Công trình đang thi công...

Subscribe to RSS feed

Bắt đầu từ một quy trình



Ký- Nguyễn Bá Doanh

Cách đây chưa lâu, nghe chuyện làm chứng minh nhân dân, ta thường bắt gặp những lời kêu ca phàn nàn kèm theo những tiếng thở dài ngao ngán: “ Làm thì làm đấy, nhưng biết đến bao giờ mới lấy được đây!” trong khi cuộc sống hàng ngày thì vẫn cứ phải quan hệ, cứ phải giao dịch và cứ phải: “Anh (chị) cho xem chứng minh nhân dân”! Khỏi phải nói đến sự phiền toái khi không có loại giấy tờ tuỳ thân thân này. Cũng chẳng thể trách người ta được, bởi đấy là nguyên tắc, là cơ sở pháp lý để khẳng định “Anh là anh” chứ không phải là ai khác! Còn cơ quan công an – Nơi khẳng định tính pháp lý này- họ cũng đang xúc tiến đấy chứ. Còn chậm trễ là do ... phải xếp hàng. Hàng càng dài thì thời gian chờ đợi càng lâu, thế thôi. Họ đâu có lỗi! “ Sư nói sư phải. Vãi nói vãi hay.” Chỉ có người đang chờ tấm chứng minh nhân dân là phải chịu mọi hệ lụy!
Hôm ngồi trò chuyện với chị Phan Thị Hường- Trung tá- Phó trưởng phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (PC 13) Công an Tỉnh- Tôi nêu vấn đề này ra, trầm tư một lúc chị Hường mới thong thả:
-Đúng là nhu cầu làm chứng minh nhân dân ngày một tăng thật, không chỉ cấp mới mà còn cấp đổi do bị hỏng bị mất hoặc sai lệch các nội dung(chủ yếu là ngày tháng năm sinh, tên lót, chữ đệm) với các loại giấy tờ liên quan khác, cũng ngày một nhiều, trong khi đó bộ phận làm chứng minh nhân dân lại không được tăng biên chế. Người ít, việc nhiều, đấy cũng chỉ là một trong các nguyên nhân…
-Thế còn nguyên nhân nào khác nữa ? - Tôi nhanh nhẩu.
Chị cười:
- Do công tác quản lý cũng có, do ý thức trách nhiệm của người làm cũng có. Chính vì vậy, thực hiện chủ trương “ Cải cách thủ tục hành chính” Phòng chúng tôi, với chức năng nhiệm vụ của mình, được giám đốc giao nhiệm vụ xây dựng “Quy trình cấp và quản lý chứng minh nhân dân”. Nội dung quy trình thì dài, nhưng tôi khái quát thế này cho anh dễ hiểu: Để làm được một tấm chứng minh nhân dân phải trải qua rất nhiều khâu ở mỗi cấp. Mỗi khâu lại có một nhiệm vụ nhất định. Bắt đầu từ cấp xã, phường rồi đến huyện, huyện lên tỉnh, tỉnh đến các bộ phận chuyên môn, khi các bộ phận chuyên môn hoàn chỉnh xong rồi mới quay về huyện, thị trả kết quả. Tương tự như một dây chuyền sản xuất vậy. Mà đã là dây chuyền thì chỉ một khâu bị chậm trễ là kéo cả dây chuyền ngừng trệ theo. Do vậy, quy trình là cơ chế vận hành để dây chuyền hoạt động đồng bộ, nhịp nhàng, thông suốt.
-Chị có thể nói rõ hơn?
- Phải bắt đầu từ con người anh ạ. Ngoài các tiêu chuẩn chung như các bộ phận chuyên môn khác như năng lực trình độ, phẩm chất chính trị ra, người cán bộ làm chứng minh nhân phải có ý thức trách nhiệm, ý thức kỷ luật cao, tính tình vui vẻ, hoà nhã nữa. Bởi họ là người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, sau đó mới đến các thủ tục hành chính. Phải rà soát lại hết để loại bỏ những rườm rà, không cần thiết. Đồng thời, quy định rõ chức trách, nhiệm vụ và thời gian phải hoàn thành ở từng cấp công an, từng bộ phận nghiệp vụ. Một số khâu như: phân loại vân tay, phân loại hồ sơ (cấp mới, cấp lại) được phân cấp về cho công an huyện, thị xã, thành phố (căn cứ vào sổ hộ khẩu gốc và sổ hộ khẩu gia đình) chứ không phải chuyển lên công an tỉnh như trước. Chính nhờ sự phân cấp này, đã giải quyết cơ bản tình trạng tồn đọng hồ sơ phân loại vân tay, giảm bớt hồ sơ đề nghị tra cứu nên đã rút ngắn được thời gian hoàn thành.
