bình đẳng, không có cao thấp, người già lớn niệm Phật cũng có cảnh giới bất tư nghì. Tôi một lần nữa kể ra một chuyện thật để chứng minh:
Mẹ của liên hữu Lý Thủy Cẩm là một vị thọ Bồ Tát giới ở thư viện Từ Quang vào ngày 10 tháng 6 năm Dân Quốc thứ 49, mọi người đều gọi bà là lão Bồ Tát. Bốn năm trước lúc bà 80 tuổi, ở dưới vú bên phải bỗng nhiên nổi lên một cục thịt to bằng cái chén trung. Theo bác sĩ chẩn đoán là ung thư gan, đã rất nguy kịch, hết phương cứu chữa, chẳng những dùng thuốc không hiệu quả, mổ lại càng không được, chỉ có để bà muốn ăn gì thì cố mua cho bà ăn, thế là tốt rồi! Tây y, Đông y đều nói như thế, không kê thuốc cũng không chích thuốc, châm cứu gì
cả! Cứ như thế nằm trên giường bệnh đau đớn triền miên suốt 6 tháng, nhờ vào đứa con trai tên là Nghĩa, là một cư sĩ và người con dâu chăm sóc phục dịch kề bên; con gái là Thủy Cẩm cũng về nhà chuẩn bị hậu sự (đám tang). Nhưng trong 6 tháng, lão Bồ Tát mỗi ngày hai thời sáng tối, bất luận thế nào đều nhất định đứng dậy lạy Phật, dầu là đang trong cơn bệnh khổ, nằm trên giường bệnh, miệng cũng không rời Thánh hiệu A Di Đà Phật. Vào khoảng đầu tuần tháng Tám (từ mồng 1 đến mồng 10) bệnh trạng đã rất trầm trọng, thân thể không thể cử động được, miệng không nói được! Một đêm kia, lúc bệnh trạng đang rất nguy cấp bỗng nhiên thấy bà nói lẩm bẩm: “A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát … các ngài viết chi nhiều chữ như thế, con một chữ cũng không biết! Các ngài sao không nói thẳng với con có tốt hơn không?”. Ngưng lại một chút, lão Bồ Tát lại nói tiếp: “Cảm ơn lòng từ bi của Phật rất nhiều, các ngài 10 giờ tối mai sẽ đến giải phẫu cho con cắt bỏ đi cục thịt ở dưới ngực bên phải này, A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, các ngài thật là từ bi quá!”. Những lời này đều là vợ chồng A Nghĩa và vị liên hữu Thủy Cẩm tự tai nghe được, nhưng lúc đó lại cho là người già trước lúc lâm chung, tinh thần rối loạn nói lung tung vậy thôi! Nhưng đến sáng lão Bồ Tát liền kêu con, cháu đi chuẩn bị hương hoa quả phẩm, đặt một cái bàn thờ trong phòng để tiếp đón Phật Bồ Tát đến trị bệnh. Thật là không thể nghĩ bàn, vừa đợi đến 10 giờ, liền nghe tiếng khua của dao kéo… Đột nhiên nghe một tiếng “sựt”, cục thịt ở dưới ngực bên phải đó bỗng bị cắt rời ra, máu chảy ra đen như than, từng giọt từng giọt to bằng ngón tay cái, chảy ra rất nhiều. Từ đêm đó trở đi, sức khỏe của bà mạnh khỏe dần dần, miệng của vết thương nơi cắt cục thịt, nhờ con dâu hằng ngày dùng nước trà rửa, rửa không đến một tháng, không cần thuốc gì mà khỏi bệnh.
Hiện nay lão Bồ Tát gặp người nào cũng liền khuyên niệm A Di Đà Phật; xâu chuỗi từ nào đến giờ chưa từng rời tay. Năm nay dù đã tám mươi bốn tuổi nhưng sức khỏe còn mạnh hơn người thường. Giữa Đài Trung và Minh Tú thường đi đi về về tinh thần sung mãn khác thường. Phật vốn là đại Y Vương, ngoại khoa đại phẫu thuật của Phật, Bồ Tát là trị muôn người lành muôn người, nhưng điều quan trọng là chỉ hỏi nơi bạn là có đúng “nhất tâm niệm Phật” hay không? Độc giả nếu không tin, lão Bồ Tát đến nay vẫn còn mạnh khỏe, nếu không ngại xin mời đích thân đến thăm một lần. Bà cụ già rồi, đã không vì danh cũng không mưu lợi, cần gì phải dựng ra câu chuyện này để lừa gạt người?
7. TRỢ GIÚP CHO CHA VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG THẬT LÀ ĐẠI HIẾU!
Ban trợ niệm của Liên Xã ở Đài Trung khởi đầu là do một tay của lão cư sĩ Giang Ấn Thủy tổ chức dựng nên, cho nên mọi người cử ông làm trưởng ban trợ niệm, chuyên phụ trách niệm cho người lâm chung được vãng sanh Tây phương. Mọi người đều quen tôn xưng lão cư sĩ là Giang tiên sinh. Lúc ông 71 tuổi còn kiêm nhiệm chức giáo sư lịch sử ở Học Uyển chùa Linh Sơn, ông gánh vác mọi việc vì người, rất tận tình, không từ khó nhọc. Không may vào hạ tuần (khoảng 20 đến 30) tháng 8 năm Dân Quốc thứ 48, ông bỗng bị chứng bệnh suyễn mệt tim, Đông Tây y đều không hiệu quả, đến khi bệnh quá nguy kịch, có một hôm vào lúc 7 giờ sáng, con trai của ông là Giang Trọng Phan Quân (dạy học tư gia trong thành phố Đài Trung), đến nhà tôi nói với tôi: “Sư cô Khán Trị! Hôm qua bác sĩ nói cha tôi sống tối đa thêm bảy ngày nữa thì lìa đời, kêu tôi phải lo chuẩn bị hậu sự, không biết nên làm thế nào đây?”. Tôi vốn biết Trọng Phan Quân lúc bình thường là đứa con rất hiếu thuận, liền hỏi anh ta: “Từ lúc cha anh bệnh đến nay, anh đã tốn hết bao nhiêu tiền cho cha anh rồi?”. Anh ta nói khoảng hơn năm mươi ngàn đồng. Tôi nói: “Nếu theo pháp thế gian mà nói, như thế đã hết sức vì người rồi. Nhưng tốn nhiều tiền như thế đối với cha anh mà nói lại không có ích gì cả, chỉ có thể làm tăng thêm đau khổ cho thân xác! Tôi nghe nói anh mấy tháng nay không nhớ đến thay đổi y phục, ngày đêm chỉ lo hầu hạ thuốc thang, có thể nói anh là một người con có hiếu trong đời, nhưng như thế cũng chưa thể gọi là lòng hiếu chơn chánh!”. Trọng Phan Quân nghe xong lấy làm lạ không biết gì, lặng lẽ nhìn tôi, tôi liền vì anh ta mà giải thích: “Theo lý nhà Phật nói, anh phải làm cho cha anh tâm được an, chết có chỗ về (tâm hữu sở an, tử hữu sở quy). Anh nếu thật có lòng hiếu, ắt phải về nhà ở bên cha mà niệm Phật, bắt đầu hôm nay niệm 7 ngày, tâm của cha anh chắc chắn sẽ vô cùng vui vẻ, khiến cho ông ra đi được nhẹ nhàng, vãng sanh về cõi Phật, như thế mới là đại hiếu chơn chánh. Hiếu hạnh chung chung của người thế gian chỉ là cung cấp những sự hưởng thụ trong cuộc sống của cha mẹ vào lúc tuổi già, sau khi chết thần thức đọa lạc vào đâu lại không cần biết, đây chỉ là hiếu về vật chất, cho nên không thể nói là đại hiếu”. Giang Quân nghe xong rất vui mừng tiếp nhận đề nghị của tôi, tôi bèn chỉ cho anh phương pháp niệm Phật, hy vọng anh ta mỗi lần niệm một giờ cho đến hai giờ, cần chí tâm thành khẩn, mỗi câu phải rõ ràng, mới có hiệu quả.
Ngày hôm ấy là ngày tôi giảng kinh định kỳ ở giảng đường Tân Trúc Văn Nhã, nhưng từ lúc sáng sớm sau khi nghe được tin này, nghĩ đến việc một thành viên quan trọng trong Liên Xã chúng tôi chỉ sống thêm 7 ngày nữa sẽ lìa đời, trong lòng khó tránh khỏi tình cảm đau thương của sự sinh ly tử biệt, cho nên không thể đi Tân Trúc, vốn muốn đi thăm họ (gia đình Giang tiên sinh), lại nghĩ có lẽ Trọng Phan Quân đang niệm Phật, cha anh ta chắc chắn nghe rất hoan hỉ. Mãi tới 8 giờ tối, tôi mới đến nhà họ Giang. Giang tiên sinh vừa nhìn thấy tôi liền nói: “Chị Khán Trị! Mời ngồi! Mời ngồi. Có lẽ chị rất bận, cho nên mấy ngày nay không đến thăm tôi, hôm nay pháp sư Sám Vân tặng cho tôi hai xâu chuỗi Bồ Đề Tinh Nguyệt, mấy đứa đem lại cho chị Khán Trị xem nào”. Lại nói rất nhiều về con cái của ông ta. Lúc đó tôi liền nói với ông: “Vạn pháp đều vô thường, gia tài con cái đều là giả tướng, biển khổ thế gian không nên lưu luyến thêm, Tây phương là vườn nhà yên ổn, là quê hương an lạc của chúng ta, tâm chúng ta nhất thiết không được điên đảo, bây giờ tôi niệm A Di Đà Phật cho ông nghe, ông phải buông bỏ hết mọi duyên, nhất tâm niệm Phật!”. Tôi liền cầm cái khánh dẫn lên, to tiếng niệm Phật. Cả nhà ông ta từ bà Giang và vợ chồng của Trọng Phan cho đến con gái, con rể tổng cộng 7 người, đều cùng niệm Phật, niệm khoảng 30 phút, bỗng nhiên Giang lão cư sĩ tự mình ngồi dậy, hai tay chấp lại, hai chân ngồi kiết già, hai mắt mở to, nét mặt vui tươi, lúc nằm xuống lại, an tường vãng sanh trong tiếng Phật hiệu A Di Đà. Trong khoảnh sát na hiện ra kỳ tích không thể nghĩ bàn như thế, thật tình mà nói, tôi lúc đó cũng giật mình!
Cả nhà con cháu của Giang lão cư sĩ do tôi hướng dẫn phân ban trợ niệm, niệm đến trời sáng đã qua 8 giờ đồng hồ, thử sờ trên đỉnh còn rất ấm, thân thể vẫn mềm mại như bông, nghi dung còn tươi tốt, trang nghiêm hơn cả lúc còn sống.
Tôi liền hỏi Trọng Phan Quân: “Anh hôm qua khi về nhà, có niệm Phật cho cha anh nghe không?”. Giang Quân liền nói: “Có! Có. Tôi từ nhà bà cô về, liền ngồi bên cạnh cha mà niệm Phật. Lần đầu niệm được hai tiếng đồng hồ, buổi chiều được hai tiếng nữa, cha tôi vô cùng hoan hỉ, gọi tôi là con ngoan và hỏi ai dạy tôi niệm Phật? Làm sao hôm nay có thể niệm Phật được nhiều như thế? Tôi liền trả lời: “Ba! Đó là tự con phát tâm niệm Phật, con từ nay trở đi phải niệm Phật hàng ngày, cầu nguyện cho ba sớm được khỏe mạnh”. Cha tôi nghe xong rất hài lòng, vui vẻ, buổi trưa liền ăn một chén cháo, nửa dĩa rau xanh, đau đớn hầu như bớt phân nửa. Bác sĩ nói có thể sống thêm 7 ngày nữa mới chết, không ngờ có mấy tiếng đồng hồ sau linh giác lại an tường vãng sanh trong tiếng niệm Phật, thật là Phật Pháp vô biên, không thể nghĩ bàn.
Lão cư sĩ Giang Ấn Thủy là người vãng sanh vào tháng 2 năm Dân Quốc thứ 49. Vào khoảng tháng 6 tôi đi bộ vô ý bị té gãy cánh tay rất nặng, xương gãy làm ba khúc, đêm đó đau đến nỗi không thể ngủ, đến 2 giờ khuya vẫn không thể nhắm mắt. Tôi liền lẩm bẩm nói với cánh tay bị đau rằng: “Mi là thứ đồ giả! Cái túi da hôi thối sống đã mấy chục năm! Đau là do mi đau, vì mi là mi, ta là ta. Ta cần đi Tây phương, không liên can gì tới mi!”. Tôi liền một mực quán tưởng đến Phật, trong lúc nửa tỉnh nửa thức, bỗng thấy một người từ trong hư không đáp xuống, đi thẳng đến trước mặt tôi, ông ta mặc áo vải màu xám, thân thể to lớn, gương mặt cũng to, chỉ thấy phân nửa thân trên còn phân nửa thân dưới bị mây màu che khuất. Người này đột nhiên gọi tôi: “Chị Khán Trị! Tay của chị đau lắm hả? Đây là thời vận không tốt nhưng tai nạn đã qua rồi, không sao đâu!”. Tôi vừa nghe tiếng liền ngẩng đầu lên xem lần nữa, rất giống Giang tiên sinh, tôi liền hỏi: “Giang tiên sinh! Ông có vãng sanh không?”. Ông ta trả lời liên tiếp: “Có! Có!…” rồi xoay mình biến mất. Lúc tôi mở mắt ra xem là đúng 3 giờ, tay cũng không còn đau nữa, không đầy mấy ngày liền khỏi. Đây là lần thứ nhất tôi nhìn thấy người vãng sanh, có bút mực thế nào cũng khó mà diễn tả hết cái tướng trang nghiêm tốt đẹp đó được!
Tháng 3 năm thứ 50 là ngày giáp năm của Giang tiên sinh, nhà ông ta ở đường Dân Tộc dời về nhà mới ở đường Đài Trung, bà Giang nhờ tôi thỉnh tượng Phật về an vị nhà mới và niệm Phật siêu độ, chuyển các lư hương bài vị của tổ tiên, chủ thần. Bận rộn suốt một ngày, đến tối ngủ lại chiêm bao thấy Giang tiên sinh hình tướng cũng như lần trước, đến trước mặt tôi nói: “Chị Khán Trị! Cám ơn chị nhiều. Thọ nhận sự giúp đỡ của chị rất nhiều!”. Tôi lại hỏi ông ta như lần trước: “Giang tiên sinh! Ông có vãng sanh không?”. Ông ta cũng lại như lần trước nói: “Có! Có!”. Xong liền biến mất. Sáu năm sau không còn chiêm bao thấy nữa, tôi hối hận tâm mình ngu si, điều quan trọng không hỏi, hai lần đều chỉ hỏi ông ta có vãng sanh không? Tại sao không hỏi: “Khán Trị tôi đây có thể được vãng sanh không? Phải đến ngày nào mới được vãng sanh?”.
8. VỐN ĐẾN ĐÒI NỢ, NIỆM PHẬT ĐƯỢC GIẢI OAN
Nhớ lại vào đầu tuần tháng 2 mười năm trước, Ái cô nương, trụ trì của chùa Đại Nhã Long Thiện, gặp tôi ở trạm xe cục Công lộ, bèn nói với tôi rằng: “Chị Khán Trị, ngày 19 tháng 2 là ngày khai pháp hội của chùa tôi, tín chúng đều muốn nghe chị giảng Phật Pháp, xin mời chị phát tâm đến”. Tôi liền nhận lời. Ngày ước định đến liền đi, lại còn mang theo rất nhiều “vô thượng chí bảo” và những sách về pháp môn Tịnh độ, hôm đó sau khi giảng xong, phân phát cho các thính chúng để kết duyên. (Vô thượng chí bảo là một loại như tấm thiếp xếp bỏ túi, in hình Tây phương Tam Thánh và những phương pháp giản tiện về niệm Phật)
Tháng 2 năm sau lúc tôi đả thất tại chùa Linh Sơn ở Đài Trung, hôm đó là ngày sư tỷ Huệ Phồn hộ thất; khoảng hơn 3 giờ chiều, tôi đang niệm Phật trong Niệm Phật đường, sư tỷ Huệ Phồn đi vào nhè nhẹ kéo áo tràng tôi một cái, tôi liền đi theo Huệ Phồn ra ngoài xem coi chuyện gì, chỉ thấy một người đàn bà ở dưới quê, hoàn toàn không quen biết, khoảng hơn 50 tuổi, đang đứng ngoài sân. Tôi liền hỏi: “Bà ở đâu kêu tôi có việc gì?”. Bà ta nói: “Ông nhà tôi kêu tôi kiếm bà, gặp mặt bà để nói lời tạ ơn bà. Tôi từ sáng sớm vào thành, ở trong thành hỏi thăm khắp hết: “Sư tỷ Khán Trị ở đâu?”, trong đó có người chỉ, nói bà ở trong Liên Xã. Đến Liên Xã, người trong Liên Xã nói bà đang ở chùa Linh Sơn cho nên tôi tìm đến đây, muốn nói một chuyện để bà biết, cũng là báo đáp cái ân của bà”. Tôi nghe xong lấy làm lạ, thật chẳng biết ất giáp gì cả! Xem ra chuyện này không thể nói hai ba lời mà xong được, vả lại quy củ Phật thất ở chùa Linh Sơn rất nghiêm, ở sân chùa không được nói chuyện, tôi liền dẫn bà ta cùng ra phía ngoài tường, để tiện hỏi cho rõ, lúc đó Huệ Phồn cũng đi theo.
Người đàn bà kia liền nói: “Tôi là người ở trong làng Lại Lịch mười ba giáp, hồi tháng 2 năm ngoái lúc bà giảng Phật Pháp ở chùa Đại Nhã Long Thiện, con trai của tôi là Lại Phúc Hưng cũng có nghe giảng ở đó. Sau khi nghe xong có thỉnh “vô thượng chí bảo” và một ít quyển sách nhỏ về nhà nữa. Từ hôm đó, nó bắt đầu tin Phật, lại còn mỗi ngày lạy Phật, niệm Phật, y theo phương pháp trong “vô thượng chí bảo”, hai thời khóa tụng niệm sáng tối, từ đó đến giờ không hề gián đoạn, gần như là được đến trình độ đi, đứng, nằm, ngồi Phật không rời tâm, tâm không rời Phật”. Tôi nghe xong rất là ngạc nhiên, trong thế giới Ta Bà này sao lại có người có phúc khí lớn như thế, mới nghe Phật pháp một lần, liền bắt đầu tu hành sớm tối như vậy? Tôi liền hỏi bà ta: “Con bà bao nhiêu tuổi? Làm nghề nghiệp gì? Làm sao mà phát tâm được như thế?”. Người đàn bà đó lại nói: “Con tôi hồi năm ngoái hai mươi lăm tuổi, nó học xong trung học vào đại học và hai mươi ba tuổi thì tốt nghiệp đại học, song về nhà nó bị lao phổi, hàng ngày chạy chữa Đông Tây y, chích t
Monday, 7. January 2008, 14:40:21
nghĩ nếu ta không niệm ngay lúc này mà đợi đúng giờ đúng khắc trì kinh mới niệm thì làm sao định lực niệm Phật có đủ sức để trừ khử tạp niệm ngày càng dung dưỡng trong ta. Chẳng nói gì ngoài giờ tụng kinh lễ Phật mà ngay luôn giờ phút trang nghiêm thanh tịnh trước bàn Phật tạp niệm vẫn tấn công vào. Việc này cho ta thấy, là ta đã quá xem thường tạp niệm, nên dễ duôi, tự do cho nó vào ra thoải mái. Hay đúng hơn là ta đã không thực tập niệm Phật ngay trong tạp niệm. Nếu ta thực sự không ngại gì niệm Phật trong lúc bận bịu, rộn ràng, lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, làm việc, tiếp chuyện v.v...mỗi mỗi giây phút niệm Phật, có mặt trong giờ phút vừa thức dậy đi vào cuộc sống, cho đến đặt lưng xuống ngủ, kể cả đến lúc nhắm mắt ngủ quên mới thôi, thì ta có lo gì tạp niệm nổi lên trong giờ phút trì kinh trước điện Phật.
Hay dù cho tạp niệm có móng lên trong lúc trang nghiêm đó, thì cũng chỉ tồn tại trong khoảnh khắc rồi sẽ biến mất đi. Bởi đó là do ta có thực tập, sẵn sàng ứng phó với tạp niệm, và vậy không còn lo lắng. Thế là ta trở về với lời kinh tiếng kệ một cách dễ dàng.
Chúng ta có thể đồng ý rằng còn sống là còn có tạp niệm. Vì tạp niệm là do duyên căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với cảnh trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo ra bao hành động của thân và tâm. Bằng hình thức này, mức độ kia bất cứ người nào trong xã hội vẫn không trốn chạy được tạp niệm, tuy vậy chúng ta cũng thấy có tạp niệm con người mới có phân biệt điều tốt việc xấu, và như không có phân biệt, thì làm sao con người phát triển được những tư duy. Các vị Thánh, Tổ ban sơ cũng từ tạp niệm mà cuối cùng đi dần đến nhất niệm, cũng như mượn phương tiện trở về cứu cánh. Vậy thì niệm Phật trong tạp niệm vẫn là một việc rất quý, khó hành, huống chi muốn có nhất niệm phải từ tạp niệm mà ra, chỉ sợ là, ta có niệm được trong lúc tạp niệm hay không! Hay suốt đời sống chìm trong tạp niệm.
Nói rõ lại con đường đi đến Cực Lạc trước sau gì cũng hiển lộ rõ ràng trước mắt người niệm Phật. Và phương tiện để đưa hành giả niệm Phật đến đích mau hay chậm, chắc chắn hay không là do sức niệm Phật của hành giả. Cuối cùng thì niệm Phật muốn được nhất tâm thì phải niệm ngay trong tạp niệm.
Ba Điều Quan Trọng Cho Việc Vãng Sanh
Con đường thành tựu của người tu pháp môn Tinh Độ là được vãng sanh về thế giới Cực Lạc A Di Đà. Phương tiện để được vãng sanh là công phu tu niệm chí thành, tha thiết. Nhưng có được ý chí phấn đấu thực hành phương tiện đó, phải nhờ vào ba điều kiện tối quan trọng, đó là: Tín, Nguyện, Hạnh, thiếu vắng một trong ba điều này hành giả chỉ loay hoay trong vòng nhơn quả phước báo thế gian và cảnh Tây phương Cực Lạc vẫn còn hẹn lần mãi. Vậy đã tu niệm Phật thì phải gắn liền ba điều kiện trên. Trước tiên hành giả phải đặt lòng tin, rồi lập nguyện, sau cùng là thực hành.
Tín: niềm tin đầu tiên căn bản nhất là tin đức Phật Thích Ca nói ra pháp tu niệm Phật là một sự thật. Một sự thật như trăm ngàn sự thật khác. Nếu ở đời sống thường nhựt, chúng ta đã tin bao nhiêu việc có thật do những tiền nhân đi trước nói lại, để lại thì việc tin lời Phật dạy còn phải mạnh mẽ hơn gấp trăm ngàn lần. Trong kinh Tiểu Địa Quán nói "Như người không tay tuy đến bảo sơn (núi ngọc báu), trọn vẹn không lấy được gì. Kẻ không có niềm tin, tuy gặp Tam Bảo cũng không được chi (18)." Đó là lợi ích của niềm tin khi bước vào đạo, huống chi người tu Tịnh độ lấy niềm tin làm gốc để được vãng sanh. Tuy vậy Phật cũng không dạy chúng ta chỉ có niềm tin suông, mà thiếu suy xét, "Tin ta mà không hiểu ta, là phỉ báng ta".
Chúng ta lại có thể suy cứu tìm hiểu, qua giáo lý của Phật để lại, là một chứng minh điều Phật dạy bao giờ cũng là chân lý. Chẳng hạn Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Pháp Nhân Duyên, Nhân Quả Nghiệp Báo.v.v...và chẳng những giáo pháp ấy được xiển dương ca tụng bởi các hàng Phật tử con Phật như chúng ta mà ngay cả các vị ngoại đạo tôn giáo khác cũng thầm khen ngợi đây là một chân lý muôn thuở. Xin trích ra lời của giáo sư Rhys Davids (1842 -1922) người Anh, chuyên về Đông phương học .Nguyên văn như sau: "Buddhist or not Buddhist, I have examined every one of the great religious systems of the world, and in none of them have I found anything to surpass, in beauty and comprehensiveness, the Noble Eightfold Path and the Four Noble Truths of the Buddha. I am content to shape my life according to the path ."
"Phật tử hay không Phật tử, tôi đã nghiên cứu đủ mọi hệ thống tư tưởng của mọi giáo phái vĩ đại trên thế giới và đã tìm thấy không một hệ thống nào, trên phương diện toàn mỹ cũng như về mạch lạc hiểu thấu có thể hơn được lời dạy của đức Phật về Bát Chánh Đạo và Tứ Diệu Đế. Tôi thật hài lòng sống đời mình trong khuôn khổ đường lối dạy này (19)."
Hơn thế nữa cho dù nhân loại có tin hay không tin thì giáo pháp của Phật vẫn muôn đời là chân lý xảy ra trước mặt chúng ta. Thí dụ bốn điều khổ: Sanh, Lảo, Bệnh, Tử. Định luật giả lập của mọi vật: Thành, Trụ, Hoại, Không (sanh ra có mặt, tồn tại khoảng thời gian nào đó, thời kỳ hư hoại, tan nát biến mất đi ).
Khi đã tin lời Phật dạy là muôn thuở sự thật, thì pháp tu niệm Phật do Phật nói ra hoàn toàn cũng sự thật. Cũng như cõi nước Cực Lạc Tây Phương, nơi đó đức Phật A Di Đà làm giáo chủ vẫn là điều thật có như bao nhiêu cõi Phật khác.
Tiếp theo niềm tin là tin lời nguyện của Phật A Di Đà; lời nguyện này cũng do đức Phật Thích Ca lập lại, và trong phần tin này lời nguyện của Phật A Di Đà trở nên vô cùng quan trọng mà chúng ta nhất định phải tin. Điều này quyết định việc nhất tâm niệm Phật hướng về sự tiếp dẫn của Phật A Di Đà. Chẳng hạn lời nguyện thứ mười chín của Ngài trong kiếp là Tỳ Kheo Pháp Tạng:
"Ví con được thành Phật, mười phương chúng-sinh, phát Bồ-đề tâm, tu các công đức, dốc lòng phát-nguyện, muốn sinh về cõi nước con, đến lúc mệnh chung, ví con chẳng cùng Đại-chúng vây quanh, hiện thân trước người đó, thời con không thành bậc chánh giác (20)."
