Lock's Diary

Super DangerRous of Vietnam :"3

Subscribe to RSS feed

ko biet

đặc điểm NT "tảng băng trôi" qua đoạn trích:
*phần nổi:Hành trình tìm kiếm, theo đuổi và chinh phục bằng được con cá kiếm của ông già Xan-ti-a-go.
*phần chìm:
+Hành trình nhọc nhằn & dũng cảm của người LĐ
+Người nghệ sĩ trong hành trình gian khổ theo đuổi ước mơ bình thường, giản dị nhưng rất khác thường cao cả mà con người ít nhất theo đưổi 1 lần trong đới, và biến ước mơ dó thành hiện thực.
+Mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên(con cá kiếm: biểu tượng cho vẻ đẹp, tính chất kiêu hùng, vĩ đại của tự nhiên). Trong mối quan hệ với con người, thiên nhiên không phải lúc nào cũng là kẻ thù, đôi khi thiên nhiên còn là người bạn, là đối thủ cùa con người.
+Hành trình khám phá, chinh phục vẻ đẹp thiên nhiên của con người
+Con đường đi đến thành công hiếm khi bằng phẳng.
+Bài học về niềm tin vào bản thân, vào sứcmạnh và khả năng tồn tại của con người trong cuộc sống.

Trước hết người đọc phải cảm ơn Phùng vì từ cái đơn đặt hàng của trưởng phòng về một bức tranh cảnh biển mù sương để bổ sung cho tờ lịch tháng bảy năm sau. Phùng đã trở về với chiến trường xưa của mình – một vùng biển miền Trung cách Hà Nội 600 km. Cũng tại đây, việc tìm một bức tranh cảnh biển mù sương rất khó, bởi bây giờ là tháng bảy. Mặt khác, để tìm được một bức ảnh đẹp quả là khó bởi nơi đây vẫn còn in đậm những tàn tích của chiếc tranh, đó chính là hình ảnh bãi xe tăng hỏng, những chiếc xe rà phá mìn của công binh Mỹ để lại làm cho vùng biển trở nên nhếch nhác. Nhưng bằng tâm hồn người nghệ sĩ và lòng yêu nghề, Phùng đã thu vào ống kính của mình một bức tranh đẹp. Đó là bức tranh cảnh biển mù sương với chiếc thuyền lưới vó “Mũi thuyền in một nét mơ hồ lờ nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im như tượng trên chiếc mui khum khum đang hướng mặt vào bờ”. Đây là một bức tranh đúng như yêu cầu của trưởng phòng, rất tĩnh vật. Một bức tranh nghệ thuật mang vẻ đẹp hư ảo, huyền hoặc. Bức tranh đẹp đã làm cho trái tim người nghệ sĩ rung động “Trái tim tôi như có gì bóp thắt vào”, tâm hồn người nghệ sĩ phút chốc thăng hoa, vẻ đẹp khiến người nghệ sĩ nhìn thấy cả sự toàn bích, giúp người nghệ sĩ thanh lọc tâm hồn. Bức tranh khiến Phùng ngây ngất và có thể sẽ kéo dài mãi cảm giác sung sướng đó nếu như chiếc thuyền ấy mãi ở ngoài xa. Nhưng sự nghiệt ngã lại bắt đầu khi “Chiếc thuyền đâm sầm vào chỗ tôi đứng”. Cảm xúc Phùng bị dập tắt, bức tranh Phùng vừa thấy cũng bị đập vỡ bởi sự thật cuộc đời trần trụi, đó chính là sự thật về một gia đình làng chài với người đàn bà cam chịu, một lão chồng cay nghiệt cùng đàn con trên chiếc thuyền lênh đênh giữa đại dương sóng gió.

Và cũng từ đây người đàn bà đã đến với người đọc bằng xương bằng thịt, bằng nghiệt ngã cay đắng và bằng nhân hậu bao dung. Chị ấn tượng với người đọc bởi ngoại hình khó coi “Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Ở chị còn phơi lộ sự nghèo đói, nhếch nhác “Tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng”. Mới nhìn thoáng qua, người đọc nhận thấy điều gì đó bất ổn ở chị, dường như đó là vẻ cam chịu ở con người quen với nhọc nhằn lam lũ cho nên chị chẳng còn quan tâm gì đến bản thân nữa, ngay cả ý định “Đưa cánh tay lên có lẽ định gãi hay xõa lại mái tóc” cũng xao xác tan mau “chị lại buông thõng xuống”.

Điều khiến Phùng và người đọc hết sức ngạc nhiên là ở thái độ của chị. Đó là một thái độ cam chịu đầy nhẫn nhục. Chồng chị - một gã đàn ông vũ phu “đầu tổ quạ”, “đôi mắt độc dữ dấu dưới đôi lông mày cháy nắng”. Lão đã hành hạ chị như trút hết tất cả hận thù, cay đắng, nghiệt ngã lên lưng chị bằng một trận mưa dây thắt lưng của lính Ngụy ngày xưa. Nhưng người đàn bà lại gồng mình gánh chịu mà không hề trốn chạy, kêu la, không tìm cách chống trả, làm cho trái tim Phùng và người đọc thắt lại vì căm phẫn và xót thương.

Đi suốt chiều dài thiên truyện, người đọc không hề biết đến tên của chị, khi thì nhà văn gọi bằng “chị ta”, lúc thì gọi bằng “Mụ”, “người đàn bà hàng chài”. Vì sao Nguyễn Minh Châu không đặt tên cho người đàn bà này ? Bởi chị cũng như bao người đàn bà ở vùng biển nghèo khổ này, chị là người vô danh. “Đây chính là một lối viết rất quen thuộc của Nguyễn Minh Châu sau 1975, nhà văn không hề tô vẽ cho nhân vật của mình. Người phụ nữ hiện lên không phải tấm gương lung linh thể hiện phẩm chất lý tưởng của con người. Nhân vật xuống hiện với sự nhẫn nhục câm lặng trước trận đòn tàn bạo của chồng, gợi cảm giác bức bối. Nhưng kiên trì theo dõi cuộc đời nhân vật, người đọc khám phá ra những vẻ đẹp rất người, lặng lẽ nhưng đáng trân trọng ở bà” (Đinh Hà Triều).

Ở tòa án huyện, lúc đầu thì chị xuất hiện bằng hình ảnh rụt rè. Chị tìm đến góc công đường để ngồi. Chị ngồi trong thế ngồi bị động, như một con thú xù lông để tự vệ mặc dù đã được Phùng và Đẩu cảm thông, chia sẻ. Lúc đầu chị xưng hô “Con - quý tòa”, sau khi lấy lại được sự thăng bằng thì chị đột ngột chuyển đổi cách xưng hô: “Chị - các chú”. Nguyễn Minh Châu đã nhấn mạnh sự thay đổi ngôn ngữ và thân thế người đàn bà với ý nghĩa : Giờ đây chính chị là quan tòa đang phán xét Phùng và Đẩu, dạy cho Phùng và Đẩu một bài học về cách nhìn đời, nhìn cuộc sống. Thật thế chăng ?

Sở dĩ người đàn bà chấp nhận chuyện bị chồng đánh đập như việc những người đàn bà trên thuyền vẫn chấp nhận chuyện người đàn ông uống rượu là bởi vì chị là một người phụ nữ giàu lòng nhân hậu, vị tha, chấp nhận tất cả thua thiệt về mình. Khi người đàn bà nói “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó”, đây là câu nói khiến Phùng và Đẩu ngạc nhiên và vỡ lẽ đằng sau câu chuyện của người đàn bà hàng chài. Lão chồng vũ phu ấy đối với chị có hai cái “Ân” : ân huệ và ân nhân. Chị tự nhận thức: vì mình xấu, bị cái xấu đeo đuổi như định mệnh từ lúc còn nhỏ, trận đậu mùa để lại di chứng trên mặt chị là những nốt rỗ chằng chịt, theo năm tháng càng lớn lại càng xấu, càng già đi lại càng khó coi. Và vì xấu nên việc có mang với anh hàng chài là một ân huệ. Còn việc hắn đưa chị lên thuyền để chung sống đã đem hắn trở thành ân nhân. Vì là ân nhân cho nên chị không thể bỏ.

Chị cũng nhận phần thua thiệt về mình “Cũng tại đàn bà ở thuyền chúng tôi đẻ nhiều quá”. Và vì thuyền chật con đông nên cuộc sống khốn khó, có lúc phải ăn xương rồng luộc chấm muối. Trong suốt câu chuyện dài dằng dặc của đời mình, tuy khó khăn nhưng người đàn bà không tỏ ra oán giận chồng, ngược lại còn bênh vực chồng bởi chị cho rằng lão chồng chị không xấu, “trước kia là một anh con trai hiền lành nhưng cục tính”, từ ngày lấy chị thì cuộc sống khốn khó, vất vả cho nên lão chồng đã xem việc đánh vợ là một phương thức giải tỏa những bức bí của cuộc đời. Như vậy, chị là người rất hiểu chồng, thương chồng, chồng chị là nạn nhân của sự đói nghèo thất học, hắn vừa đáng thương lại vừa đáng tội, đáng tội vì hắn gây ra biết bao đau thương cho người thân, đáng thương vì hắn là nạn nhân.

Ẩn đằng sau lớp vỏ tưởng chừng vô cảm, thất học kia, chị rất thấu hiểu lẽ đời, chị hiểu thế nào là “nổi vất vả cơ cực trên một chiếc thuyền không có người đàn ông”, chị và sắp nhỏ sẽ sống như thế nào khi không có “người đàn ông chèo chống lúc phong ba bão tố”. Giả sử Phùng và Đẩu bắt được người đàn bà bỏ chồng thì hóa ra lòng tốt của các anh lại biến các anh thành tội đồ bởi các anh đã đẩy người đàn bà và những đứa con chị đến chỗ thê thảm của cuộc sống. Ở gần cuối câu chuyện, khi Phùng đi lang thang dọc biển rồi quay trở lại vùng đầm phá trong cơn giông gió nổi lên, Phùng đã nhìn thấy giữa mặt phá mênh mông, giữa lúc tất cả con thuyền khác vào nơi trú ẩn an toàn thì vẫn còn chiếc thuyền lưới vó dập dềnh chao đảo trong bão gió và sóng dữ. Thử hỏi nếu không có người đàn ông trên chiếc thuyền ấy thì số phận chiếc thuyền sẽ ra sao?

Vượt lên trên sự cay đắng và cơ cực ấy, tình mẫu tử của chị tỏa sáng, đó chính là đức hi sinh cao thượng của một con người mang thiên chức làm mẹ. Chị gồng mình gánh chịu đòn roi của chồng là bởi vì những đứa con “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được!”.Chị hiểu rằng bất kỳ một cuộc hôn nhân tan vỡ nào thì người buồn đau nhất chính là những đứa con, đứa có bố thì mất mẹ, có mẹ thì mất bố, chia đàn xẻ nghé. Chị quan niệm rằng một gia đình hạnh phúc là gia đình đầy đủ các thành viên dù đâu đó trong gia đình còn nhiều khiếm khuyết. Vì thương con mà chị quặn lòng gửi thằng Phác lên rừng ở với ông ngoại nó. Vì thương con và để tránh sự tổn thương cho những tâm hồn thơ bé nên chị đã bảo lão chồng “có đánh thì đưa chị lên bờ mà đánh”. Chị giống như con gà mẹ xòe đôi cánh che chở cho đàn con trước sự tấn công của loài chim ăn thịt. Chính tình mẫu tử thiêng liêng cao thượng đã chấp cánh cho chị, đưa đàn con bay vút lên trên sự cơ cực, đói kém, nhọc nhằn và lam lũ. Chị chắt chiu dành dụm từ những niềm vui nhỏ nhất “Vui nhất là thấy đàn con chúng tôi được ăn no” để khỏa lấp những nỗi đau, để xoa dịu nỗi đời cay cực.

“Chị cũng là người đàn bà giàu lòng tự trọng. Chỉ sau khi biết được hành động vũ phu của tên chồng bị thằng Phác và người lạ chứng kiến, chị mới thấy “Đau đớn – vừa đau đớn vừa xấu hổ, nhục nhã”. Chắc chắn đây không chỉ là sự đau đớn về thể xác. Giọt nước mắt đau khổ của người đàn bà trào ra, chị không muốn bất cứ ai chứng kiến và thương xót, kể cả thằng Phác (đứa con yêu của chị) và nhất là một người lạ. Thân thể bị chà đạp, nhân phẩm bị xúc phạm nhưng người đàn bà ấy không hề bận tâm – một sự nhẫn nhục của con người có nhân cách, có lòng tự trọng và thấu hiểu lẽ đời, có một tình thương con vô bờ bến” (Nguyễn Duy Kha)

Như vậy, qua hình tượng người đàn bà hàng chài cùng tình huống truyện mang tính nhận thức và khám phá, nhà văn muốn gửi người đọc một thông điệp về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phổ quát để phát hiện ra vẻ đẹp ẩn sau vẻ ngoài hiện tượng. Phùng chụp được bức ảnh chiếc thuyền ngoài xa dập dềnh trong sương sớm nhưng nó chỉ thực sự đẹp khi nó ở ngoài xa – một khoảng cách đủ để tạo một vẻ đẹp huyền ảo nhưng sự thật cuộc đời rất gần. Bức tranh đẹp làm hài lòng trưởng phòng và các gia đình sành nghệ thuật nhưng chủ nhân của nó là Phùng lại không hài lòng bởi nó chưa vươn tới được bản chất của cuộc đời, chưa cất lên được tiếng nói của những con người lam lũ nhọc nhằn, nó chỉ thỏa mãn nhu cầu thị hiếu và là sản phẩm của cái nhìn dễ dãi trong cuộc sống. Từ đó nhà văn đặt ra trách nhiệm người nghệ sĩ: người nghệ sĩ trước khi biết rung động trước cái đẹp hãy là con người biết yêu ghét, vui buồn trước mọi lẽ thường, biết hành động để có được cuộc sống tốt đẹp, bởi nghệ thuật luôn gắn liền với cuộc đời, nghệ thuật phải vì cuộc đời, đó chính là nghệ thuật “Vị nhân sinh”.

Một điều nữa nhà văn muốn gửi gắm đó chính là vấn đề tiếp cận cuộc sống: cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Con người luôn có những quan hệ chằng chịt phức tạp. Bởi vậy nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng cuộc sống và con người không được dễ dãi, đơn giản, phiến diện, công thức. Chính vì có cái nhìn phiến diện mà Phùng và Đẩu mới bắt người đàn bà kia bỏ chồng. Khi và chỉ khi thấu hiểu tấm lòng người đàn bà hàng chài thì Phùng và Đẩu mới vỡ lẽ ra. Chính người đàn bà hàng chài đã dạy cho các anh bài học về cách nhìn nhận cuộc sống: Cuộc sống muôn hình muôn vẻ, nếu chỉ nhìn từ một phía thì sẽ đánh giá lệch lạc, phiến diện. Vậy cần phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều để từ đó đưa nghệ thuật vươn tới chiều sâu nhân bản “Nghệ thuật phải gắn liền với đạo đức”.

Làm nên thành công của hình tượng người đàn bà nói riêng và tác phẩm nói chung, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tạo ra một tình huống truyện mang tính khám phá, nhận thức, phát hiện đời sống. Ngôn ngữ kể chuyện khách quan, giàu sức thuyết phục mang đến cho người đọc nhiều bất ngờ thú vị và thương cảm lẫn cảm phục.

Người đàn bà hàng chài là hiện thân của vẻ đẹp về đức hi sinh, lòng nhân ái bao dung của người phụ nữ Việt Nam. Qua hình tượng này tác giả chia sẻ cảm thông của mình với những số phận đau khổ tủi nhục của những người lao động vô danh đông đảo trong xã hội. Lên án, đấu tranh với cái xấu, cái ác vẫn còn tồn tại trong từng gia đình. Phát hiện, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao động. Đồng thời đặt ra trách nhiệm cho đông đảo tầng lớp văn nghệ sĩ phải có cái nhìn đa diện nhiều chiều bởi nói như nhà văn “Con người thì đa đoan, cuộc đời thì đa sự”.


NG LĐ SĐ

I . Mở bài

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa , uyên bác , cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống . Ông có sở trường về thể loại tuỳ bút . Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà” . Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca ngợi người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông .

II . TB

1. Giới thiệu chung .

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” dược in trong tập tuỳ bút “Sông Đà” (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp,đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo.
Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ mộng, NT còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.”

Qua “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét thơ mộng, hùng vỹ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và trữ tình. Đồng thơi, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới : chất vàng mười của đất nước trong xây dựng CNXH qua hình ảnh người lái đò sông Đà.Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa.

2. Phân tích nhân vật người lái đò .

Người lái đò hiện lên trước hết là một người lao động từng trải , có nhiều kinh nghiệm đò giang , có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà. Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một :

“Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đat nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm m** mó hơn cả cái mặt nước chỗ này… Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền , một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn…

Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt m** bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. “Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”, người lái đò “phá luôn vòng vây thứ hai”. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Đến vòng thứ bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền --t qua cổng đá cánh mở khép. --t, --t, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Trong cuộc chiến không cân sức ấy , người lái đò chỉ có một cán chèo , một con thuyền không có đường lùi còn dòng sông dường như mang sức mạnh siêu nhiên của loài thuỷ quái . Tuy nhiên , kết cục cuối cùng , người lái đò vẫn chiến thắng , khiến cho bọn đá tướng tiu nghỉu bộ mặt xanh lè vì phải chịu thua một con thuyền nhỏ bé .

Người lái đò trong tác phẩm là một người lao động vô danh , làm lụng âm thầm , giản dị , nhờ lao động mà chinh phục được dòng sông dữ , trở nên lớn lao , kì vĩ , trở thành đại diện của CON NGƯờI . Người lao động nhờ ý chí kiên cường , bền bỉ , quyết tâm mà chiến thắng sức mạnh thần thánh của thiên nhiên . Đó chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc .


Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa. Khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh vi và siêu phàm. Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.

Quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống. Mà ngay ở những khúc sông không có thác lại dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ. Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm nguy. Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn kh**, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình. nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét : Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo. Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dế thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, chỉ có Nguyễn Tuân.

III . Kết bài

Tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật tài hoa uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân . Tác phẩm không chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ thơ mộng của thiên nhiên Tây bắc mà còn ca ngợi vẻ đẹp bình dị , anh hùng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây . Qua đó , nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ tình yêu đất nước , niềm tự hào hứng khởi , gắn bó tha thiết với non sông Việt Nam.





I. MB

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa , uyên bác , cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống . Ông có sở trường về thể loại tuỳ bút . Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút " Người lái đò sông Đà" . Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca ngợi người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông .

II . TB

1. Giới thiệu chung .

Tuỳ bút "Người lái đò sông Đà" dược in trong tập tuỳ bút "Sông Đà" (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp,đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo.

Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ mộng, NT còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là "thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc."

Qua "Người lái đò sông Đà", Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét thơ mộng, hùng vỹ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và trữ tình. Đồng thơi, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới : chất vàng mười của đất nước trong xây dựng CNXH qua hình ảnh người lái đò sông Đà.Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa.