Cũng trong quy trình này, riêng đối với thành phố, thị xã, công an phường là công an chính quy nên quy trình đã cắt bỏ việc nhân dân phải đến xin xác nhận của phường trước, mà khi có nhu cầu chỉ cần đến công an thành phố, thị xã, kê khai đơn theo mẫu CM3 và xuất trình sổ hộ khẩu thế là xong. Còn việc xác nhận vào đơn CM3 do đội quản lý hành chính cử cán bộ trực tiếp mang xuống cho công an phường xác nhận. Nhằm giảm bớt sự đi lại của nhân dân.
Chị còn cho biết, nhờ có những biện pháp “cải cách” đồng bộ như vậy nên “dây chuyền” đã trở nên “tinh” “gọn” và “hiệu quả cao” nhất là về thời gian trả kết quả. Từ chỗ 2 đến 3 tháng, thậm chí 5 - 6 tháng thì nay chỉ còn không quá 20 ngày, cấp mới, cấp đổi không quá 30 ngày, đấy là đối với cấp huyện. Còn thành phố, thị xã thời gian còn ngắn hơn : Cấp mới không quá 7 ngày, cấp đổi không quá 3 ngày. Trường hợp phải tra cứu không quá 15 ngày. Tất cả các thủ tục đều được công khai hoá trên trang Website của công an tỉnh và đăng nhập thường xuyên những kết quả đã giải quyết để nhân dân được biết.
Quy trình được ban hành, đã được cán bộ chiến sỹ từ tỉnh đến cơ sở nhất là các bộ phận làm chứng minh nhân dân đồng thuận, và thực hiện khá nghiêm túc. Góp phần “cải cách” một bước căn bản trong việc làm chứng minh nhân dân, hướng đến mục tiêu: Nhanh chóng, tiện lợi, giảm bớt phiền hà cho nhân dân. Nhân dân tin tưởng, phấn khởi. Quy trình đã được nhiều đơn vị công an tỉnh bạn đến học tập kinh nghiệm. Được Tổng cục cảnh sát nhân dân - Bộ công an nghiên cứu, để nhân rộng trên phạm vi cả nước.
Chị nhìn tôi nửa đùa:
-Bây giờ, không, phải nói cho chính xác là từ năm 2005 (năm ban hành quy trình) đến nay, công dân đi làm chứng minh nhân dân không còn “thở dài” như anh nói ban đầu nữa đâu !
Chúng tôi cùng cười. Tôi đề nghị:
-Chị có thể “chỉ điểm” cho tôi một vài đơn vị điển hình được không ạ?
- Có nhất thiết phải như vậy không ? “Bó đũa chọn cột cờ” khó lắm ! Theo tôi, anh có thể xuống bất cứ đơn vị nào cũng được.
Vậy là tôi thu xếp lên đường. Đơn vị đầu tiên tôi đến là công an huyện Hậu Lộc.
Trời nắng nên tôi đi sớm, nhưng đến nơi cũng đã hơn 9 giờ. Nắng đã chăng chang, lại thêm gió Tây Nam khô nóng, như hắt lửa vào mặt. Lại mất điện nữa. Nhưng phòng tiếp dân vẫn đông người. Họ đến làm chứng minh nhân dân. Tôi biết được bởi tình cờ nhìn thấy một đồng chí công an đang làm thủ tục lấy vân tay ở cạnh cửa sổ. Đông người nhưng trật tự. Mỗi người chủ động tìm cho mình chỗ ngồi, hoặc ở trong phòng hoặc ra ngoài hóng gió, chờ đến lượt.