Niềm tin tới đây đã là quyết chí rồi, tuy nhiên còn lại là tin vào bản thân ta có được tiếp độ hay không. Vì có một số người vẫn còn nghi ngờ khó được vãng sanh mặc dù có tín tâm đầy đủ. Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy "Ta quan sát tất cả chúng sanh ở trong các phiền não tham dục, sân hận, ngu si, đều có Phật trí, Phật nhãn, Phật thân nghiễm nhiên bất động. Này thiện nam tử, tất cả chúng sanh ở trong phiền não, có Như Lai tạng thường lành không ô nhiễm đức tướng đầy đủ cùng với ta không khác...(21)" Qua lời dạy trên chúng ta đã hiểu, tâm chúng sanh là tâm Phật, nhưng vì bị vô minh che lấp, khó lắng động trở về với Phật tánh chân như. Nếu như thành tâm tín niệm thì Phật tánh sẽ hiển lộ nơi tâm liền đó cảm ứng với tâm Phật, và như thế lo gì đức Phật A Di Đà không cảm ứng được ta chăng!
Nguyện : người tu Tịnh Độ khi đã có tín tâm kiên cố rồi, thì phải phát nguyện. Nguyện là động lực duy trì niềm tin vững chắc hơn. Không có nguyện, niềm tin không đưa đến việc thành tựu công đức, cũng như trong sinh hoạt đời sống, người nào có chí nguyện với nghề nghiệp tương lai thì người đó trước sau gì nhất định phải thành công. Nguyện của người tu niệm Phật là được Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng tiếp dẫn về thế giới Cực Lạc vừa sau khi bỏ thân mạng này. Tâm nguyện như thế phải luôn luôn khắc ghi bên mình. Mỗi khi niệm Phật hay trì kinh, hoặc làm công việc gì công đức, liền hồi hướng nguyện lấy công đức đó mà sanh về Cực Lạc. Khi phát nguyện lại phải thành kính tha thiết. Nguyện lực có được cảm ứng và thành tựu phần lớn do sự chí tâm mà ra.
Để tạo nguyện lực kiên cố hơn mãi, chúng ta nên nghĩ về cái khổ ở cõi Ta Bà và cái vui nơi Cực Lạc. Rồi lại nghĩ vì muốn cứu độ mọi người ra khỏi biển khổ nên cầu sanh Cực Lạc đắc pháp vô sanh để trở lại Ta Bà cứu độ chúng sanh. Nguyện được như vậy mãi mãi thì chắc chắn ngày về Cực Lạc sẽ không còn xa với người tu Tịnh Độ.
Hạnh: Đã có niềm tin, đã phát lời nguyện phần còn lại là phải thực hành. Hành trì niệm Phật là phần tối yếu không thể thiếu của người tu Tịnh Độ. Bởi vì dù có tin mức nào, nguyện thế chi mà không hành trì thì hóa ra lời tin suông nguyện rỗng. Giống như kẻ đi thuyền gặp nạn nước vào thuyền sắp đắm, kẻ ấy tin rõ như vậy, rồi chỉ cầu nguyện mà không ra công tát nước, cứu chữa, trong khi dụng cụ cứu chữa sẵn có trong thuyền.
Hành trì niệm Phật lại phải gia công chuyên cần tinh tấn, hễ tín, nguyện thế nào thì hành trì tha thiết theo thế đó. Cũng không chỉ nhất thời dũng mãnh phát tâm niệm Phật vài tuần, đôi tháng cho đến vài năm rồi có thể nghĩ rằng đủ công đức vãng sanh Cực Lạc, mà phải thực hành niệm Phật luôn luôn, phải nên xem như món ăn tinh thần trong đời sống. Trong kinh A Di Đà có dạy "không thể dùng nhân duyên thiện căn phước đức ít mà có thể vãng sanh về nước Tịnh Độ kia ..." Thế nên phải niệm cho đến trọn đời may ra mới có đủ thiện căn phước đức. Tuy nhiên người niệm Phật cũng cần vun bồi thêm công đức như bố thí, trì giới để trợ lực phần niệm Phật được đầy đủ thiện căn cho việc vãng sanh được chắc chắn .
Nói tóm lại ba điều kiện là ba tư lương với người niệm Phật, thiếu một trong ba điều này việc vãng sanh hẳn khó thành. Do đó người tu pháp môn Tịnh Độ nên nắm vững, như thế kết quả vãng sanh sẽ đến một cách tốt đẹp.
Hương Thơm Niệm Phật
Đạo Phật ví như đóa hoa ngát thơm, ai ai cũng có thể ngửi được mùi thơm đó. Không phải vì là tu sĩ mà mùi hương đó tăng hay là cư sĩ Phật tử mùi hương đó giảm. Hễ bất cứ người nào thực hành được giáo pháp của Phật thì người đó hưởng trọn được hương thơm. Ngược lại cho dù là tu sĩ, nếu không sống và thực hành theo giáo pháp, vẫn không được chi cả .
Hương thơm ở đây là sự giải thoát mọi ràng buộc là hạnh phúc an lạc trong tâm hồn... Muốn được thọ nhận hương thơm ấy, người ta phải tự vun trồng, tạo dựng. Nhưng trong cuộc sống rộn ràng, náo nhiệt của phố thị xa hoa, làm sao tìm được an lạc thảnh thơi trong tâm hồn? Nghĩa là làm sao nhận được mùi hương?
Bản chất của hương vô tư, tự tại không phân biệt không gian, hoàn cảnh. Có vun trồng được thân cây thì hoa sẽ nở, mà hoa nở thì hương có .
Nơi đời sống ồn ào, náo nhiệt, tâm tư an lành của chúng ta vẫn có, nhưng có rất ít, chớ không phải không có. Nếu nói hoàn toàn không có an lạc thì làm sao ta sống nổi khi phải luôn luôn đối diện với mọi trần lao nghịch cảnh; và làm sao mọi người chung quanh ta chịu đựng được khi tâm tư, đầu óc ta toàn chứa những phiền não giận thù.
Tâm tư con người không khác mặt đại dương, lúc thì im lặng như mặt hồ, lúc thì ầm ầm nổi sóng. Tuy thế không phải là không có nguyên nhân. Gió đứng thì nước yên, gió thổi thì nước động. Hiểu được nguyên nhân, nhận ra hậu quả ta sẽ có được phương pháp giảm trừ, hóa giải. Ta vẫn sống và sinh hoạt bình thường, nhưng tâm hồn, tư tưởng ta nên đặt vào một định hướng. Hướng ấy là cách sống phù hợp với lẽ sống, không hại người hại vật. Không gây chia rẽ mọi người không buông lung phóng đảng và luôn luôn yêu thương tất cả.
Để hướng đi tạo dựng bông hoa tươi đẹp, trở nên bất diệt, ta cần tìm hiểu vun trồng thêm bông hoa tuệ giác của vườn hoa giác ngộ Phật Đà.Vườn hoa giác ngộ kia không phải mất công tìm kiếm ở nơi nào xa xôi, mà ngay ở đây, ở chính nơi ta, ở chỗ gần nhất của tâm hồn, của con tim từ bi, của tấm lòng mẫn tiệp.
Ta sống ở cõi Ta Bà này tuy là cõi trược mà vẫn tạo được cho chính mình một nụ hoa thơm, đó là do biết áp dụng đúng vào giáo lý Phật Đà. Tuy vậy chúng ta cũng cần bồi đắp mãi nụ hoa thơm đó, để làm nhân cho đóa hoa tuyệt diệu và bất diệt trong tương lai.
Phương pháp gieo trồng nhân duyên cho đóa hoa bất diệt có rất nhiều, mà pháp dễ hành nhất trong thế giới ngày nay Phật dạy là pháp niệm lại tánh giác của mình. Niệm lại tánh giác nghĩa là niệm Phật.
Niệm Phật là tạo thêm vườn hoa đẹp trong vườn hoa đã sẵn có của mình. Nếu ai đó trong đời chưa từng tạo cho mình một hương hoa thơm nào, thì ngay bây giờ hãy nên niệm tánh giác của mình để kịp làm nhân cho vườn hoa hiện tại và tương lai. Và nếu có ai đã lỡ tạo nhân hoa không lành, hương hoa không tịnh thì lại càng nên sớm mau khơi dậy tánh giác, trồng niệm hoa thơm để hương hoa tinh khiết phủ trùm hương bất tịnh và biến tất cả hương hoa trong vườn thành hương hoa thanh tịnh giải thoát, như trong kinh Quán Phật Tam Muội, Phật dạy về công đức và công năng của niệm Phật như sau: Vua Tịnh Phạn bạch Phật, người gắng công niệm Phật thì trạng thái như thế nào? Phật đáp phụ vương rằng "Như rừng Y - Lan vuông bốn mươi do tuần, có một cây Ngưu-Đầu- Chiên Đàn, tuy có rễ mầm, nhưng chưa mọc ra khỏi mặt đất, rừng Y- Lan kia chỉ có mùi thúi mà không có mùi thơm. Nếu có người nhai nuốt hoa trái của cây kia thì phát điên cuồng mà chết. Sau đó mầm rễ cây Chiên- Đàn từ từ sanh trưởng rồi thành cây, hương thơm bát ngát, biến cãi được không khí rừng Y- Lan này trở nên hương sắc thơm đẹp, mọi người thấy đó liền sanh tâm hoan hỷ hy hữu..."
Phật lại nói với phụ vương rằng: "Tất cả chúng sanh ở trong sanh tử, có lòng niệm Phật cũng lại như vậy. Chỉ khéo hay gìn giữ tâm không dừng nghĩ, nhất định sanh trước Phật; quyết được vãng sanh, tức là có thể cải biến tất cả điều ác, sanh đại từ bi. Như cây thơm kia có thể cải biến cả vườn Y- Lan vậy (22)."
Phật dạy như thế chúng ta rõ thêm rằng, mỗi người chúng ta ai ai cũng sẵn có một vườn hoa và cũng có thể biến tạo cho mình một vườn hoa thuần mùi hương giải thoát. Và sự bồi đắp cho vườn hoa thanh tịnh đó không gì dễ hơn là niệm lại tánh giác gieo trồng hương niệm Phật vậy.
Nhân Duyên Lớn
Pháp môn niệm Phật được mọi người cho là pháp môn bình dân, dễ dãi. Vì pháp tu không đòi hỏi hành giả một điều kiện gì khó khăn so với nhiều pháp tu khác như Thiền, Luật, Mật tông ...hành giả phải tối thiểu có sự hiểu biết căn bản về giáo lý và căn cơ sáng suốt. Nhưng kỳ thật pháp tu niệm Phật lại có công năng thu nạp tất cả mọi hạng người để giúp họ đạt đến mục tiêu giải thoát mau nhất mà không một pháp tu bác học nào có thể làm được. Với một pháp tu có tánh cách phổ cập rộng rãi chắc chắn như vậy, có lẽ phải gọi là pháp tu lạ lùng hiếm có nhất. Cũng vì thế mà đức Phật Thích Ca mới dạy, đây là pháp tu khó tin (nan tín chi pháp).
Nhân duyên Phật nói ra pháp tu này cũng chẳng ai biết, cũng chẳng ai hiểu nổi, mặc dù hàng đệ tử của Phật đa số đắc quả A La Hán một trong quả chứng cao nhất của bốn thánh quả (Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán).
Kinh kể rằng trước khi nói ra pháp tu này, dung mạo của Phật bỗng nhiên đổi lạ, vô cùng trang nghiêm, thanh thoát. Cùng lúc đó A Nan vị thị giả của Phật mới thưa hỏi nguyên nhân, thế là Phật bắt đầu nói về Pháp môn Tịnh Độ .
Lại khi nói về thế giới Cực Lạc, đức Phật đã chọn Ngài Xá Lợi Phất làm đối tượng người nghe để Phật trình bày lược kể, việc làm này có thể đức Phật muốn phá vỡ sự nghi ngờ không tin của hàng đệ tử sau này. Bởi vì Ngài Xá Lợi Phất nổi tiếng là trí tuệ bậc nhất mà còn tin nhận, thì điều Phật nói ra phải là như thật.
Pháp tu Tịnh Độ Phật dạy theo phương pháp giản dị nhất, chỉ cần niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, cộng với niềm tín, nguyện được vãng sanh, thì sẽ được sanh về thế giới Cực Lạc. Tuy nhiên cũng vì quá dễ như vậy nên nhiều người đã xem thường và từ việc xem thường đã bỏ lỡ một pháp môn hiếm có.
Người ta đã quên rằng mục đích của Phật ra đời là đưa con người về bến giác, thoát ly sinh tử luân hồi. Phật sở dĩ thuyết giảng đủ mọi phương tiện pháp môn không ngoài mục đích đó, và pháp môn khó dễ gì cũng chỉ giải quyết vấn đề sinh tử mà thôi. Vậy thì việc Phật nói ra pháp tu niệm Phật khó tin này hẳn phải là một lòng từ bi vô lượng, muốn cho chúng sanh mau được giải thoát, vì dù biết nói ra khó được người tin mà Ngài vẫn nói. Cho nên trong kinh A Di Đà có đoạn nói về chư Phật sáu phương khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của Phật Thích Ca, " Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hay làm những việc hiếm có và rất khó, Ngài ở trong cõi nước Ta Bà thuộc về đời có năm thứ ác trược như kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mệnh trược, mà Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Được đạo quả rồi, Ngài vì các chúng sanh nói ra giáo pháp mà hết thảy thế gian khó tin này."
Chúng ta cũng nên biết rằng mọi việc làm của Phật đều hợp với căn cơ, hoàn cảnh chúng sanh, và Phật nói pháp môn khó tin, chắc chắn phải là việc nhìn xa cho chúng sanh trong thời mạt pháp. Trong kinh Vô Lượng Thọ Phật có dạy "...kịp đến mai sau, kinh đạo tiêu diệt hết, ta đem lòng thương xót, chỉ để lưu kinh này (kinh nói về niệm Phật vãng sanh Cực Lạc) ở lại đời trăm năm. Nếu có chúng sanh nào, mà gặp được kinh này, tùy theo chỗ ý muốn đều có thể được độ (23)." Do đây ta có thể thấy cái nhìn lo xa của đức Phật.
Khi biết thật sự là một pháp môn khó tin, thì cũng nên biết người tin được, rồi thực hành theo phải là người có nhân duyên lớn. Nếu có người e ngại nói rằng, chỉ có tin và hành theo thì dễ quá đâu đáng gì phải nói là nhân duyên lớn ! Vậy xin hãy xem chính các bậc đại Bồ Tát như Ngài Văn Thù, Ngài Phổ Hiền, Thế Chí ... còn tin và hành theo; như lời nguyện của Ngài Phổ Hiền:
"Nguyện tôi lúc mạng sắp lâm chung
Trừ hết tất cả các chướng ngại
Tận mặt gặp Phật A Di Đà
Liền được vãng sanh cõi Cực Lạc (24)"
Đó là các vị Bồ Tát, riêng nói về các vị Tổ sau này gần gũi hơn, trong quyển "Pháp Môn Giải Thoát" Hoà Thượng Thiện Hoa có viết trong phần "Con đường tu thứ hai (Tịnh độ tôn) trong mười tôn". "Các vị Tổ ở các tôn khác, mặc dù hoằng truyền tôn mình, nhưng vẫn tu Tịnh độ. Như Ngài Thiên Thân, tổ của Duy thức tôn; Ngài Trí Giả đại sư, tổ của Thiên Thai tôn; Ngài Hiền Thủ, tổ của Hoa Nghiêm tôn; Ngài Nguyên Chiếu luật sư, tổ của Luật tôn; Ngài Mã Minh, Long Thọ, tổ của Thiền tôn.v.v... cũng đều thực hành pháp môn Tịnh độ...(25)"
Như thế chúng ta thấy các vị Bồ Tát các vị Tổ mà còn cầu vãng sanh, thì huống gì chúng ta, những phàm nhân đầy vô minh phiền não!
Đã nhận ra mình có nhân duyên lớn, việc tiếp theo là sống và thực hành theo pháp tu đó. Vì dù tin và khen ngợi thế nào, mà không thực hành theo thì vẫn chưa được gọi là có nhân duyên. Điều này đơn giản là tu theo Phật phải thực hành chớ không nói suông. Thế thì ta có thể nói rằng pháp tu có cao thấp, bình dân hay bác học chỉ thành lợi ích khi ta thật sự thực hành tu học .
Niệm Phật Hiểu Theo 37 Phẩm Trợ Đạo
Trong giáo lý đạo Phật, 37 phẩm trợ đạo là thành phần rốt ráo nhất giúp hành giả đoạn diệt mọi tham chấp phiền não, vô minh. Thành phần này là con đường chính trong Tứ Diệu Đế mà được biết là đạo đế; 37 phẩm trợ đạo được chia ra như:
· Tứ Niệm Xứ
· Tứ Chánh Cần
· Tứ Như Ý Túc
· Ngũ Căn
· Ngũ Lực
· Thất Bồ Đề Phần
· Bát Chánh Đạo
Đối với pháp môn Tịnh Độ, 37 phẩm trợ đạo lại được xem là phương tiện trợ duyên tác động thêm năng lực cho người niệm Phật. Vì tu niệm Phật phải có đủ ba tư lương là Tín, Nguyện, Hạnh và để có được tín tâm vững chắc làm nền tảng cho Nguyện và Hạnh hẳn phải thông hiểu phần nào thành phần 37 phẩm trợ đạo làm căn bản trên đường tu niệm.
Sau đây xin đi vào từng thành phần một, trong cái hiểu đại cương của người niệm Phật.
1) Niệm Phật với Tứ Niệm Xứ
Tứ Niệm Xứ được đức Phật dạy là pháp môn quan trọng, giúp hành giả quán xét được tính chất của kiếp sống con người về thân và tâm.
Nghĩa của Tứ Niệm Xứ là bốn điều ghi nhớ, quan sát hay còn gọi là bốn lãnh vực cần ghi nhận.
Bốn điều ấy là:
- Quán thân bất tịnh
- Quán tâm vô thường
- Quán pháp vô ngã
- Quán thọ thị khổ
a) Quán thân bất tịnh để đừng quên niệm Phật
Trong kinh Vô Lượng Thọ đức Phật có giảng cho các hàng đệ tử nghe về y báo và chánh báo ở cõi Cực Lạc. Nói về chánh báo là hình tướng thân thể của các bậc thượng nhơn, tất cả đều được hóa sanh từ ao sen thất bảo, đầy đủ cả ba mươi hai tướng tốt, thân tâm thường nhu nhuyễn thanh tịnh. Lại theo lời nguyện của Tỳ kheo Pháp Tạng tức tiền thân của Phật A Di Đà trong quá khứ: "Ví con được thành Phật, các Bồ Tát trong cõi nước con nếu chẳng được thân kim cương Na La Diên, thời con không thành bậc chánh giác (26)." Nay thì Ngài đã thành Phật tính hơn đã mười kiếp theo trong kinh A Di Đà. Vậy điều nguyện của Ngài đều đã thành tựu và tất cả là sự thật.
Sắc thân kim cương, trang nghiêm thanh tịnh như thế hẳn phải khác rất nhiều so với thân thể con người ở cõi Ta Bà được kết tinh bằng tinh huyết của cha mẹ tạo thành. Như thế suy ra được thân thanh tịnh vậy là do phước báo, phát sanh từ sự tu hành, thanh lọc ba nghiệp thân khẩu ý.
Chúng ta mang xác thân máu mủ này là cũng do phước báo, nghiệp báo mà ra. Nghiệp báo có thiện có ác, nghiệp thiện là sự may mắn ta vẫn còn mang được thân người, vì trong lục đạo (thiên, nhơn, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) thân người khó được, mà nay ta đã được. Nghiệp ác là ta đã vụng tu trong muôn kiếp, để phải trôi nổi mãi cho đến nay mới thức tỉnh nhận ra thân người là khổ là ô uế.
Vậy để tìm phương pháp xa lìa thân bất tịnh này, ta hãy nghĩ về thân kim cương, thanh tịnh của các vị thượng thiện nhơn ở cõi Cực Lạc. Nghĩ mong được như thế chỉ có cách là phải sanh về nước đó, và con đường về Cực Lạc đã được đức Phật Thích Ca chỉ bày; lại có đấng từ phụ A Di Đà đang đưa tay đón nhận, chúng ta chỉ việc cất bước đi thôi.
Trì danh niệm Phật, thật tướng niệm Phật, quán tưởng niệm Phật... là phương tiện vận chuyển cho chúng ta sanh về đất Phật.
Đối với pháp quán thân bất tịnh ai cũng thấy hiểu, rõ ràng thân người chứa đựng cả một túi đồ dơ ghê tởm. Chính sự nhận ra việc thân bất tịnh này mà nên nhàm chán cầu cho được thân thể bằng chất kim cương trong sáng. Để được như vậy phải nhiếp tâm niệm Phật, quán chiếu về thân thể. Quán chiếu để thấy rằng thời kỳ hư hoại, bệnh chết của thân đang dần dần phát triển trong thân thể, và nay mai đây một điều chắc chắn thân ta sẽ bệnh, sẽ chết, sẽ sình ươn, hôi thối, ghê tởm không ai dám nhìn.
Quán sát nhận hiểu được như vậy, câu niệm Phật của ta mới phát được định lực. Mỗi khi thân di động, đi, đứng, nằm, ngồi ta đều rõ biết. Rồi lấy câu niệm Phật để giữ gìn mỗi động tác, khiến cho thân đi trong câu niệm Phật, đứng trong câu niệm Phật, nằm trong câu niệm Phật, ngồi trong câu niệm Phật. Niệm một câu Phật ta nhận ra rằng thân này là bất tịnh. Niệm hai câu Phật ta hiểu được rằng thân này là một đảy đựng đồ dơ, và càng niệm nhiều câu Phật, ta càng thấy rõ cái thân sống này toàn là thứ ô trược không có gì đáng ưa muốn.
Khi thấy lẽ thật đó rồi, ta càng chí tâm niệm Phật mạnh hơn nữa để cầu mong đạt được thân kim cương bất hoại.
Lòng chí thành tha thiết đó tạo cho việc định tâm, nhiếp niệm thêm vững vàng. Bây giờ ta chỉ còn một niệm ở vào câu Phật cho đến bất loạn. Nhờ vậy thân tâm ta sẽ đi vào câu niệm Phật một cách nhẹ nhàng nhất tâm.
b) Quán tâm vô thường để tinh tấn niệm Phật
Chúng ta từ vô thỉ kiếp đến nay vì ôm chấp cái giả dối, hư vọng của muôn sự muôn vật. Xem tâm này là thật có, là bất diệt... Vì sự ngoan cố bám chặt cho tâm là thật là trường tồn, trường cửu. Từ đây sinh ra bảo thủ, chấp chặt sở kiến của mình, rồi phân biệt mọi người đều có tâm riêng biệt không thể hoán chuyển được. Do đó tạo ra muôn nghiệp. Nghiệp quá khứ chưa trả hết, nghiệp hiện tại lại chất chồng rồi tiếp tục làm nhân cho nghiệp tương lai. Cứ thế mà trôi lăn không sao thoát ra được vòng kiềm tỏa của sinh tử.
Để phá vỡ sự mê lầm vọng chấp về tâm là thật có, Phật dạy về phép quán tâm vô thường. Hiểu tâm vô thuờng để thấy rằng tâm con người ta luôn luôn chuyển dời, biến đổi tạo ra không biết bao tư tưởng sai biệt. Nay nghĩ này mai nghĩ khác. Khi gặp cảnh đẹp việc vui tâm sanh mừng ham thích. Gặp cảnh xấu việc buồn tâm buồn giận, sầu lo. Trong một ngày tâm khơi động không biết bao nhiêu lần cứ lăng xăng, rộn ràng như khỉ gặp rừng cây, như ngựa sẩy cương trên đồng trống. Kìm hãm được sự giao động, nhộn nhịp của tâm là việc rất khó. Cũng vậy mà trong kinh Mạ Ý dạy rằng: "Làm trăm ngôi chùa Phật không bằng làm sống một người. Làm sống người trong mười phương thiên hạ không bằng gìn giữ tâm ý một ngày (27)."
Nay muốn dừng lại cái tâm lăng xăng, vô thường ấy ta phải tìm về cái chân tâm, thực tại. Dùng câu niệm Phật để nhiếp phục những giao động của vọng tâm, gột sạch những vọng tưởng điên đảo mà từ lâu nay đã dung dưỡng trong tâm, tự cho cái ta này là thật có, lại nghĩ rằng mọi người đều có một số mạng an bày...
Khi chí tâm niệm Phật, ta sẽ ngừng lại nhịp đập của vọng tâm, cùng theo đó những ác tâm trong ta sẽ mờ dần cho đến khi mất hẳn. Bấy giờ trong tâm ta chỉ còn câu niệm Phật. Vậy thì dùng câu niệm Phật chẳng những gạt bỏ được việc điên đảo vọng tưởng của tâm mà còn huân tập vào tâm thức chủng tử Phật.
Như thế quán tâm vô thường để tự dứt trừ tri chướng chấp vào bản ngã là trường tồn, và rồi sẽ quay về với bản tâm chân thật bằng sự nhiếp niệm vào hồng danh Phật. Cuối cùng hòa nhập vào tự tánh chơn thường không sanh không diệt như đi vào tâm Phật.
c) Quán pháp vô ngã để nhiếp tâm niệm Phật
Pháp được hiểu là mọi sự mọi vật, những gì có hình tướng, tên gọi hay cả những việc không nhìn thấy được, rờ mó được mà chỉ nhận thức bằng tư duy, tất cả cũng đều gọi là pháp.
Con người chúng ta sở dĩ có vui buồn, thương ghét, yêu, giận... là do sự nhận thức sai lầm về các pháp. Nhìn nhận pháp thật có là nguyên nhân tạo ra phiền não, bởi phải sống chết với sự mất còn của chúng.
Thử nhìn xem cõi Tà Bà này mọi vật đều ở trong vòng tương đối, giả tạm, vô thường. Tất cả đều nương nhau để hình thành, tồn tại nhưng rồi cũng phải tan vở để tiếp tục tồn tại bằng dạng thức khác cứ như vậy mãi đến vô cùng. Tìm đâu thấy sự vật, sự việc nào là thật có, khi chúng phải trải qua bốn thời kỳ Thành, Trụ, Hoại, Không (sanh ra, có được, tồn tại thời gian nào đó, thời kỳ hư hại, tan rã mất đi) .