2. Phân tích hình tượng dòng sông Đà .

Trước hết , con sông đà được Nguyễn Tuân miêu tả là dòng sông hung bạo , dữ dội . Khi hung bạo, sông Đà là kẻ thù số một sẵn sàng cướp đi mạng sống con người, có tâm địa độc ác như người dì ghẻ. Để khắc hoạ tính cách của sông Đà, tác giả đã dựng lại khúc sông nguy hiểm . Đó là đoạn cảnh đá bờ sông dựng đứng vách thành: chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu. Đó là quãng Hát Loóng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng , sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đây. Lại một đoạn sông khác, sông Đà là cái hút nước xoáy tít. Có những thuyền đã bị nó hút tụt xuống, thuyền trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi dến mười phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới..Nhưng dữ dội nhất là ở những thác đá. Nguyễn Tuân đã buộc sự dữ dội, nham hiểm của sông Đà phải hiện lên thành hình và gào thét bằng trăm ngàn âm thanh. Chưa thấy sông nhưng người ta đã bị đe doạ bởi tiếng thác nước nghe như oán trách gì, rồi lại như van xin, rồi lại như khiêu khích, giọng nghe gằn mà chế nhạo. Tác giả đã dựng lại cuộc thuỷ chiến giữa sông Đà và người lái đò để lột tả cho được tính hung bạo của nó và tài nghệ của người lái đò. Thác đá được xếp thành từng tuyến mà nhà văn gọi là thạch trận, nhằm ăn chết cái thuyền đơn độc. Ở tuyến một, thác đá mở ra năm cửa trận, bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn. Ở tuyến hai, tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại nằm bên phía hữu ngạn. Ở tuyến ba, bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống nằm ở giữa. Người lái đò phải nhắm đúng luồng sinh để vượt qua.

Bên cạnh tính cách hung bạo, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân con sông Đà lại rất trữ tình , gợi bao cảm xúc làm mê say lòng người. Khi trữ tình, sông Đà hiền hoà, mềm mại, huyền ảo như mái tóc của một phụ nữ kiều diễm: con sông tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mây mù khói núi Mèo nương xuân.

Không chỉ đẹp ở hình dáng, sông Đà còn gợi cảm ở màu sắc, mà tác giả đã bao lần dày công quan sát mới nói hết được vẻ độc đáo ấy: Mùa xuân dòng sông xanh ngọc bích (nghĩa là một màu xanh trong và sáng); mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đổ như mặt người bâm đi vì rượu bữa . Đặc biệt là không khí hoang dại, tĩnh lặng : Bờ sông hoang dại như bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Đề lột tả không khí đầy thơ ấy.Nguyễn Tuân đã tả đàn hươu ngẩng đầu ngơ ngác mơ một tiếng còi sương, và cái nắng tháng ba Đường thi Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu, gợi tâm sự của người tình nhân chưa quen biết ! Lúc này, không thấy đâu con sông Đà diện mạo và tâm địa độc ác, mà chỉ thấy tình cảm của dòng sông đối với con người như một cố nhân, xa thì thấy nhớ thương, gặp lại thì thấy mừng vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Còn con sông lại mang bao rung động yêu thương như nhớ những hòn đá xa xôi để lại nơi thượng nguồn . Khi tả con sông Đà trữ tình, Nguyễn Tuân đã sử dụng những câu văn nhẹ nhàng, êm ái. Câu ngắn, vị ngữ diến tả trạng thái bình lặng, để lại trong lòng người âm hưởng mênh mang, thơ mộng .

III . Kết bài

Trong tuỳ bút " Người lái đò sông Đà" , nhà văn Nguyễn Tuân đã rất thành công trong việc sử dụng nhiều thuạt ngữ của các ngành nghề khác nhau nhằm miêu tả vẻ hùng vĩ , thơ mộng của con sông Đà và mở ra bao liên tưởng độc đáo , bất ngờ trong tâm trí người đọc . Qua đó , ta thấy được tài hoa , vốn văn hoá uyên thâm và phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân . Đồng thời ta còn thấy được cảm hứng ngợi ca , tự hào về chất vàng thiên nhiên , về giang sơn gấm vóc Việt Nam của tác gi

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH
1. Tình huống truyện.
Đây là câu chuyện của gia đình anh giải phóng quân tên Việt. Nhân vật này rơi vào một tình huống đặc biệt: trong một trận đánh, bị thương nặng phải nằm lại giữa chiến trường. Anh nhiều lần ngất đi tỉnh lại, tỉnh rồi lại ngất. Truyện được kể theo dòng nội tâm của nhân vật khi đứt (ngất đi) khi nối (tỉnh lại). Tóm lại, tình huống truyện dẫn đến một cách trần thuật riêng của thiên truyện theo dòng ý thức của nhân vật.
Em cho biết tình huống của câu chuyện?
2. Phương thức trần thuật của tác phẩm.
+ Căn cứ vào ngôn ngữ của nhân vật trong truyện:
Truyện "Những đứa con trong gia đình" được trần thuật theo cỏch người trần thuật tự giấu mình nhưng cách nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật.
**Em hãy tìm phương thức trần thuật của tác phẩm ?
+ Lối trần thuật này có hai tác dụng về mặt nghệ thuật:
- Câu chuyện vừa được thuật, kể cùng một lúc tính cách nhân vật cũng được khắc họa.
- Câu chuyện dù không có gì đặc sắc cũng trở nên mới mẻ, hấp dẫn vì được kể qua con mắt, tấm lòng và bằng ngôn ngữ, giọng điệu riêng của nhân vật.
Nhà văn phải thành thạo tâm lí và ngôn ngữ nhân vật mới có thể trần thuật theo phương thức này.
Lối trần thuật này có tác dụng gì về mặt nghệ thuật?
3. Truyền thống gia đình.
+ Truyền thống yêu nước mãnh liệt, căm thù ngùn ngụt bọn xâm lược và tinh thần chiến đấu cao đã gắn kết những con người trong gia đình với nhau. Lời chú Năm: "Chuyện gia đình nó cũng dài như sông, để rồi chú chia cho mỗi đứa một khúc mà ghi vào đó" cho thấy, con là sự tiếp nối cha mẹ nhưng không chỉ là tiếp nối huyết thống mà còn là sự tiếp nối truyền thống. Đồng thời muốn hiểu về những đứa con phải hiểu ngọn nguồn đã sinh ra nó, phải hiểu về truyền thống của gia đình đó.
Truyền thống yêu nước trong gia đình Việt được thể hiện như thế nào?
+ Chú Năm: đại diện cho truyền thống và lưu giữ truyền thống (trong câu hò, trong cuốn sổ).
+ Má Việt cũng là hiện thân của truyền thống. Đó là một con người chắc, khỏe, sực mùi lúa gạo và mồ hôi, thứ mùi của đồng áng, của cần cù sương nắng.
ấn tượng sâu đậm ở má Việt là khả năng cắn răng ghìm nén đau thương để sống và duy trì sự sống, che chở cho đàn con và tranh đấu.
4. Hình ảnh mẹ Việt:
* Người mẹ ngã xuống nhưng dòng sông truyền thống vẫn chảy.
-Hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng. thân người to và chắc nịch". ? vẻ đẹp của những con người sinh ra để gánh vác, để chống chọi, để chịu đựng và để chiến thắng.
Mẹ Việt có ngoại hình như thế nào?
- Chiến r?t giống má :
+ Chiến biết lo liệu, toan tính việc nhà y hệt má (nói nghe in như má vậy).
+ cái lối nằm với thằng út em trên giường ở trong buồng nói với ra đến lối hứ một cái "cóc" rồi trở mình. Đến nỗi chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi trong đêm, Việt đã không dưới ba lần thấy chị giống in má, có khác chỉ là ở chỗ chị "không bẻ tay rồi đập vào bắp vế than mỏi" mà thôi.
+ Chính Chiến cũng thấy mình trong đêm ấy đang hòa vào trong má: "Tao cũng đã lựa ý nếu má còn sống chắc má tính vậy, nên tao cũng tính vậy". Nguyễn Thi muốn cho ta hiểu rằng: trong cái thời khắc thiêng liêng ấy, người mẹ sống hơn bao giờ hết trong những đứa con.
Chiến có Ngoại hình
giống mẹ
như thế nào ?
+ Nét tính cách chung của hai chị em:
- Hai chị em cùng sinh ra trong một gia đình chịu nhiều mất mát đau thương (cùng chứng kiến cái chết đau thương của ba và má).
- Hai chị en có chung mối thù với bọn xâm lược. Tuy còn nhỏ tuổi, chí căm thù đã thôi thúc hai chị em cùng một ý nghĩ: phải trả thù cho ba má, và có cùng nguyện vọng: được cầm súng đánh giặc.
Hai chị em giống nhau ở những điểm nào?
- Tình cảm yêu thương là vẻ đẹp tâm hồn của Vi?t vࠃhi?n được thể hiện sâu sắc và cảm động nhất trong cái đêm chị em giành nhau ghi tên tòng quân và sáng hôm sau trước khi lên đường nhập ngũ cùng khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm
- Đánh giặc là niềm say mê lớn nhất của hai chị em Việt và Chiến cũng là của tuổi trẻ miền Nam trong những năm tháng ấy: "Hạnh phúc của tuổi trẻ là trên trận tuyến đánh quân thù".
? Cả hai chị em đều là những chiến sĩ gan góc dũng cảm
- Hai chị em Việt đều có những nét rất ngây thơ thậm chí có phần trẻ con :
+Giành nhau bắt ếch nhiều hay ít
+ Giành nhau thành tích bắn tàu chiến giặc
+ Giành nhau ghi tên tòng quân.
+ Nét riêng ở Chiến:
- Hơn Việt chừng một tuổi nhưng Chiến người lớn hơn hẳn: Chiến có thể bỏ ăn để đánh vần cuốn sổ gia đình. Chiến không chỉ "nói in như má" mà còn học được cách nói "trọng trọng" của chú Năm,.
Chị Chiến có nét riêng gì nổi bật so với Việt?
- Tính cách "người lớn" ở Chiến còn thể hiện ở sự nhường nhịn. Tuy có lúc giành nhau với em tranh công bắt ếch, đánh tàu giặc, đi tòng quân nhưng cuối cùng bao giờ cô cũng nhường em hết trừ việc đi tòng quân.
Nguyễn Thi đã xây dựng nhân vật Chiến vừa có cá tính vừa phù hợp với lứa tuổi, giới tính. Chiến là nhân vật được hồi tưởng qua Việt nhưng đã gây được ấn tượng sâu sắc .
+ Nét riêng ở Việt:
- Việt cú nột vô tư của một cậu con trai đang tuổi ăn tuổi lớn.
- Việt hay tranh giành với chị.
- Đêm trước ngày ra đi, Chiến nói với em những lời nghiêm trang thì Việt lúc "lăn kềnh ra ván cười khì khì", lúc lại rình "chụp một con đom đóm úp trong lòng tay".
Việt có nét riêng gì nổi bật so với Chị Chiến?
- Vào bộ đội, Việt cũn đem theo một chiếc nỏ thun , cũn s? ma
- S? vô tư không ngăn cản Việt trở nên một anh hùng
+ Ngay từ bé, Việt đã dám xông vào đá cái thằng đã giết cha mình.
+ Khi trở thành một chiến sĩ, mặc dù chỉ có một mình, với đôi mắt không còn nhìn thấy gì, với hai bàn tay đau đớn, Việt vẫn quyết tâm ăn thua sống mái với quân thù.
Việt là một thành công đáng kể trong cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Thi. Tuy còn hồn nhiên và còn bé nhỏ trước chị nhưng trước kẻ thù Việt lại vụt lớn, chững chạc trong tư thế của một người chiến sĩ.
* Chiến và Việt là khúc sông sau nên đi xa hơn trong cả dòng sông truyền thống.
5. Hình ảnh chị em Việt khiêng bàn thờ ba má sang gởi chú Năm.
+ Chỗ hay nhất của đoạn văn là không khí thiêng liêng, nó hoán cải cả cảnh vật lẫn con người.
+ Không khí thiêng liêng đã biến Việt thành người lớn. Lần đầu tiên Việt thấy rõ lòng mình "thương chị lạ, mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy vì nó đang đè nặng trên vai"...
Đoạn văn gây cho em ấn tượng gì? Nó có ý nghĩa tượng trưng ra sao?
?sự trưởng thành của hai chị em có thể gánh vác việc gia đình và viết tiếp khúc sông của mình trong dòng sông truyền thống gia đình. Hơn thế nữa, thế hệ sau cứng cáp, trưởng thành và có thể đi xa hơn.
6. Chất sử thi của thiên truyện
+ Chất sử thi của thiên truyện được thể hiện qua cuốn sổ của gia đình với truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thủy chung son sắt với quê hương.
+ Cuốn sổ là lịch sử gia đình mà qua đó thấy lịch sử của một đất nước, một dân tộc trong cuộc chiến chống Mĩ.
+ Số phận của những đứa con, những thành viên trong gia đình cũng là số phận của nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ khốc liệt
Chất sử thi của thiên truyện được thể hiện như thế nào?
+ Truyện của một gia đình dài như dòng sông còn nối tiếp. "Trăm dòng sông đổ vào một biển, con sông của gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm., rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nưước ta.". Truyện kể về một dòng sông nhưng nhà văn muốn ta nghĩ đến biển cả. Truyện về một gia đình nhưng ta lại cảm nhận được cả một Tổ quốc đang hào hùng chiến đấu bằng sức mạnh sinh ra từ những đau thương.
+ Mỗi nhân vật trong truyện đều tiêu biểu cho truyền thống, đều gánh vác trên vai trách nhiệm với gia đình, với Tổ quốc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

Trong anh và em - ĐN

Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ trẻ tiêu biểu thời chống Mỹ, cứu nước. Thơ ông giàu chất trí tuệ, cảm xúc được dồn nén và có nhiều liên tưởng phong phú. Đất nước được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng (1971) khá điển hình cho vẻ đẹp của thơ Nguyễn Khoa Điềm những năm tháng ấy. (...)

Đoạn trích ở trên thể hiện suy nghĩ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về mối quan hệ riêng – chung, quan hệ cá nhân – cộng đồng, sự tiếp nối của các thế hệ trong một đất nước, một dân tộc. Những suy nghĩ ấy được thể hiện bằng thơ, tức không đơn thuần là tư tưởng, mà chứa đựng cảm xúc, tình cảm của tác giả. Do đó, có sức lay động tâm tư người đọc.

Chín dòng thơ đầu, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm nêu lên những cảm nhận của mình về đất nước. Nếu như ở đoạn thơ trước đó trong bài thơ, tác giả nhìn nhận đất nước từ bề dày văn hoá dân tộc hàng nghìn năm qua, thì ở đây lại là những suy nghĩ về đất nước từ cuộc sống hiện tại trong các mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – cộng đồng, sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Khổ thơ mở đầu bằng một lời khẳng định:

Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước




Lâu nay, trong suy nghĩ của nhiều người, đất nước, quê hương, tổ quốc, dân tộc... luôn là những khái niệm trừu tượng. Với nhà thơ trẻ đang đôi mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt một mất một còn, đất nước gần gũi, thân thiết. Điều này chưa hẳn đã mới, trong ca dao, dân ca có không ít những câu hát như thế:

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Quê hương là tất cả những gì gắn bó ruột rà với con người. Đó là nơi ta yêu tha thiết. Đó là buổi sáng làm đồng. Đó là từng miếng ăn quê kiểng mỗi ngày...

Song, cái mới ở khổ thơ của Nguyễn Khoa Điềm là Đất Nước ở trong mỗi một con người, Đất Nước ở trong ta : Trong anh và em ... Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm... Đất Nước là máu xương của mình. Đó là nhận thức mới về đất nước. Nhận thức ấy được nêu ra để dẫn dắt đến một ý tứ khác của những dòng thơ ở cuối khổ này (từng cá nhân phải làm gì cho đất nước)

Bốn dòng thơ kế tiếp mở rộng ý ban đầu:

Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn

Hai câu thơ (bốn dòng) được cấu trúc giống nhau theo kiểu cấu trúc của câu có điều kiện trong văn xuôi hay lời nói thông thường: Khi... Đất Nước. Hai câu thơ cũng là những lời khẳng định (kết quả của sự nhận thức) về một chân lý. Cả bốn dòng chỉ có một hình ảnh, lại là hình ảnh mang tính tượng trưng: cầm tay diễn tả sự thân thiết, tin cậy, yêu thương lẫn nhau. Hình ảnh ấy đi liền với những tính từ chỉ mức độ (hài hoà, nồng thắm, vẹn tròn, to lớn). Bởi vậy, dù ý tứ tuy không phải là quá mới mẻ, song, những câu thơ ấy lại có sức nặng của tình cảm chân thành. Những câu thơ này còn có một tầng nghĩa thứ hai, tác giả không trực tiếp nói ra. Đó là đất nước không phải là một khái niệm trừu tượng, càng không phải một giá trị bất biến, có sẵn. Đất nước là một thực thể sống và sự sống ấy ra sao ở về phía tất cả những con người trong đất nước đó. Nói rõ ràng ra, đó là mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa mỗi một con người với đất nước.

Từ câu chuyện hiện tại, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc và suy nghĩ về đất nước ở tương lai:

Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng…

Đất nước không chỉ có ngày hôm qua và hôm nay. Đất nước của ngày mai. Từng thế hệ kế tiếp sẽ làm cho đất nước trường tồn mãi mãi nhờ bàn tay, khối óc và sức mạnh của sự đoàn kết toàn dân.

Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến khốc liệt thời bấy giờ, phải thấy ở những câu thơ trên còn là một khát vọng: Đất nước sẽ hoà bình, đất nước sẽ tươi đẹp và còn nhiều hơn thế nữa.

2. Những khổ thơ cuối, nhà thơ nêu lên trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời...

Cấu trúc của câu thơ cũng theo kiểu suy luận: Đất nước là ... nêu lên một tiền đề. Từ tiền đề ấy, phải biết.../ phải biết... để làm nên ... Câu thơ giàu chất duy lý nhưng không lên gân mà trở thành lời nhắn nhủ tha thiết. Ở đây có những từ tượng trưng rất đáng chú ý: máu xương, gắn bó, san sẻ, hoá thân, dáng hình, muôn đời. Sau rất nhiều suy nghĩ cụ thể về đất nước, đến đây nhà thơ khẳng định Đất nước là máu xương của mình. Máu xương là sự sống. Rất ít trường hợp người ta ví một điều gì đó với máu xương, bởi nó có ý nghĩa biểu trưng cho sự thiêng liêng. Đất nước là máu xương có nghĩa là đất nước tồn tại như một sự sống và để có sự sống ấy hẳn phải có rất nhiều hi sinh. Quả đúng như vậy, biết bao con người, bao thế hệ đã ngã xuống cho sự sống còn của đất nước. Vì thế, mỗi một con người phải biết gắn bó và san sẻ. Gắn bó là yêu thương, quan hệ mật thiết với nhau. Từ sự gắn bó ấy mới có thể san sẻ. San sẻ trách nhiệm, san sẻ niềm vui, niềm hạnh phúc cho nhau. Đất nước vĩ đại nhưng đất nước là một thực thể sống. Thực thể ấy không phải là sự tập hợp của những cá nhân rời rạc mà là một cộng đồng. Hoá thân cũng có nghĩa là dâng hiến. Thời bình, người ta dâng hiến sức lực, mồ hôi cho tổ quốc. Thời chiến, người ta dâng hiến cả sự sống của mình. Sự dâng hiến ấy, theo suy ngẫm của nhà thơ, là cuộc hoá thân. Bóng dáng mỗi người đã làm nên bóng dáng quê hương xứ sở, đất nước. Không có sự hoá thân kia làm sao đất nước trường tồn, làm sao có được đất nước muôn đời!