Sau cái bắt tay thật chật, Trung tá Hoàng Sỹ Thanh, phó đội trưởng phụ trách Đội quản lý hành chính về trật tự xã hội phân trần:
-4 ngày/ tuần bọn em tiếp dân đến làm chứng minh, mà ngày nào cũng đông như thế này cả đấy bác ạ. Em được biết các huyện khác cũng vậy. Nếu không thực hiện theo quy trình thì giải quyết sao cho xuể được. Bác biết không, cái “hay” của quy trình là nó bắt con người ta không được “tặc lưỡi”: “Thôi để mai!” mà công việc ở khâu nào phải dứt điểm khâu ấy theo thời gian đã ấn định. Chính vì thế nên mới không “ùn tắc” bác ạ.
Anh cho biết, huyện Hậu Lộc có 27 xã, thị trấn, 37 ngàn hộ và 180 ngìn dân. Trước đây khi chưa thực hiện quy trình, mỗi năm các anh cũng chỉ làm được 6 – 7 ngìn chứng minh nhân dân. Thời gian trả thì…tuỳ. Xong lúc nào trả lúc ấy. Nhân dân cũng kêu ca phàn nàn lắm. Là người trong cuộc, nghe dân ca thán như vậy các anh cũng ấy náy lắm. Nhưng biết làm gì hơn ngoài việc động viên nhân dân vui lòng “chờ” và cố gắng để làm tốt phần việc của mình. Nhưng lúc ấy, thời gian hoàn thành chưa quy định cụ thể như bây giờ, nên cũng “ xong được lúc nào thì mang đi tỉnh lúc ấy.” Sau này, khi quy trình được ban hành mới thấy cụm từ “xong lúc nào thì…” đó là biểu hiện của sự trì trệ. Khâu này trì trệ một ít, khâu kia trì trệ một ít và hậu quả là…dân “phải chờ” thế thôi.
Từ khi thực hiện theo quy trình, bình quân mỗi năm huyện Hậu Lộc làm được từ 8 -10 ngìn, có năm làm tới 12 -13 ngìn chứng minh nhân, thời gian trả tương đối đúng hẹn. Nói “tương đối đúng hẹn” là bởi nhiều khi gặp khó khăn “bất khả kháng” như máy móc hỏng phải chờ sửa chữa. Mất điện thường xuyên như thời gian này chẳng hạn. Nhưng cũng chỉ chậm lại dăm ba hôm, vì lý do khách quan nên nhân dân cũng thông cảm.
-Thực hiện theo quy trình các anh có gặp phải khó khăn gì không ạ ? – Tôi hỏi.
Ngẫm nghĩ một lát, anh nói:
-Khó khăn nhất vẫn là con người anh ạ. Nhu cầu làm chứng minh ngày một đông, mà chúng tôi vẫn chỉ có 2 người : Đại uý Mai Văn Long và thiếu uý Hoàng Ngọc Hùng. Tôi, ngoài việc phụ trách đội ra cũng phải tham gia. Sức ép của công việc, của thời gian khiến anh em phải làm thêm cả tối, cả trưa và cả ngày nghỉ nữa mới kịp. Chúng tôi vẫn hay nói vui: “Nhân dân thì một tuần có 4 ngày lên làm chứng minh. Còn người làm chứng minh nhân dân thì 7 ngày đều khép kín.”
Anh còn cho biết, năm 2010, tiếp tục thực hiện cơ chế “một cửa” các anh đã tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền, chuyển chứng minh nhân dân về cho công an xã trả. Như vậy, hàng tháng (hoặc hàng tuần) công an xã lên họp ở huyện, kết hợp nhận chứng minh nhân dân về trả cho công dân ở địa phương. “Một công đôi việc” nhân dân không phải đi lại nhiều lần, nhất là các xã ở xa như Đa Lộc, Cầu Lộc, Đại Lộc v.v…mỗi lần phải lên huyện là “mất công mất buổi” nên nhân dân rất phấn khởi.
Cũng với mục tiêu “tạo thuận lợi cho dân” Công an thị xã Bỉm Sơn lại có một cách làm khác, đó là, căn cứ vào số liệu rà soát từ đầu năm về số người đến tuổi cấp mới, số người cấp đổi (sau 15 năm) ở từng xã, phường, công an thị xây dựng kế hoạch hàng tháng hoặc hàng quý xuống làm chứng minh cho nhân dân ngay tại cơ sở.
Với cách làm này, Thượng tá Lê Văn Được phó trưởng công an thị xã cho biết, các anh có 3 cái “Được”: Được cho dân – Số lượng nhiều (trong một thời gian ngắn) và xác nhận con người chính xác. Bởi làm tập trung có đủ “Ba mặt một lời” : Công an phường, công an khu vực và cán bộ làm chứng minh. Năm 2009, cũng bằng cách làm này các anh đã phát hiện được 5 trường hợp mượn tên tuổi để làm chứng minh nhân dân.