Ngày xưa khi Ngài Xá Lợi Phất còn là ngoại đạo, chỉ nghe qua câu nói của Tỳ Kheo A Thị Thuyết lập lại từ lời dạy của đức Phật "Các pháp do nhân duyên sinh, và cũng lại do nhân duyên diệt" mà giác ngộ tức thời. Phải chăng câu nói ấy quá đầy đủ để không còn gì biện minh cho cái giả dối của các pháp.
Luận Trí Độ cũng đã nói "Các pháp từ nhân duyên sinh, không có bản tánh, không có tự tánh nên rốt ráo là không. Đã rốt ráo là không, thì các căn bản từ xưa đến nay là không, đó chẳng phải Phật làm, cũng chẳng phải người khác làm (28)."
Vậy thì xưa nay vì không hiểu các pháp, hay nói rõ là mọi sự, mọi vật là giả cho nên chúng ta phải đau khổ khi bị lệ thuộc với chúng quá nhiều. Nói một cách sâu hơn nữa, ngay chính giáo pháp chúng ta học đây cũng không là tuyệt đối. Vì Phật đã dạy hãy xem như chiếc bè đưa qua sông, hãy xem như ngón tay chỉ mặt trăng. Chỉ khi qua đặng sông mới là thật, cũng như nhìn mặt trăng mới là tự tánh.
Nhận được cái giả của pháp rồi, chúng ta sẽ không còn kẹt nhiều vào sự đối đãi, và khi thực hành một việc nào, ta vẫn xem đó là phương tiện để đạt đến cứu cánh thanh tịnh.
Với công phu niệm Phật dựa vào tướng pháp vô ngã, ta sẽ dễ định tâm, không còn phải lo lắng quan tâm đến những vọng động, lăng tăng nhảy múa trong tâm tưởng xen vào câu niệm Phật hay những ngoại cảnh âm thanh khuấy động, rộn ràng lấn át đi tiếng niệm Phật. Từ đó công phu niệm Phật dễ dẫn đến nhiếp tâm hơn.
d) Quán thọ thị khổ để tha thiết niệm Phật hơn
Chân lý của khổ đến từ nguyên nhân thọ mạng này. Hễ có thân là có khổ, vì khổ do sự thọ nhận của thân. Dù là một niềm vui một điều hạnh phúc, một việc dễ chịu cũng vẫn là khổ. Bởi vì sự vui, hạnh phúc, dễ chịu kia không thể kéo dài lâu được. Nên khi mất đi sẽ để lại đau khổ. Nói đúng ra ngay trong lúc vui đã ngấm ngầm có mặt sự khổ trong đó.
Trong kinh Tương Ưng Bộ III, Phẩm Gánh Nặng Phật dạy "Này các Tỳ kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thụ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ kheo, đây gọi là gánh nặng (29)."
Việc thọ nhận lớn nhất là mang thân này, mà đức Phật đã dạy là một gánh nặng. Chính gánh nặng này đã làm xao động tâm tư gây ra bao xung đột trong tâm thức.
Vậy quán thọ thị khổ cho chúng ta hiểu rằng, sự khổ đến từ sự thọ lãnh, thọ nhận. Việc thọ nhận thân ngũ ấm đã đành là khổ rồi, chúng ta còn lãnh thọ biết bao sự việc chung quanh, chẳng hạn của cải, địa vị, công danh...những lãnh thọ này làm cho gánh nặng của ta vốn đã nặng lại càng thêm nặng.
Người thực hành pháp niệm Phật, dùng câu niệm Phật làm hành trang, mà không phải mang theo những gánh nặng của trần cảnh Ta Bà. Lại quán tưởng đến cảnh giới Cực Lạc trang nghiêm, nơi ấy không có sự lãnh thọ, thọ nhận những gánh nặng ô trược ở cõi Ta Bà nơi ta đang ở. Quán tưởng và niệm Phật luôn luôn để gánh nặng trong ta, ngoài ta được nhẹ nhàng thanh tịnh. Thực hành được như vậy sẽ thấy an vui trong câu niệm Phật như lời Phật dạy tiếp theo: Phẩm Gánh Nặng "Này các Tỳ Kheo thế nào là đặt gánh nặng xuống? Đây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỳ Kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống (30)." Do đó quán thọ thị khổ để thức tỉnh diệt đi sự tham muốn, là làm vơi đi gánh nặng của kiếp người như Phật đã dạy. Và ở đây câu niệm Phật lại là hành trang thay thế tất cả để hướng về một thế giới thanh tịnh trang nghiêm hơn.
2) Niệm Phật với Tứ Chánh Cần
Tứ Chánh Cần là bốn phương pháp siêng năng bỏ ác, làm lành đúng theo chánh pháp. Bốn pháp ấy là:
- Siêng năng ngăn chặn điều xấu ác chưa phát sanh
- Siêng năng dứt trừ điều xấu ác đã phát sanh
- Siêng năng làm phát sanh những điều tốt chưa phát sanh
- Siêng năng tiếp tục làm phát sanh các điều lành đã phát sanh
a) Niệm Phật ngăn chặn điều xấu ác chưa phát sanh
Tâm ý con người hằng ngày trong đời sống thường hay bị vọng động, vì luôn phải đối diện mọi lo toan, mưu cầu cho cái sống. Từ cái lo lắng này, chúng ta đã ít nhiều chứng kiến hay kinh nghiệm bản thân qua những phiền não trong đời. Tác ý phiền não đó, len lỏi vào trong tâm tư, tư tưởng tạo thành một hòm chứa đầy toan tính, lo liệu. Tuy nhiên cũng có ý niệm tốt lẫn lộn trong ý niệm xấu. Dữ kiện rối ren đó chỉ chờ thời cơ hay được phép, tức thời sẽ bộc phát. Do vậy càng chứa nhiều toan tính trong đầu, sự bộc phát càng có dịp nhảy xô ra. Nhưng chứa đựng nhiều tư tưởng, ý nghĩ đẹp lành thì tốt, ngược lại nguy hiểm vô cùng.
Chúng ta hay nghĩ rằng, đây chỉ là một ý niệm xấu thoáng dấy lên đầu, có chi mà lo sợ! Điều này không đơn giản như vậy. Vì nếu để ý niệm kia nằm mãi trong đầu thì một lúc nào đó chắc chắn sẽ bộc phát và biến thành hành động.
Nhìn xem trong cuộc sống, chẳng có gì xảy ra mà tự nhiên cả. Mọi việc đều có thời có lúc, có nguyên nhân. Chẳng hạn nhà văn sĩ muốn viết một tác phẩm, trước hết nhà văn phải bắt đầu có manh nha, nhen nhúm trong đầu những hình ảnh mình cố đặt ra. Rồi cố nuôi giữ mãi cho đến khi chín muồi để bày tỏ lên trang giấy .
Như thế ở điều đầu tiên trong bốn phép Chánh Cần chúng ta phải cố gắng làm sao ngăn chặn những ý niệm xấu ác vừa mới tượng hình trong đầu hay điều sai lầm tội lỗi nào mà trước đây ta chưa bao giờ phạm, lại cố gắng diệt trừ ngay khi nó vừa chớm nở.
Với người thực hành pháp niệm Phật, thì danh hiệu Phật là phương tiện ngăn chặn ý tưởng bất thiện. Cố làm sao câu niệm Phật tuôn chảy mãi như nước trong nguồn không đứt đoạn, như vậy mảng đá xấu ác sẽ bị xoáy mòn, không có cơ hội tồn tại.
Ta cũng nên hiểu quan niệm ác theo căn bản đạo Phật không chỉ là hành động đánh đập giết chóc... mà ác chính ngay ở ba độc Tham, Sân, Si. Từ ba độc này tạo ra nghiệp tội.
Một lời nói, một sự im lặng cũng có thể là thiện và cũng có thể là ác. Nói lời đâm thọc, chỉ trích khiến người phải đau khổ dẫn đến quyên sinh. Im lặng không phản ứng, thông cảm, chia xẻ như trách cứ, trút hết nỗi thống khổ lên đầu người cũng đưa đến sự bứt tử, chết oan... Do đây việc ác cũng có thể xảy ra từ một hành động xem rất thường như vừa kể. Thế nên dùng câu Phật hiệu để chế ngự ba độc, thanh lọc tư tưởng diệt đi xấu ác đang ngấm ngầm nẩy sinh trong ta.
b) Niệm Phật dứt trừ điều xấu ác đã phát sanh
Đã là người ai cũng có lỗi, và ít nhiều hơn một lần gây ra phiền hà, đau khổ cho người hay chính mình. Nhưng con người quý nhất ở việc biết sám hối, biết hổ thẹn để chuộc lại lỗi lầm. Có sám hối, biết hổ thẹn, chúng ta mới dễ chịu, nhẹ nhàng thân tâm khi đã tự nhận tội lỗi của mình. Kinh Tâm Địa Quán nói "Nếu như pháp mà sám hối thì tất cả phiền não thảy đều tiêu trừ. Cũng như lửa kiếp làm hoại thế gian, thiêu đốt núi Tu-Di luôn biển cả. Sám hối có thể thiêu đốt rừng phiền não. Sám hối có thể vãng sanh về cõi thánh. Sám hối có thể được vui tứ thiền. Sám hối là mưa bảo châu ma-ni. Sám hối có thể sống lâu như kim-cang. Sám hối có thể vào được cung điện thường lạc. Sám hối có thể ra khỏi ngục tam giới. Sám hối có thể làm hoa Bồ Đề nở. Sám hối có thể được gương tròn lớn của Phật. Sám hối có thể đến chổ bảo thành (31)."
Riêng nói về người không biết sám hối, ăn năn sẽ phải đau khổ mãi vì không ai thông cảm, thương hại. Cũng như chính bản thân sẽ bị dày vò, dằn vặt đến cả cuộc đời.
Hổ thẹn cũng vậy, biết hổ thẹn chúng ta không dám tái phạm những lỗi lầm đã tạo ra. Kinh Di Giáo, Phật dạy "Người có hổ thẹn thì có thiện pháp, nếu người không biết hổ thẹn cùng với những loài cầm thú không khác chút nào vậy (32)."
Như thế việc ta hiểu rằng, khi đã lỡ tạo ra những sai lầm thì ta phải tự cố gắng sám hối, hứa lấy sẽ không tái phạm nữa. Và một khi tư tưởng có móng lên việc xấu ác ta liền biết ngay đây là việc sai ta đã phạm rồi, nay không dám tạo tác nữa. Thêm một điều giúp ta ngăn chặn và dứt trừ được việc xấu ác là nên suy tìm nguyên nhân, đưa ra hậu quả sẽ xảy ra nếu ta hành động. Vậy trong lúc suy niệm, phán xét chắc chắn có thể kịp thời phá được ý tưởng xấu kia.
Cũng như pháp đầu của Tứ Chánh Cần, dùng danh hiệu Phật để ngăn chặn, tiêu diệt ý tưởng sai lầm, đang chóm nở trong đầu, thì ở pháp thứ hai này ta vẫn duy trì danh hiệu Phật để gội rửa và sám hối những ác nghiệp đã lỡ gây ra trong quá khứ và hiện tại.
c) Niệm Phật để làm phát sanh những điều tốt chưa phát sanh
Trong hai pháp đầu, chúng ta cố gắng ngăn ngừa và dứt trừ, ngược lại ở pháp này và pháp cuối, ta lại gắng làm phát sanh, tạo cho việc này sẽ tiếp tục vậy mãi. Điều gắng làm phát sanh hẳn phải là điều thiện, pháp lành.
Như ta biết tư tưởng có xấu, có tốt chúng được huân tập mãi trong đầu. Vậy nếu được thanh lọc, chọn lựa để tích trữ, ứng dụng thì đây là việc đáng làm khi chọn điều hay ý đẹp. Có cố gắng sáng tạo những hình ảnh đẹp, hình ảnh lành hợp với Phật pháp; nuôi dưỡng ý niệm thiện lành như thế, thì cơ hội phát sinh thể hiện ra bên ngoài sẽ dễ dàng đối với chúng ta.
Người mà có được ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh hẳn là người luôn nuôi dưỡng và sáng tạo những thiện niệm trong tâm tư. Do đó có thể hiểu rằng làm phát sinh thiện niệm là tự làm cho ba nghiệp mình được an lành trước nhất. Tiếp theo từ sự an lạc đó, ý niệm thiện lại càng tăng thêm.
Với việc niệm Phật lúc này, là động cơ giúp ta phát triển điều lành một cách tích cực hơn. Bởi vì khi niệm Phật có nghĩa là niệm ý tưởng lành. Một câu Phật khởi lên một điều lành được hun đúc. Nhiều câu Phật phát sanh, nhiều niệm lành sanh khởi, và cứ như vậy điều lành sẽ được thể hiện qua tâm niệm Phật giống như tâm nghĩ thế nào thì hành động như thế đó.
d) Niệm Phật để luôn tiếp tục làm phát sanh những điều lành đã phát sanh
Có lẽ không có ai tự hào rằng tôi đã làm quá nhiều việc tốt lành, và đời tôi không có chi là xấu ác. Nếu người nào được như vậy bằng sự thật thì người đó phải là Thánh nhân. Nhưng thật ra các vị Thánh nhân cũng vẫn thấy việc làm lành hướng thượng cũa các Ngài vẫn chưa đủ. Như vậy so với chúng ta những phàm nhân, chậm lụt đâu lẽ nào dám ngưng việc làm lành hướng thượng, hay tự cho mình đã làm đủ rồi! Nhìn ngược về quá khứ, chúng ta đã từng nghe nói các vị Thánh nhân, đức trọng luôn luôn tinh tấn siêng năng cho đến cuối cuộc đời. Trong Luật Sa Di có nhắc Ngài Hiếp tôn giả cả một đời không đặt lưng dính chiếu. Ở Ấn Độ có Thánh Gandhi hy sinh trọn đời làm việc của ông cho lý tuởng hòa bình, bất bạo động. Ngọn đuốc tràn đầy từ bi, trí tuệ của Hoà Thượng Thích Quảng Đức phải chăng đã đến từ sự đại tinh tấn, hằng nuôi dưỡng dòng thiện niệm, và còn biết bao vị cao tăng ẩn danh cho đến khi lặng lẽ viên tịch ở một nơi nào đó mà không ai hay biết.
Do vậy ở pháp cuối trong bốn pháp Chánh Cần này, Phật dạy chúng ta phải cố gắng phát triển mãi những ý niệm thiện, và chính nhờ sự gia công luôn luôn này, những ác niệm không có chỗ đứng trong đầu của ta; cũng như việc làm lành mới được viên mãn. Và người thực hành công phu niệm Phật sẽ làm luân lưu mãi dòng nước thiện niệm bằng danh hiệu Phật chảy mãi đến cuối cuộc đời trong niềm an lạc hạnh phúc.
3) Niệm Phật với Tứ Như Ý Túc
Tứ Như Ý Túc còn gọi là bốn pháp thần túc, là pháp thiền định làm phương tiện, đạt được như ý muốn cũng như bốn phép thần thông vậy. Bốn pháp ấy là:
-Dục Như Ý Túc
-Tinh Tấn Như Ý Túc
-Nhất Tâm Như Ý Túc
-Quán Như Ý Túc
a) Niệm Phật với Dục Như Ý Túc
Phàm làm người ai cũng có khao khát, mong muốn mọi điều cho cá nhân. Nhưng sự mong muốn, khát vọng này mang lại ý nghĩa thế nào cho bản thân cuộc sống liên quan đến gia đình, xã hội mới là điều quan trọng.
Dục Như Ý Túc là mong muốn, khao khát, ước ao một điều gì cho thành tựu. Đương nhiên điều mong muốn này đối với người Phật tử phải là điều mong muốn chân thật, thanh cao, chớ không phải là sự mong muốn xuôi theo đòi hỏi của dục vọng.
Người để vọng tình ham muốn làm chủ thân tâm, thì dù việc gì cũng dám làm, không còn nghĩ đến nhân quả, nghiệp báo chi cả. Đây không chỉ nói người không có đạo mà cả luôn người có đạo cũng vậy, cho đến tu sĩ không khác. Hễ ham muốn sai quấy dẫn đến kết quả xa đọa. Hậu quả có khi lại không đợi đến kiếp sau, đời tới mà ngay lúc hiện tại phải chịu nhiều đau khổ từ sự ham muốn sai lạc mà ra.
Với sự ham muốn thanh cao, tươi sáng hạng người nào cũng được kết quả an vui tươi đẹp. Có khi kết quả lành ấy đến ngay, mặc dù điều mong muốn kia vẫn còn nằm trong tư tưởng. Ví dụ ta chỉ vừa khởi tâm mong muốn giúp người, thì tâm hồn ta ngay lúc ấy đã có niềm hỷ lạc rồi.
Người thực hành pháp môn niệm Phật trong sự mong muốn này lại càng tha thiết hơn. Ví như người thường mong muốn việc gì đã khắc ghi vào tâm khảm, rồi giữ mãi sự khát khao này trọn cuộc đời, thì người niệm Phật cũng y như vậy. Có thế công phu niệm Phật mới thành tựu như ý.
b) Tinh tấn Như Ý Túc trong pháp niệm Phật
Một khi đã mong muốn ước ao điều gì, chúng ta phải luôn luôn cố tâm đeo đuổi cho bằng được. Người niệm Phật áp dụng vào pháp Tinh Tấn Như Ý Túc, không khác gì thiền định. Phải cố gắng khắc phục nội tâm, ngoại giới nhiếp tâm vào danh hiệu Phật không để gián đoạn.
Nếu pháp thiền định theo dõi được thân tâm trong mọi động tác đi, đứng, nằm, ngồi với chánh niệm; thì người niệm Phật cũng sống thở với danh hiệu Phật trong từng động tác.
Sự công phu vào những giờ giấc thiền, niệm nhất định chưa thể gọi trọn vẹn là sự Tinh Tấn Như Ý Túc. Tinh Tấn Như Ý Túc là phải luôn luôn đeo đuổi, như con đeo mẹ, như mèo rình chuột. Kinh Di Giáo Phật dạy "Ví như giọt nước chảy luôn có thể soi thủng phiến đá. Nếu như tâm của hành giả thường thường biếng nhác bỏ bê chẳng khác nào kéo lửa chưa nóng mà ngưng, tuy muốn được lửa, lửa cũng khó được (33)"
c) Nhất tâm như ý túc trong pháp niệm Phật
Dù làm bất cứ công việc gì, muốn được thành tựu như ý thì phải chú tâm. Việc hành trì Phật pháp lại càng nhất tâm hơn nữa. Huống chi tâm là nguyên nhân, nguồn gốc sanh ra các pháp. Kinh Tâm Địa Quán, Phật dạy "...Ba cõi lấy tâm làm chủ. Người hay quán sát tâm mình thì được Niết Bàn rốt ráo. Kẻ không hay quán sát tâm mình thì sẽ chìm đắm trong biển khổ...(34)" Vậy quán sát, nhiếp tâm vào chánh định là thực hành được Nhất Tâm Như Ý Túc. Người niệm Phật cũng thế, nắm giữ danh hiệu Phật ngày đêm không xao lãng, không phân tâm với ngoại cảnh duyên trần. Hành trì như thế đến khi nhất tâm, sẽ không còn thấy tâm mình khác tâm Phật như kinh Quán Phật có dạy "Nếu hay chí tâm giữ niệm, nội tại đoan chánh quán sắc thân Phật, cùng với Phật không khác, tuy ở trong phiền não cũng không bị điều ác che lấp, ở đời vị lai mưa pháp vũ lớn (35)."
d) Quán Như Ý Túc trong pháp niệm Phật
Đến đây pháp còn lại của Tứ Như Ý Túc là Quán, nghĩa là chiêm nghiệm, tư duy quán sát các pháp. Nhờ trải qua ba pháp đầu: mong muốn, siêng năng, nhất tâm không loạn, cho nên việc quán sau có phần lưu thông. Nếu không có được ba pháp đầu thì không làm sao quán được. Điều này có nghĩa ta cần có trí tuệ từ việc định tâm chuyên nhất, tinh tấn mà ra.
Quán sát các pháp sinh diệt để đạt đến thật lý vô thường của vạn pháp. Từ đây sẽ giúp cho hành giả thấu rõ vững chắc nơi pháp mình đang tu.
4) Niệm Phật với Ngũ căn, Ngũ lực
Ngũ căn là năm căn, năm phần căn bản, cội rễ phát sinh ra thiện pháp. Năm phần đó là:
Tín căn
Tinh tấn căn
Niệm căn
Định căn
Huệ căn
a) Niệm Phật cần có Tín căn
Trong năm căn, Tín căn được đặt trước tiên, điều này cho thấy tin là bước đầu tiên hành trì mọi pháp. Trong kinh Phạm-Võng có nói "Tất cả các hạnh lấy tin làm đầu. Tin là cội gốc của các công đức (36)". Cũng không kể là pháp sâu cạn, cao thấp nếu không có lòng tin việc tu hành sẽ không thành đạt. Kinh Tiểu Địa Quán dạy "Vào biển Phật Pháp, lòng tin là gốc...(37)". Nhưng lòng tin ở đây phải đến từ lý trí sáng suốt, hiểu biết minh mẫn, hẳn không phải là tin càng, tin bướng một cách mù quáng, vô minh. Kinh Niết Bàn dạy "Tin mà không hiểu vô minh thêm nhiều. Hiểu mà không tin, tà kiến thêm lớn (38)."
Ở pháp Tín căn đây, nhắc người Phật tử trước khi vào biển Phật phải có niềm tin căn bản. Niềm tin căn bản này là tin ba ngôi Tam Bảo, là Phật, Pháp, Tăng.
-Tin Phật: Là đấng vẹn toàn về đức tánh Hùng lực, Từ bi, Trí tuệ. Ngài không phải là vị thần linh, ban ơn, giáng họa hay bậc Thánh thần để ta thờ cúng van xin, mà chỉ đơn giản tin rằng Phật chỉ là một con người thanh tịnh, giác ngộ hoàn mỹ. Tin như vậy để thấy rằng chúng ta cũng có tánh giác như Phật, nhưng chỉ khác Phật ở chỗ chúng ta chưa được hoàn mỹ mà thôi.
-Tin Pháp: Trí huệ của Phật là siêu việt thì giáo pháp, lời dạy của Phật phải là chân lý. Hơn nữa giáo pháp Ngài dạy không phải của riêng Ngài, giáo pháp ấy bàng bạc trong không gian vô tận và thời gian vô thỉ vô chung. Đức Phật chỉ là người giác ngộ từ giáo pháp ấy rồi dạy lại chúng ta. Do vậy giáo pháp đó là chân lý không phải thần kỳ, huyền hoặc.
-Tin Tăng: Những đại đệ tử của Phật thật tu thật chứng nhiều vô số. Các Ngài đã thay Phật đem ánh sáng giác ngộ trải rộng đến muôn người muôn vật. Và cũng chính nhờ vậy mà giáo pháp muôn thuở ấy mới tồn tại mãi đến ngày nay.
Lược qua ba đức tin căn bản, người Phật tử sẽ vững vàng bước đi vào đạo mà không sợ vấp ngã.
Đối với pháp niệm Phật ở Tín căn, người niệm Phật phải xem đây là điều kiện tiên quyết. Bởi niệm Phật có nhất tâm hay không là do ở niềm tin xác đáng. Nay ta đã tin Phật Thích Ca, thì phải tin Phật A Di Đà, vì lời Phật dạy không bao giờ sai dối; và đã tin Phật A Di Đà thì lời nguyện tiếp dẫn của Ngài (Phật A Di Đà) hẳn phải là sự thật. Người niệm Phật tin được như thế, dẫn đến sự trì niệm thâm sâu hơn.
b) Tín căn trong pháp niệm Phật
Việc học, việc làm ở thế gian có được thành công, là do siêng năng cần cù, nhẫn nại không nản chí, thì việc học Phật là việc cao thượng tinh tế khó hành, không thể thiếu tánh đức siêng năng được.
Khi đã có được lòng tin vững chắc về ba ngôi Tam Bảo, người Phật tử phải tiếp theo dùng nghị lực tinh tấn của mình mà thực hành theo giáo pháp; nếu không niềm tin ấy chẳng mang một ý nghĩa gì. Vậy tính căn là sự siêng năng không ngừng nghỉ trên con đường đạo. Trong kinh Bồ Tát Bổn Hạnh, Phật dạy rõ ràng về lợi ích của tinh tấn. "...Người tại gia mà biết tinh tấn thì ăn mặc đầy đủ, sự nghiệp rộng lớn, xa gần được người tán thưởng khen ngợi. Người xuất gia mà biết tinh tấn, thì thành tựu được ba mươi bảy phẩm trợ đạo, dứt được trôi lăn sinh tử, được đến bến bờ Niết Bàn an vui (39)."
Niệm Phật đối với tính căn lại càng được đặt nặng hơn hết. Bởi vì rốt ráo việc niệm Phật là mong sao được nhất tâm trong câu niệm Phật, mà muốn được vậy phải luôn luôn tinh tấn niệm niệm tương tục; có nghĩa làm cho câu niệm kết nối nhau như dòng nước chảy không đứt đoạn. Và trong câu niệm đó chẳng những không mống khởi điều xấu ác, mà điều thiện lành cũng không có mặt. Niệm được như thế mới là tấn tu trong niệm Phật. Do vậy ta thấy rằng dù người Phật tử tại gia hay xuất gia đều phải tinh tấn hành đạo. Không gia công tinh tấn, thì mọi pháp môn tuyệt diệu, cao siêu nào đi nữa cũng là hư vọng. Ngược lại quyết tâm bền chí, tinh tấn pháp môn nào khó đến đâu cũng dễ thành công. Do đó tinh tấn là tối quan trọng là tối căn bản của người Phật tử.
c) Niệm căn trong niệm Phật
Cuộc sống rối ren, hỗn độn hằng ngày ảnh hưởng rất nhiều vào tâm niệm con người. Từ đây là nguyên nhân sanh ra những thao thức, bất an chập chờn trong tâm thức. Ở xã hội văn minh không ai lại không ít nhiều bị lôi cuốn vào cuộc sống rối ren này.
Muốn dừng lại tâm niệm lăng xăng để hướng về tâm niệm đơn thuần, chúng ta chỉ có cách chuyển tạp niệm thành nhất niệm.
Niệm căn là niệm tưởng căn bản quy về thiện niệm, là sự ghi nhớ thuần chất quy về thiện pháp. Sự ghi nhớ này về một đối tượng thanh cao trong sáng đẩy lùi tạp niệm xấu xa. Hình ảnh đức Phật, giáo lý giải thoát là mục tiêu để tăng trưởng niệm căn được thành tựu.
