Skip navigation.

Log in | Sign up

Sign up | Lost password? | Help

NguyenHuu's page

The beauties make nice our world

Nước mắt người phụ nữ ấn tượng châu Á Trần Ngọc Sương

VnExpress - Thứ Hai, 23/11
http://vn.news.yahoo.com/vne/20091123/tpl-nuoc-mat-nguoi-phu-nu-an-tuong-chau-50f20d3.html
Bà ngửa cổ thở dốc, bàn tay xanh xao bám vào bậu cửa rồi run rẩy bước ra khỏi căn phòng nhỏ tồi tàn, tối như bưng. Trông vẻ tiều tụy ấy, không ai ngờ chỉ vài năm trước, bà còn là nữ anh hùng lao động đầu tiên của Việt Nam được vinh danh châu Á.> Hơn 100 chữ ký 'xin ở tù thay' bà Trần Ngọc Sương /Bà Trần Ngọc Sương bị tuyên y án 8 năm tù
Dưới ánh sáng lờ mờ, dáng nhỏ bé, hom hem của bà Trần Ngọc Sương như chao đảo cùng căn nhà cấp 4 xập xệ với tường gạch đầy rẫy những vết nứt toác, ngoằn ngoèo. Từ hôm tòa xử phúc thẩm và tuyên án 8 năm tù, bà đã suy sụp và gầy sọm đi rất nhiều.
Chầm chậm đốt nén hương trên bàn thờ người cha quá cố (anh hùng lao động Trần Ngọc Hoằng), bà Sương ngồi chết lặng nhìn di ảnh cha, khóe mắt nhăn nheo đầy vết chân chim loang loáng nước. Thật lâu sau, bà cất giọng mệt mỏi đầy vẻ cay đắng: “Cuộc đời đúng là không ai học được chữ ngờ. Giờ đây vừa phải chống chọi với bệnh tật, với cáo buộc của cơ quan pháp luật, tôi còn sắp bị người ta buộc ra khỏi căn nhà thuê của Nông trường Sông Hậu (NTSH) này. Nhưng còn sống đến ngày nào, tôi sẽ kêu oan tìm lẽ phải cho mình đến cùng…”
Không kể về quá khứ vinh quang của mình, nhưng nhìn vào ánh mắt những người còn lại bên bà, người ta dễ dàng nhận ra sự thương yêu, kính trọng. Không máu mủ, nhưng họ tự nhận mình là người thân của bà, được bà dìu dắt, bảo bọc suốt hàng chục năm trời. Để rồi giờ đây khi cơn đau tim luôn hành hạ, họ lại đến bên bà để chăm sóc.
Năm 1965, chỉ 16 tuổi, bà Sương đã đoạt giải nhất cuộc thi nữ công gia chánh tỉnh Bạc Liêu. Tuy nhiên, như một định mệnh, bà lại chọn ngã rẽ khác cho cuộc đời mình bằng quyết định theo học khóa 1 đại học Nông nghiệp Cần Thơ. Ra trường, bà về NTSH làm việc cùng cha, ông Trần Ngọc Hoằng, người đã có công khai hoang gần 7.000 ha đất.
Theo định hướng của ông Hoằng cộng với quyết tâm phát triển, biến nơi đây thành nông trường kiểu mẫu, bà tiếp tục sang Liên Xô để nghiên cứu về quản lý kinh tế. Về nước, cùng với cha, bà Sương đã vạch ra hàng loạt những kế hoạch, chiến lược để biến vùng đất trũng luôn bị thiên tai ngập lụt thành trung tâm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, lo được đời sống cho hàng chục ngàn nông dân tại đây.
Đến ngày 31/10/1992, NTSH trở thành doanh nghiệp Nhà nước, thu hút nông dân vào làm ăn xây dựng nông trường. Với chủ trương phát huy tinh thần tự lực, vượt khó khăn để xây dựng những cơ sở vật chất, nông trường đưa toàn bộ diện tích đất sản xuất lúa lên 2 vụ một năm và áp dụng tiến bộ khoa học vào trong sản xuất làm tăng năng suất vượt bậc. Từ đó, NTSH trở thành điển hình của vùng nông thôn mới cho khắp nơi học hỏi và nơi đây cũng nhiều lần được đón tiếp các đoàn lãnh đạo đến thăm, chỉ đạo nhân rộng loại hình nông trường kiểu mẫu.
Với những thành tích trên, một lần nữa, bà Trần Ngọc Sương nối tiếp cha nhận danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”. Không dừng lại ở đó, năm 2002, bà còn có mặt trong 15 người xuất sắc nhất trên 11 quốc gia đoạt giải “Người phụ nữ ấn tượng khu vực châu Á - Thái Bình Dương”. Cầm trong tay số tiền thưởng 10.000 USD, bà nghĩ ngay đến thân phận những trẻ em và phụ nữ nghèo ở Cần Thơ nên đã gửi tặng họ.
Gần 30 năm cống hiến cuộc đời cho nông trường, bà Sương đã quên đi hạnh phúc riêng tư của mình. Giờ đây, trong căn phòng chỉ rộng gần 10 m2, ngổn ngang đồ đạc chỉ đủ chỗ kê tạm chiếc giường xếp, người nữ anh hùng ấy đang phải từng ngày, từng giờ chống chọi với bệnh tật.
Từng hồi chuông điện thoại cứ réo rắt vang lên suốt buổi, rồi từng người lần lượt tìm đến căn nhà ọp ẹp chỉ để hỏi thăm sức khỏe, động viên, an ủi người phụ nữ này. Để khi còn lại một mình, đôi bàn tay xanh xao, nhằng nhịt gân xanh của bà Sương cứ mân mê mãi tập hồ sơ có bút ký lời khen tặng của những vị lãnh đạo từng đến thăm NTSH trong thời kỳ hoàng kim. Nước mắt bà mãi không ngừng tuôn rơi…
Trao đổi với VnExpress.net, luật sư Nguyễn Trường Thành (người bào chữa cho bà Trần Ngọc Sương) cho biết, trong ngày hôm nay (23/11) ông sẽ gửi đơn khiếu nại giám đốc thẩm lên Chánh án TAND Tối cao và Viện trưởng VKSND cùng cấp để kêu oan cho thân chủ của mình.
Theo cơ quan pháp luật, từ đầu năm 2001 đến cuối năm 2007, trong quá trình giữ chức vụ giám đốc NTSH, bà Sương đã móc nối với cấp dưới tự ý thành lập quỹ riêng từ khoản thu trong hoạt động của nông trường. Nguồn quỹ này do giám đốc Sương trực tiếp điều hành và quyết định thu, chi.
Cụ thể, năm 2003 - 2007, bà Sương đã chỉ đạo, bán 4 lô đất của nông trường và nhập toàn bộ vào nguồn quỹ trái phép. Sau đó, bà còn thông đồng với các cấp dưới không đưa vào sổ sách kế toán các khoản thu từ việc bán bạch đàn tại nông trường, cho thuê đất, thu quản lý công trình điện nông thôn... Ước tính, số tiền hơn 8,4 tỷ đồng nhập vào quỹ riêng và sử dụng mua nhà, mua quà sinh nhật, lễ tết, tiếp khách, đi công tác nước ngoài... Theo kết luận giám định tài chính, hành vi lập quỹ trái phép, chi tiêu tùy tiện xảy ra tại NTSH đã gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước tổng số tiền trên 4,5 tỷ đồng.
Ngày 15/8, TAND huyện Cờ Đỏ (Cần Thơ) đã tuyên phạt Trần Ngọc Sương mức án 8 năm tù về tội "Lập quỹ trái phép" và buộc bà này phải nộp bồi thường thiệt hại cho NTSH hơn 4,3 tỷ đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/11, mặc dù bà Sương vẫn một mực kêu oan và 110 nông trường viên NTSH gửi đơn “xin đi tù thay” vị cựu giám đốc này nhưng TAND tỉnh Cần Thơ vẫn giữ nguyên mức án đối với bà Sương.
Vũ Mai.

Hà Lội ra ngõ gặp Tiến sĩ

Nghe tin năm 2020 cán bộ do Thành uỷ Hà Nội quản lý đều có trình độ Tiến sĩ, tôi vô cùng hết sức phấn khởi, tự hào. Thủ đô nước ta lúc đó sẽ là thủ đô rộng nhất thế giới, và khắp phố phường ngõ ngách, từ chợ Bắc Qua (ngày xưa nổi tiếng là lắm thợ chôm, hầu như gì cũng chôm, trừ các mảnh bằng Tiến sĩ) đến phủ Quốc Oai (nay cũng là đất thủ đô, mới ngày nào cụ Huấn Cao còn ngồi đó “một thày, một cô, một chó cái“, ngờ đâu đám môn sinh sau này sẽ “nửa người + nửa ngợm = 1 Tiến sĩ“), ra ngõ là gặp Tiến sĩ.
Những phần tử bấp bênh, dao động có thể sẽ thắc mắc: nhiều Tiến sĩ như vậy thì lấy đâu ra đủ bia để khắc tên, mà có khắc đủ thì lấy đâu ra chỗ ở Văn Miếu mà bày mấy còn rùa? Để quần chúng – trong hoàn cảnh dân trí còn thấp – không bị các thế lực thù nghịch lung lạc, sách động, tôi xin đề nghị dựng ngay những tấm bia thật hoành tráng. Văn Miếu nước ta sẽ được ghi vào cuốn kỉ lục Ghi-nét là quán bia bự nhất thế giới, trở thành điểm hẹn của du khách toàn cầu, và những tấm bưu thiếp như thế này sẽ được họ gửi đi khắp năm châu bốn biển:
Du khách đi trên đường phố Hà Nội hay bơi lội khi “Hà Nội mùa này phố đã thành sông” thường ngạc nhiên thấy trên các cột đèn, gốc cây, hay trên các bức tường, có in những dòng chữ KCATBTONG, dưới đó là những con số 0931…. Con số thì có thể đoán ra là số điện thoại di động. Dòng chữ kia, chả mấy ai biết là quảng cáo Khoan, cắt bê tông, một dịch vụ phát triển thi đua với các dự án PMU18, PMU35, PMU69… Chỗ nào cũng chỉ thấy KCATBTONG thì hơi đơn điệu, người nào không hiểu đặc tính dân tộc vốn đậm đà của chúng ta có thể hiểu nhầm là nước ta vô chính phủ, quảng cáo lung tung, ra ngoài chỗ quy đinh. Từ nay, các bức tường Hà Nội sẽ trở thành những tấm bích họa đa dạng, văn hóa, không thủ đô nào sánh kịp, như tấm hình mà tôi vừa tìm thấy trên mạng www.google.vn (chụp bằng vệ tinh VINASAT):
Hà Nội bây giờ mới thực sự là thủ đô của lương tâm nhân loại, là niềm tin và hi vọng.
Tiến sĩ Giấy Dó, Ph(otoshop)D.

HÀ NỘI thanh lịch còn không?