Những câu thơ in đậm chất duy lý (khá chặt chẽ, logic) cất lên như tiếng gọi của trái tim, vì thế nó thiết tha, thúc giục lòng người.

III. KẾT LUẬN

Đoạn thơ trên là một đoạn thơ hay trong bài Đất Nước. Nhà thơ đã thể hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình về đất nước bằng một giọng trữ tình, ngọt ngào. Câu chuyện về đất nước đối với mỗi người luôn là câu chuyện của trái tim, vừa thiêng liêng, cao cả, cũng vừa gắn bó, thân thiết. Từ suy nghĩ và tình cảm ấy, khi đối diện với kẻ thù của dân tộc, hẳn người ta phải biết làm gì cho Tổ quốc, giang sơn.

Ngày nay, đất nước đã sạch bóng quân thù. Nhưng trách nhiệm của mỗi công dân đối với đất nước vẫn rất cần đặt ra thường xuyên, bởi đó là câu chuyện không bao giờ cũ.

(((((((((((99999999999999999999999999999999

Khổ thơ thứ nhất (9 câu đầu): Sau khi điểm qua hai quá trình “bắt đầu” và “lớn lên” của đất nước, tác giả khẳng định :“Đất Nước có từ ngày đó...” - từ rất xa xưa. Những cái xa xưa thường hay xa lạ, nhưng đất nước thì không - đất nước gần gũi với mọi người.

Mở đầu là những lời bình dị nhưng hàm súc: “Khi ta lớn lên, Đất Nước đã có rồi”. Đất nước thành bậc tiền nhân. Mọi người đều được nuôi dưỡng từ đất nước... Nhắc lại điệp khúc “ngày xửa ngày xưa...”, tác giả muốn chứng tỏ đất nước hình thành từ rất lâu, đất nước có trong từng lời mẹ kể.

Gắn liền với sinh hoạt gia đình: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”. Tứ thơ này làm sống lại nhiều câu tục ngữ, ca dao và truyện Trầu cau bi thương, tình nghĩa. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn Khoa Điềm “nhân dân hóa” thơ mình và có thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa. Tuy vậy, đất nước chỉ lớn lên với truyền thống: “dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” và quá trình hình thành nhiều phong tục, tập quán:

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Nguyễn Khoa Điềm thật sự xúc động khi nói đến:“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Đó lời ngợi ca tình nghĩa, thuỷ chung trong gian khó. Chữ “thương” giúp thơ ông gần văn học bình dân. “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”- điều ấy, hiển nhiên như khi ta lớn lên đã có ông bà, cha mẹ... Đất nước gắn bó, thân thiết như người ruột thịt và bao công việc lao động khác:

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đó là lúc con người khép lại thời “dã man” bước vào giai đoạn văn minh. Tứ thơ “cái kèo, cái cột thành tên” còn gợi tập tục đặt tên mộc mạc để mong sự bình yên. Đất nước ta gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước: “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Làm nên hạt gạo trắng thơm phải trải qua nhiều công đoạn, phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Quá trình hình thành đất nước cũng đau đớn như chuyện nhân loại hoài thai, sinh nở.

Từ những lời phân tích trên đây, có thể thấy Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác một cách triệt để vốn văn hoá dân gian. Hàng loạt câu tục ngữ, ca dao, truyền thuyết, cổ tích, phong tục, tập quán đã được tái tạo, sáng tạo lại. Không chỉ hay ở phương diện câu chữ, cấu trúc và lời kết đoạn đã gây được ấn tượng. “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, đất nước bắt đầu, đất nước lớn lên... chặng đường nào cũng song hành với cuộc sống nhân dân. Tác giả nêu nhiều chứng cứ để làm sáng tỏ kết luận: “Đất Nước có từ ngày đó...” - từ “ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”. Trong suốt quá trình ấy, đất nước gắn bó với mọi gia đình và từng cá nhân. Đó là cơ sở vững chắc để tác giả tiếp tục triển khai tư tưởng Đất Nước này là đất Nước Nhân dân ở 3 khổ thơ sau.



Phân tích 9 câu thơ đầu bài Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm

Khổ thơ thứ nhất (9 câu đầu): Sau khi điểm qua hai quá trình “bắt đầu” và “lớn lên” của đất nước, tác giả khẳng định :“Đất Nước có từ ngày đó...” - từ rất xa xưa. Những cái xa xưa thường hay xa lạ, nhưng đất nước thì không - đất nước gần gũi với mọi người.

Mở đầu là những lời bình dị nhưng hàm súc: “Khi ta lớn lên, Đất Nước đã có rồi”. Đất nước thành bậc tiền nhân. Mọi người đều được nuôi dưỡng từ đất nước... Nhắc lại điệp khúc “ngày xửa ngày xưa...”, tác giả muốn chứng tỏ đất nước hình thành từ rất lâu, đất nước có trong từng lời mẹ kể.

Gắn liền với sinh hoạt gia đình: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”. Tứ thơ này làm sống lại nhiều câu tục ngữ, ca dao và truyện Trầu cau bi thương, tình nghĩa. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn Khoa Điềm “nhân dân hóa” thơ mình và có thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa. Tuy vậy, đất nước chỉ lớn lên với truyền thống: “dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” và quá trình hình thành nhiều phong tục, tập quán:

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Nguyễn Khoa Điềm thật sự xúc động khi nói đến:“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Đó lời ngợi ca tình nghĩa, thuỷ chung trong gian khó. Chữ “thương” giúp thơ ông gần văn học bình dân. “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”- điều ấy, hiển nhiên như khi ta lớn lên đã có ông bà, cha mẹ... Đất nước gắn bó, thân thiết như người ruột thịt và bao công việc lao động khác:

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đó là lúc con người khép lại thời “dã man” bước vào giai đoạn văn minh. Tứ thơ “cái kèo, cái cột thành tên” còn gợi tập tục đặt tên mộc mạc để mong sự bình yên. Đất nước ta gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước: “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Làm nên hạt gạo trắng thơm phải trải qua nhiều công đoạn, phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Quá trình hình thành đất nước cũng đau đớn như chuyện nhân loại hoài thai, sinh nở.

Từ những lời phân tích trên đây, có thể thấy Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác một cách triệt để vốn văn hoá dân gian. Hàng loạt câu tục ngữ, ca dao, truyền thuyết, cổ tích, phong tục, tập quán đã được tái tạo, sáng tạo lại. Không chỉ hay ở phương diện câu chữ, cấu trúc và lời kết đoạn đã gây được ấn tượng. “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, đất nước bắt đầu, đất nước lớn lên... chặng đường nào cũng song hành với cuộc sống nhân dân. Tác giả nêu nhiều chứng cứ để làm sáng tỏ kết luận: “Đất Nước có từ ngày đó...” - từ “ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”. Trong suốt quá trình ấy, đất nước gắn bó với mọi gia đình và từng cá nhân. Đó là cơ sở vững chắc để tác giả tiếp tục triển khai tư tưởng Đất Nước này là đất Nước Nhân dân ở 3 khổ thơ sau.

Tây tiến


1. Cảm xúc bao trùm toàn bộ bài thơ là một nỗi nhớ: "Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi"... Qua nỗi nhớ ấy, hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở và dữ dội hiện lên như một bức tranh hoành tráng:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Khổ thơ này là một bằng chứng "thi trung hữu hoạ". Thủ pháp đối lập ở đây được sử dụng triệt để và có hiệu quả. Các từ lấp láy "khúc khuỷu", "thăm thẳm" góp phần làm tượng hình lên hình ảnh Tây Bắc gập ghềnh hiểm trở. Ở câu thứ hai, từ ngữ được sử dụng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn "heo hút". Người lính như đi trên mây. Để tả chiều cao thăm thẳm của núi, Quang Dũng đã hạ ba chữ "súng ngửi trời" nghe vừa ngộ nghĩnh, vừa tinh nghịch. Câu ba diễn tả hai bên dốc núi nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Sau ba câu thơ gân guốc, táo bạo là một câu thơ toàn thanh bằng: "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi".

Quy luật này cũng giống với cách sử dụng những gam màu trong hội hoạ: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh như xoa mát cả khổ thơ.

Cái vẻ hoang dại, dữ dội, chứa đầy nguy hiểm của núi rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác. Trong cái không gian mênh mông của rừng thiêng hoang vu ấy, cái chết luôn luôn rình rập con người:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Đoạn thơ được kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ ấm áp, dịu ngọt mở ra một cảnh tượng thơ mộng thấm đẫm tình người, gắn liền với những kỉ niệm của Tây Tiến trên những chặng đường hành quân:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

2. Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của Tây Bắc: Một Tây Bắc tươi mát, mĩ lệ, tài hoa, duyên dáng. Những nét vẽ bạo, khoẻ, gân guốc ở đoạn thơ đầu, đến đoạn thơ này được thay bằng những nét mềm mại, tinh tế. Hình ảnh một đêm liên hoan văn nghệ của bộ đội được gợi lên với những chi tiết rất thực mà cũng rất mộng, rất ảo:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ...

Hơn ở đâu hết, đoạn thơ này bộc lộ nét tài hoa của Quang Dũng. Hồn thơ lãng mạn của ông bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ: xiêm áo lộng lẫy, dáng điệu "e ấp" của cô gái Tây Bắc, tiếng khèn, điệu múa độc đáo mang đậm bản sắc địa phương. Hai tiếng "kìa em" thể hiện một cái nhìn ngỡ ngàng, kinh ngạc trìu mến.

Cũng ở đoạn thơ này, con người và cảnh vật Tây Bắc hiện lên tươi đẹp và thơ mộng. Ngòi bút tài hoa, tinh tế của nhà thơ đã vẽ lên hình ảnh con người mờ ảo trong chiều sương Châu Mộc, gợi lên cái hồn của rừng lau, cái dáng mềm mại của cô gái trên chiếc thuyền, cái đong đưa của những bông hoa trôi theo dòng nước lũ.

3. Trên nền hùng vĩ và diễm lệ của núi rừng Tây Bắc, hình ảnh người lính Tây Tiến xuất hiện mang vẻ đạp vừa bi tráng vừa thơ mộng.

Nhà thơ không che giấu những gian khổ, hi sinh của người lính Tây Tiến. Chỉ có điều, những khó khăn, gian khổ, những mất mát, hi sinh ấy được thể hiện bằng một bút pháp lãng mạn. Qua cách nhìn của nhà thơ, cái bi bỗng trở thành cái hùng, đem đến cho hình ảnh người lính một vẻ đẹp hào hùng tráng lệ. Cái sự thực tàn khốc đoàn quân Tây Tiến tóc trụi, da xanh ngắt như tàu lá vì sốt rét, qua con mắt của nhà thơ vẫn toát lên cái vẻ "dữ oai hùm". Cái vẻ hào hùng, sang trọng của người lính toát lên từ thái độ dứt áo ra đi: "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh", từ tư thế: "Mắt trừng gởi mộng qua biên giới", từ những giấc mơ biết bao thơ mộng: "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm".

Tác giả đã dành những câu thơ trang trọng để nói về sự hi sinh mất mát của người lính Tây Tiến. Những người lính ngã gục bên đường, sự thật là không có đến một manh chiếu bọc thân, qua cách nhìn của nhà thơ lại được khâm liệm bằng những tấm áo bào sang trọng: "Áo bào thay chiếu anh về đất". Những nấm mồ người lính rải rác nơi rừng hoa biên giới xa xôi bỗng trở thành những nấm mồ tôn nghiêm nhờ những từ Hán Việt cổ kính, trang trọng: "Rải rác biên cương mồ viễn xứ" v.v... Đoạn thơ kết thúc bằng tiến gầm dữ dội của dòng sông Mã như khúc nhạc hào hùng đưa tiễn linh hồn người chiến sĩ: "Sông Mã gầm lên khúc độc hành".



Anh, chị hãy phân tích đoạn thơ sau đây:

"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi..."

(Trích Tây Tiến - Quang Dũng, Văn học 12, tập một, nxb Giáo dục, Hà Nội - 2004, tr. 76)

a) Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:

- Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp với hồn thơ hào hoa, lãng mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí.

- Hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tây Tiến.

b) Phân tích đoạn thơ: học sinh có thể lựa chọn cách phân tích phù hợp để bày tỏ cảm nhận của riêng mình về đoạn thơ, nhưng phải nêu được các ý cơ bản sau đây:
- Nội dung bao trùm đoạn thơ: hoài niệm thiết tha về một thời Tây Tiến.
+ Nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc: hùng vĩ, hiểm trở (phân tích dẫn chứng), hoang dại, bí hiểm (phân tích dẫn chứng), thơ mộng (phân tích dẫn chứng)...

+ Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến: hành trình vất vả, gian truân nhưng vẫn hóm hỉnh lạc quan, mở rộng tâm hồn để cảm nhận vẻ đẹp của Tây Bắc (phân tích dẫn chứng).
- Nghệ thuật: ngôn ngữ giàu nhạc tính, tính hình tượng và giá trị biểu cảm... (chú ý điệp từ , thanh điệu, láy...)


Phân tích vẻ đẹp của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

YÊU CẦU

Nội dung : Nêu được cách nhìn và cách miêu tả độc đáo của nhà thơ về vẻ đẹp của người lính cách mạng những năm đầu kháng chiến gian khổ. Khi làm bài, cần lưu ý các đối tượng phân tích là người lính trong bài thơ dưới cái nhìn nghệ thuật riêng của Quang Dũng.

Kiểu bài : Đây là kiểu bài phân tích một khía cạnh của một bài thơ hoàn chỉnh. Bài làm đòi hỏi học sinh phải biết chọn lựa từ bài thơ những chi tiết cần phân tích để phục vụ cho chủ đề của bài làm.

GỢI Ý

Nên tập trung vào mấy ý chính sau đây:

- Người lính hiện về trong hồi ức như một biểu tượng xa vời trong thời gian và không gian (Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi... Nhớ về rừng núi... Tây Tiến người đi không hẹn ước, Đường lên thăm thẳm một chia phôi, Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy...) Nhưng vẫn là hoài niệm không dứt, một nỗi thương nhớ mênh mang (Nhớ về, nhớ chơi vơi...).

- Người lính được miêu tả rất thực trong những sinh hoạt cụ thể hàng ngày, trong những bước đi nặng nhọc trên đường hành quân, với những đói rét bệnh tật, với những nét vẽ tiều tuỵ về hình hài song vẫn rất phong phú trong đời sống tâm hồn với những khát vọng rất mãnh liệt của tuổi trẻ (dẫn thơ minh hoạ).

- Tác giả phát hiện ra vẻ đẹp trong đời sống tâm hồn của người lính :

+ Con người nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng với những cảnh sắc độc đáo rất tinh tế (Hồn lau nẻo bến bờ, dáng người trên độc mộc, dòng nước lũ, cánh hoa đong đưa).

+ Con người vẫn cháy bỏng những khát vọng chiến công vẫn ôm ấp những giấc mơ đẹp về tình yêu tuổi trẻ (Mắt trừng rởi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Một dáng kiều thơm hay một vẻ đẹp của con người rừng núi có nhiều hoang sơ, kiều diễm đến sững sờ (kìa em xiêm áo tự bao giờ).

- Người lính hiện lên chân thực, thơ mộng, lãng mạn (đến đa tình đa cảm), đồng thời cũng rất hào hùng, rất tráng sĩ. Với nhiều từ ngữ Hán Việt vốn mang sắc thái cổ điển sang trọng (Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông mã gầm lên khúc độc hành...) tác giả tạo được không khí thiêng liêng làm cho cái chết tiều tuỵ của người lính hình thành một hành vi lịch sử thấu động lòng sông. Âm hưởng bốn câu thơ cuối làm cho hơi thơ cứ vọng dài thăm thẳm không dứt hòa với bước đường của người chiến sĩ tình nguyện ra đi cho mùa xuân đất nước :

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”




Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng :

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

...Sông Mã gầm lên khúc độc hành.



Tìm hiểu đề

- Đề bài thuộc dạng phân tích tác phẩm văn học. Cụ thể là phân tích một đoạn thơ.

- Để có thể phân tích sâu sắc đoạn thơ này, cần phải có cái nhìn tổng quát về cả bài thơ Tây Tiến. Bài thơ có hai đặc điểm nổi bật, bao trùm : cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Cả hai đặc điểm ấy đều được thể hiện rất rõ trong đoạn thơ cần phân tích.

- Đoạn thơ này, về thực chất khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến. Vì thế, khi phân tích, cần phải làm sáng tỏ vẻ đẹp của hình tượng này.

Gợi ý làm bài

I. Đặt vấn đề :

- Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

- Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả học sinh, sinh viên.

- Đoạn thơ cần phân tích là đoạn thứ ba của bài thơ, trong đó Quang Dũng đã khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.

II. Giải quyết vấn đề :

1. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến :

Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường, sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan người đọc, kích thích trí tưởng tượng phong phú của người đọc.

- Trong bài thơ, Quang Dũng đã tạo được một không khí, chuẩn bị cho sự xuất hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ thứ ba này. Trên cái nền hoang vu hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội khác thường của núi rừng (ở đoạn một), và duyên dáng, mĩ lệ, thơ mộng của Tây Bắc (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh những người lính Tây Tiến trực tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc đáo và kì lạ :

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

... Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

- Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát những gương mặt chung của cả đoàn quân. Qua ngòi bút của ông, những người lính Tây Tiến hiện ra đầy oai phong và dữ dội khác thường. Thực tế gian khổ thiếu thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ trụi cả tóc. Quang Dũng không hề che giấu những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái hình hài tiều tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường. Và ngòi bút lãng mạn của ông đã biến họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ nơi rừng thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện quan ánh mắt giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ ...

- Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến là những tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Như vậy, trong bốn câu thơ trên, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vẻ bề ngoài mà con thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.

2. Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến :

- Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái chết, sự hi sinh nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Cảm hứng lãng mạn đã khiến ngòi bút ông nói nhiều tới cái buồn, cái chết như là những chất liệu thẩm mỉ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

....Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

- Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cái sự thật bi thảm những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu che thân, qua cái nhìn của nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã :

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả thật trang trọng. Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên nhiên. Và dòng sông Mã đã trân trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng.

- Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này thấm đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.

III. Kết thúc vấn đề :

- Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, miêu tả được vẻ đẹp tinh thần của những con người tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không trở lại.

- Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh người lính. Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình, đã góp vào viện bảo tàng hình ảnh những người lính đó bức chân dung người lính Tây Tiến rất độc đáo của mình.

Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng:



“Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi !

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời !

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”



* Bài làm

Năm 1948, cuộc kháng chiến của quân và dân ta chống thực dân Pháp bước sang năm thứ 3. Ta vừa thắng lớn trên chiến trường Việt Bắc thu đông 1947. Chặng đường lịch sử phía trước của dân tộc còn đầy thử thách gian nan. Cuộc kháng chiến đã chuyển sang một giai đoạn mới. Tiền tuyến và hậu phương tràn ngập tinh thần phấn chấn và quyết thắng.

Thời gian này, văn nghệ kháng chiến thu được một số thành tựu xuất sắc. Một số bài thơ hay viết về “anh bộ đội Cụ Hồ” nối tiếp nhau xuất hiện: “Lên Tây Bắc” (Tố Hữu), “Đồng Chí” (Chính Hữu), “Nhớ” (Hồng Nguyên)… và “Tây Tiến” của Quang Dũng.

Quang Dũng viết “Tây Tiến” vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một làng ven con sông Đáy hiền hòa. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ: nhớ đồng đội thân yêu, nhớ đoàn binh Tây Tiến, nhớ bản mường và núi rừng miền Tây, nhớ kỉ niệm đẹp một thời trận mạc… Nói về nỗi nhớ ấy, bài thơ đã ghi lại hào khí lãng mạn của tuổi trẻ Việt Nam, của “bao chiến sĩ anh hùng” trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ mà vinh quang.

“Tây Tiến” là phiên hiệu của một đơn vị bộ đội hoạt động tại biên giới Việt – Lào, miền Tây tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình. Quang Dũng là một cán bộ đại đội của “đoàn binh không mọc tóc” ấy, đã từng vào sinh ra tử với đồng đội thân yêu.

Hai câu thơ đầu nói lên nỗi nhớ, nhớ miền Tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã thương yêu:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”

Đã “xa rồi” nên nỗi nhớ không thể nào nguôi được, nhớ da diết đến quặn lòng, đó là nỗi nhớ “chơi vơi”. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” vang lên tha thiết như tiếng gọi người thân yêu. Từ cảm “ơi!” bắt vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng câu thơ sâu lắng, bồi hồi, ngân dài, từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng, lan rộng lan xa trong không gian. Hai chữ “xa rồi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ, hô ứng với điệp từ “nhớ” trong câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây. Sau tiếng gọi ấy, biết bao hoài niệm về một thời gian khổ hiện về trong tâm tưởng.

Những câu thơ tiếp theo nói về chặng đường hành quân đầy thử thách gian nan mà đoàn binh Tây Tiến từng nếm trải. Các tên bản, tên mường: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… được nhắc đến không chỉ gợi lên bao thương nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang dã, thâm sơn cùng cốc,… Nó gợi trí tò mò và háo hức của những chàng trai “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Đoàn binh hành quân trong sương mù giữa núi rừng trùng điệp:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Bao núi cao, đèo cao, dốc thẳng dựng thành phía trước mà các chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua.

Dốc lên thì “khúc khuỷu” gập ghềnh, dốc xuống thì “thăm thẳm” như dẫn đến vực sâu. Các từ láy: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” đặc tả gian khổ, gian truân của nẻo đường hành quân chiến đấu: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời!”. Đỉnh núi mù sương cao vút. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới “Khó khăn nào cũng vượt qua – Kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống”, hình tượng thơ cân xứng hài hòa, cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả, thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí của nhà thơ – chiến sĩ.

Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp, gợi tả, sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.

Ta trở lại đoạn thơ trên, gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

“Chiều chiều…” rồi “đêm đêm” nhưng âm thanh ấy, “thác gầm thét”, “cọp trêu người”, luôn khẳng định cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, băng lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn lên một tầm vóc mới. Quang Dũng cũng nói đến sự hy sinh của đồng đội trên những chặng đường hành quân vô cùng gian khổ:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời…”

Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát, hy sinh nhưng không chút bi luỵ, thảm thương.

Hai câu cuối đoạn thơ, cảm xúc bồi hồi tha thiết. Như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình. Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm, vừa bâng khuâng, vừa tự hào:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

“Nhớ ôi!” tình cảm dạt dào, đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến “đoàn binh không mọc tóc”. Câu thơ đậm đà tình quân dân. Hương vị bản mường với “cơm lên khói”, với “mùa em thơm nếp xôi” có bao giờ quên? Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca, nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ, điệu thơ trở nên uyển chuyển, mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp. Cũng nói về hương nếp, hương xôi, về “mùa em” và tình quân dân, sau này Chế Lan Viên viết trong bài “Tiếng hát con tàu”.

“Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch

Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”

“Nhớ mùi hương”, nhớ “cơm lên khói”, nhớ “thơm nếp xôi” là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu. Mười bốn câu thơ trên đây là phần đầu bài “Tây Tiến”, một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ can trường và lạc quan, đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh

“ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”.

Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Nửa thế hệ đã trôi qua, bài thơ “ Tây Tiến của Quang Dũng ngày một thêm sáng giá.

Đất nước NKĐ

Đặt vấn đề :
---Nguyễn Khoa Điềm là đại diện tiêu biểu cho những nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ.Thơ ông mang phẩm chất độc đáo riêng _phẩm chất thơ trữ tình chính luận .
Là con người sinh ra và lớn lên trên mãnh đất Thừa Thiên Huế , trong khói lửa chiến trường từ những năm 1971 ,Nguyễn Khoa Điềm đã viết bản trường ca “Mặt đường và khát vọng” gồm có chín chương với mục đích thức tỉnh nhận thức của thanh niên ở các vùng bị tạm chiếm về vai trò trách nhiệm của mình đối với Đất Nước khi đn có chiến tranh .
Trong đó chương V _ “Đất Nước” là chương trung tâm hội tụ một mạch ngầm sâu xa :trình bày cảm nhận của nhà thơ về đất nước qua nhiều phương diện bằng lòng tự hào, ý thức trách nhiệm , bằng khát vọng khám phá và ngợi ca vẻ đẹp của đất nước _một đất nước của nhân dân .
Trong đó chương V đã thể hiện đóng góp mới của Nguyễn Khoa Điềm trong cái nhìn về đất nước có chiều sâu _cảm nhận về đất nước qua nhiều phương diện .

---Giải quyết vấn đề
---Bước 1. Khái quát chung
---Đề tài đất nước là đề tài cuốn hút niềm say mê khám phá và ngợi ca trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc .
Nhiều tác giả đã đóng góp những cách nhìn mới, những sự khám phá mới về đất nước với mong muốn xây dựng một chân dung đất nước toàn vẹn và toàn diện trong chiều dài lịch sử : một Nguyễn Đình Thi khám phá đất nước qua mùa thu và chiến tranh, một Hoàng Cầm qua nỗi niềm miền quê ...nhưng với chương V_ Đất Nước _ Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp một cái nhìn đầy ý nghĩa về ĐN .Bởi ông đã soi ngắm và khám phá đất nước qua nhiều phương diện.
Với giọng thơ trữ tình chính luận , Nguyễn Khoa Điềm đã gởi gắm và trình bày hai nội dung lớn nhằm trả lời cho hai câu hỏi lớn mà ông đã bao lần day dứt trăn trở: Đất Nước là gì , Đất Nước là của ai? Để trả lời cho câu hỏi một ,Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá ra hình ảnh của đất nước trong nhiều phương diện và sự khám phá ấy có thể coi như một định nghĩa sáng tạo về đất nước .
---Bước 2. Phân tích để làm sáng tỏ
---Mở đầu chương V, nhà thơ đã phóng một cái nhìn toàn diện bao quát để suy ngẵm về đn ,để khám phá hình ảnh đn trong nhiều phương diện :trong chiều sâu ,chiều rộng, chiều dài, trong mỗi con người.
--- A. Qua chiều sâu văn hoá sinh hoạt
Trước hết nhà thơ nhìn vào chiều sâu văn hoá sinh hoạt của dân tộc để cảm nhận về đn
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
.......
Đất nước có từ ngày đó”.
---Với lối lập luận vừa quy nạp vừa diễn dịch ,hình thức thơ dạt dào cảm xúc mà được diễn đạt và lí giải rất logic, thật dễ thuyết phục lòng người, Nguyễn Khoa Điềm đã nhận ra một đất nước hình thành, lớn lên,và bền vững trong chiều sâu văn hoá sinh hoạt .
---1. Qua chiều sâu văn hoá
---Câu 1: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”
Trăn trở đất nước đã có tự bao giờ, nhà thơ đã trình bày cảm nhận của mình bằng một câu thơ giản dị như một câu văn xuôi . “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi” nghĩa là đất nước đã có tự lâu đời.
Đây là diều hiển nhiên không có điều gì mới nhưng được thốt lên bằng sự khám phá tận đáy lòng của nhà thơ vì thế vần thơ giàu cảm xúc, giàu chất thơ.
Đất Nước đã có từ lâu đời nhưng có như thế nào và có ở đâu ? Nhà thơ đã tìm thấy câu trả lời trong chính kho tàng văn học dân gian.
---Câu 2: Đất Nước có trong nhữg cái .......hay kể
Đất Nước có trong những cái này xửa ngày xưa ,nghĩa là có trong thời gian cổ tích thần tiên, có trong kho tàng văn học dân gian đã thấn vào trong tiềm thức mỗi người dân Việt .Hình ảnh Đất Nước vừa hiện lên vừa giản dị gần gũi ,vừa thiêng liêng sâu lắng bởi nó gắn với thế giới tâm hồn con người ,được nuôi dưỡng từ thưở thơ bé và truyền lại cho muôn đời sau .
Để lí giải vấn đề này ,Nguyễn Khoa Điềm đã trình bày và lí giải những hình ảnh hết sức thú vị và đầy sức thuyết phục.
---Câu 3. “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
---Trong kho tàng văn học dân gian ,nhà thơ đã chọn ra hai câu chuyện để khắc hoạ hình ảnh đất nước bằng chính những cảm nhận sâu sắc của mình .
---“Đất Nước bắt đầu” một câu thơ lí giải sự hình thành đất nước gắn liền với câu chuyện cổ tích cầu trau. Đó là câu chuyện cổ tích ngợi ca nghĩa anh em và tình vợ chồng gắn bó keo sơn . “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu có nghĩa là Đất Nước được hình thành trong lối sống tình nghĩa.
“Miếng trầu bây giờ bà ăn” bắt nguồn từ thưở xa xưa _đó là truyền thống tốt đẹp. “Miếng trầu bắt đầu câu chuyện”. Đất Nước được sinh ra và nuôi dưỡng trong truyền thống đạo lí tố đẹp của dân tộc đó là lối sống nghĩa tình .
---Đất Nước được hình thành trong tình yêu nhưng lại lớn mạnh và trưởng thành nhờ nhữmg cuộc đấu tranh bảo vệ dân tộc .
---Câu 4. “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
---Câu thơ gợi nhắc truyền thuyết “thánh gióng” câu chuyện ngợi ca sức mạnh của tình yêu dân tộc và hình ảnh kì vĩ thánh gióng.
---Với Nguyễn Khoa Điềm, ông đã nhìn thấy sự trưởng thành của Đất Nước trong đau thương , thử thách nhờ công cuộc đấu tranh và lòng yêu nước của dân tộc. Qua lịch sử, truyền thống ấy đã trở thành truyền thống yêu nước thiêng liêng.
Kết luận:
--- Qua chiều sâu văn hoá tinh thần của dân tộc ,Nguyễn Khoa Điềm đã tjuyết phục người đọc khi cảm nhận một đn hiền hoà ,thật nhân hậu nghĩa tình trong cuộc sống và cũng thật hào hùng ,kì vĩ trong chiến tranh. Hình ảnh đn không kì vĩ mà hiện lên sống động như hình ảnh Thánh Gióng vươn vai đứng dậy khẳng định vị trí và sức mạnh của con người.
--- Đất Nước hiện lên thật giản dị và gần gũi bởi nó gắn liền với những cái thường ngày : chuyện kể với mẹ ,miếng trầu của bà, luỹ tre bên nhà.....nhưng cũng rất thiêng liêng và cao cả bởi đất nước gắn liền với những truyền thống cao đẹp của dân tộc, gắn với đời sống tinh thần của mỗi một con người.
Không chỉ dừng lại ở việc soi ngắm ĐN qua những truyền thuyết ,cổ tích .. Nguyễn Khoa Điềm còn soi ngắm Đất Nước trong cuộc sống sinh hoạt của người dân từ bao đời . Nhờ thế mà ông đã phát hiện ra .

---2. Qua chiều sâu của cuộc sống sinh hoạt
---a. ĐN hiện lên qua những mĩ tục“Tóc mẹ thì bới sau đầu”
---Trong muôn vàn truyền thống đẹp ,nhà thơ chọn ra một hình ảnh thật giản dị nhưng rất tinh tế đặc sắc :hình ảnh người phụ nữ Việt với mái tóc bới sau đầu _hình ảnh thật gần gũi ,thân quen in sâu trong nếp nghĩ ,gợi suy ngẫm về con người trong cuộc sống lam lũ vất vơ nhưng vẫn duyên dáng, tần tảo ,đảm đang. Hình ảnh ấy qua bao năm tháng vẫn không thay đổi ,vẫn gợi suy ngẫm về cái đẹp giản dị mà thiêng liêng .Và hình ảnh Đất Nước hiện lên qua chính mĩ tục ấy.
---b. Đất Nước còn hiện lên trong sự gắn liền với một lối sống đẹp“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”
Câu thơ gợi từ một ca dao “gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Ý thơ giản dị mà ý nghĩa vô cùng sâu sắc .Tình yêu được sinh ra và nuôi dưỡng từ trong khó nghèo, từ trong những hoàn cảnh đầy thử thách thật đáng trân trọng, đáng quý. Đó là lối sống trọn nghĩa ,trọn tình,thuỷ chung đã trở thành một truyền thống thiêng liêng được lưu truyền qua bao đời . Và sự sinh thành, phát triển của Đất Nước song hàmh cùng với sự lưu truyền và phát triển của truyền thống tốt đẹp ấy.
---c. ĐN hiện lên qua cuộc sống lao động sinh hoạt“Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay ,giã ,giần ,sàng”
Sự hình thành và phát triển của Đất Nước là một quá trình lâu dài ,nhờ bàn tay lao động xây dựng của con người từ thưở sơ khai ,khi con người tạo dựng những cái đơn giản nhất , nhỏ bé nhất như cá kèo ,cái cột để tạo nên mái nhà _tạo nên mái ấm với nỗ lực một nắng hai sương .Con người lao dộng đã biết “xay ,giã ,giần,sàng” để tạo nên hạt gạo ,tạo nên những giá trị vật chất để xây dựng Đất Nước no ấm.
Cách sử dụng từ ngữ “một nắng hai sương” và chon lọc hình ảnh “xay ,giã ,giần , sàng”cùng nhịp điệu lan toả gợi sự suy ngẫm liên tưởng ,hình ảnh Đất Nước hiện dần nhờ bàn tay lao động cần cù ,sáng tạo của con người ,hình ảnh ấy hiẹn dần trong nhịp điệu gạo rơi trên sân ,trong tiếng chày ,trong máy xay với cuộc sống lao động bền bĩ dù vất vả ,lam lũ .Qua đó ta nhận ra nét đặc trưng riêng của nền văn học Việt_văn hoá lúa nước.
Hình ảnh Đất Nước hiện lên trong cuộc sống sinh hoạt là một Đất Nước cần cù, sáng tạo trong lao động .
Cũng chính trong cuộc sống lao động sinh hoạt, nhà thơ còn khám ra sự hình thành, phát tiển ngôn ngữ dân tộc gắn liền với nguồn gốchình thành và phát triển của đn :
Khi con người biết lao động tạo dựng cuộc sống chính là khi họ biết đặt tên cho những sự vật hình tượng gần gũi nhất “cái kèo ,cái cột”,và trong quá trình lao động ,trong sự tìm tòi khám phá ,sáng tạo nên những giá trị vật chất như hạt gạo ,họ đã sáng tạo nên những ngôn từ ghi lại quá trình lao động ấy “xay ,giã ,giần ,sàng”.Đây là kết tinh tinh tuý linh hồn của dân tộc . ĐN hình thành và phát triển cùng với sự hình thành tiếng mẹ thiêng liêng ấy.
Nhận xét
---Qua những dòng thơ trăn trở và suy tư về một khái niệm tưởng chừng như đã ăn sâu vào máu thịt mỗi người dân Việt ,qua chiều sâu văn hoá sinh hoạt ,Nguyễn Khoa Điềm đã có một phát hiện ,một cảm nhận vô cùng sâu sắc: Đất Nước hiện lên trong thế giới tinh thần của cộng đồng người Việt ,trong cuộc sống sinh hoạt từ bao đời . Đất Nước hiện lên gắn liền với những phong tục tập quán với lối sống,nếp nghĩ qua kho tàng văn học dân gian ,qua bản sắc văn hoá ....Đó là một Đất Nước không trừu tượng mà cụ thể ,chứa đựng mơ ước,khát vọng ,quan niêm về vẻ đẹp phẩm chất của tâm hồn dân tộc .Gương mặt Đất Nước hiên lên thật sống động ,lung linh:trong cuộc sống,trong lao động và trong chiến đấu.
Khám phá Đất Nước ở phương diện văn hóa sinh hoạt ,Nguyễn Khoa Điềm đã phát biểu nhận thức của mình như lối định nghĩa độc đáo ,một cách lí giải không hề mang tính áp đặt mà đầy sức gợi , sức thuyết phục bằng những câu chuyện ,chọn lọc chi tiết giàu ý nghĩa giúp ta nhận ra Đất Nước bắt nguồn từ những điều giản dị nhất ,gần gũi nhất, nhưng bền vững đến muôn đời.
Với chín dòng thơ 85 chữ ,không hề có một từ hán việt ,Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên những vần thơ tự do dạt dào cảm xúc, kết hợp với chất giọng thủ thỉ tâm tình như một điệu ru dễ đi vào lòng người .Nhưng chuyển tải mạch cảm xúc ấy là một lối lập luận chặt chẽ :tổng -phân -hợp. Chính sự kết hợp hài hoà giữa trí tuệ và cảm xúc bay bổng đã làm sáng lên lối thơ tữ tình chính luận _ phong cách độc đáo riêng của Nguyễn Khoa Điềm .