Hành trì niệm Phật là hợp nhất với pháp niệm căn thanh tịnh, vì niệm Phật là ghi nhớ pháp lành, là trau dồi ý tưởng đạt đến trạng thái trong sáng ở tâm hồn.
Ghi nhớ niệm Phật còn được chư Phật hộ niệm, giao cảm như lúc nào cũng gần gũi với Phật. Trong kinh Niết Bàn Phật bảo Ca Diếp Bồ Tát: "Nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ thường hay chí tâm chuyên niệm Phật, hoặc ở núi rừng, hoặc ở thôn xóm, hoặc ngày hoặc đêm, hoặc ngồi hoặc nằm, các đức Phật Thế Tôn thường thấy người này như trước mặt (40)".
d) Định căn trong niệm Phật
Khi niệm căn được thuần thục, khắc ghi vào tâm các pháp lành ý thiện. Tâm thức của chúng ta bây giờ sẽ ngừng lại những lăng xăng, loạn động chỉ còn lại sự chuyên nhất vào pháp thanh tịnh. Giữ được trạng thái an lạc nhất như này gọi là định căn. Công năng của định căn đào luyện con người có được tính tập trung, khả năng chịu đựng, sự nhận định sáng suốt. Kinh Di Giáo Phật dạy "... Nếu người nhiếp tâm thì tâm ở trong định, nên có thể biết được pháp tướng sanh diệt trong thế gian. Thế nên các ông phải thường tinh tấn tu các thiền định, nếu được định rồi thì tâm không còn tán động. Ví như người giữ nước, khéo giữ đê điều. Cũng thế hành giả vì nước trí huệ, khéo tu thiền định khiến cho không bị chảy mất.(41)."
Người niệm Phật chuyên tâm vào hồng danh Phật cũng sẽ được chánh định không khác gì thiền quán. Bởi vì lìa tán loạn an trú vào một chỗ đạt đến thanh tịnh là được chánh định, mà niệm Phật là niệm pháp lành, pháp thiện để đạt được định tâm cho nên không khác vậy.
e) Niệm Phật với tuệ căn
Từ ghi nhớ các pháp lành (niệm căn) đến được an tịnh (định căn), tới đây tư tưởng sẽ bừng sáng, trong lành không còn ô nhiễm, do đó dẫn đến tuệ căn.
Tuệ căn là căn tánh trí tuệ tinh khiết, sáng suốt trong đó không có sự phân biệt mê lầm vọng động. Vì thế với tuệ căn sáng suốt ta có thể thực hành quán sát nhận chân ra mọi việc thật hư, liên quan tới việc giải thoát sinh tử như kinh Trường A Hàm có dạy "Dùng trí huệ quán sát việc sống chết...(42)" Lại kinh Di Giáo đức Phật đã nhấn mạnh việc hệ trọng của người có trí huệ và không trí huệ "Tỳ kheo các ông! Nếu người có trí huệ thì không có tham trước, thường tự tinh sát (suy xét) không để sanh ra tội lỗi. Thế là ở trong pháp của ta có thể được sự giải thoát. Nếu chẳng vậy, đã chẳng phải là bậc đạo nhân, lại cũng chẳng phải là kẻ bạch y (cư sĩ), không biết gọi là gì! Người có trí huệ chân thật, ấy là chiếc thuyền tốt có thể vượt qua biển già, bịnh, chết; cũng là ngọn đèn sáng chiếu phá cảnh tối tăm, mờ ám; là món thuốc hay trị tất cả các chứng bệnh, là lưỡi búa bén chặt đứt cây nghiệp phiền não...(43)"
Do vậy trí tuệ phải là quan trọng đối với người tu Phật. Người niệm Phật cũng cần có trí tuệ sáng suốt. Phải niệm Phật trong niềm tin vững chắc, phải xác nhận việc sinh tử là gốc luân hồi, và quan trọng hơn phải biết pháp tu niệm Phật viên dung cả lý và sự. Về lý: nên hiểu rằng tâm Phật và tâm ta không khác nhưng vì ta luôn sống trong động, nên chơn tâm không phát lồ được. Và khi đã thanh tịnh nhất tâm thì việc niệm Phật chỉ là việc khơi dậy Phật tánh mà thôi. Cũng như cõi Cực Lạc Tây Phương có cách xa cõi Ta Bà bao nhiêu cũng chỉ trong một niệm của ta. Do vậy trang nghiêm tâm niệm cũng là trang nghiêm cõi Tịnh Độ.
Về sự: Nếu cõi Ta Bà ta sống đây là thật, là huyễn thì cõi Cực Lạc cũng không khác, và việc sinh về Cực Lạc lại không khác gì việc con người bị luân hồi trở lại cõi Ta Bà này. Cũng thế, trở lại cõi Ta Bà do tâm niệm, thì được sanh về Cực Lạc cũng do tâm niệm mà ra. Cho nên cõi Cực Lạc cách đây mười vạn ức Phật độ vẫn là một cõi thực có.
5) Niệm Phật với ngũ lực
Ngũ lực là năm năng lực hùng mạnh có thể tạo dựng nên thiện pháp và phá trừ ác pháp. Năm sức mạnh này phát sinh ra là do sự vun bồi của năm căn (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn), hay nói rõ hơn năm lực là sức mạnh của năm căn. Năm lực đó là: Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực và Tuệ lực.
Muốn thành tựu năm căn không thể thiếu năm lực. Trong kinh Ấm Trì Nhập (thuộc Đại Tạng Kinh) có nói về ngũ lực như sau: "...Có năng lực làm lợi lạc đạo ngày một thêm, ân đức gội nhuần đến khắp mọi loài chúng sanh ngày một rộng lớn. Lực nghĩa là dám làm như vào chỗ ma binh không hề hấn một mảy lông của Bồ Tát. Đạo lực hàng phục được ma vương, nên dám làm không sợ sệt...(44)"
Qua đó hiểu rằng ngũ lực là phương tiện hùng mạnh giúp ta thành tựu trên đường đạo. Với người niệm Phật, Ngũ lực là con thuyền vững chắc đạp sóng, lướt gió vượt tới bờ bên kia. Như thế phần nội dung, tính chất của ngũ lực chính là thần l
Saturday, 5. January 2008, 17:50:34
Có một vị liên hữu ở làng Bắc Đồn, ngoại ô của Đài Trung tên là Lại Lâm Trị, vì chồng của bà tên là Tuấn, cho nên mọi người đều gọi bà là thím Tuấn, năm nay bà sáu mươi bốn tuổi. Mỗi thứ tư và thứ bảy bà đều đến thư viện và Liên xã chùa Từ Quang nghe thuyết pháp; hai thời khóa tụng sáng, tối chỉ biết niệm Phật. Bà có một người con gái tên là Lan, năm mười tám tuổi đã lấy chồng và sanh được một đứa con trai tên là Đạt Tử. Mười ba năm trước lúc Đạt Tử vừa mới ba tuổi, một hôm đi chơi trước cổng, bỗng nhiên có một con heo nái chạy lại đụng ngã Đạt Tử, từ hôm đó trở đi bị sốt cao, lại hôn mê bất tỉnh, theo chẩn đoán của bác sĩ là viêm màng não. Trung y, Tây y, thuốc thang gì đều vô hiệu, hai mươi ngày sau thì chết! Vào khoảng 8 giờ tối là dứt thở, người trong nhà để Đạt Tử trên nền gạch trong phòng khách dùng một bao vải rách đắp lên, giấy khai tử mọi việc chuẩn bị xong, dự định sáng mai đem đi chôn.
Thím Tuấn nhìn thấy đứa cháu chết đi, vô cùng đau lòng, chiều tối đó đến thời khóa, bà vẫn cứ lên niệm Phật như thường, nhưng tình cảm đau thương khó mà ngăn chận. Bà vừa niệm Phật vừa khóc, hướng lên Phật Bồ Tát nói rằng: “Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát! Các Ngài sao không phò hộ cho con? Vùng này chỉ có mình con tin Phật, niệm Phật, vậy mà người ta còn cười con, đã nghèo mà còn bày đặt tin Phật, niệm Phật cái gì? Sau này nhất định họ càng cười con! Phật, Bồ Tát ơi! Các Ngài sao không phò hộ cho con?”. Thím Tuấn lại khóc to lên một hồi, rồi nặng nề lên giường đi ngủ, nhưng nhớ lại đứa cháu dễ thương bị chết đi, bà lăn qua lăn lại hoài mà không ngủ được. Vào khoảng 4 giờ hơn, bỗng nhiên thấy một đạo kim sắc quang minh (ánh sáng màu vàng) từ trong hư không xẹt thẳng vào trong nhà khách, ánh sáng rực rỡ không thể nghĩ bàn. Trong khoảnh khắc, bỗng nhiên nghe được tiếng của Đạt Tử hơn hai mươi ngày không biết khóc và tay chân cứng còng khóc ré lên! Thím Tuấn và con gái là A Lan, vội vã tới xem, thấy hai tay của Đạt Tử đã kéo cái bao vải ra, hai mẹ con vừa mừng vừa sợ, bế nó lên và rót cho nó một tí nước, thì nó cũng uống được, thật là không thể nghĩ bàn. Sáng sớm hôm sau, hai mẹ con lại bồng Đạt Tử đi Bắc Đồn cho bác sĩ khám, bác sĩ cũng thấy kỳ lạ, làm sao chết rồi mà sống lại? Bảo hai mẹ con nhanh chóng đưa lên bệnh viện tỉnh Đài Trung. Lúc đó thím Tuấn yêu cầu tôi phụ giúp bà đưa cháu đi bệnh viện nhập viện!
Đạt Tử liền được đưa đi bệnh viện ở Đài Trung vào Khoa Nhi. Nhưng khi thím Tuấn nhìn thấy mấy chục đứa nhỏ bị viêm màng não trong bệnh viện bị biến dạng kỳ quái: có đứa mắt lệch, có đứa miệng méo, có đứa tay chân không động đậy gì hết, trong lòng rất là buồn. Bà hỏi thăm thì đa số nhập viện từ sáu tháng đến hai năm, sức khỏe vẫn chưa bình phục, mà bác sĩ chẩn đoán cho Đạt Tử, tối thiểu phải nằm viện bốn tháng, còn khả năng hết bệnh hay không cũng không dám chắc! Thím Tuấn mới nói với tôi: “Về tình hình kinh tế nhà tôi làm sao có thể nằm viện lâu đến bốn tháng được?!”. Tôi liền khuyên bà rằng: “Thím Tuấn à! Thím thực là cả đời khôn ngoan, lại đi tính dại một lúc! Đạt Tử là nhờ phước ấm của thím mà được Phật, Bồ Tát phò hộ, mới chết mà được sống lại, tôi nghĩ cháu nhất định sẽ khỏi, chỉ cần chúng ta vừa cố hết sức trị liệu cho cháu, vừa thành khẩn cầu Phật, Bồ Tát cứu giúp, rồi mới phó mặc mạng cho trời!”. Thím Tuấn vẫn còn do dự chưa quyết định, rốt cuộc tôi lại khuyên bà: “Thôi tạm nằm hai tuần đi, khỏe hay không cũng xuất viện, nhưng thím cần ở lại bên cạnh Đạt Tử niệm Phật không được gián đoạn”. Thím Tuấn cuối cùng bị tôi thuyết phục, bèn làm thủ tục nằm viện điều trị!
Đạt Tử nằm viện trị liệu được tốt đẹp, sốt cao đã lui dần; tròng đen con ngươi vốn đã bị lật vào trong chỉ còn thấy tròng trắng nhìn không thấy người, cũng ngày một khôi phục như cũ; dần dần cũng đã nói chuyện lại được, xưng hô với người thân cũng từ từ rõ ràng lại. Khoảng một tuần thím Tuấn muốn về nhà, liền kêu A Lan lại thay thế cho bà chăm sóc Đạt Tử. Nhưng có điều kỳ lạ là thím Tuấn vừa ra khỏi cổng bệnh viện, thì bệnh của Đạt Tử lại nặng trở lại, trong miệng nổi lên hai cái lưỡi và trạng thái hôn mê cũng trở lại, còn chảy máu đầy cả miệng, bác sĩ liền dùng bông gòn nhét vào giữa hai hàm răng. Thím Tuấn vừa về đến trong nhà, con rể bà liền nói: “Má à! Má về làm gì? Nhanh chóng đi vào bệnh viện lại đi! Nhanh đi! Nhanh đi!”. Thím Tuấn trở lại bệnh viện, vừa thấy biến chứng của cháu như thế liền vội ngồi xuống bên mình cháu, chí thành niệm Phật. Kỳ tích lại phát sanh lần nữa, thật là vạn đức hồng danh linh nghiệm không gì bằng! Bà niệm được nửa giờ, Đạt Tử đã thở nhè nhẹ đi vào giấc ngủ, lúc thức dậy, chứng bệnh hai lưỡi đã hết, thật là Phật pháp vô biên. Thím Tuấn đi về chỉ có ba tiếng đồng hồ mà bệnh tình đã biến đổi xấu nghiêm trọng như thế. Khi trở lại, vừa qua niệm Phật thì bệnh càng lúc càng hồi phục bình thường. Đến ngày thứ mười ba, bác sĩ tuyên bố ngày mai có thể xuất viện. Mọi người đang vui mừng, nhưng vào lúc nửa đêm bệnh của Đạt Tử lại lần nữa biến đổi xấu nghiêm trọng, phát sốt rất cao, trong khoảnh khắc thím Tuấn vô cùng hốt hoảng, nhứt thời không có cách gì, bèn lấy mười đồng kêu A Lan đi ra chợ tìm thầy tướng số đưa ngày sinh tháng đẻ của Đạt Tử cho thầy đoán xem số mạng của nó có tới số chết chưa? A Lan đi xem số mạng về nói: “Trong số mạng của Đạt Tử mang chứng tê liệt, năm ba tuổi chắc chắn bị phát sởi mà chết!”. Lúc đó bác sĩ và y tá lại đến chẩn bệnh, lột hết quần áo của Đạt Tử ra xem, phía sau lưng phát hiện đầy những chấm đỏ nhỏ, liền lắc đầu nói: “Đáng tiếc! Đáng tiếc! Thằng bé này đột nhiên lại phát sởi, sau khi bị viêm màng não lại bị sởi rất dễ dẫn đến sưng phổi. Nếu như thế, thì thật không còn cách trị!”. Thím Tuấn và A Lan trước đã nghe đoán số mạng sẽ chết, nay bác sĩ cũng nói sẽ chết càng đau lòng vô cùng! Lúc đó lại hối hận là không nên vào viện, trong hai tuần đã tốn hết mấy ngàn đồng. Lúc đó tôi cũng ở kế bên, liền nói với họ rằng: “Có lẽ Đức Phật A Di Đà và Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi thương xót cho bà là người đệ tử trung thật, mới đặc biệt gia bị, khiến Đạt Tử trước khi xuất viện tái phát sởi, ở trong bệnh viện y dược dễ dàng thuận tiện, chớ nếu sau khi xuất viện về nhà rồi mà tái phát sởi thì càng nguy hiểm hơn! Không tin, ở lại thêm một tuần lễ nữa liền có thể bình an xuất viện. Bây giờ bà phải khẩn thiết hơn nữa ở bên cạnh nó niệm Phật, không được gián đoạn, không nên nản lòng!”. Lúc đó tôi cũng chỉ an ủi họ như thế thôi, thật ra tôi còn sốt ruột hơn họ nữa!
Một tuần lễ trôi qua, trải qua sự trị liệu rất thuận lợi, quả nhiên Đạt Tử đã vượt qua cửa ải tử vong một cách an nhiên, có thể xuất viện được rồi. Nhưng theo nguyên tắc của bệnh viện, người bệnh muốn xuất viện, nhất định phải qua bác sĩ tái khám một lần. Khi bác sĩ khám lại cho Đạt Tử, miệng nói luôn không ngớt: “Kỳ lạ! Kỳ lạ! Làm sao mà bệnh trạng nghiêm trọng quá sức như thế, lại mau khỏi như vậy?”. Liền hỏi thím Tuấn: “Trong miệng bà không ngớt niệm những gì vậy?”. Thím Tuấn nói: “Niệm A Di Đà Phật”. Bác sĩ nghe xong nói: “Mẹ tôi cũng là người ăn chay trường hai, ba chục năm nay rồi, vì sao không biết niệm A Di Đà Phật?”. Đáng tiếc thím Tuấn không biết trả lời, lỡ mất một cơ hội! Lại nói về Đạt Tử, từ khi xuất viện về nhà, sức khỏe cùng với những đứa trẻ bình thường khác mạnh khỏe như nhau, nhưng hay hỏi bà ngoại: “Con còn nhỏ như thế này tại sao biết tự mình ăn cơm, lại biết nói chuyện, biết đi?”. (có lẽ bị ảnh hưởng viêm não nên hơi bị thần kinh - dịch giả). Thím Tuấn liền đổi tên nó lại là “A Châu”
Thời gian qua như tên, mới chớp mắt, A Châu năm nay đã mười bảy tuổi, anh ta thường ngày làm việc rất siêng năng, lại hiếu thuận với người lớn, là một thanh niên tốt có lễ giáo nhân nghĩa.
Cuối cùng chúng ta hãy nghiên cứu một chút, một câu Thánh hiệu này thế mà hơn khoa học. Hãy xem các bác sĩ đã nghiên cứu khoa học mấy chục năm họ chẩn đoán: nếu như thằng nhỏ nằm viện ít nhất phải bốn tháng, còn khả năng khỏi hay không còn không dám chắc! Và một vị khác có khả năng bói bát tự, khéo đoán về âm dương, đoán là chỉ sống có ba tuổi bị ban sởi mà chết, rốt cuộc bị câu Thánh hiệu A Di Đà Phật mà tiêu tai giải nạn, gặp dữ hóa lành. Nhưng có lẽ có người sẽ hoài nghi: “Niệm Phật thì không chết ư?”. Đương nhiên tôi không dám nói quả quyết như thế, do vì đời người có sanh ắt có tử. Nhưng trong kinh có nói rằng: “Chí tâm niệm một câu A Di Đà Phật có thể tiêu diệt tội nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp”. Chỉ cần xem người niệm Phật có phải là “chí tâm” niệm hay không? Nếu như không chí tâm, niệm Phật không có cảm ứng, không tự trách mình, lại đi trách ai đây?
Friday, 4. January 2008, 18:05:43
Tôi xin kể cho quý bạn nghe câu chuyện luân hồi của đứa con gái lớn tôi. Nó đã trải qua ba kiếp trong một đời. Nghe qua quý bạn sẽ không tin, cho đây là chuyện hoang đường không có thật. Xin thưa quý bạn câu chuyện kể sau đây hoàn toàn là một trăm phần trăm chân thật. Tôi không vì bịa đặt mà đem danh dự bản thân và con gái tôi ra cho quý bạn cười. Hơn nữa, nếu tôi nói xạo, người mang tội sẽ là tôi. Thử hỏi, kể một câu chuyện hoàn toàn không có lợi, chỉ có hại cho bản thân, có ai chịu làm chuyện dư thừa này không? Chắc chắn là không!
Câu chuyện này nó quá chân thật, ngay đến bản thân của tôi cũng không dám tin, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Tôi đã dấu con gái tôi gần 20 năm. Mới đây vì muốn viết cuốn sách này, tôi đã kể cho con gái tôi nghe. Nó bị chới với, không thể chấp nhận đó là sự thật. Khi nghe tôi đem câu chuyện này kể ra ngoài, nó hoàn toàn phản đối. Sau khi khuyên giải thiệt hơn, cuối cùng con tôi đã bằng lòng nhưng nó có một yêu cầu xin được dấu tên.
Mục đích của câu chuyện luân hồi này là để chúng ta tin: Lời Phật dạy là vạn lần chân thật, không phải là chuyện dị đoan. Chẳng qua chúng ta tự lừa dối bản thân, không dám nhìn vào sự thật, cũng như chúng ta chỉ thích nghe những lời suông tai nịnh bợ giả dối. Hễ ai nói lời thật, thì làm chúng ta nổi sân rồi chửi mắng người ta ngay. Trên thế gian này, có được bao nhiêu người chấp nhận được lời thật? Vì lời thật nghe chói tai đau lòng, nhưng đây mới là lời vàng bạc. Còn lời giả dối, nghe suông tai thích thú, nhưng là lời độc hại ngấm ngầm. Cũng như chúng ta, cho giả là chơn, cho chơn là giả nên người đời mới có cái tên gọi là thế gian.
Làm người đã khổ lắm rồi. Suốt ngày chúng ta còn sống đau khổ, vui buồn vì lời lẽ của kẻ khác, như vậy có khác gì mình đã đánh mất bản thân và là kẻ thù lớn nhất của chính mình. Điều này thử hỏi có đáng thương không? Chuyện mình xấu hay tốt, lương tâm mình tự hiểu rõ, cần gì đến người khác nói mình mới biết. Kẻ có trí tuệ rất sợ lời giả dối; kẻ ngu si chỉ thích nghe lời giả dối hại người.
Xin lỗi quý bạn, tôi hơi dài lòng, giờ tôi xin trở lại câu chuyện. Ở đây, tôi xin kể cho quý bạn nghe rõ từng câu chuyện một để quý bạn dễ hiểu .
1. Người bị chết
2. Người chết thành rắn
3. Rắn chết thành ngưòi
Người Bị Chết
Lúc tôi khoảng mười tuổi, mẹ tôi mang thai, bầu thai này nằm ngoài tử cung. Vì vậy, từ khi cấn thai, mẹ tôi hay bị đau bụng. Mẹ tôi đi đủ mọi nơi, đủ bác sĩ khác nhau, ai cũng nói là mẹ tôi không có mang thai. Tất cả bác sĩ đều nói: “Mẹ tôi có cục máu bầm ở ngoài tử cung, cần phải chích thuốc trục ra ngay nếu không sẽ bị hại đến tánh mạng”. Mẹ tôi không chịu, nên cự hết bác sĩ này tới bác sĩ kia, Mẹ tôi nói: “Các ông nói bậy, nó là con của tôi, không phải là cục máu bầm”. Sau đó, mẹ tôi không thèm đi tìm bác sĩ nữa, vì mỗi lần đi là mỗi lần thêm giận.
Từ đó, mẹ tôi ở nhà chờ đợi cho bầu thai phát triển. Rồi ngày qua ngày, mẹ tôi càng đau thêm, máu càng lúc càng ra nhiều, cái bụng càng ngày càng lớn. Mẹ tôi đau khổ tận cùng. Chịu đựng đến hơn bốn tháng, nỗi đau làm mẹ tôi càng lúc càng hao gầy, ăn ngủ không yên, xỉu lên xỉu xuống.
Cuối cùng, mẹ tôi bị bất tỉnh. Ba tôi đưa mẹ tôi vào nhà thương để cấp cứu. Bác sĩ nói phải chích thuốc trục cục máu bầm này ra, nếu không mẹ tôi sẽ bị chết. Cuối cùng, ba tôi bằng lòng. Sau khi bác sĩ chích thuốc dục và làm cho mẹ tôi tỉnh lại. Bác sĩ kêu ba tôi đưa mẹ tôi về nhà nghỉ ngơi và dặn dò ba tôi là: sau vài tiếng đồng hồ, mẹ tôi sẽ trục ra cục máu bầm, rồi đem đi bỏ và lo tẩm bổ lại cho mẹ tôi là mọi chuyện sẽ không sao.
Ba tôi sau khi nghe lời dặn dò của bác sĩ thì yên tâm chở mẹ tôi về. Về nhà, mẹ tôi nằm băng và trục ra cục máu bầm. Lúc đó, ba tôi tưởng là cục máu bầm nên sai chị tôi đem bỏ vào thùng rác. Khiến xui, chị tôi không bỏ vào thùng rác lại đem bỏ lên nóc cầu tiêu sau nhà. Lúc đó trong nhà tôi, chỉ có ba mẹ tôi và chị Hai, còn tất cả anh chị em của tôi đều đi học chưa về.
Sau khi ba và chị Hai lo cho mẹ tôi xong, ba tôi yên lòng, tính đi coi công chuyện làm ăn. Đi khoảng nữa đường, trong lòng ba tôi nóng nảy ray rứt khó chịu như có điều chi không ổn, ba tôi suy nghĩ không biết là chuyện gì? Tự nhiên ba tôi sực nhớ lời mẹ tôi nói: “Nó không phải là cục máu bầm mà nó là con của tôi, mấy người đừng giết nó!” Ba tôi hốt hoảng, chạy trở về nhà, vừa chạy ba tôi vừa suy nghĩ: “Nếu bịch máu bầm đó là con của mình thì ba tôi sẽ ân hận”. Điều làm cho ba tôi sợ phát điên lên, là khi nghĩ đến lỡ con chó hoặc con mèo ở trong nhà, tụi nó bươi thùng rác rồi ăn luôn đứa bé đó thì ba tôi sẽ hối hận suốt đời.
Về tới nhà, ba tôi đã réo từ ngoài cửa réo vào. Ba tôi gọi: “Con Hụê đâu? Mày bỏ cái bịch đó ở đâu?” Chị Hai tôi hốt hoảng chạy ra, ba tôi vừa hỏi vừa níu kéo chị tôi. Chị tôi bẩm tánh hiền và khờ, thấy ba tôi hốt hoảng hạch hỏi, chị ú ớ không nhớ là đã bỏ bịch máu đó ở đâu? Ba tôi chạy ra sau nhà, lục mấy thùng rác đều không thấy. Càng tìm, ba tôi càng chết điếng cả người.
Cuối cùng, chị Hai tôi nhớ ra, chị nói chị bỏ lên nóc cầu tiêu. Ba tôi mừng quá chạy lên coi thì may thay vẫn còn. Chỉ có điều là hơi bị khô ngoài mặt vì trời nóng, lại bỏ trên mái tôn. Khi ba tôi đem cục máu này xuống, thì ba tôi biết ngay là bên trong có đứa bé. Ba tôi đem vào, lập bàn thờ ở giữa nhà.
Trong thời gian mẹ tôi xảy ra chuyện, cũng là thời gian tôi bị nóng lạnh, nôn mửa, khó chịu. Tôi xin cô giáo cho tôi về nhà. Cô giáo cho hai người bạn đưa tôi về. Về đến nhà tự nhiên tôi khỏe hẳn như không có chuyện gì xảy ra. Sau khi chia tay và cám ơn hai người bạn, tôi vội chạy vào nhà. Vừa chạy đến cửa, tôi hốt hoảng khi thấy giữa nhà có bàn thờ nhang đèn; ba và chị tôi đang khóc, nhìn quanh không thấy mẹ tôi. Tôi tưởng mẹ tôi đã chết. Tôi chạy xông vào phòng mẹ tôi. Vừa vào tới giường, tôi thấy mẹ tôi nằm im, dưới gầm giường thì có nhiều lửa than, còn trên thì có cả chục cái mền đắp trên người của mẹ tôi. Tôi chạy lại, tay sờ trán, tay dò hơi thở. Thấy mẹ tôi còn sống, tôi mừng tới rơi nước mắt.