TIẾNG HÀ NỘI
Phạm Đình Trọng, Nhà văn đang sống ở TP. HCM
Không dễ tìm trả lời văn hóa Hà Nội là gì
Sự kiện Một ngàn năm Thăng Long- Hà Nội rất xứng đáng được ngân sách nhà nước đầu tư khoản tiền lớn để có những công trình đánh dấu một mốc son thời gian, một bề dày lịch sử vẻ vang của một Thủ đô văn hiến.
Nhưng đầu tư hàng ngàn tỉ đồng làm những công trình hiện đại, hoành tráng như đường hầm Kim Liên- Đại Cồ Việt để rồi chỉ một trận mưa ngay sau ngày khánh thành đã biến hầm giao thông hiện đại tầm cỡ thế giới trở thành bể ngầm chứa nước mưa thì liệu có đáng?
Đầu tư cả trăm tỉ đồng làm bộ phim về những nhân vật, những sự kiện lịch sử của Thăng Long- Hà Nội.
Bộ phim đang được thực hiện ồn ào, ráo riết nhưng liệu có thoát được số phận của những bộ phim “cúng cụ”, bộ phim chỉ như một thứ lễ vật, bình hoa, đĩa trái cây, dâng lên bàn thờ trong ngày giỗ, ngày tết.
Phim làm xong, sau vài buổi chiếu chiêu đãi cho khách mời trong lễ kỉ niệm rồi lại xếp im lìm mãi mãi trong kho vì phim đưa ra rạp chiếu không có người xem!
Tất cả những bộ phim làm bằng chục tỉ, trăm tỉ từ ngân sách nhà nước để kỉ niệm những ngày lễ lớn từ trước đến nay đều như vậy cả, đều chìm nghỉm, không một tiếng vang, không một dấu ấn! Có chăng chỉ để lại dấu ấn về sự hao hụt đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân!
Trong khi đó, nét hào hoa, thanh lịch của người kinh kỳ đã bị mai một, vơi cạn hầu như mất sạch, không còn dấu tích.
Con người văn hóa, cốt nền văn hóa của cư dân Thủ đô ngàn tuổi đã xuống cấp tới mức thê thảm thì không được nhìn nhận để đầu tư nâng cấp!
Một trong những nỗi đau lòng, nỗi tủi hổ về sự mất mát vẻ thanh lịch kinh kỳ, về sự xuống cấp cốt nền văn hóa người Hà Nội là tiếng nói Hà Nội lịch lãm, du dương và là chuẩn mực của tiếng Việt không còn nữa!
Sống ở Hà Nội hôm nay phải nghe quá nhiều tiếng nói thô lỗ, tục tĩu và ngọng nghịu!
'Nối sống trụy nạc'
Khát vọng lớn nhất của kẻ sĩ, những hiền tài đất nước là khát vọng cống hiến, giúp ích cho đời, làm lợi cho dân cho nước.
Người Hà Nội nói ngọng không còn là cá biệt, không chỉ có ở một vài người, không chỉ có ở tầng lớp bình dân.
Nói ngọng đã trở thành ngôn ngữ bình thường, quen tai của Hà Nội rồi! Học sinh, sinh viên nói ngọng!
Quan chức lên truyền hình cũng nói ngọng! Nói ngọng dẫn đến viết ngọng cả trong văn bản chính qui nhà nước.
Nói ngọng lúc đầu chỉ lẻ tẻ, thưa thớt, họa hằn đã được bỏ qua nên đến nay ngọng nghịu đã tràn lan, đã trở thành sự thách thức.
Cách đây hơn hai mươi năm, tôi đến Thư viện Quân đội ở số tám mươi ba phố Lý Nam Đế, Hà Nội dự phiên tòa của tòa án quân sự xét xử một sĩ quan là họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh đã chụp những tấm ảnh phụ nữ khỏa thân.
Mặc dù tôi rất muốn ngồi dự phiên tòa để chia sẻ với người bạn nghệ sĩ của tôi gặp nạn nhưng nghe ông thiếu tá chủ trì phiên tòa nói ngọng "phải lói rằng chụp ảnh khỏa thân nà nối sống trụy nạc" chối tai quá, thất vọng quá, mất lòng tin vào người cầm cân công lý quá, tôi phải bỏ về.
Anh bạn tôi, họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, đại úy quân đội chỉ vì chụp ảnh khỏa thân đã bị ông quan tòa nói ngọng tuyên mức án bốn năm tù giam.
Ông thiếu tá nói ngọng cứ tuần tự thăng tiến tới đại tá và ngôn ngữ ngọng nghịu cũng tuần tự phát triển lan rộng như cỏ mùa xuân!
Ngôn ngữ ngọng nghịu lan nhanh từ người lao động lam lũ mình trần ngoài bến cảng đến công chức áo sơ mi trắng, giày da trong phòng máy lạnh, lan từ chợ búa, hè phố đến giảng trường, công sở!
Ngôn ngữ hình thành không phải chỉ ở cơ cấu vật chất của cuống họng, không phải chỉ ở cơ chế vận động của cái lưỡi, của răng, môi. Ngôn ngữ còn do nền tảng văn hóa, do con người văn hóa, do cấp độ lịch lãm, tinh tế của tâm hồn, do truyền thống thanh lịch của vùng đất tạo thành.
Người dân đất kinh kỳ Tràng An, từ xa xưa vẫn có tiếng thanh lịch: Chẳng thơm cũng thể hoa nhài– Chẳng thanh lịch cũng là người Tràng An, ca dao.
Có một thời, dân gian vẫn gọi đất kinh kỳ Thăng Long, Đông Đô là Tràng An. Người Tràng An thanh lịch từ lời ăn tiếng nói đến cung cách quan hệ, giao tiếp, ứng xử xã hội.
Thanh lịch từ việc làm ra những sản phẩm tinh xảo, sang trọng, có độ tin cậy cao đến sự tinh tế trong thưởng lãm nghệ thuật, thưởng lãm ẩm thực.
Kinh kỳ là nơi hội tụ tinh hoa cả nước, nơi những hiền tài, những nguyên khí quốc gia được phát hiện từ mọi miền đất nước đưa về kinh kỳ làm việc trong bộ máy nhà nước, lo cho dân cho nước, làm rạng rỡ nòi giống Việt Nam.
Quan chức nhà nước, những người cai trị đất nước bao giờ cũng là hình mẫu của xã hội. Quan chức lịch lãm thì xã hội lịch lãm. Quan chức thô lỗ, dung tục thì xã hội thô lỗ, dung tục. Tinh hoa của đất nước dồn tụ về kinh đô tạo nên thanh lịch kinh kỳ. Vì thế thanh lịch là phẩm chất không thể thiếu của người kinh kỳ ngàn năm văn hiến.
'Chuẩn nghèo văn hóa'
Ông Phạm Đình Trọng nói Hà Nội nay đổi khác nhiều so với trước
Người Hà Nội nói ngọng tràn lan là một sự thông báo về cốt nền văn hóa, con người văn hóa, về cấp độ lịch lãm, tinh tế của người Hà Nội hôm nay.
Đó còn là biểu hiện mức độ hội tụ hiền tài đất nước. Bộ máy nhà nước lành mạnh phải là nơi thu hút, hội tụ hiền tài đất nước và bộ máy nhà nước trung ương ở thủ đô chính là nơi hội tụ hiền tài lớn nhất.
Nhưng một ông thứ trưởng họp báo lớn tiếng xỉ vả trí thức đã dám lên tiếng phản biện về dự án bô xít thì ông thứ trưởng đó dứt khoát không phải là hiền tài đất nước.
Trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, nhà nước đã định ra một chuẩn nghèo làm căn cứ bình xét người thuộc diện nghèo để được hưởng trợ cấp xóa nghèo.
Trí thức là thành phần ưu tú của nhân dân, những người có tầm trí tuệ cao và nhân cách văn hóa lớn. Họ chỉ nói theo mệnh lệnh của lẽ phải, vì lợi ích của đất nước, của nhân dân.
Họ không thể nói những điều ngược với lợi ích nhân dân dù đó là mệnh lệnh của quyền lực. Xỉ vả trí thức, ông thứ trưởng ấy hoàn toàn đủ Chuẩn nghèo văn hóa!
Khát vọng lớn nhất của kẻ sĩ, những hiền tài đất nước là khát vọng cống hiến, giúp ích cho đời, làm lợi cho dân cho nước, khát vọng cho chứ không phải khát vọng bổng lộc, hưởng thụ, khát vọng nhận.
Sự tham nhũng, vơ vét lộng hành, trắng trợn trong đội ngũ quan chức ở mọi cấp, mọi nơi thì đội ngũ quan chức ấy dứt khoát không phải là hiền tài đất nước!
Một chế độ bầu cử dân chủ hình thức, người dân chỉ là chiếc máy bỏ phiếu dưới sự bấm nút và đôn đốc giám sát của cơ quan quyền lực, người dân hoàn toàn bị gạt ra rìa trong việc đề cử, bầu chọn người tài.
Một cơ chế đề bạt, cất nhắc quan chức hoàn toàn khép kín, trong tổ chức, theo ý muốn người có quyền dẫn đến việc chạy chức chạy quyền diễn ra như ngang nhiên ở khắp nơi thì bộ máy nhà nước ấy dứt khoát không thể thu hút được hiền tài thực sự.
Đó là nguyên cớ sâu xa dẫn đến sự dung tục, xuống cấp của con người công chức nhà nước và dẫn đến sự thảm hại của con người văn hóa Hà Nội hôm nay.
Đó là mảnh đất màu mỡ của cánh rừng ngôn ngữ Hà Nội dung tục và ngọng nghịu hôm nay.
'Lâu đài trên cát'
Chỉ quan tâm xây dựng văn hóa vật chất mà không chăm lo bồi đắp giá trị văn hóa phi vật chất là chúng ta đang xây dựng những lâu đài trên cát.
Các nhà khoa học từ nhiều nơi đến Hà Nội dự hội thảo khoa học vừa đến sân bay Nội Bài đã phải nghe một nhân viên sân bay xẵng giọng: Tôi không hỏi, ông đừng có lói, cứ theo tờ khai mà nàm!
Điều đó không còn là chuyện nhỏ nữa! Nói ngọng đã trở thành đặc trưng ngôn ngữ người dân sống trên mảnh đất kinh kỳ ngàn năm văn hiến!
Điều đó không còn là chuyện nhỏ nữa!
Cũng đừng nghĩ rằng giữa đường ngầm giao thông hiện đại trở thành bể ngầm chứa nước mưa không có sự liên hệ với những người Hà Nội nói ngọng.
Mối liên hệ ở đây là cốt nền văn hóa, là con người văn hóa. Những người dân bình thường có cốt nền văn hóa kinh kỳ, có sự tinh tế lịch lãm kinh kỳ thì không thể nói ngọng.
Những trí thức thiết kế, thi công, chỉ huy thực hiện công trình đường hầm Kim Liên- Đại Cồ Việt có nhân cách văn hóa, có khát vọng cống hiến, khát vọng cho thì không thể làm ăn giả dối, tắc trách, rút ruột công trình, chỉ cốt sao kiếm lợi cho cá nhân, bỏ mặc chất lượng công trình!
Giữa những công trình hiện đại hoành tráng và những con người thiếu hụt giá trị văn hóa nhân văn đã hiển hiện rất rõ thảm cảnh: Sự chênh lệch, khập khiễng quá lớn giữa giá trị văn hóa vật chất và văn hóa phi vật chất.
Chỉ quan tâm xây dựng văn hóa vật chất mà không chăm lo bồi đắp giá trị văn hóa phi vật chất là chúng ta đang xây dựng những lâu đài trên cát mà không có cọc móng!

Chánh án Tòa tối cao Trương Hòa Bình vi phạm luật tố tụng.

