Nguyen Trong Khoi

Khong Gian Am Nhac

Subscribe to RSS feed




NHO DA LAT - ca khuc Nguyen Trong Khoi -


DÒNG SÔNG MÙA ĐÔNG - ca khúc Nguyễn Trọng Khôi-
Arranged and Composed by: NguyenTrongKhoi-


DÒNG SÔNG MÙA ĐÔNG-
Ca khúc: Nguyễn Trọng Khôi-


1-
Mùa đông tới bên sông gió lay đôi bờ mơ hồ-
Nhớ về những ngày êm ái-
Những ngày xưa giờ xa xôi-
Và tuyết đã giăng giăng khắp trời, lạnh buốt cô đơn xứ người-
Nỗi vui, nỗi buồn như một cung đàn lẻ loi-
Đêm âm thầm và tuyết trắng mênh mông-
Buồn vương lên đôi môi héo hắt nụ cười-
Còn duyên tình cũ thì xin lần nữa đừng cách chia cho thêm sầu đau-
Thời gian xin đừng nhạt sắc hương-
Tình ơi có thật thà xót thương-
Xin đưa nhau đến gần nhau-
Cùng chung xây mộng vàng đắm say-
Cùng chia nhau ngọt bùi đắng cay-
Yêu nhau đến cuối cùng sau cuộc đời-
Rồi năm tháng phai bao ước mơ-
Bên dòng sông buồn-
Xa rồi cung đàn êm ái-
Gió lạnh đôi bờ, đôi nơi-
Còn một chút dư hương của người-
Dành góp như bao kỷ niệm-
Mỗi khi đông về ru lòng ấm lại mà quên-
……………………………….
2-
Mùa đông tới bên sông gió lay đôi bờ mơ hồ-
Nhớ về những ngày êm ái-
Những ngày xưa giờ xa xôi-
Và tuyết đã giăng giăng khắp trời, lạnh buốt cô đơn xứ người-
Nỗi vui, nỗi buồn như một cung đàn lẻ loi-
Đêm âm thầm và tuyết trắng mênh mông-
Buồn vương lên đôi môi héo hắt nụ cười-
Còn duyên tình cũ thì xin lần nữa đừng cách chia cho thêm sầu đau-
Thời gian xin đừng nhạt sắc hương-
Tình ơi có thật thà xót thương-
Xin đưa nhau đến gần nhau-
Cùng chung xây mộng vàng đắm say-
Cùng chia nhau ngọt bùi đắng cay-
Yêu nhau đến cuối cùng sau cuộc đời-
Tình anh đã trao em thiết tha-
Bây giờ xa rồi-
Trên dòng sông buồn lặng lẽ-
Gió lạnh đôi bờ, đôi nơi-
Còn một chút dư hương của người-
Dành góp như bao kỷ niệm-
Mỗi khi đông về ru lòng ấm lại mà quên


,


BÔNG TUYẾT TRẮNG

Nhạc: Nguyễn Trọng Khôi-
Lời thơ: Ngô Thy Vân -

Anh đi trong phố mùa đông
Tìm hái cho em bông hoa ngày sinh nhật
Hoa không có biết làm sao anh hái
Thấy một trời tuyết đổ xuống mênh mông

Sao em sinh giữa mùa đông
Để thấy quanh em bông hoa nào cũng buồn
Bông tuyết trắng rơi từ trời xa vắng
Vỡ tan tành trong tay anh trắng, trắng tay

Rồi từ đó mỗi mùa xuân tới
Anh chắt chiu từng cánh hoa tươi
Dành dụm cho em khi mùa đông tới
Đề mừng em ngày mới ra đời.
………………………………
Để mừng em ngày sinh nhật em.


http://www.khoiart.com/Entertainment/ENTERTAINMENT.html



TRỜI TƯỞNG NHỚ

Một ngày nắng, một ngày mưa
Một người nhớ một người xưa.
Anh nhớ chăng những dòng sông trôi rất êm đềm
Và những cánh én thiết tha bay trong chiều tưởng nhớ
Lá me xanh dưới chân em.

Một ngày nắng, một ngày mưa
Một ngày dỗi hờn ngày xưa
Anh đã xa, xa rồi anh ơi những khung trời
Ngàn cánh lá biếc hát ru anh với lòng tha thiết
Nắng lưa thưa. Nắng lưa thưa.

Nắng lưa thưa mỗi độ chiều rơi
Cơn mưa nào trút lệ đầy vơi
Niềm thương nhớ gợi từ cơn gió đi qua
Yêu nhau một đời hay chia xa?

Còn lại những ngày buồn tênh
Còn lại có một mình em
Với tháng năm âm thầm cô đơn, gió lạnh lùng
Và sẽ mãi mãi xót xa cho cõi lòng tê tái
Nhớ khôn nguôi. Lá rơi rơi...