Tôi vội chạy ra ngoài để xem tại sao ba và chị tôi khóc, không lẽ mẹ tôi không sống được bao lâu? Nghĩ đến đây tôi lo sợ. Tôi chạy lại hỏi chị tôi: “Tại sao chị lại khóc?” Chị tôi không trả lời. Tôi hỏi ba, ba tôi cũng không trả lời, hai người chỉ khóc, vừa khóc vừa làm công chuyện.
Tôi tìm hiểu và thắc mắc, tại sao ba tôi lại cúng cục thịt bầm kỳ cục này? Phải nói là bọc thịt thì đúng hơn, vì nó hình bầu dục, bề dài khoảng một gang rưỡi tay của người lớn, bề ngang bằng bàn tay xòe ra. Tôi tò mò muốn biết nên chạy lại hỏi chị tôi: “Chị Hai, tại sao ba cúng cục thịt bầm kỳ cục này làm gì vậy? Tại sao ba và chị lại khóc?” Chị tôi giận, quay qua kêu tôi câm miệng, chị tôi nói: “Cái gì mà cục thịt, nó là em của mình đó”. Tôi nghe xong, chới với hết hồn. Tôi tưởng tôi nghe lộn, nên hỏi lại: “Chị nói cái gì? Cái đó là em của mình hả?” Chị tôi nói ừ. Tôi bật khóc vì tôi không thể nào tưởng tượng được bọc máu bầm đó là em của tôi.
Cây nhang bắt đầu tàn rụi. Ba tôi kêu chị Hai và tôi tới, để ba tôi xé bọc máu bầm đó ra, để coi mặt em của tôi. Trong giây phút này, chúng tôi rất hồi hộp và xúc động. Ba tôi run run khi xé bọc máu này ra. Vừa xé ra, cả nhà tôi khóc òa lên. Thì ra là một em bé gái bị chết bầm tím, nó đã có đủ hình hài. Tay chân thon dài, hai tay ôm cái nhau, nối dài từ háng lên tới miệng như một đứa bé đang cầm bình sữa bú. Đứa bé nằm ngửa thẳng, mắt nhắm, nhìn từng nét, ngón tay, ngón chân đều thon dài nhỏ xíu. Trước cảnh tượng đau lòng này, thật suốt đời tôi không quên.
Ba tôi vừa khóc vừa nói: “Ba xin lỗi con, ba không biết bọc máu này là con, xém một chút là ba đã làm chuyện tội lỗi mà chính ba cũng không thể tha thứ cho ba. Bây giờ, ba đặt tên cho con là Đồng Thị Đỏ vì con chết trong lúc còn đỏ hỏn”. Cũng trong thời gian này, tất cả anh chị em của tôi cũng đều đi học về, ai nấy cũng đều thương khóc. Còn mẹ tôi vẫn còn bất tỉnh mê man không hay biết gì. Nếu mẹ tôi thấy cảnh này, chắc mẹ tôi sẽ không sống nổi.
Ba tôi dặn dò tất cả chị em chúng tôi là, không được đem câu chuyện ngày hôm nay nói ra ngoài, vì sợ hàng xóm nói xàm rồi đồn bậy. Ba tôi nói: “Nếu như trong nhà có ai đem chuyện này nói ra ngoài, ba tôi sẽ giết chết không tha”. Chúng tôi xưa nay rất sợ ba tôi, sợ tới mức độ: ba tôi ở đâu, chị em chúng tôi không dám đến gần, nên từ nhỏ chúng tôi đã có khoảng cách với ba tôi. Lời ba tôi dặn hôm nay, dĩ nhiên dù có chết chúng tôi cũng không dám nói ra.
Dặn dò xong, ba tôi lấy ván đóng một cái hòm nhỏ, sơn màu đỏ rồi bỏ em tôi vào. Chờ tới nửa đêm, ba tôi và tất cả gia đình đưa đám em tôi qua một miếng đất hoang ở trước cửa nhà để chôn. Nhà tôi tuy ở cạnh bãi biển, nhưng trước khi xuống biển, phải đi qua một bãi đất hoang có diện tích cũng hơi lớn. Miếng đất này không có chủ đã bỏ hoang nhiều năm.
Ba tôi muốn chôn em tôi gần nhà, nhưng lại sợ người ta biết ngôi mộ đứa bé đó là của gia đình tôi. Vì vậy, gia đình tôi đợi đến nửa đêm, mới len lén đem em tôi đi chôn. Đêm đó là một đêm buồn tĩnh mịch, hoang vu, lạnh buốt. Ba tôi đi đầu, ôm một chiếc hòm nhỏ. Chúng tôi theo sau, anh tôi cầm cuốc. Đưa đám em tôi mà giống như cả nhà tôi đang đi ăn trộm. Ba tôi không cho cầm đèn, chỉ dùng một cái đèn pin soi đường.
Đêm đó ánh trăng tờ mờ, lẫn lộn với tiếng sóng vỗ rì rào của biển, tiếng côn trùng kêu inh ỏi thảm thương, như khóc thương cho một vong hồn bạc mệnh. Em tôi thật là tội nghiệp, tới đưa đám chôn cất cũng không được nghi lễ bình thường. Em tôi chắc sẽ đau lòng và hận khi thấy chúng tôi hành động như vậy. Tôi thật là đau lòng, không hiểu tại sao ba tôi lại sợ hàng xóm biết?
Từ đó, gia đình tôi không còn ai dám tới gần ngôi mộ đó. Mộ em tôi không có nhang, thậm chí cỏ mọc đầy, không người dọn dẹp. Chị em chúng tôi, hầu như mỗi ngày đều chạy xuống bãi biển chơi. Đi ngang qua mộ em tôi mà chúng tôi không dám đến gần, vì sợ đến gần thì người ta sẽ biết, mà nếu để người ta biết thì sẽ bị ba tôi đánh chết.
Rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi qua, không ai biết ngôi mộ đó là của gia đình tôi. Một hôm, có một bà lão dọn tới xóm nhà tôi. Bà ta nghèo nên đã qua khai hoang một khoảng đất trống để trồng khoai lang, khoai mì. Khi làm cỏ, bà ta phát hiện ra một ngôi mộ nhỏ. Bà ta dọn dẹp sạch sẽ, rồi thắp nhang cho em tôi. Bà ta vái kêu nó phù hộ cho bà, đừng cho mấy đứa nhỏ phá khoai lang, khoai mì của bà.
Dọn dẹp xong bà trở về nhà. Đến đêm, bà nằm mơ thấy có một chiếc hòm nhỏ từ xa bay lại, rồi đứng ngay trước mặt của bà. Tiếng nói con nít trong hòm vọng ra: “Con cám ơn bà đã dọn dẹp cho con, bây giờ con mát mẻ và thoải mái lắm”. Sau đó, chiếc hòm xoay đầu lại rồi từ từ bỏ đi mất dạng.
Ngày hôm sau, bà lão đem chuyện này đồn ra khắp xóm, bà ta muốn tìm hiểu ngôi mộ đứa bé đó là của nhà ai? Tiếng đồn càng lúc càng xa. Bà con đổ xô tới coi mộ em tôi. Cũng từ đó, mộ em tôi lúc nào cũng được sạch sẽ. Nói là ngôi mộ, thật ra không giống ngôi mộ vì không có xây gì hết. Chỉ có một đống đất cao lên, mặc cho mưa gió thời gian phủ lấp thật là đáng thương. Sau khi mất con, mẹ tôi mỗi ngày đều cúng cơm cho em tôi, cuộc sống của mẹ tôi lúc nào cũng đầy nước mắt.
Người Chết Thành Rắn
Bà lão cực khổ đã mấy tháng, tới lúc khoai mì, khoai lang có củ. Trong xóm tôi, có thằng Du Ca, con của cô Hồng xóm trên, nó có tiếng là phá làng xóm. Biết khoai lang, khoai mì của bà lão có củ, nó dẫn một đám phá phách trong xóm, cùng đi theo để đào khoai của bà. Mỗi lần chúng đến phá, đều có một con rắn đốm trắng đen rượt chúng nó chạy. Lâu ngày, chúng đâm ra thù ghét con rắn, chúng rủ nhau đi giết rắn. Tiếng đồn truyền đi khắp xóm. Bà lão trong lòng nghĩ đứa bé trong mộ phù hộ cho bà, nhưng bà không nói cho ai nghe.
Một hôm, đám thằng Du Ca, chúng bày mưu mang theo vũ khí để giết con rắn. Chúng cũng làm bộ đến đào khoai để dụ con rắn ra ngoài. Cũng như mọi lần, con rắn bò ra rượt chúng. Nhưng kỳ này, đám Du Ca có đông ngườni và vũ khí trong tay, nên chúng bao vây đánh đập con rắn. Rắn sợ bỏ chạy, chúng rượt theo. Khi con rắn chạy đến mộ em tôi thì biến mất. Tụi nó nghĩ là chuyện ngẫu nhiên, nhưng lần nào con rắn cũng bị rượt tới mộ thì biến mất. Từ đó, chúng đi đồn khắp xóm: Nói đứa bé là con rắn.
Ba mẹ tôi nghe tới tai, dĩ nhiên là gia đình tôi không ai tin. Ba tôi sợ chị em tôi đi gây chuyện, thì hàng xóm sẽ biết ngôi mộ em bé đó là của gia đình tôi. Tôi nghe xong trong lòng tức giận, nên đi kiếm thằng Du Ca hỏi cho ra chuyện
Tôi gặp nó ở đầu ngõ. Tôi hỏi: “Tại sao mày hay đi phá làng phá xóm quá vậy? Mộ người ta đâu mắc mớ gì tới mày, mà mày đồn cái mộ đó là con rắn?” Thằng Du Ca nó ngạc nhiên, vì xưa nay tôi chưa bao giờ gây đến hắn. Nó nói: “Tao không có nói bậy, đó là sự thật, mày không tin thì đi hỏi mấy đứa trong xóm này đi?”
Tôi giận quá nên nói: “Mày cầm đầu tụi nó, mày nói cái gì mà tụi nó không theo, tao không cần biết thật hay là giả, mà tao muốn mày câm cái miệng của mày lại. Nếu không, tao kêu anh tao đánh mày cho xem”. Thằng Du Ca tức nhưng lại không dám đánh tôi, vì anh tôi cũng là dân phá trong xóm nên nó sợ. Nói xong tôi đi về, trong lòng cảm thấy đã tức phần nào.
Tôi tưởng hăm nó là nó sợ. Ai ngờ nó không sợ, vẫn cứ kéo một đám bao chung quanh mộ em của tôi để canh con rắn bò ra. Tôi nhịn không được nữa, nên kêu anh tôi đánh nó, anh tôi không chịu. Tôi đi kiếm hắn, rốt cuộc tôi và nó đánh lộn tơi bời. Vừa đánh, nó vừa nói: “Cái mộ đó là cái gì của mày, tại sao mỗi lần tao nói động tới cái mộ, là mày chửi tao? Bây giờ mày còn đi đánh tao, bộ nó là em mày sao mà mày hung dữ quá vậy?”
Lúc đó, tôi bị đánh đau, phần giận ghét ba tôi lâu ngày, nên tôi vừa khóc, vừa hét, tôi nói: “Đúng! Nó là em của tao, không ai được đụng tới nó, nếu không, tao sẽ không tha cho đâu”. Nghe tôi hét xong, nó hết hồn ngưng lại. Tôi nhìn quanh, thấy cả đám đang đứng nhìn tôi, ai nấy cũng đều ngạc nhiên, thì ra cái mộ em bé đó là của gia đình tôi.
Tiếng đồn thật dễ sợ, mới đó, ba tôi đã sai người kêu tôi về. Trên đường về nhà, tôi run sợ, sợ ba tôi giết tôi chết. Lo sợ một hồi, tôi tự nói: “Bất quá thì chết có sao đâu, mình không có sai!” Thế là tôi đi vào nhà, ba tôi giận như muốn giết chết tôi. Ba tôi vừa đánh vừa la. Tôi giận quá nên hét, tôi nói: “Tại sao ba sợ người ta biết? Mà ba không sợ em bé nó ghét ba và con cũng ghét ba?”
Ba tôi khựng lại, tiếng hét của tôi đã làm cho ba tôi thức tỉnh. Ba tôi ngồi bệt xuống ghế, rồi kêu tôi đi ra ngoài. Mẹ tôi mừng, đem tôi vào nhà trong xoa đầu. Xưa nay ba tôi đánh ai, mẹ tôi không dám đến gần, chỉ biết đứng một bên để khóc. Nếu mẹ tôi can hay là lên tiếng, thì mẹ tôi cũng bị ba tôi đánh. Chuyện nhà chưa xong, hàng xóm ùn ùn đến hỏi thăm đủ chuyện. Cuối cùng, ba mẹ tôi thú thật. Từ đó, đám Du Ca không dám đến phá mộ em tôi nữa. Tiếng đồn gia đình tôi có đứa con rắn không bao lâu đã đồn khắp xóm.
Sau khi mọi chuyện êm xuôi, tôi tìm thằng Du Ca hỏi rõ từng giai đoạn một. Tánh tôi hay thích tìm hiểu nên khi tôi nghi vấn điều gì, tôi phải tìm cho ra sự thật. Nó nói những lời nó vừa kể là sự thật. Tôi cũng không tin em tôi là rắn.
Một hôm, tôi và chị sinh đôi với tôi đi xuống biển bắt ốc chơi. Trên đường về, chúng tôi đi ngang qua mộ. Tôi nói chị tôi: “Mình ghé qua thăm mộ em mình nghe”. Vừa đi, tôi vừa kể chuyện thằng Du Ca nói về em của tôi cho chị tôi nghe. Tới mộ, tôi và chị tôi tìm chung quanh mộ, coi thử có hang rắn nào không? nếu như có hang rắn thì em tôi đâu phải là rắn, mà tại vì con rắn nó làm hang ở trên mộ em tôi.
Tôi cứ tự phân bua như vậy mãi, nhưng tìm hoài cũng không thấy một lỗ hang nào cả. Tôi và chị tôi bỏ ra về. Vừa đi được vài chục bước, tôi thấy cây keo trước mặt có nhiều trái chín. Tôi reo lên: “Tuyết ơi! Cây keo bửa nay có nhiều trái chín quá”: Thế là hai chị em tôi bỏ bao ốc xuống, chạy tới đành nhau hái keo.
Đột nhiên, chân trái của tôi có con gì bò quanh quấn chân tôi lại. Tôi biết là bị rắn quấn, nhưng vì quá sợ hãi nên không dám nghĩ là thật mà nghĩ chị tôi muốn hù tôi. Chị tôi cũng bị giống như tôi, nhưng chị bị quấn chân phải. Tôi quay qua la chị: “Mày đừng chơi tao nghe” (từ nhỏ tôi không chịu gọi chị sinh đôi của tôi bằng chị). Chị tôi cũng la ngược lại tôi, chị nói: “Mày đừng chơi tao nghe”.
Thế là, hai chị em tôi biết rõ đã bị rắn quấn. Hai chị em tôi nhìn xuống thấy con rắn dài dốm trắng đen, nó quấn chặt hai chân của hai chị em tôi lại với nhau. Chúng tôi chết điếng nên hét thất thanh không ngừng, khiến hàng xóm chạy tới. Họ hỏi, chuyện gì vậy? Chúng tôi vừa khóc vừa hét: “Rắn! Rắn!” Họ nhìn xuống rồi nói: đâu có con rắn nào đâu. Khi tôi nhìn xuống không thấy rắn, mà thấy mắt cá chân của tôi có đầy bọt xanh nọc độc của rắn. Tôi sợ quá vừa nhảy vừa la.
Lúc đó, có một chú hàng xóm, nghĩ là tôi đã bị rắn cắn nên xé vội tay áo cột chặt vào đùi của tôi, rồi cõng tôi đi tìm bác sĩ. Ba mẹ tôi sau đó hay tin cũng chạy đến. Khi chú đó cõng tôi đến, từ ngoài bà con la um sùm: “Bác sĩ ơi! Cứu người! Có người bị rắn cắn”: Bác sĩ vội chạy ra lấy khăn lau hết chất bọt xanh trên chân của tôi. Lau xong, bác sĩ tìm hoài không thấy có dấu cắn. Ai nấy cũng đều ngạc nhiên, họ nói tôi chưa tới số chết. Họ hỏi tôi con rắn đó màu gì? Tôi nói thật, là con rắn đốm trắng đen.
Sau chuyện này, cả xóm họ đồn em tôi là con rắn đó là sự thật, không còn là chuyện đồn bậy nửa, gia đình tôi bắt đầu mới tin. Thì ra, con rắn đó nó quấn chân hai chị em tôi lại với nhau là để mừng rỡ chớ không có ý hại.
Một hôm có một bà bác, mẹ của bác Tâm bên cạnh nhà, từ Sài Gòn vào thăm con. Bà bác đó ở chơi được mấy ngày thì nghe gia đình kể về chuyện đứa con rắn của gia đình tôi. Bà bác đó qua tìm mẹ tôi để nói chuyện. Sau khi nghe mẹ tôi thuật lại câu chuyện, bà bác đó trách ba mẹ tôi làm không đúng.
Bà bác nói: “Đứa bé là một thai nhi. Khi nó mất, chỉ cần chôn cất đàng hoàng chớ không được than khóc, hay cúng cơm kêu gọi tên nó mỗi ngày. Như vậy làm sao nó được siêu thoát?” Bà nói tiếp: “Không được lập bàn thờ cho nó” (vì từ ngày em tôi mất, mẹ tôi lập bàn thờ, cúng cơm và kêu tên nó mỗi ngày) Bà bác đó yêu cầu mẹ tôi dẹp bàn thờ, không cúng cơm hoặc làm giỗ, không thương khóc, không kêu tên nó về nhà ăn cơm. Phải quên nó, chỉ khuyên nó đi đầu thai. Nếu mẹ tôi không làm theo lời bà nói, thì em tôi sẽ thành tinh về nhà bắt từng đứa đi.
Sau khi nghe bà bác khuyên, mẹ tôi sợ, dẹp bõ bàn thờ, không cúng cơm, không làm gì hết. Sau đó, mẹ tôi khuyên cả nhà không được thương nhớ mà phải quên. Rồi thời gian trôi qua, chiến tranh kéo đến, năm 1975, gia đình tôi di tản vào Sài Gòn. Từ đó, trong nhà tôi không còn ai nhắc đến em tôi nữa.
Rắn Thành Người
Năm năm sau, tôi lấy chồng vượt biên qua Mỹ. Vừa tới Mỹ tháng trước, tháng sau tôi cấn thai. Trước mấy tuần có thai, tôi nằm mơ, mỗi đêm cùng một câu chuyện và câu chuyện này làm tôi sợ hãi, không có giấc ngủ yên, vì mỗi khi tôi nhắm mắt thì giấc mơ đó lại hiện ra. Giấc mơ kỳ lạ, tuy nói là giấc mơ nhưng y như thật.
Một hôm tôi nằm mơ, trong giấc mơ, có một đứa bé gái chạy gọi tôi bằng mẹ, đứa bé này khoảng một tuổi. Trong giấc mơ, tôi biết rõ là tôi chưa có thai thì làm sao có con. Tôi nói với đứa bé đó: “Mày không phải là con của tao, tao chưa có bầu thì làm sao có con”. (Bình thường, tôi thấy con nít tôi thương, nhưng không hiểu sao gặp đứa bé này, tôi có cảm giác sợ nên tôi làm dữ để đuổi nó đi). Tôi càng đuổi, nó càng chạy theo, nó cứ níu áo tôi gọi tôi bằng mẹ, nó cứ nói: “Mẹ ơi đừng bỏ con”.
Tôi sợ quá, hất nó qua một bên rồi cắm đầu cắm cổ bỏ chạy. Chạy về tới nhà tưởng đã được thoát nợ, ai ngờ nó đứng ngay trước mặt. Tôi sợ quá bỏ chạy ra ngoài, tôi chạy tứ tung, nhưng dù tôi chạy đi đâu cũng bị nó chặn ngay trước mặt. Tôi hốt hoảng la um sùm.
Chồng tôi đánh thức tôi dậy, hỏi: “Thấy cái gì mà em la dữ vậy?” Tôi thức dậy, mồ hôi ướt đẫm, tôi nói: “Có một con bé, nó chạy theo em, giống như là đòi nợ, nó cứ gọi em là mẹ, em đuổi nó đi, nó không chịu đi mà còn níu áo gọi em bằng mẹ,nó nói là đừng bỏ nó”. Chồng tôi nói: “Nằm mơ thôi không có thật, đừng lo quá, thôi ngủ đi”. Tôi nói: “Không phải nằm mơ, vì nó như thật”. Chồng tôi lúc đó, nghĩ là tôi nói xàm. Tôi cũng mong là giấc mơ không có thật. Cả đêm tôi không dám ngủ vì sợ lại gặp nó.
Liên tục mấy đêm, tôi đều nằm mơ một cốt chuyện, chỉ khác hoàn cảnh mà thôi. Có một đêm, tôi nằm mơ trong tâm thức của tôi rất giận đứa bé này, nó đã làm cho tôi khổ sở. Tôi giận quá nên hù đòi đánh nó chết nếu nó cứ chạy theo.
Nó không sợ còn níu tay tôi, nó nói: “Mẹ ơi! Đừng bỏ con, bộ mẹ quên con rồi sao? Con là Đồng Thị Đỏ đây!” Lúc đó, tôi không nghĩ ra Đồng Thị Đỏ là ai. Sau đó, tôi nhớ ra thì chính là đứa em bị chết của tôi, rồi tôi nhớ lời bà bác năm xưa nói: “Nó thành tinh, về bắt từng người”. Vả lại, nó đã thành rắn rồi, tại sao bây giờ lại thành người tới gọi tôi bằng mẹ? Tôi hốt hoảng hất nó té xuống, rồi tôi vừa chạy vừa la, tôi nói: “Ma quỷ! Ma quỷ!”
Chồng tôi đánh thức tôi dậy, kỳ này mồ hôi ướt đẫm cả người. Tôi vừa sợ vừa khóc, tôi cứ lẩm bẩm: “Ma quỷ! Ma quỷ!” Chồng tôi hết hồn, không biết chuyện gì mà mỗi ngày càng thêm hốt hoảng, chồng tôi hỏi: “Chuyện gì? Chuyện gì? Tôi nói: “Nó là ma quỷ đến đây đòi nợ”. Chồng tôi hỏi: “Ai? Ai tới đây đòi nợ?” Tôi nói: “Là cái con bé mà mỗi đêm em gặp đó”. Tôi nói tiếp: “Anh còn nhớ hồi em mới quen anh ở Việt Nam, em có kể cho anh nghe về đứa em bị chết của em, nó tên là Đồng Thị Đỏ không?” Ảnh nói nhớ, rồi hỏi: “Có gì không?” Tôi nói: “Bây giờ, đứa bé mà mỗi đêm em thấy, nó nói nó là Đồng Thị Đỏ”. Chồng tôi nói: “Chắc em tưởng tượng thôi, làm gì có chuyện đó”. Tôi nói: “Không có tưởng tượng vì chuyện đã qua lâu rồi, nhớ còn không nhớ được thì làm gì có chuyện tưởng tượng. Mà dù có tưởng tượng thì chỉ mơ có một lần, đâu có lý nào hễ nhắm mắt là gặp nó”:
Sau ngày đó, tôi rất sợ ngủ, nhưng rồi đôi lúc mệt quá cũng phải ngủ. Tinh thần tôi bị khủng hoảng. Anh Chị Hai ở trong nhà cũng nghĩ là tôi tưởng tượng (lúc đó tôi đang làm công, ở đợ cho gia đình anh chị Hai)
Rồi ngày qua ngày, một hôm, tôi không còn nằm mơ thấy nó nữa. Tôi hết hồn sờ bụng của tôi, tôi nói: “Vậy là nó đã vào trong bụng tôi rồi”. Tôi dùng tay đánh bụng tôi. Tôi nói: “Con nhỏ kia, đi ra khỏi bụng tao”. Tôi gọi chồng tôi và nói: “Nó chui vào bụng em rồi”.
Chồng tôi tưởng tôi bị khùng. Tôi nói: “Chở em đi khám bác sĩ đi, em đã có thai rồi”. Chồng tôi không chịu, cho là tôi nói bậy. Tới kỳ tôi không có, chồng tôi chở tôi đi bác sĩ. Bác sĩ nói tôi đã có thai. Tôi nói với bác sĩ là tôi không muốn đứa bé này. Bác sĩ ngạc nhiên, chồng tôi nói không có gì đâu, vợ tôi đang bị khủng hoảng.
Sau đó, tôi nghĩ chắc có lẽ tôi mắc nợ nó kiếp trước, nên kiếp này nó đến đòi nợ, thế là tôi phải chấp nhận. Con tôi nó biết tôi không thích nó, nên nó hành hạ tôi thê thảm, ăn bao nhiêu cũng ói ra. Lúc đó, tinh thần tôi khủng hoảng. Cấn thai bị hành, phần mỗi ngày phải dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, coi bốn đứa nhỏ, cơm nước tắm rửa; phải làm những món thức ăn cho anh chi Hai đi bán xe lunch (nghĩa là xe bán thức ăn trưa cho các hãng xưởng). Hằng ngày, tôi phải làm nhiều chả giò, chặt ướp thịt gà, xắt thịt bò, gọt và xắt khoai tây.
Sức khỏe tôi bình thường đã không được tốt, giờ còn phải gánh chịu bao nhiêu là cực nhọc, còn chồng tôi không giúp được gì, suốt ngày chỉ biết cờ bạc rượu chè. Thậm chí lấy luôn tiền ở đợ của tôi đi đánh bài hết, đến đỗi không có chiếc xe để chở mẹ con tôi. Trong lúc chịu đủ điều khổ sở, phần nghe tin mẹ tôi mất, tinh thần tôi hoàn toàn sụp đổ.