Bauxite Việt Nam phỏng vấn tiếp TS Luật Cù Huy Hà Vũ về diễn tiến của vụ kiện Thủ tướng: Chánh án Tòa tối cao Trương Hòa Bình vi phạm luật tố tụng.
Chúng ta đều biết, ngày 3/7/2009, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ đã gửi Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình Đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ do đã ban hành trái Hiến pháp và pháp luật Quyết định số 167/2007/QĐ–TTg Phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025. Để bạn đọc hiểu rõ vì sao vụ kiện rơi vào im lặng khó hiểu, Bauxite Việt Nam (BVN) tiếp tục có cuộc phỏng vấn ông Cù Huy Hà Vũ (CHHV) về vấn đề này.
BVN: Thưa TS Cù Huy Hà Vũ, dường như Đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng gửi Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình của ông đã rơi vào “im lặng đáng sợ”?
CHHV: Đúng là như vậy, vì đã 1 tháng 25 ngày trôi qua kể từ ngày tôi gửi Đơn khởi kiện Thủ tướng, nhưng tôi chưa hề nhận được bất cứ hồi âm nào từ phía Chánh án Trương Hòa Bình, trong khi pháp luật tố tụng hành chính quy định phải trả lời tôi trong thời hạn 5 ngày làm việc sau khi nhận được Đơn khởi kiện.
BVN: TS có thể nói rõ hơn?
CHHV: Điều 1.4 Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng thẩm phán– TANDTC về việc xử lý đơn khởi kiện vụ án hành chính quy định: “Ngay sau khi nhận đơn khởi kiện vụ án hành chính, Chánh án hoặc Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm, Chánh tòa hoặc Phó Chánh tòa được Chánh án ủy quyền phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Thẩm phán phải xem xét trường hợp này thuộc loại khiếu kiện nào quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh (Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính) và đối chiếu với điều kiện khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh để: a) Tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục chung, nếu đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính; b) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện và nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, nếu không đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Như vậy Chánh án Tòa tối cao Trương Hòa Bình đã vi phạm pháp luật tố tụng hành chính.
BVN: Thật không thể tin nổi đại diện cao nhất cho luật pháp lại vi phạm luật tố tụng hành chính là thủ tục sơ đẳng mà người làm công việc án tụng nào cũng buộc phải “học lấy làm lòng”. Vậy theo ông là do đâu?
CHHV: Nhiều khả năng là Chánh án Tòa tối cao “sợ” Thủ tướng vì Thủ tướng là “sếp”, là cấp trên của Chánh án Tòa tối cao mặc dù về nguyên tắc không ai trong hai quan chức này có quyền điều hành người kia, không phải vì Nhà nước Việt Nam hiện nay đã theo chế độ “Tam quyền phân lập” (Lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập với nhau) như ở các nước văn minh khác mà vì cả Thủ tướng, Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC đều do Quốc hội bầu ra, đồng nghĩa với địa vị pháp lý của ba người này là bình đẳng với nhau, không ai lệ thuộc ai. Thực vậy, quy chế “sếp” của Thủ tướng đối với Chánh án Tòa tối cao đã được luật hóa tại Điều 8 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính: “Trong trường hợp nhận thấy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là không đúng, thì Thủ tướng Chính phủ có quyền yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải quyết theo thẩm quyền và trả lời Thủ tướng Chính phủ trong thời hạn ba mươi ngày”! Thử hỏi trong bộ máy Nhà nước nếu không phải là “sếp” thì có quyền yêu cầu và ấn định thời gian giải quyết vụ việc theo quan điểm chủ quan của mình cho người khác được không?!
Cũng không loại trừ Chánh án Trương Hòa Bình là người không thích làm chuyện vô bổ hay thực dụng khi tính toán rằng ngay dù Chánh án “có gan” xử Thủ tướng và xử Thủ tướng thua thì trong trường hợp đó Thủ tướng cũng sẽ “lật án” hay “lật Chánh án” bằng chính quy định trên của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tóm lại, chẳng thà “ngâm” Đơn tôi khởi kiện Thủ tướng còn hơn bị cái “vòng kim cô pháp lý” nó xiết hoặc làm cái việc “dã tràng xe cát” để rồi thiên hạ cười chê.
Hiện nay Văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ đang thụ lý một vụ việc tại 30 Hàng Mã, Hà Nội theo đó Chánh án Tòa tối cao đã ra Quyết định giám đốc thẩm hủy bỏ cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại ngay sau khi Thủ tướng can thiệp trực tiếp với Chánh án Trương Hòa Bình bằng văn bản! Nghĩa là sự lệ thuộc của Chánh án Tòa tối cao đối với Thủ tướng đã là thực tế chứ không còn trên văn bản nữa.
BVN: Vậy trước sự “im lặng đáng sợ” mà nguyên do như ông nói, có thể vì Chánh án Tòa tối cao “sợ” Thủ tướng mới nên cơ sự như thế, TS định giải quyết như thế nào?
CHHV: Tôi đã tính trước trường hợp này. Khi trả lời phỏng vấn BVN ngày 12/7/2009 tôi đã nêu khả năng “Chánh án Tòa tối cao sẽ chẳng nói gì cả” sau khi nhận Đơn khởi kiện của tôi. Tuy nhiên Chánh án Trương Hòa Bình không thể im lặng mãi được vì Chánh án Tòa tối cao mà cố tình vi phạm pháp luật tố tụng là sát hại Nhà nước pháp quyền Việt Nam mà vị này là đại diện, đồng nghĩa với tự sát chính trị. Mà người đời “sợ” để mà “sống” chứ chả ai “sợ” để mà “chết” cả! Mặc dầu vậy, với tư cách nguyên đơn tôi cũng phải chủ động thúc đấy tiến trình thụ lý Đơn khởi kiện và do đó chiều ngày hôm nay, 28/8/2009, tôi đã đến Ban thanh tra– Tòa án nhân dân tối cao tại 262 Đội Cấn– Hà Nội để gửi Chánh án Tòa tối cao Trương Hòa Bình văn bản “Đề nghị thụ lý Đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ”. Nói cho đúng, tôi không muốn “cấp tập”, ráo riết quá vì đây là vụ kiện chưa có tiền lệ, cần có thời gian để Chánh án Tòa tối cao “tâm phục, khẩu phục”, nhưng tất nhiên phải có giới hạn.
Có một chi tiết đáng chú ý là ông Nguyễn Khuyến, Trưởng phòng tiếp dân– Ban thanh tra TANDTC đã biên nhận “Đề nghị thụ lý Đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ” bằng mẫu “Giấy biên nhận đơn đề nghị giám đốc thẩm tái thẩm của công dân”. Điều này cho thấy trong não trạng Tòa tối cao không có chuyện Thủ tướng nói riêng, nguyên thủ quốc gia nói chung hoặc những người đứng đầu Tòa tối cao hay Viện kiểm sát tối cao bị kiện trực tiếp ra Tòa tối cao dẫn tới việc Tòa này không có mẫu Biên nhận đơn khởi kiện hoặc yêu cầu giải quyết đơn khởi kiện.
Giấy biên nhận của Tòa án NDTC.Bên cạnh việc thúc đẩy Chánh án Tòa tối cao thụ lý đơn khởi kiện Thủ tướng, tôi sẽ giúp vị này hết “sợ” Thủ tướng bằng cách tháo cái “vòng kim cô pháp lý”, cụ thể là sớm gửi văn bản để nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bỏ Điều 8 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
BVN: Theo TS, Chánh án Tòa tối cao Trương Hòa Bình sẽ phản ứng ra sao trước Đề nghị thụ lý Đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ của ông?
CHHV: Tôi đã ghi rõ trong Đề nghị: “Tôi cũng xin lưu ý Ông Chánh án rằng Tòa án nhân dân tối cao là là đại diện cho Nhà nước Pháp quyền Việt Nam và vì vậy nếu Tòa án nhân dân tối cao xử lý không đúng pháp luật tố tụng Đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ của tôi, Cù Huy Hà Vũ, thì đó sẽ là hành vi xâm hại đặc biệt nghiêm trọng và trực tiếp Nhà nước Pháp quyền Việt Nam cũng như lợi ích của toàn thể nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị Việt Nam!”. Nói cách khác, không xử lý Đơn khởi kiện Thủ tướng của tôi là hành vi tiếp tay xâm hại môi trường, xâm hại văn hóa và đặc biệt xâm hại an ninh quốc gia– điều mà “Trời không dung, Đất không tha”!
Với lại, công dân Cù Huy Hà Vũ tay không tấc sắt đâu có phải là “ngoáo ộp” hay “ma-cà-rồng” để Chánh án Tòa tối cao Trương Hòa Bình, Trung tướng Công an, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Viện trưởng Viện kiểm sát thành phố Hồ Chí Minh, nghĩa là “vũ trang đến tận răng”, phải khiếp sợ đến nỗi không dám xử lý Đơn khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của công dân này.
BVN: Xin cám ơn Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ và chúc ông “chân cứng đá mềm” trong vụ kiện vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích dân tộc– tâm điểm của mọi người Việt Nam yêu nước.
Phụ Lục: Văn bản gốc các loại giấy tờ của TS Cù Huy Hà Vũ:
Giấy Đề nghị thụ lý Đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ, tr. 01.
Giấy Đề nghị thụ lý Đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ, tr. 02.

Nỗi buồn quốc tịch, Đỗ Kh.

Giọt mực, giọt đời (http://www.diendan.org/giot-muc-giot-doi/noi-buon-quoc-tich)
Minh chính: Tôi không có ý bàn về câu phát biểu của TGM Ngô Quang Kiệt(1), hay bàn về văn cảnh, ngữ cảnh bị các cơ quan truyền thông nhà nước bóp méo, trích dẫn xuyên tạc… Hoặc dư luận xoay chung quanh phát biểu này, kẻ nhấn từ «nhục nhã», người nhắm chữ «hộ chiếu» hay là phân tích các động tác «cầm» (lên), «ném» (xuống), «bỏ» (vào sau túi)…
Tôi chỉ nhân dịp này mà nhắc đến một số chuyện vui nước ngoài, và trong giới hạn này (nghĩa là chuyện nước ngoài), tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
TRƯỜNG HỢP THỨ NHẤT
Hộ chiếu: Cộng hòa Nam Phi
GDP 283 tỉ USD, gấp 4 lần Việt Nam, cường quốc (từng là, hay có khả năng) nguyên tử.
Tên tuổi: Nelson Rolihlahla Mandela
Ngày sanh: 18 tháng 7, 1918
Quê quán: Umtata, Transkei
Nghề nghiệp: Chủ tịch nước về hưu.
Ngày 20.9.2007, Tổng thống Mỹ Bush họp báo(2) và cho biết là
«Người ta hỏi, Nelson Mandela đâu?
Thì ra, Saddam Hussein đã giết hết những Nelson Mandela!»
Nhưng ông Mandela đến giờ vẫn còn sống (ông Hussein mới là người đã chết) và một số đại biểu Quốc Hội Hoa Kỳ đã vận động thành công việc tặng quà sinh nhật thứ 90 cho nhà đọat giải Nobel Hoà bình này. Đó là việc lấy tên ông ra khỏi danh sách khủng bố của Mỹ. Cho đến tháng 7.2008 sự hiện diện của Mandela trên danh sách này gây khó khăn cho Mandela trong việc di chuyển, nhất là đi sang Mỹ.
Thời Apartheid, tổ chức ANC bị liệt vào lọai khủng bố và cho đến nay, các thành viên của tổ chức này, muốn sang Hoa Kỳ phải có giấy miễn (waiver) của Bộ Ngọai Giao Mỹ. Chủ tịch Đảng ANC đã từng bị từ chối waiver này. Một cựu đại sứ Nam Phi tại Hoa Kỳ (2002-2006) mới đây khi muốn trở lại Mỹ để thăm thân nhân đang ốm nặng cũng đã gặp rắc rối và chỉ được cấp waiver sau khi thân nhân của bà đã qua đời.
Về trường hợp của ông Mandela, Ngoại trưởng Rice đã thú nhận đây làm cho Bộ phải lúng túng (embarassing) vì dù sao ông Mandela cũng đã từng được ông Bush trao Huân chương Tự do của Tổng thống Hoa Kỳ chứ nào có phải là nơi xa lạ (năm 2002, vào lúc tất nhiên là ông Mandela ‘còn sống’), và gần như sinh nhật nào của ông cũng có mặt cựu TT Clinton để chúc thọ.
TRƯỜNG HỢP THỨ NHÌ
Hộ chiếu: Pakistan
GDP 144 tỉ USD, gấp 2 lần Việt Nam, cường quốc nguyên tử (hẳn hoi).
Tên tuổi: Yusuf Raza Gilani
Ngày sanh: 9 tháng 6, 1952
Quê quán: Multan
Nghề nghiệp: Thủ tướng Chính phủ
Ngày 30.7. 2008, ông Gilani được mời sang thăm nước Mỹ. Đây là cuộc viếng thăm chính thức của một đồng minh cần thiết của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, chí ít là trong cuộc chiến chống taliban tại Afghanistan. Pakistan không phải là một nước thù địch, nhận rất nhiều viện trợ quân sự của Mỹ, và chính phủ Gilani cũng không phải là một chính phủ thù địch. Ông Gilani thuộc đảng PPP của bà Bhutto đã quá cố, anh thư và liệt nữ dân chủ của Hoa Kỳ.
Khi chuyên cơ chính phủ của ông Gilani đến Anh Quốc đổ xăng thì đã có vấn đề. Hạ cánh lúc 9 giờ sáng và dự tính cất cánh lúc 10 giờ 50 thì cảng Heathrow cho biết đường băng không có ở đó mà sẵn cho quý vị, phải đợi 17g30 và phải hỏi phép của Bộ Nội An Mỹ trước khi cho cất cánh, phái đoàn cứ về khách sạn mà tạm nghỉ. Sau khi phản đối kịch liệt, chuyên cơ được cất cánh 50 phút trễ.
Đến căn cứ không quân Andrews AFB thì quang cảnh hoang vắng lạ lùng. Một nhân viên Mỹ lên máy bay mời ông bà Thủ tướng xuống, hai ông bà này thôi, còn mọi người ai nấy ngồi nguyên, không được động đậy. Việc này khiến bà Bộ trưởng Thông tin Sherry Rehman yếu ớt phản đối cho có lệ(3) nhưng dĩ nhiên là vẫn không đuợc nhúc nhích khỏi ghế. Ông bà Gilani đi xuống, không có duyệt binh, dàn chào, không có thảm đỏ, không có thảm đen, không có thảm xanh, không có thảm. Không có xe đợi, ông bà phải đi bộ 150 thước đến một cái chòi gác (shed) thì gặp một thứ trưởng hàng ba là ông Richard Boucher.
Trên 80 người của phái đoàn còn lại, chỉ có độc nhất một nhân viên của cơ quan Di Trú mang vi tính xách tay làm thủ tục giấy tờ khiến công việc này mất 8 tiếng đồng hồ. Các nhà báo đi theo Thủ tướng còn bị doạ là nếu không có visa truyền thông mà chỉ có visa du lịch thì sẽ bị trục xuất vì nhập cảnh ngoài mục đích đã khai báo (các vị này còn thêm một nỗi bất bình là ngày hôm sau không được sứ quán mời dự tiệc)!
Đây không dám dùng chữ «nhục nhã», sợ người đọc lại cho là tôi có ẩn ý. Thôi thì, tiếp đón một phái đòan quốc gia bạn thế này tạm gọi là thiếu tế nhị, còn thiếu tế nhị hơn là thỉnh thoảng lại ném bom bắn tên lửa sang biên giới mà không báo hay ít ra dùng SMS để nhắn tin trước trên di động cho cơ quan tình báo ISI.
TRƯỜNG HỢP THỨ BA
Hộ chiếu: Cộng hòa Nhân dân Dân Chủ Triều Tiên
GDP 27 tỉ USD, 40% của Việt Nam, (nhưng mà) cường quốc (nghe đâu) nguyên tử.
Tên tuổi: Kim Chính Nam
Ngày sanh: 10 tháng 5, 1971
Quê quán: Bình Nhưỡng
Nghề nghiệp: Ông già tôi là Kim Chính Nhật, còn ông nội tôi là Kim Nhật Thành.
Tháng 4 năm 2001, một người đàn ông đeo kính đen và dây chuyền vàng, mang tên Trung Hoa trên một hộ chiếu của Cộng hòa Dominican đáp xuống phi cảng Narita Tokyo với hai phụ nữ và một em bé trai 4 tuổi. Sau khi bị soi sét, hộ chiếu này bị phát hiện là giả, nhưng người thì lại là con thật của lãnh tụ Bắc Hàn.
Ông thành khẩn khai báo là ông mang con và 2 cô bạn gái (?) sang đây để đi thăm Disneyland, nhân thể ghé Akihabara mua đồ điện tử thế thôi. Nhật Bản bèn mời ông về nước, qua ngả Bắc Kinh. Trước đây, không dẫn theo vợ con và không bị bại lộ, cũng dùng hộ chiếu giả, ông đã đến thăm Tokyo ba lần rồi, chủ yếu là hát cô đầu ở khu nhà tắm cao cấp Yoshiwara, làm như thể là Bình Nhưỡng không có nước nóng vậy.
*Vậy, ba trường hợp này, ngòai mẫu số chung là những hộ chiếu không được kính trọng, có thể rút ra kinh nghiệm gì không?
Thì là, (có) BOM NGUYÊN TỬ cũng không lấy oai được với công an cửa khẩu nước ngoài.
(1) Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam. Đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng.
(2) http://thinkprogress.org/2007/09/20/bush-mandela/
(3) Bà này khi bị chính ông Gilani sờ soạng, cũng chỉ nhăn mặt mà không phản đối, dù là lấy lệ http://www.youtube.com/watch?v=OrCKU4ooppQ. A, nhưng hay nhỉ, việc này thì dính dáng gì đến đề tài?