---2. ĐN qua chiều rộng không gian địa lí _”không gian mênh mông”
Dường như không ở nơi đâu ,khái niệm Tổ Quốc lại được cụ thể hoá bằng cụm từ Đất Nước” như ở Việt Nam .Theo quan niệm nguyên thuỷ, Đất và Nước là hai thành tố tạo nên điều kiện sống của con người, là hai yếu tố không thể thiếu, tạo nên môi trường sống của công đồng ,hai thành tố ấy đã hoá thân thành Tổ Quốc. Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá ra điều kì diệu ấy và sáng tạo nên một lối định nghĩa về Đất Nước độc đáo: tách đất và nước để tìm hiểu riêng rồi hoà hợp lại trong mối quan hệ hữu cơ để tiếp tục khám phá .Lối định nghĩa này được thể hiện rõ khi Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận Đất Nước ở hai phương diện địa lí và lịch sử.
---a. Đất Nước là không gian sinh hoạt đời thường ,là những gì gần gũi, thân thiết nhất gắn bó với cộng đồng người trong sinh hoạt ngày thường. Đó là “nơi anh đến trường”, là “nơi em tắm”.
---b. Đất Nước là một không gian tinh thần thiêng liêng “là nơi ta hò hẹn”, là nơi nảy sinh và nuôi , cảm xúc thầm kín và sâu sắc nhất của con người: “Em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”. Đó là không gian tâm linh, với những cảm xúc tinh tế nhất, gắn liền với sự lưu luyến, truyền lối sống thuỷ chung, tình nghĩa.dưỡng tình yêu.
---c. Đất Nước còn là không gian tinh thần phong phú với cả những rung động
---d. Đất Nước là không gian vật chất núi sông, rừng bể_là không gian lãnh thổ của cộng đồng dân tộc ,nơi chứa đựng tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá.
---Kết luận:
---Với cách giải thích đầy sáng tạo, kết hợp với lập luận vừa diễn dịch vừa quy nạp, Nguyễn Khoa Điềm đã trình bày cảm xúc sâu sắc của mình về ĐN trong không gian địa lí: Đất Nước là không gian sinh tồn và phát triển, là không gian vật chất và tinh thần ,là điều kiện sống của công đồng người qua bao thế hệ. Đây là lối lí giải vừa giàu tính trí tuệ ,vừa giàu cảm xúc bởi hình ảnh Đất Nước hiện lên vừa giản dị ,gần gũi, vừa kì vĩ ,hào hùng trong huyền thoại và sự tích.
---3. Đất Nước qua chiều dài thời gian lịch sử _ “thời gian đằng đẳng”.
Vẫn lối tách các yếu tố,vừa diễn dịch vừa quy nạp, Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục cảm nhận về Đất Nước qua chiều dài thời gian :
---a. ĐN trong thời gian lịch sử gắn liền với sự hình thành nguồn gốc dân tộc
Những câu thơ gợi nhớ một truyền thuyết “sự tích trăm trứng” nhằm lí giải sự hình thành nguồn gốc dân tộc _sự kết hợp của Lạc Long Quân và Âu Cơ ,sự kết duyên của dòng giống tiên rồng đã khai sinh dân tộc Việt ,đã chọn nơi đất lành để chim về ,chọn nơi nước thiêng liêng để rồng ở .Và mãnh đất thiêng liêng ấy bao đời đã che chở ,nuôi dưỡng cộng đồng dân tộc .Qua đó ta nhận ra niềm tự hào về truyền thống dân tộc Lạc Việt.
---b. Soi ngắm Đất Nước trong chiều dài lịch sử ,Nguyễn Khoa Điềm còn nhận ra ĐN trong dòng chảy lịch sử bắt nguồn tư quá khứ “những ai đã khuất” đến hiện tại “những ai bây giờ” đến tương lai “con cháu mai sau” đã sáng tạo ,lưu truyền những truyền thống thiêng liêng của dân tộc.
- Sự tích trăm trứng với sự ra đời của cụm từ “đồng bào” đã thể hiện những truyền thống tạo nên sức mạnh cộng đồng lưu truyền đến hom nay.
- Những câu thơ “cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ”. Tác giả đã chọn lọc một hình ảnh thật đắt, rất thân thuộc nhưng cũng rất thiêng liêng để ngợi ca sự thành kính tri ân tổ tiên ,một hình ảnh tiêu biểu cho truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Đó là lối sống tương thân, tương trợ, lối sống trọn nghĩa, trọn tình.
Hai truyền thống ấy tạo nên sức mạnh trường tồn của cộng đồng ,là nét đẹp văn hoá của cộng đồng dân tộc .Những cảm nhận ấy đã giúp Nguyễn Khoa Điềm khẳng định một nhận thức sâu sắc :hình ảnh Đất Nước và sức mạnh của dân tộc hôm nay chính là sự hội tụ ,kết tinh và phát triển sức mạnh của dân tộc từ ngàn xưa qua chiều dài thời gian lịch sử .Đó là nền văn hiến của dân tộc.
---Kết luận:
Qua hai phương diện không gian không gian địa lí và thời gian lịch sử ,đóng góp của Nguyễn Khoa Điềm trong cảm nhận về Đất Nước là ở chỗ biết cụ thể hoá một khái niệm trừu tượng :Tổ Quốc bằng những hình ảnh cụ thể, những chi tiết sống đông giàu ý nghĩa về mộ Đất Nước rất giản dị ,gần gũi mà cũng rất thân thuộc ,rất đỗi thiêng liêng và cao cả.
---4. Đất Nước trong mỗi một con người
Không chỉ khám phá ,tìm hiểu hình ảnh Đất Nước ở những phương diện bên ngoài mà Nguyễn Khoa Điềm còn soi ngắm Đất Nước trong chiều sâu tâm hồn con người từ sự quan sát ,chiêm nghiệm và suy ngẫm ,nhà thơ đã phát hiện ĐN gắn bó gần gũi với mỗi một con người . ĐN có trong mỗi một con người :
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
....
Đến những tháng ngày mơ mộng”
Từ ý niệm ,mỗi cá nhân là một phần tử của công đồng ,Nguyễn Khoa Điềm đã diễn đạt sáng tạo bằng tiếng nói tâm tìmh lứa đôi : Đất Nước chính là ta,Đất Nước ở trong ta.ấn
---a. Lâu nay khái niệm Đất Nước ,Tổ Quốc vẫn được coi là những gì thiêng liêng nhất gắn bó máu thịt với mỗi một con người .Tất cả cách nói ấy cho thấy Đất Nước là thành tố ở ngoài ta ,trong khi đó Nguyễn Khoa Điềm có cách cảm nhận sâu sắc và mới mẻ Đất Nước ở trong ta bởi lẽ những con người đều nuôi dưỡng không giam địa lí ,đắm mình trong không gian vật chất ,tinh thần dân tộc đều mang trong mình dòng máu tiên rồng và được nuôi dưỡng bằng truyền thống dân tộc.
Đây là sự bừng tỉnh nhận thức ,ý thức sâu sắc về vai trò của Đất Nước đối với mỗi một con người .
---b. “Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn”
Từ nhận thức Đất Nước trong ta ,Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện thêm một điều vô cùng thú vị :Đất Nước sinh tồn ,đổi thay và phát triển phụ thuộc vào mối quan hệ giữa con người với con người ,phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm của mỗi một con người.
- Mối quan hệ giữa con người với con người
Hai câu thơ đã thể hiện hai mối quan hệ
+ “Khi hai đứa cầm tay”,quan hệ cá nhân với cá nhân.Hình ảnh “cầm tay” là sự cụ thể hoá của tình cảm giao duyên ,sự gắn bó keo sơn của tình yêu đôi lứa và cái cầm tay ấy sẽ tạo nên một tổ ấm, mà tổ ấm là một phần của xã hội. Chính khi con người gắn kết bằng tình yêu và hạnh phúc thì Đất Nước sẽ hài hoà ,bởi sự phối hợp tâm hồn và Đất Nước sẽ thấm nồng bởi sự son sắt và thuỷ chung .
+ Khi hai đứa cầm tay mọi người ,Đất Nước vẹn toàn to lớn .Hình ảnh cầm tay diễn tả sự gắn kết ,sức mạnh đoàn kết cộng đồng ,bàn tay kết nối bàn tay ,tổ ấm nối kết tổ ấm sẽ tạo nên một Đất Nước vẹn toàn to lớn.
Từ đó Nguyễn Khoa Điềm đã ý thức ,cảm nhận được sức mạnh của Đất Nước ,hình ảnh của Đất Nước được kết tạo bởi tình yêu và khối đại đoàn kết bền vững của cộng đồng dân tộc .
Cảm nhận sâu sắc ấy được diễn tả uyển chuyểnmà logic để khắ sâu, cảm nhân sức mạnh tinh thần Việt Nam được kết tinh bởi tình yêu: yêu người_yêu nhà_yêu nước. Như thế Nguyễn Khoa Điềm đã gom góp thêm một cách lí giải mới về sức mạnh tinh thần Việt Nam cùng với bao nhà văn ,nhà thơ khác như Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Chế Lan Viên...
---c. Đất Nước sẽ trường tồn và bay tới tương lai
Từ cảm nhận Đất Nước được tạo dựng bởi tình yêu ,được xây dựng trên nền tảng của tình yêu và sức mạnh của kết đoàn .Nhà thơ bộc lộ niềm tin :Đất Nước sẽ trường tồn và bay tới tương lai.
Mai này con ra lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những ngày tháng mơ mộng
Niềm tin ấy được bộc lộ bằng giọng điệu thủ thỉ tâm tình ngọt ngào mang bản sắc Huế “mai này”. Chứa đựng trong đó là một sự kì vọng, thế hệ tương lai “con ta” sẽ “gánh vác phần người đi trước để lại” để xây dựng Đất Nước_một Đất Nước sẽ lớn lên trưởng thành ,phát triển về bản lĩnh và trí tuệ trong quá trình đi tới tương lai_ “lớn lên”.
---Đó sẽ là một Đất Nước tươi đẹp hơn ,cường thịnh hơn vượt sức tưởng tượng của “những ngày tháng mơ mộng”. Điều kì vọng ấy, điều mà anh và em mơ ước hôm nay trở thành hiện thực trong một tương lai gần “mai này”.
Chỉ bằng một vài dòng thơ ,cách diễn đạt uyển chuyển và tinh tế ,nhà thơ đã bày tỏ những cảm nhận sâu sắc của con người về Đất Nước trong chiều sâu tâm hòn con người.
---4. Lời nhắn nhủ tâm tình về ý thức trách nhiệm
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
...
Làm nên Đất Nước muôn đời”
Từ sự khám phá Đất Nước sâu sắc trong sự tổng hoà của các phương diện ,nhà htơ đã ý thức về trách nhiệm của bản thân đối với Đất Nước .Và lời tâm tình thốt lên như lời nhắn nhủ ,như lời kêu gọi thức tỉnh ý thức trách nhiệm của thanh niên đối với Đất Nước.
---a. “Em ơi em”
Lời thủ thỉ tâm tình dạt dào cảm xúc khi cảm nhận Đất Nước là máu thịt, là máu sương của mỗi con người. Từ đó Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định: số phận của cá nhân gắn liền với vận mệnh của dân tộc, trách nhiệm của cá nhân với Tổ Quốc chính là trách nhiệm với bản thân mình.
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình sứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời
---Điệp ngữ “phải biết” là mệnh lệnh khiến cho giọng thơ mạnh mẽ, oai nghiêm mà vẫn đầy sức thuyết phục vì sự chân thành tha thiết,
Hình thức diễn đạt tăng tiến , lời nhắn nhủ được bộc lộ trong tình yêu nước và ý thức trách nhiệm của nhà thơ :sự gắn bó của con người với Đất Nước không chỉ là bổn phận “gắn bó”, không chỉ là trách nhiệm “san sẻ” mà còn là khát vọng “hoá thân” .Từ “hoá thân” đã thể hiện khát vọng dâng hiến trọn vẹn cho Tổ Quốc .Vì đó là vinh dự của mỗi một công dân .
Bài thơ nói chung và đoạn trích ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt: chiến tranh, ra đời tại một nơi nóng bỏng nhất của cuộc chiến chiến trường Trị _Thiên Huế. Đặt tứ thơ trong hoàn cảnh ấy mới ý thức được lời tâm huyết mang sức mạnh của ý chí và khát vọng, lay động và thức tỉnh nhận thức của thanh niên về trách nhiệm đối với vận mệnh Đất Nước , bởi lẽ sự thống nhất của Đất Nước phụ thuộc vào chính mỗi một con người.
---Bước 3. Khái quát tổng hợp
---Nguyễn Khoa Điềm đã phát biểu cảm nhận của mình về Đất Nước qua nhiều phương diện bằng tình yêu , tự hào dân tộc và bằng tài năng độc đáo .Đóng góp mới của Nguyễn Khoa Điềm là ở chỗ đóng góp một cái nhìn có chiều sâu và khá toàn diện về Đất Nước .Cái nhìn ấy trong thời gian lịch sử càng có ý nghĩa lịch sử hơn.
Trong toàn bộ đoạn trích nói riêng và toàn bản trường ca nói chung ,cụm từ “Đất Nước” xuất hiện xuyên suốt và được viết hoa trang trọng, cụm từ “Đất Nước” là hình tượng trung tâm được soi ngắm khám phá , chiêm ngưỡng bằng sự thành kính , trân trọng trong khát vọng xây dựng một chân dung toàn vẹn về Đất Nước.
Hình ảnh Đất Nước trừu tượng đã được Nguyễn Khoa Điềm cụ thể hoá ,hữu hình hoá bằng những hình ảnh giản dị, những chi tiết gần gũi nhưng giàu sức gợi ,cùng với giọng thơ trữ tình chính luận đắm trong bầu không khí của chất liệu văn hoá dân gian.Đó chính là thành công của Nguyễn Khoa Điềm nhằm chuyển tải cảm nhận sâu sắc về Đất Nước.

Việt Bắc Tố Hữu

A. TÁC GIẢ TỐ HỮU

1. Tiểu sử:(1920 – 2002)

 Cha: nhà nho nghèo, thích sưu tầm thơ. Mẹ: thuộc nhiều ca dao, tục ngữ > cả 2 người đã truyền cho con trai tình yêu tha thiết với thơ ca, đặc biệt là văn học dân gian > Môi trường văn hóa đầu tiên đưa Nguyễn Kim Thành tìm đến văn học nghệ thuật.
 Quê: Phù Lai, Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế: nổi tiếng với những câu hát nam ai nam bình, truyền thống lịch sử của mảnh đất cố đô > môi trường văn hóa lớn bồi đắp hồn thơ Tố Hữu.
 Bản thân:
- Được cha dạy làm thơ từ rất nhỏ nhưng chủ yếu theo lối cổ.
- Từng nếm trải quãng đời bế tắc, tuyệt vọng của lớp thanh niên trí thức tiểu tư sản Việt Nam “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước/Chọn một dòng hay để nước trôi”
- Có mặt trong số những trí thức tiểu tư sản đầu tiên giác ngộ chân lí cách mạng, từ đó hòa mình vào cuộc sống chiến đấu của nhân dân > tư cách một nhà thơ chiến sĩ.
Tóm lại: Có 2 đặc điểm nổi bật trong tiểu sử Tố Hữu:

• Người nuôi dưỡng hồn thơ bằng tinh hoa văn hóa dân tộc > hồn thơ đậm đà tính dân tộc.

• Có sự thống nhất cao độ giữa con người nghệ sĩ với con người cách mạng > nhà thơ cách mạng.
2. Sự nghiệp sáng tác (Đường cách mạng, đường thơ)

2.1. Từ ấy (1937 – 1946)

 Chia làm 3 phần gắn với sự trưởng thành của người thanh niên cộng sản Tố
Hữu qua 3 chặng: “Máu lửa”, “Xiềng xích”, “Giải phóng”.
 Nội dung từng phần:
- Máu lửa: sáng tác thời kì Mặt trận Dân chủ; thể hiện nỗi cảm thông sâu sắc với cuộc sống cơ cực của những lớp người nhỏ bé, nghèo khổ trong xã hội đồng thời khơi dậy ở họ ý chí đấu tranh và niềm tin vào tương lai.
- Xiềng xích: sáng tác trong các nhà lao lớn ở Trung Bộ và Tây Nguyên, bộc lộ tâm tư của một người trẻ tuổi tha thiết yêu đời và khao khát tự do, ý chí kiên cường của một chiến sĩ quyết tâm chiến đấu.
- Giải phóng: sáng tác khi Tố Hữu vượt ngục đến những ngày đầu giải phóng vĩ đại của toàn dân tộc; mang cảm hứng ngợi ca thắng lợi của cách mạng, khẳng định niềm tin của nhân dân vào chế độ mới.
=> Là tiếng hát nhiệt tình của tuổi trẻ, tiếng reo vui của một tâm hồn thanh niên giác ngộ lí tưởng cộng sản > Mùa xuân cuộc đời riêng bắt gặp mùa xuân nhân loại.
 Chùm thơ đặc sắc nhất: thơ trong tù: “Tâm tư trong tù”, “Nhớ đồng”, “ Khi con tu hú”, …
 Giá trị:
- Tâm hồn nhạy cảm, sôi nổi, trẻ trung.
- Lãng mạn trong trẻo.
- Men say lí tưởng.