Con tôi nó giận ghét tôi nên nó đạp không ngừng, hành tôi cho đến ngày sanh. Khi sanh nó ra lại bị sanh khó, tôi đau tới gần 25 tiếng đồng hồ. Bác sĩ sợ tôi không còn sức nên chích thuốc dục. Đến khi sanh nó ra, nó có nhau choàng ba vòng. Bác sĩ nói: “Bây giờ tôi mới hiểu tại sao cô bị đau như vậy. Con so mà gặp đứa bé nhau choàng ba vòng, mà sanh được tự nhiên là may mắn lắm, xém một chút là phải mổ vì sợi nhau xiết chặt cổ của đứa bé”.
Vừa đỡ đẻ, ông ta vừa nó: “Cái con bé này nó lanh quá, mới sanh ra đã mở mắt nhìn tôi, nó nhìn cả mấy cô y tá. Tôi đỡ đẻ nhiều năm, chưa thấy đứa bé nào lanh như vậy”. Ông nói tiếp: “Sao đứa bé này không chịu khóc?” Ông ta đưa lên đánh vào đít nó, sau đó nó mới chịu khóc. Càng nghe ông ta nói, tôi càng thêm sợ. Sau khi tắm rửa đứa bé xong, cô y tá đưa cho tôi. Tôi nhìn nó, nó nhìn lại tôi, tôi sợ nên nhìn qua chỗ khác. Lúc đó tôi nghĩ: đứa bé này không biết nó sẽ đòi nợ tôi bằng cách nào?
Rời nhà thương về nhà được mấy ngày thì sức khỏe tôi đã kiệt, nên tôi bị ngất xỉu. Anh Hai và chồng tôi chở tôi vào nhà thương để cấp cứu. Lúc đó, anh chị Hai và chồng tôi tưởng tôi sẽ bị chết. Sau khi được cấp cứu và dưỡng bệnh, chúng tôi trở về nhà. Tôi xin anh chị Hai nghỉ việc vì tôi phải lo cho con tôi.
Thế là chúng tôi dọn đi chỗ khác. Từ lúc sanh con tôi ra, tôi sợ cho nó bú và thay tã. Tôi năn nỉ chồng tôi ráng lo cho con tôi, đợi đến khi nào tôi hết sợ nó thì sẽ lo sau. Nhưng chồng tôi là một người đàn ông vô trách nhiệm, nên lời cầu khẩn của tôi như gió thoảng qua tai, suốt ngày chỉ biết cờ bạc, rượu chè, đi từ sáng đến tối mới về. Rốt cuộc, tôi phải lo cho con tôi, càng lo cho nó tôi càng sợ, càng bị khủng hoảng.
Mỗi lần nghe tiếng con tôi khóc là tôi sợ run lên. Tâm trạng tôi lúc đó, nửa sợ, nửa bứt rứt lương tâm. Tôi cảm thấy làm mẹ giống như tôi thật là ác quá. Tôi mong vượt qua nỗi ám ảnh để làm tròn trách nhiệm của người mẹ, nhưng tôi làm không nổi.
Có một lần, tôi đang làm thức ăn ở nhà bếp, lúc đó tôi đang cầm con dao để cắt cải. Nghe tiếng con tôi khóc ở trong phòng ngủ, tôi hốt hoảng cầm luôn con dao chạy vào phòng. Thấy nó khóc, tôi vì sợ nên quên trên tay đang cầm con dao. Tôi tính dùng hai tay ẵm nó lên để dỗ nó nín, không ngờ con dao trên tay tôi rớt xuống, dâm vào đùi con tôi. Nó hét thất thanh, cũng may là con dao nhỏ, nên đầu nhọn của mũi dao dâm trúng làm thành một dấu; máu rướm ra.
Tôi hốt hoảng hối hận, ôm con vào lòng rồi hai mẹ con khóc nức nở. Lần đầu tiên, tôi mới ôm con tôi thật lòng và cũng là lần đầu tiên, tôi cảm giác được tình thương mẫu tử. Tôi thức tỉnh hối hận và xin lỗi con tôi. Lúc đó, trong tâm tôi nghĩ, cho dù đứa bé này có đến đây để đòi nợ tôi đi nữa, thì tôi cũng phải thương vì nó là con của tôi.
Từ đó, tôi không còn sợ hãi hay nghi kỵ gì nữa, nhờ con dao vô tình đó đã đánh thức lương tâm tội lỗi của tôi. Rồi thời gian trôi qua, con tôi được khoảng một tuổi thì tôi lại mang thai đứa khác. Từ lúc con gái tôi biết đi, nó phá không tưởng tượng được, nó phá tới mức độ không còn là đứa bé bình thường.
Từ đó, chúng tôi phải bôn ba đủ chỗ vì mướn phòng nhà ai chưa quá ba ngày là bị đuổi, do không ai chịu nổi con của tôi. Trong cuộc đời tôi, chưa thấy đứa bé nào phá như con của tôi. Nó đốt luôn cả nhà, may kỳ đó cứu kịp nếu không là hai đứa con tôi đã bị chết. Tôi hỏi nó nhiều lần: “Tại sao con phá quá vậy?” Nó nói: “Tại vì mẹ ghét con, mẹ không có thương con”. Tôi nói: “Mẹ thương con mà”. Nó nhìn tôi với ánh mắt giận ghét, nó nói: “Mẹ nói xạo, mẹ ghét con!”
Tôi im lặng vì cảm thấy hối hận và xấu hổ. Sau đó, tôi nói với con tôi: “Con không hiểu đâu! Khi nào con lớn lên, mẹ sẽ kể cho con nghe, con sẽ không còn giận mẹ nữa”. Rồi thời gian đến gần sáu tuổi, con tôi không còn phá nữa. chỉ suốt ngày vào phòng đọc sách, nó rất ham học và thông minh hơn đứa trẻ bình thường.
Tiên Bị Đọa
Kính thưa quý bạn, ở đây tôi xin kể cho quý bạn nghe câu chuyện luân hồi của chị sinh đôi với tôi rất là ly kỳ thần thoại. Đáng lẽ trong cuốn sách này, tôi viết rất nhiều về câu chuyện của chị tôi nhưng vì bằng chứng đã mất. Điều này làm cho tôi rất buồn, tôi buồn là vì nếu còn bằng chứng, thì câu chuyện của chị tôi sẽ độ được nhiều người.
Câu chuyện của chị tôi thần thoại khó tin, nhưng có thật ở thế gian. Lời Phật dạy là vạn lần chân thật. Vì bằng chứng đã mất nên tôi chỉ kể một chút để cho quý bạn nghe, còn tin hay không là tùy quý bạn.
Chị tôi là tiên bị đọa. Mới sanh ra, chị tôi đi tiêu ra một hột ngọc nhỏ bằng ½ hột tiêu bắc, chung quanh có một sợi máu quấn ba vòng. Mẹ tôi không biết là hột gì, nên đem bỏ vào miếng bông gòn rồi để vào một góc tủ. Hơn một năm sau, mẹ tôi chợt nhớ nên tìm ra coi lại. Không ngờ, cái hột đó lớn bằng hột tiêu bắc, làm cho ba mẹ tôi hết hồn.
Khi chị tôi bập bẹ biết nói, chị tôi hay nói với mẹ tôi và gia đình: chị là tiên. Mẹ tôi thấy chị tôi nói chuyện lạ thường và hột ngọc biết lớn theo thời gian, mẹ tôi nghĩ chị tôi không phải là người thường. Sau đó, mẹ tôi đem hột ngọc và câu chuyện của chị tôi đi hỏi nhiều vị Cao Tăng. Chỉ cần biết ở đâu có cao tăng, mẹ tôi đều tới hỏi. Tất cả quý Thầy đều nói, chị tôi là tiên bị đọa, còn hột đó là hột ngọc người vì trong người chị tôi đi ra. Mẹ tôi hỏi quý thầy: “Vậy cuộc đời con gái tôi sẽ ra sao?” Quý thầy đều nói: “Đã là bị đọa, dĩ nhiên là cuộc đời con gái bà sẽ bị khổ hơn người bình thường”. Nghe xong, mẹ tôi rất buồn.
Đến khi chúng tôi được gần 11 tuổi, mẹ tôi gặp một vị cao tăng. Ông ta khuyên mẹ tôi nên dẫn hai chị em tới chùa để quy y tam bảo, để chị em tôi tu, mong là chuyển được nghiệp duyên. Sau đó, mẹ dẫn hai chị em tôi tới chùa Từ Vân ở gần nhà để xin Ngài Trụ Trì Thích Giác Hạnh cho 2 chị em tôi quy y và làm Phật tử. Sau khi nghe mẹ tôi kể về câu chuyện của 2 chị em tôi và đưa cho thầy coi hột ngọc; thầy đặt cho chị tôi pháp danh là Diệu Ngọc, còn tôi pháp danh là Diệu Ngộ. Sau này, tôi đổi pháp danh là Diệu Âm.
Từ nhỏ, tôi rất thích nghe chị tôi kể chuyện về những giấc mơ của chị. Có khi, chị rất vui vì gặp được nhiều tiên và nhiều Phật; có khi, chị rất buồn và khóc vì thấy địa ngục, nhiều người bị hành hạ khổ sở. Cuộc đời chị tôi ngộ lắm, chị thường biết trước được chuyện xảy ra và thường gặp mẹ Quán Âm, nhưng càng lớn tuổi thì những giấc mơ kỳ diệu và sự linh gnhiệm của chị càng lúc càng phai nhạt. Nếu kể hết câu chuyện ly kỳ của chị tôi phải mất mấy trăm trang.
Trước khi viết cuốn sánh này, tôi sực nhớ chị tôi có kể qua. Cách đây 12 năm, trước khi mẹ Quán Âm lấy lại hột ngọc, chị tôi có đem viên ngọc tới gởi cho một vị trụ trì. Tôi gọi về VN hỏi lại đầu đuôi. Sau đó, tôi kêu chị tôi đi đến Ngài trụ trì Thích Từ Giang, ở chùa Linh Quang Tịnh Xá, đường Nguyễn Khoái, P3. TPHCM, để xin thầy làm chứng và viết một chứng thư là hột ngọc người của chị tôi có thật. Tuy hột ngọc người của chị tôi có nhiều người thấy qua, nhưng bằng chứng của thầy trụ trì sẽ làm đại chúng tin hơn, vì người tu không dám nói dối.
Nhưng không ngờ, bằng chứng cuối cùng cũng bị mất. Vì thầy nói: thầy không biết trong hộp đó có hột ngọc. Vả lại, của Phật tử gởi, thầy đâu có mở ra xem làm gì. Vì không thấy nên thầy không dám làm chứng.
Chuyện là như vầy, cách đây 12 năm, thời gian đó, chị tôi đau khổ vì chồng nên ẵm con ra đi. Vì sợ hột ngọc bị mất, nên chị đem đến chùa nhờ thầy giữ dùm. Khi tới nơi, thấy thầy quá bận rộn vì nhằm dịp lễ Vu Lan, chị tôi không kịp kể cho thầy nghe câu chuyện của hột ngọc. Chị tôi chỉ đưa cho thầy một cái hộp nhỏ và nói: “Thưa thầy, giúp con giữ cái hộp này, vì cái hộp này rất là quan trọng, con sợ để bên mình bị mất nên nhờ thầy giữ dùm”.
Lúc đó, chị tôi ôm con thơ, không nơi trú ẩn, ẵm con đi như một kẻ ăn xin. Được thầy nhận lời giữ dùm là chị tôi yên tâm. Lúc đó chị tôi nghĩ: đợi kiếm được nơi trú thân và đợi thầy hết bận rộn, chị tôi sẽ đến kể cho thầy nghe về chuyện hột ngọc, để thầy giúp cất kỷ hơn. Không ngờ qua hai tuần sau, mẹ Quán Âm báo mộng mấy lần, kêu chị tôi tới chùa thỉnh lại hột ngọc.
Chị tôi tới chùa, xin thầy cho thỉnh lại. Sau khi đem về nhà, chị cất vào hộc tủ. Mấy ngày sau chị tôi coi lại, thì hột ngọc đã bị mất. Còn tôi, sau khi qua mỹ, tôi cứ mong có dịp trở về để coi lại hột ngọc của chị tôi. Chờ đợi mãi vẫn không có ngày trở lại. Vì nhớ hột ngọc, nên tôi kêu chị tôi chụp hình hột ngọc gởi qua cho tôi xem. Không ngờ chị tôi nói: “Hột ngọc đã bị mẹ Quán Âm lấy lại rồi”. Tôi không tin nên nổi giận, cho là chị tôi nói xạo. Tôi hỏi chị tôi, có người trong nhà ăn cắp hột ngọc của chị đem bán phải không? Chị tôi nói không. Tôi nói: “Chị nói đi, ai là người ăn cắp hột ngọc của chị, em nhất định sẽ không bỏ qua đâu”. Chị tôi nói: “Bộ em quên hột ngọc có linh tánh sao? Xưa nay hột ngọc bị mất nhiều lần, nhưng lần nào cũng tìm lại được”. Sau khi nghe chị tôi phân giải, tôi mới tin vì tôi nhớ lại:
Có một lần nhà tôi bị cháy, nhưng hột ngọc vẫn còn nguyên trong đống tro tàn. Có lần, có người ăn cắp hột ngọc. Sau đó, tự người đó đem đến trả lại. Chị tôi hay bị bệnh nên từ nhỏ mẹ tôi cho chị tôi đeo hột ngọc bên mình để hộ mạng. Tánh chị tôi vô tư nên đã bị rơi mất nhiều lần, nhưng lần nào cũng tìm lại được.
Chị tôi nói: Từ ngày mẹ Quán Âm lấy lại hột ngọc, cuộc đời chị tôi mới thấy dược ánh sáng. Chị tôi thật là tội nghiệp lắm. Mỗi lần chị tôi bị khổ tới đường cùng, chị muốn cầu cứu tôi bên này giúp đỡ. Nhưng lần nào hai chị em tôi cùng rơi vào một hoàn cảnh giống nhau, nên tôi không giúp được chị tôi nhiều. Đây cũng là nghiệp báo.
Từ đầu đến cuối, tôi kể hột ngọc cho quý bạn nghe, mà quên không diễn tả hột ngọc đó như thế nào để quý bạn có thể hình dung. Hột ngọc đó lớn bằng đầu đũa lớn, rồi ngưng không lớn nữa. Hột ngọc trong suốt như một hạt sương mai buổi sáng đọng trên lá. Khi bỏ hột ngọc vào lòng bàn tay, chúng ta tưởng là một giọt nước long lanh trong sáng. Nhưng khi đụng vào, thì cứng như viên ngọc.
Kính thưa quý bạn, tôi kể hai câu chuyện luân hồi của gia đình tôi, nhưng lại không có đủ bằng chứng sẽ khó làm cho quý bạn tin. Nếu quý bạn không tin thì không chịu niệm Phật để tu giải thoát, vậy tâm nguyện của tôi có khác gì như cát đổ biển Đông. Nên ở đây, bắt buột tôi phải viết thêm tiểu sử về gia đình, chỗ ở và tiểu sử của chị em tôi. Để quý bạn nào biết gia đình tôi, khị đọc cuốn sách này, quý bạn sẽ nhớ lại chuyện năm xưa của gia đình tôi. Mong quý bạn sẽ là những người làm chứng cho những chuyện tôi kể là chân thật.
Gia đình tôi ở Huyện Đá Bạc, thị xã Cam Ranh, tỉnh Cam ranh. Gia đình tôi ở trong một cái xóm. Xóm này nằm trong khu quân sự. Vì là vùng quân sự nên dân cư không có đông. Xóm trên xóm dưới, cộng lại khoảng 100 căn nhà. Chung quanh xóm bao bọc bởi những khu quân đội, có nhiều binh chủng khác nhau. Như là Quân Cảnh, Quân Cảnh Tư Pháp, Đặc Khu Cam Ranh, Cảnh Sát, Phụng Hoàng, Xây Dựng Nông Thôn Khu quân sự này nằm gần biển. Bãi biển này rất lớn, có hai dãy núi Hòn Rồng và Hòn Rùa bao quanh (vì hai dãy núi này giống con rồng, và con rùa nên người đời gọi như vậy). Bên kia có nhiều đèn là Bán Đảo Cam Ranh, là khu quân sự của Mỹ, giữa 2 dãy núi là cửa biển Quốc Tế. Trên cửa biển lúc nào cũng có mấy hạm đội của Mỹ phòng thủ.
Vì là vùng cấm địa và quân sự, nên quanh năm ở đây hay bị pháo kích và gài mìn. Dân cư ở đây, nhà nào cũng có hầm để ẩn núp những khi bị pháo kích. Vùng này tập trung nhiều binh chủng khác nhau, nên hay gây ra đánh lộn. Mỗi khi đánh lộn, họ thường dùng lựu đạn và súng ống. Dân chúng ở đây đã quen với cảnh chết chóc và bom đạn. Mạng sống con người ở đây rất rẻ.
Gia đình tôi ở gần khu núi đá, trên núi đá có một cái Lô Cốt. Nghe truyền thuyết hồi thời Pháp, họ đã giết và chôn sống nhiều người bỏ vào trong đó. Xóm trên có cô Hồng không tin trên đời này có ma, nên cô mặc kệ sự cản ngăn của hàng xóm. Cô mướn người đập Lô Cốt đó xuống để lấy gạch xây nhà. Trong lúc đập xuống, cũng có mấy người trong xóm tới lấy gạch để đắp nền nhà. Không ngờ sau khi Lô Cốt đó đập xuống không được bao lâu, thì các hồn ma dàn ra cả xóm. Chúng đi đòi những kẻ đập Lô Cốt và lấy gạch trả lại cho chúng (có một đêm mẹ tôi thấy mấy người ma không đầu, họ đi lủ thủi, đứng, ngồi trên núi đá đó. Mẹ tôi rất là đau lòng, vì mẹ tôi biết chuyện đó sẽ xảy ra). Ai nấy cũng sợ đem gạch trả lại. Chỉ có cô Hồng là không chịu trả lại vì nhà cô đã xây xong. Cuối cùng, cô bị nhiều hồn ma nhập vào mình, làm cô điên khùng than khóc ngày đêm. Mẹ cô Hồng thỉnh thầy pháp đến đuổi ma nhưng đều bị thất bại. Cuối cùng thỉnh được một vị thầy cao tay, tới khuyên chúng tha cho cô Hồng và thầy hứa sẽ làm nhà lại cho chúng. Từ đó, trên núi đá đó mới có một ngôi miếu. Chuyện này rất ly kỳ, quý bạn sẽ không bao giời quên.
Ở xóm, ai cũng gọi ba mẹ tôi là ông bà Thái hoặc “Gia đình ông bà có hột ngọc”. Sau này, gia đình tôi có thêm một cái tên là “Gia đình có đứa con rắn”. Trong vùng chỉ có gia đình tôi là họ Đồng và chỉ có chị em tôi là chị em sinh đôi. Chị tôi tên Tuyết, tôi tên Lan.
Còn mộ em tôi chôn ở miếng đất hoang đằng sau nhà Hội Đồng Xã, gần con đường mòn di xuống biển, bên kia là Xây Dựng Nông Thôn. Hồi nhỏ, chị em tôi hay lấy tròng mắt cá còn sống để gạt các bạn. Chị em tôi nói đó là hột ngọc, để các bạn không còn tới năn nỉ chị em tôi, ăn cắp hột ngọc của mẹ tôi cho các bạn coi. Lúc đó, các bạn tưởng là thật nên cứ năn nỉ đòi mua. Có một lần, chị em tôi vì ham tiền nên gạt bán cho các bạn. Các bạn đem về khoe với ba mẹ. Ba mẹ các bạn biết đó là mắt cá nên tới mắng vốn ba mẹ tôi, làm cho hai chị em tôi bị đòn.
Sau chuyện mắt cá đó, các bạn lên trường đồn, nói là chị tôi có hột ngọc giả, không có thật như người ta nói. Tôi cứ cãi với bạn là chị tôi có hột ngọc thật. Các bạn cả đám nói: “Nếu thật thì mày về ăn cắp hột ngọc thật cho tụi tao coi đi, thì tụi tao mới tin”. Lúc đó tôi thật là khờ dại, đi về ăn cắp hột ngọc đem lên trường cho cô giáo và các bạn coi. Sau đó, vì mấy chục người bu lại giành nhau coi, nên hột ngọc bị mất.
Tới giờ tan trường, ai nấy cũng về, còn hai chị em tôi ở lại sân trường ngồi khóc. Chị tôi la tôi: “Ai biểu mày ăn cắp hột ngọc của mẹ làm gì?” Tôi vừa khóc vừa nói: “Tao không muốn tụi nó nói mày có hột ngọc giả”. Sau đó, có một bạn học chạy đến trường trả lại hột ngọc cho chị em tôi và nói: “Tôi xin lỗi bạn, vì thấy hột ngọc đẹp, nên tôi ăn cắp đem về cho mẹ tôi coi. Coi xong, mẹ tôi bắt tôi phải đem trả lại cho bạn gấp”. Hai chị em tôi mừng quá, cám ơn lia lịa rồi cùng nhau chạy về nhà.
Thời gian chị em tôi học ở trường tiểu học Cam Ranh là năm 1969-1974. Các bạn thường gọi chị em tôi là “Chị em sinh đôi” hay “Chị em con nhỏ có hột ngọc”. Chị em tôi là hai con nhỏ hay vũ, đóng kịch và thường giả Hùng Cường và Mai Lệ Huyền, hát những bản nhạc tình ca của lính. Mỗi lần chị em tôi hát và nhảy, làm cho thầy cô và các bạn cười lăn ra. Tôi là con nhỏ mỗi sáng thứ Hai, hay hát bài quốc ca chào cờ ở trên loa. Chị em tôi cũng là hai con nhỏ hay kêu các bạn ôm cặp táp dùm, để chị em tôi phụ đẩy xe xích lô ở cổng trường.
Còn một chuyện này rất là khó quên, tôi bảo đảm thầy cô, các bạn và những người chung quanh trường không bao giời quên. Đó là câu chuyện cái giếng nước ở bên cạnh trường. Chuyện con nhỏ học trò bị té xuống giếng. Con nhỏ học trò đó là tôi. Cái giếng nước này trước đó đã làm cho thầy cô và những người dân chung quanh lo lắng. Vì giếng nước này rất sâu và có nhiều nước, nhưng thành giếng quá thấp chỉ có một bi. Vì vậy dân cư và thầy cô ở đây cấm con nít và học sinh không được đến gần.
Giời tôi xin kể một chút để các bạn biết. Hôm đó, chị tôi khát nước mà nước trong bình mang theo đã hết. Tôi dẫn chị tôi tới giếng, thấy chiếc gầu quá nặng, dây thừng quá lớn. Lúc đó tôi nghĩ, bỏ gầu xuống khi nước chảy vào một chút, tôi sẽ kéo lên thì không sao. Không ngờ cái gầu quá nặng, mới bỏ xuống nước đã đầy, tôi kéo lên không nổi. Chị tôi phụ tôi kéo cũng không lên. Chị tôi buông ra khóc và năn nỉ tôi: “Lan ơi! Mày buông ra đi, nếu không mày sẽ bị té xuống giếng đó”. Tôi nói: “Không được! Cái giếng này chỉ có một cái gầu này thôi, nếu tao buông ra thì gầu sẽ bị chìm”. Chị tôi nói: “Bị chìm thì bỏ, còn hơn mày bị té”. Lúc đó, tôi thật là khờ dại không nghe lời chị tôi khuyên, tôi cứ cố gắng kéo cái gầu đó lên, không ngờ cái gầu quá nặng kéo tôi rớt xuống giếng. Chị tôi la khóc kêu cầu cứu, còn tôi ở dưới giếng thật là sợ lắm vì tối thui. Sau đó, thầy cô hàng xóm bu quanh miệng giếng,. Họ bỏ dây thừng xuống cho tôi nắm để kéo tôi lên. Nhưng ba lần, họ kéo tôi tới được gần miệng giếng, thì tay tôi bị đuối sức nên rớt xuống trở lại. Cuối cùng, có một chú leo xuống khoảng mấy bi với dây thừng cột ngang lưng. Còn tôi ráng sức nắm sợi dây đó, vừa tới gần miệng giếng, thì chú đó nắm lấy tay tôi. Nhờ vậy mà tôi được cứu. Lên tới nơi, quần áo tôi rách tả tơi, máu me tùm lum. Vì dưới đáy giếng có nhiều cái gầu, cây và mũ sắt của lính. Nên mỗi lần trên cao rớt xuống thì bị đập vào mấy thứ này.
Sau lần đó, có nhiều bạn học ở trường chế giễu tôi là ngu, vì chiếc gầu mà để bị té xuống giếng. Lúc đó tôi thật là buồn lắm, nhưng sau khi thành giếng được xây lại an toàn, tôi không còn buồn nữa. Vì chuyện ngu khờ của tôi cũng có ý nghĩa.
Kính thưa thầy cô và các bạn, năm 75, gia đình tôi di tản vào Sài Gòn. Sau đó tôi qua Mỹ. Còn thầy cô và các bạn vẫn còn ở đó hay mỗi người một nơi. Riêng tôi đã hơn 27 năm, lúc nào cũng mong có một ngày trở lại Cam Ranh, nhưng chờ mãi vẫn không có cơ hội. Tôi mong cuốn sách nhỏ này đến được tay thầy cô và các bạn, để chúng ta cùng nhau di cư về Cõi Phật.
Phần Kết Luận
Kính thưa quý bạn, qua hai câu chuyện luân hồi của con gái và chị tôi, thêm vào chuyện chuột biết trả thù cho chúng ta thấy: con người vốn có chuyện luân hồi. Dù là các loại thú lớn, nhỏ đều có linh tánh và Phật tánh. Vì vậy mà Phật nói: “Tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành”.
Chúng ta trong quá khứ đã trải qua vô số hình dạng khác nhau. Chẳng qua khi đầu thai, chúng ta phải trải qua giai đoạn biến hóa của thai sanh, nên chúng ta quên hết chuyện quá khứ.
Chúng ta tới đây là để báo ơn và báo oán. Cũng như con tôi có duyên với tôi, nên ba kiếp của nó đều có sự liên hệ với tôi. Trước kia, tôi không hiểu tại sao em tôi thành rắn? Sau này tôi mới hiểu, vì thần thức phút cuối rất quan trọng. Lúc đó, em tôi hận là bị người ta chích thuốc cho chết. Rồi khi chết, ba tôi vì giữ tai tiếng nên vô tình đối xử em tôi thậm tệ. Vì quá hận, nên thần thức dẫn em tôi đầu thai thành rắn.
Hai chị em tôi nhờ trải qua nhiều thăng trầm đau khổ của thế gian, nên đã thức tỉnh. Thấy cuộc sống vô thường, làm người quá đau khổ, nên hai chị em tôi quyết tâm tu để thoát khỏi luân hồi.
