Subscribe to RSS feed

AI VỀ BẾN NGỰ
- tác giả chưa biết


Nhạc :

Nước non ngàn dặm ra đi
Lắng nghe tiếng phách nhặt khoan
Nẻo lên Kim Luông-
Nhớ thu năm nào Thì thầm rặng anh đào mình đã gần nhau

Gió thu lành lạnh giòng Hương
Nhớ ai không ngớt niềm thương
Nẻo xa biên cương có bao nhiêu dặm
Duyên tơ thắm nồng-Mình hỏi đôi dòng.

VỌNG CỔ :

1. Bến Ngự chiều nay có người đang so dây nắn phím bản tình ca theo gió quyện sương chiều….Người ơi còn chia ly thì còn nhớ thương nhiều… Ngược sông Hương còn vương sầu viễn khách, núi Ngự Bình lướt thướt gió vào thu - thì em đây vẫn nhung nhớ thương và ngày đêm vẫn đợi vẫn chờ. Đến bao giờ quanh ánh lửa đò khuya – có thiếp với chàng cùng ngồi nghe sóng vỗ …

2. Ai đi xa cách mười phương… ở đây mình nhớ mình thương một người …Gió thổi chiều nay vi vút lạnh khung trời ….Mở vòng tay đón đợi người viễn khách sao chỉ thấy đường chiều tan tác lá vàng rơi.…Cô đơn buồn theo tiếng trúc chơi vơi- bao tâm sự gửi mây ngàn gió núi. Nhưng chỉ ngại khi quan hà cách trở - ai nhớ thương mình - mà mình nhớ mình thương

THƠ :

Chiều nay buồn lắm Hương Giang ơi !
Thấp thóang ngòai kia nắng nhạt rồi
Bến cũ sầu ai- đò gác mái
Sông dài lặng lẽ nước buồn trôi

VỌNG CỔ :

5. Hương giang ơi, Hương giang có buồn không khi chiều thu sương xuống lạnh,? Riêng ta thì hồn thu cô quạnh bởi ngày đêm chờ đợi bóng ai về …Chiếc liễu ngày xưa với chén rượu giao kề .Đó rồi nẽo quan san bụi hồng tung gió ngựa – chốn quê nhà em vẫn vẹn tình quê
Anh đi mấy nẽo sơn khê
Ở đây em đợi ngày về đòan viên
Rượu hồng dù nhạt hơi men
Khuyên ai chốn ấy đừng quên một người

NHẠC :

Gió thu lạnh lắm về đây
Nhớ ai muôn dặm trời mây
Vẫn vơ sương bay- khói thu là đà
Anh ơi quê nhà mình vẫn thương hoài

VC câu 6…

6. Bếp lửa đò khuya đêm tàn đà tắt lịm. em vẫn ngồi đây để tưởng bóng thương hình ( xề )
Mấy thu rồi không son phấn điểm trang vì lòng thắt thẻo một nỗi buồn xa vắng
Sương thu nhỏ giọt trên đồi
Vọng phía chân trời – em gọi cố nhân ơi .

lời bạt Hạng Vỏ biệt Ngu Cơ

Hạng vương đóng quân ở trong thành Cai Hạ, binh ít, lương hết. Quân Hán và quân chư hầu bổ vây mấy vòng. Đang đêm, Hạng vương thức dậy nghe quân Hán ở bốn mặt đều hát giọng Sở, Hạng vương kinh hoàng, nói:
Hán đã lấy được Sở rồi sao? Sao mà người Sở lại đông như thế?
Đêm đó Hạng vương uống rượu trong trướng cùng mỹ nhân Ngu Cơ. Hạng vương đau đớn cảm khái làm bài thơ, được đời sau gọi là bài "Cai Hạ ca":

Lực bạt sơn hề, khí cái thế,
Thời bất lợi hề, Chuy bất thệ
Truy bất thệ hề khả nại hà,
Ngu hề, Ngu hề nại nhược hà.

Dịch:

Sức nhổ núi, khí trùm đời,
Ngựa Chuy chùn lại bởi thời không may!
Ngựa sao chùn lại thế này?
Nàng Ngu, biết tính sao đây hỡi nàng?

Hạng vương ca mấy lần, Ngu Cơ múa kiếm, hát hòa theo, lời ca rằng:

Hán binh dĩ lược địa,
Tứ diện Sở ca thanh.
Trượng phu ý khí tận,
Tiện thiếp hà liêu sinh.

Dịch:

Quân Hán lấy hết đất,
Khúc Sở vang bốn bề.
Trượng phu chí lớn cạn,
Tiện thiếp sống làm chi.

Rồi Ngu Cơ tự vẫn. Tương truyền nơi máu bà đổ xuống mọc lên một thứ cỏ hễ có rót rượu gần bên thì cỏ múa lả lướt như Ngu Cơ trong tiệc rượu của Hạng Vũ. Người ta gọi cỏ ấy là "Ngu mỹ nhân thảo".
Theo Sử ký, khi Ngu Cơ chết, Hạng Vương khóc chảy nước mắt, tả hữu đều khóc, không ai có thể ngẩng lên nhìn.

TRIEU TU LONG DOAT AU CHUA_MINHCANH NGOCGIAU HUNGCUONG THANHDUOC


Triệu Tử Long Đoạt ấu chúa _(Trọn tuồng)

(Minh Cảnh_Ngọc Giàu_Thành Được_Hùng Cường)

NHẠC :(Ngọc Giàu Ca:)

Sang Đông cách xa, đêm suơng nhớ nhà, cách mấy quan hà Lòng sầu tha thiết,
thầm ngược gối loan, châu rơi mấy hàng Bàng hoàng giấc mơ, thuơng ai mong chờ
Muôn dặm muôn dặm theo chồng, cho trọn phu tùng
Ly biệt ly biệt quê nhà, Muôn dặm quan hà,
Đường về quê cũ, đường dài thăm thẳm, khói sóng muôn trùng,
Lạnh lùng gió đông, thuơng thân từ mẫu, bâng khuâng nhớ mong
Bứt rứt lòng ta, ai thuơng đời hoa, ly huơng nhớ nhà
Trông chân trời xa, mây giăng mấy hàng, sóng biếc dâng nhấp nhô,
Ngàn trùng quê huơng cách xa, ôi xót đau lòng ta....

Hùng cường : (Nói) Bẩm Phu Nhân ,

Ngọc Giàu : Kìa < Châu Sĩ Tướng Quân , có việc chi cấp bách mà từ Đông Ngô sang Kinh Châu giữa lúc đêm vắng canh khuya

SƠN ĐÔNG HƯỚNG MẢ : ( Hùng Cường)

Xin Phu Nhân hãy kíp mau hồi huơng,
Lìa Kinh Châu theo mac tướng lên đường
Đây bức tâm thư từ Đông Ngô gửi đến
Ngô Quốc Thái đã kiệt sức mòn mõi
Mang bệnh trầm kha bởi tháng ngày nhớ con
Bảo Lịnh Bà hãy trở về
Để phút lâm chung được nhìn mặt con

Ngọc Giàu (Nói dặm) : Trời ơi cứ theo thơ nhà mới đến, thì mẹ của ta đã thọ bệnh nan y , ngày đêm đợi tain con qua vạn nẻo quan hà, mà ta không thể về cố quốc viếng thăm từ mẫu.

Hùng cường : Thưa Phu Nhân ! Tiểu thần trộm nghĩ, sông nước đâu có thể cách ngăn tình mẫu tử, vì lẻ gì mà Phu Nhân không thể trở lại Đông Ngô.

Ngọc Giàu : Tướng Quân ơi !
Phận gái có chồng thì phải xuất giá tùng phu,ba năm chẳn lìa Ngô sang đất Hớn, nay Lưu Hoàng Thúc đang bận điều chinh chiến, có lẻ nào ta ra đi không một tiếng giã từ, lại thêm Ấu quân tuổi hãy còn thơ, trên sóng nước thêm ngại điều nguy hiểm !!!

VỌNG CỔ : Câu 1/ (Hùng Cường)
Nhưng Mạc Tướng khuyên Phu Nhân hãy về đi, về cho vẹn câu tình thâm mẫu tử và Quốc Thái cũng tròn nguyện ước là được trông thấy mặt con trước khi vĩnh biệt cỏi duơng......trần,
Xin phu nhân hãy mau mau trở lại Đông Ngô kẻo lổi đạo con người,
Mạc Tướng đi sẽ ra công phò ấu chúa và bảo vệ an toàn tánh mạng của Phu Nhân
Chiếc Giang thuyền đang chờ đợi ở ven sông, đêm không trăng sao nước lũ xuôi giòng,
gió thuận chiều thổi tạt hướng về Đông, độ hai ngày đường là thuyền sang cố Quốc.