2.2. Việt Bắc (1946 – 1954)

 Đánh dấu một bước chuyển có ý nghĩa trong tư tưởng nghệ thuật thơ Tố Hữu:
- Hướng vào thể hiện quần chúng cách mạng với sự quan sát, tìm hiểu sâu sắc và thái độ chiêm ngưỡng > Sáng tạo hàng loạt bức tranh tuyệt đẹp về đất nước và nhân dân.
- Phát triển theo hướng khái quát tổng hợp với những tác phẩm đậm chất sử
thi: “Cá nước”, “Việt Bắc”, “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”…
 Giá trị:
- Kết tinh những tình cảm lớn của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp: tình yêu quê hương đất nước, tình yêu lãnh tụ, tình quân dân…
- Bản anh hùng ca kháng chiến chống Pháp, vừa phản ánh những chặng đường gian lao anh dũng, vẻ vang vừa thể hiện những tâm tư và những hình tượng tiêu biểu về nhân dân anh hùng.
2.3. Gió lộng (1955 – 1961)

 Tiếp tục khuynh hướng và cảm hứng sử thi mở ra từ “Việt Bắc”, kết hợp hài hòa với việc thể hiện cái tôi trữ tình.
 Khai thác 2 chủ đề lớn: gắn với 2 nhiệm vụ lớn của cách mạng giai đoạn này:
xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước.
 Tác phẩm tiêu biểu: Mẹ Tơm, Người con gái Việt Nam, Quê mẹ…
 Giá trị: bên cạnh một số hạn chế khó tránh khỏi, tập thơ là trái chín chính vụ - tròn đầy, viên mãn của Tố Hữu, có sự thống nhất hài hòa yếu tố lí trí và cảm xúc, hiện thực và lãng mạn, trữ tình và anh hùng ca…
2.4. Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1972 – 1977)

 Cổ vũ, ca ngợi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc > đậm tính chất chính luận, thời sự, sử thi.
 Tác phẩm tiêu biểu: “Chào xuân 67”, “Theo chân Bác”, “Việt Nam máu và hoa”…
2.5. Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999)

 Đánh dấu bước chuyển mới trong thơ Tố Hữu: suy tư về dòng chảy sôi động của cuộc sống > thơ thiên về suy tưởng, hướng tới những triết kí phổ quát về cuộc đời và con người.
 Vẫn thể hiện niềm tin vào lí tưởng và con đường cách mạng. Nhận xét:
• Các chặng đường thơ gắn bó song hành và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng của dân tộc, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của Tố Hữu.
• Sự nghiệp sáng tác của một nhà thơ cách mạng- nhà thơ của lí tưởng cộng sản:
- Sự nghiệp thơ ca bắt đầu cùng thời điểm với sự nghiệp cách mạng.
- Cội nguồn sáng tác: lý tưởng cộng sản.
- Quan niệm: sáng tạo nghệ thuật là một hành vi phục vụ sự nghiệp cách mạng.
• Vị trí văn học sử: thơ Tố Hữu là “thi sử” cách mạng Việt Nam (So sánh:
thơ Đỗ Phủ - “thi sử” của xã hội Trung Quốc đời Đường)

3. Phong cách nghệ

3.1. Mang tính chất thơ trữ tình chính trị sâu sắc

 Thơ trữ tình chính trị: thơ ca phản ánh những vấn đề chính trị xã hội bằng phương thức của thể loại trữ tình.
 Nguyên nhân:
 Là nhà thơ chiến sĩ > Thơ trước hết nhằm mục đích phục vụ cách mạng và những nhiệm vụ chính trị của dân tộc trong mỗi một giai đoạn lịch sử > Thơ có sự thống nhất giữa mục đích tuyên truyền cách mạng và nội dung trữ tình
> Các vấn đề chính trị không khô khan mà thấm thía lòng người.
 Biểu hiện:
- Nguồn cảm hứng: khai thác từ đời sống chính trị đất nước, từ hoạt động cách mạng và tình cảm chính trị của bản thân…> Cảm nhận, khám phá đời sống trên phương diện chính trị, trong mối quan hệ cuộc đấu tranh cách mạng với ân tình cách mạng.
- Nội dung:
+ Tình cảm lớn (với quê hương, đồng chí, lãnh tụ…)
+ Lẽ sống lớn (sẵn sàng dấn thân, xả thân vì cách mạng)
+ Niềm vui lớn (hân hoan chiến thắng …)
Những bài thơ hay nhất của Tố Hữu là những bài thơ hài hòa được 3 nội dung này : “Việt Bắc”, “Bác ơi”, “Kính gửi cụ Nguyễn Du”…
Nhận xét: Kế tục và đổi mới dòng thơ ca cách mạng đầu thế kỉ XX- 1930 do Phan
Bội Châu khởi xướng:
- Thơ ca cách mạng trước Tố Hữu: nằm trong hệ thống thẩm mĩ phi ngã văn học phong kiến > con người phi cá thể.
- Thơ Tố Hữu: thẩm mĩ văn học hiện đại > con người được bộc lộ những cảm xúc cá nhân phổ quát.
3.2. Mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn

 Tính sử thi:
- Biểu hiện của khuynh hướng sử thi trong văn học:
+ Đề tài: những vấn đề có tính chất cộng đồng, có ý nghĩa lịch sử trọng
đại.
+ Hình tượng trung tâm: anh hùng.
+ Cảm hứng: ngợi ca.
+ Nghệ thuật: trùng điệp, phóng đại.
- Biểu hiện khuynh hướng sử thi trong thơ Tố Hữu:
+ Tập trung khắc họa những bối cảnh rộng lớn, những biến cố quan trọng tác động mạnh mẽ đến vận mệnh dân tộc
+ Hình tượng trung tâm: con người của sự nghiệp chung, cá nhân kết tinh số phận, vẻ đẹp của cộng đồng
+ Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng lịch sử - dân tộc > ngợi ca.
 Cảm hứng lãng mạn:
- Hướng về tương lai: hay nói tới “ngày mai”.
- Khẳng định lí tưởng, niềm tin vào tương lai, vào cách mạng.
Thơ Tố Hữu chú trọng tác động tình cảm qua nhạc điệu, tâm tình, qua bộc lộ trực tiếp cảm xúc bằng lời cảm thán.
3.3. Giọng điệu tâm tình ngọt ngào tha thiết

 Cơ sở:
- Chất Huế trong con người và hồn thơ Tố Hữu.
- Rung động mãnh liệt với đời sống cách mạng, nghĩa tình cách mạng.
- Ý thức về mối giao cảm giữa nhà thơ và bạn đọc: Thơ là chuyện đồng
điệu (…) trên cở sở đồng ý đồng tình,…
 Biểu hiện:
- Nói tình cảm chính trị bằng giọng tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình.
- Cách xưng hô: gần gũi, thân mật như một lời trò chuyện tâm tình.

3.4. Đậm đà tính dân tộc

 Nội dung:
Phản ánh hiện thực đời sống dân tộc bằng sự gắn bó khăng khít với đạo lí tự ngàn xưa > thơ Tố Hữu làm giàu và “nhuận sắc” cho những tình cảm, đạo đức truyền thống.
 Nghệ thuật:
- Thể thơ: đa dạng nhưng đặc biệt thành công ở những thể thơ truyền thống
+ Lục bát: mang cả sắc thái lục bát ca dao và lục bát cổ điển (Việt Bắc, Bầm ơi, Khi con tu hú…)
+ Thất ngôn: trang trọng cổ điển nhưng linh hoạt, biến hóa trong gieo vần tạo nhịp phù hợp với việc diễn tả những tình cảm của thời đại mới (Mẹ Tơm, Bác ơi, Theo chân Bác…)
- Ngôn ngữ: sở trường trong việc sủ dụng từ ngữ hình ảnh ước lệ, ví von có tính truyền thống.
- Nhạc điệu:
+ Cách tạo nhạc điệu: Phát cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt;
biệt tài sử dụng từ láy cùng vần, phối thanh, ngắt nhịp.
+ Tạo nhạc điệu bên trong tâm hồn con người > Chiều sâu tính dân tộc của thơ Tố Hữu.
B. TÁC GIẢ TỐ HỮU

1. Khái quát về tác phẩm

 Hoàn cảnh sáng tác:
- Gắn với sự kiện chính trị lớn: sau chiến thắng Điện Biên Phủ, 10/1954: Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ từng gắn bó máu thịt với vùng đất kháng chiến, nay từ biệt về xuôi
- Việt Bắc ra đời từ buổi chia tay đầy lưu luyến đó.
 Bố cục: 2 phần
- Phần 1: Tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.
- Phần 2: Dự cảm về tương lai tươi sáng và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác.
 Cấu tứ:
- Lối đối đáp của ca dao.
- Không phải lời đối đáp trực tiếp mà là lời hỏi đáp bên trong chính của chủ thể
trữ tình tự phân thân
+ Hỏi: băn khoăn về chuyện quên nhớ trên của người đi trên nền những kỉ
niệm gắn bó.
+ Đáp: khẳng định chắc chắn tình cảm thuỷ chung son sắt.
Hỏi hay đáp đều lấy nỗi nhớ làm trung tâm. Nỗi nhớ vận hành và biến hoá mạch thơ. Ta và mình thâm nhập trong nhau, quyện vào nhau trong một nhớ nhung tha thiết.
 Đoạn trích:
- Có thể chia làm 2 đoạn:
+ Đoạn 1(từ đầu – mái đình, cây đa): Tâm tình của người ở lại - đồng bào
Việt Bắc.
+ Đoạn 2 (còn lại): Tâm tình của người ra đi – cán bộ kháng chiến.
- Cấu tứ:
+ Thống nhất trong cấu tứ chung của bài thơ.
+ Hình thức đối đáp > hình thức thường gặp trong khúc hát giao duyên ở
chặng giã bạn > đậm màu sắc dân gian.
+ Sáng tạo: chủ thể tác giả phân thân thành 2 nhân vật trữ tình (mình – ta) > hô ứng, đồng vọng > thực chất là lời độc thoại của chủ thể trữ tình dưới hình thức đối thoại > thể hiện sấu sắc, ý nhị những tâm sự tha thiết trong cuộc chia li lịch sử.
2. Phân tích

Phân tích

2.1. Đoạn 1: Tâm tình người ở lại

 Hai câu hỏi mở đầu cho cuộc chia ly:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
- Xưng hô: Mình –ta

• Hay gặp trong ca dao: biểu hiện tình yêu đôi lứa (Mình nói với ta mình hãy còn son/ Ta đi qua ngõ thấy con mình bò; Mình với ta tuy hai mà một/ Ta với mình tuy một mà hai…) > tình cảm cá nhân.
• Biểu đạt tình cảm cán bộ kháng chiến - đồng bào Việt Bắc > tình cảm chung, lớn, mang màu sắc chính trị.
Cuộc chia tay lịch sử được miêu tả như cuộc chia ly của đôi bạn tình > tình cảm chính trị không khô khan, xa cách mà trở nên gần gũi, dung dị, thân thuộc.
- Điệp từ: nhớ (lặp lại 4 lần)

• Nêu rõ cảm hứng chủ đạo của bài thơ và tình cảm tự nhiên của cuộc chia li: trong giờ phút lên đường, bao nhiêu kỉ niệm nhớ thương dội về, bao nhiêu băn khoăn xung quanh chuyện nhớ-quên, vương níu bước chân giã từ.
• Giống như một nốt nhấn, một âm chủ chi phối mọi biến tấu trong khúc hát chia li.
- Lời hỏi:

• Mười lăm năm > chặng thời gian chiến đấu đầy gian khổ > lượng thời gian cụ thể, có thể đo đếm nhưng lượng ân tình thì vô hạn “thiết tha mặn nồng”.
• Cây-núi-sông- nguồn: nhắc nhớ không gian Việt Bắc, gợi tình cảm cội nguồn truyền thống.
Tái hiện một thời kháng chiến, một vùng kháng chiến. Tóm lại:
- 4 câu đầu chứa 2 câu hỏi: mang sắc thái lời ướm hỏi ngọt ngào của đôi lứa, giống như một ca dao tình yêu > nhắc nhớ về Việt Bắc – cội nguồn cách mạng.
- Cách nói: trực tiếp đi vào cuộc chia li.
- Giọng thơ: thiết tha, nồng ấm > câu hỏi vì thế mang tính chất gợi nhớ, lấy ân tình gọi ân tình hơn là một tra vấn bằng lí chí.
 Sự kiện chia li:
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
- Áo chàm: hình ảnh hoán dụ > đồng bào Việt Bắc, xác định vị thế: người ở
lại, người đưa tiễn.
- Hành động :cầm tay

• Tượng trưng cho tình cảm keo sơn gắn bó.

• Dấu “…”, cách ngắt nhip lẻ 3/5 (Cầm tay nhau/ biết nói gì hôm nay) và nỗi băn khoăn thốt thành lời “biết nói gì hôm nay” > gợi hình dung cái bắt tay ngập ngừng, phân vân, trĩu nặng lưu luyến, bịn rịn.
- Trạng thái: bâng khuâng, bồn chồn > từ láy diễn tả trực tiếp tâm trạng kẻ đi - người ở, “Bước đi một bước dây dây lại dừng…”.
 Tiếng nói tâm tình
Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
- Cấu trúc:
• 6 cặp lục bát/ 12 dòng thơ, tương ứng với 6 câu hỏi, mỗi câu tái hiện một cảnh sắc thiên nhiên, một đặc sản, một sinh hoạt, một sự kiện lịch sự.
• Điệp cấu trúc: Mình đi/ Mình về > đan xen, vừa lặp lại vừa biến đổi linh hoạt > đong đưa nhịp nhàng như lời ru > tạo nhịp ru cho đoạn thơ và toàn bộ bài thơ.
- Hình ảnh

• Không gian:
 Mưa - suối- mây- mù
 Chiến khu
 Nhà, núi non
Nhận xét: xa xôi, mờ mịt> xác định, cụ thể > không gian tranh đấu > khép lại là địa danh lịch sử.
• Tương phản:
 Cuộc sống vật chất thiếu thốn, khó khăn (cơm chấm muối) >< tình cảm yêu nước căm thù giặc, trách nhiệm (thù nặng vai)
 Cuộc sống vắng vẻ, hoang sơ (hắt hiu lau xám) >< ấp ủ tấm lòng thuỷ chung son sắt (đậm đà lòng son)
Đặc trưng Việt Bắc: khó nghèo nhưng ăm ắp ân tình cách mạng > giọng thơ đầy tự hào.
- Cách nói độc đáo: Mình đi mình có nhớ mình> 3 từ mình

• Mình (1, 2): cán bộ kháng chiến.

• Mình (3): vừa là đồng bào Việt Bắc vừa là cán bộ kháng chiến. Nhận xét:
• Trong ca dao: mình dùng để chỉ đối tượng trữ tình.

• Trong thơ Tố Hữu: vừa để chỉ đối tượng trữ tình vừa chỉ chủ thể trữ
tình > màu sắc hiện đại.
Câu hỏi đa nghĩa diễn tả một vấn đề mang màu sắc nhân sinh của thời đại: vấn đề nhớ - quên, thái độ ứng xử với quá khứ (liên hệ với cảm hứng tự vấn trong “Ánh trăng” của Nguyễn Duy)
- Cách ngắt nhịp: 4/4 , 2/2/2/2 > tạo tiểu đối > sự cân xứng > nhạc điệu riêng (trầm bổng, ngân nga, tha thiết) > vẻ đẹp riêng (vừa dân giã vừa mới mẻ, vừa truyền thống vừa hiện đại)
12 câu thơ vừa tái hiện không gian Việt Bắc- khó nghèo, lam lũ nhưng đã thân thuộc và trở thành cái nôi của cách mạng; vừa kín đáo gửi gắm những vấn đề thời đại có ý nghĩa nhân sinh phổ quát.
2.2. Đoạn 2: Tâm tình người ra đi

Lượng câu: 70 câu để trả lời băn khoăn của người ở lại (12 câu) > thấu hiểu sâu sắc, giải quyết thấu đáo mọi trăn trở.
 Khẳng định ân tình sắt son như nhất (4 câu đầu)
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.
- Ta với mình/mình với ta”: ngắt nhịp 3/3, mình – ta lặp lại xoắn xúyt > quấn quýt, gắn bó, không thể chia cắt > Vận dụng sáng tạo ca dao (Mình với ta tuy hai mà một/ Ta với mình tuy một mà hai) > mượn tình cảm lứa đôi để diễn tả quan hệ chính trị khăng khít bền chặt.
- Khẳng định: long ta – sau trước - mặn mà- đinh ninh > nhịp 2/2/2/2, kết hợp với 2 từ láy> lời khẳng định chắc nịch.
- Mình đi mình lại nhớ mình:

• Trả lời ngay lập tức nỗi băn khoăn của người ở lại> nhạy cảm, tinh tế.

• Chữ “lại”: thanh trắc ở âm vực trầm nhất > câu trả lời vừa là lời khẳng đinh, vừa là một nguyện thề thiêng liêng với người ở lại, với chính mình.
• Gắn với câu hỏi “Mình đi mình có nhớ mình” > Sự vận dụng sáng tạo cấu trúc ca dao (Thuyền về có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền): không chỉ có một vế đơn độc- vế hỏi vừa như nêu băn khoăn, vừa khẳng định lòng thuỷ chung của bến đợi mà còn có vế đáp để nói rõ sự chung thuỷ sắt son của người ra đi.
- Cách nói, cách đo đếm đậm màu sắc dân gian: Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu > nghĩa tình cách mạng là vô hạn tận, như suối nguồn không bao giờ vơi cạn.
 Hiện thực Việt Bắc trong hồi tưởng:
- Khái quát: Sau khi khẳng định tấm lòng trước sau như nhất, người ra đi nhớ về một Việt Bắc ắp đầy kỉ niệm. Hình ảnh chiến khu càng sống động bao nhiêu càng cho thấy nỗi nhớ, tình cảm kẻ đi với người ở tươi mới bấy nhiêu. Cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt, kỉ niệm kháng chiến lần lượt hiện hình nổi sắc.
- Bức tranh thiên nhiên Việt Bắc
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi… Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng. Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô. Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

• Trăng - đầu núi, nắng chiều – lưng nương>điệp vần lưng > tạo chất nhạc du dương
• Âm thanh: chày đêm
 Riêng, đặc trưng.
 5/8 thanh bằng> không gian êm đềm, bớt hoang sơ.

• Bức tranh tứ bình:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng dọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
 Hoa cùng người > cách nói đồng nhất > nỗi nhớ đằm sâu, da diết.
 Cấu trúc: câu lục tả thiên nhiên, câu bát tả con người > tạo sự đan xen hài hoà, cân xứng, mang thi vị cổ điển.
 Màu sắc: xanh (rừng), đỏ (hoa chuối), trắng (mơ), vàng (phách), ánh sáng (đèo cao nắng ánh, trăng thu)> rực rỡ, lung linh, trong trẻo, ấm áp, chan hoà, tươi tắn, tràn trề nhựa sống.
 Con người: trong tư thế lao động, làm chủ (dao gài thắt lưng, chuốt từng sợi giang, hái măng một mình) > mỗi người một dáng vẻ gắn với nỗi nhớ và rung cảm người ra đi> hiện lên chấm phá, được miêu tả bằng bút pháp gợi, trên nền bức tranh thiên nhiên lãng mạn, tinh khối.
 Nghệ thuật dùng từ, tạo nhạc, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: chính xác, giàu sức gợi (chuốt > khéo léo của lao động, công việc nặng nhọc dường như trở nên tinh tế như một nghệ thuật, Ve kêu rừng phách đổ vàng > âm thanh và màu sắc có sự tương giao tế vi, cùng một nhịp rung động).
Nhận xét: Thiên nhiên trữ tình, nên thơ được tráng qua lớp men của nỗi nhớ càng thêm lung linh.
- Sinh hoạt Việt Bắc:

• Người mẹ: nắng cháy lưng, địu con lên rẫy; cô gái: hái măng một mình > nhịp lao động khó nhọc, vất vả > đặc trưng cho lao động miền núi > gợi thương gợi xót.
• Lớp học I tờ: không khí náo nức, lạc quan.
- Kỉ niệm kháng chiến:

• Chia cơm xẻ áo (bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng) > Gợi nhắc truyền thống đoàn kết, lá lành đùm lá rách của dân tộc.
• Cùng “một lòng” đánh giặc: địa danh kháng chiến gắn với những dấu mốc lịch sử được đặt liên tiếp > phản ánh những chặng đường cách mạng sôi nổi, hào hùng, gắn bó giữa cấn bộ và đồng bào.
• Bức tranh Việt Bắc ra trận hào hùng, đậm chất sử thi:
 Cách sử dụng từ láy: rầm rập, điệp điệp trùng trùng…
 Ngắt nhịp
 Động từ mạnh
Nhịp hành quân, nhịp chiến đấu, sức mạnh chiến thắng cuồn cuộn như
thác lũ .
- Khẳng định chắc nịch bằng cách lặp lại có biến đổi cấu trúc: Mình về
mình lại nhớ ta> tạc đá lòng sắt son chung thuỷ của người ra đi.
III. CỦNG CỐ KIẾN THỨC

Đề 1: Trình bày ngắn gọn con đường thơ Tố Hữu.

Đề 2: Nêu phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

Đề 3: Phân tích một trong các đoạn thơ sau

a. Mình đi có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà long son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?


b. Ta với mình, mình với ta Lòng ta sa trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…


Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi… Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô. Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sang những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa… c. Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sang như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
Đề 2: Bình giảng đoạn thơ sau:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

Đề 4: Nêu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời và nhận xét về kết cấu đối đáp và cặp đại từ xưng hô
“mình – ta” của bài thơ “Việt Bắc”

Đề 5: Phân tích tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc”.