Một ký ức về Trường LASAN VÂN CÔI.

(Trích: Ký Ức Mai Lệ Hằng PhiLa 01-2005)
… Khi tôi thi đậu bằng tiểu học cũng là lúc trường Lasan Văn Côi được hình thành, vẫn là ngôi trường tiểu học cũ do Cha Cao Đại Minh sáng lập, nay Cha Minh đã đổi đi nơi khác và Cha Bích về thay thế.
Tấm bảng hiệu trường Trung Học Đệ Nhất Cấp Lasan Văn Côi được dựng lên ngay ngắn bên con đường từ quốc lộ một vào trường. Nhân số học sinh ghi tên theo học không chỉ đơn thuần là những xứ đạo ở xung quanh,mà được qui tụ hầu hết trong suốt hai mươi mốt xứ Đạo thuộc vùng Hố Nai hưởng ứng, ở đây tôi muốn nói lên cái yếu tố đại chúng của nó, sự ghi tên nhập học được trải dài trong vùng đã chứng minh điều đó, có lẽ những bậc phụ huynh đã ít nhiều biết đến tiếng tăm của Dòng tu Lasan với những vị Sư Huynh khả kính chuyên lo về giáo dục.
Kỷ luật cũng như nội quy của trường nghiêm túc, chặt chẽ, những môn chơi thể thao như bóng chuyền, bóng rổ, đá banh được chú trọng nhiều. Phương pháp giáo dục của trường cũng có đôi chút khác biệt, ngay từ lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ) những môn học như Sử Địa, Công Dân, Vạn Vật được cắt xén bớt đi, chỉ còn lại những môn chính như Toán, Lý, Hóa, Giảng Văn, Anh Văn là được duy trì và tăng thêm giờ. Cho đến năm đệ tứ (lớp 9 bây giờ) cần cho viêc thi Trung Học mới được bổ túc thêm. Sách giáo khoa cũng vậy, đành rằng vẫn phải học theo chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục nhưng các Sư Huynh lại soạn riêng cho từng lớp những tài liệu giáo khoa ngắn gọn, dễ hiểu.
Để khuyến khích học sinh trong cố gắng học tập, các Sư Huynh còn tổ chức những bài thi cuối tháng được chấm điểm xếp hạng còn kèm theo những vé EXELLENT, VERY GOOD hay GOOD cho tất cả các môn để đổi lấy những vé số được sổ với những lô trúng thật giá trị, bổ ích.
Vị Hiệu Trưởng tiên khởi của Lasan Văn Côi là SH ACHANGELO Triệu Văn Lộc, người tầm thước, nhanh nhẹn, với mái tóc hoa râm, vầng trán cao thông minh, đôi tai to rộng thêm đôi mắt sáng nghiêm nghị, giọng nói của ngài ôn tồn nhỏ nhẹ nhưng đầy sức thu hút học sinh chúng tôi, như một người cha già dạy dỗ đứa con trẻ, có vuốt ve nhưng không thiếu răn đe làm cho chúng tôi những học sinh của Lasan vừa kính trọng vừa sợ hãi mà không dám lười biếng trong học tập. ”LASAN VĂN CÔI- CÁM ƠN ĐỨC MẸ” đó là câu khẩu hiệu và cũng là tâm niệm của mỗi học sinh, khẩu hiệu đó đã in sâu vào trong tâm trí và trong cuộc sống của chúng tôi cho đến bây giờ, khẩu hiệu đó là căn bản cho đạo đức học của trường Lasan, lòng tôn sùng Đức Mẹ đã giúp học sinh chúng tôi rất nhiều về đời sống thiêng liêng của tôn giáo. Trong nhiều hoàn cảnh éo le, đau khổ hay nguy hiểm chúng tôi đã sẵn có chiếc phao để cấp cứu.
Tại lễ giỗ năm thứ 3 của Frère Hiệu Trưởng.
SH Triệu Văn Lộc, Thày đã dạy chúng tôi những bài học làm người, làm người Công Giáo, làm người Việt Nam, làm người có nhân cách và bản lĩnh. Chúng tôi không thể quên được những lời dạy dỗ của Thày, lời nói của Thày: ”Ra Trường Đời, Các Con Làm Sao Cho Người Đời Thương Mến Các Con Là Các Con Đã Thành Công Rồi”.
Vâng! thưa Thầy, giờ đây sau bao năm tháng xa trường, xa Thày, với thân phận của chúng con những học sinh của Thày năm xưa… chúng con nhớ về Thày như hoài cổ một thời gian đã qua, thuở học sinh ngây thơ và trong trắng, Thày tha thứ cho chúng con vì ít nhiều chúng con có lỗi với Thày, người thợ xây nền tảng của ngôi nhà trí thức đã bị quên lãng vì tuổi già, thưa Thày chúng con có lỗi với Thày…
...Thày với Lớp Nữ Đầu Tiên Của Lasan Văn Côi.
Cha Bích dạy Giáo Lý, mỗi khi không thuộc kinh hay không trả lời được những câu hỏi của Cha, cứ thế sẵn roi mây trong tay Ngài hăng hái tả xung hữu đột từ trên xuống dưới vụt lấy vụt để vừa đi vừa nói:
-Này lười biếng này, này ngu như bò này, khổ nhất là những thằng ngồi đầu bàn từ đầu lớp đến cuối lớp, trong đó có tôi, bị đòn oan tôi tức lắm nhưng vì Kính Nhi Viễn Chi, Ngài là bậc tu trì nên tôi chỉ chửi thầm trong bụng… Suốt mấy năm hun đúc cho đời sống thiêng liêng của chúng tôi chắc Ngài cũng khá tốn tiền cho việc phải mua roi mây, vì khi bước vào lớp cây roi còn nguyên vẹn, nhưng khi rời lớp thì nó đã tước bung ra làm năm làm bảy.
Những Người Thày Đầu Tiên Của Lasan Văn Côi.
Thày Trứ dạy Việt Văn,chúng tôi thích lắm,cả lớp im phăng phắc vì phải lắng nghe Thày kể về những tác phẩm của những tác giả trong Tự Lực Văn Đoàn như: Trống Mái, Nửa Chừng Xuân… Nhưng rất tiếc được vài tháng thì Thày không dạy chúng tôi nữa.
Thày Linh, Trần Đình Vĩnh, nhìn dáng Thày giống như một nghệ sỹ, mái tóc đen và dày bồng bềnh, mắt to, mũi cao, hàm răng với chiếc răng khểnh. Thày dạy môn Toán, Hình Học và Lý Hóa, phương pháp dạy của Thày rất chuyên biệt: giảng dạy cặn kẽ, tâm niêm của Thày truyền giảng cho chúng tôi là ngắn gọn, chậm mà chắc. Thày sống độc thân, chưa lập gia đình và sống tại một phòng nhỏ nơi trường, tự túc về ăn uống, có lẽ Thày là một người nội trợ giỏi của đấng mày râu, nhớ về Thày với những phương pháp toán học, từ phương trình bậc nhất, những định lý Pythagore, Hyperbol, Tung hoành… Những bài toán Thày dạy năm xưa bây giờ chúng tôi không còn nhớ đến những con số, nhưng chính những bài toán cơ bản đó đã cho chúng tôi những phương pháp tính toán trong cuộc sống.
Nhưng! Những học trò năm xưa ít nhiều đã vờ quên đi người Thày của mình. Người Thày đã hun đúc trí tuệ cho mình, như người thợ rèn, rèn thép, khi các cục thép vô tri biến dạng và trở nên những đồ vật hữu ích cho đời đã không còn nhớ rằng mình đã được trui rèn từ lò rèn mang tên Lasan Văn Côi.
Nhớ về Thày với nhiều khắc khoải ưu tư, nhớ về Thày chúng tôi cũng không thể quên được những lần làm Thày nóng giận trong lớp, bởi vì "Học trò" đã được liệt kê hạng thứ ba trong danh sách (Nhất quỷ, Nhì ma,...), chẳng biết Thày có còn giữ đôi giày năm xưa??? Trong chúng tôi có những đứa đã phải nhặt giày cho Thày, lúc đó giận Thày lắm, nhưng bây giờ khi có dịp ngồi lại với nhau nhớ kỷ niệm xưa thì chuyện chiếc giày là thú vị nhất, và có lẽ mọi người đều đồng ý và lấy làm vui vui khi được Thày "tặng" giày một cách khéo léo.
Thày Phương! Nguyễn Anh Phương, một câu trong bài hát đã được biến cải để tả về Thày: ”Người gày gày, mắt sâu sâu, mà đeo kính gọng nâu…”. Vâng, Thày Phương dáng cao và ốm, Thày đeo kiếng trắng, miệng hơi rộng với đôi môi khép kín, mái tóc mỏng dài nhưng chải rất thẳng ngôi tươm tất, nhìn vẻ ngoài của Thày ai cũng thấy một nhà mô phạm trí thức, Thày dạy môn Anh Văn và Việt Văn, như thế là Thày kiêm luôn Tây và Ta, những giờ Anh Văn đầu tiên được thọ giáo nơi Thày chúng tôi như vịt nghe sấm, nhưng rồi với thời gian và cách truyền đạt uốn giọng của Thày chúng tôi đã có thể bi bô nói với nhau bằng ngôn ngữ mà tổ tiên chúng tôi không nói được.
Môn Việt Văn mà Thày dạy với những bài nghị luận văn chương, bình giảng thơ của những tác giả xưa đã cho chúng tôi cuộc sống phong phú của tâm hồn, chính những bài nghị luận mà Thày dạy và phương pháp của Thày là cho học sinh làm bài rồi chỉ định cho một học sinh đọc cho cả lớp nghe bài của mình, cả lớp sẽ bình luận, tranh cãi, phê bình làm cho giờ học thêm hứng thú, mà chính cũng những giờ học đó mà sau này đã cho chúng tôi những học sinh của Thày ngày xưa đã dám đứng lên bục thuyết trình trước đám đông, những học sinh ngày nào đã trở thành Linh Mục, đứng trên bục giảng rao giảng Tin mừng với những lý lẽ vững chắc, mà căn bản là những lời lẽ, câu cú được hấp thụ từ những năm đầu trung học tại Lasan Văn Côi.
Chúng tôi còn nhớ cứ cuối năm kỳ Tất Niên là các cựu học sinh Lasan đều cố gắng trở về trường cũ để được xum vầy với Thày xưa Bạn cũ, các lớp đàn em cất cao giọng chào đón bằng lời ca của Thày đã biên cải:
“Kìa đoàn cựu học sinh, trở về dưới nắng hồng, cùng nhau hòa câu hát thành công. Dưới nắng mai tưng bừng ngập trời, gió lên khơi ngào ngạt hương mới, Trường Lasan còn đây, Trường Lasan vẫn còn đây, xây tương lai học sinh Hố Nai…” hoặc là:
“Bùng bung búng bung bùng, Học sinh Lasan ta vui hát, hát vang lên cho cuộc đời thắm tươi, học sinh Lasan nêu gương sáng…”.
Thày ơi!!! lời ca xưa còn đó, Thày không còn nữa nhưng lời Thày vẫn vang vọng mãi trong chúng tôi, những kỷ niệm của Thày với lối "búng" phấn trắng thật chính xác (và điệu nghệ) vào bất kỳ nhân vật nghịch ngợm nào trong lớp…
Khi hay tin Thày về cõi Vĩnh Hằng, chúng tôi có người đã về nhà Thày để chào Thày và tiễn Thày về lòng đất, những người không được tin hay vì hoàn cảnh không về được, khi hay hung tin đã cúi đầu để cầu nguyện cho hương hồn Thày và chắc cũng có không ít những giọt nước mắt nhỏ xuống để khóc thương Thày, Một người đã tận tụy làm đẹp cho đời bằng những bài học văn chương, nghị luận. Thày không còn nữa nhưng chắc Thày cũng đồng ý với chúng tôi là: “Việt Văn còn, người Việt còn” Thày nhỉ?
Trường Lasan còn có các SH: ARTHEME, IGNAC, GRAFAEL… là những bậc Thày đáng kính trọng của chúng tôi.
… Ôi!!! Thày xưa!!! Bạn cũ!!! mỗi người một phương, không biết có còn dịp để tất cả các cựu học sinh Lasan Văn Côi quây quần lại với nhau không nhỉ??? Mong lắm thay!!!
Phila 01-2005- Mai Lệ Hằng
Ngôi Trường Lasan Văn Côi Đầu Tiên được xây dựng.
Xin cám ơn "Mai Lệ Hằng PhiLa" đã cho copy post bài lên đây để mọi người cùng thưởng thức, tưởng nhớ, tri ân..., cho lớp trẻ kế thừa của chúng ta hôm nay, ngày ngày tiếp bước theo gót cha anh...