Ngọc Giàu (Nói dặm) : Châu Tướng quân ơi !
Nếu ta bỏ ra đi không một lời từ biệt, khi Lưu Hoàng Thúc trở về thì sự việc sẽ ra sao ?

Câu 2/ ( Hùng Cường)
Phu Nhân ơi, chuyến đi đây đâu phải là chuyến đi vĩnh biệt của một cuộc tình duyên lở mộng tao phùng,
Hay là một buồi ly tan trong tình nghĩa vợ chồng,
Mà Phu Nhân sợ hồ tan keo rả, suốt kiếp lạnh lùng gối chiếc chăn đơn
Phu nhân ơi hãy yên lòng về thăm viếng mẫu thân, châu thần tỉnh cho trọn niềm hiếu thảo,
Rồi ngày nào Kinh Châu trở lại sẽ bày tỏ cho Lưu Hoàng rõ biết nguồn cơn

( Nói dặm) : Trống đã điểm canh, Xin Phu Nhân mau mau quyết định, kẻo trời bình minh thì việc về nước khó hoàn thành.

LÝ CON SÁO : ( Ngọc Giàu Ca)
Suơng bay bay,
Khói sóng nhuộm buồn sông kia
Trên con thuyền linh đinh
Nẻo Đông Ngô cất buờc quay về,
Để thăm viếng mẹ già
Kể từ ngày lìa xa cố huơng
Khiến mẫu thân nhớ nhung sầu thuơng
Lòng bồi hồi ngày đêm vái van
Cho sóng êm đến nơi bình yên

(Nói ) : Châu Tướng Quân ! Ta nghe xa xa dường như có tiếng ai réo gọi, âm ba vọng về theo tiếng gió trùng duơng

Hùng Cường : Bẩm Phu Nhân, Tiểu thần chỉ nghe tiếng sóng vổ mạn thuyền và nhịp điệu của Trạo phu đang khua chèo khuấy nước,

Ngọc Giàu : Không, chính tai ta đã nghe và mắt ta đã thấy, kìa Tiệu Tử Thường sơn đã đuổi kịp ta rồi

Minh Cảnh : A, Kìa rồi !

SƠN ĐÔNG HƯỚNG MÃ :
Ta đã trông thấy sau bức màn suơng,
Thấp thoáng cánh buồm nâu
Phải chăng , thuyền loan của Đông Ngô,
Bớ thuyền lạ mặt, mau xuống buồm ghé lại
Cho ta hỏi đuôi đầu, nếu cải lời mạng khó toàn

NGỌC GIÀU : Trạo phu hãy vâng lời ta,
Cố gắng sức chèo mau.

HÙNG CƯỜNG : ( Ba quân ....dạ ) Cung tên hãy cầm tay,
Ta ra lịnh là bắt đầu loạn xạ
Chớ để nó đến gần, nếu cải lời ta chém bay đầu.

Minh cảnh : ( Nói) Cha chả, trên thuyền lạ ba quân loan xạ, còn kêu trạo phu giục giả tay chèo, có vậy mới biết trường thuơng trong lúc hiểm nghèo, thuận dòng nước nhảy sang thuyền Ngô tặc.

Hùng Cường : Này gả kia,nhà nguơi là ai ? tại sao dám chận thuyền của chủ mỗ ?

Minh Cảnh : Ha...Ha...Ha... Đất Kinh Châu rền vang Ngũ Hổ, nguơi há chẳng nghe danh Thường sơn Triệu Tử Long.?

Ngọc Giàu : Kìa Triệu Tử Long , Nữa đêm khuya dám vô lể chận thuyền, không kiêng nể Hớn trào Quốc mẫu.

Minh Cảnh : Thưa Phu Nhân, Thần dám hỏi , Phu Nhân đi đâu nữa đêm khuya thanh vắng, lại còn mang theo Ấu Chúa bên mình ?

Ngọc Giàu : Triệu vân ơi, bởi ta hay tin mẹ già mang bệnh tình thập tử nhất sinh, nên ta phải cấp tốc rời khỏi Kinh Châu không kịp giả từ Lưu Hoàng Thúc.

VỌNG CỔ : Câu 4/ ( Minh Cảnh)



Phu nhân ơi, tình mẫu tử đành rằng vẫn nặng nhưng đạo phu thê còn nặng mấy muơi .....lần
Phu Nhân ra đi giữa đêm khuya không có chiếu chỉ của Lưu Hoàng,
Người lại còn mang theo ấu chúa để âm thầm trở lại Đông Ngô
Mẫu tử thâm canh ly Hớn Quốc,Cô phàm tán dạ biệt Kinh Châu
Tam tùng để đâu Tứ đức để đâu, phu nhân chỉ nhớ câu tình thâm Mẫu Tử
Chớ không nhớ câu đạo nghĩa can thường.

Ngọc Giàu :(Nói dặm) Triệu Tướng quân ơi, ta vẫn biết ta ra đi giữa lúc đêm khuya không một lời giã từ Lưu Hoàng Thúc là ta đã làm một điều lổi đạo Phu Thê, nhưng phận làm con chữ hiếu phải vẹn bề , vạn bất đắc dĩ ta phải hồi cố quận.

Câu 5/ (Minh Cảnh )
Khi Triệu thần hay tin Châu Thiện đã đưa phu nhân rời xa cung hoàng điện ngọc để cùng nhau trở lại quê nhà,
Thần mới phi ngựa suốt ngày đêm dọc nẻo giang hà,
Thần vội tìm một chiếc thuyền nan, một mình lướt sóng đâu quản điều gian khổ tử sinh,
Nhưng qua lớp suơng mù bao phủ khắp Trường Giang, thần chí quyết bao mừng rở khi thoáng thấy bóng cờ
có mấy chữ đề Đông Ngô Đại Quốc , Nhưng khi thuyền của Tiểu thần vừa đến gần thì người ra lệnh cho ba quân loạn xạ, cò kẻ thì truyền cho trạo tử truơng buồm.

Câu 6/ ( Ngọc Giàu)
Triệu Tướng quân ơi, xin người hãy hiểu dùm hoàn cảnh của ta, ba năm trời xa đất nước quê huơng,lòng thắt thẻo nhớ nhung niềm cố thủ, nay hay tin từ mẫu vuơng mang trọng bệnh, dạ ta dường như muối xát kim châm, dù không có lịnh tướng quân nhưng ai ngăn nỗi tình thuơng mẹ già.
Đến nay trên con thuyền vượt sóng trường giang,Ôm Á Đẩu mắt mơ trời viển xứ
Chử trung chử hiếu đôi đường
Lỗi nghỉa can tthuo72ng nhưng trọn đạo làm con.

Thành Được : A kìa !

TỬ QUY TỪ :
Trông ra khơi, có bóng thuyền xa xa
Lẫn khuất trong suơng mờ
Đúng là Ngô Quốc Mẫu
Đã cùng với Á Đẩu
Nơi Giang Đông trở về
Vượt muôn trùng phoing ba
Ta lướt ra giữa dòng
Thuyền của ai ghé liền một khi
Có Truơng Phi đón mừng chúng bây

Ngọc Giàu : (Nói) Châu Thiện tướng quân, Hãy dừng guơm , để ta tiếp chuyện với Hớn trào tam đệ.
_ Kính chào Thúc Thúc

Thành Được : Chào chị
Có chuyện chi cần kíp mà Thúc Thúc lại cản thuyền không cho ta về thăm mẹ ở Đông Ngô ?

Thành Được : Thưa chị, Nếu vì chữ hiếu thân mà chị phải về quê, sao không đợi trời sáng tỏ để sắp đặt cuộc hành trình, chị lại âm thầm giữa lúc đêm khuya tăm tối hả chị ?

Ngọc Giàu : Được tin nhà cấp báo từ mẫu bịnh trầm kha, câu sinh tử như hà, nên tôi phải cấp bách về Động Ngô cho thấy mặt.

Thành Được : Thôi....thôi chị nín đi
Hứ, Truơng Phi này xưa nay quen ăn ngay nói thẳng, tánh không ưa lý sự dài dòng, tôi chỉ hỏi tắt chị một câu , chị về Đông Ngô mà chị có thưa qua với anh tôi là Lưu Hoàng Thúc hay không ? mà chị dám mang cả ấu quân đi theo vậy hả chị ?

Ngọc Giàu : Bởi Lưu Tướng quân đang bận việc quân binh ngoài quan ải, nên tôi ra đi mà không kịp giả từ.

Thành Được : Nói vậy chắc chị có trình qua với Gia Cát quân sư ? Việc chị đem theo Ấu Chúa về quê thăm Quốc Thái.