Gợi ý giải đề

Đề 1

 Phân tích đề:
- Nội dung: Các chặng đường thơ.
- Hình thức: trình bày ngắn gọn.
 Hướng dẫn.
- Khái quát:

• Chặng đường thơ gắn bó song hành với các chặng đường cách mạng.












Đề 2:

• Vừa phản ánh chân thực sự phát triển của cách mạng vừa cho thấy sự vận
động trong tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật thơ Tố Hữu.
- Trình bày ngắn gọn: cho thấy giá trị mỗi chặng, sự vận động (trọng tâm)
- Nhận xét.


 Phân tích đề:
- Nội dung: Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.
- Hình thức: nêu và phân tích ngắn gọn.
 Hướng dẫn:
- Giới thuyết về phong cách:

• Là gì?

• Vai trò của phong cách? > nhà văn lớn là nhà văn có phong cách.
- Phong cách thơ Tố Hữu: nêu luận điểm và phân tích ngắn gọn một hay một vài dẫn chứng để làm sáng tỏ (trọng tâm)
- Đánh giá (nhận xét về phong cách và lí giải cơ sở của phong cách)


Đề 3:





Đề 4:




Tham khảo hướng dẫn giải đề của Tây Tiến (biết phương pháp làm bài) và dựa vào phần kiến thức cơ bản để hoàn thiện.


 Phân tích đề:
- Nội dung: hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của kết cấu đối đáp và cặp đại từ xưng hô
mình – ta.
- Hình thức: nêu ngắn gọn.
 Hướng dẫn:
- Hoàn cảnh ra đời

 Góp phần chi phối các yếu tố nghệ thuật bài thơ, kể cả kết cấu đối đáp và cặp đại từ xưng hô mình- ta.
- Kết cấu đối đáp:

• Mô tả.

















Đề 5:

• Nhận xét:
 Truyền thống và sáng tạo.
 Ý nghĩa.
- Cặp đại từ xưng hô “mình- ta”: biểu hiện của kết cấu đối đáp

• Mô tả

• Nhận xét:
 Truyền thống và hiện đại (phân tích ngắn gọn những chỗ sử dụng sang tạo trong bài thơ)
 Ý nghĩa



 Phân tích đề
- Nội dung: tính dân tộc của bài thơ.
- Hình thức: phân tích cụ thể
 Hướng dẫn:
- Giới thuyết về tính dân tộc:
• Tính dân tộc là gì?

• Biểu hiện?: nội dung và hình thức.
- Vai trò, ý nghĩa?
• Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu (nêu khái quát)
 Nội dung
 Nghệ thuật:
o Thể thơ
o Ngôn ngữ
o Nhạc điệu > biểu hiện sâu sắc nhất.
- Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc (trọng tâm)
- Đánh giá.


















1. Hai mươi câu đầu là lời nhắn gửi, những câu hỏi của “ta” (người ở lại nhắn gửi hỏi “mình” (người về). Cảnh tiễn đưa, cảnh phân ly ngập ngừng, lưu luyến bâng khuâng: “Tiếng ai tha thiết bên cồn… áo chàm đưa buổi phân li…” Có 8 câu hỏi liên tiếp (đặt ở câu 6): “Có nhớ ta… có nhớ không… có nhớ những ngày… có nhớ những nhà… có nhớ núi non… mình có nhớ mình…” Sự láy đi láy lại diễn tả nỗi niềm day dứt khôn nguôi của người ở lại. Bao kỷ niệm sâu nặng một thời gian khổ như vương vấn hồn người:

(…) Mình đi có nhớ, những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son…
Các câu 8 hầu như ngắt thành 2 vế tiểu đối 4/4, ngôn ngữ thơ cân xứng, hài hòa, âm điệu thơ êm ái, nhịp nhàng, nhạc điệu ngân nga thấm sâu vào tâm hồn người, gợi ra một trường thương nhớ, lưu luyến mênh mông.

“Mình” và “ta” trong ca dao, dân ca là lứa đôi giao duyên tình tự. “Mình”, “ta” đi vào thơ Tố Hữu đã tạo nên âm điệu trữ tình đậm đà màu sắc dân ca, nhưng đã mang một ý nghĩa mới trong quan hệ: người cán bộ kháng chiến với đồng bào Việt Bắc; tình quân dân, tình kẻ ở người về.

2. Sáu mươi tám câu tiếp theo là người về trả lời kẻ ở lại. Có thể nói đó là khúc tâm tình của người cán bộ kháng chiến, của người về. Bao trùm nỗi nhớ ấy là “như nhớ người yêu” trong mọi thời gian và tràn ngập cả không gian:

- Nhớ cảnh Việt Bắc, cảnh nào cũng đầy ắp kỷ niệm:

“Nhớ từng bản khói cùng sương,
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre,
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”

- Nhớ con người Việt Bắc giàu tình nghĩa cần cù gian khổ:

“… Nhớ bà mẹ nắng cháy lưng
… Nhớ người đan nón chuốt từng sợi dang
…Nhớ cô em gái hái măng một mình
… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Điều đáng nhớ nhất là nhớ người ở lại rất giàu tình nghĩa, “đậm đà lòng son”:

“Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Nhớ cảnh 4 mùa chiến khu. Nỗi nhớ gắn liền với tình yêu thiên nhiên, tình yêu sông núi, đầy lạc quan và tự hào. Nhớ cảnh nhớ người, “ta nhớ những hoa cùng người”. Nhớ mùa đông “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”. Nhớ “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”. Nhớ mùa hè “Ve kêu rừng phách đổ vàng”. Nhớ cảnh “Rừng thu trăng rọi hòa bình”. Nỗi nhớ triền miên, kéo dài theo năm tháng.

- Nhớ chiến khu oai hùng:

“Núi giăng thành luỹ sắt dày,
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”

- Nhớ con đường chiến dịch:

“Những đường Việt Bắc của ta,
Đêm đêm rầm rập như là đất rung.
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cũng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay…”

Âm điệu thơ hùng tráng thể hiện sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta. Từ núi rừng chiến khu đến bộ đội, dân công, tất cả đều mang theo một sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam thần kỳ quyết thắng.

- Nỗi nhớ gắn liền với niềm tin

“… (Nhớ) ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang
… Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
… Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”

- Nhớ Việt Bắc là nhớ về cội nguồn, nhớ một chặng đường lịch sử và cách mạng:

“Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa”

Một số bài tập

Baì 20556

Tình quê hương đất nước trong ba bài thơ “ Bên kia sông Đuống “ ( Hoàng Cầm ) , “ Việt Bắc “ ( Tố Hữu ) và “ Đất nước “ ( Nguyễn Đình Thi )

Baì 20548

Nhớ chân người bước lên đèo

(Trích Việt Bắc - Tố Hữu)

“Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ Ông cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!

Nhớ Người những sáng tinh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi, rừng núi trông theo bóng Người…”

Các bài tập liên quan

Bộ tranh tứ bình trong bài thơ “Việt bắc”


Cuộc chia tay đầy lưu luyến nhờ thương giữa những người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc được nhà thơ Tố Hữu phản ánh trong bài thơ “Việt Bắc” như cuộc chia tay của một đôi bạn tình. Ta và mình đã sống với nhau mười lăm năm keo sơn gắn bó, giờ đây phải chia tay để làm nhiệm vụ mới. Bài thơ được kết cấu theo lối hát đối đáp dân tộc. Đoạn trích dưới đây là lời của người cán bộ kháng chiến nói lên nỗi yêu thương nhớ của mình đối với Việt Bắc, với thiên nhiên tươi đẹp và với con người Việt Bắc tình nghĩa”
”..Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Mở đầu đoạn thơ, người cán bộ kháng chiến hỏi Việt Bắc có nhớ “ta” không và diễn tả nỗi nhớ của mình với Việt Bắc một cách khái quát:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”

Điệp từ “Ta về” và “nhớ” tăng cường nhạc điệu êm ái hợp với tình cảm thương nhớ và nhấn mạnh tình cảm tha thiết giữa người đi kẻ ở. Trong nỗi nhớ của người ra về, ấn tượng sâu đậm nhất là “hoa” và “người”. “Hoa” là biểu tượng của thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp. Đặt “hoa” bên cạnh “người” làm tôn lên niềm yêu mến trân trọng của người đối với nhân dân các dân tộc Việt Bắc tình nghĩa.

Đoạn thơ còn lại diễn tả nỗi nhớ dào dạt của người về xuôi đối với Việt Bắc. Nỗi nhớ hiện lên trong từng thời gian và không gian của Việt Bắc. Người ra về nhớ cả hình ảnh bốn mùa của Việt Bắc. Cũng là cái cớ để nhà thơ phác họa vẻ đẹp rực rỡ và thơ mộng của núi rừng và gợi hình ảnh của nhân dân Việt Bắc ân tình thủy chung.

Đây là mùa đông với màu xanh tha thiết lại đột ngột bùng lên màu “hoa chuối đỏ tươi” như ngọn lửa của rừng, ấm áp tìn yêu:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao ánh nắg dao gài thắt lưng”

Vẻ đẹp của màu sắc, của hoa lá, của ánh sáng, của hương hoa hòa quyện với vẻ đẹp của con người.

Giữa “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” đã nổi bật lên hình ảnh người lao động miền núi:

“Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Tố Hữu quan sát rất tinh. Người đi rừng bao giờ cũng có một con dao trần dắt lưng lấp lánh ánh sáng mặt trời. Hình ảnh “đèo cao ánh nắng”… ấy làm sao mà quên được?

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Bức tranh mùa xuân lại được chuyển sang gam màu lạnh. Ngày xuân rừng núi phủ một màu trắng tinh khiết của hoa mơ. Động từ “nở” khiến cho màu sắc như đang vận động, màu trắng càng có sức ám ảnh đối với người đọc. Dưới ánh sáng của rừng mơ mùa xuân, hình ảnh cô gái lao động Việt Bắc hiện lên thanh mảnh, dịu dàng:

“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Mùa hè, âm thanh của tiếng ve là đặc trưng của rừng núi Việt Bắc:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng”

Tác giả đã sử dụng bút pháp ấn tượng . Tưởng chừng như tiếng “ve kêu” đậm đặc, rung chuyển cả cây rừng khiến cho lá “phách đổ vàng”, Ấn tượng ấy mang lại nét lạ cho phong cách thơ Tố Hữu. Giữa cảnh rừng mua hè, bất chợt gặp một cô gái “hái măng một mình”, phong cảnh thật là hữu tình.

Cảnh thu Việt Bắc lại được miêu tả về đêm với bầu trời cao rộng và mảnh trăng thu thanh bình.

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
Những đêm trăng thu nổi lên “tiếng hát ân tình thủy chung” như tạc vào trong dạ của người ra đi. Trong trí nhớ của họ, phong cảnh Việt Bắc đầy màu sắc như một cái nền để làm nổi bật hình ảnh người Việt Bắc đảm đang,tình nghĩa, thủy chung.

Như vậy là màu sắc, đường nét, âm thanh của rừng núi Việt Bắc được miêu tả trong sự vận động của thời gian, không gian. Mùa nào, cảnh rừng Việt Bắc cũng đẹp, cũng nên thơ đáng yêu, đáng nhớ. Có thể coi đấy là bộ tranh tứ bình đặc sắc của cảnh rừng Việt Bắc kháng chiến in đậm trong tâm trí của người về.

Đây là đoạn thơ đặc sắc trong bài thờ “Việt Bắc” nổi tiếng của Tố Hữu. Đoạn thơ đã diễn tả được tình cảm nhớ thương Việt Bắc sâu nặng của người cán bộ kháng chiến khi rời Việt Bắc để trở về thủ đô Hà Nội. Ngôn ngữ uyển chuyển, ngọt ngào. Những từ “ta”, “mình” được nhà thơ sử dụng có ý nghĩa mới. Những từ vón rất riêng được Tố Hữu dùng với nghĩa chung, khiến cho cái chung có sứ rung động lạ thường. Nhạc điệu của câu thơ lục bát êm đềm có sức ngân vang trong lòng người đọc như một khúc hát ru kỉ niệm. Điệp từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần với nhiều cấp độ khác nhau tăng cường nhạc điệu du dương của đoạn thơ và nhấn mạnh được nỗi lòng lưu luyến của tác giả với chiến khu, với cảnh, với người Việt Bắc. Đặc biệt hơn cả là trong tâm tưởng của người ra vè in sâu hình ảnh sắc màu của bức tranh tứ bình tươi sáng rực rỡ thơ mộng. Đoạn thơ đã diễn tả được một khía cạnh sâu sắc của chủ đề bài thơ “Việt Bắc” là tình cảm thủy chung – thủy chung với cách mạng.

“Ta” với “Mình” trong bài thơ “ Việt Bắc”

"Việt Bắc” là một bài thơ trữ tình cách mạng. Mối tình giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng được Tố Hữu diễn tả như một mối tình riêng. Tố Hữu hình tượng hóa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng như một đôi bạn tình. Đôi bạn tình đã chung sống với nhau mười lăm năm “ thiết tha, mặn nồng”, giờ đây họ chia tay nhau vì người cán bộ phải đi làm nhiệm vụ mới. Buổi chia li đầy lưu luyến lại phảng phất không khí buổi chia tay của những đôi bạn tình trong ca dao hàng trăm năm nay. Tố Hữu mượn thể hát đối đáp dân tộc, đồng thời cũng mượn luôn cả ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân tộc để thể hiện những tình cảm mới. “Ta” với “Mình” tưởng như chỉ có thể có một đời sống riêng trong ca dao, với Tố Hữu, bỗng lớn dậy, tự nhiên thỏai mái đi thằng vào đời sống chung của dân tộc, ôm trùm lấy những tình cảm lớn của thời đại.

Trong buổi chia tay, Việt Bắc đặt ra cho bạn mình những câu hỏi dồn dập, nặng tình, nặng nghĩa, nặng suy nghĩ, bộc lộ yêu thương đồng thời cũng đòi hỏi được yêu thương. Ray rứt nhất là câu này:

“ Mình đi mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Đây là một trong những câu thơ hay nhất của bài Việt Bắc. Cũng khong sợ nói quá là câu thơ đã cõng cả chủ đề bài thơ, dĩ nhiên là còn có câu chị câu em hộ vệ. Linh hồn của câu thơ đọng ở ba chữ mình. Hai chữ mình trước ngôi thứ hai đã đành, chữ mình sau cũng là ngôi thứ hai. Lạ nhất là đại từ mình ngôi thứ hai này. Trong ca dao, không gặp kiểu đại từ đổi ngôi như vậy.

“Mình đi mình có nhớ mình”

Câu thơ vốn có gốc rễ sâu xa trong ca dao của dân tộc bỗng vụt lớn lên, mới mẻ hiện đại. Nói nôm na ra là anh đi anh có nhớ anh không? Anh nhớ em và anh còn phải nhớ anh nữa. anh có thể quên em, nhưng ngay cả anh, anh cũng có thể quên đấy. Câu hỏi thật sâu nặng, nghe mà giật mình. Ca dao chỉ đòi nhớ em thôi. Vậy là Tố Hữu thêm hương thêm sắc cho chữ tình, và chủ đề sâu sắc của bài thơ lộ ra một cách kín đáo, chứ không đợi đến những câu ướm hỏi dè chừng sau này…

Mình ở đây trong sáng biết mấy, đẹp đẽ biết mấy, anh hùng biết mấy. Mình đã từng gắn bó với những kỷ niêm êm đềm, đã từng đồng cam cộng khổ “miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”, đã từng chia bùi sẻ ngọt “Thương nhau chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” chẳng khác gì ”tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” (Bình Ngô đại cáo). Cho nên mình để lại những trang sử oai hùng, mình gắn liền với những di tích lịch sử vô giá “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”. Bây giờ “Mình về thành thị xa xôi”, rồi “nhà cao”… rồi “phố đông” rồi sáng đèn”… liệu mình có thay lòng đổi dạ với mình không? Mười lăm năm trước đây, Tố Hữu như thấy trước những diễn biến tư tưởng trong hòa bình cho nên đã mượn lời Việt Bắc ướm hỏi một cách xa xôi gợi rất nhiều suy nghĩ. Tước đi cái vỏ ngòai là cách phô diễn đối đáp., Việt Bắc còn lại nguyên hình là bài thơ lòng dặn lòng. Lời thơ tiếng thơ “Việt Bắc” cứ xao xuyến lên là ở cái hương thầm này mà ra. Dặn răng “uống nước nhớ nguồn”. mình hãy nhớ lấy. chất đạo đứ cao đẹp trong những ngày kháng chiến vô cùng gian khổ này. Đó vừa là đạo lí làm người của dân tộc ta vừa là phẩm cách mới của người cách mạng. Về mặt tâm lý cũng sâu sắc. Thực ra người hỏi “ co snhớ mình” không, cũng là một dịp nữa để hỏi “có nhớ ta” không, bởi vì “ mình với ta tuy hai mà một”. Những trang sử oanh liệt kia, những di tích lịch sử vô giá kia đâu phải chỉ là mình? Cách thể hiện tình cảm ở đây thật kín đáo, tế nhị.

Trước những câu hỏi chân tình, tha thiết của Việt Bắc, người về xuôi đáp lại những câu cũng chí tình:

“Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”

(Trả lời câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ta, Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”)

Lại gặp ba chữ mình. Mình ngôi thứ nhất nhớ mình ngôi thứ hai. Sử dụng ngôi thứ hai của đại từ như vậy không có gì đặc biệt, nhưng dùng liền ba chũ mình khiến câu thơ rất quyện và ấm. Nếu thay mình ngôi thứ nhất bằng ta thì tình cảm sẽ lạnh và xa xôi hẳn, điều tối kị trong những buổi chia li, nhất là đối với người ra đi. Ngươc lại, chữ ta trong câu thơ sau đây thì rất thích hợp:

“Mình về mình lại nhớ ta

Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”

(Trả lời cho câu hỏi:”Mình đi mình có nhớ mình, Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”)

Trong lời hỏi của Việt Bắc, Tố Hữu dùng ba đại từ ngôi thứ hai, trong lời đáp của người về xuôi, Tố Hữu lại dùng ba đại từ ngôi thứ nhất. Sự chuyển đổi ngôi thứ của đại từ thật là linh họat. Cũng có thể nói nôm na: anh về anh vẫn nhớ anh đấy!

Tố Hữu sử dụng rất khéo léo những đại từ “ta”, “mình” trong câu làm giàu thêm ý nghĩa của câu thơ. Đây là ta với mình trong cảnh chia li:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.”

Mình và ta đứng ở hai đầu câu thơ nhìn nhau đau đáu. Câu thơ gợi cảm xa xôi, hợp với tâm trạng của người ở lại. Trong tâm trạng chia tay, người ở lại cứ muốn nói xa ra, để được đòi thương, đòi yêu, đòi nhớ, để được thêm cớ nghi kị, ghen tuông. Cách cấu trúc câu thơ này chúng ta cũng bắt gặp trong bài thơ “Thề non nước” của Tản Đà:
”Nước non nặg một lời thề

Nước đi đi mãi không về cùng non”

Lúc thề nguyền. “nước”, “non” đứng sóng đôi nhau. Khi xa cách “nước”, “non” tách ra dứng ở hai đầu mút câu thơ. Xa vời biết mấy!