Trở lại với việc thực hiện theo quy trình, anh Được bảo, quy trình “Cấp và quản lý chứng minh nhân dân” cũng nằm trong chương trình “Cải cách hành chính”. Tất nhiên, để “cải cách” một lề lối làm việc đã tồn tại hàng mấy chục năm nay rồi không thể nói là dễ được. Phải sắp xếp lại con người, về bộ máy. Xây dựng kế hoạch công tác cụ thể để “cái này” không ảnh hưởng đến “cái kia” v.v…và quan trọng nhất vẫn là tư tưởng con người. Ban đầu không phải ai cũng thông cả đâu! Nhưng các anh đã gắn “cải cách hành chính” với các phong trào thi đua của giám đốc công an tỉnh: “Xiết chật kỷ cương, tăng cường nghiệp vụ, xây dựng tính nhân văn” và Diễn đàn “Công an lắng nghe ý kiến nhân dân” nên đã tạo được bước “chuyển” quan trọng trong cán bộ chiến sỹ. Ở bộ phận nào anh em cũng nêu cao ý thức kỷ luật, trách nhiệm với công việc được giao. Ở bộ phận làm chứng minh nhân dân cũng vậy, chỉ có 2 người, cũng cảnh “việc nhiều, người ít” nhưng từ khi thực hiện quy trình, không chỉ chất lượng công việc mà tác phong, lễ tiết, ý thức phục vụ nhân dân được nâng lên. Anh bảo đó không phải là nhận xét của lãnh đạo các anh mà là ý kiến của nhân dân trong các cuộc họp có liên quan đến công an mà các anh được dự. Anh kể cho tôi nghe một vài việc điển hình, nhưng tôi nhớ nhất 2 việc. Việc thứ nhất : Bữa ấy đã sắp hết giờ làm việc buổi sáng thì có một bác đã ngoài 60 tuổi, bị mất chứng minh đến xin làm lại, để vào thăm con trong thành phố Hồ Chí Minh. Thấy các anh chị đang thu xếp để đóng cửa, bác lưỡng lự một chút rồi định quay xe. Biết rằng mình chỉ cần nói một câu: “Khất bác đến giờ làm việc buổi chiều ạ” là mình thanh thản ra về. Nhưng các anh chị đã không làm thế. Dù sao bác ấy cũng đã lên đến đây rồi, đi xe đạp dưới trời nắng nôi thế này…Vậy là các anh chị, mời bác vào và làm cho bác. Việc đó, cũng bình thường như muôn vàn các công việc hàng ngày khác, các anh không nhớ, nhưng bác ấy lại không quên. Hôm họp dân phố bác ấy mới nói ra, bác bảo, bác rất cảm động trước tinh thần vì nhân dân phục vụ của các đồng chí trong tổ làm chứng minh.
Một chuyện khác: Một chị khi nộp lệ phí làm chứng minh, nhiều hơn số tiền quy định, người thu tiền phải trả lại tiền thừa nhưng lại thiếu chị ấy 1000 đồng (một ngìn đồng) vì không có tiền lẻ. Mặc dù chị ấy bảo “Thôi cô ạ ! Nó có đáng là bao đâu.” Nhưng cán bộ thu tiền vẫn đứng dậy đi sang các quán ở bên kia đường, đổi lấy tiền lẻ, trả lại cho chị. Chị cũng nhắc lại ở cuộc họp dân.
Tôi chỉ là người nghe mà sống mũi cay cay. Cảm động thật sự. Đâu phải chỉ lúc hy sinh gian khổ, người chiến sỹ công an mới bộc lộ hết phẩm chất của mình!
-Anh vừa nói, tổ làm chứng minh chỉ có 2 người cũng cảnh “việc nhiều người ít” thế các anh có phải làm ngoài giờ không? – Tôi lại hỏi.