Lời Phật dạy là vạn lần chân thật. Chị tôi may mắn còn trở lại làm người. Trong bút ký, có biết bao nhiêu chuyện sau khi làm tiên bị đọa thẳng vào ba đường ác. Vì thấy sự tai hại này, mà Đấng Từ Phụ, luôn luôn nhắc nhở chúng ta đừng chỉ lo tu phước mà phải lo tu giải thoát.
Chư Phật Gia Hộ
Kính thưa quý bạn, trong thời gian viết cuốn sách này, có nhiều sự nhiệm màu của Chư Phật gia hộ, vượt qua ngoài tưởng tượng của tôi. Thật ra cuốn sách này được hoàn thành, không phải là thành quả của tôi. mà hoàn toàn nhờ vào Chư Phật gia hộ (vì tôi chỉ học tới lớp 6 thì làm sao có thể viết văn. Nhưng nhờ niệm Phật và Chư Phật gia hộ, nên tôi mới có đủ khả năng để hoàn thành được cuốn sách này. Đây là sự nhiệm màu của Phật pháp). Ở đây, tôi xin đưa ra một câu chuyện bằng chứng hy hữu, mà Chư Phật đã gia hộ cho chị em tôi, để quý bạn tin sự gia hộ là có thật.
Trong thời gian viết cuốn sách này, có một điều tôi luôn luôn nuối tiếc, đó là câu chuyện luân hồi của chị tôi không có đủ bằng chứng. Có đôi lần tôi thầm than thở, tôi nói “Mẹ Quán Âm ơi! Tại sao Mẹ lấy viên ngọc lại sớm quá, nếu trể một chút thì câu chuyện của chị con sẽ độ được nhiều người”. Không ngờ những lời than thở trong tâm tôi đã được Chư Phật cảm ứng. Ngày 26 tháng 5 năm 2003, tôi gọi về Việt Nam, gặp chị Hai, tôi nói “Chị Hai ơi! Cuốn sách em viết xong và đã đưa cho nhà sách in rồi, vài tuần nữa là có sách gởi về cho gia đình” Chị tôi cắt ngang với giọng nói hấp tấp “Không được, không được, em phải ngưng lại ngay” Tôi ngạc nhiện hỏi tại sao? Chị tôi nói với giọng mừng rỡ “Hột ngọc đã có bằng chứng rồi” Tôi hỏi “Bằng chứng gì?” Chị tôi nói “Con Tuyết nó đã tìm được thầy Thích Giác Hạnh, là người cách đây 30 năm làm lễ quy y và đặt pháp danh cho hai đứa “Tôi nghe qua, nửa mừng nửa nghi, tôi nói “Không phải thầy đã vãng sanh rồi sao?” Chị tôi nói “Không! Không! Thầy vẫn còn sống và trẻ lắm, không già như chị em mình nghĩ đâu”. (Chị em tôi lâu nay cứ nghĩ thầy đã vãng sanh, vì lúc quy y, chị em tôi còn quá nhỏ nên không nhớ thầy Trụ Trì là ai, cứ nghĩ là thầy đã lớn tuổi lắm rồi, cộng thêm vào cách đây 30 năm, thì làm sao thầy còn sống. Vì vậy mà chị em tôi không đi tìm thầy). Tôi hỏi chị tôi “Vậy thầy khoảng bao nhiêu tuổi?” Chị tôi nói “Thầy 58 tuổi” Tôi thất vọng và nói “Không thể nào! Chị Tuyết đã tìm lộn thầy rồi” Chị tôi nói “Không, lúc thầy làm Trụ Trì ở chùa Từ Vân, tỉnh Cam ranh, thầy chỉ có 27 tuổi” Tôi không tin nên nói “Mới 27 tuổi, làm sao có thể làm Trụ Trì một ngôi chùa lớn như vậy?” Chị tôi nói “Lúc đầu, tụi chị cũng nghĩ như em, cho tới khi nghe thầy kể câu chuyện cách đây 30 năm, mẹ dẫn 2 đứa em tới chùa quy y gặp thầy ra sao và đưa cho thầy coi hột ngọc như thế nào” Lúc đó, tụi chị mới tin, thì ra chính là thầy.
Sau khi nghe chị tôi kể xong câu chuyện, tôi mừng và xúc động đến bật khóc. Chị tôi nói tiếp “Em biết không? Con Tuyết nó mừng tới khóc luôn, rồi sáng nay, nó và em Dung đi ra Vũng Tàu để tìm thầy rồi”. Sau cuộc nói chuyện với chị tôi, lòng tôi lâng lâng một niềm hạnh phúc không thể tả. Lúc đó, trong tâm tôi chỉ ước mong sao gặp được thầy, cảm giác có thầy thật là ấm cúng. Thật thương cho tôi bao nhiêu năm, cứ lủi thủi một mình tự tu tự học. Rồi tôi tủi thân, tự hỏi “Tại sao mình vẫn chưa có duyên gặp được thầy?” Giờ gặp lại thầy mới thấy mình ngu khờ, giống như câu chuyện trong bút ký, nói về một gã ăn xin có viên ngọc quý cột trong chéo áo mà không biết.
Xin quý bạn hãy đọc trang kế tiếp, đó là lá thơ tâm sự của thầy và chị Diệu Ngọc của tôi gởi đến cho quý bạn. Ngoài ra, còn có hình ảnh của thầy, Chị Diệu Ngọc và chữ ký thị thực chứng minh lần quy y của chúng tôi cách đây 30 năm.
Lá Thư Tâm Sự
(Diệu Ngọc kính gởi)
Nam Mô A Di Đà Phật
Kính gởi các bạn hữu!
Tôi tên là Đồng Thị Ánh Tuyết, pháp danh là Diệu Ngọc. Em tôi là Diệu Ngộ (Diệu Âm) chúng tôi là chị em song sanh. Nay nghe em tôi viết một cuốn sách “Kinh nghiệm niệm Phật và những chuyện luân hồi” trong đó có kể câu chuyện luân hồi của tôi.
Trong thời gian em tôi viết cuốn sách này, hai chị em tôi rất buồn vì hột ngọc không có bằng chứng rõ ràng, sẽ khó làm cho các bạn tin. Nhưng cuộc đời tôi hầu như mọi chuyện đều do ơn trên xoay chuyển, xếp đạt. Chính tôi cũng không thể nào giải thích hay diễn đạt hết sự nhiệm màu mà bản thân tôi đã trải qua, vì ngôn ngữ không đủ để giải thích. Mà dù tôi có cố gắng đi chăng nữa, thì cũng khó có ai tin và sẽ cho câu chuyện của tôi là hoang đường. Nên ở đây, tôi chỉ xin chia xẻ với các bạn về sự gia hộ nhiệm màu của Chư Phật. Có một điều cho tới bây giờ tôi cũng không hiểu là tôi có nhân duyên may mắn gì, mà luôn luôn được Mẹ Quán Âm thị hiện, che chở và gia hộ những lúc tôi gặp khổ đau hay tuyệt vọng.
Cũng như câu chuyện hy hữu mới đây, tôi không ngờ đã tìm lại được thầy tôi sau 30 năm xa cách, người thầy mà chị em tôi cứ ngỡ đã vãng sanh lâu rồi, nhưng không ngờ thầy vẫn còn sống.
Ở đây tôi xin gởi đến các bạn vài hàng tâm sự, về sự ngẫu nhiên nào mà tôi tìm được thầy của tôi. Khoảng một năm qua, em tôi là Diệu Ngộ (Diệu Âm) giao cho tôi làm phật sự ấn tống cuốn sách “Niệm Phật Lưu Xá Lợi” của bác cư sĩ Tịnh Hải để gởi đi khắp nơi. Vì vậy trong một năm qua, tôi thường lui tới nhà sách để đặt sách và lấy sách. Nhờ gởi kinh sách nên tôi có duyên quen biết với thầy Thích Thông Châu. Thầy cho tôi biết là thầy ở thiền viện Thường Chiếu Vũng Tàu.
Có một lần chị hai tôi dọn nhà, soạn lại một số giấy tờ và những hình ảnh trả lại cho tôi, vô tình tôi gặp lại giấy quy y năm xưa, tôi thấy tên thầy tôi là Thích Giác Hạnh. Lúc đó trong tâm chợt nghĩ có khi nào thầy tôi còn sống mà tôi không biết? Sau đó có lần nói chuyện với em Thoa của tôi, tôi hỏi “Em hay đi chùa, vậy em có bao giờ nghe thầy nào tên là Thích Giác Hạnh không? Em tôi nói “Có! Là Ông thầy hay kể những chuyện lạ của thế kỷ 21 trong băng cassette mà em đã đưa cho chị nghe cách đây mấy năm trước” Tôi hỏi thầy đó đang ở đâu?” Em tôi nói ở Vũng Tàu, nhưng em không biết là chùa nào”. Lúc đó tôi nghe qua, trong tâm cứ nghĩ là trùng tên thôi, phần gặp lúc đang có nhiều chuyện xảy ra trong gia đình, nên chưa nghĩ đến chuyện đi tìm thầy.
Mãi đến ngày 16 tháng 5 năm 2003, tôi bị ngã bệnh, nhập viện hết 7 ngày. Trong lúc bị cơn bệnh hành hạ chán đời, bỗng nhiên tôi chợt nhớ đến thầy tôi và cảm giác là thầy tôi vẫn còn sống, rồi lòng tôi cứ nôn nóng mong ngày xuất viện. Sau khi xuất viện, tôi liền gọi cho thầy Thích Thông Châu, vì thầy cũng ở Vũng Tàu, mong là thầy có thể giúp được tôi. Thật không ngoài ý nghĩ của tôi, thầy đã cho tôi số điện thoại của thầy Thích Giác Hạnh. Cầm số điện thoại của thầy trong tay mà lòng tôi phập phồng cảm xúc. Tôi ngập ngừng không dám gọi, nhưng sau khi suy nghĩ một hồi, tôi đã không còn đắn đo. Tôi gọi đến chùa, khi nghe tiếng của thầy, tôi không biết bắt đầu từ đâu. Tôi chỉ xin thầy hoan hỷ nghe tôi kể một câu chuyện cách đây 30 năm. Lúc đó thầy tôi quá bất ngờ, không nhớ được câu chuyện của 2 chị em tôi, đến khi tôi kể đến viên ngọc, thì thầy liền nhớ lại và thầy kể cho tôi nghe câu chuyện năm xưa, mẹ tôi dẫn 2 chị em tôi đến gặp thầy và đưa cho thầy coi viên ngọc như thế nào. Sau khi nghe thầy thuật lại câu chuyện, tôi mừng và xúc động đến rơi nước mắt, không thể nào diễn tả bằng lời. Gập thầy như gặp lại người cha thứ hai, cho tôi pháp danh là Diệu Ngọc.
Sau cuộc nói chuyện với thầy, tôi cứ mong gặp được thầy để coi hình dáng thầy bây giờ ra sao. đến khi gặp được thầy, lòng tôi cảm xúc vô bờ bến, như gặp lại người cha bấy lâu xa cách. Tôi cảm thấy hạnh phúc, ấm cúng và có niềm tin, tôi có thể tâm sự cho thầy nghe những chuyện đã xảy ra trong cuộc đời tôi hết mấy mươi năm. Giờ tôi mới thấm nhuần được ý nghĩa câu “Lá rụng về cội”
Kính thưa các bạn hữu, mọi chuyện đều do ơn trên gia hộ. Nếu như tôi không ngã bệnh, thì tôi chưa gặp lại thầy tôi. Trong thời gian nằm bệnh viện
Friday, 4. January 2008, 17:35:56
Tôi thấy ngồ ngộ ở cái thời buổi nầy lại nêu lên vấn đề mà đa số người cho là dị đoan, mê tín… Tôi không rõ mục đích là gì, nhưng thấy người tham gia diển đàn rất khiêm tốn, rồi đâm ra nghi ngờ ; thời nay ít người “đối mặt” với cái gọi là mê tín nầy hoặc biết mà “ngại” không nói ra.
Riêng tôi, tôi phải cay đắng cũng như phấn kích về “Bùa chú” xin ghi lại đây để mọi người xem… chuyện ở một làng quê thuộc huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre.
Hồi ấy tôi 14 tuổi, có người Anh Rể tên là Ba Lầu, một hôm có tên lính chế độ cũ tên là Tám Sự đến nhà gọi Má tôi ra nói : Cô bảo thằng Lầu không được hái của tôi. Má tôi nói : Tám với thằng Lầu là bà con Cô, Cậu ruột, Tám nói với nó, tôi là Má vợ nó đâu có quyền hành với nó đâu. (lời qua tiếng lại) Tên lính Tám Sự kia xáp vô dùng bá súng đập vào người Má tôi té nằm xuống đất bỏ đi. Tôi đỡ Má tôi vào nhà mà lòng phừng phừng tức giận, trong đầu luôn luôn hai tiếng “trả thù, trả thù” nhưng làm sao bây giờ?, đánh lộn thì không lợi mình là con nít! Nó lại có súng!
Sau khi chạy chữa nội thương cho Má tôi, tôi xin Người cho tôi thoát ly giải khuây.
Tôi lang thang qua nhiều làng (đi bộ), vào Chùa xin cơm và tá túc, vào một ngày nọ tôi đến làng Vĩnh Thành (Cái Mơn), nghe trong nhà có tiếng kèn tây lập đi lập lại một đoạn của thánh ca quen, tôi đứng cửa nhìn vào, người thổi kèn ngoắt tôi vào trong, anh nầy hơn tôi vài ba tuổi…, tên tây “Jacque” trao đổi những câu thông thường… tôi biết ca lai rai, đàn guita Tây, Ta huợt hoẹt, cùng trang lứa, cùng máu văn nghệ dễ tiếp cận nên mau chóng mến nhau…, gia cảnh Anh thuộc giới trung lưu… Anh biểu tôi ở chơi với anh vài ngày…. (tôi sung sướng vô cùng).
Tối hôm đó, Jac dẫn tôi đến làm quen một người bạn khác, người nầy khoảng trên 30 tuổi, tên Hậu, hành nghề hớt tóc tại nhà…, không đạo, biết đàn Mandoline…, thế là tôi có nơi ăn chốn ở ít ngày bên nhà này, vài ngày nhà bên kia…
Ở đây có một Đồn Lính, gọi là đồn Vĩnh Chính 1, Trưởng Đồn và lính thường ghé nhà chúng tôi chơi, hớt tóc…nghe đàn.
Anh Đồn Trưởng đã có vợ con nhưng tính lả lướt, bay bướm, Chị nào dễ nhìn y như là đối tượng trêu ghẹo của Anh. Một hôm Anh rủ chúng tôi, (tôi và anh Hậu) đi chơi với Anh. Nói là đi chơi, thực ra là đến nhà có tên gọi “Xác Cô Hóa, huyện Ba Vát”. (tỉnh Bến tre). Xin mở ngoặt ở đây về <X>. Tôi không rõû hư thực ra sao, chỉ nghe rằng; Mấy chục năm trước có một cô gái tự vận chết đi vì anh thanh niên người yêu của Cô bị Tây bắt đi lính và tử trận. Hồn Cô nhập vào một Bà chừng 40 tuổi, từ đó ai cần gì thì đến nhờ Bà nầy ngồi “Đồng” hồn Cô Hoá nhập vào giúp cho rất linh thiêng…
Chúng tôi đến nơi, sau thủ tục anh Đồn Trưởng nhang đèn cúng vái, Bà ngồi “đồng” trùm khăn đỏ lên đầu che luôn mặt, ngáp dài dài… rồi hỏi chúng tôi cần “Hóa giúp gì”? Anh Đồn trưởng kể lễ : Mình có yêu một cô gái, xin Hóa tác thành cho…
Hai bên nói qua lại khỏang 15 phút, tôi xin đúc kết mấy ý chánh : Oâng Đồn đã có vợ con, Hóa cũng là Nữ, Hóa không giúp việc nầy được, Hóa không thể gây cho những người Nữ phải khổ, Ông Đồn có bạn làm “SƯ” sao không nhờ Sư giúp cho?
Chuyện nhờ Cô Hóa không thành, nhưng Đồn trưởng lại vui mừng vì nhờ Cô Hóa mà biết trong số bạn có người là Thầy Bùa.
Trên đường về Anh nói : Nhứt định không phải thằng Năm là thầy bùa rồi, nó là con nít, (thằng Năm là tôi) rồi vỗ vai anh Hậu, vậy là anh làm Thầy mà giấu mọi người, tụi mình là bạn nhau, anh giúp tôi nghen…
Tôi quen biết anh Hậu cũng hơn tháng rồi, tính tình hiền lành cởi mở, anh trầm ngâm suy nghĩ, còn anh Đồn trưởng thì cứ nài nỉ. Anh Hậu ghé vào tiệm chạp phô mua một tờ giấy màu vàng, ngang 0m8, dài 1m2 và cây viết nguyên tử màu đỏ. (bút bi). Đến nhà anh không vào, mà nói với Vợ : Anh vào Đồn chơi, sáng mai anh về. (Anh giải thích với tôi, cái Cô Hóa làm mình kẹt, mình được Sư Tổ dạy bùa 10 năm rồi, đâu có ai biết. Mình không giúp Oâng Đồn Trưởng thì làm sao yên?)
Suốt buổi chiều, anh Hậu ngồi vẽ lằng ngoằn từ chi chít nhỏ nhặc đến to đầy cả tờ giấy vàng, tối đến anh kêu mọi người tắm rửa sạch sẽ và căn dặn : Các anh qua phòng khác, từ giờ không ai được cười giỡûn, không được lớn tiếng, tôi làm gì mặc kệ tôi không được vào can thiệp hoặc hỏi han. Đến 9 giờ tối, Hậu đốt một nắm nhang, vái lạy rồi ngồi xếp bằng trên đất, miệng lâm râm tiếng nước nào đó không ai hiểu, chúng tôi nghe như là cuộc đối thoại Hậu với ai đó; từ êm dịu đến to tiếng, mặt Hậu đỏ gay, đứng lên múa tay múa chân rồi đập đầu vào tường mấy cái ngã xuống, vắng lặng hoàn toàn, lát sau Hậu ngồi lên ghế, cầm 3 cây nhang đưa theo hình vẽ sẳn, hít vào thổi ra, đọc lâm râm (thần chú) nhiều lần, xếp tờ giấy lại nhỏ bằng hộp diêm quẹt cây, cầm trong tay bước ra khu nhà bếp, đặt miếng giấy đó dưới đít lò. (ở quê gọi là Oâng Bà Táo, đặt dưới đít Táo giữa). Hậu trở lại bình thường nói chuyện cùng chúng tôi và cho biết : “Tổ” không cho phép làm, mình trình bày đối nhân xử thế ở cõûi trần đầy phức tạp, mình đòi tự vẫn “Tổ” đồng ý và chỉ cho phép lần nầy thôi. (12 giờ khuya mới xong, tức 3 tiếng đồng hồ).
Chúng tôi bàn nhau tự thưởng bồi dưỡng cho một đêm mệt nhọc, nghỉ ngơi chuyện vãûn 3 giờ sáng hôm sau chúng tôi rủ nhau ra Chợ. (thời đó hoàn toàn đi bộ hoặc xuồng ghe, không có xe cộ gì khác, đến chợ là sáng). Trên đường đi, chúng tôi gặp Cô gái mà anh Đồn Trưởng thích, anh dìu cô ấy ….
Trưa hôm đó (xóm giềng kể lại) đi chợ về đến nhà, Cô ấy quăng giỏ trên bếp, lên giường trùm mền rên hừ hừ… miệng nói xàm… hãy gả tui cho Anh Đồn Trưởng, tui muốn làm vợ của ảnh… nếu không gả thì tôi chết… cứ nói câu nầy mãi.
Ở quê mà, lại là thời còn lạc hậu nữa, gia đình hàng xóm cho là Cô nầy bị “ma, quỉ, chàng bố, yêu, tinh” bắt hồn, mời Thầy Pháp đến chữa. (dạng như Thầy Bùa nhưng ồn ào, gõ mõ, trống chiêng la hét).
Chỉ có chúng tôi là người trong cuộc, công nhận đây là kết quả hành động của Sư Hậu.
Oâng Thầy Pháp kia từ việc la hét đọc thần chú, cắn họng chó con hút máu phun vào thân thể Cô gái nọ cho ô quế tà ma xuất ra, lấy sắt nhọn sỏ vào môi trên xuyên qua môi dưới, sỏ xuyên từ má nầy sang má kia cho tà ma sợ, hai bàn chân đặt trên lưởi phản (con dao dài nông dân dùng phát cỏ, lát) đít ngồi trên 4 mủi dao trên cái kiệu, rồi 4 người khiêng đi cả cây số chung quanh Cô gái nhằm phô trương sức mạnh cho tà ma sợ kinh. 3 đêm qua đi, Cô gái không giảm la hét còn 3 ngày nữa chết, lại hăm dọa ông Thầy Pháp, ông cùng mấy đệ tử cuốn gói đồ đạt ra đi. Sau đó một tiệc nhỏ gọi là “đám cưới” diễn ra cô dâu chú rể là anh Đồn Trưởng với cô gái nọ.
Linh quá! linh quá! tôi nghĩ vậy và nhớ đến mối thù tên lính Tám Sự đã đánh Má tôi, thời gian qua lòng tôi lắng dịu, hôm nay nổi lên phừng phừng, tôi quyết tâm trả thù, tôi phải học “bùa”, vì chỉ có phương cách nầy mới trả thù được, tôi lạc quan như vậy.
“TÔI HỌC BÙA”
Tôi ngại anh Hậu phát giác ý đồ xấu của tôi, tôi tâm sự cùng anh, tôi nói lung tung; học bùa có khó không? người như thế nào thì được nhận học bùa, biết rồi thì để làm gì?… Sao 10 năm qua anh không làm Thầy?.v.v…
Tôi không có tiền, tôi phụ cái ăn trong gia đình như xuống sông lặn mò bắt cá tôm, lội ruộng bắt ốc, hái rau, câu cá, nấu nướng, rửa chén bát. Rảnh thì tôi học hớt tóc…
Tôi mong chờ anh kể lại bối cảnh anh học “bùa” theo đó tôi sẽ xin anh dạy cho mình. Và anh kể lại tại sao anh học “bùa”… trong một đêm 2 chúng tôi không ngủ được.
Câu chuyện rất dài, tôi chỉ nhớ được : Anh là Đệ Tử duy nhất không có sư huynh sư đệ. Sư phụ của anh là… người Lèo (Lào) thuộc phái Thiên Tiên… Anh vừa ngừng thì tôi hỏi : như em đây thì có học “bùa” được không? Anh Hậu : vẻ bề ngoài thì em có tiêu chuẩn làm Đệ tử Phái Thiên Tiên của anh, bên trong còn nhiều điều kiện khác như là phải được sự chấp nhận của “TỔ”, mà em thì theo đạo “Công giáo… “ khó mà liên kết được… Thời gian trôi qua, cứ vài ngày tôi lại nhắc xin làm Đệ tử, anh ậm ự mà không trả lời. (có lẽ anh suy nghĩ).
KHỞI SỰ :
Rồi một hôm vào buổi sáng anh Hậu nói : Tụi mình đi chơi, trên đường anh mua ốp nhang và 3 vắt cốùm chùi (bánh nếp rang vo tròn). Anh dẫn tôi vào khu vườn bỏ hoang không người qua lại, bẻ lá cây lót dưới đất, đặt nhang và 3 vắt cốùm. Anh nói : Năm, hôm nay anh xin “Tổ” cho anh nhận em làm Đệ tử, nếu “Tổ” đồng ý thì anh dạy em học “bùa”. (Tôi vừa mừng vừa hồi hộp).
Anh đốt nhang cắm tại chổ 3 cây, những cây còn lại anh cấm rãi rác gần cạnh đó, Anh đứng chấp tay khấn vái bằng tiếng Lèo, rồi anh gieo quẻ (tay cầm 3 đồng xu thẩy lên không cho rớt xuống đất) anh nhìn 3 đồng xu rồi anh thẩy 2 lần nữa.
Tôi không hiểu gì, chăm chú theo dõûi, thấy gương mặt anh hơi tái. Anh chấp tay và lâm râm một tràng dài chừng 1 phút, rồi anh tiếp tục gieo quẻ, cũng 3 lần như trước, nhưng lần nầy anh mỉm cười.
Anh biểu tôi ngồi, anh cũng ngồi đối diện với tôi nói: Lúc nãy “Tổ” không đồng ý anh nhận em làm đệ tử vì em có đạo, anh trình bày “Tổ” việc đó thuộc về cách linh động của em, em chấp nhận làm đệ tử phái Thiên Tiên là được. Tổ giao quyền cho anh hành động. Bây giờ anh kể một ít về phái Thiên Tiên, một ít về kỷ luật của Phái, em nghe xong rồi em quyết định. Anh kể : Một số người thời sống ở trần gian lập nhiều công đức cưú nhân độ thế, chết đi hồn họ tùy công quả nhiều hay ít, Thượng đế tưởng thưởng cho họ trong 3 bậc, Tiên, Thánh, Thần. Phái chúng ta là Tiên, có rất nhiều Tiên, mỗi Tiên có thu nạp đệ tử, đã mấy ngàn năm rồi. Tiên có 2 thành phần : 1)-Thiên Tiên gốc bản thân là con người. 2)- Địa Tiên gốc bản thân là các loài vật tu thành, nhưng có cái chung là từ khi chưa thành Tiên đến nay không theo đạo nào, thần chú bậc 1 giống nhau, bậc 2 tự luyện cao thấp độc đáo khác nhau. Có không ít Địa Tiên gây ra chuyện xấu. Thiên Tiên chỉ dùng bông hoa và nếp nổ, mà không dùng mặn, đó là dấu chỉ của Phái ta. Đệ tử cữ ăn các loại thịt ; trâu, chó, mèo, không được chui ngang sào phơi quần áo, võng…
“Thánh” chỉ có một thành phần, lúc còn sống cho đến khi thành Thánh có theo một đạo nào đó… có đạo được ăn mặn có đạo kiêng cử… các Thánh luôn hưởng ứng lời khẩn cầu của người trần thế cách thiêng liêng. Không dùng thần chú.
“Thần” là những con người lúc còn sống có công trận lớn với tổ quốc, không phân biệt tôn giáo, chết được Vua phong làm Thần. Thần có nhiều bậc; Thần quốc gia, Thần vùng, Thần tỉnh, Thần làng, được thờ trong các Đình làng. Thần hoàng thành, Thần thổ địa, Thần Táo, có nhiệm vụ lo cho quốc thái dân an… Không dùng thần chú.