Trong lời của người về,”ta” với “mình” lại gài chặt với nhau.

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà dinh ninh”

Hoặc:

“Nửa mai mình gởi quê nhà

Nước non đâu cũng là ta với mình”

Ta với mình xoắn quýt , quấn quýt nhau làm nồng nàn cả câu thơ, làm yêu lòng người ở lại

Bài thơ ”Việt Bắc” nồng đượm hương vị ca dao dân tộc. Một trong những yếu tố tạo ra màu sắc dân tộc đó là ngôn ngữ. Ngôn ngữ dân tộc được Tố Hữu vận dùng rất nhuần nhị. Những từ vốn có một đời sống riêng trong ca dao được nhập vào với gia đình ngôn ngữ hiện đại. “Ta”, “mình” đã mang lại cho bài thơ trữ tình cách mạng một màu sắc tình cảm đặc biệt thấm thía, làm riêng cả mối tình chung. Và Ta, mình đi qua tâm hồn Tố Hữu lại cũng được sáng ra, lấp lánh những ý nghĩa mới. Ta với mình ấy là dân tộc. Ta với mình ấy là hiện đại.
Phân tích tác phẩm Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu
Những bài thơ lớn của Tố Hữu đều sáng tác vào những điểm mốc của lịch sử cách mạng Việt Nam. Bài thơ “Việt Bắc” - kiệt tác của Tố Hữu cúng được sáng tác trong một thời điểm trọng đại của đất nước. Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

Đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa.

Tác giả đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca dao dân ca và hình tượng hoá Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến là Ta – Mình. Cuộc chia li giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng như là cuộc chia tay của một đôi bạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến.

Mở đầu là lời của Việt Bắc. Để cho Việt Bắc - người ở lại - mở lời trước là rất tế nhị, vì trong chia tay thì người ở lại thường không yên lòng đối với người ra đi

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Bài thơ “Việt Bắc” có hai giai điệu chính. Câu thơ mở đầu “Mình về mình có nhớ ta” là giai điệu chính thứ nhất. Câu thơ mới đọc thoáng qua tưởng không có gì nhưng sâu sắc lắm. Một trăm cặp tình nhân chia tay cũng đều nói lời này. Tố Hữu mượn màu sắc của tình yêu mà phô diễn tình cảm cách mạng.

Đại tư Mình và Ta đứng ở hai đầu câu thơ, đã thấy xa cách. Từ “nhớ” được điệp lại ba lần đã tạo ra âm hưởng chủ đạo của bài thơ: lưu luyến, nhớ thường, ân tình ân nghĩa.

Người về lặng đi trước những câu hỏi nặng tình nặng nghĩa của Việt Bắc:

“Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Việt Bắc lại hỏi:

“Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

Để cho Việt Bắc hỏi là một cách nhà thơ khơi gợi lại những ngày kháng chiến gian khổ. Chỉ vài hình ảnh “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” là khung cảnh rừng núi hiện lên ảm đạm trong những ngày đầu kháng chiến. Mình và Ta đã từng chịu chung gian khổ “miếng cơm chấm muối”, đã cùng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung “mối thù nặng vai”.

Vẫn còn là lời hỏi của Việt Bắc, nhưng tứ thơ chuyển:

“Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”

Biện pháp tu từ nhân hoá “rừng núi nhớ ai” nói lên tình cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người kháng chiến. Mình về thì núi rừng Việt Bắc trống vắng “Trám bùi để rụng, măng mai để già”. Quả trám (trám xanh và trám đen) và măng mai là hai món ăn thường nhật của bộ đội và cán bộ kháng chiến. Mượn cái thừa để nói cái thiếu, thật hay! Hình thức đối lập giữa cái bên ngoài (hắt hiu lau xám) và bên trong (đậm đà lòng son) biểu hiện chân thật cuộc sống lam lũ, nghèo đói của người dân Việt Bắc, nhưng trong lòng thì thuỷ chung son sắt với cách mạng.

Cuối lời Việt Bắc hỏi người về:

“Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Giai điệu chính thứ hai của bài thơ xuất hiện: “Mình đi, mình có nhớ mình”. Nếu giai điệu một là đạo lí của dân tộc với tư tưởng ân nghĩa thì giai điệu hai là cách mạng. Việt Bắc nhắn nhủ với người về là chẳng những “nhớ ta” mà còn phải “nhớ mình’, nói theo ngôn từ của tình yêu thì chẳng những phải “nhớ em” mà còn phải “nhớ anh” nữa. Cái “anh” mà hồi ở với em. Mình đã sống với Ta mười lăm năm, tình nghĩa biết mấy, anh hùng biết mấy! Mình với Ta viết lên những trang sử oai hùng của dân tộc “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”. Bây giờ xa cách, Mình về thành thị, nhớ đừng thay lòng đổi dại với Ta, mà cũng đừng thay lòng đổi dạ với chính mình:

“Mình về thành thị xa xôi

Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?

Phố đông, còn nhớ bản làng

Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?”

Để cho Việt Bắc ướm hỏi dè chừng như vậy là một cách khéo léo nhà thơ Tố Hữu dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

“Mình đi, mình có nhớ mình”

Đó là câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc” mà cũng là một sáng tạo tuyệt vời của Tố Hữu!

Đón hết những lời ân tình ân nghĩa của Việt Bắc, bây giờ người về mới mở lời. Lời người về cũng chí tình chí nghĩa:

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh,

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”

Hai đại từ Ta – Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Ý nghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một:

“Mình đi, mình lại nhớ mình”

(Trả lời cho câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ta”)

Diễn ra ngôn ngữ của tình yêu là “Anh đi anh lại nhớ em”. Nỗi nhớ của người đi thật là dào dạt, nghĩa tình của người đi đối với Việt Bắc thật là bất tận “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”. Người đi trả lời như vậy hẳn làm yên lòng người ở lại - Việt Bắc.

Như vậy là biến tấu của giai điệu một đã hình thành và mở rộng đến vô cùng. Tất nhiên đấy chỉ là một thủ pháp để nhà thơ miêu tả mối quan hệ khăng khít giữa Việt Bắc và cách mạng, miêu tả lại bản anh hùng ca kháng chiến của quân dân Việt Bắc.

Để xua tan những hoài nghi của người ở lại, người về phải nói những lời thật nồng thắm, phải so sánh với những tình cảm cao quý nhất của con người:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”

Từ “nhớ” được điệp lại trùng trùng và mỗi từ lại gợi lên không biết bao nhiêu kỉ niệm thân thương giữa Ta với Mình. Những chi tiết nhỏ nhặt đã được hồi tưởng (mà cái nhỏ trong tình yêu chính là cái lớn).

“Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Con người Việt Bắc trong lòng người về mới đáng yêu đáng quý làm sao:

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.”

Một tiếng mõ trâu giữa rừng chiều, một tiếng chày đêm ngoài suối âm vang mãi trong lòng người ra về:

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

Nói gọn lại là người về nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, thơ mộng hữu tình(1); nhớ con người Việt Bắc giản dị, tình nghĩa, thủy chung.

Từ giọng điệu anh hung ca. Cuộc kháng chiến anh hùng của Ta và Mình được tái hiện trong hòai niệm của người về:

“Nhớ khi giặc đến giặc lung

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

Thiên nhiên Việt Bắc như có linh hồn là nhờ tác giả sử dụng phép nhân hóa. Núi rừng Việt Bắc tươi đẹp đã trở thành lũy sắt bảo vệ và che chở cho bộ đội. “vây”, “đánh” quân thù. Mỗi một tên núi, tên sông, tên phố, tên bản là một chiến công lừng lẫy của quân dân Việt Bắc. Rồi những đêm hành quân, những đoàn dân công, những đòan xe vận tải tấp nập sôi động:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.”

Tác giả lại chuyển sang giọng điệu thơ trang trọng, thiêng liêng để diễn tả nỗi nhớ của người về đối với Trung ương Chính phủ - Cụ Hồ. Và hình ảnh của Việt Bắc trong trí nhớ của người về là quê hương cách mạng, là căn cứ địa kháng chiến, lừ niềm tin là hi vọng của cả dân tộc.

Người về cũng không quên trả lời câu hỏi gay cấn của Việt Bắc:

“Mình về mình lại nhớ ta

Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” (2)

(Trả lời cho câu hỏi “Mình đi mình có nhớ mình”)

Nghĩa là người về muốn nhắn nhủ với Việt Bắc là dù xa cách dù về thành thị xa xôi thì người các bộ kháng chiến năm xưa vẫn giữ gìn và phát huy phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ cách mạng.

Như vậy là với biến tấu của giai điệu hai, tác giả đã khép lại phần một của bài thơ”Việt Bắc”. Và chủ đề chung thủy – chung thủy với cách mạng của bài thơ “Việt Bắc” đã đạt đến độ sâu sắc ngay trong phần một này.

“Việt Bắc” là một kiệt tác của Tố Hữu mà cũng là kiệt tác của thơ ca cách mạng, thơ ca kháng chiến. Bài thơ thể hiện tài hoa nhiều mặt của nhà thơ Tố Hữu. Thể thơ lục bát được tác giả phô diễn những tình cảm, tư tưởng mới mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Lối hát đối đáp tạo ra giai điệu phong phú cho bài thơ. Nhiều biện pháp tu từ được tác giả vận dụng khéo léo. Ngôn ngữ trong sáng, nhuần nhị, và có nhiều nét cách tân(đặc biệt là hia đại từ Ta - Mình). Tiếng nói yêu thương – nét nổi bật trong phong cách thơ Tố Hữu – không có bài nào thấm thía hơn “Việt Bắc”. Bài thơ còn thể hiện tư tưởng mới mẻ với những dự báo sáng sưốt được biểu hiện bằng hình ảnh phong phú và tấu lên băng âm nhạc làm say mê lòng người.

VB

hững bài thơ lớn của Tố Hữu đều sáng tác vào những điểm mốc của lịch sử cách mạng Việt Nam. Bài thơ "Việt Bắc" - kiệt tác của Tố Hữu cúng được sáng tác trong một thời điểm trọng đại của đất nước. Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ "Việt Bắc". Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình. Đoạn trích bài thơ "Việt Bắc" miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa. Tác giả đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca dao dân ca và hình tượng hoá Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến là Ta - Mình. Cuộc chia li giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng như là cuộc chia tay của một đôi bạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến. Mở đầu là lời của Việt Bắc. Để cho Việt Bắc - người ở lại - mở lời trước là rất tế nhị, vì trong chia tay thì người ở lại thường không yên lòng đối với người ra đi "Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?" Bài thơ "Việt Bắc" có hai giai điệu chính. Câu thơ mở đầu "Mình về mình có nhớ ta" là giai điệu chính thứ nhất. Câu thơ mới đọc thoáng qua tưởng không có gì nhưng sâu sắc lắm. Một trăm cặp tình nhân chia tay cũng đều nói lời này. Tố Hữu mượn màu sắc của tình yêu mà phô diễn tình cảm cách mạng. Đại tư Mình và Ta đứng ở hai đầu câu thơ, đã thấy xa cách. Từ "nhớ" được điệp lại ba lần đã tạo ra âm hưởng chủ đạo của bài thơ: lưu luyến, nhớ thường, ân tình ân nghĩa. Người về lặng đi trước những câu hỏi nặng tình nặng nghĩa của Việt Bắc: "Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay..." Việt Bắc lại hỏi: "Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?" Để cho Việt Bắc hỏi là một cách nhà thơ khơi gợi lại những ngày kháng chiến gian khổ. Chỉ vài hình ảnh "mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù" là khung cảnh rừng núi hiện lên ảm đạm trong những ngày đầu kháng chiến. Mình và Ta đã từng chịu chung gian khổ "miếng cơm chấm muối", đã cùng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung "mối thù nặng vai". Vẫn còn là lời hỏi của Việt Bắc, nhưng tứ thơ chuyển: "Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già. Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son" Biện pháp tu từ nhân hoá "rừng núi nhớ ai" nói lên tình cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người kháng chiến. Mình về thì núi rừng Việt Bắc trống vắng "Trám bùi để rụng, măng mai để già". Quả trám (trám xanh và trám đen) và măng mai là hai món ăn thường nhật của bộ đội và cán bộ kháng chiến. Mượn cái thừa để nói cái thiếu, thật hay! Hình thức đối lập giữa cái bên ngoài (hắt hiu lau xám) và bên trong (đậm đà lòng son) biểu hiện chân thật cuộc sống lam lũ, nghèo đói của người dân Việt Bắc, nhưng trong lòng thì thuỷ chung son sắt với cách mạng. Cuối lời Việt Bắc hỏi người về: "Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?" Giai điệu chính thứ hai của bài thơ xuất hiện: "Mình đi, mình có nhớ mình". Nếu giai điệu một là đạo lí của dân tộc với tư tưởng ân nghĩa thì giai điệu hai là cách mạng. Việt Bắc nhắn nhủ với người về là chẳng những "nhớ ta" mà còn phải "nhớ mình', nói theo ngôn từ của tình yêu thì chẳng những phải "nhớ em" mà còn phải "nhớ anh" nữa. Cái "anh" mà hồi ở với em. Mình đã sống với Ta mười lăm năm, tình nghĩa biết mấy, anh hùng biết mấy! Mình với Ta viết lên những trang sử oai hùng của dân tộc "Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa". Bây giờ xa cách, Mình về thành thị, nhớ đừng thay lòng đổi dại với Ta, mà cũng đừng thay lòng đổi dạ với chính mình: "Mình về thành thị xa xôi Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng? Phố đông, còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?" Để cho Việt Bắc ướm hỏi dè chừng như vậy là một cách khéo léo nhà thơ Tố Hữu dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình. "Mình đi, mình có nhớ mình" Đó là câu thơ hay nhất của bài thơ "Việt Bắc" mà cũng là một sáng tạo tuyệt vời của Tố Hữu! Nguồn: http://Vanthpt.com __________________ Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Trả Lời Với Trích Dẫn tonhu Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới tonhu Tìm bài gởi bởi tonhu #2 Old 10-02-2009, 12:11 AM tonhu Offline Super Moderator Tham gia ngày: Sep 2008 Bài gửi: 50 Default Ðề: Phân tích bài thơ Việt bắc Đón hết những lời ân tình ân nghĩa của Việt Bắc, bây giờ người về mới mở lời. Lời người về cũng chí tình chí nghĩa: "Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh, Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu..." Hai đại từ Ta - Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt "Ta với mình, mình với ta" thật là nồng nàn. Ý nghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một: "Mình đi, mình lại nhớ mình" (Trả lời cho câu hỏi: "Mình về mình có nhớ ta") Diễn ra ngôn ngữ của tình yêu là "Anh đi anh lại nhớ em". Nỗi nhớ của người đi thật là dào dạt, nghĩa tình của người đi đối với Việt Bắc thật là bất tận "Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu". Người đi trả lời như vậy hẳn làm yên lòng người ở lại - Việt Bắc. Như vậy là biến tấu của giai điệu một đã hình thành và mở rộng đến vô cùng. Tất nhiên đấy chỉ là một thủ pháp để nhà thơ miêu tả mối quan hệ khăng khít giữa Việt Bắc và cách mạng, miêu tả lại bản anh hùng ca kháng chiến của quân dân Việt Bắc. Để xua tan những hoài nghi của người ở lại, người về phải nói những lời thật nồng thắm, phải so sánh với những tình cảm cao quý nhất của con người: "Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương" Từ "nhớ" được điệp lại trùng trùng và mỗi từ lại gợi lên không biết bao nhiêu kỉ niệm thân thương giữa Ta với Mình. Những chi tiết nhỏ nhặt đã được hồi tưởng (mà cái nhỏ trong tình yêu chính là cái lớn). "Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" Con người Việt Bắc trong lòng người về mới đáng yêu đáng quý làm sao: "Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô." Một tiếng mõ trâu giữa rừng chiều, một tiếng chày đêm ngoài suối âm vang mãi trong lòng người ra về: "Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa..." Nói gọn lại là người về nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, thơ mộng hữu tình(1); nhớ con người Việt Bắc giản dị, tình nghĩa, thủy chung. Từ giọng điệu anh hung ca. Cuộc kháng chiến anh hùng của Ta và Mình được tái hiện trong hòai niệm của người về: "Nhớ khi giặc đến giặc lung Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù." Thiên nhiên Việt Bắc như có linh hồn là nhờ tác giả sử dụng phép nhân hóa. Núi rừng Việt Bắc tươi đẹp đã trở thành lũy sắt bảo vệ và che chở cho bộ đội. "vây", "đánh" quân thù. Mỗi một tên núi, tên sông, tên phố, tên bản là một chiến công lừng lẫy của quân dân Việt Bắc. Rồi những đêm hành quân, những đoàn dân công, những đòan xe vận tải tấp nập sôi động: "Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên." Tác giả lại chuyển sang giọng điệu thơ trang trọng, thiêng liêng để diễn tả nỗi nhớ của người về đối với Trung ương Chính phủ - Cụ Hồ. Và hình ảnh của Việt Bắc trong trí nhớ của người về là quê hương cách mạng, là căn cứ địa kháng chiến, lừ niềm tin là hi vọng của cả dân tộc. Người về cũng không quên trả lời câu hỏi gay cấn của Việt Bắc: "Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào" (2) (Trả lời cho câu hỏi "Mình đi mình có nhớ mình") Nghĩa là người về muốn nhắn nhủ với Việt Bắc là dù xa cách dù về thành thị xa xôi thì người các bộ kháng chiến năm xưa vẫn giữ gìn và phát huy phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ cách mạng. Như vậy là với biến tấu của giai điệu hai, tác giả đã khép lại phần một của bài thơ"Việt Bắc". Và chủ đề chung thủy - chung thủy với cách mạng của bài thơ "Việt Bắc" đã đạt đến độ sâu sắc ngay trong phần một này. "Việt Bắc" là một kiệt tác của Tố Hữu mà cũng là kiệt tác của thơ ca cách mạng, thơ ca kháng chiến. Bài thơ thể hiện tài hoa nhiều mặt của nhà thơ Tố Hữu. Thể thơ lục bát được tác giả phô diễn những tình cảm, tư tưởng mới mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Lối hát đối đáp tạo ra giai điệu phong phú cho bài thơ. Nhiều biện pháp tu từ được tác giả vận dụng khéo léo. Ngôn ngữ trong sáng, nhuần nhị, và có nhiều nét cách tân(đặc biệt là hia đại từ Ta - Mình). Tiếng nói yêu thương - nét nổi bật trong phong cách thơ Tố Hữu - không có bài nào thấm thía hơn "Việt Bắc". Bài thơ còn thể hiện tư tưởng mới mẻ với những dự báo sáng sưốt được biểu hiện bằng hình ảnh phong phú và tấu lên băng âm nhạc làm say mê lòng người.

Lock's Face book

, ,

LOCK SIÊU NGUY HIỂM
▐|||▐|▐||||▐▐|▐||▐|▐▐▐|▐

http://www.facebook.com/lockdz
[/ALIGN]
June 2012
M T W T F S S
May 2012July 2012
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30