Anh cười:
-Thường xuyên anh ạ. – anh Được giải thích thêm – Cũng 4 ngày/ tuần, giờ hành chính, ngày làm việc thì phải tiếp dân, nhiều khâu lắm: hướng dẫn kê khai theo mẫu CM3, chụp ảnh, lăn tay, viết hoá đơn thu lệ phí, viết phiếu hẹn. Một người không thể làm nổi mà phải cả 2 người. Còn các khâu khác như làm hồ sơ, phân loại vân tay, đánh máy danh sách v.v…đều phải làm ngoài giờ cả (giờ nghỉ hoặc ngày nghỉ) . Chúng tôi chỉ có không quá 10 ngày để hoàn thành các thủ tục này gửi lên tỉnh, không thế không kịp anh ạ.- Rồi anh “khoe” luôn - Từ khi thực hiện theo quy trình, chúng tôi chưa một lần lỗi hẹn với dân vì lý do không chính đáng.
Vĩ Thanh.
Trước khi tôi viết những dòng này, tôi cũng đã kể cho nhiều người mà tôi có dịp tiếp xúc (với ý thăm dò) Ai cũng khẳng định việc làm chứng minh nhân dân mấy năm trở lại đây, đã “đâu ra đấy” như tôi đã trình bày. Chỉ có chuyện làm ngoài giờ thì hầu như ai cũng bảo: “Sao “các cụ” ở trên không cho thu thêm mỗi cái chứng minh vài ngìn nữa, rồi trích lại động viên các anh các chị ấy khi phải làm ngoài giờ ?” Nhưng có người lại bảo: “Không được đâu. Phí và lệ phí là do Bộ tài chính quy định, mình làm khác đi đâu có được.” Người khác lại nói: “Bộ, ngành nào thì không biết nhưng đừng để người ta phải thiệt thòi. Vì nhân dân phục vụ thì nhân dân cũng không cấn cá gì khi phải nộp thêm vài ba ngìn nữa...”
Tôi ghi lại và xin được kính chuyển lên các cấp có thẩm quyền.


Bản sắc của con người Việt Nam trong bản sắc văn hóa Việt Nam

Đỗ Ngọc Thạch
http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=9727&LOAIID=21&TGID=1831



Giáo sư Trần Đình Hượu (1927 -1995), nguyên là cán bộ giảng dạy văn học Việt Nam Trung cận đại của Khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội – là một trong những nhà nghiên cứu Đông phương học hàng đầu của Việt Nam. Cuốn Đến hiện đại từ truyền thống tập hợp những bài viết rải rác từ năm 1974 đến 1993 về đề tài Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và những truyền thống văn hóa bản địa cùng tác động của chúng đến quá trình phát triển của xã hội Việt Nam. Cuốn sách là một bộ phận quan trọng trong số các công trình nghiên cứu mà tác giả để lại , mặc dù nó chỉ là những bài tham luận trình bày trong các cuộc hội thảo khác nhau , không liên tục và cũng không theo một kế hoạch dự định từ trước. Mỗi bài chịu tác động của một không khí , của hoàn cảnh lúc viết và mục tiêu cuộc hội thảo. Ngay sau khi xuất bản lần thứ nhất 1994 (có tính chất nội bộ với số lượng hạn chế), cuốn sách đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà khoa học cũng như các nhà tổ chức quản lý trong và ngoài nước …Năm 1986, NXB Văn hóa tái bản lần thứ nhất.

Lần in này có bổ sung hoàn chỉnh gồm 13 bài , 400 trang , sách in đẹp .