ĐỒI THÔNG SƯƠNG MÙ - ca khúc Nguyễn Trọng Khôi - Anh Thư biểu diễn[/FONT]


Con diều

Thả một mảnh giấy lên trời
Mà ai cũng thấy phiêu diêu trong lòng
Một con diều với thinh không
Xem ra thì rất vô cùng tự do

Trăng treo trên đỉnh con đò
Mênh mang tiếng sáo làm giao động người
Quê hương nối sợi giây dài
Buộc tôi cùng nỗi ngậm ngùi tha hương

Có ai kể lại con đường
Dẫn vào kỷ niệm một phương trời buồn
Đồng quê với cánh chuồn chuồn,
Bay trong trí nhớ tổn thương ít nhiều

Gío, gió nói bao điều?
Khi không đánh thức bao nhiêu đậm đà.
Những hình ảnh chốn nơi xa.
Vô tình gặp được lại là hiếm hoi

Xuôi tay buông thả một đời
Thản nhiên tham dự cuộc chơi giữa đàng
Giật mình thấy mộng hoang tàn
Lặng yên để thấy tóc bàng bạc mau.

Cánh diều ai thả lên cao,
Biến thành nhiều nỗi ước ao xa vời
tôi đem thả hết cuộc đời
Xem ra chẳng có mấy người cảm thông

2001
NTKH

Cô đơn

Cô là một
đơn cũng là một
đem gộp cả hai lại
viên thành một viên bi
viên bi bé quá
bắn vào tâm hồn
viên bi bé quá
so với diện tích buồn bao la

1996
NTKH[/FONT]



Nôi


Nôi người từ đất sinh ra
Đến khi về già lại nhớ về nôi
Còn tôi sinh giữa cuộc đời
Nhớ về xa xôi
Cách một nơi
Gọi là quê cũ

1999
NTKH [/FONT]

Có-Không

tập tầm vông
tay không tay có
tập tầm vó
tay có tay không

đời gọi mênh mông là có
mây gọi thinh không là không
có có, không không
anh là chồng
em là vợ
có lúc xem nhau như cái nợ
có lúc không
có lúc một lòng
có lúc lại xa
đến khi về già thì cận kề nhau
bạc hết mái đầu, ngồi ôn dĩ vãng
Rồi tính từng ngày
Hạnh phúc thì ở tầm tay
đưa tay ra với, với ngày với đêm
tưởng như được chút êm đềm
lại thành một nỗi muộn phiền bao la
hạnh phúc là cái gọi là :
(ở gần thì mất, khi xa lại còn) *
ngọt ngào chi trái bồ hòn
bao nhiêu đi nữa cũng mòn mỏi ta
cố thêm chút nữa gọi là...
mở tay ra có, có mà như không (!)
tập tầm vông
tay không tay có
tập tầm vó
tay có tay không

có có, không không.

2000
NTKH
* Thơ Nguyễn Duy
[/SIZE][/I]

CỘNG TRỪ

Vì không thể đứng một mình
Thành ra ở giữa tử sinh cộng trừ
Con sông cộng với con đò
Thành ra những chuyện giang hồ phiêu lưu

Một mình ngồi với cô liêu
Những gì muốn nói ít phiền muộn nhau
Mặt trăng cùng với mặt trời
Thành đôi nhật nguyệt mở lời âm dương.
Nắng mưa đổ xuống chung đường
Để làm thiên sử cho đôi nhân tình
Em mà cộng với lại anh
Thành ra tiểu thuyết để dành đọc chơi

Từ xưa cho đến bây giờ
Những gì cộng lại vẫn ngờ vực nhau.

1990
NTKH[/FONT]

Lời cầu nguyện

Có hai bà mẹ
Ở hai miền thù nghịch
Một hôm đến giáo đường
Cùng dâng lời cầu nguyện :
Xin Chuá rất nhân từ
Cho con tôi ra trận
Chiến thắng được kẻ thù
Trở về trong vinh hiển ‘


Trên cao Chúa cả trên trời
Ngẫm mãi về lời cầu nguyện
Rồi bật khóc
Nhớ khi xưa ngọn giáo đòng đòng
Đâm vào cạnh nương long.

1979


Bi kịch

Có hai thanh niên
Thời chiến
Ở hai đầu trận tuyến
Một hôm
Xách súng vào chiến trường
Hai khẩu súng được làm ra từ hai nước nọ
Họ gặp nhau
Cùng nảy cò
Hai viên đạn bay về hai phía
Kết liễu hai cuộc đời
Máu đã đổ rồi
Hận thù mãi khôn nguôi.