Ngọc Giàu : Vì chuyến đi cấp bách nên tôi cũng không có thì giờ cáo biệt quân sư

Thành Được : Hứ , như vậy chị đã quấy lắm rồi, ai đời một bà Quốc Mẫu lại lén ẳm con ra đi một mình trong đêm khuya lắt tối tăm, không một tiếng hỏi han, không trình bẩm với chồng,
Tôi xin hỏi chị, Thằng nào, con nào xúi biểu chị làm cái việc phi luân , phi lý như vậy hả chị ?

TỬ QUY Từ :
Hùng Cường : (ca) Têm mặt lọ râu rìa kia ! nguơi là thằng nào tại sao......

....Dám ngang nhiên chận thuyền của ta
Còn đôi co với Quốc Mẫu lắm lời

THÀNH ĐƯỢC : Hứ, nguơi chẳng biết ta là Truơng Dực Đức
Đã cùng Lưu Bang kết nghĩa tại Đào Nguyên
Cùng đoan thệ tử sanh

NGỌC GIÀU : Tam Đệ vui lòng , đừng chận giữ thuyền loan
Để cho ta về thăm viếng mẫu thân

THÀNH ĐƯỢC : Được, Nếu chị muốn về thăm Quốc Thái ở quê nhà
Thì chị phải trao ngay Á Đẩu lại cho tôi (Nói : Được Không ?)

NGỌC GIÀU : Không. không đừng nhẩn tâm chia rẻ mẹ con
Nữ tỳ đâu, đòi ấu chúa lại tức thì

THÀNH ĐƯỢC : Hừ , ai lộn xộn đừng trách ta độc ác
Truơng Phi này với một bọn xà mâu
Từ xưa đến nay chưa biết vị nể một ai.

HÙNG CƯỜNG : Bớ Truơng Phi hảy trao Ấu Chúa cho ta
Bằng cải lời ta quyết chẳng dung tha

NGỌC GIÀU : Giữa nơi đây xin Thúc Thúc nể tình
Cho mẹ con ta được trở lại Đông Ngô.

Thành Được : (Nói) Không....không ...không đ63 chị đem Ấu chúa về Đông Ngô là mắc mưu Châu Công Cẩn. Nói là làm bổn tánh của Truơng Phi.

Ngọc Giàu (ca) MÁI AI :
Thúc Thúc ơi !
Xin chớ nặng lời bởi gấp rút phản hồi
Không kịp tỏ tình với Gia Cát Quân sư

THÀNH ĐƯỢC : Thôi, thôi chị đừng hoài công ngụy biện cho lắm lời
Tôi xin hỏi chị câu này
Vậy chứ Tứ Đức Tam Tùng chị để nó ở đâu

NGỌC GIÀU : Cũng vì tôi vừa được hung tin ở Đông Ngô
Cho hay bịnh mẹ già đã đến lúc trầm kha
Bổn phận làm con , ơn dưởng dục sanh thành
Mong thuở báo đền, câu thúc dục cù lao

THÀNH DƯỢC : Chị nặng nghĩa hiếu thân và nặng nghĩa sanh thành
Nhưng tứ đức tam tùng, chị không trọn đạo tùng phu

NGỌC GIÀU : Truơng Thúc Thúc ơi, Hãy tha thứ dùm tôi
Để tôi về Đông Ngô, muôn thuở nhớ ơn dầy

Hùng Cường : ( Nói) Bới Truơng Dực Đức, nguơi đã đứng trong thuyền ta, Nguơi cam chết đi sao còn đứng đó đôi co với Quốc Mẫu, Hãy đở trường Thương của ta.

Thành Được : Hahahahahahahha.....Châu Thiện, Châu Thiện đã khua môi múa mỏ, phút chốc đã rơi đầu, còn đứa nào muốn viếng thủy tề, hãy thử sức với ông vài hiệp.

NGỌC GIÀU (nói dặm) : Thúc thúc....Thúc Thúc Thúc ơi, Khoan động thủ ......khoan động thủ , hảy dừng tay....hãy dừng tay .
Lủ nô tỳ đâu có tội tình gì, xin thúc thúc hãy niệm tình tha thứ !

VỌNG CỔ : Câu 5/ (Thành Được)
Chị ơi ! sở dỉ Phi này dám làm kinh động ấu quân và Tẩu Tẩu, chẳng qua sợ mắc mưu của Châu Công Cẩn làm cho vợ phải xa...... chồng.
Để cho Đông Ngô và Kinh Châu nước chảy ngược dòng,
Đem máu lửa binh đao và hận thù nối tiếp, Đôi ngã chia lìa vì én bắc nhạn nam
Là gái có chồng chị pải đoan trang, Đâu có thể tự quyền đi ngang về tắt
Khi dại ca tôi bận lo việc nước, chị phải khóa cửa phòng the mới trọn đạo phu thần.

Ngọc Giàu ( Nói dặm) : Thúc thúc ơi, tôi đâu phải là hạng gái lăng loàn trắc nết, bởi cấp bách hồi quê nên không giữ trọn tam cang.

Câu 6/ (Thành Được Ca)
Thơi thì chị cứ yên lòng trở lại Đông Ngô, Còn Ấu Chúa hãy để cho tôi với Triệu Vân đem về trao cho anh tôi là Lưu Hoàng Thúc, có lẻ chị cũng không phiền trách sao chúng tôi đã làm cho chị phải rẻ chia tình mẫu tử, nhưng mất con anh tôi còn đau khổ nhiều hơn, nếu chị thuơng con vì tình phụ tử chỉ tội nghiệp cho tuổi dại khờ của ấu chúa còn quá ngây thơ nên chưa hiểu được chuyện đời,
Thôi chị về đi để ấu chúa lại cho tôi, ngày trở lại mẹ con sum vầy đoàn tụ,
Nếu chị một lòng chống cự, đừng trách Phi này sao nở vô tâm.

Ngọc Giàu : (ngâm) Truơng, Triệu nhị vị Tướng Quân ơi !
Gió buốt từng cơn lạnh biển sâu
Sao rơi thành lệ giữa đêm sầu
Ta nghe đau xót giờ ly biệt
Trách bấy ai bày cuộc bể dâu

VỌNG CỔ : Câu 5/ ( Ngọc Giàu ca)
Có vậy tôi nhờ Nhị Vị Tướng Quân hảy thay tôi lo bảo toàn Ấu Chúa, trở lại Kinh Châu để trao mấy lời tha thiết rằng tôi xin giả biệt Lưu .....Hoàng,
Non nước trùng khơi nặng trỉu gánh cang thường,
Chân muốn bước đi nhưng mặt còn ngảnh lại, nũa thuơng mẹ già nữa nhớ con thơ,
Sóng bạc đầu theo gió nhấp nhô, thuyền tách bến nhưng lòng còn ái ngại
Phận làm con phải trọn câu hiếu đạo, còn nợ gối chăn phải xuất giá theo tình.

Câu 6/
Đêm tàn rồi suơng xuống lạnh Tràng Giang, theo sóng biếc vượt muôn trùng hải lý,
Thuyền nhấp nhô nghe rạt rào sóng vổ, âm ba vọng về theo lớp sóng trùng duơng
Con ơi nhìn con thơ dạ mẹ héo hon, lau mắt lệ mẹ đứt từng đoạn ruột
Thôi thì vì cảnh ngộ nên chia ly tình mẫu tử, thuyền ra khơi là đôi ngã chia lìa,
Vái phật trời cho biển lặng sóng êm, Thuyền sớm cập bến bờ cố quốc
Sau khi thăm viếng mẹ già,
Sẽ vượt Giang hà để trở lại Kinh Châu./.

(Tiếng Khua cheo khuấy nước)HẾT
TRĂN TRỞ ĐÊM BUỒN
Sáng tác : thuytrang
……
NÓI LỐI
Đưa tay dạo một phím đàn
Dường như cung bậc lỡ làng đợi trông
Muôn trùng diệu vợi xa xăm
Có chăng một giấc hồng trôi xa…

Đã bao nhiêu đêm một mình em thao thức, thương nhớ cung đàn ray rứt điệu Nam ...

NAM AI
… Ai.
Bao đắng cay,
Tràn ngập tâm hồn.
Từ xa vắng anh thương,
Mình em trôi nổi dặm trường
Thân lạc loài xứ lạ trời xa,
Nhiều đêm buồn trơ trọi đời hoa
Người ơi có hiểu cho lòng
Hay mình em mãi nhớ mong....
Gió tương tư tìm lá dỗi hờn
Tự hỏi mình sao vơi hết cô đơn ?
Mơ trong giấc mộng tương phùng,
Ngày trở về tóc rối tim run.
Có lẽ từ lâu, anh quên lời ước hẹn,
Nên thư đi mà chẳng có tin về
Năm canh buồn bã ê chề
Não nề tuyệt vọng tình đau.