“Lỗ Ban” là những người lúc sống làm các ngành lao động gọi chung là “thợ” có dùng thần chú. Đệ tử nhiều nhứt, nhưng trình độ ít có Thầy cao tay gồm; ca hát, may mặc, thợ mộc… có chung Tổ nầy, hằng năm cúng Tổ ngày 12 tháng 12 âm lịch.
“Bà Chúa Xứ”, nguời chết bị phạt xuống âm ty và ma, quỉ, yêu, tinh, sẽ do Bà nầy cai quản, người phàm trần ai cúng vái xin điều tốt, xấu đều làm ráo, thiên về quấy phá…đệ tử trần gian là các Thầy Pháp. Cúng lễ long trọng ngày Rằm tháng 7 âm lịch hằng năm.
Cao nhất là “Phật” có dùng thần chú, gọi là bùa Phật.
…………………… Bùa chú, căn bản để cứu giúp con người, tự nó rất tốt, chỉ có những Thầy bùa mất lương tri lợi dụng sự hiểu biết của mình làm hại người khác, trường hợp nầy bùa chú ít kết quả có khi hại ngược lại. Bùa lúc nào cũng linh thiêng, chỉ khác nhau là lực lượng thi hành… đây là khái niệm sơ yếu…
Tổ không cấm em hành đạo công giáo nhưng không được quên cúng Tổ những ngày rằm và 30 hằng tháng. Anh hỏi, thế nào em có chấp nhận không? tôi nói có. Anh biểu tôi quì xuống, anh đặt 2 tay lên đầu tôi, lâm râm tiếng Lèo, tôi không hiểu, anh bảo tôi ngước mắt lên trời xá 3 xá, tôi làm như vậy. Anh ngó quanh hái, ngắt, bốc vỏ bất cứ thứ gì, anh tự nói, đủ rồi (5 màu) ngũ sắc, anh cầm lấy cây nhang quơ quơ như vẽ bùa miệng đọc tiếng Lèo, dùng giấy gói nhỏ như ¼ cái bì thư rồi đưa cho tôi nói : kể từ giờ phút nầy em là đệ tử phái Thiên Tiên, anh là Sư phụ của em, cái gói nầy là Ngũ Sắc, cấp cho em giữ trong mình có 2 lý do ; để chống lại các thế lực cỏi âm khác quấy phá em, để em được lực lượng Thiên binh bảo vệ trong thời gian học, tập…
Việc xưng hô, lúc em học với anh thì gọi anh là Sư phụ, xưng là Đệ tử, ngoài ra thì vẫn gọi nhau là anh em bình thường.
HỌC BÙA :
Anh trao cho tôi quyển sổ tay nhỏ (bỏ vào túi áo được) và cây viết đỏ, anh vẽ trước 5 chữ bùa bằng bút chì có ghi câu thần chú phía dưới. Anh giải thích; mổi chữ bùa đều khác nhau, đó là ký hiệu hình ảnh của Tiên nào đó và phụ trách vai trò nào đó, còn câu thần chú là tên của Tiên ấy. Chữ bùa thứ 1 là Tiên “Bảo Mẫu” chuyên trách nuôi dạy trẻø thơ. Chữ bùa thứ 2 là Tiên “Bác sĩ” chuyên trách lo sức khỏe trẻ thơ.v.v… Anh bảo tôi tập vẽ lại cho thật đúng, khi vẽ nín thở, vẽ xong đọc câu thần chú ghi sẳn. Tập mãi, tập mãi cho đến có trình độ tưởng tượng trong đầu mới gọi là thuộc, vì đôi khi ta không có phương tiện để vẽ, ta có thể vẽ bằng mắt, hoặc dùng ngón chân cái vẽ dưới đất. Anh nói khi nào Năm thuộc lào 5 chữ bùa nầy anh cho em học 5 chữ bùa khác. Tôi quyết tâm chuyên chú học nên chỉ một buổi sáng là quá thuộc, có thể so sánh như thuộc gương mặt Má tôi và tên Má tôi vậy. Anh cho tôi thêm 5 chữ bùa khác. 10 chữ bùa đầu tiên nầy dùng: bảo vệ trẻ thơ nói chung, chữa trị các bệnh con nít khóc “dạ đề” (đứa bé luôn khóc mỗi hoàng hôn cho đến 9-10 giờ tối) khóc không biết lý do, ngủ hay giựt mình, cầm máu đứt tay, chân.v.v…
Tiếp ngày càng học nhiều chữ bùa khác như : học vấn, ngành nghề, bình an, thương yêu, chống tà ma quấy phá, chống những Thầy Pháp, Thầy Bùa hại người.v.v…
Thắm thoát mà 6 tháng trôi qua tôi đã xa quê, tôi bồn chồn háo hức, tôi xin Anh trở về nhà, anh trầm ngâm rồi gật đầu nói ; tuần tới nghen, ở ít hôm nữa rồi về, tôi đành phải nghe lời anh.
Một ngày gần cuối tuần, anh dặn tôi, tối nay lúc 8 giờ em đến nơi vườn hôm trước có anh chờ em ở đó, chúng ta cử hành lễ. Khi tôi đến thì thấy có thêm 1 người đàn ông và 1 người đàn bà, có một cái bàn, trên bàn có mâm bánh cốùm và nhang, đèn.
Anh nói: Hôm nay Sư Phụ cử hành lễ cho Đệ Tử “Xuất Sư”, về trình độ đệ tử đã học các “chữ bùa bắt hồn” là cấp độ thượng thượng rồi đủ năng lực làm “Sư”, về sau nếu cần yểm trợ thì Sư phụ giúp tiếp, đệ tử quì xuống. Anh giới thiệu 2 người kia là để “ngồi đồng”, Nam là đại diện cho Tiên, Thánh, Thần. Nữ đại diện cho Bà Chúa Xứ. Anh đốt nhang, đèn, đứng chấp tay khấn vái, quay sang người đàn ông kia đã trùm khăn đỏ, nói tiếng Lèo… Người nam ngồi lắc lư, gục gật đầu trả lời bằng tiếng Lèo, một lát sau Anh quay sang người Nữ kia cũng trùm khăn đỏ dối thoại nhau bằng tiếng Lèo… Anh lớn tiếng thì nữ “ngồi đồng” kia cũng lớn tiếng… Anh trở lại bàn và gieo quẻ, tất cả 6 lần. Anh quay sang tôi lớn tiếng nói : Nhân danh Tổ phái Thiên Tiên, Ta Sư Phụ Hậu cho phép Đệ tử , “xuất Sư” như Ta, từ nay Đệ tử có danh xưng là “Thầy Năm Nhỏ”. Ta phong cho Thầy Năm Nhỏ 1 triệu thiên binh gồm có các tướng lãnh theo phụng sự dưới quyền điều động của Thầy kèm theo quyển sách “Bùa” và “Kinh kệ”ä tiếng Lèo.
Anh trao cho tôi một sợi dây 5 màu, đánh như thắt bính to bằng ngón tay cái, dài 7 tấc. Anh nói đây là “Sắc lệnh” Tổ ban cho để hành sự, Thầy đeo vào cổ hoặc gói bỏ vào túi áo tinh khiết, luôn luôn giữ gìn cẩn thận. Tôi tự xá 3 cái như tỏ lòng cám ơn Tổ, rồi xá Sư Phụ Hậu tỏ lòng tri ân. Anh đỡ tôi đứng lên, dẫn tôi đến trước mặt 2 người “ngồi đồng” và nói : Tôi giới thiệu với các Tiên Thánh Thần và Bà Chúa Xứ, đây là Thầy Năm Nhỏ, xin quí Vị niệm tình Tổ chúng tôi mà ủng hộ cho, riêng Bà Chúa Xứ thì không được phá bỉnh như lúc nảy đã hứa. Tôi định xá mỗi người một cái, thì Sư phụ tôi nói chỉ cúi đầu chào thôi vì đã là “Sư” rồi. Anh đọc gì đó rồi gở 2 khăn đỏ ra, rồi đỡû 2 người ấy đứng lên. Anh mời tất cả về nhà dùng trà, bánh. Anh cám ơn 2 người và tặng mỗi người gói gì đó.
Anh nói riêng với tôi; lúc cử hành lễ các Tiên Thánh Thần chấp nhận em làm “Thầy”, còn Bà Chúa Xứ thì không, Bà nói em có đạo không xứng đáng làm Thầy Bùa, anh và Bà ấy tranh luận dù anh nói thế nào Bà ấy vẫån từ chối. Sau cùng anh yêu cầu Bà không được “phá” em, thì Bà ấy nói “cũng được”, có nghĩa là Bà ấy không coi em là “Sư” nhưng im lặng làm ngơ hành vi của em. Em nhớ luôn luôn giữ kín tung tích làm Thầy Bùa của mình và khiêm nhượng, thì tránh được phiền toái đố kỵ của những Thầy Bùa khác, càng làm nhiều điều thiện thì càng tích lũy công đức.
Tuyệt đối không được lấy bổng lộc của ai. Anh tặng thêm cho tôi một quyển vở học trò, bên trong chính anh viết những câu tiếng Lèo phiên âm tiếng Việt và giải nghĩa, anh nói lúc rảnh rang em học nói để trò chuyện cùng Tổ, cũng là trò chuyện với anh khi em khấn vái, hai anh em mình cùng đối thoại dù ở xa nhau. Kể từ ngày mai em muốn về lúc nào thì về. Tôi vô cùng xúc động ân tình của anh…
TRẢ THÙ :
Quê tôi, những con người bình dị chất phác lam lũ ruộng vườn. Vẫn các mái nhà cũû kỷ không ai màng sửõa sang vì chiến tranh. Vẫn cái Đồn lính kênh kiệu với những hàng rào bao thủ, khác hơn là Tám Sự không còn là lính, mà là Trưởng Đồn, ngày càng hách dịch quen thói hà hiếp dân…
Má tôi ánh mắt rực sáng niềm vui con trở về, nhưng có gì đọng lại trong sâu thẳm khó nguôi. Người nói, lạ lắm, trước đây 3 ngày có ông Thầy Tư Đê (Thầy Pháp vùng tôi) lầm bầm đi quanh nhà mình 3 vòng rồi đi mất. Tôi không vội vàng chuyện trả thù, thăm hỏi tình hình và sức khỏe Người. Lòng tôi xung đột mâu thuẫn nhau, khi thì trả thù, “ếm” cho “nó phải khổ sở”û, lúc thì “không” để “tích đức như Sư Phụ dạy”.
Qua sáng ngày hôm sau tôi đang ngồi luyện “bùa” thì cảm như bị trúng gió, tôi rùng mình đứng lên bắt gặp ông Năm Râu bước vào trước sân nhà tôi. Ông nầy ai cũng xì xèo là Thầy Bùa nhưng chưa thấy ông có hành vi nào. Ông đứng nhìn tôi khoảng 5 phút, không nói gì rồi bỏ đi.
Tiếp theo 2 ngày nữa, tức là tôi trở về được 4 ngày, vào trưa, tên Tám Sự (Đồn Trưởng) đến nhà tôi nói chuyện với Má tôi, tôi nghe loáng thoáng :
……Tôi xin lỗi Cô… xin Cô tha thứ, và Cô cầm số tiền nầy gọi là đền bù tiền thuốc men chữa trị ngày trước… Má tôi :…… tui không giận hờn gì cả…, tui không mượn nợ thuốc thang…., tui không nhận tiền đâu….., chuyện đã qua rồi….
Một lát sau tôi thấy tên Tám Sự quì lạy Má tôi và nói : Cô không tha tôi thì tôi chết mất….Má tôi : Trời ơi, Tám nói gì kỳ vậy, Tám là Đồn Trưởng có lính, có súng ống ai làm gì được Tám, thôi đi…. Tám Sự : Cô không tha, thì chú Năm giết tôi, câu nầy lập đi lập lại mãi.v.v…Má tôi : nó là thằng con nít biết gì… thôi đưọc Tám về đi, tui hỏi lại nó… tên Tám Sự lạy Má tôi mấy lạy gì đó mếu máo Cô nói chú Năm tha cho tôi nghen… ra về.
Má tôi nói, con nghe thấy hết phải không, cái thằng Tám Sự nó khùng chăng? Tôi cười… tôi đã hiểu một phần nhờ Thiên Binh báo cho tôi cảnh giác, phần khác là tò mò xem xem…
Tôi thường la cà với những gia đình có con trang lứa với tôi, tôi dùng “bùa” thí nghiệm chữa trị đau ốm bệnh tật mà không ai phát giác tôi là Thầy Bùa, vì mỗii lần dùng “bùa” tôi đứng trước bàn thờ của gia đình đó đọc kinh cầu xin Chúa. Những người té ngã trặc tay chân, đau đầu, đau bụng khỏi bệnh tức thời, kể cả những ca trặc tay, chân cũng cầm cầy, cầm cuốc lao động ngay, tôi công nhận quả thật là linh. Tôi hí hửng tìm người có bệnh chữa cho, dần dà thiên hạ đồn ầm lên “nhờ thằng Năm, cậu Năm, thầy Năm Nhỏ” cầu nguyện cho, tuyệt đối không ai tin tôi là Thầy Bùa cả vì tôi còn là con nít mà. Vậy mà vẫn có người biết đó các bạn đọc… : hai người, ông Thầy Pháp Tư Đê và ông Năm Râu.
Biến cố không ngờ tới, vài tháng sau lúc 10 giờ sáng có một toán lính chừng 20 người, từ nơi khác nhởn nhơ vào xóm chúng tôi, trong Đồn bắn 3 phát súng, toán lính ngoài nầy cũng bắn 3 phát súng, (hiệu lệnh nhận nhau) rồi hô lên lính của Quận Sơn đây, (Quận Trưởng Chợ Lách) phát lương. Toán lính nầy vào đồn, vài tiếng súng nổ rồi đồn bị cháy, 6 tên lính trong đồn bị trói thúc ké trong đó có tên Tám Sự (trói 2 tay ra sau lưng). Đây là chiến thuật của phe đối nghịch giả danh phe nhà đánh úp.
Toán lính dẫn 6 lính của Đồn ra khu đất trống, tập họp dân chúng xét xử 6 tên lính trong đồn, tôi có mặt trong đám đông nhưng xa xa bên ngoài, một người có vẻ như cầm đầu trong toán lính đọc bản án gọi 6 lính nầy là bọn ác ôn, nợ máu nhân dân, tử hình tại chổ tên Trưởng Đồn, 5 tên còn lại mang đi giáo huấn cải tạo. (thời gian trước năm 1975) Dân chúng giải tán mãn nguyện, phần tôi cho là nhân quả; gieo nào gặt nấy, nhờ sự cố nầy lòng tôi không còn xung đột nữa.
Theo đây là chuyện kể của Thầy Tư Đê.
Một tối, “tôi” (Thầy Tư Đê) nhìn lên trời thấy sao xẹt về hướng đồn lính, sáng hôm sau tôi gặp Tám Sự ngoài đường, mặt Tám Sự bị “ám” (dạng gặp điều dử) tôi nói : chú Đồn Trưởng ơi, tôi xem chú gần đây sẽ bị nạn, chú đề phòng hoặc đã gây ân oán thì người ta trả thù đấy…
Chiều tối Tám Sự đến nhà tôi nói: năm rồi, nóng tánh có đánh cô Tám.v.v… nhờ tôi xem có phải vì chuyện nầy không. Tôi bấm “nham độn” (một loại bề ngoài như bùa bát quái, nhưng không phải Kinh dịch) “âm binh” báo cho tôi biết vài ngày nữa sẽ có một Thầy Bùa về đây báo thù cho người thân, tôi kết hợp sự việc Tám Sự đánh nguời và âm binh mách bảo thì quá rõ ràng, tôi trả lời Tám Sự : đúng như vậy. Tám Sự xin tôi bằng cách nào giúp cho đương sự qua khỏi tai nạn. Tôi đến nhà Cô Tám đem theo vô số âm binh bố trí quanh nhà Cô Tám, nhằm khi Thầy Bùa nào đó đến sẽ bị âm binh của tôi hãûm hại. Tôi không ngờ Thầy Bùa lại là thằng nhỏ, cao tay ấn (trình độ cao và có nhiều Thiên binh) âm binh của tôi không làm gì được. Tôi trả lời Tám Sự là nguy to rồi, tôi không ngăn cản được Thầy Bùa kia, Chú nên đến xin lỗi người ta và đền bù tiền thuốc, cần lạy người ta thì cũng phải làm. Mặt khác, chính Bà Chúa Xứ cấm tôi đụng đến thằng nhỏ đó. (Bà nầy không công nhận tôi là Thầy Bùa như đã nói ở trên).
Lời kể của ông Năm Râu,
Mình là dân đen, mong hai chữ “bình an” ngày cơm 2 bữa không đụng chạm ai, bà con tin tuởng nghề thuốc của mình thì hái thuốc sao chế cho bà con. Một hôm ông Đồn Trưởng đến cầu khẩn nhờ tôi giúp ngăn chận nhà Cô Tám báo thù. Tôi biết chút đỉnh bùa nhằm kết hợp với thuốc chữa trị bệnh, đâu có âm binh để chống tà ma, từ chối thì làm sao yên thân với lính tráng thơiø buổi nhiễu nhương nầy. Tôi hứa với Tám Sự, nhưng lo lắng cho Cô Tám người hiền lành, không mất lòng ai. Trước sân nhàø Cô, tôi nhìn thấy chú nhỏ ngồi trong nhà mà chung quanh có rất nhiều quân tướng thiên binh phò tá, tôi tự đánh giá không xong rồi và trả lời Tám Sự, Thầy Bùa là chú nhỏ đó, tuy chú ấy còn nhỏ nhưng được bậc cao minh truyền dạy nên rất cao tay ấn, tôi không làm gì được. Tám Sự cùng đường rồi, dùng súng thủ tiêu người thì ở tu,ø không dám…
Thưa quí đọc giả, chuyện “TÔi LÀ THẦY BÙA BẤT ĐẮC DĨ” đến đây là hết, tôi xin được tâm sự một ít điều, chỉ thuần túy“TÂM SỰ” mà không có ý đề ra quan điểm nào mong quí đọc giả thông qua cho.
- Một sự trùng họp thú vị hiện tại Đài Truyền Hình Tp.HCM kênh 7, vào mỗi chiều từ lúc hơn 17 giờ chiếu “Phim Bãng Phong Thần” (Trụ Vuơng mê Đắc kỷ, Tiên và yêu tinh) của Trung Quốc. Mọi người đều biết, đã là phim truyện thì không khòi hư cấu, tuy nhiên về phương diện văn hóa phải có điểm nào đó xây dựng và giáo dục.
- Vừa qua vào buổi sáng ngày 12-7-2007, tại Tòa Soạn tập san Thánh Nhạc Ngày Nay, Linh Mục Minh Kông Giáo Phận Kontum, Ngài trả lời nhiều vấn đề thuộc mạn truyền giáo cho người Dân Tộc thiểu số ; “về bùa chú, thư, ếm hiện vẫn còn trong cộng đồng các dân tộc nầy, đặc biệt người chưa vào đạo bị hại và bị chết… ma quỉ có đủ năng lực hại người… Người có đạo thì không bị hại…”
- Cá nhân tôi không coi Bùa Chú là cứu cánh mà là phương tiện, tôi sung sướng khi giúp được những anh thanh niên đến tuổi thi hành quân dịch được trả về với lý do : không đủ sức khỏe.
Những người ốm đau chóng khỏi bệnh tật. Ngăn chận các hành vi xấu từ Thầy bùa cũng như ai tham lam, du đảng, trộm cướp…
- V.v…
BẾN TRE, ngày 12 tháng 7 năm 2007 (lúc 21 giờ 30)
Thanh Sử
Wednesday, 2. January 2008, 18:01:24
f
Tuesday, 1. January 2008, 12:39:20
Năm 2007 khá nhiều điểm thú vị. hãy cùng lướt qua:
1. Trang Web thú vị nhất:
www.updatesofts.com/forums --- UDS
2. Trang Web có diễn đàn lớn nhất:
www.ttvnol.com/forum ---- Trái Tim Việt Nam
3. Trang Web có lượt truy cập nhiều nhất:
www.updatesofts.com/forums --- UDS
4. Trang Web mới xuất sắc nhất:
www.uminhcoc.com ---- U Minh Cốc
5. Trang Web XXX hay nhất:
www.mocxi.com - Mốc Xì Family
6. Trang Web chuyên về phần mềm hay nhất:
www.softvnn.com --- SoftVNN
7. Trang Web chuyên về Ebook hay nhất:
www.thuvien-ebook.com - Thư Viện Ebook
8. Trang Web chuyên về nhạc hay nhất:
www.yeuamnhac.com --- Yêu Âm Nhạc
9. Trang Web chuyên về phim hay nhất:
www.i4vn.com --- I4VN
10. Trang Web báo điện tử hay nhất:
www.bbc.co.uk/vietnamese --- BBC Việt Nam
11. Trang Web lưu trữ, chia sẻ dữ liệu tốt nhất:
www.Rapidshare.com
12. Trang Blog thú vị nhất:
Blog anh Misha.
13. Trang Web chuyên ngành hay nhất:
www.ketcau.com/forum --- Kết cấu
-------------------------------------------------
Hai trang Web hàng đầu là Updatesofts.com/forums và ttvnol.com/forum
Vì 2 Forums này quá lớn nên có thể chia nhỏ ra:
1. Box hay đặt chân tới nhất: Hỏi gì đáp nấy (TTVN)
2. Box giảm Stress hiệu quả nhất: OTC - Offline_Topic_Chatting (UDS)
3. Box có nhiều điều bất ngờ nhất: Special Zone (UDS)
4. Thành viên có nhiều đóng góp nhất của năm: Because_gt (UDS).
--------------------------------------------------
10 Phần mềm hữu ích nhất trong năm:
1. Auto Power-on & Shutdown 1.52 (Copyrighted)
2. Smart Capture 1.12
3. JLC's Internet TV 1.1.0
4. SopCast
5. Symantec Antivirus (Now Kaspersky 7.0.0.125 (Copyrighted)
6. ACDSee 10 Photo manager + FotoSlate + ACDSee Photo Editor (Copyrighted)
7. AutoCad 2007
8. Sap2000 9.0.3
9. Advanced Uninstaller Pro 2008
10. MP3 Cutter & Joiner
---------------------------------------------------
Best XXX Actress: Asami Kanno (Phan Kim Liên - Kim Bình Mai)
Best XXX Film: Kim Bình Mai
Best Comedy Film: Who Slept with her ? (Cô thực tập quyến rũ)
Best Film of 2007: Lord of War
Best Artist: Nicolas Cage
Best OST: Dark Tale (Truyền thuyết Liêu Trai)
The Most Depressed Film: Lust, Caution (Sắc Giới)
----------------------------------------------------
Best Player of 2007: Alexander Hleb
Best Oversea Singer: Như Quỳnh
*Best Oversea Songs:
Giọt lệ Đài trang
Để quên con tim - Ngọc Lan
Hành trình trên đất phù sa - Hạ Vy
Bông bưởi hoa cau - Lily Droivo
Em đi trên cỏ non - Hương Lan
Kẻ ở miền xa - Quang Lê
Bao giờ ta gặp lại - Như Quỳnh
Ánh trăng lẻ loi - Loan Châu
Khi cô đơn em gọi tên anh - Thu Phương
*Best Vietnamese Songs:
Sorry I love you - Minh Phương
Đêm thấy ta là thác đổ - Quang Dũng
Những mùa hoa bỏ lại - Quang Dũng
Công chúa bong bóng - Bảo Thy - 2B
Nụ hôn và giọt nước mắt - Lâm Chấn Huy
Ngôi nhà hoa hồng - Bảo Thy - Quang Vinh
Đất nước lời ru - Thu Hiền
Nơi đảo xa
Lỗi lầm - Phan Đình Tùng - Ngô Mai Trang
Giấc mơ dịu êm - Thùy Lâm
*Best Internatonal Songs:
Moscow ngày về chiến thắng
Big girl don't cry - Fergie
Wait 'til you hear from me - Shara Conner
Promise me - Beverly Craven
Soviet National Anthem
You complete my soul - Marc Ternezie
*Best Chinese Songs: Not rank due to the violation about Spratley & Paracel Archipelagos.
Rút kinh nghiệm năm 2007, những thông tin cá nhân, nhạy cảm sẽ không post ở đây, tránh bị lợi dụng vào những mục đích khác.
(Nói như vậy thì chắc là 'ai đó' tự biết rồi đấy)
Monday, 31. December 2007, 08:28:08
Soft để convert Ebook:
Đặt 1 cục gạch, lúc khác viết ...
Saturday, 15. December 2007, 05:33:41
Sailing - N'sync
(bài hát mà mình tưởng nó đã không còn trên mạng, hôm nay ship được tại Amazon.com)
http://www.youtube.com/watch?v=NqQrC7AYO7YLink Dowload:
YouTube - sailing N'sync.flvLyric : N Sync - Sailing
Album : N Sync
Well it's not far down to paradise
At least it's not for me
And if the wind is right you can sail away
And find tranquility
Oh the canvas can do miracles
Just you wait and see
Baby believe me oh
It's not far to Never Never Land
No reason to pretend
And if the wind is right you can find the joy
Of innocence again
Oh the canvas can do miracles
Just you wait and see
Baby believe me oh
Sailing (takes me away)
Takes me away
To where I've always heard it could be
(I heard it could be)
Just a dream and a wind to carry me
(Soon I will be free)
Soon I will be free, yeah
Fantasy, it gets the best of me
When I'm sailing, sailing
All the world in a reverie
Every word is a symphony
Won't you believe me, oh
Sailing (takes me away)
(Takes me away)
Takes me away to where I want to be
(To where I've always heard it could be)
(I heard it could be)
Just a dream and a wind to carry me
(Soon I will be free)
Soon I will be free
Well it's not far back to sanity
At least it's not for me
And if the wind is right you can sail away
And find serenity
Oh, the canvas can do miracles
Just you wait and see
Baby believe me, oh
Sailing (takes me away)
Takes me away
(To where I've always heard it could be)
I heard it could be
(Heard it could be)
Just a dream and a wind to carry me
(Soon I will be free)
Soon I will be free, free
(Sailing takes me away)
(To where I've always heard it could be)
I heard it could be
(I heard it could be)
Just a dream and a wind to carry me
(Soon I will be free)
Soon I will be free, yeah
Tuesday, 11. December 2007, 10:53:45
dfd
Thursday, 6. December 2007, 16:57:15