1980

Mất Sắc
Truyện ngắn : Nguyễn Trọng Khôi


Câu chuyện tôi sẽ kể ra đây là một câu chuyện có thực, những nhân vật cũng là nhân vật có thực. Nếu có sự trùng hợp với ai thật đáng tiếc, và điều đó hoàn toàn không do tôi áp đặt. Câu chuyện này nếu do người khác kể thì tôi không thể tin, có khi còn nghĩ là họ bịa ra mà thôi. Đàng này chính cậu ruột mình kể thì không thể bảo là kể láo được.
Truyện xảy ra khi cậu tôi còn làm việc cho một tờ báo khu vực với số lương thật khiêm nhượng. Mợ tôi nói cậu nên apply một job khác có căn bản hơn, có bảo hiểm sức khỏe cho bản thân, đôi khi còn lo toan được cho gia đình việc này, việc nọ, lo cho hai đứa con còn đang tuổi High School. Nhưng cái máu làm báo nó vẫn ám lấy cậu từ nhiều năm khi cậu còn ở Việt Nam. Cậu đi sớm , về khuya như một người hết sức bận rộn, trong khi công việc chính của cậu không tất bật đến như vậy. Hầu hết mối quan hệ của cậu thường xuyên nhất vẫn là việc sinh hoạt với các nhà văn , nhà báo trong khu vực Westminster- Orange County ở California. Mợ thì lo việc nội trợ và nhận đồ may gia công kiếm thêm đồng ra đồng vào. Mợ lại là người chắt chiu cần kiệm, nên với đồng lương của cậu dù không nhiều gia đình cũng không quá cơ cực, nhưng cũng không hoàn toàn thoải mái lắm. Khi ấy tôi đang theo học ngành tài chính tại một đại học thuộc tiểu bang Massachusetts. Thỉnh thoảng lắm mới về Cali thăm cậu mợ và hai em. Lúc tôi chuẩn bị tốt nghiệp, có gia đình người bạn phải rời tiểu bang nên muốn sang một tiệm giặt ủi với giá thấp. Tôi gọi phone cho mợ và bàn với mợ về việc này. Sau hai tuần thu xếp, mợ đã bay đến tiểu bang tôi ở. Và tháng kế tiếp họ đã làm chủ tiệm giặt. Công việc của cậu mợ làm ăn phát đạt. Tôi dọn về ở với cậu mợ và phụ giúp khi tiệm giặt bận rộn. Một hôm tôi trở về nhà hơi trễ. Tôi thấy trong nhà như đang có việc gì xảy ra. Mợ thì yên lặng làm bếp. Hai em ở yên trên lầu. Tôi không thấy cậu đâu nên hỏi mợ. Mợ hất đầu ra dấu cậu ở ngoài post. Tôi mở cửa ra post thấy cậu trầm ngâm ngồi hút thuốc. Sắc mặt trơ cứng như tượng. Tôi trở vào nhà lấy hai ly nước trà đặc ra đặt lên một bàn nhỏ rồi ngồi xuống một ghế đu bên cậu. Cậu không nhìn tôi, miệng lẩm bẩm : “Chết! Chết..! Chết thật rồi.”