"TÂM" và "TẦM"

Bùi Trọng Liễu Cập nhật: 20/04/2009 15:57
Chữ “ tâm ” và chữ “ tầm”
Bùi Trọng Liễu
Từ một thời gian nay, khi đề cập đến những tiêu cực xảy ra trong xã hội nước ta, người ta thường dùng hai chữ “tâm” và “tầm”. Quả là hai từ rất gọn, chẳng cần giải thích, ai cũng hiểu. Và tôi cũng bị lây trong việc dùng hai từ này. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt tầm quan trọng của hai từ này trong lĩnh vực vi mô hay lĩnh vực vĩ mô (ý tôi muốn nói khi chúng đụng đến phạm vi cá nhân hay đụng đến phạm vi liên quan đến tập thể).
Đầu tháng 3-2009 vừa qua, trong một bài báo của tôi đăng trong nước (1), tôi đã dùng chúng. Do tờ tạp chí đăng bài của tôi là tạp chí giấy, không đưa lên mạng, nên chắc ít người biết tới, nay tôi xin trích lại đây vài câu. Tôi đã viết :
Ở những nước tiên tiến, những đề án như xây dựng nhà máy điện hạt nhân, khai thác quặng mỏ, xây dựng khu vực kinh tế này nọ, đều được nghiên cứu kỹ về mọi mặt, từ vấn đề đào tạo nhân sự, lợi ích cho tập thể, môi trường, thời điểm phù hợp, địa lợi, nhân hòa để giữ được đoàn kết các dân tộc đa và thiểu số cần thiết cho an ninh quốc gia, cho thống nhất, độc lập tự chủ. Vậy mà cũng còn xảy ra những bất trắc. Huống hồ một nước chưa có kinh nghiệm xây dựng, vì bỏ qua một vài tham số nên dễ lấy quyết định nhầm, đó là tại sự « không có tầm ». Còn vì lợi ích cá nhân hay lợi ích của một tập đoàn quyền lợi, mà quyết định bừa, thì đó là tại sự « không có tâm ». […]
Mặt khác, thích phô trương hoành tráng, không phải là tự hào dân tộc. Những hoành tráng, rừng vàng biển bạc, núi sông hùng vĩ, hay được phô ra, chẳng qua là do thiên nhiên ưu đãi mà có; những cái đó không phải do sức người mình xây dựng nên ; nếu không tô điểm thêm, thì cũng không nên đào bới hủy hoại, tiêu xài do lợi ích nhất thời của một nhóm người. Cũng nên dành dụm cho những thế hệ mai sau, khỏi phải kéo cày trả nợ.
Hiện nay, không phải là không có những lời cảnh báo từ một số người tâm huyết. Nhưng những lời cảnh báo đó, có được nghe thấy hay không; sự này cũng phụ thuộc vào người có trách nhiệm có « tâm » và có « tầm » không.
Nhân dịp này, tôi xin nhắc lại một câu chuyện cũ. Vào những năm cuối của thập niên 50 thế kỉ trước, thời còn tồn tại triều đại nhà Ngô của ông Diệm, lúc ông Nguyễn Khắc Viện còn ở Pháp, ông có đôi câu đối dán ở quán ăn Maubert, còn gọi là quán “cụ Hồ”. Đôi câu đối đó là :
Bán rượu, bán chè, không bán nước,
Ăn cơm, ăn phở, chẳng ăn ngô.
Tuy không phải lúc nào cũng đồng ý với mọi ý kiến của ông Viện, tôi hoàn toàn tán thưởng đôi cấu đối đó, mà chắc nhiều kiều bào ở Pháp còn nhớ.
Mới rồi, tôi có đọc đâu đó một đôi câu đối “ nhái ” (plagier) ông Viện như sau :
Bán đất, bán nhà, đừng bán nước,
Đớp dầu, đớp quặng, chớ đớp ngô.
Tôi vốn lơ đãng, nên thường quên ghi nguồn, nhưng sự quên nguồn này để dẫn cho chính xác, cũng chẳng quan trọng.
Nếu đem so sánh, thì về từ ngữ, đôi câu đối của ông Viện chơi chữ rất hợp. Còn về nội dung thì đôi câu đối của ông Viện là chuyện cũ xảy ra đã nửa thế kỉ, triều đại Ngô Đình đã chấm dứt và hình như là đó một lời nguyền (2) cho bản thân ; đôi câu đối nhái là chuyện thời sự, và có vẻ mang dáng dấp của một lời nhủ vị tha.
Ý hẳn tác giả của đôi câu đối e người ta không có “tâm ”. Tôi vốn ưa giảm khinh, nên nghĩ rằng, trừ một số người tham tới mức không còn “ tâm ”, chuyện sai lầm trong quyết định thời nay, thường là do người không có “ tầm ”.
Ghi chú:
(1) Hồn Việt số 21, tháng 3-2009. bài “Vô tư: một hậu quả của Giáo dục?” , và và Vietsciences đăng lại trên mạng ngày 25-3-2009.
Cũng trong bài này, tôi đã viết:
Có « tâm » hay không, là do giáo dục hạ tầng; có « tầm » hay không, là do giáo dục đào tạo thượng tầng. Nói kỹ hơn, học tập sao cho con người biết tôn trọng những giá trị đạo đức cơ bản, đó là từ thuở còn thơ, đâu có phải chỉ có hô khẩu hiệu, báo cáo thành tích và hơn thế nữa, đâu chỉ tập cho quen xỉ vả để đấu tranh giai cấp như một thời đã qua. Khi đã lớn, học tập chuyên môn mà lơ là, chín bỏ làm mười, nhân nhượng về trình độ, thì khi vào đời ở vị trí của mình thì không thể hoàn thành trách nhiệm. Thí dụ như về những đề án kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, hiểu biết khiếm khuyết thì dễ bỏ sót một số tham số, nên quyết định sai.
(2) Tôi dùng từ “ nguyền ”, theo nghĩa “ nguyện ”: tự nhủ, cam kết sẽ làm đúng như vậy. Thí dụ như Đại Nam quốc sử diễn ca, khi viết về Hai bà Trưng: “Chị em nặng một lời nguyền”.