Khoảng hơn chục năm trở lại đây , từ giữa những năm 80, tức là đất nước chuyển sang thời kỳ đổi mới , việc nghiên cứu văn hóa dân tộc được xúc tiến rầm rộ , có khá nhiều cuộc hội thảo bàn về chiến lược phát triển , về đặc sắc văn hóa dân tộc . Trên các phương tiện thông tin đại chúng , những nội dung khác nhau về văn hóa dân tộc được xem như là một nội dung quan trọng , phong trào “tìm về cội nguồn dân tộc” sôi động từ nông thôn tới thành thị , vào những dịp ngày lễ , ngày tết , khắp nơi cờ xí rợp trời, xã hội cổ xưa tưởng như đã đi vào dĩ vãng bỗng sống lại trong nghi ngút khói nhang…



Nhìn chung , công cuộc “về nguồn” này có khá nhiều bất cập . Chỉ xin dẫn lại đây ý kiến của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn : sau khi nhắc lại ý kiến cho rằng nghiên cứu văn hóa dân tộc tuy có sôi động nhưng thật ra chỉ là một thứ thời thượng , đi đâu cũng thấy nói tới nghiên cứu văn hóa …, tác giả nhận xét : … “… cả trong những tuyên bố rành rọt về mục đích yêu cầu, lẫn trong công việc cụ thể, có thể thấy ở nhiều người nghiên cứu văn hóa hiện nay một cách định hướng đơn giản : “nghiên cứu văn hóa Việt Nam để cho thế giới thấy văn hóa ta không kém gì văn hóa người”, “nghiên cứu văn hóa để giúp cho mỗi người chúng ta thêm tự hào về truyền thống , và để chống sự xâm nhập vô lối của văn hóa độc hại”. Và Vương Trí Nhàn đã xác định một định hướng khá chuẩn , không hề thời thượng chút nào: “… sẽ là hợp lý hơn nếu xem toàn bộ hoạt động nghiên cứu văn hóa như một cách thức hiệu nghiệm để dân tộc ta tự nhận thức chính mình, tự phát hiện lại mình với mọi cái hay , cái dở vốn có và đang bộc lộ trong mọi lĩnh vực đời sống . Một sự định hướng như thế sẽ đem lại cho công việc vốn rất khó khăn này một căn bản rộng rãi hơn và mục đích lâu dài hơn . Sẽ tránh được lối nghiên cứu nông nổi, đôi khi mang sắc thái vụ lợi , còn khá phổ biến . Sẽ tạo nền tảng chắc chắn cho việc hoạch định chiến lược . Sẽ có thể góp phần thức tỉnh mọi người để giúp họ sống ngày một cao quý , đúng với tầm vóc mà thế kỷ này mang lại cho họ . Sẽ tạo nên một sự sòng phẳng , do đó , là khả năng thuyết phục với những bè bạn đang muốn hiểu và yêu mến nền văn hóa Việt Nam” (Ta tự nhận diện lại ta – Tuổi Trẻ CN số 12 -1998) .



Suy nghĩ trên của ông Vương Trí Nhàn gần với một số ý tưởng của GS Trần Đình Hượu trong cuốn sách nói trên . Trong Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất , GS đã nói rõ cảm hứng của các bài viết chủ yếu vì người ta hiểu sai vấn đề truyền thống và vai trò của Nho giáo trong truyền thống . “Truyền thống được chú ý nhiều hơn trước , nhưng trong cách hình dung công việc xây dựng xã hội và con người vẫn là tìm một mô hình lý tưởng và tìm cách áp đặt nó vào thực tế . Truyền thống cũng được hình dung là những mặt hay , mặt dở để phát huy hay khắc phục . Mà mặt hay nhiều hơn mặt dở . Nó mất đi tính sinh động thực tế bám vào những thiết chế xã hội , những con người , tác động vào phong tục tập quán, vào tâm lý xã hội, nói tóm lại là không dễ tự do lấy bỏ, lựa chọn … Truyền thống không chỉ có lòng yêu nước , anh hùng , bất khuất, cần cù lao động, và không phải chỉ có toàn những cái tốt đẹp. Trong truyền thống có những cái dở , và cũng không ít cái dở” . Việc nghiên cứu truyền thống được GS xác định rõ ràng phải bắt đầu từ việc nghiên cứu Nho giáo bởi cái truyền thống văn hóa Phương Đông , nó chịu ảnh hưởng quyết định của Nho giáo , ảnh hưởng đó đã trở thành truyền thống văn hóa, ngày nay về căn bản vẫn còn khá mạnh . Hiểu Nho giáo không đúng , không rõ thì cũng không thể bàn vấn đề nó còn hay không còn gây ảnh hưởng trong xã hội hiện đại. Một loạt bài viết trực tiếp đề cập đến Nho giáo như “Mấy ý kiến bàn về nghiên cứu Nho giáo”, “Nghiên cứu các hệ tư tưởng Nho , Phật , Đạo từ góc độ lịch sử tư tưởng và đạo đức học”, “Nho giáo và Nho học ở VN , vài vấn đề , về đặc điểm và vai trò của nó trước thực tế phát triển thời cận-hiện đại”, “Con người VN với truyền thống văn hóa Nho giáo hóa”, “Gia đình truyền thống VN với ảnh hưởng Nho giáo” là những bài viết vừa cụ thể vừa khái quát giúp người đọc nhận thức được những vấn đề cơ bản về Nho giáo, về nguồn gốc , quá trình Nho giáo hóa ở xã hội VN phong kiến và sự hiện diện của nó trong xã hội hiện đại. Những bài “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc”, “Thử suy nghĩ theo hướng khác : đi con đường thích hợp với thực tế Phương Đông lên chủ nghĩa xã hội”, “ Vài điểm xuất phát cho công cuộc mở rộng dân chủ trong xã hội ta”, “Làng-họ : những vấn đề của quá khứ và hiện tại”, “Tìm mô hình nhân cách và chiến lược phát triển” là cụm bài tập trung vào chủ đề “hiện đại hóa” , nhưng khi nhìn vào hiện tại , hoạch định chiến lược phát triển cho tương lai thì không thể không nhìn lại quá khứ, do đó , những vấn đề của Nho giáo lại được đề cập tới , tạo nên sự trùng lặp, song không vì thế mà nó nhàm chán mà nó trở nên sinh động, cụ thể khi được hướng tới một vấn đề có tính thời sự của cuộc sống hiện tại .