***

Ở quận Cam có một người tử tế. Ông ta vốn dòng Hoàng Học. Họ Hoàng Học là một họ nổi tiếng năm đời khoa bảng. Đời nào cũng có người giỏi chữ, thế nên người ta đoán rằng vì giỏi chữ họ Hoàng đã lấy chữ lót là Học cho tất cả con trai, còn con gái lấy chữ lót là Thục. Thật ra chẳng có gì là lạ. Cái quan trọng hơn hết họ nào họ nấy giữ được cái tinh anh khí tiết truyền đời, cái đức hạnh và phẩm giá của tiền nhân còn được lưu giữ cẩn thận mới đáng. Họ Hoàng đã làm được những điều đó trong sự hãnh tiến từng thời kỳ. Đến đời ông Hoàng Học Thái vẫn còn giữ được những điều khả dĩ của đạo làm người. Qua đất Mỹ đã được mười mấy năm ông Thái vẫn chưa bị nhiễm phải chất hỗn tạp của thế giới hiệp chủng. Ông là người giỏi chữ đúng với họ ông mang. Ông lại vẫn thường nghiên cứu sách Âu, Á, vì vậy ông đã thông suốt không những mọi điều về văn hóa đất nước ông mà còn mở rộng được nhiều điều hiểu biết bên ngoài thế giới. Vốn liếng sách vở cộng thêm trí thông minh tuyệt mẫn của ông khó có ai ở quận Cam này bì kịp. Các bậc thức giả hay lui tới ông chơi những lúc rảnh rỗi cuối tuần. Ông giao du rộng thành ra bạn cũng lắm mà thù cũng nhiều. Duy có diều hiếm thấy ông làm việc gì ác độc, thành ra ông được đồn đại là người tử tế. Một chuyện xảy ra thật ghê gớm đã làm cho đầu ông Thái bạc trắng và toàn bộ da trên mặt cũng loang trắng tuy năm nay ông mới có bốn mươi bảy tuổi. Người ta rỉ tai nhau rằng họ Hoàng loạn luân. Không phải chỉ mình ông đau buồn mà cả họ Hoàng đều bị mất ăn, mất ngủ. Trong họ hàng cho là tại ông gieo rắc tai họa. Họ nói rằng nếu ông đừng quá trịch thượng, hòa đồng với mọi người hơn nữa thì cả họ Hoàng sẽ không phải bị vạ lây như vậy. Tiếng ta thán của dòng họ Hoàng âm i vang rộng khắp quận Cam.
Tin ông Thái bạc đầu, bạc mặt vì nhục nhã khiến cho những người quen biết xa lánh ông. Họ không dám gần ông và cả dòng họ Hoàng nhà ông như người ta xa lánh một căn bệnh truyền nhiễm hay xa lánh một mối họa. Cả bạn bè người Âu Mỹ trước vẫn xem ông như một phát hiện hiếm hoi, nay đã tỏ mặt khinh khi thấy rõ. Ông Thái đau đớn lắm. Ông biết đây là một đòn thù đốn mạt mà kẻ thù tìm cách gieo rắc vào dòng họ mình. Ông đã tìm mọi cách để minh chứng sự trong sạch nhưng tất cả đều vô hiệu hóa. Cái mẫn cảm sẵn có của bản thân bây giờ xem ra cũng đã từ từ nhạt mất nhiều lắm. Ai? Ai đã làm điều khốn nạn này? Ông không thể đoán và tưởng tượng có một kẻ hèn hạ nào đó lại manh tâm ám hại ông và dòng họ ông. Sự đời vốn như vậy rồi, có mấy ai được yên ổn trong lạc thú hạnh phúc bao giờ. Cuộc sống vốn dĩ đã có nhiều duyên cớ đẩy con người ta vào cuộc vật lộn với trăm ngàn âm mưu hiểm độc, trăm ngàn thủ đoạn đớn hèn luôn luôn rình rập từng góc đời sống của chúng ta. Ông Thái đã có mấy khi yên ổn trong vô số những điều cần đối phó. Hoặc giả đã đến lúc họ Hoàng mạt vận rồi chăng? Kể ra cũng có vài người đến với ông song chỉ để tỏ vài lời an ủi thương cảm. Họ đến với ông không phải bằng trách nhiệm bạn bè mà đến bằng thái độ của kẻ sợ lòng mình ray rứt thế thôi. Trong ánh mắt của từng người, ông nhận ra sự khinh miệt và ghê tởm. Có vài cặp mắt biểu lộ niềm ái ngại thương tâm, ngẫm cho cùng đó chỉ là niềm đắc thắng kín đáo. Cái kết quả sự giao du của ông Thái có lẽ rồi chỉ còn đọng lại trong tâm hồn ông một tổn thương.
Từng đêm, từng đêm thức trắng, ông Thái lục tìm trong trí nhớ xem ông đã có sai phạm điều gì trong luật sống, xem ông đã có vô tình xúc phạm vào lòng cao cả của bằng hữu không. Ông thấy vô số những điều cần phải dự đoán nhưng rốt cuộc chỉ làm ông rối mù trong việc truy cứu lầm lỗi. Cái đầu bạc phơ và khuôn mặt trắng loang lổ của ông cũng đã làm cho các học trò ông xa lánh ông từ từ. Đến hôm nay thì không còn ai học ông nữa. Việc dạy chữ cho con trẻ không lẽ cũng là điều đáng nguyền rủa và ghê tởm chăng? Tự bản thân chúng nó ý thức hay các bậc cha mẹ cấm chúng nó đến với ông? Những đứa trẻ vốn là cứu cánh cuối cùng của ông trong cái xã hội hoang loạn này, giờ cũng xa ông nốt. Ông Thái thấy mình như bị bỏ rơi, bị đày đọa trong sự miệt thị tàn nhẫn. Nỗi buồn của kẻ khác bao giờ cũng được coi như một cái vấp nhẹ; với ông, đúng là một cái tát nhục nhã.