VỌNG CỔ
1. Đàn ơi ! Xin hãy xoa dịu lòng ta khi nhớ thương trỗi dậy, và khi đêm vắng canh thâu xin cùng ta mãi mãi, xua giấc mộng tình yêu oan trái đau … buồn.
Má phấn tàn phai, trăn trở suốt canh trường.
Nhưng ta nào trách hờn nhân thế , hay trách người tình phía dặm trời xa.
Vì ân tình vẫn còn mãi trong ta, năm tháng trôi qua và sẽ có một ngày.
Hai đứa mình tay nắm lấy bàn tay, sánh bước chung vai đắp xây niềm hạnh phúc.

2. Nhưng đêm nay niềm tin yêu rạn vỡ, người ở phương xa đã có một gia đinh.
Thôi ! Kể từ đây đành lẻ bóng riêng mình.
Không còn vọng tưởng một ngày tương hội, ta biết phải làm gì trong nỗi nhớ cô đơn.
Để trái tim này không nhức nhối từng cơn, và không đớn đau khi ráng chiều buông trên sông nước.
Hỡi cao xanh ! Ta làm sao quên được, khi bóng hình người mãi ngự trị giữa tim ta......

NGÂM THƠ
Đêm nay chăn gối nhạt nhòa
Phòng khuê ngóng đợi xót xa gọi buồn
Ngậm ngùi thêu vấn dệt vương
Mong cây si héo trên nguồn trở xanh…

LÝ CON SÁO
Mấy câu thơ....
Lạc lõng giữa trời chơ vơ.
Âm thầm ước vọng đêm mơ
Tình yêu ơi ! sao quá ơ thờ.
Để mình ta héo hắt mong chờ
Ngày thẩn thờ hoài trông cố nhân....
Khuya đảo điên khát khao tình quân
Tự hỏi lòng duyên xưa ái ân,
Vẫn còn đây hay đã xa ngàn năm….

VỌNG CỔ
5. Trở giấc canh thâu ta gọi cố nhân đâu sao chỉ nghe tiếng gió bên song rã rích từng cơn như cười cợt, rằng ở phương xa người đã chăn êm nệm ấm hỏi cớ sao mi còn vương vấn kẻ vong .... tình.
Dẫu biết người yêu đã có gia đình.
Sao trái tim mi vẫn còn nhộn nhịp, trong giấc ngủ mệt nhoài vẫn da diết nỗi niềm riêng.
Nguyệt lảo ơi ông se sợi tơ duyên, sao để con tạo ngã nghiêng cười đùa sớm tối..
Để đêm nay tình hờn duyên lạc lối, vội trách hay không khi tất cả đã muộn màng.....

6. Đêm đã tàn sao thương nhớ chưa nguôi ? Tay rướm máu trên từng cung phím vọng.
Lỡ tương tư buồn thương bên giấc mộng, quằn quại đêm trường nhói buốt trái tim ai.
Thôi thì ta xin nhận hết những không may, chúc anh nơi phương đó vui vầy và hạnh phúc.
Đừng nhớ đến ta dù thoảng qua giây phút, để người sống bên anh không vương vấn những ưu phiền.
Đêm buồn trăn trở vì đâu, trái tim nhức nhối ruột bào từng cơn.
Đêm nay tan nát tâm hồn, côn trùng rên rĩ xót buồn cho ai ?

Cấu trúc bản Vọng cổ nhịp 32

Cấu Trúc Bản Vọng Cổ Nhịp 32 :

Câu 1 : ...Nhịp 16 Hò
20 Hò , 24 Cống , 28 Xang , 32 Cống
Câu 2 : 4 Xề , 8 Xang , 12 Xang , 16 Hò
20 Hò , 24 Cống , 28 Xang , 32 Xang
Câu 3 : 4 Xề , 8 Xang , 12 Xang , 16 Cống
20 Xang , 24 Cống , 28 Xang , 32 Hò
Câu 4 : 4 Hò , 8 Xề , 12 Xề , 16 Cống
20 Xang , 24 Cống , 28 Xang , 32 Hò
Câu 5 : 4 Xề , 8 Hò , 12 Hò , 16 Hò
20 Hò , 24 Cống , 28 Xang , 32 Xề
Câu 6 : 4 Xề , 8 Cống , 12 Xang , 16 Cống
20 Xang , 24 Xề , 28 Xề , 32 Liu
Câu 7 : 4 Xề , 8 Hò , 12 Hò , 16 Hò
20 Hò , 24 Cống , 28 Xang , 32 Cống
Câu 8 : 4 Xề , 8 Xang , 12 Xang , 16 Xề
20 Xề , 24 Cống , 28 Xang , 32 Xang
Câu 9 : 4 Xề , 8 Xang , 12 Xang , 16 Cống
20 Xang , 24 Cống , 28 Xang , 32 Xư
Câu 10 trùng câu 8
Câu 11 trùng câu 3
Câu 12 trùng câu 4
Câu 13 trùng câu 7 nhưng nhịp 32 Xê
Câu 14 trùng câu 8
Câu 15 trùng câu 3
Câu 16 trùng câu 6 nhưng nhịp 4 Hò
Câu 17 : 4 Hò , 8 Xang , 12 Xang , 16 Cống
20 Xang , 24 Cống , 28 Xang , 32 Hò
Câu 18 trùng câu 8
Câu 19 trùng câu 3
Câu 20 trùng câu 16




(Trích trong Bộ Bài Bản Sân Khấu Cải Lương do nhạc sĩ Nhị Tấn sưu tầm & biên soạn)

Cấu trúc của một bài vọng cổ

Cấu Trúc Bài Vọng Cổ
VỌNG CỔ CÂU 1 :

Cấu trúc:

(HÒ 16, HÒ 20, XÊ 24 (SL), XANG 28, CỐNG 32)

Nhịp 16 & 20 là cặp: HÒ-HÒ.

Nhịp 16 là điểm xuất phát cho những câu vọng cổ có HÒ 16 và HÒ 20 đi liền (như câu 1, 2, 4, 5) vì từ nhịp 16 trở đi, những câu này đi theo một TEMPO giống hệt nhau và thuờng được diễn tả là rất... mùi !

Nhịp 24 (SL) tận cùng bằng note: XÊ

Câu 1 chỉ có 16 nhịp và trước nhịp 16 thường là ngâm thơ, nói lối, tân nhạc v.v... trong lúc đó thì nhạc sĩ cũng ad. lib, gọi là "RAO". Khi ca sĩ bắt đầu "vô" thì đàn ngưng lại đến đúng nhịp 16 thì cả hai bên, người hát lẫn người đàn phải vào cùng 1 lúc đúng ngay chổ "note" HÒ. Do đó ký âm bài này được bắt đầu từ nhịp 16 HÒ. Phần RAO được nói trong 1 phần riêng (xem lại phần đầu KHÁI NIỆM, tiểu đoạn 10).

Sau phần ngâm ad. lib lúc ca sĩ "vô vọng cổ" xuống chữ HÒ thì nhạc sĩ phải "NHỒI".

Lời ca:

- TRUỚC HÒ 16 thuờng là ngâm sa mạc, nói lối hoặc tân nhạc. Thông thuờng là 4 câu văn hoặc có thể dài hơn.
- HÒ 16-20 ÐI LIỀN nhau, luôn luôn dấu HUYỀN
- HÒ 20 chỉ có MỘT câu văn (lời ca) mà thôi, bởi vì khi ca-nhạc-sĩ cùng vào 1 lúc ở nhịp 16 nghe rất mùi ,khán giả có thì giờ vổ tay. Ca sĩ có thì giờ lấy hơi... (lời ca những nhịp khác có HAI câu văn)
- XÊ 24 (SL) luôn luôn không dấu,
- XANG 32 không dấu,
- XANG 28 dấu gì cũng được, không bị chi phối bởi luật bằng trắc, và cũng không được thống nhất nên có thể là XÊ hay XANG.
- CỐNG 32 ở câu 1 phải là vần trắc

VỌNG CỔ CÂU 2

Cấu trúc:
(XỀ 4, XANG 8, XANG 12, HÒ 16, HÒ 20, XÊ 24 (SL), XÊ 28, XANG 32)

Câu Vọng cổ bắt đầu luôn luôn là XỀ 4 (ngoại trừ câu 1 & 4 chỉ có 16 nhịp).