Một vấn đề luôn có tính thời sự , luôn là tiêu điểm của mọi vấn đề đó là vấn đề CON NGƯỜI. Khi bàn về văn hóa, dù dưới giác độ nào , dù bàn về vấn đề gì thì cũng đụng chạm đến vấn đề con người , bởi con người vừa là khách thể vừa là chủ thể của văn hóa. Các bài viết về Nho giáo và một vài vấn đề khác đều đã giúp người đọc nhận diện được những nét cơ bản của con người VN , và có thể nói bài “Tìm mô hình nhân cách và chiến lược phát triển đặt ở cuối tập sách là bài viết lấy vấn đề con người làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp, đã cho ta một cái nhìn hoàn chỉnh về con người VN từ quá khứ đến hiện tại , từ đó xây dựng một mô hình nhân cách cho con người VN trong tương lai. Trong việc nghiên cứu con người VN, chúng ta đã mắc không ít sai lầm , một trong những sai lầm đó là đã “Tô hồng” quá đáng để từ đó tự hào một cách ngây thơ và lố bịch mà không nhìn nhận những khuyết tật rất lớn, rất dai dẳng , gây cản trở không nhỏ cho việc phát triển toàn diện của dân tộc , của đất nước. Bằng cái nhìn khoa học tỉnh táo, GS Trần Đình Hượu đã xác định rõ ràng quan điểm của mình khi nghiên cứu con người VN : “Muốn hiện đại hóa đất nước, cần tự phê phán một cách nghiêm chỉnh để thấy hết khuyết tật của mình”. Vì thế , khi đặt v/d tìm mô hình nhân cách cho người VN cho tương lai, GS không khỏi băn khoăn : “Cái ta tìm là một mẫu người lý tưởng . Nhưng hiện nay cái xấu đang lẫn với cái tốt , xấu nhiều hơn tốt, xấu có hiệu quả hơn tốt. Thanh niên, kể cả những người đầy thiện chí , muốn sống có lý tưởng , cũng không tránh được tùy thời “đi theo ma mặc áo giấy” , lựa chọn cách sống theo những “ giá trị bậc thấp” . Xu thế như vậy dẫn đến hình thành trong đời sống xã hội một quang cảnh đám cháy, ném gì vào để dập cũng lại bốc lửa. Mọi dự định cải tạo đều như muối bỏ biển, như đánh bùn sang ao. Nếu không ngăn chặn được xu thế suy thoái đó thì dầu có tìm được mô hình tốt cũng không thực hiện được. Cái tốt sẽ bị chế diễu , bị bóp méo, mô hình đưa ra không kiểm tra được hậu quả . Mô hình tốt tự nó không ngăn chặn được xu thế suy thoái . Những người làm công tác giáo dục thanh niên thiếu niên (Đảng ,đoàn thể, nhà trường…) nên nhìn lại quá trình vừa qua . Chúng ta đã tốn công cho giáo dục, giáo dục văn hóa, giáo dục kỹ thuật và nhất là giáo dục chính trị không ít, nhưng kết quả thật ít và không bền. Cho nên , đồng thời với việc tìm mô hình nhân cách mới, phải tìm cách ngăn chặn xu thế suy thoái và tìm biện pháp thực hiện mô hình mới có hiệu quả, hơn là cung cách giáo dục của ta vừa qua”. “Thế giới hiện đại mà ta bước vào là một thế giới phân công và hợp tác trên quy mô thế giới, lao động, sản xuất nhiều ngành nghề, dựa vào KHKT và trình độ tổ chức quản lý tinh vi. Đó là một xã hội phức tạp và đa dạng . Thế mà con người , theo mô hình “Người cán bộ cách mạng” của ta lại đơn nhất đồng loạt , lấy cái bất biến là yêu nước, giác ngộ cách mạng , ham lao động , có văn hóa , sẵn sàng phục tùng sự sắp xếp của tổ chức để ứng vạn biến”. Đó là một cơ sở để GS Trần Đình Hượu đi đến luận điểm : “Tôi nghĩ rằng ngày nay, trước khi bàn về mộtmô hình nhân cách thì phải khẳng định sự tồn tại của nhân cách độc lập đã . Có nhân cách độc lập mới có con người tự trọng . Có tự trọng mới thành con người đáng giá để có quan hệ với người khác, với đất nước, với nhân loại . Muốn khẳng định nhân cách độc lập, con người cần được giải thoát khỏi tình trạng lệ thuộc… Tóm lại là cần có thể chế dân chủ, cần có luật pháp bảo vệ nhân quyền…”.