Một hôm có người học trò ghé thăm ông. Ông mừng lắm. Nghe tiếng chuông, ông ra mở cửa ngay không quên che dấu cái đầu ông bằng chiếc mũ nỉ mềm. Tay run run mở cửa, vừa thấy đứa trẻ ông đã tính vồ lấy nhưng lòng tự trọng bắt ông phải dè dặt trước bộ mặt cứng đờ và lạnh ngắt của cậu học trò.
“Chào thầy ! “
“Chào em! Em vào chơi.”
Ông tránh sang một bên mời cậu bé vào như mời một người bạn. Ông âm thầm chịu đựng cái nhìn dò xét hỗn xược của cậu ta.
“Em dùng nước đi .”
Cậu bé im lặng lúc lâu như chuẩn bị, rồi buột mồm nói như trút tất cả đay nghiến vào đời cuộc sống khốn nạn :
“Người ta nói gia đình thày bị mất sắc có phải vì loạn dâm không ? ”
Tiếng nói bật ra như cứa rách tất cả mọi chịu đựng. Người ông Thái tái lạnh và nhũn ra chực gập đổ xuống. Ông ráng hết sức để cầm giữ được chút bình tĩnh, tuy vậy vẫn cứ rung lên run rẩy.
“Tôi ... Tôi không biết nói với em làm sao. Người ta ác lắm. Họ đã nói với em như thế ư ? “ “Thày không thấy sao? Ngay cả cái mũ thày đội cố che dấu cái đầu bạc trắng của thày cũng không có màu sắc. Đồ đạc của thày? Nhìn kia, chúng cũng đều không có sắc .”
Ông Thái kinh hãi vì sự phát hiện của cậu học trò. Những điều che dấu không còn kín đáo được nữa. Ông muốn than lên một điều gì, song ông không còn sức để nói nữa. Người ông như bị hụt hơi. Ông cảm nhận được tất cả đau đớn của cuộc đời ông, một đau đớn dồn nén đến xót xa. Ông im lặng tủi nhục.
Trong ánh sáng nhờ nhờ hình bóng ông nhòa theo bóng tối trông không được rõ. Cậu học trò giật mình mấy cái rồi đứng dậy :
“Chào thày .. . con về ! “
Ông Thái càng hoảng hốt. Ông thấy như sắp mất một thứ gì quí giá. Ông muốn giữ nó lại. Đôi tay ông đưa ra, chưa vươn tới đã rớt xuống. Trông ông lúc này thảm bại biết bao.
Trời tối dần. Trong căn phòng hình vuông tối xẫm không nhìn rõ vật nào ra vật nào. Những vật gì không màu sắc bao giờ cũng bị bóng tối làm nhòa đi trước tiên. Cả hình bóng ông Thái cũng vậy, giờ đây không cò rõ rệt nữa. Ông bỗng biến nhanh đi trong bóng tối như một bóng ma.
Về sau không còn thấy ai lai vãng tới ông. Căn bệnh kỳ lạ đã làm cho ông từ kinh hoàng đến mê muội điên loạn. Thoạt tiên là tóc ông trắng ra; Sau đó đến da thịt ông bị mất sắc, ban đầu lốm đốm như người bị bạch biến, sau trắng dần rồi càng ngày càng trong suốt ra. Cả tròng đen con ngươi lúc đầu như bị cườm thế mà chỉ ít thời gian ngắn con ngươi mắt đục trắng như bị luộc chín. Lạ lùng hơn nữa sau một tháng ông bị như vậy, tất cả đồ đạc ông dùng cũng từ từ nhạt màu theo. Ông lục tìm sách vở để truy cứu căn bệnh quái dị này, nhưng không thấy sách báo nào nói đến. Ông cũng mời một bác sĩ là người bạn chí thân của ông đến chẩn bệnh. Ông này là bác sĩ toàn khoa, khá giỏi về những biến chứng kỳ lạ của nhiều loại bệnh lý. Sau khi xem xét chẩn nghiệm ông ta đã đi đến một kết luận rằng đây có thể là một bệnh thuộc chứng Bạch Cốt Phong Hoại Chứng sẽ sinh ra những biến chứng khác thường. Cũng có thể là một chứng bệnh thời đại của địa cầu. Ông ta khuyên ông Thái không nên nóng nảy quá, ráng tĩnh dưỡng nhất là khi thần kinh dễ bị những xúc động khách quan chi phối. Ăn uống thay đổi món thường xuyên. Sinh sống ráng cho ngăn nắp, trật tự, tạo thêm lòng nhân đối với mọi người..v..v.. Tuy vậy ông Thái cũng chưa thể yên lòng mà còn bị giao động mạnh. Thân thể ông càng ngày càng trắng, càng ngày càng trong suốt ra. Hễ ông vào chỗ hơi tối là không còn nhìn thấy ông được nữa. Những ngày đầu nhuốm bệnh, ông Thái khổ cực nhất khi họ hàng đến thăm. Cứ phải giải thích này nọ. Sau là bạn bè, có người hiểu, có người không. Chung cuộc thì tất cả dần dà bỏ rơi ông. Duy có đứa em gái là còn năng lui tới. Cứ mỗi thứ sáu lại đến để đem thức ăn cho ông, vì giờ đây ông không thể ló mặt ra ngoài đường được nữa. Ngày và đêm ông chìm đắm trong căn phòng kín bưng không đèn đóm. Ông đã thở vào bóng tối bao nhiêu là khổ sở, tủi thân. Hỡi ơi đời ông có làm điều gì đáng tiếc đâu sao lại bị đày đọa thế này! Ông vốn là người biết thiệt ngay, cứng cỏi, vậy mà chỉ vài tháng sau trông ông đã ra dáng một kẻ hèn hạ.