Thường thường và dễ ca nhất là bắt đầu vào ở nhịp 16 nếu lời ca ngắn. Nếu lời ca dài thì bắt đầu ở nhịp 8, 10, 12... v.v.. (đầu, giữa hoặc cuối câu).

Nhịp 16 là điểm xuất phát cho những câu vọng cổ có HÒ 16 và HÒ 20 đi liền như câu 1, 2, 4, 5 vì từ nhịp 16 trở đi, những câu này đi theo một TEMPO giống hệt nhau và thuờng được diễn tả là rất... mùi !

Lời ca:

- Từ XỀ 4 cho đến XANG 12: nhạc đệm, luật bằng trắc không quan trọng.
- HÒ 16 và HÒ 20 ÐI LIỀN nhau nên cấu trúc lời ca giống như câu 1 kể từ nhịp 16.
- HÒ 16-20 luôn luôn dấu HUYỀN
- XÊ 24 (SL) luôn luôn không dấu,
- XÊ 28 dấu gì cũng được.
- XANG 32 không dấu.

VỌNG CỔ CÂU 3

Cấu trúc:

(XỀ 4, XANG 8, XANG 12, CỐNG 16, XANG 20, CỐNG 24 (SL), XÊ/XANG 28, HÒ 32)
Ðặc biệt cho câu 3 vọng cổ chúng ta thấy NHỊP 28 có thể là XÊ hoặc XANG, lời ca không thay đổi. Phần đầu không có chi thay đổi. Nhạc có thay đổi từ nhịp 25 trở đi.
Câu Vọng cổ bắt đầu luôn luôn là XỀ 4 (ngoại trừ câu 1 & 4 chỉ có 16 nhịp).
Nhịp 16 & 20 là cặp CỐNG-XANG.
Nhịp 24 (SL) tận cùng bằng note CỐNG. (Nhịp 24 song lang luôn luôn tận cùng bằng 3 notes : XÊ , CỐNG , XỆ)
Câu Vọng cổ kết thúc ở nhịp 32 bằng note HÒ. (Câu Vọng cổ kết thúc ở nhịp 32 gồm 4 notes chính : CỐNG, XANG, XỀ, HÒ)

Lời ca:

- Câu 3 thuờng lời ca khá dài nên ca-sĩ thuờng vào ở đầu, giữa hoặc cuối nhịp 8, 10, 12... v.v... Nếu lời ca ngắn vẫn có thể vào ở nhịp CỐNG 16 .
- Từ XỀ 4 cho đến NHỊP 12 (XANG, HÒ): nhạc đệm, luật bằng trắc không quan trọng.
- XANG/XÊ 28 dấu gì cũng được. (XÊ và XANG trong nhịp 20 và 28 không bị chi phối bởi luật bằng trắc, và cũng không được thống nhất nên có thể là XÊ hay XANG.)
(XÊ 28 giọng Nam, XANG 28 giọng Nữ lời ca vẫn không thay đổi, vì note XANG (RÉ) luôn luôn được nhấn xuống trên phím đàn cho đến khi nghe ra được note XÊ (MI), thì mới hay và lả lướt, đó là note duy nhất mà Computer không diễn đạt được. Tuy nhiên khi hòa tấu, để đơn giản hóa, mọi nhạc cụ thường chơi XÊ 28.)
- Ðặc biệt CỐNG 16 không nhất thiết phải là vần trắc, dễ ca nhất là không dấu.
- CỐNG 24 (SL):KHÔNG DẤU vì vậy câu 3 giọng ca "ngang-ngang", khó ca, ca sĩ phải có trình độ!
- HÒ 32 phải là dấu HUYỀN

VỌNG CỔ CÂU 4
Vì câu 1 và câu 4 vọng cổ rất giống nhau nên sau câu 1 ta có thể tìm hiểu ngay câu 4.


Cấu trúc:
(HÒ 16, HÒ 20, XÊ 24 (SL), XANG 28, HÒ 32)

Câu 4 cũng như câu 1 bắt đầu ở nhịp 16, vì trước nhịp 16 thường là ngâm thơ, nói lối, tân nhạc v.v...
Nhịp 16 & 20 là cặp: HÒ-HÒ.
Nhịp 16 là điểm xuất phát cho những câu vọng cổ có HÒ 16 và HÒ 20 đi liền (như câu 1, 2, 4, 5) vì từ nhịp 16 trở đi, những câu này đi theo một TEMPO giống hệt nhau và thuờng được diễn tả là rất... mùi !
Nhịp 24 (SL) tận cùng bằng note: XÊ

Lời ca: Cách trình diễn và luật bằng trắc áp dụng giống y như Câu 1

- TRUỚC HÒ 16 thuờng là ngâm sa mạc, nói lối hoặc tân nhạc .Thuờng là 4 câu văn hoặc có thể dài hơn.
- HÒ 16-20 ÐI LIỀN nhau, luôn luôn dấu HUYỀN
- XÊ 24 (SL) luôn luôn không dấu,
- XANG 28 dấu gì cũng được.
- HÒ 32: luôn luôn dấu HUYỀN (HÒ 32 của câu 6 là note HÒ DUY NHẤT KHÔNG DẤU)

VỌNG CỔ CÂU 5

Cấu trúc:

(XỀ 4, HÒ 8, HÒ 12, HÒ 16, HÒ 20, XÊ 24 (SL), XÊ hoặc XANG 28, XỀ 32)

Câu 5 cũng như các câu vọng cổ bắt đầu là XỀ 4 (ngoại trừ câu 1 & 4 chỉ có 16 nhịp).
Nhịp 16 & 20 là 2 cặp: HÒ-HÒ.
Nhịp 24 (SL) tận cùng bằng note: XÊ
Kết thúc ở nhịp 32 bằng XỀ.

Lời ca: Luật bằng, trắc áp dụng y như câu 1 từ HÒ 16 cho đến XÊ/XANG 28.

- Từ XỀ 4 cho đến NHỊP 12 (XANG, HÒ): nhạc đệm, luật bằng trắc không quan trọng. Thường thường và dễ ca nhất là bắt đầu vào ở nhịp 16 nếu lời ca ngắn. Ca-nhạc-sĩ cùng vào ở nhịp 16 .
- HÒ 16-20: luôn luôn dấu HUYỀN
- XÊ 24 (SL) luôn luôn không dấu,
- XANG/XÊ 28 dấu gì cũng được. (XÊ và XANG trong nhịp 20 và 28 không bị chi phối bởi luật bằng trắc, và cũng không được thống nhất nên có thể là XÊ hay XANG)
(XÊ 28 giọng Nam, XANG 28 giọng Nữ lời ca vẫn không thay đổi, vì note XANG (RÉ) luôn luôn được nhấn xuống trên phím đàn cho đến khi nghe ra được note XÊ (MI), thì mới hay và lả lướt, đó là note duy nhất mà Computer không diễn đạt được. Tuy nhiên khi hòa tấu, để đơn giản hóa, mọi nhạc cụ thường chơi XÊ 28.)
- XỀ 32 câu 5 phải là dấu HUYỀN. Ðây là note Mi dòng thứ 5 của "portée", khác với dấu HUYỀN của note HÒ (note LA diapason / espace giữa portée 3 và 4).

VỌNG CỔ CÂU 6


Cấu trúc:
(XỀ 4, XÊ 8, XANG 12, CỐNG 16, XÊ/XANG 20, XỀ 24 (SL), XÊ 28, HÒ 32)

Câu 6 cũng như các câu Vọng cổ bắt đầu luôn luôn là XỀ 4 (ngoại trừ câu 1 & 4 chỉ có 16 nhịp).
Nhịp 16 & 20 là 2 cặp: CỐNG-XANG.
Nhịp 24 (SL) tận cùng bằng note XÊ.
Kết thúc ở nhịp 32 bằng HÒ

Lời ca:

- Từ XỀ 4 cho đến NHỊP 12 (XANG, HÒ): nhạc đệm, luật bằng trắc không quan trọng. Nếu lời ca dài thì bắt đầu ở nhịp 8, 10, 12... v.v
- CỐNG 16 luật bằng trắc không quan trọng, dễ ca nhất là không dấu.
- XANG 20 dấu gì cũng được.
- XỀ 24 (SL) câu 6 phải là dấu HUYỀN. (giống XỀ 32 của câu 5)
Chú ý: đây là Song-Lang DUY NHẤT có dấu HUYỀN trong 6 câu Vọng-cổ. Những Song Lang nhịp 24 của các câu khác LUÔN LUÔN KHÔNG CÓ DẤU !!!
- XÊ 28 dấu gì cũng được.
- HÒ 32 note HÒ DUY NHẤT trong 6 câu vọng cổ KHÔNG CÓ DẤU .