Biển Đông và chiến lược diều hâu của Trung Quốc

Dự Trần Cập nhật: 08/12/2008 14:27
Diều hâu chỉ có thể nhượng bộ diều hâu chứ không thể nhượng bộ bồ câu. Với các nước ASEAN có tranh chấp trên Biển Đông, trừ phi họ cùng đứng lại với nhau, nếu không sẽ không phải là đối thủ đáng để Trung Quốc nhượng bộ.
Biển Đông và chiến lược diều hâu của Trung Quốc (Dự Trần)
Từng bước thiết lập chủ quyền trên thực tế dù không có cơ sở pháp lý.
Tham vọng của Trung Quốc trên biển Đông từ lâu đã là một lá bài ngửa. Từ năm 1947, họ đã xuất bản bản đồ địa giới và hải giới Trung Quốc trên Biển Đông với 11 "đường viền gạch nối). Từ 1953 trở lại đây thì 2 đường viền gạch nối trên Vịnh Bắc Bộ đã bị xóa đi, để lại bản đồ chính thức của Trung Quốc với 9 đường gạch nối (hình chữ U hay hình lưỡi bò).
Mục đích của Quỹ là phổ biến ý thức và nâng cao kiến thức và khuyến khích, hỗ trợ nghiên cứu về tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, mặt biển và thềm lục địa, chuẩn bị các chứng cứ lịch sử và pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp sau này. Bằng con đường truyền thông và ngoại giao, vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông
Theo Zou Keyuan thuộc ĐHQG Singapore thì các đường viền này không nhất thiết phản ánh quan điểm ban đầu của Trung Quốc về lãnh hải của nước này. Tuy nhiên, với việc Trung Quốc phản ứng quyết liệt trước các động thái khai thác dầu khí của Việt Nam ở vùng Tư Chính– Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn thì có vẻ như tới giờ họ đã nghiễm nhiên coi toàn bộ diện tích mặt biển gói bằng 9 đường viền gạch đứt là lãnh hải của họ.
Trung Quốc mạnh hơn hẳn Việt Nam và các nước ASEAN khác cùng tranh chấp như Phillipine hay Malaysia. Đây là một sự thực rõ như ban ngày. Sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế và quân sự, kèm theo các phản ứng rất chừng mực và đơn lẻ, từ các đối thủ ASEAN đã khiến Trung Quốc tùy ý vận dụng chiến lược diều hâu trên Biển Đông.
Từ khoảng 20 năm đổ lại đây, họ đã sử dụng một công thức tổng hợp bao gồm (1) tấn công quân sự quy mô nhỏ (Việt Nam, 1988, Philippine, 1996, 1997), (2) đơn phương thăm dò và khai thác tài nguyên trên vùng tranh chấp, (3) đe dọa bằng vũ lực (đối với ngư dân) hoặc sức ép kinh tế (với các tập đoàn dầu khí quốc tế) nhằm ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp, (4) chia rẽ các đối thủ bằng kinh tế và ngoại giao, và (5) tuyên truyền về chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề Biển Đông trên toàn thế giới.
Công thức này có mục tiêu hướng vào việc thiết lập chủ quyền trên thực tế (de facto) trên vùng biển này. Đứng về phía Trung Quốc thì chiến lược này là tối ưu vì một mặt nó không biến Trung Quốc thành một gã đồ tể hiếu chiến, nhưng lại giúp họ từng bước lấy được Biển Đông trong khi tuyên bố chủ quyền của họ không hề có cơ sở pháp lý (de jure). Đáng tiếc cho ASEAN là chiến lược này đang đạt được các thành quả ngoài sức mong đợi cho Trung Quốc.
Chiến lược diều hâu trên Biển Đông Trung Hoa
Cần nhớ rằng chiến lược diều hâu không chỉ được Trung Quốc sử dụng trên Biển Đông. Họ cũng đã từng sử dụng công thức này trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông Trung Quốc (East China Sea) với Nhật Bản. Tuy nhiên, kết quả của nó lại không giống như thành tựu mà nó đưa lại trong cuộc tranh chấp trên Biển Đông.
Trong cuộc tranh chấp với Nhật, Trung Quốc cũng đơn phương tiến hành thăm dò/ khai thác trên vùng biển tranh chấp bất chấp sự phản đối quyết liệt của Nhật. Họ cũng thường xuyên đưa tàu chiến và tàu ngầm tới vùng biển này để dằn mặt hải quân Nhật Bản. Căng thẳng diễn ra đỉnh điểm vào cuối 2003 và đầu 2004, tới mức chiến tranh tưởng như đã cận kề.
Từ tháng 8, 2003, chính phủ Trung Quốc đã ký xong các thỏa thuận khai thác với các công ty dầu khí Trung Quốc và nước ngoài như Royal Dutch/Shell và Unocal với trị giá lên tới nhiều tỉ Mỹ kim. Nhật lên tiếng phản đối vì cho rằng hoạt động khai thác này lấy cớ rằng rằng nó sẽ hút cạn nguồn dầu khí nằm sâu trong lòng biển thuộc về hải phận của Nhật. Trung Quốc bỏ ngoài tai phản ứng này của đối phương.
Trước động thái của Trung Quốc, Nhật đã quyết định trả đũa. Họ đã đưa tàu thăm dò tới vùng biển tranh chấp từ tháng 7, 2004 để chuẩn bị đơn phương thăm dò và khai thác. Đương nhiên Trung Quốc đã quyết liệt phản đối và coi hoạt động này là vi phạm chủ quyền. Tuy nhiên, các phản ứn chỉ dừng lại ở mức ngoại giao và kinh tế.
Khi cả hai bên đã bộc lộ thái độ sẵn sàng ăn miếng trả miếng, thì lối thoát duy nhất chỉ có thể là hợp tác khai thác– trừ khi họ sẵn sàng cho chiến tranh. Sau nhiều vòng đàm phán, tới tháng 6, 2008, Nhật và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận khai thác chung. Các khu vực khai thác chung được thỏa thuận đều nằm trên vùng giáp ranh giữa hải giới của hai nước, nhưng theo quan điểm của Nhật chứ không phải theo quan điểm của Trung Quốc (bản đồ 1).
Rõ ràng là trong thỏa thuận này, đường ranh giới do Trung Quốc vẽ không có chút giá trị nào. Nhật Bản có thể phải nhượng bộ ít nhiều đứng từ lập trường của họ (thí dụ về quy tắc ăn chia trong hợp tác khai thác) nhưng lập trường của họ về ranh giới trên biển Đông Trung Quốc đã được giữ vững.
Chiến lược diều hâu ở Biển Đông
Trong thỏa thuận hợp tác với Nhật, hai bên đã cùng viện dẫn Công ước Quốc tế về Luật biển. Lập trường của họ khác nhau ở chỗ giải thích luật này như thế nào. Trong khi Nhật bản cho rằng phải sử dụng đường trung tuyến làm ranh giới thì Trung Quốc cho rằng phải sử dụng giới hạn thềm lục địa của nước này làm ranh giới. Cả hai cách giải thích này đều đã có tiền lệ, và vì thế tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc không phải không có cơ sở.
Trái lại, tuyên bố của họ về chủ quyền trên Biển Đông, với bản đồ chủ quyền gồm 9 điểm gạch nối lại hoàn toàn tùy tiện và không có cơ sở pháp lý. Hình lưỡi bò này xuất hiện trước cả Công ước Geneva về thềm lục địa (1958) và Công ước Quốc tế về luật biển (1982). Từ khi 2 công ước này ra đời, Trung Quốc vẫn không sửa lại bản đồ xác định chủ quyền của họ.
Thiếu cơ sở pháp lý như vậy nhưng nước này đã rất thành công trong chiến lược tiến chiếm Biển Đông. Họ đã thành công trong mục tiêu chia rẽ các nước ASEAN có cùng tranh chấp. Họ cũng thành công trong việc dằn mặt ngư dân các nước láng giềng cũng như các tập đoàn dầu khí quốc tế muốn làm ăn với Việt Nam. Trung Quốc đã tổ chức thăm dò ở các vùng biển sát thềm lục địa (và nằm trong vùng đặc quyền) của Việt Nam.
Vài nét về tác giả và bài viết
Tác giả bài viết là Tiến sĩ kinh tế học Dự Trần, chuyên nghiên cứu về tương tác chiến lược trong kinh doanh và chính trị.
Ông tốt nghiệp từ Đại học tổng hợp Texas-Austin và hiện đang làm chuyên gia tư vấn kinh tế tại ERS Group Inc - một tập đoàn chuyên tư vấn cho Chính phủ Mỹ và các đại công ty trong nhóm Fortune 500 trong các vấn đề liên quan tới cạnh tranh, lao động, tài chính, đầu tư và năng lượng.
Ông cũng là cố vấn cho Quỹ nghiên cứu Biển Đông. Quỹ này được thành lập năm 2007.
Bài này đã được công bố trên mạng Viet Nam Net ngày 6.12.2008 rồi bị bóc đi ngày hôm sau. Diễn Đàn cảm ơn tác giả Dự Trần đã cho phép chúng tôi công bố bài viết này.
Gần đây nhất, sau nhiều năm tổ chức thăm dò, vào ngày 24 tháng 11 vừa qua, Trung Quốc đã công bố dự án khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trên Biển Đông với trị giá lên tới 29 tỉ Mỹ kim. Tuyên bố này nhanh chóng trở thành tin trang nhất trên khắp thế giới[4]. Phần lớn các hãng tin quốc tế, khi đưa tin về dự án này đã không đả động gì tới thực tế là vùng biển này đang bị tranh chấp, và thực tế là Trung Quốc không hề có chủ quyền về mặt pháp lý ở đây.
Lý do thành công của diều hâu
Có ba lý do quan trọng để chiến lược diều hâu của Trung Quốc thành công ở Biển Đông: Một là các nước ASEAN như Việt Nam và Phillipine đã rất yếu trong việc đưa vấn đề tranh chấp này tới công luận quốc tế trong khi cỗ máy tuyên truyền khổng lồ của Trung Quốc đã làm tốt việc kết nối Biển Nam Trung Quốc với chủ quyền của Trung Quốc. Vì thế, về mặt công luận quốc tế, Việt Nam và các nước ASEAN cùng tranh chấp ở Biển Đông không được ủng hộ - mặc dù lập trường của họ chính nghĩa hơn về mặt pháp lý.
Thứ hai là các nước này đều phản ứng rất yếu ớt trước sự lấn át của Trung Quốc. Điều này có cơ sở thực tế là nếu đứng riêng biệt từng nước thì họ đều ở vào thế yếu xét cả về tiềm lực kinh tế và quân sự. Do ở thế yếu, họ không thể đưa ra những đe dọa khả tín nào ngay cả khi họ muốn.
Thứ ba là mặc dù ở vào tình thế lép vế nếu đứng riêng lẻ, các nước ASEAN lại không hợp tác với nhau trong cuộc tranh chấp với Trung Quốc. Thí dụ như Phillipine đã dễ dàng bị mua đứt để đồng ý ký thỏa thuận hợp tác song phương với Trung Quốc trong khi bỏ mặc Việt Nam sang một bên. Điều này phản ánh ba thực tế đáng buồn: (1) sức ảnh hưởng của Trung Quốc ăn quá sâu vào ASEAN, (2) thiếu sự tin tưởng lẫn nhau giữa các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông, (3) các chính phủ ASEAN trong từng thời điểm cụ thể đã tỏ ra thiếu viễn kiến.
Bài học về cuộc tranh chấp của Trung Quốc với Nhật và thỏa ước hợp tác khai thác giữa hai nước này cho thấy Trung Quốc không phải không chịu nhượng bộ. Diều hâu chỉ có thể nhượng bộ diều hâu chứ không thể nhượng bộ bồ câu. Với các nước ASEAN có tranh chấp trên Biển Đông, trừ phi họ cùng đứng lại với nhau, sẽ không phải là đối thủ đáng để Trung Quốc nhượng bộ.
Quỹ nghiên cứu Biển Đông, trong nỗ lực đem lại sự tin tưởng lẫn nhau và khả năng hợp tác giữa các nước ASEAN trên vấn đề Biển Đông, đã đề xướng các nước này gác qua một bên các tranh chấp về đảo/bãi đá trên ở Trường Sa để tập trung vào việc phân định một cách công bằng chủ quyền trên vùng biển này theo Công ước Quốc tế về luật biển.
Có thể nói không ngoa rằng đây là một trong những cửa thoát hẹp, nếu không muốn nói là cửa thoát duy nhất, cho các nước nhỏ yếu trong ASEAN trong cuộc đối đầu với chiến lược diều hâu của Trung Quốc trên Biển Đông.
Dự Trần

Chủ quyền cương giới biển và Hoàng Sa – Trường Sa từ thời Nguyễn thời Pháp đến Việt Nam Cộng Hoà