Căn bệnh này không hề gây cho bệnh nhân một chút cảm giác đau đớn thể xác, song le nó đã có thể làm cho bệnh nhân phát cuồng lên được. Sự lần mòn mất hết sắc độ trên thân thể, đồ dùng đã gây ra một điều xấu hổ vô cùng. Sự khổ sở này còn hơn cả bệnh cùi hủi. Loại chứng bệnh gây ra một tác quái buộc bệnh nhân không còn giữ được cốt cách, danh giá của mình nữa. Ông Thái đã nhiều lần toan tự sát. Ông thấy mình sống cũng vô ích thôi mà còn làm bia cho người ta phỉ nhổ. Có điều ông đã cầm mình được. Ông không thể chết nếu chưa vạch ra được mặt kẻ thù ngầm ám hại ông. Vì thế cái ý niệm này đã biến ông Thái từ một người đạo đức, coi sách thánh hiền làm trọng đã trở thành một người âm thầm và đa mưu. Trong nhất thời ông Thái chợt nhớ ra một người. Đó là hòa thượng Thích Thông Tuệ. Thày Thông Tuệ cũng là người giỏi chữ. Ông lại là người uyên bác về y học đông tây. Lúc còn ở Viet Nam thày đã cứu nhiều trường hợp hiểm nghèo. Sang tới Mỹ, thấy đạo pháp có bề suy mạt, thày Thông Tuệ vẫn cố gắng quyên góp và mở lời kêu gọi các đạo hữu lập chùa. Khoảng giữa quận Cam và Los Angeles từ đó có một ngôi nhà được chỉnh trang lại cho thành dạng một ngôi chùa mang tên Chùa Pháp Quang. Thày Thông Tuệ không ở tại chùa. Chùa do gia đình một đạo hữu chăm lo nhang khói, quét dọn. Chùa chỉ đông đảo vào đầu tháng và những hôm cúng rằm và khi ấy thày Thông Tuệ cũng từ nơi xa trở về trụ lễ, thuyết pháp và chữa bệnh. Thày Thông Tuệ vốn là bạn cùng trường với ông Thái khi còn ngồi ghế Văn Khoa Sai Gon, sau này là bạn đàm đạo chí thân của ông Thái. Việc nghĩ đến người bạn tâm giao đã làm cho ông Thái thấy nguôi lòng một chút. Trời vừa chập tối, ông Thái đội mũ rồi rời khỏi nhà. Ông phải đi vào giờ này bởi sợ người qua lại. Vừa ra khỏi cửa ông đã thấy có người đi lại phía ông – Ông Phan người láng giềng hiền lành, tốt bụng. Ông Thái nghĩ nếu mình có gặp ông ấy trong hoàn cảnh này, chắc ông ấy cũng cảm thông. Ông mạnh dạn bước về phía ông Phan :
“Chào ông Phan ! “ Người đàn ông ngơ ngác nhìn quanh.
“Tôi dây! Thái đây ! “
“Ai? Ai nói với tôi ? “ Rồi ông ta cắm đầu chạy. Ông Thái gọi với theo :
“Chả lẽ ông không nhìn thấy tôi ? “
“Ma! Ma.. .! “
Ông Thái thấy uất nghẹn trong buồng ngực. “ Chả lẽ ...” Ông lấy xe rồi cố gắng chạy thật cẩn thận. Ông không dám lái thẳng đến chùa mà đậu xe ở ngoài Parking xa chùa một chút rồi đi bộ lại. Trên đường đến chùa ông cố tình đụng chạm với khách đi đường, nhưng không ai nhìn thấy ông. Lạ quá ! Không lẽ ông không còn một chút tượng hình, tượng bóng nào chăng ? Thày Thông Tuệ cũng thế, lúc ra mở cửa đã kinh hãi vì có tiếng người mà không trông thấy ai.
“Thày không thấy tôi ư ? Tôi là Thái đây! “ Ông Thái bật khóc. Tiếng khóc giữa khoảng không i i như oan hồn thất lạc.
“Thày Thông Tuệ, tôi bị một chứng bệnh kỳ lạ muốn đến tỏ lộ cùng thày. Tôi chính là Hoàng Học Thái đây, thày không còn nhớ tôi sao ? Hay . . . thày cũng khinh tôi ? “
“Mô Phật ! Không dám. Nếu đúng là ông Thái xin mời vào và ngồi xuống ghế bên phải kia. “
Lúc ông Thái đi ngang qua thày Thông Tuệ, ông khẽ chạm vào thày, ông thấy thày run bật người lên. Ông Thái ngồi xuống chiếc ghế được chỉ định rồi lấy giấy bút ra và viết vài câu. Nhưng không thấy hàng chữ nào xuất hiện. Thày Thông Tuệ đã ngồi xuống ghế đối diện ông. Mắt của thày lạc thần, bán tín bán nghi. Quả nhiên thày gan dạ và có lòng nhân.
“Ông hãy biểu lộ cho tôi thấy ông như thế nào? “
“Thật thày không trông thấy tôi ư ? Không một chút nào ư ? “
“Tôi .. .Tôi không nhìn thấy gì cả. Chỉ nghe được giọng ông nói mà thôi. “