Tính chất vài bài bản cải lương

.Tính Chất Vài Bài Bản Cải Lương
01. Bài Kim Tiền
Bài này theo thang âm:Xừ , xang, xê, cống, líu. Âm dứt ừ Giai điệu bắt đầu từ âm khu cao khu Mẫu Tầm Tử nhưng mức độ có giảm hơn.Dùng nhiều trong trường hợp đốI đáp, cãi nhau, trấn áp, hâm dọa, quyết định một vấn đề.Có thể thay cho bài Mẫu Tầm Tử

02. Bài Khốc Hoàng Thiên
Bài này thuộc về nhạc dân gian Trung Quốc đã thâm nhập nước ta từ lâu và được dân tộc hóa cả đờn lẫn hát.
Tính chất êm ái ,nhẹ nhàng khoan thai, tươi sáng , quyến rũ.Giai điệu rất đẹp , thích ứng vớI mọi giọng ca, do đó có nhiều người lạm dụng.Nó thường được dùng để miêu tả cảnh đẹp, ca ngợi tình yêu, ca ngợi cuộc vui chơi, mời mọc, quyến rũ, tỏ tình.Không thể dùng trong trường hợp xung đột gay gắt.

03. Bài Ú Liu Ú Xáng
Nhạc dân gian Trung Quốc du nhập vào Việt Nam từ lâu và được Việt Nam hóa.Loại vui, không nghiêm túc lắm. Thường dùng cho nhân vật phụ(chính diện hoặc phản diện)có tính kiêu ngạo,khóac lác, khoe khoang trong những trường hợp vui nhộn, chế giễu, đùa nhau, nói thánh nói tướng.

04. Bài Long Hổ
Bài Long Hổ thường đi cập vớI Long Hổ Hội, là loại ngắn nhứt vớI tiết tấu đối chọi, gây nên cảm giác thô kệch ngô nghê. Áp dụng vào những vai kỳ quặc, thô bạo như bọn cướp trên các sơn trại chẳng hạn.

05. Bài Tam Pháp Nhập Môn
Bài này câu cú ngắn ngọn, dứt khoát, tính chất vui vẻ và có phần mộc mạc, chân chất. Ít được dùng cho các nhân vật nghiêm túc.Thường dùng cho những nhân vật phụ (chính diện hoặc phản diện)trong những trường hợp kể lễ, có tính chất vui nhộn, châm biến, đùa nghịch, khoe khoang.

06. Bài Cao Sơn
Cũng có cấu trúc giai điệu ngắn gọn, bước đầu bình ổn dần dần lên khu âm cao, gây sảng khóai , phấn chấn. Áp dụng trẻ con lúc vui nhộn , đùa giỡn,hoặc kể lễ có động tác càng tốt.

07. Bài Thu Hồ
Đẹp và trong sáng như bài Bắc Sơn Trà nhưng có phần nghiêm túc hơn , nếu đờn hoặc hát hát thì có hiệu quả nhúng nhảy. Thường dùng cho vai nữ như Bắc Sơn Trà trong hoàn cảnh vui , phấn khởi, đồng thời cũng có thể dùng trong hòan cảnh tương đối nghiêm túc với tiết tấu tương đối nhanh.

08. Bài Hành Vân
Bài này được kết cấu giữa ba loại điệu thức:1,4 và 3.Thang âm:Hò xừ, xang xê, cống;Hò , xự , xang , xê , phan;Xang, xê, cống, liu, ú. Ba loại thức này kết hợp với tiết tấu khoan thai tạo cho bài Hành Vân có tính chất nhẹ nhàng, buồn vui lẫn lộn, là loại kể chuyện có tính chất ca xướng, có tình cảm nhưng không buồn lắm và cũng không vui lắm.Vì nó ở giữa khỏang vui và buồn nên người đờn có thể chuyển sang hơi xuân hoặc hơi ai rất dể.
Thường được dùng những trường hợp kể lại chuyện đã xảy ra, những khó khăn đã vượt qua, khi buồn thì ca hơi ai, khi vui thì ca hơi xuân.Trong kinh nghiệm sử dụng bài bản, bài này còn được dùng trong trường hợp van lơn, nhắn nhủ, gửi gắm

09. Lý Con Sáo
Bài này kết hợp hai điệu thức 2 và 3 Thang âm :Hò , xự, xáng,xê , phan;Xang, xê, cống, liu ,ú. Đây là một bài ca đẹp, giàu tính ca xướng và tính trữ tình, có màu sắc thôn dã, chất phác, trìu mến, yêu đời và thơ mộng.Bài ca tâm sự, có tính thơ ngây, hồn nhiên, đầm thấm , thường dùng cho vai nữ.Nếu được dùng hợp lý, ở dúng vào hoàn cảnh của kịch thì giá trị của nó càng được nâng cao.

10. Điệu Thức Sáu Âm Trong Cải Lương
Thang âm :Hò, xự , xang , xê, cống , oan Bài này được phát triển từ lý ngựa ô sang hơi nam nên được gọi là ngựa ô nam, thường nói lên tình cảm thương nhớ lâng lâng, ngã hơi buồn nhiều hơn.Trong cách thành lập, có nhiều phách đảo, tạo ra tính chất thổn thức.Có thể gần cùng một lọai với Lý giao duyên, Lý thập tình. Vì là loại ngắn, nó chỉ chứa đựng một niềm tâm sự thoảng qua mà thôi, không phù hợp vớI trường hợp những nổi buồn lớn lao, day dứt như loại oán. Điệu này chỉ dùng cho vai nữ khi kể nỗI éo le sự tình của mình

11. Bài Khổng Minh Tọa Lầu
Bài này là một bài rất khó học cho trúng nhịp, hình thức cấu trúc độc đáo, không giống bài nào khác.Tiết tấu khúc mắc, khặp khiểng, nét nhạc phần đầu bị cắt vụn nhưng vẫn còn thấy phần lưu loát trong toàn bộ phần cấu trúc của bài hát và có nhiều tính kịch. Lời ca gốc nói lên kế bỏ thành trống của Khổng Minh Trung Quốc.Nhạc điệu miêu tả tính chất thập thò, hồi hộp, sợ hãi, gây cấn, nghi ngờ,rất phù hợp với tâm trạng của quân lính Tư Mã Ý khi lọt vào thành bị bỏ trống và cuối cùng phải thua chạy liểng xiểng, phù hộp với tiết tấu ở phần cuối bài. thường đựơc dùng trong loại kể chuyện, đối đáp sinh động, trong hoàn cảnh tương tự như đã nó trên và dùng rộng rãi cho các lọai nhânn vật nam , nữ

12. Bài Võ Biền Xuất Đột
Bài này có tính chất quân hành với tiết tấu khỏe và nhịp nhàng , có thể dùng cho đồng ca trong tình hình đồng loạt cùng hành động.Không dùng tốt như những loai kể chuyện khác.

13. Bài Bắc Sơn Trà
Tiết tấu phong phú, tính chất vui tươi, trong sáng.Là một bài ca đẹp được nhiều người thích nghe, phù hợp với giọng nữ.Chủ yếu đựơc dùng cho
những vai trẻ đẹp, hoặc trẻ con trong hoàn cảnh có nhiều cảnh vật thiên nhiên như chim chóc, hoa lá để ca ngợI thiên nhiên đẹp hay để kể lễ sự
việc có tính chất vui tươi phấn khởi

14. Mẫu Tầm Tử
Bài này được dùng hầu hết trong các vở cải lương.Tiết tấu sinh động, nhanh, căng thẳng,giai điệu thuộc âm khu cao.Tính chất vui tươi. Bài được dùng cho những nhân vật đột xuất, xuất hiện trong những tình huống đột xuất như quân lính xuất hiện bất thình lình báo cáo một cách hốt hỏang về tình hình nguy cấp, tình huống sắp có nguy cơ , cần có cách dốI phó cấp bách.Dùng trong kịch có đột biến để giảI quyết một vấn đề gì khó khăn, bết tắc. Bài này thường đựơc ca ngay, ít khi được bắt cầu bằng nói lối.Có thể dùng cho nhân vật trong lúc giận dữ, đấu tranh tư tưởng, giằng xé, phải đi đến một thái độ dứt khóat.

15. Bài Xuân Nữ
Nhiều người cho bài này thuộc loại oán ngắn vì có giọng oán.Dùng trong hát bộ và trong cải lương.Tính chất bi thiết, bài xuân nữ có khả năng chuyển biến tình thế rất nhanh. Thường dùng trong trường hợp có cảnh bi ai đột xuất , khi xảy ra một biến cố đau thương trong hoàn cảnh bình thường.Dùng trong cảnh giả biệt rất đắt.Có thể dùng làm nhạc nền trong các tình huống kể trên.