Bài viết “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” thể hiện những quan điểm mang tính khái quát ở tầm vĩ mô và GS cũng đã thẳng thắn chỉ rõ những sai lầm, ngộ nhận trong sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa VN hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc. Trong tình hình tự tôn dân tộc quá lố, tự hào dân tộc một cách ngây thơ khá phổ biến và dai dẳng trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật của chúng ta(chẳng hạn như đòi thế giới trao giải Nô-ben cho văn học VN,v.v…) thì những luận điểm của GS Trần Đinh Hượu trong bài viết về văn hóa này thật cần thiết để chúng ta cảnh giác trước những suy nghĩ nông cạn và bốc đồng đó.”Giữa các dân tộc, chung ta không thể tự hào là nền văn hóa của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật…Không có một ngành khoa học, kỹ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kỹ. Trong các ngành nghệ thuật, cái phát triển nhất là thơ ca. Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phâm thì không có. Xã hội có trọng văn chương, nhưng cũng chưa bao giờ tôn ai là Thi bá, va bản thân các nhà thơ cũng không ai nghĩ cuộc đời, sự nghiệp của mình là ở thơ ca. Chưa bao giờ trong lich sử dân tộc, một ngành văn hóa nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, qui tụ cả nền văn hóa”. Trong Lời tựa GS Trần Đình Hượu có nói rằng những bài được lựa chọn đưa vào tập sách này chỉ có ý nghĩa là “tiêu vè”, có ý nghĩađặt v/đ. Nếu tác giả còn tiếp tục nghiên cứu v/đ con người, v/đ con đường từ truyền thống đến hiện tại, thì những bài viết trong cuốn sach này có thêm ý nghĩa chuẩn bị cho hướng nghiên cứu tông quát theo bình diện văn hóa – tức là nhìn các v/đ nhân văn và xã hội trong quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Theo tác giả, với sự chu ý đến quan hệ tương tác nhiều chiều và với qui luật, cách nhìn tổng quát theo bình diện văn hóa, vị trí của ý thức hệ sẽ được xác đinh đung hơn. Nho giáo, Tam giáo – có lẽ đúng hơn là một cách kết hợp kiểu VN với các thứ ấy – sẽ là một đầu mối để nhìn con đường phát triển, để nhìn con người VN, con người nhận thức, lựa chọn để thích ứng, sáng tạo, tức là làm động lực cho phát triển. Đồng thời, con người đó cũng tùy theo truyền thống văn hóa của mình mà chọn những mục tiêu hợp với mình, chi phối hướng đi và cung cấp phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Rất tiếc, ý định đó chưa kịp thực hiện thì GS Trân Đình Hượu đã đột ngột ra đi!...Đó là một thiệt thòi lớn cho KHXH và Nhân văn VN, bởi cho đến nay, việc nghiên cứu văn hóa VN vẫn chưa có sự định hướng đúng, việc tự nhân thức mình “Ta là ai?” vẫn còn là thách đố !...


Đỗ Ngọc Thạch