“Không lẽ . .. Tháng qua tôi còn là một màu trắng. Bây giờ . .. Trời ơi ! “
Ông Thái kể rõ đầu đuôi mọi việc xảy ra cho thày Thông Tuệ nghe. Ông cũng nói thêm những tin đồn về ông, những ám chỉ và những thủ đoạn dự đoán về ông. Ông tỏ cho thày Thông Tuệ biết mình rất đau khổ bởi chứng bệnh quái gở không phương thuốc nào chữa trị được. Ông mong thày Thông Tuệ lấy lòng thành mà chữa trị cho ông, lấy lòng nhân mà khuyên ông những gì sắp tới. Hai người đàm đạo đến gần sáng. Ông Thái than đói, Thày Thông Tuệ lấy đồ chay còn sót lại ra cho ông Thái dùng. Nhìn những miếng thức ăn tan biến đi trong khoảng không thày hiểu ra và lòng quặn đau, thương cho kiếp nạn của bằng hữu. Đến khi ông Thái hỏi thày những lời khuyên, thày Thông Tuệ đã ba lần đi rửa tay và cả ba lần đều tọa thiền đặt bút viết chỉ một chữ an. Ông Thái không hiểu gì cả. Chữ an ám chỉ những gì. Ông Thái vận dụng mọi suy luận xong không đi đến được một kết luận nào. Chữ an trình bày gồm phía trên là bộ miên , phía dưới là bộ nữ , như vậy mọi việc xảy ra trong nhà là do người nữ ư ? Hay trong nhà có người nữ mọi việc đều ổn? Còn không chả lẽ thày Thông Tuệ bảo ông về lấy vợ? Trong cõi nhân gian, có những dấu chỉ mà người ta chỉ nghiệm thấy nó mà thôi không lý, phân giải được. Lòng ông rối bời. Đầu ông vang váng như người ốm. Ông cám ơn thày Thông Tuệ rồi ra về. Từ đó tại quận Cam có một người không bóng, không hình vẫn lầm lũi giữa mọi người mà không ai thấy được. Người ta cũng đã quên ông nhanh chóng. Cả cô em gái ông cũng không còn lui tới hay nhớ về ông nữa. Ông Thái bây giờ không sợ việc đi lại bởi ông là một kẻ tàng hình. Ông không thể sinh hoạt với đồng loại được nữa. Ở những cửa hàng ăn uống hay ở trong các grocery ..v..v..lúc đói bụng, ông mặc nhiên trở thành kẻ cắp. Sự nhục nhã ngày càng phai trong ý niệm dành chỗ cho hận thù. Ông thù mọi người và thù cả bản thân. Ông vẫn manh nha hy vọng có ngày tìm được kẻ nào đã ám hại ông. Hy vọng có ngày có bóng, có hình trở lại.
Cái ngày ấy rồi cũng đã đến. Cái ngày mà ông tìm ra kẻ thù cũng là ngày mà cõi lòng tan nát của ông không còn cách nào hàn gắn được, vĩnh viễn ông không còn mơ ước được hoàn lại những điều tốt đẹp mà dòng họ nhà ông bao đời lưu giữ. Ông đã biết ai đã làm cho ông nên nông nỗi này. Chính dòng họ Hoàng. Phải ! Dòng họ Hoàng đã tự hại nhau. Cậu học trò đã nghe những tin đồn đúng: “..dòng họ Hoàng loạn dâm.”. Đôi gian phu dâm phụ lại chính là hai đứa cháu ruột của ông: Hoàng Thục Anh và Hoàng Học Cương . Chính mắt ông đã trông thấy, không cần ai phải nói. Hôm đó ông Thái đã không cầm lòng được và có lẽ ông đã điên rồi. Sau khi hai người cháu ôm nhau quằn quại trên đống máu – Trong cơn điên loạn ông Thái đã giết họ.- Rồi ông đâm đầu chạy bán kể trời đất. Ông chạy mãi . ..
Trời đã gần về sáng. Con lộ trong khu 13 street không một bóng người. Những mái nhà thâm thấp nằm im trong không gian tĩnh mịch. Màn sương sớm còn che phủ làm cảnh vật mờ ảo. Trong màn sương khói se lạnh đó vẫn có một người đang chạy thục mạng. Không bóng, không hình, nhưng tiếng thở rít lên trong không khí nghe đến rợn người. Ông Thái. Đúng là ông Thái. Những vết máu bám vào người ông đã khô, thân thể của ông lộ rõ ra một hình nhân lấm tấm. Than ôi ! Phải lấy máu để nhuộm hình hài cho ra được dạng con người ư ? Cái đời sống vốn đã khốn nạn có bớt đi được phần nào thống khổ không ? Tội nghiệp ông Thái vẫn cứ chạy. Cho đến lúc ông đâm sầm vào một người làm cho người đó ngã vập xuống. Đó là một phụ nữ mặc một bộ đồ trắng, cổ quàng một chiếc khăn màu khói. Khi cô ngã xuống đã để lộ nửa khuôn mặt thật xinh đẹp ra ngoài vệt sáng hắt từ đâu đó. Ông Thái hốt hoảng nhảy chồm tới bế thốc cô ta lên và hét :
“ Vương Khanh ! Vương Khanh ! Sao em ở đây ? Trời ơi người yêu của tôi !
Người phụ nữ ngọ nguậy trong vòng tay của ông Thái bật nói rất mơ hồ :
“ Ai ? Ai nói ? Không ! Tôi không phải họ Vương. Tôi . .. Tôi họ Hoàng . .. Hoàng Thục Trinh.