Bài 1: Chủ quyền cương giới biển và Hoàng Sa – Trường Sa thời Nguyễn
Để có cái nhìn mạch lạc về chủ quyền cương giới biển và Hoàng Sa – Trường Sa, Sài Gòn Tiếp Thị giới thiệu loạt bài của nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân về các cứ liệu xác thực về chủ quyền đó từ thời Nguyễn đến thời chính quyền trước 1975 và những nền tảng chứng cứ bất minh về phía Trung Quốc
Chủ quyền lịch sử là một trong những cơ sở xác thực mà Nhà nước Việt Nam hiện nay căn cứ để xác định chủ quyền biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.
Việc phát hiện hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa trước khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước đã được ghi chép trong nhiều nguồn thư tịch.
Đồng bộ tiến hành quản lý, khai thác, cắm mốc, đo vẽ bản đồ được tiến hành vào các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị…
Nói cách khác, những công việc thuộc về trách nhiệm và quyền hạn thuộc phạm vi quản lý hành chính cấp nhà nước đã được minh chứng bằng nhiều sử liệu chính thống.
Sách Đại Nam thực lục chép:
“Năm 1815, vua Gia Long cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc thuỷ trình”.
Năm 1834, vua Minh Mạng cử đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ cùng thuỷ quân hơn 20 người ra Hoàng Sa để đo vẽ bản đồ”.
Châu bản – tức tấu trình, chỉ dụ có bút phê của hoàng đế – riêng hai triều Minh Mạng, Thiệu Trị hiện còn 11 văn bản.
Trách nhiệm xử sự của quốc gia đã đặt chủ quyền trên đảo được thể hiện trong bản tấu của Thủ ngữ Đà Nẵng về việc cứu hộ thuyền buôn của tài phú Pháp Ê-đoa bị nạn do vướng phải đá ngầm ở Hoàng Sa hai bản tấu đề ngày 27 tháng 6 năm Minh Mạng 11 (1830).
Tờ tấu của bộ Công ngày 28 tháng 12 năm Thiệu Trị 7 (1842) cho thấy việc tuần tra định kỳ và liên tục của quân đội: “hàng năm, vào mùa xuân theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà cho thành thục đường đi lối lại…”.
Đại Nam nhất thống toàn đồ còn lưu lại đến nay được thực hiện khoảng năm 1840 vẽ rõ hai quần đảo xa bờ và tiêu danh Hoàng Sa – Vạn lý Trường Sa. Địa đồ này là kết quả của nhiều lần, nhiều năm thăm dò và đo đạc. Cụ thể là vào năm 1836, chuẩn y lời tấu của bộ Công, vua Minh Mạng sai suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra Hoàng Sa cắm mốc, đo đạc và vẽ bản đồ, Đại Nam thực lục (Chính biên, quyển 165, kỷ thứ 2) chép: “Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào. Khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ bến, đối thẳng là vào tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình” (bản in nhà xuất bản Giáo Dục – 2007, tập bốn, trang 867). Lời tâu của bộ Công trên đây cho thấy sự chỉ đạo rất cụ thể và chi tiết đối với đoàn công tác phụ trách đo vẽ địa đồ khu vực Hoàng Sa – Trường Sa, ngoài việc xác định vị trí địa lý, các yêu cầu khác liên quan đến những yếu tố khoa học như địa mạo, hải văn, hải trình… của Hoàng Sa – Trường Sa cũng được đặt ra.
Đại Nam nhất thống chí (1882) quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi, mục sơn xuyên cũng chép rõ về “Hoàng Sa đảo”, đoạn trích sau đây thể hiện rõ vị trí địa lý và cả hải trình: “Đảo Hoàng Sa ở phía đông cù lao Ré, từ bờ biển Sa Kỳ chạy ghe ra khơi thuận gió thì ba, bốn ngày đến… phía đông đảo này gần Quỳnh Châu thuộc phủ Hải Nam nước Tàu” (bản dịch xuất bản tại Sài Gòn – 1964).
Trong rất nhiều cứ liệu khẳng định chủ quyền lịch sử của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo, các cứ liệu tiêu biểu nêu trên trích lục từ ba nguồn: chính sử, địa chí, địa đồ, ba nguồn này đều là phương tiện công bố chính quy mang tính pháp lý của vương triều Nguyễn. Đó là những bằng chứng về việc xác lập và thực thi chủ quyền của nước Đại Nam trên biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.
Bài 2: Chủ quyền cương giới biển và Hoàng Sa – Trường Sa từ thời Pháp đến Việt Nam cộng hoà
Theo cam kết trong hiệp ước Giáp Thân (6.6.1884), Pháp đại diện quyền lợi của nước Đại Nam trong quan hệ đối ngoại, trong việc bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ. Trên tinh thần hiệp ước đã nêu, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Đại Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nơi mà trước đây vương triều Nguyễn đã xác lập bằng sự chiếm hữu công khai, liên tục và hoà bình.
Các pháo hạm của Pháp thường xuyên tiến hành tuần tiễu trong vùng biển Đông và Hoàng Sa và Trường Sa. Cùng với việc đưa hải quân đến trú đóng, nhiều hoạt động thám sát, khảo cứu, xây dựng… trên hai quần đảo được Chính phủ Pháp lần lượt thực hiện.
Những hoạt động thực thi chủ quyền ngày càng được củng cố qua những văn bản pháp quy hoặc các tuyên bố của những người có thẩm quyền, chức trách cao nhất của quốc gia.
Ngày 3.3.1925, Thượng thư bộ binh Nam triều Thân Trọng Huề tái khẳng định Hoàng Sa là của Đại Nam. Ngày 12.12.1933 thống đốc Nam Kỳ M.J.Krantheimer ký nghị định tháp nhập các đảo Trường Sa vào địa phận tỉnh Bà Rịa.
Chỉ dụ số 10, ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại 13 (1938) về việc chuyển đổi hành chính đảo Hoàng Sa do Nam triều quốc ngữ công báo công bố, toàn văn như sau:
“Chiếu chỉ các cù lao Hoàng Sa (Archipel des Iles Paracels) thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam – Ngãi; đến đời đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam – Ngãi.
Chiếu chỉ nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên Đại diện chính phủ Nam Triều uỷ phái ra kinh lý các cù lao ấy cùng quan đại diện chính phủ bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn. Dụ (Độc khoản): trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa (Archipel des Iles Paracels) vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành chính các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy.
Khâm thử”
(Công báo, số 8, năm 1938)
Trên cơ sở đồng thuận với chủ trương của Nam Triều, ngày 5.6.1938, toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Đồng thời, cho dựng bia chủ quyền tại đảo Hoàng Sa, với dòng chữ:
“République Francaise – Empire d’Annam – Archipel des Paracels 1816 – Ile de Pattle 1938”.
(Cộng Hoà Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Hoàng Sa 1816 – Đảo Hoàng Sa 1938).
Bia chủ quyền này đã lấy năm 1816 làm mốc thời gian chiếm hữu chính thức, dựa theo một sự kiện được chép trong Đại Nam thực lục:
“Năm Bính Tý, Gia Long thứ 15 (1816), tháng 3, sai thuỷ quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thuỷ”.
(Chính biên, kỷ thứ nhất, quyển 52)
Sau thế chiến 2, Pháp lại phái chiến hạm ra quần đảo Hoàng Sa, xây dựng lại trạm khí tượng trên đảo và chống các hành động lấn chiếm của Trung Quốc.
Ngày 7.9.1951, tại hội nghị San Francisco, Thủ tướng Trần Văn Hữu, trưởng đoàn đại biểu chính phủ Bảo Đại đọc bài diễn văn có đoạn: “… và cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, lời tuyên bố này không gặp phải sự phản kháng nào.
Tháng 4 năm 1956, Pháp rút quân khỏi Đông Dương, quân đội Việt Nam cộng hoà chỉ kịp thời thay thế quân Pháp tại nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo phía Đông bị quân đội Trung Quốc thừa cơ chiếm cứ. Đài Loan cũng thừa cơ chiếm đảo Ba Bình ở Trường Sa.
Trước tình hình chiếm đóng trái phép của quân đội Trung Quốc và Đài Loan, ngày 1.6.1956, ngoại trưởng Việt Nam cộng hoà Vũ Văn Mẫu tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Về quản lý hành chính, sắc lệnh ngày 22.10.1956 đặt quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy, sắc lệnh ngày 13.7.1961 lập quần đảo Hoàng Sa thành xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang tỉnh Quảng Nam.
Ngày 13.7.1971, tại hội nghị ASPAC (Manille), ngoại trưởng Việt Nam cộng hoà Trần Văn Lắm, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ ngày 17 – 20.1.1974, Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự tấn công và chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Trong trận hải chiến này hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo Nguỵ Văn Thà cùng hơn 50 binh sĩ đã hy sinh.
Đại diện chính phủ Việt Nam cộng hoà tại Liên hiệp quốc gửi công hàm đến chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng thư ký Liên hiệp quốc, thông báo hành động xâm lược của Trung Quốc tại Hoàng Sa.
Ngày 14.2.1975, bộ Ngoại giao Việt Nam cộng hoà công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa (White paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands – Republic of Vietnam – Saigon 1975).
Từ hiệp ước Pháp – Nam (1884) đến năm 1975, Việt Nam trải qua nhiều thể chế chính trị, tuy nhiên, chính thể cầm quyền nào cũng quyết tâm bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa làm chủ trên biển Đông, vì sự toàn vẹn lãnh thổ, vì quyền lợi và nghĩa vụ của mình, người Việt Nam đã bỏ nhiều sức lực và hy sinh xương máu để bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Phạm Hoàng Quân.