16. Bài Ái Tử Kê-Hệ thống các bài Ngự.
Bài này tuy ngắn nhưng hình thức chững chạc ,cân đối như lọai trên .Lời gốc bài này tả một bày gà con bị chồn bắt ,nói lên tình cảm trìu mến thương tiếc .Tính chất hiền hòa , êm ái.

17. Bài Chiêu Quân
Cùng một phong cách với bài Ái Tử Kê nhưng dài hơn và nội dung phát triển sâu hơn .Hai bài này thường đi cặp với nhau.Có thể cả hai cùng do một
tác giả sáng tác ,thương gà con bị chồn bắt rồi nghĩ đến thân phận Chiêu Quân phải đi cống Hồ. Hai bài này có một ý nhạc liên tục và có thức cấu trúc giống nhau nói lên sự quạnh quẽ ,cô đơn ,trầm lặng,dịu hiền , đằm thắm nhưng rất ảo não.


18. Bài Trường Tương Tư
Từ bài Ái Tử Kê dến Chiêu Quân rồi chuyển sang Trường Tương Tư là cách chơi của dàn nhạc tài tử .Trong cách chơi đó ,chúng ta thấy có sự thống nhất từ thấp đến cao về phương diện nhạc điệu và câu nhạc của bài Trường Tương Tư được mở rộng thêm. Tính chất cô đơn quạnh quẽ của bài Trường Tương Tư được phát triển sâu hơn .Nỗi ai óan não nùng ,thất vọng nhớ nhung được thể hiện trong bài càng đậm nét. Hai bài Ái Tử Kê và Chiêu Quân thường dành cho vai nữ ,còn bài Trường Tương Tư thì dùng cho cả nam lẫn nữ.

Phân Loại Bài Bản Cải Lương Tài Tử

Phân Loại Bài Bản Cải Lương Tài Tử


Theo các sách hướng dẫn đờn hát cải lương nói trên thì nhạc cổ và cải lương được phân thành mười mục:
- Nhứt Lý : các điệu Lý
- Nhì Ngâm : ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc...
- Tam Nam : ba bài Nam lớn
- Tứ Oán : các bài Oán
- Ngũ Điểm : sáu bài Bắc lớn
- Lục Xuất : sáu bài ngắn
- Thất Chinh : bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình
- Bát Ngự : tám bài Ngự
- Cửu Nhĩ : 2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn
- Thập Thủ : thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn

Bài Vọng Cổ, hậu thân của bài Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác trong những năm 1920, không thấy trong bảng phân loại nói
trên. Không biết là bởi vì bài Vọng Cổ quá đặc biệt để phân loại hay do sự phân loại này được làm trước khi bản Vọng Cổ được phổ biến rộng rãị
Cũng cần nên nhắc qua là trước khi bài Vọng Cổ chiếm được vị trí số một trong âm nhạc cải lương thì bài Hành Vân được dùng rất rộng rải trên sân
khấu cải lương, như bài Vọng Cổ ngày nay vậỵ

Dưới đây mỗi mục sẽ được điểm qua sơ lược.

1. Nhứt Lý

Các điệu Lý, xuất xứ từ dân ca, được cải lương hóa, thường dùng để hát đệm trong bài Vọng Cổ hoặc trong các tuồng cải lương. Những bài hay được dùng nhiều nhất là :
- Lý Con Sáo
- Lý Ngựa Ô (Nam và Bắc)
- Lý Thập Tình
- Lý Giao Duyên
- Lý Vọng Phu
- Lý Chiều Chiều
- Lý Cái Mơn
- Lý Huế

Trong các điệu Lý, như Lý Ngựa Ô, có ngựa ô Nam và ngựa ô Bắc. Lý Con Sáo và Lý Thập Tình có hơi Xuân và hơi Aị Đờn hơi Bắc và hơi Xuân thì vui, đờn hơi Nam và hơi Ai thì buồn. Các điệu Lý khác phần nhiều đờn hơi Nam.

2. Nhì Ngâm
Gồm có ngâm thơ, ngâm sa mạc, ngâm Kiều , và nhiều điệu ngâm khác. Có người ngâm theo điệu Bắc, có người ngâm theo điệu Huế nhưng đa số ngâm theo điệu Sài Gòn (tùy theo sở trường và khả năng của mỗi người).

3. Tam Nam
Gồm ba bài Nam:

- Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là "tiên phong đạo cốt". Bài này được dùng
để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.

- Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp
Mái) thường hay dùng nhất.

- Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là
"song cước".

Trong "Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam" của ông Trần Văn Khải, nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, có nhắc tới Nam Bình và Nam
Chạỵ

- Nam Bình: còn gọi là Trường Tương Tư (một trong Bát Ngự).

- Nam Chạy: vừa ca vừa chạy, là hai lớp trống của Nam Ai, nhưng ca nhịp thúc để diễn tả lúc chạy giặc.

4. Tứ Oán Gồm các bài:

- Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang
vắn thường hay được dùng.

- Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo nãọ Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dùng lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2
(lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.

- Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dư.ng.

- Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.

- Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.

- Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãị

- Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.

- Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường. Các bài Oán khác đều có những nét
giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.

5. Ngũ Điểm
Gồm sáu bài Bắc lớn, các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.

- Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là
do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài rạ Một câu của "đoản" bằng hai câu của "trường". Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).

- Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào
Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất
nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).

- Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.

- Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi
phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấụ

- Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).

- Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

6. Lục Xuất.
Điệu nhạc các bài này vui, ngắn, gọn. Gồm sáu bài:
- Bình Bán Vắn
- Tây Thi Vắn
- Cổ Bản Vắn
- Xuân Phong
- Kim Tiền: được dùng như bài Mẫu Tầm Tử trong trường hợp đối đáp, cãi nhaụ
- Long Hổ: thường đi cặp với bài Long Hổ Hội, có tiết tấu đối chọị

7. Thất Chinh
Gồm bảy bài:

- Xàng Xê : hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm áị
- Ngũ Đối Hạ: còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.
- Long Đăng: giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.
- Long Ngâm: giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
- Ngũ Đối Thượng: ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.
- Vạn Giá
- Tiểu Khúc

Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.

8. Bát Ngự
Gồm tám bài:

- Đường Thái Tôn: êm, vui, phấn khởi, đắc chí.
- Bát Man Tấn Cống: vui khỏe, để múa hát, chúc tụng
- Duyên Kỳ Ngộ: dùng trong cảnh tái ngộ, thăm hỏi, vui tươi nhộn nhịp. Tiết tấu nhanh, rộn rã,vui tươị
- Kim Tiền Bản: tâm trạng giận dữ, mắng mỏ, hỏi tội, bày binh bố trận, điều binh khiển tướng.
- Ngự Giá Đăng Lâu: khệ nệ, rườm rà, đắc chí vui tươi, kể lể dài dòng.
- Ái Tử Kê: ngắn, giai điệu chững chạc, cân đối, trìu mến thương tiếc. Lời gốc của điệu này tả một bầy gà con bị chồn bắt.
- Chiêu Quân: quạnh quẽ cô đơn, trầm lặng nhưng rất ảo nãọ Bài này thường đi cặp với bài Ái Tử Kê.
- Trường Tương Tư: bài này nhẹ nhàng thư thái, thất vọng, nhớ nhung, ít thê lương hơn Nam Aị

Giới đờn hát tài tử thường đờn liên hoàn các bài Ái Tử Kê, qua Chiêu Quân, rồi đến Trường Tương Tư

9. Cửu Nhĩ
Gồm hai bài:
- Hội Nguyên Tiêu
- Bát Bản Chấn

Hai bài này do nhóm tài tử miền Đông sáng tác, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

10. Thập Thủ
Thập Thủ Liên Hườn còn gọi là Liên Bộ Thập Chương từ Huế đưa vào Nam, được cải lương hóạ Các bài này có điệu nhạc vui, ngắn gọn. Gồm mười
bản Tàu, đã được Việt Nam hóa từ lâu, thường được đờn liên hoàn với nhaụ

- Phẩm Tuyết
- Nguyên Tiêu
- Hồ Quảng
- Liên Hoàn
- Bình Bản (Bình Nguyên)
- Tây Mai
- Kim Tiền Huế
- Xuân Phong
- Long Hổ
- Tẩu Mã

Một điều nên nhắc qua là sự phân loại như trên (khoảng 60 bài được nhắc đến) là ở những năm 1950 hay sớm hơn. Cho đến nay đã có hơn 100 bài
được biết / thu thập (và còn nhiều bài sẽ được sáng chế thêm trong tương lai). Cách phân loại như vậy có phần hơi gò bó, còn bỏ sót nhiều bài
bản.