***

Mùa hè vừa qua tôi trở về California thăm vài người bạn. Hơn nữa tôi thích về Cali vào mùa hè để được ngắm hoa Jacaranda nở rộ khắp Orange County. Hoa Jacaranda màu tím xanh sáng rực rỡ như mọc trong cảnh trí thần tiên. Một màu sắc mà người họa sĩ bạn của tôi đã vẽ biết bao tấm tranh vẫn chưa vừa ý. Anh ta bảo bàn tay của chúng ta không thể nào hoàn thiện được những gì của trời đất. Anh giải thích cho tôi, chỉ có hoa Jacaranda ở Cali là đẹp nhất vì nó dung hợp được với lối kiến trúc thô mộc của những ngôi nhà đơn giản. Màu thổ hoàng của những bức tường và màu tím của hoa Jacaranda giống như màu sắc trong họa phẩm của Matisse đã mang lại cho chúng ta những nét quí phái âm thầm. Ở California người ta gọi hoa Jacaranda là Phượng Tím. Tôi thực sự không thích gọi như thế, nó giống như sự áp đặt gượng gạo, vụng về trong cách nhận thức về mỹ học. Trước hôm tôi lên đường đi Cali, cậu tôi có nhờ tôi khi tới nơi hãy thu xếp đem hoa tới mộ ông Thái giúp cậu. Tôi đã hứa rằng bất cứ bận thế nào tôi cũng sẽ làm giúp cậu tôi việc đó. Khi tôi đến Cali mới thấy việc đem hoa tới mộ ông Thái khó mà thực hiện được vì không ai biết ông Thái được chôn cất nơi nào. Tôi dò hỏi vài người quen cũng không ai, ngay cả biết ông Thái. Mãi hôm gần đến ngày trở lại Massachusetts mới gặp một người quen từ vùng Promona, tôi hỏi về trường hợp ông Thái, ông kể cho tôi nghe có phần lại khác cậu tôi kể. Ông Thái không hề giết những người cháu ruột của ông được xem như những kẻ loạn dâm. Ông chỉ bị điên loạn và chạy cuồng lên sau đó người ta phát hiện xác của ông ở vùng Promona do một tai nạn xe cộ. Và nơi ông gặp nạn dân địa phương đồn rằng khu vực đó có một oan hồn rất linh thiêng thành ra họ cắm xuống đó một cây thánh giá thay vì như người mình ở quê nhà hay dựng miếu gọi là miếu cô hồn.
Ngồi trên máy bay trở về tôi cứ nghĩ mãi đến ông Thái, linh hồn ông có tìm được nơi an nghỉ hay không hay vất vưởng nơi cành cây ngọn cỏ, lang thang như những oan hồn thất lạc không có cơ may được giải thoát, hóa kiếp? Trong kiếp nạn của con người cái khủng khiếp nhất vẫn là cái không có bóng, không có hình. Than ôi biết bao con người hiện không mắc vào chứng bệnh quái gở kia mà xem chừng cũng không hơn gì ông Thái.

Massachusetts
27 August/1994

Nguyễn Trọng Khôi