Giao Thiệp Với Trung Quốc

Ô Sin // June 08 2009
Lịch sử chắc chắn sẽ lưu lại phương cách đấu tranh bảo vệ chủ quyền của thứ trưởng Hồ Xuân Sơn khi ông Lê Dũng mô tả sự kiện ông Sơn gặp đại sứ Trung Quốc sau những hành động gây hấn của họ ở biển Đông là “giao thiệp”. Tôi không rõ ông Sơn gặp Tôn Quốc Tường trong hoàn cảnh nào. Nhưng, trong những tình huống tương tự, bộ Ngoại giao chỉ có thể triệu Tường lên hoặc cho đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh gặp bộ Ngoại giao họ để trao công hàm phản đối.
Khi một quốc gia ngang ngược, đại diện chính quyền không thể nào “giao thiệp” với sứ họ trong những tư thế có thể phương hại đến thể diện quốc gia. Tuy Việt Nam nhỏ hơn Trung Quốc hàng chục lần, nhưng đây không phải là một cuộc tỷ thí của hai kẻ lục lâm. Đường đường là một quốc gia, Việt Nam lại đang là thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc.
Khi đã “có đầy đủ bằng chứng” Trung Quốc cấm đánh cá trong “những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông” thì từ ngữ dù là ngoại giao cũng không thể là “đề nghị”. Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn có trách nhiệm “yêu cầu” Trung Quốc chấm dứt các hoạt động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Tất nhiên, khi Trung Quốc, ngày 16-05-2009, cho tàu Ngư Chính tới Hoàng Sa và cuối tháng 5-2009 điều tiếp 08 tàu tuần tra tới biển Đông, là đã có sự rắp tâm. Cho dù ông Lê Dũng hay Hồ Xuân Sơn sử dụng ngôn từ đanh thép tới đâu thì các ngư phủ Việt Nam vẫn khó lòng tới những khu vực nói trên đánh cá. Nhưng, một lời tuyên bố khảng khái từ Chính phủ, cũng giống như một ngọn đèn xa nơi sóng dữ, có thể giúp cho những ngư dân gặp nạn ngoài biển lớn không còn cảm giác bị bỏ rơi.
Lẽ ra, ngay từ khi nhận được tin, lúc 3h sáng ngày 19-5, một tàu câu mực của ngư dân, bị một “tàu lạ” cố ý đâm, hất xuống biển 26 thuyền viên, Chính phủ phải lập tức điều tra và yêu cầu các quốc gia có tàu bè đi lại trong khu vực cùng tham gia điều tra; hành động ấy phải được coi là hải tặc. Lẽ ra, báo chí nước ngoài phải được mời đến vùng biển ấy và gặp các ngư dân bị nạn ngay. Rồi, khi Trung Quốc thừa nhận hành vi nói trên là do chính họ gây ra thì đại diện Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc, phải lập tức đặt công hàm lên bàn Tổng Thư ký Ban Ki Moon.
Thế giới cần được biết, ở thiên niên kỷ thứ III vẫn có một quốc gia đối xử với con người mọi rợ: cho tàu lớn đâm vào tàu đánh cá của thường dân rồi để họ phải bám vào can nhựa, trôi dạt nhiều giờ trong đêm, sẽ chết nếu không được các ngư dân kịp cứu.
Việt Nam là một quốc gia nhỏ, nghèo, dân chúng đã mỏi mệt vì phải tham gia quá nhiều cuộc chiến. Cho dù vẫn có không ít người sẵn sàng ra trận để bảo vệ mỗi tấc đất cha ông, bổn phận một chính phủ thương dân là tránh để cho nhân dân đổ máu. Khi Trung Quốc đưa tàu ra biển, Việt Nam không nhất thiết cũng phải kéo tàu ra. Nhưng, ở nơi ngư dân của mình thường đánh cá và bị hành hung mà bơi nhiều giờ không thấy tàu cứu hộ thì Chính phủ cũng nên nhanh tay khắc phục.
Sự hiện diện trên biển Đông của Việt Nam nên hoàn toàn quang minh chính trực; để bảo vệ chứ không phải là để tuyên chiến. Không mong manh để Trung Quốc dễ sát hại như năm 1988 ở đảo Gạc Ma nhưng cũng không “chạy đua”. Không đối đầu trên biển Đông nhưng cũng không cúi đầu trên bàn đàm phán.
Với một kẻ sẵn sàng thí cả biển dân như Trung Hoa, chiến tranh cũng đắt giá mà đấu tranh cũng cần trả giá. Càng nước nhỏ lại càng cần nhiều bạn bè ủng hộ. Một quốc gia khi tuyên bố về chủ quyền không thể khiến cho thế giới tin nếu chính họ cũng thiếu tự tin. Phẩm giá một dân tộc không thể được phát ra bằng những ngôn từ lí nhí. Sẽ không ai nghĩ một quốc gia là hiếu chiến khi kiên trì đấu tranh pháp lý và đanh thép phản đối một quốc gia to hơn trước những hành động xâm phạm chủ quyền. Khảng khái trên mặt trận ngoại giao thường gây thiện cảm nhiều hơn là mua gươm, sắm súng.
Bằng Chứng Hoàng Sa
Ô Sin // April 28 2009
Chủ tịch Đà Nẵng Trần Văn Minh ví von việc bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ giữ chức Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa là “cắm mốc” cho quần đảo ấy. Tất nhiên, như ông Minh nói, cột mốc đó chỉ có thể cắm “trong lòng dân”; ông Ngữ vẫn ngồi ở đất liền và Hoàng Sa vẫn đang bị xâm lăng bởi quân Trung Quốc.
Mấy tuần trước, báo chí đã đưa tin khá đậm về một tờ lệnh đã có cách đây 175 năm. Tờ lệnh được đưa ra năm 1834, “phái một đội thuyền gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra canh giữ đảo Hoàng Sa”, vừa được dòng họ Đặng ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) trao cho Nhà nước. Dòng họ Đặng đã cất giữ tờ lệnh này qua sáu đời và nay trở thành “tài sản quốc gia”. Theo các chuyên gia, “đây là tờ lệnh còn nguyên bản gốc liên quan đến quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam”.
Từ năm 1816, Hoàng đế Gia Long đã “long trọng xác nhận chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa”. Gia Long làm việc này, một năm sau khi sai cai đội Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa xem xét (tháng Giêng năm 1815). Từ đó cho tới tháng Giêng năm 1974, chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa luôn hiện diện bằng xương, bằng thịt. Ngoại trừ tuyên bố “khống” của Phát xít Nhật trong thời gian họ chiếm Trung Hoa. Không ai có thể đưa ra những bằng cứ lịch sử xác đáng hơn để tranh chấp Hoàng Sa với người Việt Nam cả.
Tuy nhiên, quần đảo ấy đã hai lần bị người Trung Hoa dùng vũ lực để xâm lăng bất hợp pháp: Một vào năm 1956, lợi dụng khi quân đội Sài Gòn chưa kịp ra thay thế quân Pháp ở Hoàng Sa, Bắc Kinh và Đài Loan đã đưa quân ra chiếm đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn, hai hòn đảo vào hàng lớn nhất ở phía Đông Hoàng Sa; Một vào tháng Giêng năm 1974, Bắc Kinh đưa tàu chiến ra chiếm phần còn lại của Hoàng Sa từ tay những chiến sỹ hải quân Việt Nam giữ đảo.
Tờ lệnh thời Minh Mạng tìm thấy ở Lý Sơn là vô cùng quý giá. Nhưng, bằng chứng lịch sử đâu chỉ là những tư liệu ngày xưa. Sự kiện ngày 19 tháng Giêng năm 1974, ngày Trung Quốc “dùng vũ lực để chiếm giữ một vùng lãnh thổ đã có chủ” là Việt Nam, cũng chính là bằng chứng. Bằng chứng về “một hành động hoàn toàn phi pháp” của Trung Quốc xét theo Định ước Berlin 1885 và Tuyên bố Lausanne 1888.
Theo đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư lệnh vùng I, Hải quân Việt Nam Cộng hòa (VNCH): Ngày 15-1-1974, địa phương quân Hoàng Sa bắt đầu phát hiện tàu đánh cá lạ. Ngày 16-1, khi người nhái của Hải quân VNCH đổ bộ lên đảo Duncan và Drummond thì đụng ngay một toán quân nhân Trung Quốc. Chiều 16-1, mọi diễn biến đã được đích thân đề đốc Thoại báo cáo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khi ấy đang ở Mỹ Khê. Ngày 17, trên lãnh hải Việt Nam xuất hiện thêm hai tàu quân sự Trung Quốc.
Sáng 17-1, toàn bộ diễn tiến được đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại cập nhật cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tổng thống Thiệu khi ấy vẫn đang ở Đà Nẵng, lập tức: Chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng I: “Trước hết dùng biện pháp ôn hòa yêu cầu các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh hải; Nếu họ không nghe thì nổ súng cảnh cáo; Nếu họ ngoan cố thì toàn quyền sử dụng vũ lực”. Đại tá Hà Văn Ngạc, ngay sau đó đã được đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại cử lên soái hạm Trần Bình Trọng ra thẳng Hoàng Sa; cùng đi có hộ tống hạm Nhật Tảo.
Sáng 19-1-1974, báo cáo với đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại qua bộ đàm đại tá Hà Văn Ngạc cho biết: “Các hạm đội Trung Quốc đang áp sát từng chiến hạm Việt Nam”. Theo đề đốc Thoại, lúc đó, cố vấn Mỹ tại Sài Gòn cho biết, ở khu vực Hoàng Sa có khoảng 17 chiến hạm của Trung Quốc. Đại tá Ngạc thống nhất với đề đốc Thoại là khi không tránh được nổ súng thì phía Việt Nam sẽ phải nổ súng trước để giảm thương vong.
Vào lúc 10giờ30 sáng ngày 19-1-1974, Đại tá Ngạc đã để hệ thống bộ đàm “on” và đề đốc Thoại đã nghe được tiếng súng của đôi bên trong trận tử chiến kéo dài 30 phút ấy. 15 chiến sỹ hải quân Việt Nam thuộc toán đổ bộ của tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, đã đứng sát bên nhau và cùng bật ra bài hát “Việt Nam, Việt Nam” khi nhìn thấy soái hạm của quân Trung Quốc trúng đạn. Nhưng, cuộc chiến ấy là không cân sức. Hạm đội Bảy của Hoa Kỳ khi ấy ở rất gần đã không cử bất cứ chiến hạm nào ra chi viện. Người Mỹ và người Trung Quốc vừa mới nắm tay nhau.
Ngày 20-1-1974, 10 chiến hạm Trung Quốc đã đổ một lực lượng hải quân hùng hậu lên đảo Hoàng Sa và Cam Tuyền, bắt đầu một thời đô hộ mới. Không biết đến bao giờ mới tống cổ được những tên xâm lược ấy ra khỏi bờ cõi Việt Nam.
Thời gian qua, tôi cố gắng tìm gặp những người lính đã tham gia trận hải chiến lịch sử này. Đại tá Hà Văn Ngạc đã mất tại Dallas, Texas. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng không còn. Tướng Hồ Văn Kỳ Thoại hiện vẫn còn sinh sống tại bang Virginia, nhưng tuổi đã ngoài 80. Một số sỹ quan hải quân đã từng ở Hoàng Sa và đã từng tham dự trận hải chiến 1974 hiện vẫn còn sống rải rác ở nhiều nơi và tôi vẫn mong có ngày gặp họ. Tôi được đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại trao cho bản danh sách những chiến sỹ hải quân Việt Nam hy sinh trong ngày 19-1-1974, bản danh sách có chữ ký của ông. Nhưng rất tiếc là vẫn còn một số người chỉ biết tên chứ chưa rõ họ.
Nhưng, tôi chỉ là nhà báo, chỉ làm những việc này trong khuôn khổ nghề nghiệp. Khi nhậm chức, ông Đặng Công Ngữ có hứa là sẽ đấu tranh để giành lại chủ quyền cho Hoàng Sa. Tôi nghĩ, như mọi người dân Việt Nam, ông Ngữ nói ước muốn này là vô cùng thành thật. Nhưng, khác với thường dân, thay vì chỉ ước mơ, ông Ngữ có thể ra tay ngay, thu thập những tư liệu lịch sử xưa cũng như tư liệu sống. Đặc biệt là tư liệu về “trận hải chiến Hoàng Sa 1974”. Một phần của lịch sử ấy là Tướng Hồ Văn Kỳ Thoại; là các sỹ quan, chiến sỹ hải quân ở Hoàng Sa năm 1974. Đừng đợi đến đời sau, khi con cháu họ đưa lên một “công vụ lệnh” cử họ ra Hoàng Sa rồi mới ồ lên: “Tài sản!”. Lịch sử có giá ngay từ hôm nay, khi những người từng chiến đấu ở Hoàng Sa còn sống.
Tôi rất muốn được trao lại cho ông Đặng Công Ngữ bản danh sách có chữ ký của vị tướng đã ra lệnh nổ súng trong trận hải chiến Hoàng Sa. Nhưng, đấy chỉ là một phần rất nhỏ. Hãy tìm gặp những con người đã chiến đấu rất can trường ấy để thu thập những kỷ vật; những ký ức. Hãy mời họ đến trụ sở của huyện đảo Hoàng Sa, và sẽ rất vinh dự nếu tôi, một sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam được cùng họ tham dự lễ vinh danh 58 liệt sỹ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh vì Hoàng Sa năm ấy. Tên tuổi của 58 liệt sỹ ấy xứng đáng được Chủ tịch Hoàng Sa cho trân trọng khắc lên bia. Tấm bia ấy không phải để vinh danh “lính ngụy”. Những người lính ấy đã ngã xuống để bảo vệ tổ quốc. Những người lính ấy là người lính Việt Nam. Trân trọng sự hy sinh của họ không chỉ vì họ là lịch sử mà còn vì đấy là đạo lý.
Tổn Thất Đôi Bên:
Về phía Trung Quốc: Soái hạm 274 bị chìm, toàn bộ Bộ tham mưu gồm đô đốc Phương Quang Kinh, tư lệnh phó hạm đội Nam Hải, 5 đại tá, 6 trung tá, 2 thiếu tá, 7 sỹ quan cấp úy và một số thuyền viên trên tàu chết; Hộ tống hạm 271 bị hư, phải ủi bãi, đại tá Vương Kỳ Ưu, hạm trưởng chết; Hai trục lôi hạm 389 và 396 bị hư hại nặng, 2 chỉ huy là trung tá Triệu Quát và đại tá Diệp Mạnh Hải, chết.
Về phía Việt Nam: Hộ tống hạm Nhật Tảo chìm, chỉ huy, trung tá Ngụy Văn Thà cùng với 24 chiến sỹ hải quân khác hy sinh, 26 người mất tích; Khu trục hạm Trần Khánh Dư bị hư hại, 2 chiến sỹ hy sinh; Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng bị hư với hai chiến sỹ hy sinh; Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, bị trúng đạn: 1 chiến sỹ hy sinh, 15 chiến sỹ trôi dạt suốt 15 ngày về Quy Nhơn và 14 người sống sót; 2 quân nhân người nhái hy sinh trên đảo; 43 quân nhân, nhân viên khí tượng Hoàng Sa, cùng với một cố vấn Mỹ đi cùng chiến hạm bị bắt đưa về Trung Quốc.
November 2009
M T W T F S S
October 2009December 2009
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30