Có nhiều tài liệu sau này phân loại theo hơi Bắc / Nam / Oán hay cở nhỏ / trung bình / lớn. Ngoại trừ một số bản đặc trưng của mỗi loại, dễ dàng
nhận ra, có không ít bài bản khó mà xác định được thuộc loại nào (chẳng hạn ranh giới giữa nhỏ - trung bình, trung bình - lớn đôi khi không rõ ràng, có nhiều bản pha lẫn các hơi ...)

Cách Dùng:
Tùy theo hoàn cảnh, tình huống, tâm trạng ... mà các bài sau đây thường hay được dùng nhất trong các tuồng cải lương cũng như trong những lúc đàn ca tài tử:

1. Lúc vui rộn rã, ngắn, gọn, thường dùng các
bản:
Long Hổ Hội, Ngũ Điểm - Bài Tạ, Lưu Thủy Đoản, Bình Bán Vắn, Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Khúc Ca Hoa Chúc, Ú Liu Ú Xáng, Lạc Âm Thiều,
Mạnh Lệ Quân, Tam Pháp Nhập Môn, Liễu Thuận Nương, Duyên Kỳ Ngộ, Bắc Sơn Trà, Lý Ngựa Ô Bắc, Lý Phước Kiến, Xuân Phong, Long Hổ, Bình Bán.

2. Lúc vui lâng lâng, kể chuyện dài, thong thả nhàn hạ dạo cảnh ngắm hoa, thường dùng các bản :

Lưu Thủy Trường, Nam Xuân, Xuân Tình.

3. Lúc buồn cách biệt thấm thía, não nùng bi thảm, thường dùng các bản : Văn Thiên Tường, Nam Ai, Trường Tương Tư, Xuân Nữ.

4. Lúc buồn man mác, kể lể tâm tình oán hận, bi hùng trước cảnh chia phôi, phút giây gặp gỡ, thường dùng các bản :
Lý Con Sáo, Chiêu Quân, Lý Ngựa Ô Nam, Lý Thập Tình, Lý Giao Duyên, Lý Vọng Phu, Nam Xuân, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Vọng Cổ, Xàng Xê. Các bản Nam Xuân, Vọng Cổ và Xàng Xê có thể dùng trong nhiều tình huống, tâm trạng : vui nhẹ nhàng, lâng lâng, hay buồn man mác đều dùng được Nam Xuân. Cảnh hội ngộ hay chia phôi; cảnh thống thiết hay bi hùng đều dùng được các bản Xàng Xê hay Vọng Cổ.

5. Lúc cãi vã, giận dữ, đối đáp, tranh biện có tính chất gay gắt, dứt khoát, trả treo, thường dùng các bản: Khổng Minh Tọa Lầu, Kim Tiền Bản, Đảo Ngũ Cung.

6. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách hòa hoãn bình thường, các bản sau đây hay được dùng:
Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Xuân Tình, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Bài Ta..

7. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách gấp rút, vội vàng, thường dùng các bản : Cổ Bản, Mẫu Tầm Tử, Kim Tiền Huế, Ú Liu Ú Xáng, v.v...

Trên thực tế chỉ có một số bản được sử dụng rộng rãi mà thôi. Đa số những bài cải lương dùng trong những buổi đàn ca tài tử được trích từ các vở tuồng cải lương. Lý do là lời đặt riêng cho các điệu / bài bản không nhiềụ Có thể nói là sau này không còn thấy lời mới nữạ Các soạn giả chỉ sáng tác lời cho bài vọng cổ (và các bài bản nhỏ, để hát xen kẽ với vọng cổ).


Sưu tầm

Điệu Phụng hoàng

GẶP LẠI BẠN XƯA (Sáng tác HUỲNH THU NGA)



1/ ......Kỷ niệm ngày xưa..

(-)(-) Cứ ngở phôi pha , theo sóng đời dâu bể

2/ (-) Trời đất còn thương, cho bọn mình gặp lại(-)

(-) Giây phút tương phùng, nỗi vui mừng làm nghẹn bờ môi

3/ (-) (-) (-) Nhắc lại chuyện xưa

(-) Đã mấy mươi năm, làm sao khỏi chạnh lòng

4/ (-) Mình hôm nay, không còn trẻ nữa (-)

(-) Ai cũng qua rồi, cái tơời thơ ôộng hồn nhiên

5/ (-) (-) (-) Mà Cứ tưởng như,

(-) Thưở tuổi còn thơ, đùa vui, nghich bạn phá thầy

6/ (-) Kể bao chuyện củ, xưng tao gọi mầy (-)

(-) Khoảnh khắc thời gian, vội vả hững hờ không chờ đợi

7/ (-) Ta sẽ đi về (-) mỗi đứa mỗi phương

(-) Gặp gỡ hôm nay, đễ ngày mai, têển đưa bịn rịn

8/ Xin hãy cạn vui, cạn ly ưữa thôi, mình phải xa rồi (-)

(-) Ngày mai đây, ta trở lại gia đình

9/ (-) (-) (-) Mái ấm của riêng mình

Gắng chu toàn(+) nuôi dạy cháu con

10/ (-) Mong tình bạn, mình mãi bền lâu(-)

(-) Dẫu đời cách trở, thâm tình khắc sâu

11/ (-) (-) (-) Hằng ước mơ (-) Bạn củ ngày thơ

Quay trở về, bên mái trường

12/ (-) Như những ngày, chung thầy chung lớp (-)

(-) Họp mặt đủ đầy, thỏa dạ chờ mong .
NỔI NIỀM RIÊNG
Sáng tác : Minh lời

(Ngâm thơ )
Nhà tôi ở cạnh nhà nàng
Cách con rạnh nhỏ cách hàng dừa tơ
Tôi thường để ý thầm mơ
Thầm mong duyên thắm đón chờ trúc mai.

VỌNG CỔ:

1/ Tôi với nàng từ thuở còn thơ đến tuổi mộng mơ vẫn là người chung xóm, Nơi thị trấn thân yêu miền quê êm ả bên dòng sông xanh tươi mát ân tình....
Như cảnh sông quê nàng cũng xinh đẹp dáng hình,
Trước nhà nàng có một vườn hoa nho nhỏ, mỗi độ xuân về hương tỏa bay xa,Hai nhà gần bên nên tôi chưa vội bước qua,, chưa gởi trang thư chưa ngỏ lời tâm su, để rồi ngày lại tháng qua, tôi hát bài tình ca thầm mơ tơ tưởng.

2/ Rồi một buổi chiều nàng đến nhà tôi với lời tạm biệt,rằng nàng lên thành pôố học may thêm vững tay nghề....
Tôi bâng khuầng chỉ thốt câu mong đợi ngày về,
Với lời đùa vui cùng nàng khi giả biệt, là đừng giống như chuyện tình buồn như chàng Điệp với nàng Lan, Còn hôm nay Lan đến chốn thành đô, hãy nhớ Điệp ở quê nhà trông đợi, qua câu nói tôi thấy mắt nàng vời vợi, rồi cười dòn thay lời nói thân thương.

NGAM^ THƠ

Ba tháng đầu thơ đi thơ lại
Sáu tháng sau trông mãi thơ nàng
Để lòng tôi mãi miên man
Băn khoăn trăn trở hởi nàng có hay?

VỌNG CỔ :
5/ Thế rồi một hôm qua tin của người bạn láng giềng có dịp lên thành phố, rằng nàng đã bò nghề may đi làm ở nhà hàng sang trọng, mới nghe qua lòng tôi như ai xé ai cào....
Làm sao không đau khi nàng giao tiếp cảnh sang giàu,
Ngày ngày nàng phải vừa lòng bao khách lạ, vị đắng men nồng lời đùa cợt xa hoa,
Tôi lo cho một cánh hoa,
Giữa mùa xuân thắm đậm đà sắc hương,
Lẽ nào dấn bước tha phương
Sợ hoa lâm cảnh bão giông kim tiền...

6/ Nổi niềm riêng này xin gởi đến cho ai,nơi thành đô dìu dập cộ xe, đêm nhà hàng ánh màu rực rở, biết giờ này nàng có nhớ tôi không ? Chớ lòng tôi buồn rười rượi mênh mông, khi nhớ lại dòng thơ ngày nào tôi ấp ủ.
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách con rạch nhỏ cách hàng dừa tơ
Tôi thường để ý thầm mơ
Thầm mong duyên thắm cùng ai nên đợi chờ.
Đợi chờ nàng qua lá thơ tay, tôi nhờ người bạn gởi đến cho nàng thấu hiểu.
Về đi Em! với quê hương yêu dấu
Có tấm chân tình đêm đợi ngày mong.
February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29